LỜI MỞ ĐẦUViệt Nam là một nước nông nghiệp và có đại đa số dân cư sinh sống, lập nghiệp từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong vài thập niên tới, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta.Song đại bộ phận nông thôn nước ta còn trong tình trạng kém phát triển về kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng còn quá nhiều thiếu thốn, lạc hậu. Cụ thể phải kể đến cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đây là một yếu tố quan trọng hàng đầu để tiếp cận thị trường, tiếp thu khoa học kỹ thuật, mở rộng sản xuất.Vấn đề lớn đặt ra từ chi ngân sách nhà nước là chi vào lĩnh vực này sao cho hiệu quả? Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề này em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn”.Mục tiêu là nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, thực trạng huy động và sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước từ đó đưa ra được những giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn nước ta trong thời gian tới.Nội dung của đề tài được kết cấu làm ba chương:Chương I: Sự cần thiết nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng GTNT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nướcChương II: Thực trạng đầu tư và hiệu quả đầu tư vào phát triển GTNT bằng ngân sách nhà nướcChương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển GTNT bằng vốn ngân sách nhà nước.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp và có đại đa số dân cư sinh sống, lậpnghiệp từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong vài thập niên tới, nông nghiệp vẫngiữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội của nước ta
Song đại bộ phận nông thôn nước ta còn trong tình trạng kém phát triển vềkinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng còn quá nhiều thiếu thốn, lạc hậu Cụ thể phải kể đến
cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đây là một yếu tố quan trọng hàng đầu để tiếpcận thị trường, tiếp thu khoa học kỹ thuật, mở rộng sản xuất
Vấn đề lớn đặt ra từ chi ngân sách nhà nước là chi vào lĩnh vực này sao cho
hiệu quả? Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề này em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn”.
Mục tiêu là nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, thực trạng huy động và sửdụng vốn từ ngân sách nhà nước từ đó đưa ra được những giải pháp thích hợp nhằmthúc đẩy vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn nước ta trong thờigian tới
Nội dung của đề tài được kết cấu làm ba chương:
Chương I: Sự cần thiết nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng GTNT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Chương II: Thực trạng đầu tư và hiệu quả đầu tư vào phát triển GTNT bằng ngân sách nhà nước
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển GTNT bằng vốn ngân sách nhà nước.
Trang 2CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN BẰNG NGUỒN
VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Giao thông nông thôn và nguồn vốn đầu tư phát triển giao thông nông thôn 1.1 Giao thông nông thôn và sự cần thiết tăng cường đầu tư phát triển giao thông nông thôn
1.1.1 Lý luận chung về cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là một bộ phận của cơ sở hạ tầng nôngnghiệp, bao gồm cơ sở hạ tầng đường sông, đường mòn, đường đất phục vụ sự đi lạitrong nội bộ nông thôn nhằm phát triển sản xuất và phục vụ giao lưu kinh tế vănhóa xã hội của các làng xã, thôn xóm Hệ thống này nhằm đảm bảo cho các phươngtiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại
Trong quá trình nghiên cứu cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cần phân biệt
rõ với hệ thống giao thông nông thôn
Hệ thống giao thông nông thôn bao gồm: cơ sở hạ tầng giao thông nôngthôn, phương tiện vận tải và người sử dụng Như vậy, cơ sở hạ tầng giao thông nôngthôn chỉ là một bộ phận của hệ thống giao thông nông thôn Giao thông nông thônkhông chỉ là sự di chuyển của người dân nông thôn và hàng hóa của họ, mà còn làcác phuơng tiện để cung cấp đầu vào sản xuất và các dịch vụ hỗ trợ cho khu vựcnông thôn của các thành phần kinh tế quốc doanh và tư nhân Đối tượng hưởng trựctiếp của hệ thống giao thông nông thôn sau khi xây dựng mới, nâng cấp là ngườidân nông thôn, bao gồm các nhóm người có nhu cầu và ưu tiên đi lại khác nhau nhưnông dân, doanh nhân, người không có ruộng đất, cán bộ công nhân viên của cácđơn vị phục vụ công cộng làm việc ở nông thôn
* Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Cở sở hạ tầng giao thông nông thôn bao gồm :
Trang 3+Mạng lưới đường giao thông nông thôn: đuờng huyện, đường xã và đườngthôn xóm, cầu cống, phà trên tuyến
+Đường sông và các công trình trên bờ
+Các cơ sở hạ tầng giao thông ở mức độ thấp ( các tuyến đường mòn, đườngđất và các cầu cống không cho xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép người đi bộ, xeđạp, xe máy,…đi lại ) Các đường mòn và các đường nhỏ cho người đi bộ, xe đạp,
xe thồ, xe súc vật kéo, xe máy và đôi khi cho xe lớn hơn, có tốc độ thấp đi lại là mộtphần mạng lưới giao thông, giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa
đi lại của người dân
1.1.1.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn gắn liền với mọi hệ thống kinh tế, xãhội, cơ sở giao thông nông thôn là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, vừaphụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nông thôn
So với hệ thống kinh tế- xã hội khác cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cónhững đặc điểm sau:
1.1.1.2.1 Tính hệ thống, đồng bộ
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là một hệ thống cấu trúc phức tạp phân
bố trên toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có mức độ và phạm vi ảnh hưởngcao thấp khác nhau tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nông thôn, củavùng và của làng, xã Tuy vậy, các bộ phận này có mối liên hệ gắn kết với nhautrong quá trình khai thác và sử dụng
Do vậy việc quy hoạch tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nôngthôn, phối hợp kết hợp giữa các bộ phận trong một hệ thống đòng bộ, sẽ giảm tối đachi phí và tăng tối đa công dụng của các cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cảtrong xây dựng lẫn trong quá trình vận hành, sử dụng
Tính chất đồng bộ, hợp lý trong việc phối kết hợp các yếu tố hạ tầng giaothông không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn có ý nghĩa về xã hội và nhân văn.Các công trình giao thông thường là công trình lớn, chiếm chỗ trong không gian
Trang 4Tính hợp lý của các công trình này đem lại sự thay đổi lớn trong cảnh quan và cótác động tích cực đến các sinh hoạt của cư dân trong địa bàn.
1.1.1.2.2 Tính định hướng gắn với sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đặc trưng này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thốnggiao thông nông thôn : Đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, mở đuờng cho cáchoạt động kinh tế, xã hội phát triển…Đặc điểm này đòi hỏi trong phát triển cơ sở hạtầng giao thông nông thôn phải chú trọng những vấn đề chủ yếu:
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn của toàn bộ nông thôn, của vùng haycủa làng, xã cần được hình thành và phát triển trước một bước và phù hợp với cáchoạt động kinh tế-xã hội Dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội để quyếtđịnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Đến lượt mình, sự pháttriển cơ sở hạ tầng giao thông về quy mô, chất lượng lại thể hiện định hướng pháttriển kinh tế, xã hội và tạo tiền đề vật chất cho tiến trình phát triển kinh tế-xã hội
Thực hiện tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển cơ sở hạ tầng giaothông của toàn bộ nông thôn, toàn vùng, từng địa phương trong mỗi giai đoạn pháttriển sẽ vừa quán triệt tốt đặc điểm về tính tiên phong trong định hướng, vừa giảmnhẹ nhu cầu huy động vốn đầu tư do chỉ tập trung vào những công trình ưu tiên.1.1.1.2.3 Tính địa phương, tính vùng và khu vực
Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn phụ thuộcvào nhiều yếu tố như địa lý, địa hình, trình độ phát triển…Do địa bàn nông thônrộng, dân cư phân bố không đều và điều kiện sản xuất nông nghiệp vừa đa dạng,phức tạp lại vừa khác biệt lớn giữa các địa phương, các vùng sinh thái.Vì thế, hệthống cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn mang tính vùng và địa phương rõ nét.Điều này thể hiện trong cả quá trình tạo lập, xây dựng cũng như trong tổ chức quản
lý, sử dụng chúng.Yêu cầu này đặt ra trong việc xác định phân bố hệ thống giaothông nông thôn, thiết kế, đầu tư và sử dụng nguyên vật liệu, vừa đặt trong hệ thốngchung của quốc gia, vừa phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng địa phương,từng vùng lãnh thổ
Trang 51.1.1.2.4 Tính xã hội và tính công cộng cao
Tính xã hội và công cộng cao của các công trình giao thông ở nông thôn thểhiện trong xây dựng và trong sử dụng.Trong sử dụng, hầu hết các công trình đềuđược sử dụng nhằm phục vụ việc đi lại, buôn bán giao lưu của tất cả người dân, tất
cả các cơ sở kinh tế, dịch vụ Trong xây dựng, mỗi loại công trình khác nhau cónhững nguồn vốn khác nhau từ tất cả các thành phần, các chủ thể trong nền kinh tếquốc dân Để việc xây dựng, quản lý, sử dụng các hệ thống đường nông thôn có kếtquả cần lưu ý:
+ Đảm bảo hài hòa giữa nghĩa vụ trong xây dựng và quyền lợi trong sử dụngđối với các tuyến đường cụ thế Nguyên tắc cơ bản là gắn quyền lợi và nghĩa vụ
+Thực hiện tốt việc phân cấp trong xây dựng và quản lý sử dụng công trìnhcho từng cấp chính quyền, từng đối tượng cụ thể khuyến khích việc phát triển sửdụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng
1.2 Vai trò của giao thông nông thôn
1.2.1 Tạo điều kiện cơ bản cho phát triển kinh tế và tăng lợi ích xã hội cho nhân dân trong khu vực có mạng lưới giao thông
Tác động kinh tế của cơ sở hạ tầng giao thông gắn với sự phát triển sản xuấtnông nghiệp được thể hiện cụ thể bằng việc nâng cao sản lượng cây trồng, mở rộngdiện tích canh tác và nâng cao thu nhập của người nông dân Adam-Smith đã viết vềtác động kinh tế rất mạnh mẽ khi hệ thống giao thông nông thôn ở Uganda được xâydựng vào giai đoạn 1948-1959, đã làm cho mùa màng bội thu chưa từng có, cùngvới sự thay đổi tập quán canh tác trên diện rộng, thu nhập của các hộ nông dân đãtăng lên từ 100%-200% so với trước Sự mở mạng các tuyến đường mới ở nôngthôn, nông dân đã bắt đầu sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,phòng trừ sâu bệnh…đã tạo ra những vụ mùa bội thu
Nhờ đường xá đi lại thuận tiện người nông dân có điều kiện tiếp xúc và mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, quay vòng vốn nhanh để tái sản xuấtkịp thời vụ, nhờ vậy họ càng thêm hăng hái đẩy mạnh sản xuất
Trang 6Mặt khác, khi có đường giao thông tốt các vùng sản xuất nông nghiệp tạitừng phần thuận tiện, các lái buôn mang ôtô đến mua nông sản ngay tại cánh đồnghay trang trại lúc mùa vụ Điều này làm cho nông dân yên tâm về khâu tiêu thụ,cũng như nông sản đảm bảo được chất lượng từ nơi thu hoạch đến nơi chế biến.
Tóm lại “việc mở mạng mạng lưới giao thông ở nông thôn là yếu tố quantrọng làm thay đổi các điều kiện sản xuất nông nghiệp, giảm bớt thiệt hại hư hao vềchất lượng và số lượng sản phẩm nông nghiệp, hạ chi phí vận chuyển và tăng thunhập của nông dân.”- GiTec
+Về mặt xã hội
Chúng ta thấy rằng, về mặt kinh tế đường xá nông thôn có tác động tới sảnxuất, sẩn phẩm và thu nhập của nông dân, thì mặt xã hội nó lại là yếu tố và phươngtiện đầu tiên góp phần nâng cao văn hoá, sức khoẻ và mở mang dân trí cho cộngđồng dân cư đông đảo sống ngoài khu vực thành thị
- Về y tế
Đường xá tốt tạo cho người dân năng đi khám, chữa bệnh và lui tới các trungtâm dịch vụ cũng như dễ dàng tiếp xúc, chấp nhận các tiến bộ y học như bảo vệ sứckhoẻ, phòng tránh các bệnh xã hội Và đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp kếhoạch hoá gia đình, giảm mức độ tăng dân số, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ em
và bảo vệ sức khoẻ cho nguời già…
- Về giáo dục
Hệ thống đường xá được mở rộng sẽ khuyến khích các trẻ em tới lớp, làmgiảm tỷ lệ thất học ở trẻ em nông thôn Với phần lớn giáo viên sống ở thành thị xã,thị trấn, đường giao thông thuận tiện có tác dụng thu hút họ tới dạy ở các trườnglàng; tránh cho họ sự ngại ngần khi phải đi lại khó khăn và tạo điều kiện ban đầu để
họ yên tâm làm việc
- Giao thông thuận lợi còn góp phần vào việc giải phóng phụ nữ, khuyến
khích họ lui tới các trung tâm dịch vụ văn hoá, thể thao ở ngoài làng xã, tăng cơ hội
Trang 7tiếp xúc và khả năng thay đổi nếp nghĩ Do đó có thể thoát khỏi những hủ tục, tậpquán lạc hậu trói buộc người phụ nữ nông thôn từ bao đời nay, không biết gì ngoàiviệc đồng áng, bếp núc Với các làng quê ở nước ta, việc đi lại, tiếp xúc với khu vựcthành thị còn có tác dụng nhân đạo tạo khả năng cho phụ nữ có cơ hội tìm đưọchạnh phúc hơn là bó hẹp trong luỹ tre làng rồi muộn màng hay nhỡ đường nhânduyên.
Tác động tích của hệ thống đường giao thông nông thôn về mặt xã hội đãđược William Anderton và Charlers, khi nghiên cứu về sự phát triển nông thôn ởcác nước đang phát triển như Colombia, Liberia, Philipines và Jamaica có nhữngđiều kiện xã hội và sản xuất nông nghiệp đã đưa ra kết luận “đường giao thông nôngthôn được mở mang xây dựng tạo điều kiện giao lưu thuận tiện giữa vùng sản xuấtnông nghiệp với các thị trấn, các trung tâm văn hoá, xã hội có tác dụng mạnh mẽđến việc mở mang dân trí cho cộng đồng dân cư, tạo điều kiện để thanh niên nôngthôn tiếp cận cái mới cũng như góp phần giải phóng phụ nữ “
1.2.2 Tác động mạnh và tích cực đến quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội nông thôn
Thông qua việc đảm bảo các điều kiện cơ bản, cần thiết cho sản xuất và thúcđẩy sản xuất phát triển, thì các nhân tố và điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông ở nôngthôn cũng đồng thời tác động tới quá trình làm thay đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấukinh tế ở khu vực này
Trước hết, việc mở rộng hệ thống giao thông không chỉ tạo điều kiện choviệc thâm canh mở rộng diện tích và tăng năng suất sản lượng cây trồng mà còn dẫntới quá trình đa dạng hoá nền nông nghiệp, với những thay đổi rất lớn về cơ cấu sửdụng đất đai, mùa vụ, cơ cấu về các loại cây trồng cũng như cơ cấu lao động và sựphân bố các nguồn lực khác trong nông nghiệp, nông thôn
Tại phần lớn các nước nông nghiệp lạc hậu hoặc trong giai đoạn đầu quá độcông nông nghiệp, những thay đổi này thường diễn ra theo xu hướng thâm canh caocác loại cây lương thực, mở rộng canh tác cây công nghiệp, thực phẩm và phát triển
Trang 8ngành chăn nuôi Trong điều kiện có sự tác động của thị trường nói chung, “các loạicây trồng và vật nuôi có giá trị cao hơn đã thay thế cho loại cây có giá trị thấp hơn”.Đây cũng là thực tế diễn ra trên nhiều vùng nông thôn, nông nghiệp nước ta hiệnnay.
Hai là, tác động mạnh mẽ đến các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanhkhác ngoài nông nghiệp ở nông thôn như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vậntải, xây dựng… Đường xá và các công trình cộng cộng vươn tới đâu thì các lĩnhvực này hoạt động tới đó Do vậy, nguồn vốn, lao động đầu tư vào lĩnh vực phinông nghiệp cũng như thu nhập từ các hoạt động này ngày càng tăng Mặt khác, bảnthân các hệ thống và các công trình cơ sở hạ tầng ở nông thôn cũng đòi hỏi phải đầu
tư ngày càng nhiều để đảm bảo cho việc duy trì, vận hành và tái tạo chúng Tất cảcác tác động đó dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế của một vùng cũngnhư toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp Trong đó, sự chuyển dịch theo hướng nông-công nghiệp (hay công nghiệp hoá) thể hiện rõ nét và phổ biến
Ba là, cơ sở hạ tầng giao thông là tiền đề và điều kiện cho quá trình phân bốlại dân cư, lao động và lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và các ngành khác ởnông thôn cũng như trong nền kinh tế quốc dân Vai trò này thể hiện rõ nét ở trongvùng khai hoang, xây dựng kinh tế mới, những vùng nông thôn đang được đô thịhoá hoặc sự chuyển dịch của lao dộng và nguồn vốn từ nông thôn ra thành thị, từnông nghiệp sang công nghiệp
1.2.3 Điều kiện cho việc mở rộng thị trường nông thôn và thúc đẩy sản xuất
Trong khi đảm bảo cung cấp các điều kiện cần thiết cho sản xuất cũng nhưlưu thông trong tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn thì cácyếu tố hạ tầng giao thông cũng đồng thời là mở rộng thị trường hàng hoá và tăngcường quan hệ giao lưu trong khu vực này
Sự phát triển của giao thông nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho thươngnghiệp phát triển, làm tăng đáng kể khối lượng hàng hoá và khả năng trao đổi Điều
đó cho thấy những tác động có tính lan toả của cơ sở hạ tầng đóng vai trò tích cực
Trang 9Những tác động và ảnh hưởng của các yếu tố cơ sở hạ tầng giao thông không chỉthể hiện vai trò cầu nối giữa các giai đoạn và nền tảng cho sản xuất, mà còn gópphần làm chuyển hoá và thay đổi tính chất nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn theohướng phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh tế thị trường Điều này có ýnghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở những nước
có nền nông nghiệp lạc hậu và đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thịtrường
1.2.4 Góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân nông thôn
Trước hết có thể nhìn nhận và đánh giá sự đảm bảo của các yếu tố và điềukiện cơ sở hạ tầng giao thông cho việc giải quyết những vấn đề cơ bản trong đờisống xã hội nông thôn như:
+ Góp phần thúc đẩy hoạt động văn hoá xã hội, tôn tạo và phát triển nhữngcông trình và giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao dân trí đời sống tinh thần củadân cư nông thôn
+ Đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ công cộng nhưgiao lưu đi lại, thông tin liên lạc… và các loại hàng hoá khác
+ Cung cấp cho dân cư nông thôn nguồn nước sạch sinh hoạt và đảm bảo tốthơn các điều kiện vệ sinh môi trường
Việc giải quyết những vấn đề trên và những tiến bộ trong đời sống văn
hóa-xã hội nói chung ở nông thôn phụ thuộc rất lớn vào tình trạng và khả năng phát triểncác yếu tố cơ sở hạ tầng giao thông nói chung và cơ sở hạ tầng nông thôn nói riêng
Sự mở rộng mạng lưới giao thông, cải tạo hệ thống điện nước sinh hoạt… cho dân
cư có thể làm thay đổi và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân trongmỗi cộng đồng dân cư nông thôn
Nói cách khác, sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn sẽ gópphần quan trọng vào việc cải thiện điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, làm tăngphúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn Từ đó, tạo khả năng
Trang 10giảm bớt chênh lệch, khác biệt về thu nhập và hưởng thụ vật chất, văn hoá giữa cáctầng lớp, các nhóm dân cư trong nông thôn cũng như giữa nông thôn và thành thị Tóm lại, vai trò của các yếu tố và điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thônnói chung và ở Việt Nam nói riêng là hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với
sự tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện nền kinh tế, xã hội của khu vực này.Vai trò và ý nghĩa của chúng càng thể hiện đầy đủ, sâu sắc trong điều kiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá chuyển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ sản xuấtnhỏ sang sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường Vì vậy, việc chú trọng đầu tư cho
cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là vô cùng cần thiết, đòi hỏi sự quan tâm củaNhà nước cùng các cấp chính quyền
1.3 Nguồn vốn phát triển giao thông nông thôn
Ở mỗi quốc gia, nguồn vốn đầu tư trước hết và chủ yếu là tích lũy của nềnkinh tế, tức là phần tiết kiệm không tiêu dùng đến ( gồm tiêu dùng của cá nhân vàtiêu dùng của Chính Phủ từ GDP) Người tích lũy từ nội bộ nền kinh tế một cách ổnđịnh là điều kiện đảm bảo tính độc lập và tự chủ của đất nước trong lĩnh vực khác.Ngoài vốn tích lũy từ trong nước, các quốc gia còn có thể và cần huy động vốn đầu
tư từ nước ngoài để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của doanh nghiệp
Nguồn vốn huy động đầu tư phát triển CSHT GTNT chủ yếu từ 2 nguồn là:Nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
*Nguồn vốn đầu tư trong nước: Bao gồm nguồn hỗ trợ từ ngân sách TW,nguồn đối ứng trong nước, nguồn vốn lồng ghép trong các chương trình phát triểnkinh tế ( như các chương trình xóa đói giảm nghèo, thủy lợi nông nghiệp, nước sạchnông thôn, phát triển kinh tế vùng…) nguồn ngân sách địa phương ( tỉnh và nguồnđóng góp của các tổ chứa kinh tế, nhân dân địa phương và cả nước)
+Nguồn vốn trong nước để đầu tư từ ngân sách TW: vốn đầu tư choCSHTGTNT từ nguồn lực trong nước do TW quản lý rất hạn chế, được cáp( hỗ trợ)dưới ba hình thức:
Trang 11+1 Hình thức 1: Bộ GTVT có một nguồn ngân sách nhỏ hỗ trợ đầu tư hangnăm cho GTNT Ngân sách này được phân bổ theo kế hoạch đầu tư cụ thể do địaphương đề nghị.
+2 Hình thức 2: Vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam trong các chươngtrình dự án ODA nước ngoài Bộ GTVT quản lý các vốn đối ứng với các dự án do
Bộ quản lý, như dự án GTNT 1 và dự án GTNT 2 Ngoài ra còn có vốn đối ứng docác Bộ khác quản lý như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn…Song lượng vốnnày không nhiều, phụ thuộc vào yêu cầu của từng dự án và nhà tài trợ quy định tỷ lệđối ứng khác nhau
+3 Hình thức 3: Nguồn đầu tư phát triển CSHTGTNT được lồng ghép trongcác chương trình mục tiêu như: Chương trình xóa đói giảm nghèo 135/1998/QĐ-TTg, chương trình phát triển kinh tế dành nguồn đầu tư của TW cho các xã xa xôihẻo lánh, khó khăn và nghèo khổ Khoản vốn này được đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấpđịa phương trong đó có hạng mục về cầu và đường nông thôn
+ Nguồn vốn đầu tư GTNT từ ngân sách địa phương: ngân sách địa phươngđầu tư phát triển GTNT bao gồm ngân sách tỉnh và huyện, cụ thể:
+1 Hàng năm mỗi tỉnh có khoản ngân sách nhất định hỗ trợ để phát triểnGTNT trong địa phương mình
+2 Mỗi huyện cũng có một khoản ngân sách hàng năm để đầu tư vào cácđường huyện và một khoản ngân sách sự nghiệp để bảo trì được cấp phát từ cáckhoản thu để lại, cộng với vốn ủy thác của tỉnh dành cho các kế hoạch cụ thể
+Sự đóng góp của nhân dân, các tổ chức cá nhân
+1 Theo quy định chung của đường xã chủ yếu huy động từ sự đóng góp tài,lực của nhân dân địa phương, hỗ trợ một phần từ ngân sách cấp trên và các nguồnvốn khác Với phương châm này, TW cũng như các tỉnh ở từng địa phương đã phátphong trào làm GTNT
+2 Đóng góp vốn của các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các tổ chức, cá nhânđầu tư phát triển GTNT
Trang 12+3 Đóng góp từ các phong trào, đoàn thể trong nước như lực lượng vũ trang,quan đội, đoàn thanh niên.
*Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Đầu tư của các nhà tài trợ vào đường GTNT chủ yếu tập trung từ nguồn vốncủa ngân hang thế giới, ngân hàng phát triển Châu Á, liên minh Châu Âu (EU), cácnhà tài trợ song phương, các tổ chức cơ quan liên hợp quốc
Việc cấp vốn tài trợ ( vốn ODA) đầu tư GTNT một số dự án chính theo cáchthức sau:
+1 Đầu tư mang tính chất quốc gia lớn bằng việc vay của các tổ chức tiền tệquốc tế đầu tư vào cầu đường bộ nông thôn do bộ GTVT thực hiện
+2 Đầu tư CSHTGTNT một số dự án thuộc Bộ NN và PTNT
+3 Chương trình giảm nghèo, phát triển CSHTGTNT
+4 Các dự án viện trợ không hoàn lại của nhiều tổ chức và phi chính phủxây dựng và phát triển GTNT như làm cầu và đường bộ
2 Hiệu quả đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước cho phát triển giao thông nông thôn
2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư bằng ngân sách nhà nước
2.1.1 Chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả tài chính (Bảng phụ lục 1.1)
+Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng NPV
+Chỉ tiêu tỷ suất nội hoàn IIR
2.1.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế (Bảng phụ lục 1.2)
+Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần kinh tế (ENPV)
+Chỉ tiêu tỷ suất nội hoàn EIIR
2.1.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội-Môi trường dự án
Người ta thường dùng các chỉ tiêu sau trong việc đánh giá tác động xã môi trường của một dự án:
hội-+ Đóng góp của dự án cho ngân sách nhà nước hàng năm: Khi dự án củaGTNT được đưa vào hoạt động khi đó NSNN tạo thêm được nguồn thu từ khoảnthu phí
Trang 13+Số việc làm mới do dự án tạo ra: Quá trình xây dựng dự án tại các vùngnông thôn sẽ tạo được thêm công ăn việc làm cho người dân thất nghiệp hoặc thấtnghiệp tạm thời ở khu vực đó.
+Cải thiện cán cân thanh toán: Đường xá thuận tiện cho việc trao đổi giaothương giữa các vùng với nhau do vậy một phần nào cán cân thanh toán cũng đượccải thiện
+Cải thiện môi trường sinh thái: Khi hệ thống GTNT đã được nâng cấp từđường đất sang đường bêtông hoặc đường nhựa sẽ tránh được tình trạng đường lầylội khi trời mưa ảnh hưởng tới môi trường sinh thái trong khu vực đó
+Cải thiện sức khỏe cộng đồng: Khi GTNT được cải thiện thì các phươngtiện đi lại dễ dàng và nhanh chóng hơn, do vậy sức khỏe của người dân được đảmbảo hơn
2.2 Sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho phát triển giao thông nông thôn
Nếu như việc huy động vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng GTNT là mộtvấn đề khó khăn thì việc phân bổ, sử dụng nguồn vốn ấy như thế nào cũng là mộtbài toán khó đối với các cơ quan chức năng Do vậy cần xem xét chu trình quản lýcấp phát vốn thuộc ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương cho đầu tư cơ sở hạtầng giao thông nông thôn
Trang 14(5a)
(8) (7)
(6)Trong đó:
(1): Chính Phủ giao chỉ tiêu kế hoạch vốn đầu tư hàng năm
(2) :UBND tỉnh bố trí chi tiết cho từng dự án gửi Bộ tài chính
(3):UBND tỉnh thông báo kế hoạch vốn cho UBND huyện và Sở tài chínhChủ đầu tư
Bộ tài chính UBND tỉnh
UBND huyện
Sở tài chính
Chính Phủ
Kho bạc Nhà nước (9)
Trang 15(4):UBND huyện thông báo kế haọch vốn cho UBND xã và phòng tài chính(5):UBND xã thông báo cho chủ đầu tư và phòng tài chính của xã
(6): Chủ đầu tư mở tài khoản để giao dịch thanh toán vốn đầu tư với kho bạcnhà nước ở địa phương
(7): Kho bạc nhà nước tại địa phương lập kế hoạch cho vốn đầu tư gửi phòngtài chính( huyện, xã)
(8): Phòng tài chính chuyển tiền theo mức đã duyệt
(9): Chủ đầu tư thanh toán vốn đầu tư với kho bạc Nhà nước
3.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả đầu tư bằng ngân sách nhà nước
3.1.Đặc điểm của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
3.1.1 Đặc điểm kỹ thuật
GTNT bao gồm hệ thống đường xã ( do quản lý), đường huyện ( do huyệnquản lý) và một phần đường do tỉnh ( do tỉnh phân cho huyện quản lý) Hệ thốngđường huyện và đường xã được phân theo kết cấu mặt đường chia làm các loại:Đường nhựa và bê tông, đường cấp phối và đường đất Nhìn chung đường GTNT cókích thước hẹp, chất lượng mặt đường thấp Tỷ lệ đường nhựa trong tổng số đườngGTNT còn rất thấp, chỉ đạt 3,8%( trong đó đường huyện có 9,7%đường xã chỉ có2,2% được trải nhựa) Đường đất và đường cấp phối chiếm tỷ trọng lắm trong hệthống giao thông nông thôn Một trong những hạn chế lớn của mạng lưới GTNT
là hay bị ách tắc vào mùa mưa, nhất là tại các khu vực miền núi, đồng bằng sôngCửu Long
Do mạng lưới GTNT chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, miền núi nên đầu
tư vào phát triển GTNT gặp nhiều khó khăn Để xây dựng được hệ thống đường chonông thôn đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, chi phí lớn là chi phí chuyên chở nguyênvật liệu lên đến địa điểm thực hiện Tuy nhiên yêu cầu kỹ thuật cho đường GTNTkhông đòi hỏi cao, các đơn vị thi công của địa phương hoàn toàn thực hiện được
3.1.2 Đặc điểm nguồn vốn
Nguồn vốn huy động cho giao thông nông thôn được huy động từ nhiềunguồn vốn khác nhau:
Trang 163.1.2.1 Nguồn vốn trong nước
- Nguồn vốn trong dân
Nguồn vốn huy động bằng sự đóng góp của người dân địa phương được sửdụng để nâng cấp các tuyến đường xã, thôn và đường giao thông nội đồng ( ngườidân có thể đóng góp bằng tiền của, nguyên vật liệu sẵn có địa phương, ngày cônglao động…)
-Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước ( Trung ương và địa phương ) chủ yếu làdành cho nâng cấp các tuyến đường huyện, cho xây dựng đường vào các vùng căn
cứ các mạng, các vùng kinh tế quá khó khăn, cho các công trình đòi hỏi kỹ thuậtcao, làm nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA Bằng nguồn vốn ngân sách Nhànước để hỗ trợ vật tư, kỹ thuật như: các máy làm đường, xi măng, sắt thép, nhựađường…Ngoài các dự án của ngành giao thông vận tải, nguồn vốn từ ngân sách nhànước cho phát triển GTNT còn gắn với các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế-
xã hội 1000 xã đặc biệt khó khăn, chương trình xóa đói giảm nghèo…
-Nguồn vốn địa phương
Là nguồn vốn đầu tư cho phát triển GTNT được lấy từ ngân sách của địaphương Hàng năm, ngân sách địa phương dành một phần cho đầu tư phát triển giaothông nông thôn có thể thông qua hỗ trợ các dự án, cấp kinh phí cho xây dựng mớihoặc bảo dưỡng những đoạn đường thuộc địa phương mình quản lý Tuy nhiênnguồn vốn này thường không nhiều và không thể đáp ứng theo yêu cầu phát triển
-Nguồn vốn do đối tượng sử dụng hệ thống giao thông phải đóng góp
Nó là chi phí sử dụng đường Nguồn thu này tuy không nhiều nhưng rấtthường xuyên và nếu sử dụng để duy trì, bảo dưỡng mạng lưới đường là rất hợp lý
3.1.2.2 Nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ phát triển GTNT chủ yếu ODA Do đặc điểmcủa nguồn vốn ODA chủ yếu sử dụng để nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụphát triển, GTNT là một mục tiêu mà các nhà tài trợ luôn ưu tiên nâng cấp và hoànthiện với tiêu chí phục vụ cho xóa đói giảm nghèo trên diện rộng Nguồn vốn này
Trang 17được hỗ trợ thông qua ngân sách nhà nước, hỗ trợ thông qua các chương trình và hỗtrợ thông qua các dự án.
3.2.Ý nghĩa của cơ sở hạ tầng giao thông đối với phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn
Mạng lưới GTNT thuộc loại 3 Chức năng của nó là gắn kết hệ thống GTNTtại khu vực nông thôn với mạng lưới thứ cấp ( loại 2) và mạng lưới chính yếu ( loại1) thành hệ thống giao thông liên hoàn phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội củađất nước Trong giao thông nông thôn thì đường bộ có vai trò chủ đạo, quan trọngnhất sau đó là đường thủy nội địa Đường thủy nội địa có vai trò hỗ trợ, liên kết, đặcbiệt là ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Thực tế chothấy tại các khu vực nông thôn mức sống của người dân còn thấp, tỷ lệ đói nghèocao Thêm vào đó, khả năng tiếp cận với các dịch vụ công của người dân còn hạnchế Do đó nhiệm vụ được đặt lên hang đầu đối với CNH-HĐH nông nghiệp- nôngthôn là phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông nông thôn với diện mạo mới.CSHTGTNT có một vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình kinh tế nông thôn
Và thực tiễn nhiều năm qua tại khu vực nông thôn cho thấy hệ thống CSHTGTNTphát triển đến đâu thì hàng rào đóng kín cửa kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc bị trọcthủng đến đó HTGTNT phát triển sẽ giúp giản giá thành sản xuất, giảm rủi ro, thúcđấy lưu thông hàng hóa trong sản xuất kinh doanhh nông nghiệp và các ngành liênquan trực tiếp đến nông nghiệp – khu vực phụ thuộc nhiều vào tự nhiên KhiCSHTGTNT được mở rộng thì kích thích hộ nông dân gia tăng sản xuất Từ đónâng cao thu nhập cũng như đời sống của người dân, góp phần thực hiện mục tiêuxóa đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Bởi vậyphát triển CSHTGTNT là một xu thế tất yếu, khách quan không thể thiếu đượctrong sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn của nước ta hiện nay
3.3 Sự cần thiết của giao thông nông thôn
Đối với Việt Nam, là một nước với gần 80% dân số làm nghề nông, để đạtđược mục tiêu “đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp có trình độ khoa họccông nghệ tiến” thì nhất thiết phải có sự đầu tư vào nông nghiệp mà nhất là phát
Trang 18triển cơ sở hạ tầng và trên hết là cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Trong các Đạihội đại biểu toàn quốc cũng như các hội nghị phát triển nông nghiệp nông thôn, đều
đã nhận định đầu tư phát triển CSHT giao thông ở nông thôn là vô cùng cần thiếttrong điều kiện hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Giao thông là mạchmáu của tổ chức kinh tế, giao thông tốt thì mọi việc đều dễ dàng…”- trích Chủ tịch
Hồ Chí Minh với sự nghiệp giao thông vận tải
Trong điều kiện nông nghiệp nước ta hiện nay, các CSHT GTNT còn rất lạchậu, số xã chưa có đường đến trung tâm xã vẫn còn tại hầu hết các tỉnh thành, chấtlượng đường kém, chủ yếu là đường đất và đường cấp phối Về lý luận cũng nhưnhững bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình đầu tư xây dựng, nâng cấp giao thôngnông thôn cần thiết phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Cơ sở hạtầng GTNT phát triển sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanhcủa khu vực nông thôn, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốnđầu tư nước ngoài và sức huy động nguồn vốn trong nước vào thị trường nôngnghiệp, nông thôn Những vùng có cơ sở hạ tầng đảm bảo, đặc biệt là mạng lướigiao thông sẽ là nhân tố thu hút nguồn lao động, hạ giá thành trong sản xuất và mởrộng thị trường nông thôn
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tốt sẽ giúp giảm giá thành sản xuất,giảm rủi ro, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong sản xuất kinh dính nông nghiệp
và các ngành liên quan trực tiếp đến nông nghiệp - khu vực phụ thuộc nhiềuvào tự nhiên
Cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn tốt sẽ tăng khả năng giao lưu hàng hoá,thị trường nông thôn được mở rộng, kích thích kinh tế hộ nông dân tăng gia sảnxuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thu nhập của các hộ nông dân tăng, đời sốngnông dân được nâng lên, thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn Cơ
sở hạ tầng giao thông nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện tổ chức đơì sống xã hộitrên điạ bàn, tạo một cuộc sống tốt hơn cho nông dân, nhờ đó mà giảm được dòng didân tự do từ nông thôn ra thành thị, giảm bớt gánh nặng cho thành thị…
Trang 19Nói tóm lại, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là nhân tố đặc biệtquan trọng, là khâu then chốt để thực hiện chương trình phát triển kinh tế- xã hộinói chung và để thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng.
Vì vậy, trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cấu trúc nền kinh
tế thế giới thay đổi đã đặt ra nhu cầu: cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để tạođiều kiện thuận lợi chi các ngành, các vùng phát triển
Trang 20CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀO PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN BẰNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái quát chung về thực trạng giao thông nông thôn Việt Nam
1.1 Khái quát khu vực nông thôn Việt Nam
Khu vực nông thôn nước ta gồm ba khu vực:
*Vùng miền núi: Miền núi nước ta bao gồm những tỉnh thuộc vùng Trung dumiền núi phía Bắc và Tây Nguyên Địa hình phức tạp là những cao nguyên, triềnnúi, thung lũng, có độ cao trung bình từ 200m trở lên so với mặt nước biển, kếtthành một dải từ Đông bắc sang Tây bắc, chạy dọc dãy Trường Sơn vào phía Namđến tận miền Đông Nam Bộ và một phần rải rác ở đồng bằng, hải đảo Các vùngmiền núi chứa đựng nhiều tiềm năng kinh tế, có biên giới kéo dài, là địa bàn cư trúcủa hầu hết 54 dân tộc anh em thuộc cộng đồng dân tộc Việt Nam Tổng diện tíchkhoảng 15 vạn km2 chiếm gần 50% diện tích tự nhiên của cả nước
*Đồng Bằng: Đồng Bằng Bắc bộ là kết quả của quá trình lắng đọng phù sa
và tiến ra biển từ hàng triệu năm của sông Hồng và các chi lưu cùng công sức khaiphá bao đời của bao thế hệ cha ông Đồng bằng Bắc bộ với diện tích 12,5 nghìn
km2, chiếm 3,7% diện tích cả nước
Đồng bằng cao dần về phía Tây, cao độ bình quân 12 – 16 m (so mặt nướcbiển), vùng thấp nhất 7 m – 9 m, vùng cao nhất tới 25m càng ra phía biển mặt đấtthấp dần còn 2-3m và phần lớn là bằng phẳng Do cấu tạo trên làm cho đồng băngBắc bộ có mạng lưới sông ngòi dày đặc bao gồm sông Hồng, Thái Bình cùng cácchi lưu, với các kênh máng Chính đặc điểm này là điều kiện thuận lợi cho hệ thốnggiao thông nông thôn phát triển
* Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Đồng bằng sông Cửu Long là phần cuốicùng của châu thổ sông MêKông, có diện tích 39.600 km2, chiếm 22% diện tích cảnước và 5% diện tích của lưu vực Địa hình bằng phẳng có ít điểm cao tự nhiên,
Trang 21nghiêng từ Tây bắc xuống Đông Nam Do đặc điểm này, đồng bằng sông Cửu Long
là vùng có mạng lưới đường thuỷ rất phát triển phong phú và đa dạng vào loại lớnnhất Việt Nam với đầy đủ các loại hình: đường sông, đường biển, và hỗn hợpđường sông và đường biển Tổng chiều dài đường thuỷ nội địa trong toàn vùng25.000 km, chiếm 60% chiều dài đường thuỷ nội địa cả nước Đây là thuận lợi rấtlớn của giao thông đường sông của vùng nói chung và giao thông nông thôn củavùng nói riêng Nếu biết tận dụng và khai thác tốt tiềm năng này, giao thông nôngthôn đồng bằng sông Cửu Long sẽ đạt hiệu quả cao trong thúc đẩy sản xuất, nângcao đời sống của nhân dân nông thôn
Giao thông đường sông của vùng rất phát triển với hệ thống sông, kênh rạchdày đặc thì cơ sở giao thông đường bộ ở nông thôn của đồng bằng lại rất lạc hậu,đường đất và đường cấp phối là chủ yếu, một số nơi không có đường tới trung tâm
xã, hệ thống đường chưa thuận tiện cho đi lại của nhân dân và vận chuyển hàng hoá.Tuy là khu vực có tiềm năng to lớn về nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất lương thực
và cây công nghiệp, đóng góp hơn 50% sản lượng lương thực và phần lớn lươngthực xuất khẩu của cả nước Với cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn như vậy đòihỏi các cấp chính quyền cần có chiến lược đâù tư xây dựng các tuyến đường nhằmphục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh sống của nông dân Và phải xem xét tới đặcđiểm của vùng (có xu hướng ngập lụt thường xuyên) để thiết kế và xây dựng cáctuyến đường có thể chống trọi với các dòng nước và các mức ngập theo mùa dựkiến Cần xem xét khả năng tiếp cận mà đường sông đã đem lại khi lập quy hoạch
và dành ưu tiên các nguồn vốn đầu tư cho đường nông thôn; Đầu tư có hạn chế cáccông trình trên đất liền phục vụ cho sự chuyển tải giữa đường sông và đường bộ
*Thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng giao thôngnông thôn
Trên đây là sự khái quát chung về khu vực nông thôn Việt Nam Với sự đadạng về điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế và dân số của các vùng nông thôn nước
ta, nó cũng là những thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng giao
Trang 22thông nông thôn Và nó cũng đòi hỏi trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng giaothông nông thôn phải có chiến lược quốc gia phù hợp với điều kiện từng vùng.
- Tính đa dạng, phức tạp và khác biệt về địa hình, lãnh thổ cũng như về thờitiết, khí hậu… không chỉ tạo ra sự khác biệt của cơ sở hạ tầng nói chung, cơ sở hạtầng giao thông nói riêng giữa các vùng, địa phương, khu vực mà còn tạo ra nhữngkhó khăn rất lớn cho việc tạo lập và phát triển ở mỗi công trình giao thông nôngthôn
Ở những vùng nông thôn miền núi, trung du (nhất là vùng cao, vùng sâuvùng xa), việc xây dựng công trình giao thông có thể phức tạp, chi phí tốn kém hơngấp nhiều lần so với ở nông thô vùng đồng bằng sông Hồng và những vùng ven đôthị khác Việc tạo lập và nâng cao các công trình cầu đường ở nhiều địa phươngvùng đồng bằng sông Cửu Long cũng gặp phải những trở ngại rất lớn do cấu trúcphù sa mới (lầy thụt, chưa ổn định) hoặc địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi,kênh rạch dày đặc
Có thể hình dung những khó khăn trên đây đối với quá trình đầu tư CSHTGTNT ở quy mô và cấp độ lớn hơn khi 2/3 lãnh thổ đất nước là đồi núi (trong đó cóhàng ngàn thôn xóm thuộc địa hình núi cao hiểm trở); và khi mà nhiều vùng nôngthôn trung bình trên 1km2 lãnh thổ có tới 1,5 - 2 km sông chính và hàng chục kmkênh rạch chảy qua
- Điều kiện thời tiết khí hậu nhiệt đới ở nước ta cũng thường xuyên tác độnggây ra những thiệt hại to lớn cho cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, đặc biệt khi cóthiên tai xảy ra Việc khắc phục hậu quả của thiên tai cũng như việc chống xuốngcấp của các hệ thống, công trình do tác động thường xuyên của thơì tiết, khí hậu(như mưa, nắng, nhiệt độ, độ ẩm…) luôn đòi hỏi phải đầu tư chi phí khá lớn về vốn,vật tư, nhân lực mà lẽ ra những khoản đầu tư này có thể để dành một phần đáng kểcho việc tạo lập, xây dựng mới các công trình, nâng cấp các tuyến đường Đây làmột trong những vấn đề không kém phần nan giải trong điều kiện nguồn vốn đầu tưcho giao thông nông thôn còn hạn chế và phân tán như hiện nay
Trang 231.2 Mạng lưới giao thông nông thôn
Một phần rộng lớn và quan trọng của hệ thống đường giao thông Việt Nam
đó là hệ thống đường GTNT Với tổng chiều dài lên tới trên 207.337 km, chiếm92,7% tổng chiều dài hệ thống giao thông đường bộ của cả nước, đường GTNT gắn
bó chặt chẽ với đời sống dân sinh và hoạt động kinh tế của 80% dân số
+ Mạng lưới đường huyện vùng nông thôn
Hệ thống đường huyện trong vùng chủ yếu là do các tỉnh đầu tư, các huyệnđóng góp vốn ( tỷ lệ đóng góp khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế của từnghuyện) xây dựng và vốn vay của các tổ chức nước ngoài như WB, IFM…Các tuyếnđường này đều do phòng giao trong huyện trong vùng quản lý
Hệ thống đường huyện có tổng chiều dài là 49.607 km, chiếm 13,3% tổngchiều dài đường bộ của vùng Các tuyến đường cấp huyện trong vùng phần lớn làđường cấp V và GTNT A với bề mặt từ 3m-3,5 m chủ yếu cho một làn xe
Kết cấu mặt đường huyện bao gồm 796,7km mặt đường bêtông ximăngchiếm tỷ lệ 1,6%, 689,1 km mặt đường bêtông nhựa chiếm tỷ lệ 1,7%, 7093 km đườngthấm nhập nhựa chiếm 17,14%, 19.865 km mặt cấp phối chiếm 48,9%, 1265 km mặt
đá dăm chiếm 3,1%, 11.587,3 km đường đất chiếm 27,56% Trong đó các tuyến đường
có có chất lượng mặt tốt là 6.318,4 km chiếm 15,56%, trung bình 18.618,3 km chiếm45,85% và 15.670,3 km đường có chất lượng mặt xấu chiếm 38,59%
Biểu đồ 1:Tỉ lệ phần trăm loại mặt đường đường huyện
Trang 24+Mạng lưới đường xã vùng nông thôn
Hệ thống đường xã của vùng nông thôn hiện nay được đầu tư xây dựng chủyếu bằng các nguồn vốn của các dự án do WB tài trợ, các chương trình mục tiêu củanhà nước, các nguồn vốn của tỉnh, huyện và người dân đóng góp Xã chịu tráchnhiệm quản lý các tuyến đường thuộc địa phận của địa phương mình Hệ thốngđường xã trong vùng có tổng chiều dài là 80.365 km, chiếm 33,02% Chủ yếu cáctuyến đường xã có cấp VI, GTNT A và GTNT B với bề mặt 2,5-4m, phần lớn dùngcho một làn xe cơ giới hoặc phương tiện thô sơ
Chất lượng của các tuyến đường xã tương đối thấp Cụ thể, mặt đường cóchất lượng tốt chỉ chiếm 10,93% ( 8.783,8 km), trong khi mặt đường có chất lượngtrung bình chiếm 25,11% tương ứng với 20.178,65 km Thậm chí mặt đường xấucòn chiếm 56,96%(51.402,55 km) tỷ lệ tương đối cao so với các vùng khác trong cảnước Cơ cấu và độ dài của mặt đường các tuyến đường xã được thể hiện qua bảng:
Bảng 1:Kết cấu mặt đường xã vùng nông thôn
Bộ Giao Thông Vận Tải- 2007
+ Mạng lưới đường giao thông thôn xóm vùng nông thôn
Mạng lưới đường giao thông thôn xóm có hơn 86.365 km Đường thôn xómhiện tại chủ yếu là loại GTNT B và có rất ít đường GTNT A Chiều rộng mặt đường
từ 1,5m-2,5m Trong đó kết cấu mặt đường thôn xóm gồm 11.002,9 km đườngBTXM chiếm 12,74%, 51,82 km đường bêtông nhựa chiếm tỷ lệ 0,06%, 570,59 kmmặt thâm nhập nhựa chiếm tỷ lệ 0,71%, 5060,98 km mặt cấp phối chiếm tỷ lệ
Trang 255,86%, 1.912,98 km đá dăm chiếm 2,215%, 66.837,8 km đường đất chiếm 77,39%
và 927,93 km đường loại khác chiếm 1,09% Như vậy, đường thôn xóm chủ yếu làđường đất, tỷ lệ được cứng hóa chỉ chiếm 26,61% Trong đó các tuyến đường cóchất lượng mặt tốt 23.517,19 km chỉ chiếm 27,23%, trung bình chiếm 22,5% và43.415,68 km đường có chất lượng mặt xấu chiếm tới 50,27%
Biểu đồ 2: tỷ lệ phần trăm về chất lượng đường nông thôn xã
Nhìn chung GTNT, chiếm một tỷ lệ rất cao về đường đất, cấp phối, ngoài rachất lượng của các loại đường này cũng ở mức tương đối thấp, quy mô nhỏ hẹp,nhất là đường thôn bản, đường mòn dù hiện nay đã và đang được bêtông hóa nhưngvẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân
1.3 Hiện trạng mạng lưới đường giao thông nông thôn cả nước
Hệ thống đường bộ quốc gia ( quốc lộ) cùng với hệ thống giao thông tỉnh,huyện, xã nối liền các vùng nông thôn với các đô thị, khu kinh tế lớn cả nước Cảnước theo số liệu 2002 có 150.160km đường bộ trong đó có 31.264 km đườnghuyện, có 91216 km đường xã mà ôtô có thể đi được và nối thông được đường ôtôđến 9.209 xã trên tổng số 9.816 xã đạt 93,8% Các dự án xây dựng đường GTNTViệt Nam với vốn vay nước ngoài khoảng 70-80% còn lại 20-30% vốn đối ứng của
Trang 26Chính Phủ dự án quy định 60.000 USD /km, có dự án thậm chí 25.000USD/km.
10.000-Mặc dù mạng lưới đường GTNT đang từng bước vào cấp theo các tiêu chuẩn
kỹ thuật nhưng nhìn chung mạng đường GTNT hiện nay vẫn trong tình trạng cònyếu kém, chưa đáp ứng nhu cầu đi lại và phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh,quốc phòng của vùng nông thôn miền núi rộng lớn, nhất là đối với các địa phươngvùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo Tỷ lệ mặt đường bê tông, đá thấmthập nhựa còn thấp, chủ yếu mặt đường vẫn là cấp phối và đường đất
Hệ thống cơ sở hạ tầng GTNT đã được mở mang xây dựng và nâng cấp ởhầu hết các điạ phương góp phần phát triển sản xuất và phục vụ đời sống của nhândân Tuy nhiên chất lượng đường GTNT-MN ở nước ta hiện nay vẫn còn rất kém:các tuyến đường huyện đạt tiêu chuẩn cấp V chỉ khoảng 60%, các tuyến đường xãđạt tiêu chuẩn kỹ thuật (GTNTA, GTNTB) đạt 20%, có trên 45% là công trình tạm
Bảng 2: Tình trạng đường nông thôn trong năm 2008
2773
9.94545.045
1882
15.21087.165
1585
Nguồn: Bộ giao thông vận tảiTheo thống kê cho thấy, tỷ lệ đường đất ở đường huyện, thôn xã chiếm tới53%, đường cấp phối là 33%, còn đường bêtông chỉ chiếm 1% là một tỷ lệ quá nhỏcũng cho thấy đường nông thôn ở Việt Nam là rất kém
Trang 27Bảng 3: tỷ lệ xã thuộc khu vực nông thôn có đường ôtô đến trung tâm xã
Nguồn: Viện chiến lược và phát triển giao thông vận tải.
Trong năm 2009 còn 219 xã chưa có đường ôtô bao gồm:
+ 15 xã thuộc các tỉnh Lai Châu, Điên Biên, Sơn La, Bắc Cạn
+ 3 xã thuộc tỉnh Tây Nguyên, Gia Lai, Kon Tum
+145 xã thuộc các tỉnh ĐBSCL
+56 xã còn lại tập trung ở các tỉnh Duyên hải miền Trung
1.4 Tổ chức quản lý giao thông nông thôn
Tổ chức quản lý phân cấp hệ thống GTNT được thực hiện từ cấp trung ươngđến cấp địa phương (tỉnh, huyện, xã)
* Cấp Trung ương
- Bộ Giao thông vận tải: thực hiện quản lý Nhà nước về giao thông nôngthôn bao gồm hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng tiêu chuẩn, các văn bảnquy phạm pháp luật về GTNT
-Bộ kế hoạch và đầu tư và Bộ tài chính:
Trang 28+ Lập kế hoạch đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
+Dựa trên kế hoạch của từng địa phương và chiến lược phát triển kinh tế xãhội chung của từng quốc giai tiến hành phân bổ các nguồn vốn cho địa phương
+Bộ xây dựng: chịu trách nhiệm xây dựng các chính sách và cơ chế quản lýđầu tư-Xây dựng nói chung trong đó có lĩnh vực GTNT
*Cấp tỉnh
Tại các tỉnh, Sở GTVT chịu trách nhiệm quản lý chung về lĩnh vực GTVTtrên địa bàn tỉnh bao gồm đường bộ (các quốc lộ được ủy quyền), hệ thống đườngđịa phương( đường tỉnh, đường huyện, đường xã), hệ thống bên sbãi, phương tiện,các đơn vị kinh doanh về GTVT Tại cơ sở GTVT đều có các phòng ban chuyênmôn thực hiện các nhiệm vụ quản lý giao thông trong đó có lĩnh vực GTNT như cácphòng quản lý giao thông, kế hoạch, vận tải công nghiệp…
Trong 15 tỉnh thuộc vùng nông thôn, các sở GTVT đều có một ban quản lý
dự án (đại diện cho sở GTVT) chịu trách nhiệm quản lý các dự án giao thông Duynhất chỉ có tỉnh Quảng Ninh không có ban quản lý trực thuộc Sở mà trực thuộcUBND tỉnh
2 Thực trạng đầu tư bằng ngân sách nhà nước cho phát triển giao thông nông thôn thời gian qua( 2001-2009)
2.1 Tình hình huy động nguồn vốn trong nước
*Đối với ngân sách Trung Ương
Để cải thiện đời sống của người dân trong khu vực nông thôn, Nhànước đã có nhiều chính sách và biện pháp cụ thể, ưu đãi Song có lẽ cụ thể nhất vẫn
là phải đầu tư phát triển và tu sửa hệ thống giao thông nông thôn Và nguồn vốn đểthực hiện không đâu khác chính là sự huy động đóng góp từ trong dân, các tổ chức
cá nhân trong và ngoài nước Cụ thể bằng bảng số liệu sau
Trang 29
Bảng 4: Thu ngân sách Trung Ương của các vùng trong cả nước
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Theo bảng số liệu trên cho thấy được tình trạng thu ngân sách nhà nướccho từng vùng hầu như đều ở mức độ còn thấp Song hầu hết qua các năm thì sốtiền và tỷ lệ phần trăm đều tăng chỉ trừ hai vùng đó là Bắc Trung Bộ giảm từ 3,64%xuống 3,0% qua 2 năm, và Đồng bằng sông Cửu Long từ 2006 là 7,68% xuống đến7,2% trong năm 2008 Thu ngân sách của miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng 6,69%
so với ngân sách nhà nước thì tỷ trọng này vẫn còn thấp vì đây là một vùng rất rộng,song không chỉ có vậy ta còn thấy vùng Tây Nguyên là 1,2 % và vùng Duyên hảimiền Trung 5,24% còn rất thấp do kinh tế của vùng kém phát triển chưa thu hútđược các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh do vậydoanh thu kinh tế thấp, lượng thuế và phí thu được thấp do đó ngân sách thu đạtthấp Thu ngân sách của vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ là lớnnhất trong cả nước cả về số lượng và tỷ trọng, thực chất việc thu ngân sách nhà
Trang 30nước là nguồn chủ yếu để TW đầu tư lại phát triển kinh tế- xã hội các vùng nóichung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng.
*Đối với ngân sách địa phương
Nguồn vốn địa phương đầu tư phát triển GTNT bao gồm ngân sách tỉnh vàngân sách huyện Trong giai đoạn từ 2000-2005 theo thống kê của Bộ GTVT thìtổng thu ngân sách địa phương đầu tư cho GTNT là 5.246,12 tỷ đồng, tiếp theotrong năm 2006 đầu tư là 1.712,09 tỷ đồng và tăng mạnh lên tới 1800,76 tỷ đồngcho năm 2007, tới năm 2008 vốn đầu tư cũng tăng song với lượng vốn ít hơn so vớihai năm trước Thể hiện cụ thể qua biểu đồ:
Biểu đồ 3: Ngân sách địa phương đầu tư cho GTNT giai đoạn 2000-2008
Ngân sách địa phương đầu tư cho GTNT
5246.12
0100020003000400050006000
*Chi ngân sách nhà nước cho cơ sở hạ tầng nông thôn
Giao thông chính là huyết mạch của cả nước, và GTNT cũng là một bộ phậncủa giao thông trong cả nước do vậy mà qua các kỳ đại hội cũng hết sức được trútrọng Để phát triển kinh tế tại các vùng nông thôn, miền núi thì việc nhất thiết phảiphát triển CSHTGTNT chính là khâu trọng yếu trong chương trình phát triển kinhtế- xã hội nông thôn miền núi, khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn về trình độ
Trang 31phát triển, tiến bộ xã hội giữa các vùng GTNT là một bộ phận không thể tách rờicủa hệ thống GTVT toàn quốc Chi ngân sách nhà nước hàng năm đã dành mộtkhoản không nhỏ cho CSHT GTVT trong đó có CSHTGTNT Cụ thể qua bảng.
Nguồn: Viện chiến lược và phát triển GTVT –Bộ GTVT
Qua bảng số liệu vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đều tăng từ 18.035 tỷđồng trong năm 2006 đến 24.825 tỷ đồng năm 2009, cũng tỷ lệ với điều này thì đầu
tư cho GTVT cũng tăng lên một cách đáng kể kéo theo là đầu tư cho GTNT cũngtăng từ 23,4% lên đến 25,04% Tuy tăng song tỷ trọng vốn đầu tư của Nhà nước choGTNT so với vốn NSNN có sự tăng giảm không đều điều đó cũng thể hiện Nhànước không chỉ tập trung cho GTNT mà còn các cơ sở hạ tầng nông thôn khác.Không chỉ có vậy mà nguồn vốn nhà nước cho duy tu bảo dưỡng cũng chiếm từ 25-40%, Nhà nước cần có sự huy động cho quá trình bảo dưỡng này
Trang 32Bảng 6: Cơ cấu huy động vốn duy tu bảo dưỡng cho các công trình GTNT
ST
Tốc độ tănghàng năm
2.2 Nguồn vốn huy động trong dân
Nông thôn nước ta trên 70% dân số là làm nghề nông, nhìn chung khu vựcnông thôn nước ta là còn nghèo, thu nhập nông dân làm ra chỉ đảm bảo cuộc sốnghàng ngày, nên họ mong muốn của nhân dân là rất lớn Họ mong ước có một nềnkinh tế khá hơn để họ có được nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại tốt hơn Điều đầu tiên họmong muốn là có các con đường giao thông thuận tiện hơn có thể đi lại, giao lưubuôn bán trong vùng và ra cả ngoài vùng để góp phần giảm bớt sự khó khăn cũngnhư phát triển kinh tế Với một địa bàn nông thôn rộng lớn, trong khi yêu cầu xâydựng các công trình cơ sở hạ tầng giao thông với khối lượng vốn lớn mà quá trìnhthu hút nguồn vốn vào xây dựng CSHT GTNT lại hạn hẹp Nên những năm qua,nhà nước đã có chủ trương huy động nguồn lực trong dân vào xây dựng các côngtrình hạ tầng nông thôn, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT được nhà nước đặcbiệt khuyến khích Các địa phương đã huy động được một số ngày công lao động vàtiền của nhân dân làm đường ở huyện và ở xã
Trang 33Trong giai đoạn 2000-2008 mức huy động từ nhân dân và sự đóng góp củacác tổ chức cá nhân là không hề nhỏ, trong cả giai đoạn từ 2000-2005 tổng số tiềnđóng góp của dân là 2.464,89 tỷ đồng, sức lao động 39,24 triệu ngày công, từ năm
2006 đến 2007 có sự tăng vọt về số tiền đóng góp và sức lao động đều có mức độtăng là lớn hơn 50%, từ năm 2007 đến 2008 số tiền vẫn tăng mạnh song sức laođộng có vẻ tăng chậm hơn Thể hiện cụ thể qua bảng:
Bảng 7 : Vốn đầu tư cho GTNT từ trong dân giai đoạn 2000-2008
xã hội khu vực nông thôn