1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.

111 453 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng
Chuyên ngành Khoa học công nghệ, Quản lý và Phát triển công nghệ xây dựng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 650 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT4DANH MỤC CÁC BẢNG5DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ6MỞ ĐẦU71. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài72. Mục tiêu nghiên cứu đề tài93. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu94. Phương pháp nghiên cứu95. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài96. Kết cấu của luận văn9CHƯƠNG 111CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG111.1 Một số khái niệm cơ bản về KHCN111.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi131.2.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế xã hội131.2.2. Vai trò của KHCN trong việc đổi mới nền kinh tế ở nước ta 151.2.2.1. Mối tương tác giữa KHCN với kinh tế151.2.2.2. Sự thích ứng của việc đổi mới quản lý hoạt động KHCN với đổi mới phát triển kinh tế201.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi251.3.1 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế251.3.2 Các phương án đổi mới tổ chức và quản lý các tổ chức KHCN từ trước đến nay của nước ta27CHƯƠNG 246THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG462.1 Thực trạng khoa học và công nghệ Việt Nam462.1.1 Những đổi mới462.1.2 Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu502.1.2.1 Những yếu kém502.1.2.2 Những nguyên nhân chủ yếu542.1.3 Đặc điểm hình thành và phát triển của các Viện nghiên cứu triển khai qua các thời kỳ562.1.3.1 Đặc điểm hình thành và phát triển của các Viện nghiên cứu triển khai thời kỳ cơ chế tập trung562.1.3.2 Đặc điểm của các Viện nghiên cứu triển khai trong thời kỳ cơ chế thị trường572.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học và Công nghệ Xây dựng592.2.1 Giới thiệu chung về Viện KHCNXD592.2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Viện592.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Viện KHCNXD612.2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện KHCNXD622.2.2.1 Tình hình tổ chức622.2.2.2 Tình hình tài chính và tài sản652.2.2.3 Tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ67CHƯƠNG 374PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ ĐỀ ÁN CHUYỂN ĐỔI VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG743.1 Giới thiệu đề án chuyển đổi Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng 743.2 Phân tích, đánh giá đề án chuyển đổi Viện KHCNXD843.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động963.3.1. Giải pháp về nhân lực KHCN963.3.2. Giải pháp trong hoạt động kinh doanh993.3.3. Giải pháp về cơ sở vật chất1023.3.4. Giải pháp trong tổ chức quản lý103KẾT LUẬN104KIẾN NGHỊ106TÀI LIỆU THAM KHẢO107

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9

6 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG 11

1.1 Một số khái niệm cơ bản về KHCN 11

1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi 13

1.2.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế xã hội 13

1.2.2 Vai trò của KHCN trong việc đổi mới nền kinh tế ở nước ta 15

1.2.2.1 Mối tương tác giữa KHCN với kinh tế 15

1.2.2.2 Sự thích ứng của việc đổi mới quản lý hoạt động KHCN với đổi mới phát triển kinh tế 20

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi 25

1.3.1 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế 25

1.3.2 Các phương án đổi mới tổ chức và quản lý các tổ chức KHCN từ trước đến nay của nước ta 27

CHƯƠNG 2 46

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG 46

Trang 2

2.1 Thực trạng khoa học và công nghệ Việt Nam 46

2.1.1 Những đổi mới 46

2.1.2 Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu 50

2.1.2.1 Những yếu kém 50

2.1.2.2 Những nguyên nhân chủ yếu 54

2.1.3 Đặc điểm hình thành và phát triển của các Viện nghiên cứu triển khai qua các thời kỳ 56

2.1.3.1 Đặc điểm hình thành và phát triển của các Viện nghiên cứu triển khai thời kỳ cơ chế tập trung 56

2.1.3.2 Đặc điểm của các Viện nghiên cứu triển khai trong thời kỳ cơ chế thị trường 57

2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học và Công nghệ Xây dựng 59

2.2.1 Giới thiệu chung về Viện KHCNXD 59

2.2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Viện 59

2.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Viện KHCNXD 61

2.2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện KHCNXD 62

2.2.2.1 Tình hình tổ chức 62

2.2.2.2 Tình hình tài chính và tài sản 65

2.2.2.3 Tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ 67

CHƯƠNG 3 74

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ ĐỀ ÁN CHUYỂN ĐỔI VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 74

3.1 Giới thiệu đề án chuyển đổi Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng 74

3.2 Phân tích, đánh giá đề án chuyển đổi Viện KHCNXD 84

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động 96

3.3.1 Giải pháp về nhân lực KHCN 96

3.3.2 Giải pháp trong hoạt động kinh doanh 99

3.3.3 Giải pháp về cơ sở vật chất 102

Trang 3

3.3.4 Giải pháp trong tổ chức quản lý 103

KẾT LUẬN 104

KIẾN NGHỊ 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CNH: Công nghiệp hóa

2 HĐH: Hiện đại hóa

3 Viện KHCNXD: Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng

4 KHCN: Khoa học Công nghệ

5 KH&CN: Khoa học và công nghệ

6 TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

7 TVGS: Tư vấn giám sát

8 NCCB: Nghiên cứu cơ bản

9 CLCS: Chiến lược chính sách

10 KTKT: Kinh tế kỹ thuật

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê tài sản đến 30/6/2006

Bảng 2.2 Bảng số liệu tài chính các năm 2004-2006

Bảng 2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong các năm 2001-2005

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

H2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức

H3.1 Dự kiến cơ cấu tổ chức Viện KHCNXD sau khi chuyển đổi

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Trong thời đại ngày nay, những bước tiến kỳ diệu và những thành tựu tolớn của khoa học và công nghệ tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hộiloài người Đối với nước ta, khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đàotạo là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độquản lý của Nhà nước và tiềm lực lãnh đạo của Đảng

Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội những năm qua của nước ta,khoa học công nghệ tiếp tục phát triển đã hướng vào nghiên cứu ứng dụngbước đầu phát huy vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Lựclượng khoa học đã góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trươngphát triển kinh tế, đóng góp tích cực vào việc soạn thảo cương lĩnh, chiếnlược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Rất nhiều thành tựu khoa họcđược ứng dụng trong thực tế đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế sảnxuất trong nhiều lĩnh vực trên nhiều vùng kinh tế của đất nước Cơ chế quản

lý khoa học công nghệ đã bước đầu được đổi mới nhằm gắn hoạt động khoahọc công nghệ với sản xuất và đời sống, mở rộng quyền tự chủ và tự chịutrách nhiệm của các tập thể và cơ quan khoa học

Trong thời gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quantrọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển khoa học vàcông nghệ đã được ban hành: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII(1996); Luật Khoa học và Công nghệ (2000); Kết luận của Hội nghị Trungương 6 khoá IX (2002); Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ViệtNam đến năm 2010 (2003); và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềmlực và đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ

Trang 8

Tuy nhiên, trình độ khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay nhìnchung còn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sángtạo công nghệ mới còn hạn chế, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước và đang đứng trướcnguy cơ tụt hậu ngày càng xa trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự pháttriển kinh tế tri thức trên thế giới Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ ra nhữnghạn chế cơ bản của hoạt động khoa học và công nghệ hiện nay là: “Chưa thực

sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội; chậm đưavào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được; trình độ khoa học và côngnghệ của ta còn thấp nhiều so với các nước xung quanh; năng lực tạo ra côngnghệ mới còn rất có hạn Các cơ quan nghiên cứu khoa học chậm được sắpxếp cho đồng bộ, còn phân tán, thiếu phối hợp, do đó đạt hiệu quả thấp Cácviện nghiên cứu và các doanh nghiệp, các trường đại học chưa gắn kết vớinhau Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập trung và dứtđiểm cho từng mục tiêu Cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao tuycòn ít, song chưa được sử dụng tốt.”

Mục tiêu của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đếnnăm 2010 là: “Tập trung xây dựng nền khoa học và công nghệ nước ta theohướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trongkhu vực vào năm 2010, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng

và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”

Để đạt được mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ nước ta đến năm

2010, phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, tạo bướcchuyển biến căn bản trong quản lý khoa học và công nghệ theo hướng phùhợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc thù của hoạtđộng khoa học và công nghệ, với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,

Trang 9

nhằm nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ;tăng cường và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ

Chính vì vậy việc nghiên cứu chuyển đổi Viện Khoa học Công nghệ Xâydựng (Viện KHCNXD) từ tổ chức Khoa học Công nghệ sự nghiệp có thuthành tổ chức Khoa học Công nghệ tự trang trải kinh phí là cần thiết để đápứng với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu hoàn thiện giải pháp chuyển đổi Viện KHCNXD từ tổ chứcKhoa học Công nghệ sự nghiệp có thu thành tổ chức Khoa học Công nghệ tựtrang trải kinh phí

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của việc chuyển đổi Viện KHCNXD,đánh giá thực trạng khoa học công nghệ (KHCN), thực trạng hoạt động củaViện KHCNXD Trên cơ sở nghiên cứu đề án chuyển đổi Viện KHCNXDnghiên cứu giải pháp hoàn thiện trong việc chuyển đổi

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát số liệu, phân tích tổng hợp,tham khảo ý kiến chuyên gia, biện chứng, logic lịch sử

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn nghiên cứu có giá trị ứng dụng để hoàn thiện cơ sở lý luận, đềxuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện việc chuyển đổi Viện KHCNXD

và có thể tham khảo cho việc chuyển đổi những tổ chức KHCN tương tự

6 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm:

Trang 10

Chương 3 Phân tích, đánh giá đề án chuyển đổi Viện Khoa học Công

nghệ Xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

Kết luận

Kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản về KHCN [19, 31]

Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa KHCN đóng góp vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mớiphát triển kinh tế ở nước ta Để thấy rõ vai trò đó của KHCN cần làm rõ một

số khái niệm cơ bản về KHCN

Hiện nay, một số khái niệm cơ bản về KHCN ở các nước khác nhau đượchiểu với các góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và cáchtiếp cận Ở đây tác giả chỉ trình bày các khái niệm đó theo quan điểm củaUNESCO

Khoa học (Science): Theo Tổ chức văn hóa – Khoa học – Giáo dục của

Liên hợp quốc (UNESCO), khoa học là một hệ thống các tri thức của nhânloại về các phạm trù, quy luật vận động và phát triển khách quan của thế giới

tự nhiên, xã hội và bản thân con người; là một loại hình hoạt động xã hội đặcbiệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sảnxuất và đời sống trong những điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội nhất định.Tri thức khoa học biểu hiện chủ yếu dưới hình thức các phạm trù, định luật vàquy luật Đối tượng nhận thức của khoa học rất rộng lớn, bao gồm mọi lĩnhvực của tự nhiên, xã hội và tư duy

Công nghệ (Technology): là tổng thể các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và

phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch

vụ quản lý

Trang 12

Trong những ngày đầu CNH, người ta sử dụng phổ biến thuật ngữ kỹ thuật(Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc haycông cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất Tiếp đó xuấthiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy trình kỹ thuậtdùng trong dây chuyền sản xuất về sau khái niệm này được hiểu theo nghĩarộng hơn và ổn định như ngày nay Công nghệ là kết quả của quá trình ápdụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất Công nghệ là sản phẩm củalao động trí tuệ sáng tạo của con người trong lĩnh vực sản xuất Công nghệđược coi là phương tiện, công cụ để biến đổi thế giới tự nhiên phù hợp với lợiích của con người; là tác nhân chủ chốt trong quá trình khai thác và chế biếntài nguyên thiên nhiên thành hàng hoá và dịch vụ Nói cách khác, công nghệgồm hai phần: “phần cứng” và “phần mềm” Phần cứng bao gồm: máy móc,thiết bị, nhà xưởng Phần mềm bao gồm: đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, kỹnăng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất, ; thông tin về quy trình sản xuất, bản vẽ,thuyết minh, chỉ dẫn kỹ thuật; trình độ tổ chức quản lý, điều hành sản xuấtcủa ban quản lý,

Khái niệm công nghệ được sử dụng rộng rãi vào tất cả các lĩnh vực củacuộc sống con người Công nghệ được dùng không chỉ trong sản xuất vật chất

mà còn trong các hoạt động xã hội: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin,công nghệ quản lý, công nghệ giáo dục,

Hoạt động khoa học là tất cả các hoạt động có hệ thống, liên quan chặt chẽđến việc nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học vào đờisống và sản xuất Nội dung chủ yếu của hoạt động khoa học bao gồm: Hoạtđộng nghiên cứu KHCN và dịch vụ KHCN

Trong các hoạt động nghiên cứu KHCN được chia ra thành các hoạt độngchủ yếu sau đây: hoạt động nghiên cứu cơ bản, hoạt động nghiên cứu ứngdụng, hoạt động nghiên cứu triển khai, hoạt động nghiên cứu công nghệ

Trang 13

Hoạt động nghiên cứu cơ bản là nhằm nghiên cứu những kiến thức mới vềcác hiện tượng tự nhiên và xã hội, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâmnào tới việc ứng dụng trong thực tế kinh tế - xã hội.

Hoạt động nghiên cứu ứng dụng là nhằm đạt được những kiến thức mangtính thực tiễn, trong những điều kiện cụ thể có tính đặc thù Như vậy, khácvới nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng là nghiên cứu mà mang tính ứngdụng đã được đặt ra trước

Hoạt động nghiên cứu triển khai là hoạt động có hệ thống nhằm vận dụng

và ứng dụng các kiến thức khoa học hoặc kinh nghiệm thực tiễn để sản xuất

ra những sản phẩm mới (thiết bị, kỹ thuật, vật liệu, các chất tổng hợp, ) đểđưa ra các phương pháp tiến hành mới hoặc hoàn thiện những gì đã đưa vàosản xuất bằng các ứng dụng KHCN Hoạt động nghiên cứu triển khai là mộttrong những bộ phận quan trọng của hoạt động KHCN

Hoạt động nghiên cứu công nghệ là hoạt động nghiên cứu nhằm đạt đượcnhững hiểu biết và thực hành để thiết lập nên những quy trình sản xuất dựatrên các nguyên lý khoa học trong mọi lĩnh vực kỹ thuật

1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi

1.2.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế xã hội [1, 20]

Cho tới đầu những năm 80, nền kinh tế nước ta đã vận động theo cơ chếchỉ huy với mô hình chủ yếu là kế hoạch hoá và tập trung hoá cao độ Nềnkinh tế phát triển mang nặng tính tự cung tự cấp, các yếu tố sản xuất hàng hoácòn yếu, chưa phát triển, các yếu tố thị trường mới sơ khai, thiếu đồng bộ lạiquản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cứng nhắc nên đã phát sinh sự mấtcân đối, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng và sự tăng trưởng kinh tế chậm.Những mâu thuẫn nội tại từ nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải đổi mới để thoátkhỏi khủng hoảng và thúc đẩy các yếu tố sản xuất hàng hoá phát triển

Trang 14

Nền kinh tế chỉ huy tồn tại ở nước ta đã huy động một bộ phận nguồn lựccho sự phát triển ban đầu, nhưng mô hình này bị khép kín, kém hiệu quả,không phù hợp với xu hướng quốc tế hoá các quan hệ kinh tế của thế giới.Trong giai đoạn phát triển mới, cơ chế chỉ huy ngày càng bộc lộ nhữngmâu thuẫn và bế tắc Đại hội VI đã bắt đầu và đại hội VII đã phát triển nhữngchủ trương đổi mới với việc chuyển nền kinh tế vận động theo cơ chế chỉ huytrước đây sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường

Sự hoà nhập trong phân công lao động quốc tế cùng với thành quả của tiến

bộ KHCN của thế giới về công nghệ, về quản lý, về chất lượng và phát triểnmôi trường cũng yêu cầu phải chuyển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thịtrường là tất yếu

Những cải cách chủ yếu trong giai đoạn đầu là:

Đổi mới một bước quan trọng cơ chế kế hoạch hoá theo hướng thu hẹp tậptrung, mở rộng tự chủ kế hoạch và tự chủ về chiến lược sản xuất kinh doanhcủa các đơn vị cơ sở

Cải cách hệ thống giá cả theo hướng tự chủ về giá của các đơn vị sản xuấtkinh doanh, hoà nhập từng bước giá đầu vào và giá đầu ra vào cơ chế thịtrường

Cải cách hệ thống tài chính theo hướng tự chủ tài chính của các đơn vị sảnxuất kinh doanh, tách dần tài chính Nhà nước với tài chính doanh nghiệp; chế

độ thuế thay các khoản thu từ kinh tế quốc doanh; tín dụng hoá vốn đầu tư;những cải cách trong lĩnh vực kế toán thống kê, thu chi ngân sách,

Cải cách hoạt động ngân hàng, đưa ngân hàng vào hoạt động kinh doanh,bước đầu áp dụng cơ chế thị trường trong điều tiết lưu thông tiền tệ

Đổi mới chính sách lao động và tiền lương

Ban hành và thực hiện luật và các văn bản dưới luật về khu vực kinh tế tưnhân, về hợp tác và đầu tư với nước ngoài

Trang 15

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản vềđổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tuy thời gian chưa dài nhưng cácyếu tố cho sự tăng trưởng kinh tế thực tế đang phát triển Thực tiễn đó cũng là

cơ sở khoa học chứng minh tất yếu của sự chuyển đổi nền kinh tế nước tatheo cơ chế thị trường là phù hợp với quy luật của xã hội và đạt được mụctiêu của nước ta là chủ nghĩa xã hội, ổn định và tăng trưởng kinh tế là dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.2 Vai trò của KHCN trong việc đổi mới nền kinh tế ở nước ta [1, 12,

16, 17, 18, 22, 25]

1.2.2.1 Mối tương tác giữa KHCN với kinh tế

KHCN không sinh ra như một vật tự nó mà bắt nguồn từ nhu cầu nhậnthức và cải tạo thế giới của xã hội loài người Trong thế giới hiện đại từ nhàkinh doanh muốn giành ưu thế trong cạnh tranh đến các nhà lãnh đạo quốc giamuốn đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu đều phải tìm câu trả lời trongnhững chính sách cụ thể và phát triển các hoạt động nghiên cứu và ứng dụngcác thành tựu KHCN

Đồng thời KHCN thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực tích luỹ

từ nội bộ nền kinh tế tạo điều kiện thay đổi chiến lược tái sản xuất từ giản đơnsang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Hiện nay ta đang trên đà cải cách toàn diện về mặt kinh tế và xã hội, màđiểm cốt lõi về cải cách kinh tế là chuyển từ một nền kinh tế chỉ huy tập trungsang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý củanhà nước Đi đôi với cải cách kinh tế là cải cách trong hệ thống chính trị màđặc biệt điểm quan trọng nhất như trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã

đề ra mục tiêu “Huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH-HĐH đất

Trang 16

nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nền tảng để đến năm

2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”Bối cảnh chính trị xã hội đã quy định nội dung của những bước phát triểntrong chính sách KHCN, và có thể nói chính sách KHCN cũng đã và đang trảiqua những cuộc cải cách với đầy đủ những nét đặc trưng cơ bản công cuộc cảicách kinh tế và xã hội

Trong nền kinh tế chỉ huy tập trung, do vai trò lãnh đạo của nhà nước chiphối mọi hoạt động kinh tế và xã hội nên mọi hoạt động KHCN cũng đượcquan niệm là một hoạt động do nhà nước độc quyền chủ trì Nhà nước lập kếhoạch nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu cho toàn xã hội và do vậyngân sách nhà nước được cấp cho mọi hoạt động KHCN trong xã hội Mặc dùtrên hình thức nhà nước lập kế hoạch nghiên cứu, nhưng trong thực tế thì đócũng là những sáng kiến nghiên cứu của các nhà khoa học công nghệ đượcđưa lên từ cấp cơ sở, sau đó được “Nhà nước hoá” thông qua một hệ thốngxem xét và phê duyệt theo thang bậc quản lý hành chính

Cùng với những biến động và khủng hoảng kinh tế xã hội trong các nước

có nền kinh tế chỉ huy, hệ thống KHCN cũng ngày càng bộc lộ tính kém hiệuquả và cuối cùng nó đã phải bước vào những công cuộc cải cách cùng với hệthống kinh tế xã hội

Ở nước ta mạng lưới các tổ chức KHCN có những biến động và cải cáchkhá tương đồng cả trên nội dung và các bước phát triển

a Sự tác động của KHCN đối với kinh tế thị trường

Nước ta là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp về lực lượng sảnxuất, về trình độ xã hội hoá lao động và xã hội hoá sản xuất Sự thấp kém này

đã kìm hãm quá trình chuyển biến nền kinh tế nặng tính tự cấp tự túc sangkinh tế thị trường Việc phát triển KHCN chính là để thay đổi về chất lực

Trang 17

lượng sản xuất và nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất của đất nước nhằmthúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế từ chậm phát triển sang phát triển,chuyển nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường.Dưới tác động của KHCN làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất theo hướngthực hiện từng bước chiến lược đồng bộ hoá giữa tư liệu sản xuất hiện đại vớicon người hiện đại, nhằm nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất Đến lượt nólại tác động làm biến đổi sở hữu và cơ chế kinh tế ở nước ta từ độc quyền độctôn sang sở hữu hỗn hợp đa dạng, từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang

cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước

Mặt khác, dưới tác động của KHCN theo hướng đã xác định đã làm chonền kinh tế thị trường ở nước ta từng bước thích nghi với tốc độ nhanh của xuhướng quốc tế hoá các quan hệ kinh tế trên thế giới

Phát triển KHCN đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua sự phâncông lao động làm thay đổi từng bước cơ cấu ngành, vùng; thay đổi chiếnlược kinh doanh, thay đổi sự hình thành cơ cấu giá trị hàng hóa, nhất là trongcác ngành công nghiệp mới

b Sự tác động của kinh tế thị trường đối với sự phát triển KHCN

Nền kinh tế thị trường được xây dựng sẽ có sự tác động tích cực đến sựphát triển KHCN Chính nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải xác định vai tròthen chốt thực sự của KHCN và KHCN là động lực quan trọng nhất đối vớilực lượng sản xuất ở nước ta

Kinh tế thị trường đã thúc đẩy trình độ phát triển lực lượng sản xuất và xãhội hoá sản xuất được thể hiện ở chỗ:

Cơ cấu lao động nhiều trình độ, hình thành lực lượng mũi nhọn gắn vớicông nghệ mới hiện đại được lựa chọn để đi thẳng vào nguyên tắc của côngnghệ

Trang 18

Đối tượng lao động ở trong nước được khai thác ngày càng nhiều và sửdụng nguyên liệu nhân tạo.

Từng bước mở rộng phân công lao động và hợp tác sản xuất, lao độngtrong nước và trên thế giới

Kinh tế thị trường tác động đã làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế với việc đadạng sở hữu, thúc đẩy hình thành cơ cấu công - nông - dịch vụ hiện đại gắnvới phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng, ngành kết cấu hạ tầng sản xuấtđược ưu tiên đầu tư theo hướng hiện đại và đã từng bước xuất hiện nhữngngành công nghệ mới, các khu chế xuất, vùng kinh tế đặc biệt và đô thị hoátập trung

Đặc biệt, dưới sự tác động của kinh tế thị trường đã làm thay đổi trình độvăn minh, góp phần vượt qua văn minh nông nghiệp đi lên trong sự gắn bóvới hai nền văn minh công nghệ và văn minh trí tuệ

c Sự phát triển KHCN gắn bó với công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Lịch sử đã khẳng định rằng trong quá trình từ sản xuất nhỏ thủ công lạchậu lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là bước đi tất yếu mà mỗi dân tộc đềuphải trải qua Trong thời đại hiện nay, CNH bao hàm trong đó cả HĐH trongtất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân

HĐH chính là cách thức dùng sự phát triển hiện đại mà thế giới đã đạtđược qua cải tạo và chuyển giao công nghệ cho đất nước Đó là cách thựchiện cách mạng khoa học công nghệ gắn với quá trình phân công lao độngquốc tế một cách có hiệu quả

Kinh nghiệm CNH ở nhiều nước trên thế giới cho thấy cái cốt lõi củaCNH là sự đổi mới kỹ thuật (phần cứng) và công nghệ (phần mềm), chuyển từ

kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, năng suất và hiệu quả kinh tế xã hội thấp lên

Trang 19

trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến hiện đại có năng suất và hiệu quả kinh

tế - xã hội cao trong các ngành kinh tế quốc dân

CNH là bước phát triển tất yếu mà mỗi nước phải trải qua Nó là quá trìnhthực hiện phương pháp công nghiệp trong các ngành và các lĩnh vực kinh tếquốc dân, là quá trình phát triển kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sản xuấtkinh doanh

Như vậy, thực chất CNH là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội

Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghệtrong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản

về công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh chóng, hiệu quả cao vàlâu bền của toàn bộ nền kinh tế

Trên thế giới cách mạng KHCN diễn ra mạnh mẽ, tác động tích cực, sâusắc toàn diện đến đời sống kinh tế Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quá trìnhcông nghiệp hoá ở từng nước và từng nhóm nước có những đặc điểm rất khácnhau Việc nghiên cứu sự đa dạng, tìm ra những nét chung nhất mang tínhquy luật và những nét đặc thù riêng biệt của mỗi nhóm nước, có một ý nghĩaquan trọng trong việc lựa chọn một chiến lược CNH tích cực, thích hợp vớiđiều kiện phát triển về trình độ KHCN cụ thể ở từng nước

Ở nước ta CNH, HĐH nền kinh tế là mục tiêu chiến lược ổn định và pháttriển kinh tế xã hội phấn đấu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Đảng vànhà nước ta là: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH Đây là nhiệm vụ trọng tâm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới Bởi

vì CNH, HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với cácnước xung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội bảo vệ độc lập chủ quyền

và định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 20

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy sự nghiệp CNH được thực hiệnnhanh hay chậm, có hay không có hiệu quả kinh tế xã hội cao là tuỳ thuộc rấtnhiều vào phạm vi nhịp độ, hiệu quả của việc ứng dụng tiến bộ KHCN vàosản xuất và đời sống Việc phát triển sự nghiệp nghiên cứu và ứng dụngKHCN đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt cũng như lâu dài trong việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân ởnước ta là một đòi hỏi khách quan và là một yếu tố rất cơ bản đảm bảo sự tiến

bộ về kinh tế và xã hội vì: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh

1.2.2.2 Sự thích ứng của việc đổi mới quản lý hoạt động KHCN với đổi mới phát triển kinh tế

a Quản lý và cơ chế quản lý

Quản lý là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triểncủa xã hội loài người, là hoạt động có ý nghĩa quan trọng nhất trong các hoạtđộng của con người Quản lý có nghĩa là hiệu quả, bởi vì con người không chỉcần và biết sản xuất ra sản phẩm gì, mà điều quan trọng hơn là phải biết sảnxuất ra sản phẩm đó với giá nào và ai sẽ là người tiêu thụ

Hoạt động KHCN là lao động xã hội đặc biệt, được tiến hành trên quy môkhá lớn, có mối quan hệ hữu cơ với lao động sản xuất và đời sống xã hội Cơchế quản lý KHCN phải phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế trong từng giaiđoạn phát triển kinh tế quốc dân Cơ chế quản lý kinh tế phải mở đường chohoạt động KHCN, phát huy được tác dụng tích cực của mình đối với pháttriển kinh tế và tạo được môi trường, điều kiện để KHCN phát huy được vaitrò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Xác định đườnglối, chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và xác định phương hướng

Trang 21

phát triển nền kinh tế quốc dân; Tổ chức nền kinh tế - xã hội (cơ cấu tổ chức,

bộ máy, cán bộ thông tin); Xác định phương thức trao đổi giữa sản xuất vàtiêu dùng, giữa cung và cầu; Sử dụng các đòn bẩy kinh tế và giải quyết đúngvấn đề phân chia lợi ích kinh tế; Hạch toán, đánh giá hiệu quả; Chính sách,biện pháp quản lý cụ thể

Cũng như cơ chế quản lý chung, cơ chế quản lý KHCN của Nhà nước làphương thức điều hành hệ thống KHCN quốc gia phù hợp với quy luật kháchquan của tiến trình phát triển KHCN của cách mạng khoa học kỹ thuật hiệnđại, phù hợp với đặc điểm của hoạt động KHCN, với chính sách kinh tế và cơchế quản lý kinh tế, được thể hiện thành thể chế, luật lệ quy định, ràng buộcđối với các đơn vị, cá nhân tiến hành các hoạt động KHCN nhằm đạt đượcmục tiêu, chiến lược phát triển KHCN đặt ra một cách tốt nhất trong môitrường trong và ngoài nước đầy các biến động

Tương tự như cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý KHCN bao hàm cácnội dung sau: Đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển KHCN; Bố trí cơ cấu

tổ chức hệ thống KHCN (hệ thống tổ chức hoạt động và quản lý KHCN) baogồm việc bố trí mạng lưới các cơ quan, các đơn vị KHCN trong cả nước theohướng tiếp cận thị trường, theo các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lợi íchcủa mỗi đơn vị, cơ quan, nhằm thực hiện đường lối, chiến lược, mục tiêuphát triển KHCN; Xác định phương thức trao đổi giữa đầu vào và đầu ra củacác cơ quan, đơn vị hoạt động KHCN trong môi trường kinh tế hàng hóanhiều thành phần theo hướng gắn KHCN với sản xuất với môi trường kinh tế

- xã hội; Chính sách KHCN (hạch toán đối với KHCN, sở hữu công nghiệp,thương mại hóa KHCN, các biện pháp về khen thưởng, kỷ luật, các công cụquản lý khác, ); Khai thác và sử dụng thời cơ KHCN; Lựa chọn phươngpháp và nghệ thuật quản lý KHCN

Trang 22

b Tính tất yếu phải sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý KHCNTrong thời đại hiện nay không một lĩnh vực nào không chịu sự tác độngmạnh mẽ của KHCN Cuộc cách mạng KHCN hiện đại đang làm chuyển biếnsâu sắc nền kinh tế thế giới, các quan hệ quốc tế và tất cả các hoạt động của

xã hội loài người Nước nào cũng phải dựa vào KHCN để phát triển kinh tế xãhội và củng cố vị trí của mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế và đấu tranhchính trị Cuộc cạnh tranh công nghệ đang trở thành một nội dung chủ yếutrong quan hệ quốc tế ngày nay và đây cũng là thách thức đối với các nướcđang phát triển Tuy nhiên, các nước đang phát triển nếu có chiến lược đúng

về phát triển KHCN, biết phát huy lợi thế của các nước đi sau, nhanh chóngnâng cao năng lực KHCN của mình, mạnh dạn đi thẳng vào những công nghệmới có chọn lựa thì cũng có thể phát triển nhanh chóng

Nước ta cũng đang đứng trước những thách thức do các nhân tố kháchquan và chủ quan Điều đáng quan tâm nhất là do đang bị tụt hậu so với nhiềunước về KHCN Trong những thập kỷ qua ta bị tụt lại sau cuộc cách mạngKHCN hiện đại, trình độ công nghệ thấp kém, năng suất, chất lượng, hiệu quảcủa sản xuất quá thấp, tốc độ phát triển của nền kinh tế quá chậm, các tiềmnăng to lớn về con người và điều kiện tự nhiên chưa được phát huy Vì vậyyêu cầu phát triển kinh tế xã hội đối với KHCN rất đa dạng và toàn diện Hệthống nghiên cứu triển khai gồm các viện, trung tâm và các trường đại họcbước đầu đã phát huy vai trò động lực phát triển kinh tế xã hội do trực tiếpđóng góp vào việc nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, chuyển giao côngnghệ, ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệuquả trong một số lĩnh vực và địa phương tuy nhiên vẫn còn những tồn tại nhưmới tập trung vào một số vấn đề trước mắt mà chưa định hướng giải quyếtnhững vấn đề KHCN có tính chiến lược chuẩn bị xây dựng công nghệ đặc thù

Trang 23

và truyền thống để khai thác các nguồn tài nguyên, lao động, cơ sở vật chất

kỹ thuật

Với mạng lưới nghiên cứu triển khai phân tán, chồng chéo, với cơ sở vậtchất kỹ thuật thô sơ và lạc hậu, với đội ngũ cán bộ thiếu đồng bộ, thiếu cán bộđầu đàn giỏi có năng lực tập hợp lực lượng thành tập thể khoa học mạnh, vớiđầu tư chi phí cho hoạt động KHCN nhỏ bé và với sự khan hiếm thông tin vàhạn chế hợp tác cộng với điều kiện sinh hoạt và làm việc như hiện nay thì nềnKHCN của ta không thể nào đủ sức là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xãhội

Cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu triển khai KHCN đã được điềuchỉnh bổ sung một số quy định để gắn trực tiếp hơn KHCN với thực tiến sảnxuất và tạo khả năng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia vào các hoạtđộng KHCN theo nhu cầu tất yếu của phát triển Song có thể nói đến thờiđiểm này, về cơ bản lực lượng tham gia các hoạt động KHCN vẫn chỉ thuộc

về các cơ quan KHCN của nhà nước với cách thức tổ chức quản lý phần lớnvẫn theo kiểu hành chính như thời kế hoạch hoá tập trung Như vậy trongquản lý nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN chưa có những đổi mới cơbản để thích ứng với yêu cầu của hoạt động theo cơ chế thị trường với nhiềuthành phần tham gia, đã quá chậm trễ so với tiến trình đổi mới quản lý pháttriển kinh tế Tình hình đó tất yếu làm hạn chế vai trò tác động tích cực củaKHCN đối với phát triển kinh tế xã hội và cũng chính là lạm hạn chế sự pháttriển của chính bản thân KHCN

Để KHCN thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội và nghiêncứu triển khai đi vào thực tiễn sản xuất Nhà nước phải có những biện phápquản lý hữu hiệu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động KHCN của độingũ cán bộ KHCN - một trong những tiềm năng quý của đất nước Vì vậy,việc đổi mới quản lý nhà nước về nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN

Trang 24

là một đòi hỏi tất yếu của đổi mới kinh tế ở nước ta Việc đổi mới quản lý nhànước đối với nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN ở nước ta hiện naykhông chỉ là đòi hỏi tất yếu của đổi mới kinh tế nói chung, đổi mới quản lýnhà nước nói riêng mà còn là đòi hỏi bức thiết của chính sự phát triển KHCNtrong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Lý luận và kinh nghiệm nhiều nướccho thấy việc đổi mới quản lý đối với nghiên cứu triển khai các hoạt độngKHCN cần được thực hiện qua các khâu: xây dựng chiến lược, định hướngphát triển, tổ chức thực hiện chiến lược và định hướng phát triển, phối hợpchặt chẽ các hoạt động trong quá trình thực hiện; kiểm tra kết quả thực hiện

và điều chỉnh quá trình thực hiện Để thực hiện quá trình này, việc quản lýnhà nước đối với nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN được thông quaviệc thực hiện các chức năng chủ yếu sau:

Nhà nước phải xây dựng chiến lược phát triển KHCN, xây dựng cácchương trình mục tiêu, các kế hoạch dài hạn 5 năm (trên cơ sở chiến lược và

kế hoạch chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước) và các bước đithích hợp cho từng thời kỳ Đồng thời, xác định mô hình tổ chức hoạt độngthích hợp để thực hiện chiến lược, kế hoạch và các chương trình mục tiêu đã

đề ra

Nhà nước ban hành và hướng dẫn chỉ đạo thực hiện cơ chế chính sách đốivới hoạt động KHCN như luật pháp, chế độ quản lý tài chính, các tiêu chuẩnđịnh mức kỹ thuật, các chính sách về quan hệ quốc tế, chính sách cán bộnghiên cứu khoa học

Tạo môi trường thuận lợi về kinh tế cho hoạt động KHCN, khuyến khích

mở rộng liên doanh liên kết để nghiên cứu triển khai có hiệu quả

Thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt độngKHCN và nghiên cứu triển khai

Trang 25

Để thực hiện được những chức năng đó cần sử dụng các công cụ chủ yếunhư kế hoạch, chính sách kinh tế xã hội và các công cụ khác cùng với việcxây dựng được một hệ thống tổ chức quản lý có hiệu lực hiệu quả.

Như vậy, khi cơ chế quản lý kinh tế thay đổi, với chính sách phát triển nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần và mở cửa hội nhập với thế giới, hàng loạtvấn đề mới nảy sinh, vượt ra khỏi khuôn khổ giải quyết của mô hình tổ chức

và cơ chế quản lý cũ Cùng với tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia,xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước vấn đề sắp xếp lại các tổ chức KHCN và đổi mới cơ chế quản lý hoạt độngcho phù hợp với tình hình mới cũng là điều tất yếu Nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động KHCN, đa dạng hóanguồn vốn đầu tư, đồng thời cũng đòi hỏi sự nhạy bén, năng động của cán bộkhoa học cũng như của các tổ chức KHCN trước yêu cầu rất đa dạng, thiếtthực, kịp thời và kịp thời trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trườngtrong cũng như ngoài nước Kinh tế hàng hóa phát triển, nhu cầu đổi mớicông nghệ càng cao, sản xuất càng cần đến các nhà khoa học và các tổ chứcKHCN Vì vậy tiến trình sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý hoạtđộng KHCN cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất và đời sống càng trở nênbức xúc

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi

1.3.1 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế [27]

Bài học thứ nhất: Bất kỳ một quốc gia nào, không phụ thuộc vào thể chếkinh tế, chính trị đều có những ưu tiên riêng của mình theo một thứ tự nhấtđịnh Căn cứ vào mức độ ưu tiên của trật tự đó nhà nước (chính phủ) hìnhthành hệ thống các tổ chức nghiên cứu và phát triển của mình bằng các quyđịnh hành chính pháp lý bắt buộc với từng loại hình tổ chức nghiên cứu và phát

Trang 26

triển trong hệ thống Các tổ chức thực hiện ưu tiên quốc gia được đặt trực thuộcchính phủ (Trung Quốc, Nga ) hoặc trực thuộc các bộ (Rumani, Hungari ).Nhà nước tập trung đầu tư, giao nhiệm vụ (thông qua các chương trình phốihợp nghiên cứu) cho các cơ quan này để thực hiện các lĩnh vực ưu tiên.

Bài học thứ hai: Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế khácthành lập các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo chế độ độc lập, tự quản, tựtrang trải kinh phí, tự đầu tư Các tổ chức này có thể là xí nghiệp (công ty,tổng công ty, tập đoàn có hoạt động khoa học và công nghệ), có thể là các tổchức nghiên cứu và phát triển phi lợi nhuận Thực chất là nhà nước tự do hoáhoạt động khoa học và công nghệ bằng việc hình thành hệ thống khuyếnkhích thúc đẩy quá trình đổi mới nền kinh tế nói chung và khoa học và côngnghệ nói riêng Tuy nhiên, nhà nước vẫn độc quyền trong một số lĩnh vực.Bài học thứ ba: Nhà nước thực hiện đa dạng hoá tổ chức hoạt động khoahọc và công nghệ đi đôi với việc đa dạng hoá nguồn vốn và thể loại nghiêncứu Nhà nước tạo cơ chế để các trường đại học, các xí nghiệp công nghiệp,các viện, các trung tâm khoa học và công nghệ đều có thể được tiến hành hoạtđộng, trải từ nghiên cứu cơ bản qua ứng dụng và chuyển giao kết quả cho thịtrường Hoạt động sản xuất kinh doanh được nhà nước bảo hộ thông qua hệthống văn bản pháp luật về thuế, tín dụng cho sản phẩm mới, về quyền sở hữucông nghiệp

Bài học thứ tư: Nhà nước thừa nhận vai trò to lớn của các tổ chức nghiêncứu và phát triển nói riêng và của khoa học và công nghệ nói chung: Làxương sống của cạnh tranh (đối với các nước tư bản phát triển), là lực lượngsản xuất số một (Trung Quốc) và là quốc sách hàng đầu, là động lực đổi mới(Việt Nam) Như vậy, nhiệm vụ đổi mới hệ thống này luôn là sự cần thiết,bức bách của chính phủ

Trang 27

Bài học thứ năm: Việc thành lập các công ty, các xí nghiệp Enginering vừa

và nhỏ là một bộ phận hợp thành của chính sách khoa học và công nghệ củacác nước trong thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá Đây là biện pháp đa mụctiêu: Tăng quyền chủ động theo kiểu tổ chức tự quyền, giúp các viện tự chủtài chính, đẩy nhanh quá trình “sắp xếp” hệ thống nghiên cứu triển khai đang

“hưởng lương” từ ngân sách nhà nước (như ở nước ta) và cuối cùng là tăngnhanh tốc độ đổi mới công nghệ trong sản xuất

1.3.2 Các phương án đổi mới tổ chức và quản lý các tổ chức KHCN từ trước đến nay của nước ta

a Phương án theo Chỉ thị 199-CT [13, 24, 26, 27]

Theo tinh thần Chỉ thị 199-CT ngày 25/6/1988 của Chủ tịch Hội đồng bộtrưởng (HĐBT, nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc sắp xếp và kiện toànmạng lưới các cơ quan nghiên cứu và phát triển ở nước ta đã hình thành một

hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển lấy cơ quan “chủ quản” để phânbiệt mức độ trọng điểm: Cao nhất là các viện thuộc HĐBT (nay là chính phủ),sau đó là các viện đầu ngành và viện ngành trực thuộc bộ, UBND tỉnh/thànhphố trực thuộc Trung ương và thấp nhất là các trạm trại thực nghiệm rồi mớiđến các tổ chức của tập thể tự nguyện Các tổ chức nghiên cứu và phát triểnthuộc Chính phủ có dấu quốc huy và được xem ngang với tổng cục

Sau gần hai năm kể từ ngày ban bố, hệ thống các viện trực thuộc HĐBTđược thành lập theo đúng quy định Có thể do vị trí của lãnh đạo các viện này,cũng có thể là sự cần thiết khách quan nên ngay sau khi HĐBT quyết định sốlượng “đầu mối” trực thuộc, danh mục này lập tức thay đổi Ví dụ, khi mớithành lập theo phương án 199-CT, Viện khoa học Việt Nam (nay là Trungtâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia) có khoảng 20 “đầu mối” (viện,phân viện, trung tâm) nhưng vào thời điểm cuối năm 1990 con số này đã tăng

Trang 28

lên vài lần Hiện tượng tương tự cũng xảy ra với hệ thống các viện trực thuộc

bộ, mặc dù trước đó đã có sự thống nhất với Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhànước (nay là Bộ khoa học và công nghệ) về số lượng “đầu mối”

Tình hình các viện “chuyên môn hẹp” gắn liền với các sản phẩm cụ thểđược chuyển về trực thuộc các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty dườngnhư khá thuận lợi Các viện chấp nhận sẽ phục vụ các liên hiệp như là “phòng

kỹ thuật”, giải quyết các sự cố, các vướng mắc công nghệ của liên hiệp(doanh nghiệp), viện tự chủ về bố trí cán bộ (đề bạt, nâng lương, phân côngnhiệm vụ), tự chủ tài chính Liện hiệp không can thiệp vào việc xem xét kếhoạch nghiên cứu (vì thực tế không đủ năng lực để đánh giá, xem xét) Việntrình trực tiếp kế hoạch này cho bộ và nếu có gián tiếp qua liên hiệp thì đóthuần tuý chỉ là thủ tục hành chính Để đổi lại “việc phục vụ” trên, liên hiệp

sẽ cung cấp nguyên liệu cho giai đoạn sản xuất thử của các viện, cung cấp tàichính (dù nhỏ) và phương tiện thực hiện các nhiệm vụ mà liên hiệp cần Vớicách tiếp cận như vậy, một số liên hiệp xí nghiệp đã trình đề án xin thành lậpviện trực thuộc hoặc đồng ý nhận các viện với những lập luận mạnh mẽ về sựcần thiết liên kết khoa học và sản xuất

Các kết quả trên cho thấy, phương án 199-CT về cơ bản không thực hiệnđược các mục tiêu đề ra Một hệ thống cơ quan theo thang bậc hành chính vớicác thủ tục xét duyệt tưởng như hết sức chặt chẽ ra đời Số lượng các tổ chứcnghiên cứu và phát triển hưởng ngân sách Nhà nước không những khônggiảm mà lại tăng Sự bung ra - tăng đầu mối trong bối cảnh thiếu sự kiểm soátcủa một hành lang pháp lý, khiến các nhà quản lý đánh giá như là sự rối loạn

có hại cho hệ thống nghiên cứu và phát triển Mối liên kết giữa viện, trường

và sản xuất lỏng lẻo, mang nặng tính hình thức Không thực hiện được việccấp phát tài chính theo nhiệm vụ mà chủ yếu vẫn theo cơ quan, theo biên chế

cố định, việc sắp xếp vẫn mang tính hành chính

Trang 29

Trong bối cảnh quản lý hành chính quá chặt về hình thức, các nguyên tắc

và phương pháp tiến hành sắp xếp của phương án 199-CT tỏ ra là không phùhợp, quan liêu và không sát thực tế Ví dụ, trong phương án nói tới các hướngtrọng điểm (ưu tiên) nhưng chưa bao giờ tổ chức lựa chọn ưu tiên theo mộtbài bản nhuần nhuyễn Không có ưu tiên đúng thì làm sao hình thành đượcphân hệ viện trọng điểm

b Phương án theo Nghị định 35-HĐBT ngày 28/01/1992 của HĐBT [14,

24, 26, 27]

Phương án chuyển đổi hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển theo Nghịđịnh 35- HĐBT ngày 28/01/1992 của HĐBT về công tác quản lý khoa học vàcông nghệ (sau đây viết tắt là phương án 35-HĐBT) là phương án tự sắp xếpdựa trên những biện pháp điều tiết vĩ mô mà trọng tâm là chế độ tự chủ tàichính Phương án không nhằm giảm số lượng các tổ chức nghiên cứu và pháttriển, mà ngược lại trao quyền tự do thành lập cho tất cả các ngành, các cấp,các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức xãhội, mọi công dân trên cơ sở 4 tự: Tự chủ tài chính, tự do liên kết, tự chủ hoạtđộng và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Mọi hoạt động đều phải đượcđăng ký và sau khi đăng ký sẽ được pháp luật bảo hộ

Tư tưởng tự do hoá hoạt động của phương án cho phép bất kỳ công dânnào cũng có quyền được tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ dù là thểnhân hay pháp nhân hoặc dưới dạng tổ chức hoặc thông qua hợp đồng Nhànước chỉ độc quyền trong một số lĩnh vực an ninh, quốc phòng Chính sáchnày được áp dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường

Nhà nước khẳng định 3 chức năng của tổ chức nghiên cứu phát triển đểkhông có sự nhầm lẫn với cơ quan hành chính sự nghiệp Các chức năng đólà: Nghiên cứu, đào tạo, sản xuất và dịch vụ khoa học và công nghệ Cách

Trang 30

phân định này là hợp với logic tình thế trong phát triển của hệ thống tổ chứcnghiên cứu và phát triển Việt Nam hiện nay Vấn đề mấu chốt là các chứcnăng này phải được đăng ký tại các cơ quan tương ứng.

Tự do hoá hoạt động cùng với đa dạng hoá về loại hình tổ chức đã dẫn đếnviệc có quá nhiều “đầu mối” trong hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triểnsau khi ban hành Nghị định 35-HĐBT, là nguyên nhân làm cho các cơ quanquản lý kinh tế, khoa học và công nghệ ở một số địa phương cảm thấy rốiloạn và đã có nhiều công văn đề nghị Chính phủ xem xét lại việc hình thành

hệ thống mới này Đây là điều hiển nhiên vì bản chất của phương án HĐBT là phương án tự sắp xếp trên cơ sở tự chủ tài chính (hiểu theo nghĩarộng của từ này) và trong khuôn khổ đổi mới công tác quản lý khoa học vàcông nghệ như tên của Nghị định

35-Hình thức tổ chức nghiên cứu và phát triển tự trang trải hiện nay do cácviện, trung tâm, các trường đại học lập ra theo Nghị định 35-HĐBT suy chocùng là hình thức “tổ chức nghiên cứu và phát triển cổ phần” hoặc tổ chứckhoa học và công nghệ bán công Quá trình này thực chất là quá trình cổ phầnhoá tự phát Chỉ có điều là trong quá trình cổ phần hoá tự phát này chúng tachưa kịp phát hiện để quy định rạch ròi quyền sở hữu và sử dụng nguồn lực

Vì vậy, sau hơn 10 năm tồn tại và phát triển, một số trung tâm nghiên cứu vàphát triển tự trang trải trực thuộc viện, trường đã tuyên bố tách khỏi và mangtheo toàn bộ thiết bị nhà xưởng

Việc phân định sở hữu cơ sở vật chất, trí tuệ (nhân lực khoa học) và cáckết quả tạo ra đã được quy định trong Thông tư liên bộ 195-LB ngày13/11/1992 của Bộ KH,CN&MT (nay là Bộ khoa học và công nghệ) và Ban

tổ chức - cán bộ Chính phủ (nay là Bộ nội vụ) hướng dẫn đăng ký hoạt độngcủa các tổ chức nghiên cứu và phát triển, song do không có sự kiểm tra

Trang 31

thường xuyên nên không phải lúc nào việc tự chủ cũng được thực hiện bằngnguồn lực tự có hoặc coi như tự có Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việcrối loạn trong phân hệ các tổ chức nghiên cứu và phát triển hưởng ngân sáchNhà nước (do không phân định rõ quyền sở hữu và sử dụng tài sản đối với các

tổ chức tự trang trải tại thời điểm thành lập)

Có thể kể rất nhiều điểm ưu việt của phương án 35-HĐBT và những điểmthành công trong thực hiện Song, như trên đã nói, phương án “tự sắp xếp” phảiđược bảo đảm bằng hệ thống các chính sách điều tiết Hệ thống tổ chức nghiêncứu và phát triển hậu 35-HĐBT đã được hơn 10 năm nhưng nhu cầu đổi mớilại nổi lên cấp bách Có thể đưa ra một số bất cập và nguyên nhân cụ thể sau:Một là, các giải pháp không tính hết trình độ tổ chức và quản lý hoạt độngkhoa học và công nghệ trong cả nước, từ các trung tâm khoa học và côngnghệ đến địa phương, sự nhận thức và nhu cầu về thành lập tổ chức nghiêncứu và phát triển trên các địa bàn khác nhau Do vậy trong các hướng dẫnthực hiện đã đồng nhất hoá các quy định theo một chuẩn nhất định về loạihình tổ chức, cơ cấu cán bộ khoa học và công nghệ, các chính sách tuyểnchọn, đãi ngộ Ví dụ, khó có thể hình dung một tổ chức nghiên cứu và pháttriển của tập thể, tư nhân vừa ít cán bộ, nhỏ về nguồn lực lại có thể có cơ hội

“tự do, bình đẳng” tuyển chọn với các tổ chức nghiên cứu và phát triển củaNhà nước Việc quy định tự do, bình đẳng tham gia tuyển chọn trong trườnghợp này là không thực tế

Hai là, vẫn còn bóng dáng của hiện tượng hành chính hoá hệ thống: Quyđịnh về cấp ra quyết định thành lập khi đăng ký hoạt động, phân cấp đăng kýhoạt động (Điều 15 của Nghị định); phân cấp xét duyệt miễn giảm thuế Lẽ raphải quy định tự do hoá triệt để để có thể tiến tới một kiểu tổ chức phi chủquản trong khuôn khổ của hành lang pháp luật

Trang 32

Ba là khả năng kiểm soát của cơ quan chức năng không theo kịp độ mởcủa các lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ trong các tổ chức nghiêncứu và phát triển, gây cảm giác rối loạn trong quản lý Thực tế cho thấy dochưa có các quy định cụ thể về dịch vụ khoa học và công nghệ (nhất là dịch

vụ tư vấn khoa học và công nghệ), sự khác biệt giữa dịch vụ khoa học vàcông nghệ và các dịch vụ trong các lĩnh vực mà Nhà nước độc quyền, nênnhiều tổ chức nghiên cứu và phát triển không thể đăng ký các hoạt động về tưvấn đầu tư, chuyển giao công nghệ khi xét cấp giấy chứng nhận đăng kýhoạt động khoa học và công nghệ

Bốn là, việc giới hạn phạm vi hoạt động của các tổ chức nghiên cứu vàphát triển lại quá hẹp, chưa tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển như:Không cho phép tổ chức nghiên cứu và phát triển sản xuất, hạn chế liêndoanh, liên kết Nguyên nhân chính, như đã nêu trên đây là do sự bất đồng

bộ của hệ thống kinh tế với hệ thống khoa học và công nghệ: Ngay sau khiban hành Nghị định 35-HĐBT được 8 tháng, Chính phủ ra chỉ thị 08/CT(18/10/1992) không cho phép các viện, trường thành lập doanh nghiệp dướimọi hình thức Như vậy, một lần nữa, tổ chức nghiên cứu và phát triển lạiđược coi là đơn vị hành chính sự nghiệp và theo Luật đầu tư nước ngoài hiệnhành thì đơn vị hành chính sự nghiệp không được liên doanh, liên kết

Năm là, cơ chế thuế theo tinh thần Nghị định 35-HĐBT khá thông thoáng,phù hợp với tính chất của hoạt động khoa học và công nghệ: Các hợp đồngnghiên cứu khoa học, sản xuất thử không phải chịu thuế Các hợp đồng dịch vụkhoa học và công nghiệp không phải chịu thuế lợi tức nhưng phải chịu thuếdoanh thu Nhưng hệ thống thuế công bố vào thời điểm năm 1992 đã không cụthể, thậm chí ngược lại với tinh thần của Nghị định 35-HĐBT, gây trở ngại,ách tắc cho việc miễn giảm thuế đối với hoạt động khoa học và công nghệ củacác tổ chức nghiên cứu và phát triển, nhất là các tổ chức tự trang trải

Trang 33

Sáu là, trên thực tế, hệ thống tín dụng vẫn coi các tổ chức nghiên cứu vàphát triển là đơn vị hành chính sự nghiệp và vì vậy không cho phép vay vốn.Các tổ chức nghiên cứu và phát triển hoạt động theo Nghị định 35-HĐBT, dothực hiện cơ chế tự trang trải nên không có nhiều vốn từ ngân sách Nhà nước,không được vay vốn ngân hàng nên duy nhất dựa vào vốn của tập thể khoa họchoặc huy động vốn của các tổ chức, cá nhân khác sau khi công trình nghiêncứu áp dụng thành công và được thanh toán Thật nguy hiểm khi bị các cơ sở

có nhu cầu áp dụng công nghệ mới chiếm dụng vốn, chậm thanh toán Vốnthiếu đã dẫn đến tình trạng ở nhiều đơn vị trang thiết bị kỹ thuật, điều kiện làmviệc, phương tiện phục vụ nghiên cứu khoa học còn quá nghèo nàn

Bảy là, thiếu hẳn các hướng dẫn cụ thể để các tổ chức nghiên cứu và pháttriển của Nhà nước từng bước chuyển chế độ biên chế sang chế độ hợp đồnglao động cũng như các chế độ đảm bảo quyền lợi bình đẳng giữa hai thể loạibiên chế này Do không có hướng dẫn nên xuất hiện hai khuynh hướng: Thứnhất- bố trí lại cán bộ theo thế mạnh, thứ hai- thanh lọc những người bất đồngchính kiến Kết quả là biện pháp đổi mới nhân lực của phương án 35-HĐBT

đã bị lợi dụng Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn tới việc không thực hiệnđược trọn vẹn phương án 35-HĐBT

Tóm lại, phương án 35- HĐBT là phương án khả dĩ để tiến hành chuyểnđổi hệ thống các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam với tư tưởngchủ đạo là tự do hoá, tự chủ nguồn lực và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật

Để thực hiện, trong phương án đã thiết kế một hệ thống các biện pháp chínhsách đồng bộ Nhưng do nhận thức, ý thức trách nhiệm, trình độ quản lý trongbối cảnh mới nên không phải mọi nơi mọi lúc đều quán triệt tư tưởng này.Điều đó dẫn đến sự thiếu đồng bộ của hệ thống biện pháp tổ chức thực hiệntrên thực tế Sự thiếu đồng bộ này lại rơi vào chính sách tài chính và chínhsách cán bộ - hai công cụ mang tính đột phá mà nguyên nhân sâu xa là do sự

Trang 34

lệch pha giữa hệ thống quản lý kinh tế - xã hội với hệ thống quản lý khoa học

và công nghệ Kết quả là hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển với tưcách là đối tượng quản lý của cả hai hệ thống (hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp)phải hứng chịu, cho nên cho đến nay nó vẫn bị coi là cồng kềnh, kém hiệuquả, thiếu liên kết

c Phương án theo Quyết định 324-CT [15, 24, 26, 27]

Trước hết, Quyết định 324-CT ngày 11/9/1992 của Chủ tịch HĐBT vềviệc tổ chức lại mạng lưới cho cơ quan nghiên cứu và phát triển về cơ bản vẫn

là phương án 199-CT đặt trong bối cảnh mới: Có Nghị định 35-HĐBT vàhành lang pháp lý mới được hình thành Nói cách khác, phương án 324-CTnhằm triển khai cụ thể hơn phương án 35-HĐBT và đặc biệt tập trung vào sắpxếp các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội, giải quyết mối quan hệ viện và trường Những phân hệ cònlại được đề cập tới thuần túy mang tính nguyên tắc và cũng chỉ để có tính hệthống gần như phương án 199-CT

Điểm mới của phương án 324-CT là ở chỗ nó khẳng định bất kỳ một phân

hệ nào trong nền kinh tế quốc dân cũng có mục tiêu riêng và để phục vụ chomục tiêu ấy, nó cần có các tổ chức nghiên cứu và phát triển tương ứng Nhànước có các ưu tiên của mình và theo đó Nhà nước thành lập các tổ chứcnghiên cứu và phát triển quốc gia và các viện trọng điểm Các bộ ngành có ưutiên riêng và cũng cần có các tổ chức nghiên cứu và phát triển phục vụ chocác mục tiêu đó

Theo phương án, các nghiên cứu cơ bản (nếu có) sẽ chuyển vào các trườngđại học - thành phần tạo hệ của hệ thống khoa học và công nghệ của ViệtNam Một hệ thống nghiên cứu trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp

sẽ tiếp tục hình thành trên cơ sở phương án 199-CT và 35-HĐBT

Trang 35

Tuy nhiên, đã hơn 10 năm, mặc dù 2 trung tâm khoa học quốc gia đã đượcthành lập, 2 đại học quốc gia đã đi vào hoạt động, song không một việnnghiên cứu cơ bản nào được thành lập mới hoặc chuyển vào trường đại học.

Số lượng các tổ chức nghiên cứu và phát triển trực thuộc 2 trung tâm này tănglên đáng kể (gấp 2-2,5 lần) hoặc được Chính phủ bổ sung hoặc nằm dướidanh nghĩa “tự trang trải”

Việc gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất cũng chỉ dừng lại như phương

án 199-CT, thậm chí lại không cụ thể hơn: Vẫn với khẩu hiệu “tạo điều kiệnthuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ trực tiếp nhu cầu dosản xuất đặt ra, bố trí lại các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo hướng gắnchặt với các cơ sở sản xuất, rút ngắn chu trình nghiên cứu - triển khai - sảnxuất” Ghép nối hành chính không thể “gắn chặt” hay “rút ngắn chu trình”được

Tóm lại, phương án 324-CT vừa sâu lại vừa quá rộng: Sâu vì nó nhằm giảiquyết việc sắp xếp lại các viện quốc gia (kết quả của 199-CT) bằng việc thànhlập 2 trung tâm khoa học quốc gia và chuyển 2 viện (Viện năng lượng nguyên

tử quốc gia và Viện nghiên cứu công nghệ quốc gia, nay là Viện năng lượngnguyên tử Việt Nam và Viện ứng dụng công nghệ) về Bộ KH,CN&MT; rộng

vì nó định giải quyết hành chính việc gắn trường với viện bằng việc thành lập

2 đại học quốc gia và đưa các nghiên cứu cơ bản về trường nhằm thành lậpcác trung tâm nghiên cứu lý thuyết mạnh, trong khi cũng ngay trong phương

án đó lại muốn các trường tiến hành nghiên cứu tất cả các lĩnh vực khoa họcxuyên suốt chu trình nghiên cứu - sản xuất Xa hơn, nó muốn vươn tới giảiquyết cả các tổ chức nghiên cứu và phát triển ngành, vùng, và của các tập thể,

tư nhân thay vì hoàn thiện những điểm yếu của cơ chế tự sắp xếp mà HĐBT đã hình thành Các biện pháp phân công, phân nhiệm, phân tài chính

Trang 36

35-từ nguồn ngân sách Nhà nước theo ô đã làm cho phương án trở thành mộtbước lùi so với phương án trước đó

d Phương án theo Quyết định 782/TTg [8, 24, 26, 27]

Thực chất Quyết định 782/TTg ngày 24/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ

về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ

là nhằm triển khai cụ thể phần Quyết định 324-CT nêu trên: “ Hình thànhmột số cơ quan khoa học và công nghệ mạnh, có ý nghĩa toàn quốc, đặt tạimột số bộ” và “chuyển những tổ chức khoa học và công nghệ chuyên nghiêncứu những vấn đề gắn liền với những sản phẩm cụ thể vào các doanh nghiệphoặc chuyển thành các liên hiệp khoa học - sản xuất”

Việc chuyển các tổ chức nghiên cứu và phát triển vào doanh nghiệp và chophép viện tổ chức sản xuất kinh doanh là vấn đề còn để ngỏ và nó đặc biệt nổicộm khi ban hành Quyết định 782/TTg

Bản chất của việc chuyển các tổ chức nghiên cứu và phát triển vào doanhnghiệp (hoặc khuyến khích các doanh nghiệp lập tổ chức nghiên cứu và pháttriển) và cho phép các tổ chức nghiên cứu và phát triển thành lập các tổ chứcsản xuất kinh doanh là 2 mặt của một vấn đề: Tăng cường hơn nữa mối liênkết giữa khoa học và công nghệ (kể cả đào tạo) với sản xuất (doanh nghiệp)trong tam giác liên kết viện - trường - doanh nghiệp

Chuyển tổ chức nghiên cứu và phát triển vào doanh nghiệp nhằm mục đíchnâng cao năng lực tiếp thu và đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp bằng khoahọc và công nghệ Nếu với mục đích như vậy thì việc chuyển tổ chức nghiêncứu và phát triển vào doanh nghiệp gần với nghĩa là chuyển hoạt động khoahọc và công nghệ vào doanh nghiệp Nhưng nếu quy định như phương án199-CT, 324-CT và 782/TTg thì dễ làm người ta hiểu là chuyển các tổ chứcnghiên cứu và phát triển như là một thực thể hành chính vào trực thuộc các

Trang 37

doanh nghiệp theo kiểu mệnh lệnh Do nhấn mạnh thái quá vai trò các thứ bậchành chính trong việc điều chuyển này nên các nỗ lực của Nhà nước trướcđây về vấn đề này đã không mang lại kết quả mong đợi

Ngược lại, việc cho phép tổ chức nghiên cứu và phát triển được thành lậpcác cơ sở sản xuất là để tăng cường “thói quen công nghệ” cho các nhànghiên cứu, tăng cường độ tin cậy công nghệ cho việc chuyển hoá các kết quảnghiên cứu vào sản xuất Theo kinh nghiệm của Trung Quốc và một số nướcxung quanh ta, việc sản nghiệp hoá kết quả nghiên cứu mới về nguyên nhân

có thể dẫn đến việc hình thành các doanh nghiệp, nhất là trong các lĩnh vựccông nghệ cao và mới, góp phần thúc đẩy ngành kinh tế công nghệ cao pháttriển Mặt khác, trong điều kiện Việt Nam, nguồn thu từ sản xuất có thể giúpcác tổ chức nghiên cứu và phát triển tự trang trải các khoản thiếu hụt do ngânsách hạn hẹp

Phương án 782/TTg, bằng việc chuyển các viện về doanh nghiệp phần nào

đã khắc phục sự thiếu gắn bó giữa nghiên cứu và sản xuất, nghiên cứu và đàotạo, ít nhất là về mặt hình thức Số lượng các tổ chức nghiên cứu và phát triểnthuộc các doanh nghiệp tính đến tháng 12/1999 đã có 66, mặc dù chủ yếubằng các quyết định hành chính chứ không phải do nhu cầu thực của tổ chứcnghiên cứu và phát triển hay doanh nghiệp

Phương án 782/TTg thể hiện thái độ dứt khoát của Nhà nước là từng bướcxoá bỏ bao cấp Đây là việc không có ở bất kỳ phương án nào trước đó Kinhnghiệm của Bộ cơ khí và luyện kim trước đây (năm 1985 - nay là Bộ côngnghiệp) khi quyết định tất cả các tổ chức nghiên cứu và phát triển trực thuộcphải tự hạch toán kinh tế từ 01/01/1985 là bài học tốt cho Quyết định này Cóthể cơ chế “hạch toán kinh tế” đã một thời làm các viện của Bộ cơ khí vàluyện kim khó khăn, nhưng nếu không có cuộc tập dượt ấy thì thật khó hình

Trang 38

dung sẽ có Viện máy và công cụ công nghiệp, Viện mỏ và luyện kim, Việnđiện tử - tin học và tự động hoá hôm nay với tư cách là những điển hình tiêntiến - điểm trội của hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển nước ta.

Tuy nhiên, nhiều viện thuộc diện chuyển đổi theo phương án 782/TTg đãphản ứng quyết liệt Nguyên nhân có lẽ là phạm vi hoạt động của viện từtrước tới nay rất rộng mà nhu cầu sử dụng của tổng công ty lại bó hẹp, khảnăng quản lý khoa học của tổng công ty không có, nguồn lực cung cấp choviệc thực hiện rất hạn chế

Phương án 782-TTg, trên thực tế vẫn lấy ghép nối làm công cụ sắp xếp,thậm chí ngay cả đối với 41 viện ban đầu trong danh sách các viện của Nhànước Ví dụ, Trung tâm khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam gồm 6 việnđược ghép lại, cho đến nay đã gần 7 năm vẫn chưa thực hiện được Nhận địnhnày không mâu thuẫn với nhận định về mặt thành công trên đây Sắp xếp thểhiện ý chí của Nhà nước, song ý chí đó phải được bảo đảm bằng hệ thống cáccông cụ chính sách và bước đi cụ thể trên thực tế

Hệ thống chính sách bảo đảm chuyển đổi theo phương án 782/TTg thì chỉdừng lại ở chủ trương Trong số 5 công cụ chính yếu bảo đảm chuyển đổi,duy nhất chỉ có Thông tư liên bộ số 395/KCM-TCCBCP ngày 12/4/1997 của

Bộ KH,CN&MT và Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ hướng dẫn về cơ chếhoạt động và quan hệ của các viện khoa học và công nghệ trực thuộc tổngcông ty nhà nước Bản thân Thông tư này cũng chỉ giải quyết các quan hệhành chính - tổ chức, còn các quan hệ kinh tế - tài chính thì vẫn “theo quyđịnh hiện hành của pháp luật”, thậm chí còn quy định mức cắt lương luỹ thoáiđối với các viện chuyển đổi Chính sách, cơ chế khuyến khích các doanhnghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ cho mãi tới ngày 18/9/1999 mới đượcban hành bằng Nghị định 119/1999/NĐ-CP

Trang 39

Do không được hậu thuẫn bởi các luận cứ khoa học, do các quy định vềchính sách đầu tư, cắt giảm quỹ lương nên phương án 782/TTg đã tạo nên

sự bất bình đẳng về cơ hội giữa các viện thuộc danh sách các viện quốc gia vàcác viện phải chuyển đổi

Tóm lại, phương án 782/TTg là phương án chỉ nhằm sắp xếp lại phân hệcác tổ chức nghiên cứu và phát triển của Nhà nước Với tư cách là chủ sở hữu,Nhà nước đã sử dụng công cụ hành chính - tổ chức kết hợp với công cụ kinh

tế - tài chính (đầu tư, lương, chính sách lao động) để sắp xếp, ghép nối, thugọn đầu mối Lẽ ra, việc áp dụng công cụ hành chính - tổ chức phải được luận

cứ trước đó bằng các tiêu chí về thứ tự ưu tiên, về hiệu quả hoạt động của các

tổ chức nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên đó Lẽ ra, cáccông cụ chính sách bảo đảm thực hiện phải được hình dung cụ thể và banhành sớm sau khi công bố phương án về cơ bản đã không thực hiện đượcđiều này Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc không thực hiện đượcphương án 782/TTg như mong muốn Có nhiều nguyên nhân, song nguyênnhân cơ bản là đã không cụ thể hoá được các chính sách có liên quan tới nhânlực khoa học và công nghệ và đầu tư tài chính, cơ sở vật chất

e Phương án theo Quyết định 68/QĐ-TTg [9, 24, 26, 27]

Tiếp đó, ngày 27/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số68/QĐ-TTg về thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các Trườngđại học và Viện nghiên cứu, được các Viện, Trường hồ hởi đón nhận, nhưngsau khi triển khai thực hiện đã bộc lộ những bất cập không thể giải quyếtđược, ví dụ :

Việc hình thành doanh nghiệp nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp khôngphù hợp với xu thế phát triển theo cơ chế thị trường và đi ngược lại chủ

Trang 40

trương chung là đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá đồng thời hạn chế việc thànhlập thêm các doanh nghiệp nhà nước;

Doanh nghiệp nhà nước được thành lập trong các Viện, Trường nhưng tàisản và vốn của doanh nghiệp lại do các Viện, Trường giao từ tài sản của Viện,Trường chứ không được nhà nước cấp nên hạn chế quyền tự chủ kinh doanhcủa doanh nghiệp;

Giám đốc doanh nghiệp do cơ quan chủ quản cấp trên của Viện, Trường

bổ nhiệm, vì vậy các Viện, Trường không được chủ động về nhân sự vàkhông đủ thẩm quyền xử lý khi có sai phạm trong sản xuất kinh doanh;

Không có quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ thuộc biênchế của Viện, Trường khi tham gia quản lý và làm việc trong doanh nghiệpnên không khuyến khích họ chuyển sang doanh nghiệp;

Vì vậy, sau một thời gian thực hiện với sự ra đời của hơn 20 doanh nghiệpthuộc các Viện, Trường, năm 2001 chủ trương này đã phải tạm dừng thựchiện Hiện nay các doanh nghiệp đó vẫn tồn tại nhưng hầu hết đều không pháttriển được và hình thức hoạt động hầu như theo mô hình các công ty tráchnhiệm hữu hạn

f Luật KH&CN số 21/2000/QH10, nghị định 115/2005/NĐ-CP, nghị định80/2007/NĐ-CP [2, 7, 10, 23]

Kế thừa kết quả của các phương án đã thực hiện Luật KH&CN được banhành tháng 6/2000 và có hiệu lực từ 01/01/2001 làm rõ hơn, bổ sung thêmcho đầy đủ hơn nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình xã hội hoá hoạt độngKH&CN Với việc ban hành Luật , các quy định về biện pháp xã hội hoá hoạtđộng KH&CN đã được nâng cao tầm hiệu lực của mình

Ngày đăng: 03/05/2014, 17:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

H2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức - luận văn thạc sĩ Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức (Trang 64)
Bảng 2.1. Bảng thống kê tài sản - luận văn thạc sĩ Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
Bảng 2.1. Bảng thống kê tài sản (Trang 66)
Bảng 2.2. Bảng số liệu tài chính các năm 2004-2006 - luận văn thạc sĩ Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
Bảng 2.2. Bảng số liệu tài chính các năm 2004-2006 (Trang 66)
Bảng 2.3. Kết quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong các năm 2001-2005 - luận văn thạc sĩ Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
Bảng 2.3. Kết quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong các năm 2001-2005 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w