MỤC LỤC TrangMỞ ĐẦU 1Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ61.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về lợi ích kinh tế 61.2. Đặc trưng và hình thức biểu hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa221.3. Cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa33 Chương 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ Ở BÌNH ĐỊNH 422.1. Vài nét về tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định422.2. Tình hình thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định492.3. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân về việc thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Bình Định66Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ Ở BÌNH ĐỊNH703.1. Quan điểm cơ bản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định703.2. Những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định78KẾT LUẬN97DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO99 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂNBHXH:Bảo hiểm xã hội BHYT:Bảo hiểm y tếCPH:Cổ phần hoá CTCP:Công ty cổ phầnDNNN :Doanh nghiệp nhà nước DNTN:Doanh nghiệp tư nhânSXKD:Sản xuất kinh doanh UBND :Uỷ ban nhân dân XHCN :Xã hội chủ nghĩa
Trang 1LîI ÝCH KINH TÕ CñA NG¦êI LAO §éNG TRONG C¸C DOANH NGHIÖP NHµ N¦íC SAU Cæ PHÇN Hãa
Trang 2MỞ ĐẦU 1
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về lợi ích kinh tế 61.2 Đặc trưng và hình thức biểu hiện lợi ích kinh tế của người laođộng trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa 221.3 Cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các
Chương 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH
TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ Ở BÌNH ĐỊNH 422.1 Vài nét về tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và quátrình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở
2.2 Tình hình thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong cácdoanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định 492.3 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân về việc thực hiện lợi ích
kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau
TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
3.1 Quan điểm cơ bản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao độngtrong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định 703.2 Những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao
động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Bình Định 78
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp ở Bình Định đến tháng 6 năm 2009 45
Bảng 2.2: Tình hình hoạt động kinh doanh của các DNNN sau CPH ở
Bảng 2.5: Khảo sát tình hình ký kết các loại hợp đồng lao động trong
Bảng 2.6: Điều kiện chất lượng nhà xưởng trong các DNNN sau CPH
Bảng 2.7: So sánh tỷ lệ các yếu tố tiếp xúc trong môi trường lao động
Bảng 2.8: Tình hình thu bảo hiểm xã hội của tỉnh Bình Định giai đoạn
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triểnnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với sự đa dạng nhiều hình thức sở hữunhằm phát huy mọi tiềm lực của đất nước, trong đó kinh tế nhà nước giữ vaitrò chủ đạo Trong những năm qua, các DNNN nói chung - bộ phận nòng cốtcủa kinh tế nhà nước đã đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng và pháttriển kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, góp phần thúc đẩy nhanh tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, cácDNNN vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, quy mô nhỏ, hiệu quả kém, nănglực cạnh tranh thấp, công nghệ lạc hậu, thậm chí một số DNNN còn làm ănthua lỗ kéo dài… Vì vậy, vấn đề cải cách DNNN được đặt ra cấp bách Mộttrong những giải pháp mang tính chiến lược là chuyển một bộ phận DNNNkhông cần nắm giữ 100% vốn sang CTCP
Là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của Miền Trung và của cả nước,Bình Định có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xãhội của vùng kinh tế Miền Trung và Tây Nguyên Cùng với tiến trình CPHDNNN nói chung, các DNNN sau CPH ở Bình Định thời gian qua cũng đã thểhiện được vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh Tuynhiên, bên cạnh đó các DNNN sau CPH ở Bình Định trong quá trình hoạtđộng vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề về lợi íchkinh tế của người lao động Thực tế cho thấy, sự nghiệp đổi mới đất nước doĐảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh” có thực hiện được hay không chính là ởchỗ giải quyết đúng đắn quan hệ kinh tế trong kinh tế, trong đó lợi ích kinh tếcủa người lao động là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với quá trình sảnxuất của cải vật chất xã hội Nó phải được sự quan tâm thích đáng, phải trởthành động lực để phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Bình Định muốn phát triểnkinh tế, ổn định xã hội, ngoài việc giải quyết nhiều vấn đề khác thì việc đảmbảo lợi ích kinh tế cho người lao động phải được quan tâm nhiều hơn nữa
Trang 6Xuất phát từ lý do đó, tôi đã chọn đề tài “Lợi ích kinh tế của người lao
động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa ở Bình Định” làm
luận văn thạc sĩ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề lợi ích kinh tế đã được Đảng ta bắt đầu quan tâm từ Hội nghịlần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IV (9 - 1979) Đến Đại hội VIĐảng ta nhấn mạnh: Lợi ích của người sản xuất kinh doanh là động lực trựctiếp đối với hoạt động kinh tế, và tạo cơ sở cho việc đáp ứng các lợi ích khác
Ở nước ta, từ năm 1980 đến nay đã có nhiều bài viết về lợi ích kinh tế, cácdoanh nghiệp cổ phần nhà nước…được công bố như:
- “Bàn về các lợi ích kinh tế” do Đào Duy Tùng chủ biên (1982), Nhà
xuất bản Sự thật, Hà Nội
- “Lợi ích, động lực phát triển xã hội” do Nguyễn Linh Khiếu chủ biên
(1999), Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội
- “Hệ thống các lợi ích kinh tế và cơ chế thực hiện các lợi ích kinh tế trong
nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay”, Bùi Thu Hà (2000), Luận án
tiến sĩ, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
- “Quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Mai
Đức Chính, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2005
- “Lợi ích kinh tế của người lao động, vai trò của công đoàn với việc
bảo vệ lợi ích này trong các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân”, Nguyễn
Lợi, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1995
- “Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại
của thành phố Đà Nẵng”, Lê Thị Phúc, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ
Chí Minh, 2006
- “Cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam hiện nay, mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn”, Lê Hữu Nghĩa, Tạp chí Cộng sản, số 22/2004.
- “Cổ phần hóa DNNN kết quả, vướng mắc và giải pháp” Hồ Xuân
Hùng, Tạp chí Cộng sản, số 18/2004…
Trang 7Ngoài ra còn có một số cuộc hội thảo, hội nghị liên quan đến vấn đềquan hệ lợi ích trong các doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề lợi ích, lợi íchkinh tế, vai trò của lợi ích kinh tế…dưới nhiều góc độ khác nhau; đề cập đếnmục tiêu, kết quả, những thuận lợi, khó khăn của quá trình CPH DNNN…màchưa đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về quan hệ lợi ích kinh tế giữa người laođộng và người sử dụng lao động trong các DNNN sau CPH Do đó, việcnghiên cứu đề tài này là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục tiêu
Trên cơ sở kế thừa các tài liệu đã có, kết hợp với khảo sát thực tiễn về lợiích kinh tế của người lao động, tìm ra những vấn đề tồn tại và nguyên nhântrong việc thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNNN sauCPH ở tỉnh Bình Định Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần giảiquyết một cách hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp và người laođộng trong các DNNN sau CPH
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hệ thống hóa, làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về lợi íchkinh tế nói chung và lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động nói riêng
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật và chính sách của Nhà nước cóliên quan đến lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNNN sau CPH
- Đi sâu tìm hiểu, phân tích thực trạng thực hiện lợi ích kinh tế củangười lao động trong các DNNN sau CPH ở tỉnh Bình Định, chỉ ra những ưuđiểm, hạn chế cần khắc phục
- Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đã trình bày trên, luận văn nêu lênmột số phương hướng và giải pháp cơ bản để đảm bảo lợi ích kinh tế củangười lao động trong các DNNN sau CPH ở tỉnh Bình Định trong trong thờigian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 8Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện lợi ích kinh tế củangười lao động trong các DNNN sau CPH ở tỉnh Bình Định trong quá trìnhtiến hành CPH DNNN, nhất là từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp năm 2005đến nay.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được hình thành trên cơ sở nhận thức những quan điểm lýluận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về lợi ích kinh tế,kinh tế nhà nước, DNNN sau CPH; tham khảo và tiếp thu có chọn lọc những ýkiến của các nhà kinh tế học và các nhà hoạt động thực tiễn qua các bài viếtcủa họ đã được công bố
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hóa khoahọc; phương pháp thống kê phân tích lý luận gắn với thực tiễn được đặc biệtcoi trọng trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra của luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản về lợi ích kinh
tế nói chung và lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNNN sau CPHnói riêng
- Giúp cho các DNNN sau CPH ở tỉnh Bình Định nhận thức sâu sắc hơnvai trò của lợi ích kinh tế đối với người lao động trong hoạt động SXKD củadoanh nghiệp Trên cơ sở đó có những chính sách, quy định phù hợp, tạo độnglực phát triển sản xuất kinh doanh
- Với những kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn có thể sử dụnglàm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập ở các trường Cao đẳng, Đại họctrong khuôn khổ môn Kinh tế chính trị
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc soạn thảo cácvăn bản pháp lý đối với việc đảm bảo lợi ích cho người lao động
7 Kết cấu của luận văn
Trang 9Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
Trang 10* Bản chất của lợi ích kinh tế
Có nhiều quan điểm khác nhau về lợi ích, nhưng hầu như các nhà lýluận đều thống nhất khẳng định rằng lợi ích hình thành trên cơ sở nhu cầu vànhững hoạt động thỏa mãn nhu cầu của con người Vì vậy, tìm hiểu nhu cầucủa con người và các mối quan hệ xã hội trong đó con người hoạt động đểthỏa mãn nhu cầu là cơ sở khách quan để xem xét lợi ích
Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của cácnhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội về những điều kiện để tồn tại vàphát triển Như vậy, trước hết nhu cầu là sự thể hiện mối liên hệ hữu cơ giữamột cơ thể sống và môi trường sống Do đó, nhu cầu là tất cả những gì cầnthiết để duy trì sự tồn tại và phát triển của cơ thể sống Nhu cầu xuất hiện nảysinh trong mối quan hệ tác động biện chứng giữa cơ thể sống với môi trường Vìvậy nó là đặc trưng vốn có của hệ thống sinh vật và hệ thống xã hội: nhu cầu làmột đặc tính của tất cả các cơ thể sống, nó thể hiện là hình thức đầu tiên của tínhtích cực, của quan hệ lựa chọn đối với những điều kiện môi trường sống
Từ sự phân tích trên có thể thấy rằng nhu cầu là một thuộc tính, một đặctrưng chung của một loài vật nói chung, của con người nói riêng Tuy nhiên,nhu cầu của con người hoàn toàn khác biệt với nhu cầu của loài vật
Nhu cầu của con người được hình thành, phát triển, hoàn thiện và đượcđáp ứng chính trong thực tiễn lao động sản xuất và phân phối trao đổi sảnphẩm của lao động Một mặt, con người thông qua quá trình đó mà tạo ra sảnphẩm để đáp ứng những nhu cầu hiện có đang đặt ra, mặt khác, cũng chínhtrong quá trình đó mà những nhu cầu mới hình thành, nảy sinh Nhu cầu của
Trang 11con người rất đa dạng về chủng loại, hình thức, cấp độ, tính chất…đồng thờinhững nhu cầu đó lại luôn luôn phát triển và mở rộng.
Nhu cầu của con người do vậy bao gồm hai loại cơ bản: Nhu cầu tựnhiên và nhu cầu xã hội Nhu cầu tự nhiên là những nhu cầu về ăn, ở, mặc,còn những nhu cầu về xã hội là cả một hệ thống những nhu cầu và hệ thốngnày ngày càng mở rộng, đó là nhu cầu về hoạt động sáng tạo, về nâng cao họcvấn, về thẩm mỹ, về tình cảm…Từ hai loại nhu cầu cơ bản đó người ta cònnói đến các loại nhu cầu cụ thể về: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, khoahọc kỹ thuật…Tất cả các nhu cầu này gắn bó chặt chẽ và có mối quan hệ hữu
cơ và chúng lại có những hình thức biểu hiện cụ thể: cá nhân, gia đình, tậpthể, giai cấp, xã hội, nhân loại
Lợi ích không phải là cái trùng lắp với nhu cầu, nhưng cũng khônghoàn toàn tách biệt với nhu cầu Phương tiện để thỏa mãn nhu cầu đối với chủthể hoạt động chính là lợi ích Lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu và do đó nó chỉ
có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu [42, tr 38] Vídụ: Bán được sức lao động đắt, đó là lợi ích của người công nhân nhưngkhông phải là lợi ích của nhà tư bản, vì điều đó không đáp ứng nhu cầu củanhà tư bản mà là đáp ứng nhu cầu của người công nhân
Vậy là cùng một sự vật, cùng một hiện tượng, thì đối với chủ thể này làlợi ích, nhưng đối với chủ thể khác lại là tai họa Điều đó cũng có nghĩa là, xét
về mặt bản chất, lợi ích chính là một quan hệ - quan hệ giữa các sự vật hiệntượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể Còn xét về mặt nộidung thì lợi ích là cái thõa mãn nhu cầu, đáp ứng nhu cầu
Mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài này với nhucầu là mối quan hệ khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, vàonhận thức của chủ thể Nếu nhu cầu của con người, chủ thể là đa dạng vàphong phú thì lợi ích của họ cũng đa dạng và phong phú nhưng lại thể hiệnthành các loại lợi ích cụ thể: lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa…Những lợi ích này đáp ứng hay thỏa mãn cho nhu cầu của các đối tượng khácnhau: lợi ích của cá nhân, lợi ích của tập thể, lợi ích của toàn xã hội
Trang 12Cũng cần nhấn mạnh thêm là trong mối quan hệ giữa nhu cầu và lợiích, nhu cầu quyết định đối với chủ thể là lợi ích, do đó nhu cầu là cơ sởcủa lợi ích, còn lợi ích ngược lại xuất phát từ nhu cầu, dựa vào nhu cầu, là
sự thể hiện của nhu cầu Khi nhu cầu bắt đầu xuất hiện thì con người chủthể cũng bắt đầu hướng sự nhận thức của mình vào việc tìm kiếm cái thỏamãn nhu cầu đó, tức là lợi ích chưa có thì hành động của con người nhằmđoạt lấy lợi ích cũng chưa có Nhưng một khi lợi ích đã xuất hiện và đãđược tìm thấy, đã được nhận thức, thì nó trở thành mục tiêu của hành độngcon người Nói cách khác, sự phản ánh của lợi ích trong ý thức lúc này đãbiến thành mục đích, thành động cơ tư tưởng và chính động cơ tư tưởng đótrực tiếp thúc đẩy con người hành động để dành lấy lợi ích đặng thỏa mãnnhu cầu
Như vậy, lợi ích kinh tế luôn gắn chặt chẽ với nhu cầu Nhưng nhu cầu
ở đây không phải là nhu cầu nói chung Để nghiên cứu lợi ích kinh tế, điều có
ý nghĩa khoa học và thực tiễn không phải phạm trù nhu cầu nói chung, mà lànhu cầu về những của cải vật chất và dịch vụ - sản phẩm của nền sản xuất xãhội Những nhu cầu đó rất đa dạng và có thuộc tính chung là chúng được thỏamãn bằng các sản phẩm của sản xuất Với tính chất đó, nên nhu cầu về của cảivật chất và dịch vụ gần với lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh tế Là một phạm trù kinh tế,lợi ích kinh tế biểu hiện tính khách quan trong hoạt động kinh tế của conngười Nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở một quan hệ sản xuất nhất địnhkhông tùy thuộc vào ý muốn con người Vì vậy, các quan hệ kinh tế của mỗi
xã hội được biểu hiện trước hết là lợi ích Trong tác phẩm “Vấn đề nhà ở” Ph.Ăngghen đã viết : “Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đóbiểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích” [26, tr.376]
Khi bàn về lợi ích, các nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước từnhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên những khái niệm về lợi ích kinh tế:
Hàn Phi - nhà triết học cổ Trung Quốc coi lợi ích vật chất là cơ sở củatất cả các mối quan hệ xã hội và chi phối mọi hành vi của con người Theo
Trang 13ông, bản chất ích kỷ của con người là ham mê lợi ích, tránh hại, cầu lợi Vìvậy, tất cả mọi điều thiện ác, sự hỗn loạn, nạn chiến tranh…đều bắt nguồn từlợi ích vật chất mà ra.
Trong bộ “Tư bản”, C.Mác cho rằng “nói về người…chỉ là người tượngtrưng cho một phạm trù kinh tế, là người mang những quan hệ giai cấp và lợiích nhất định”[23, tr.213] Vấn đề lợi ích kinh tế đã được các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin phân tích một cách khoa học trong các tác phẩmcủa mình Trong cuốn “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và đặc biệt trong bộ
“Tư bản” vấn đề lợi ích kinh tế và vai trò của nó trong quá trình sản xuất xãhội đã được C Mác nghiên cứu một cách cặn kẽ và khoa học trên quan điểmlàm rõ tính không điều hòa về lợi ích kinh tế giữa giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản Trong các tác phẩm của mình V I Lênin tiếp tục nghiên cứu cụ thểvấn đề lợi ích kinh tế trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và thời kỳ quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Lênin cho rằng cần phải thấy những lợi ích làkhách quan khi nói: “Lợi ích thúc đẩy cuộc sống các dân tộc”[18, tr 82], đồngthời lợi ích là phạm trù có tính chất chủ thể - xác định, tức là bất kỳ một lợi íchnhất định nào cũng đều là cái vốn có của những chủ thể (những con người,những giai cấp,…) tương ứng
V.N Lavrinenko viết: “Lợi ích là mối quan hệ xã hội khách quan của
sự tự khẳng định xã hội của chủ thể”[16, tr.16]
Theo V P Ca- man-kin, trong tác phẩm: “Các lợi ích kinh tế dưới chủnghĩa xã hội” của mình, cho rằng thực chất của lợi ích kinh tế có thể trình bàynhư sau: “Lợi ích kinh tế của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhaugiữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó”[3, tr.12]
Ở Việt Nam, tác giả Đào Duy Tùng cho rằng: Lợi ích kinh tế là cái biểuhiện những động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩyhoạt động lao động của con người Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh
tế, vì có nhu cầu mới có lợi ích Nhưng sẽ là không đúng nếu đồng nhất nhucầu với lợi ích kinh tế…lợi ích kinh tế không phải là nhu cầu nói chung mà làviệc thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất, bao gồm cả nội dung của nhu cầu và
Trang 14phương thức thỏa mãn nhu cầu Vì suy cho cùng cái thúc đẩy người ta hànhđộng chính là thỏa mãn trên thực tế nhu cầu một cách tối ưu…Có người hiểulợi ích kinh tế như là sự thống nhất giữa nội dung khách quan và hình thứcchủ quan Theo chúng tôi, lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, nóphát sinh và tồn tại trên cơ sở một quan hệ sản xuất nhất định, không tùythuộc vào ý muốn con người…Lợi ích kinh tế tồn tại không tùy thuộc ở chỗngười ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong hệ thốngsản xuất - xã hội quy định Vì vậy, về bản chất phải khẳng định rằng, lợi íchkinh tế là tồn tại khách quan [33, tr.94 - 96].
Như vậy, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hìnhthức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất, nó không tùy thuộc vào ý chí,lòng ham muốn của con người
Quan hệ sản xuất là khách quan Nó luôn luôn tồn tại trong vận động
Sự vận động của quan hệ sản xuất biểu hiện ở sự vận động của các quy luậtkinh tế do nó trực tiếp sinh ra Thông qua sự vận động của các quy luậtkinh tế mà quan hệ sản xuất ảnh hưởng tới quá trình sản xuất Ở đây, tínhkhách quan của quy luật kinh tế thể hiện qua lợi ích để chi phối người taphải hành động theo quy luật, do đó đảm bảo quan hệ sản xuất khách quan.Lợi ích kinh tế bao giờ cũng phản ánh một quan hệ sản xuất, quan hệ kinh
tế nhất định
Ý kiến trên còn được khẳng định bởi một số tác giả khác như Vũ HữuNgoạn: Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểuhiện trước hết của quan hệ sản xuất… Lợi ích kinh tế là cơ chế tác động chungcủa tất cả các quy luật kinh tế [31, tr.54] Hay tác giả Khoa Minh lại cho rằng:Lợi ích kinh tế là sự biểu hiện của những quan hệ kinh tế đối với việc thõamãn những nhu cầu vật chất cần thiết cho đời sống dưới hình thức mục đíchxác định của hoạt động kinh tế của con người… Lợi ích kinh tế là hình thứcbiểu hiện cụ thể các quan hệ kinh tế và quy luật phản ánh các quan hệ kinh tế
đó [29, tr.296]
Trang 15Từ những phân tích khái quát trên có thể hiểu, lợi ích kinh tế là mộtphạm trù kinh tế khách quan, được quy định bởi hệ thống các quan hệ kinh tếnhất định và biểu hiện mối quan hệ lẫn nhau giữa sản xuất vật chất và nhu cầuvật chất Lợi ích kinh tế, trong ý nghĩa khách quan của nó, là những khoản thunhập được ấn định bởi các quan hệ kinh tế nhằm đảm bảo cho các chủ thể kinh
tế tồn tại, hoạt động và phát triển
Khi không thực hiện được lợi ích kinh tế, nghĩa là không nhận đượcnhững những khoản thu nhập nhất định, chủ thể kinh tế không thể tồn tại vàphát triển như là đại biểu độc lập của các quan hệ kinh tế Như vậy quan hệkinh tế quyết định lợi ích kinh tế thông qua vai trò, vị trí của các chủ thể lợiích trong một hệ thống xã hội nhất định
Lợi ích kinh tế tuy là một phạm trù kinh tế khách quan, nhưng conngười có khả năng nhận thức được nó và vì nó mà hành động Lợi ích kinh tếkhông được nhận thức ngay sau khi xuất hiện, mà trước hết chúng biểu hiệnmối quan hệ có tính quy luật giữa sản xuất vật chất và nhu cầu vật chất củacon người Trong việc hình thành lợi ích, vai trò quyết định thuộc về sản xuấtvật chất, quá trình sản xuất này, đến lượt mình lại được phát triển dưới tácđộng của nhu cầu của con người Đồng thời chính sản xuất có tác động ngượctrở lại đến quá trình hình thành nhu cầu của xã hội Khi là tiền đề cho hoạtđộng của con người, nhu cầu đồng thời là sản phẩm của hoạt động đó và khixuất hiện trên cơ sở sản xuất xã hội, nhu cầu đến lượt mình lại có thể tác độngđến sản xuất vật chất, nhưng không phải là trực tiếp, mà là gián tiếp thông quatổng hoà các lợi ích kinh tế
Mối quan hệ giữ các phạm trù trên có thể được biểu hiện như sau: SẢNXUẤT - LỢI ÍCH - NHU CẦU - LỢI ÍCH - SẢN XUẤT
Nhờ thế, lợi ích kinh tế trở thành một trong những động lực cơ bản, phổbiến của sự phát triển không ngừng của sản xuất và đời sống xã hội Ăngghencho rằng: Lợi ích kinh tế là những động cơ đã lay chuyển quần chúng đôngđảo và khi chúng biến thành sự kích thích hoạt động của con người, thì chúng
“lay động đời sống của nhân dân”[25, tr.408]
Trang 16Từ bản chất của lợi ích kinh tế, có thể thấy lợi ích kinh tế có những đặcđiểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, lợi ích kinh tế luôn gắn với nhu cầu kinh tế, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Lợi ích và nhu cầu của con người luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, bởi lẽlợi ích là sự hiện thực hóa nhu cầu, đáp ứng nhu cầu của con người Như vậy,xét một cách khái quát, lợi ích là mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng củathế giới bên ngoài với nhu cầu của chủ thể, là điều kiện để thỏa mãn về nhucầu nhất định của con người
Con người luôn mong muốn có đời sống vật chất và đời sống tinh thầnngày càng cao hơn, đầy đủ hơn, do đó các nhu cầu của con người là khôngngừng phát triển Muốn thỏa mãn nhu cầu thì lợi ích phải được thực hiện Lợiích không phải tự nhiên xuất hiện và ban phát đầy đủ cho mỗi cá nhân mà nóđòi hỏi con người phải hành động Từng cá nhân, tập thể cho đến toàn xã hộiđều phải hành động mới đạt được mục đích Điều đó đã gây nên những biếnđổi lớn lao trong đời sống cộng đồng Vì vậy chúng ta có thể khẳng định: lợiích là một trong những động lực quan trọng, trực tiếp thúc đẩy hành động củacon người và thông qua đó gây nên những biến đổi của thế giới vật chất vàlịch sử xã hội
Thứ hai, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, bắt nguồn
từ các quan hệ kinh tế của các chủ thể mang những lợi ích nhất định.
Nói đến lợi ích kinh tế là nói đến quan hệ phân phối kết quả sản xuấthình thành thu nhập của những người tham gia vào quá trình sản xuất xã hội.Theo C Mác thì quan hệ phân phối này lại phụ thuộc vào quan hệ sở hữu về
tư liệu sản xuất Mỗi quan hệ sản xuất có một phương thức phân phối do đó cómột hình thức thực hiện lợi ích kinh tế Tính chất của lợi ích kinh tế là doquan hệ sản xuất quyết định, mà quan hệ sản xuất này lại do trình độ của lựclượng sản xuất quyết định Vì vậy lợi ích kinh tế có tính khách quan
Lợi ích kinh tế biểu hiện mối quan hệ giữa người lao động và người sửdụng lao động Để tối đa hóa lợi ích kinh tế, người lao động và người sử dụng
Trang 17lao động buộc phải quan hệ với nhau bằng cách này hay cách khác để đôi bênđều có thể thụ hưởng phần lợi ích nhất định do sản xuất tạo ra.
Ở Việt Nam, trong điều kiện nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội, mục đích chung của toàn bộ nền kinh tế là thúc đẩy tiếntrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển lực lượng sản xuất, tạo cơ sởvật chất cho chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện giai cấp công nhân mà đại diệncủa nó là Đảng cộng sản nắm chính quyền và mục đích của người lao động là
có việc làm, có thu nhập và nâng cao đời sống, thì mối quan hệ giữa người laođộng và người sử dụng lao động tốt nhất là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi
Ở đây, người nắm giữ các điều kiện vật chất của người lao động cũng cầnđược thụ hưởng một phần thỏa đáng bộ phận giá trị mới do lao động tạo ra vàngười lao động cũng cần nhận được một phần hợp lý bộ phận giá trị mới dochính lao động của mình sáng tạo ra
Thứ ba, lợi ích kinh tế luôn mang tính lịch sử
Lợi ích kinh tế là sự hiện thực hóa các nhu cầu Song không phải mọinhu cầu của con người đều có khả năng hiện thực hóa mà chỉ có nhu cầu nàoxuất phát từ chính năng lực đáp ứng của nền sản xuất xã hội mới được hiệnthực hóa Theo C.Mác: “quy mô của nhu cầu được gọi là tất yếu và nhữngphương thức để thỏa mãn nhu cầu ấy chính là sản phẩm của lịch sử và phụ thuộcphần lớn vào trình độ văn hóa của đất nước”[27, tr.27] Vì vậy, lợi ích kinh tếphụ thuộc vào hoàn cảnh của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
1.1.2 Vai trò của lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế là một trong những hiện tượng phổ biến nhất của đờisống xã hội Nó gần gũi trong quan niệm và hành động hằng ngày của quảngđại quần chúng Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống còn của sảnxuất và đời sống xã hội Lịch sử đã chứng minh, động lực thúc đẩy con ngườihoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không phải là cái gì khácngoài lợi ích của họ Chính lợi ích đó đã gắn bó con người với cộng đồng củamình và tạo ra ở con người những sự kích thích, thôi thúc, khát vọng và sự say
mê trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Trang 18Bất cứ hoạt động nào của con người cũng bị chi phối bởi hai động lựcchính đó là động lực vật chất và động lực tinh thần Để đạt được những kếtquả cao trong hoạt động kinh tế, không chỉ duy nhất là hoạt động kinh tế, màcòn cả động lực tinh thần Nhưng, ở đây hoạt động kinh tế luôn giữ vai tròquyết định nhất, là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động của con người.Cho nên, các chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế bao giờ cũng đặcbiệt quan tâm đến lợi ích thiết thân của người lao động, tức là lợi ích kinh tế,
vì nó luôn là động lực kích thích đối với con người, đối với tập thể và đối vớitoàn xã hội Đồng tời, khi lợi ích kinh tế được thực hiện thì nó cũng tạo cơ sở,tiền đề để thực hiện các loại lợi ích khác Đời sống xã hội phồn vinh thì đờisống tinh thần mới được nâng cao
Lợi ích kinh tế còn có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trìcác mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh Một khicon người (chủ thể) tham gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm đạt tớicác lợi ích nhất định Đạt được những lợi ích tương xứng với kết quảSXKD thì mới đảm bảo nâng cao tính ổn định và sự phát triển của các chủthể lợi ích Ngược lại, khi không mang lại lợi ích hoặc lợi ích không đượcthực hiện đầy đủ thì sẽ làm cho mối quan hệ giữa các chủ thể xuống cấp.Nếu tình trạng đó kéo dài thì sớm muộn sẽ dẫn đến tình trạng tiêu cựctrong hoạt động SXKD
Từ sự phân tích trên, ta thấy lợi ích vật chất có vai trò vô cùng quantrọng, có tính chất quyết định trong sự phát triển xã hội vì những lẽ sau:
- Lợi ích kinh tế là cơ sở, điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển củacon người và xã hội loài người Xã hội vận động về cơ bản là vận động thôngqua việc thực hiện các lợi ích kinh tế
- Các quan hệ kinh tế giữ vai trò quyết định và chi phối đời sống chínhtrị, tư tưởng của xã hội một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
- Vì động lực lợi ích kinh tế là nền tảng, là cơ sở cho việc hình thành vàgiải quyết các động lực lợi ích khác của con người, cho nên đòi hỏi chúng taphải giải quyết hợp lý quan hệ lợi ích kinh tế và không ngừng nâng cao lợi ích
Trang 19kinh tế cho con người để tạo cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề khác củađời sống xã hội.
- Để kích thích tính tích cực ở mức độ cao nhát, cần quan tâm đặc biệtđến lợi ích kinh tế, đồng thời không quên các lợi ích khác của mỗi cá nhân Sựkết hợp đó không chỉ khai thác được thế mạnh của lợi ích kinh tế mà cả thếmạnh của các lợi ích khác và thế mạnh tương hỗ giữa các lợi ích đó trong mỗicon người
- Quan tâm đến lợi ích cá nhân, tạo điều kiện để mỗi người lao động cóthể thực hiện được lợi ích cá nhân của mình, nhưng không khuyến khích họthực hiện lợi ích cá nhân bằng mọi cách Việc khuyến khích lợi ích kinh tế cánhân phải nằm trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích kinh tế khác ( lợi íchkinh tế tập thể và lợi ích kinh tế xã hội), nghĩa là quan tâm đến lợi ích kinh tế
cá nhân phải đặt trong mối quan hệ không làm tổn hại đến lợi ích xã hội và lợiích tập thể
Thực tế cuộc sống đã chứng minh, trong cơ chế kinh tế cũ, chúng ta chỉtập trung quan tâm đến việc hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kế hoạchhóa tập trung bao cấp mà ít quan tâm đến lợi ích của người lao động, có ngườicòn coi lợi ích cá nhân là cái gì đó trái với nền tảng căn bản của xã hội mới
mà chúng ta đang xây dựng Điều đó đã làm triệt tiêu động lực của con ngườitrong lao động sản xuất
Từ khi Đảng và Nhà nước ta đề ra chính sách mới, phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, thực hiện phân phối theo lao động, đã tạo ra một độnglực rất lớn đối với người lao động, kích thích tính sáng tạo, khả năng lao độngcủa mỗi cá nhân trong sản xuất Vì vậy, nhận thức đúng đắn lợi ích kinh tế làđộng lực kích thích hoạt động của con người, có ý nghĩa sâu sắc trong việcphát huy nhân tố con người
1.1.3 Các chủ thể lîi Ých kinh tÕ và hệ thống lợi ích kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
Trang 20Vì lợi ích kinh tế là khách quan và được quy định trực tiếp bởi phươngthức sản xuất và hệ thống các quan hệ sản xuất, cho nên chúng được thể hiện
ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất xã hội: sản xuất, phân phối, trao đổi
và tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường, hình thành nên một hệ thống cáclợi ích kinh tế với cơ cấu phức tạp, đa dạng trong không gian và thời gian, baogồm lợi ích kinh tế của xã hội, lợi ích kinh tế của người SXKD (doanh nghiệp,doanh nhân), lợi ích của những người tham gia vào quá trình trao đổi kết quảSXKD, lợi ích kinh tế tập thể, lợi ích kinh tế của người lao động và lợi íchhinh tế của người tiêu dùng, lợi ích kinh tế của cộng đồng…Việc xác định chủthể của các lợi ích là một vấn đề quan trọng và cần thiết cả về phương diệnphương pháp luận và cả về mặt thực tiễn trong quá trình nghiên cứu lợi íchkinh tế
Trong nền sản xuất xã hội, tùy thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụthể mà chủ thể trong nền sản xuất xã hội ấy có thể là cá nhân, tập thể hay xãhội và có bao nhiêu chủ thể thì có bấy nhiêu lợi ích kinh tế tương ứng
Chủ thể của thực tiễn sản xuất xã hội - đó là con người nhận thức vàcải tạo thực tiễn sản xuất, đồng thời cải tạo chính bản thân mình Tính tích cực
và sáng tạo là đặc trưng chủ yếu, vốn có của con người - với tư cách là chủthể Nói một cách khác, chỉ có những tác động vào tự nhiên và xã hội thì conngười mới bộc lộ mình như là một chủ thể của lịch sử Như vậy, nói đến chủthể là nói đến con người với những phẩm chất nhất định đang hành động nhậnthức và cải tạo thế giới
Cần phân biệt chủ thể và cá thể Mọi chủ thể đều có tư cách như một cáthể, nhưng chỉ có những cá thể nào tham gia hoạt động SXKD … mới trởthành chủ thể Như vậy, tùy thuộc vào chủ thể là cá nhân thì có lợi ích kinh tếcủa cá nhân, nếu chủ thể là tập thể thì có lợi ích kinh tế của tập thể, nếu chủthể là toàn xã hội thì có lợi ích kinh tế của xã hội Dĩ nhiên các lợi ích nàyluôn luôn tồn tại trong mối quan hệ gắn bó, tác động lẫn nhau
Lợi ích kinh tế luôn luôn gắn với các chủ thể nhất định Các chủ thể đólại được phân bổ, điều động vào các quá trình, các khâu, các lĩnh vực của sản
Trang 21xuất xã hội - sự phân bổ, điều động các chủ thể ấy không chỉ là sự phân bổ,điều động cho hiện tại mà cho cả tương lai Cho nên, mỗi chế độ kinh tế xãhội luôn hình thành một hệ thống lợi ích đa dạng, phong phú và phức tạp Hệthống lợi ích này không ngừng biến đổi, mở rộng theo thời gian và theo khônggian Tính phong phú, đa dạng và phức tạp của hệ thống lợi ích càng trở nênphong phú, đa dạng và phức tạp hơn trong hoàn cảnh và điều kiện của nềnkinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay Hiện nay, với nhiều cách tiếpcận khác nhau, có thể xác định lợi ích kinh tế ở nước ta hiện nay gồm các loạilợi ích sau:
- Lợi ích kinh tế xã hội
- Lợi ích kinh tế tập thể
- Lợi ích kinh tế cá nhân
- Lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế
- Lợi ích kinh tế của các khâu (các giai đoạn của quá trình tái sản xuất
xã hội đó là sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng)
- Lợi ích kinh tế hiện tại
- Lợi ích kinh tế tương lai …
Ba loại lợi ích kinh tế: lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích kinh tế tập thể, lợiích kinh tế cá nhân mang tính chất khái quát nhất Bởi lẽ, lợi ích kinh tế củacác thành phần kinh tế, lợi ích kinh tế của các khâu, lợi ích kinh tế cho hiệntại, lợi ích kinh tế cho tương lai…suy cho cùng cũng là lợi ích kinh tế cho cánhân con người hoặc cho cùng một số cá nhân hoặc cho cùng một cá nhân,hoặc cho tất cả các cá nhân mà thôi Nói cách khác, mục đích cuối cùng củacông cuộc xây dựng, phát triển kinh tế dưới bất kỳ hình thái kinh tế - xã hộinào cũng chỉ có ý nghĩa đích thực khi nhắm vào vì con người, cho con người,của con người, cho dù con người đó hoạt động độc lập tương đối hay trongquan hệ với tất cả các cá nhân khác
Việc nhận thức và tìm hiểu mối quan hệ giữa ba loại lợi ích trên có ýnghĩa cực kỳ quan trọng giúp chúng ta giải quyết tốt các vấn đề của thực tiễn
Sự vận động các lợi ích kinh tế thường là không trùng khớp nhau, thậm chí
Trang 22trái ngược nhau không chỉ diễn ra trong phạm vi rộng lớn trong toàn bộ nềnkinh tế quốc dân, mà còn diễn ra trong từng doanh nghiệp, trong đó có DNNNsau CPH Nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa chúng sẽ làm suy yếu và
có thể dẫn đến việc triệt tiêu động lực, nguy hiểm hơn có thể dẫn đến xungđột Chẳng hạn, tổng thu nhập của người lao động trong DNNN sau CPHkhông thể vượt quá quỹ lương, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi Nếu vượtquá giới hạn của quỹ đó, sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, tức viphạm lợi ích của tập thể Lợi nhuận của doanh nghiệp giảm đi thì mức đónggóp cho ngân sách nhà nước cũng bị giảm theo, do đó lợi ích của toàn xã hộicũng bị cắt xén và ngược lại Vì vậy việc giải quyết mối quan hệ giữa các lợiích kinh tế, thực chất là kết hợp chúng trong DNNN sau CPH, để tạo một hợplực mạnh mẽ trong DNNN sau CPH trở thành vấn đề tất yếu khách quan ởmọi lúc, mọi nơi
Mỗi loại lợi ích kinh tế có đặc trưng riêng, giữa chúng có sự thống nhất
và mâu thuẫn, làm điều kiện cho nhau, tác động qua lại và thâm nhập lẫnnhau Trong đó lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động và của doanhnghiệp được thực hiện trên cơ sở thực hiện lợi ích kinh tế của toàn xã hội.Ngược lại, lợi ích kinh tế của toàn xã hội chỉ được thực hiện qua hàng loạthoạt động có hiệu quả để đảm bảo cho lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và của
cá nhân người lao động
Việc kết hợp các lợi ích kinh tế trong điều kiện nước ta hiện nay chỉđược giải quyết có kết quả thực sự khi chúng ta nhận thức rõ các loại lợi íchtrên suy cho cùng là lợi ích kinh tế cho cá nhân con người mà thôi
Vì lý do trên, đồng thời với yêu cầu của đề tài, luận văn đi sâu vào phântích lợi ích kinh tế của cá nhân
Lợi ích cá nhân gắn liền với sự quan tâm trực tiếp, thiết thân của mỗicon người trong cuộc sống hằng ngày của họ Cái mà người lao động quantâm và cần thiết, cần có là sau quá trình lao động, SXKD, họ thu nhận đượcnhững gì, bao nhiêu, chứ không phải làm gì, ở đâu Song các quyết định để
họ thu được những gì và bao nhiêu lại là số lượng và chất lượng lao động
Trang 23của họ Do đó lợi ích cá nhân gắn liền trực tiếp với lao động cá nhân (laođộng cá biệt).
Trong nền kinh tế hàng hóa, người kinh doanh (chủ thể) chỉ có thể cólợi khi mà hao phí lao động cá biệt của họ bằng hoặc nhỏ hơn hao phí laođộng xã hội Để có thể đạt được điều đó, người lao động cá biệt phải có sốlượng lao động nhiều và chất lượng tốt, muốn vậy họ phải tự học hỏi, tự đàotạo để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phải thường xuyên cải tiếnquy trình sản xuất đổi mới kỹ thuật công nghệ Như vậy, nói lợi ích cá nhângắn liền với lao động cá nhân nghĩa là gắn liền với số lượng và chất lượng laođộng cá nhân của họ Do đó, muốn đạt được lợi ích cá nhân thỏa đáng, bảnthân người lao động phải tìm mọi cách để nâng cao chất lượng lao động vàtăng số lượng lao động
Trong nền kinh tế hàng hóa, lợi ích cá nhân của người lao động thể hiệntrước hết ở tiền lương (kể cả tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế) màngười lao động nhận được trước hoặc trong quá trình tái sản xuất xã hội Tiềnlương hay tiền công, theo Mác lại chính là giá trị hay giá cả của hàng hóa sứclao động mà, mà sức lao động lại là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực tồntại trong cơ thể sống Khả năng thể lực, trí lực đó chính là sức khỏe và bằngcấp kiến thức Vì vậy mà sự thực hiện lợi ích cá nhân thể hiện trước hết tronglĩnh vực tiêu dùng - tiêu dùng để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động.Trong lĩnh vực tiêu dùng nói chung, thì sự tiêu dùng mà người lao động quantâm trước nhất để làm tăng số lượng và chất lượng lao động của mình là tựđào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hóa
Lợi ích cá nhân còn được thực hiện về mặt pháp luật Nghĩa là, luậtpháp luôn tạo điều kiện và khuyến khích việc thực hiện lợi ích cá nhân trên cơ
sở lao động và tính sáng tạo lao động của cá nhân Sự khuyến khích và tạomọi điều kiện về mặt luật pháp để thực hiện lợi ích cá nhân là nhằm mục đíchphát triển sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động xãhội….điều đó cũng có nghĩa là luật pháp khuyến khích và tạo điều kiện đểmọi người có thể làm giàu
Trang 24Lợi ích cá nhân còn được thực hiện thông qua hình thức sở hữu về vốn
và tài sản và cuối cùng lợi ích cá nhân còn được thực hiện thông qua các quỹphúc lợi xã hội và những thu nhập từ kinh tế phụ gia đình Do đó lợi ích cánhân có thể được kiểm kê, kiểm soát thông qua pháp luật Thông qua việckiểm kê và kiểm soát mà Nhà nước có thể định hướng, giúp đỡ tạo điều kiện
để thực hiện lợi ích cá nhân, mặt khác mà Nhà nước cũng có thể dùng luậtpháp để hạn chế, ngăn chặn việc thực hiện nó bằng hành vi trái pháp luật, tráiđạo lý
Thông qua việc kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước mà xã hội có thểchủ động tạo mọi điều kiện cho người lao động có thể tự do học nghề, tự dochọn nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp Tạo điều kiện để người laođộng nâng cao khả năng về thể lực bằng cách tự do luyện tập, tự do khámchữa bệnh và được hưởng quyền chăm sóc về y tế Tự do đầu tư vốn và tàisản vào ngành nghề nào để có thể thu được nhiều lợi nhuận và lợi tức trongkhuôn khổ luật pháp quy định thông qua con đường tham gia mua cổ phiếu,tín phiếu…Đó là những biện pháp, cách thức mà Nhà nước có thể hoàntoàn chủ động để “điều tiết” lợi ích kinh tế của người lao động và người sửdụng lao động
Trong các DNNN sau CPH, người lao động là người trực tiếp tiến hànhquá trình sản xuất để sản xuất ra hàng hóa nhằm thỏa mãn những nhu cầu của
xã hội, của tập thể và của bản thân mình nên họ là người trực tiếp thực hiệncác lợi ích kinh tế và biến những lợi ích kinh tế đó thành động lực của sảnxuất và sản xuất cũng nhằm thực hiện các lợi ích kinh tế đó
Tuy nhiên, người lao động tiến hành sản xuất , trước hết và trực tiếp là
vì lợi ích kinh tế của bản thân họ, tức là nhằm thực hiện được quyền laođộng và có được thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại,giải trí…của bản thân và gia đình mình Nói một cách khác, lợi ích kinh tế
cá nhân là lợi ích trực tiếp của người lao động Nó là mục đích trực tiếp củahoạt động sản xuất của người lao động, là động cơ trực tiếp thôi thúc họphải tiến hành sản xuất Một khi mục đích, động cơ đó trở thành hiện thực,
Trang 25tức là lợi ích kinh tế cá nhân người lao động được thực hiện, thì nó trởthành động lực trực tiếp của sản xuất, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của cácDNNN sau CPH phát triển
1.2 ĐẶC TRƯNG VÀ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HÓA
1.2.1 Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa
1.2.1.1 Thu nhập của người lao động được thực hiện trực tiếp dưới hình thức tiền lương và tiền thưởng theo nguyên tắc phân phối theo lao động kết hợp với phân phối theo giá trị sức lao động
Để lợi ích kinh tế cá nhân người lao động được thực hiện, trở thànhđộng lực của sản xuất và động lực đó không có gì khác hơn là tính tích cực,tinh thần và thái độ lao động, tính chủ động, sáng tạo của người lao động đượcphát huy trong quá trình sản xuất, gắn bó với các doanh nghiệp, quan tâm đến
sự sống còn và thành quả hoạt động của các doanh nghiệp Đồng thời độnglực đó chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được thực hiện quyền laođộng và được hưởng thụ một cách thỏa đáng những thành quả lao động mà họ
đã cống hiến
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thịtrường, thì sức lao động của người lao động trong các DNNN sau CPH cũngđược thừa nhận là hàng hóa Việc mua bán sức lao động đó được thực hiệnthông qua hợp đồng lao động giữa người lao động và chủ doanh nghiệp sửdụng sức lao động trên cơ sở pháp luật hiện hành Một khi sức lao động đã trởthành hàng hóa, thì tiền lương chẳng qua là hình thức biểu hiện bằng tiền củagiá trị hay giá cả sức lao động của người lao động
Để cho người lao động thật sự yên tâm, từ đó hăng say và sẵn sàngmang hết sức sáng tạo của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏicác doanh nghiệp phải trả công cho họ đầy đủ, kịp thời, phù hợp với sức lao
Trang 26động của họ đã hao phí trong quá trình sản xuất Có như vậy mới đảm bảo táisản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động của họ được.
Trong mỗi doanh nghiệp, tổng tiền lương cơ bản hay quỹ lương theohợp đồng là do quy mô, tính chất và trình độ công nghệ, kỹ thuật của doanhnghiệp quy định Trong doanh nghiệp, mức lương do hai bên thỏa thuận tronghợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệuquả công việc Tiền lương cơ bản của từng người lao động là cơ sở để xácđịnh đơn giá tiền lương trong đơn vị sản phẩm hay đơn giá tiền lương trongđơn vị thời gian Trên cơ sở đó, tùy thuộc vào thời gian lao động dài hay ngắn,
số lượng sản phẩm làm ra nhiều hay ít mà người lao động nhận được tiềnlương tương xứng với kết quả lao động của mình
Tiền lương là giá cả của sức lao động, cho nên nó cũng bị tác động củaquy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Điều đó đôi khi cũng gây nên những biếnđộng trong thu nhập của người lao động Nó có thể lên xuống theo lượng cung
và lượng cầu về lao động Một mặt, các chủ doanh nghiệp đã lợi dụng tình hìnhcung lớn hơn cầu về lao động mà trả tiền công dưới giá trị sức lao động Điều đó
dễ dẫn đến người lao động đình công, đòi tăng lương, dẫn đến xung đột xã hội vàtác động tiêu cực đến quá trình sản xuất Mặt khác, nếu cung nhỏ hơn cầu về laođộng thì người lao động dễ gây áp lực đòi tiền công cao hơn giá trị sức lao động,điều này sẽ tăng chi phí sản xuất, gây bất lợi cho chủ doanh nghiệp
Hiện nay, ở nước ta, để bảo vệ người lao động, Bộ luật lao động (2005)
đã quy định rõ tiền lương trong chương VI gồm 13 điều, quy định về tiềnlương cho người lao động Tại điều 55 đã quy định tiền lương của người laođộng không được thấp hơn mức tối thiểu do Nhà nước quy định Tại điều 66
Bộ luật lao động quy định mức lương tối thiểu:
Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảmcho người lao động làm việc giản đơn nhất trong điều kiện lao độngbình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy, táisản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính cácmức lương cho các loại lao động khác [36, tr.37]
Trang 27Như vậy, tiền lương mặc dù do cơ chế thị trường và các quy luật kinh tếchi phối nhưng cũng không thể thấp hơn mức tối thiểu theo Bộ luật lao độngban hành.
Về bản chất, tiền lương trong các DNNN sau CPH tuy là giá cả sứclao động, chịu sự tác động của quy luật cung cầu nhưng không vì thế màngười lao động đã bị Nhà nước “bóc lột” Theo cách nói của Mác, ngườilao động ở đây đã “ khai thác” lao động của chính mình chứ không phải aikhác Hình thức “làm thuê” của người lao động cho Nhà nước ở đây khôngphản ánh quan hệ giữa các giai cấp khác nhau mà là quan hệ giữa cá nhânngười lao động với xã hội của mình Lợi nhuận của doanh nghiệp khôngphải do nhà tư bản chiếm đoạt mà thuộc về Nhà nước đại diện cho toàn dân
và của người lao động trong doanh nghiệp Tùy theo tình hình kinh tế - xãhội trong từng giai đoạn mà Nhà nước có cơ chế chính sách phân phối đảmbảo lợi ích người lao động
Xuất phát từ quan điểm tiền lương của người lao động trong doanhnghiệp phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụnglao động và trên cơ sở hình thức cơ bản của tiền lương, ở nước ta Chínhphủ công bố thang lương, bảng lương riêng đối với các doanh nghiệp đểlàm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chế độ phụ cấplương, tiền lương ngừng việc, nghỉ hàng năm và các trường hợp nghỉ việckhác của người lao động Các chế độ phụ cấp lương trong DNNN sau CPHcũng có thể được thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người laođộng dựa trên cơ sở luật lao động
Việc xác định hợp lý và chính xác bậc lương và ngạch lương cũng nhưcác chế độ phụ cấp lương theo từng ngành, từng khu vực có tính đến trình độchuyên môn và điều kiện lao động có ý nghĩa quan trọng Nó bảo đảm tínhcông bằng trong chế độ trả lương, thúc đẩy người lao động không ngừng họctập, nâng cao trình độ tay nghề, quan tâm hoàn thành tốt công việc và gắn bóvới doanh nghiệp
Trang 28Cùng với tiền lương cơ bản, tiền thưởng cũng là một bộ phận thu nhậpquan trọng của người lao động Vì thực chất tiền thưởng là phần thưởng chongười lao động khi làm tốt công việc của mình hơn mức trung bình, nó kíchthích người lao động hăng say làm việc, cống hiến và sáng tạo, thúc đẩy tăngnăng suất lao động.
Tuy đều gắn với lợi ích kinh tế của người lao động nhưng tiền lương vàtiền thưởng có sự khác nhau Tiền lương thuộc phạm trù chi phí sản xuất, còntiền thưởng thuộc phạm trù phân phối lợi nhuận
Việc trích một phần lợi nhuận để thưởng cho người lao động hiệnnay không phải là điều mới mẻ ở các nước trên thế giới Ở nước ta, Đảng
và Nhà nước rất coi trọng vấn đề tiền thưởng ngay từ trong cơ chế cũ.Song do quá chú ý đến động viên tinh thần mà thiếu quan tâm thưởngbằng vật chất nên chưa phát huy hết động lực của tiền thưởng Lênin đãchỉ rõ “việc khen thưởng bằng vật chất là một chế độ có ý nghĩa cực kỳquan trọng trong công tác xây dựng Chủ nghĩa xã hội”[17, tr.33] Chuyểnsang cơ chế thị trường, vấn đề tiền thưởng vẫn được đặc biệt quan tâm và
đã được đưa vào luật
Để nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, DNNN sau CPHnhất thiết phải dùng các hình thức tiền thưởng, nhằm động viên, khuyến khích
sự sáng tạo của người lao động Tiền lương cao dễ thu hút lao động và độngviên được người lao động làm việc nhưng nó chỉ có giới hạn trong khuôn khổthực hiện theo hợp đồng lao động Nếu không có hình thức thưởng thêm trênhợp đồng thì người lao động chỉ cần thực hiện đúng theo hợp đồng: sản xuấtgiới hạn bao nhiêu phần trăm phế phẩm, với số lượng sản phẩm quy định thìtốn bao nhiêu nguyên liệu, nhiên liệu…Ngoài ra anh ta không cần quan tâmhơn nữa để nâng cao hiệu suất công việc vì nếu có đưa ra sáng kiến làm tiếtkiệm nguyên, nhiên liệu…cũng chẳng được ích lợi gì Chính vì vậy, các hìnhthức tiền thưởng luôn là nguồn động viên, khuyến khích đem lại hiệu quảnhất Tuy nhiên, việc trích lợi nhuận để thưởng cho người lao động cũng phảicăn cứ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Trang 291.2.1.2 Thu nhập bằng tiền của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa dưới hình thức cổ tức (đối với những người lao động có cổ phần trong doanh nghiệp)
Trong DNNN sau CPH, người lao động với tư cách là người lao độngtiến hành sản xuất kinh doanh, họ được doanh nghiệp trả lương dưới hình thứctiền lương theo số lượng và chất lượng lao động Đồng thời với tư cách là chủ
sở hữu vốn , họ nhận được một khoản lợi tức cổ phần do sở hữu vốn đem lại
Lợi tức cổ phần là một phần lợi nhuận của doanh nghiệp mà doanhnghiệp phải trả cho người có vốn cổ phần góp vào doanh nghiệp ứng với sốtiền trong cổ phần Ở các doanh nghiệp khác nhau, lợi tức có thể không giốngnhau do ảnh hưởng của nhiều nhân tố
Quyền sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp tương đương với sốlượng vốn góp, quyền này được thể hiện cụ thể ở các quyền: được hưởng lợitức cổ phần tương đương với cổ phần đã góp, có thể bán cổ phần theo giá thỏathuận ở thị trường chứng khoán, có thể cho một phần hoặc toàn phần cổ phần,
có quyền biểu quyết hoặc phủ quyết bất kỳ chủ trương kế hoạch nào của doanhnghiệp mà mình đồng ý hoặc chưa đồng ý…Trách nhiệm của cổ đông cũng rất
rõ ràng: phải chịu đền bù, chịu mất mát, tổn thất trong phạm vi số lượng vốn góp,phải chịu góp đủ vốn khi doanh nghiệp đó chính thức hoạt động, phải thực hiệnđầy đủ, nghiêm túc mọi quy định trong điều lệ của công ty…
Quyền và nghĩa vụ của cổ đông làm cho vai trò người chủ của ngườilao động có cổ phần trong các DNNN sau CPH thể hiện một cách thực chất,
rõ ràng nhất, tạo ra một cơ chế hoạt động quản lý nhân sự trong doanh nghiệpmột cách trôi chảy
Quyền sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp tương đương với sốlượng vốn góp đã làm cho bản thân người lao động trong DNNN sau CPH thuđược lợi ích thiết thực chẳng những từ lao động do mình bỏ ra, mà còn dođồng vốn góp của mình, nên việc đó tạo ra cho người lao động trực tiếp mộtđộng lực mạnh mẽ, trong sáng để họ toàn tâm, toàn lực lao động Điều đó đãlàm cho lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội không chỉ được bảo đảm, không
Trang 30ngừng tăng lên về số lượng, mà còn tạo ra một mối quan hệ chặt chẽ gắn bó
và làm tiền đề cho nhau phát triển Người lao động tự mình kiểm soát, giámsát, và tìm mọi cách để lao động đạt hiệu quả cao nhất, không cần phải có sựgiám sát, đôn đốc của cấp trên Như vậy, vai trò, vị trí của người lao độngtrong các DNNN sau CPH đã làm thay đổi căn bản tính chất, đặc điểm hoạtđộng lao động, kinh doanh của họ, làm cho sự làm chủ tập thể không chỉ làhình thức Trong DNNN sau CPH, mỗi cổ đông làm việc cho chính họ, chochính lợi ích của họ, của gia đình họ và của doanh nghiệp Điều đó cũng cónghĩa là cho toàn xã hội
1.2.1.3 Thu nhập của người lao động từ quỹ phúc lợi tập thể
Ngoài thu nhập do lao động và thu nhập do quyền sở hữu vốn, ngườilao động trong các DNNN sau CPH còn được bổ sung bằng các phúc lợi củatập thể
Hình thức phân phối từ quỹ phúc lợi trong các DNNN sau CPH ở nước
ta là hết sức cần thiết Trước hết, trong điều kiện kinh tế của ta còn nhiều khó
khăn, sự nghiệp phúc lợi chưa được đảm bảo thống nhất, đầy đủ trong xã hội.Điều đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có quỹ phúc lợi riêng hỗ trợ thêm chongười lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo các sự nghiệp về văn hóa, giáodục, y tế, đời sống, nghỉ ngơi và cả những việc làm từ thiện, nhân đạo khác
Hai là, trong các DNNN sau CPH, việc đảm bảo phúc lợi chung là cần
thiết để cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao đời sống người lao động, làmcho người lao động yên tâm, gắn bó với doanh nghiệp Đây cũng là hình thức đểgóp phần phát triển toàn diện cá nhân người lao động trong các doanh nghiệp
Ba là, trong mỗi doanh nghiệp, việc phân phối thực hiện theo cống hiến
lao động của từng người, nhưng do thể trạng năng lực từng người khônggiống nhau nên thu nhập có sự chênh lệch Hơn nữa do thực hiện hình thứcphân phối theo quyền sở hữu vốn góp vào sản xuất nên sẽ có người thu nhậpcao, có người thu nhập thấp khác nhau Bởi vậy, phúc lợi tập thể của doanhnghiệp là điều kiện để góp phần tiến dần từng bước thực hiện sự bình đẳnggiữa những người lao động trong doanh nghiệp
Trang 31Quy mô các quỹ phúc lợi phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp càng pháttriển, hiệu quả kinh tế do nó đưa lại càng cao, thì quy mô các quỹ phúc lợicàng lớn, các doanh nghiệp càng có điều kiện thực hiện được các quỹ này.
Các hình thức phân phối từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp được thểhiện qua các công việc: xây dựng nhà ở, nhà ăn, nhà nghỉ mát điều dưỡng,các công trình văn hóa, thể thao, nghệ thuật, nhà trẻ cho con em người laođộng, tài trợ cho các buổi lễ hội trong và ngoài doanh nghiệp, tài trợ cácquỹ học bổng , quỹ khen thưởng học giỏi cho con em công nhân, trợ giúpcác đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, thực hiện các công việc từthiện, nhân đạo, tổ chức các hoạt động du lịch, tham quan, nghỉ mát, điềudưỡng…
Các hình thức phân phối thực hiện lợi ích do lao động, lợi ích do quyền
sở hữu vốn và phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội, phúc lợi doanh nghiệp cóquan hệ gắn bó với nhau Không thể có nhiều phúc lợi xã hội, phúc lợi tập thểdoanh nghiệp khi mà thu nhập từ các hình thức phân phối khác, nhất là thunhập do lao động còn ở mức quá thấp Xã hội càng phát triển thì phần dànhcho quỹ phúc lợi càng nhiều Theo Mác, “xã hội càng phát triển, phần này sẽcàng tăng”[24, tr.85]
Bằng hình thức phân phối từ quỹ phúc lợi, các DNNN sau CPH sẽ đảmbảo tăng thêm thu nhập thực tế của gia đình người lao động, tạo điều kiệnthuận lợi cho người lao động phát huy năng lực của mình Hình thức thu nhậpnày tạo động lực gián tiếp, giúp người lao động yên tâm hơn với công việcmình đang làm, gắn bó hơn với doanh nghiệp, đồng thời tạo được mối quan hệchặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động, góp phần thúc đẩysản xuất phát triển
Ở nhiều nước trên thế giới, tùy theo mức độ sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp mà ở đó cũng hình thành quỹ phúc lợi của mình, nhưng chủ yếunhằm đem lại lợi ích cho chủ doanh nghiệp và đáp ứng phần nào phúc lợi chongười lao động Bằng các hình thức giúp đỡ, tài trợ, các doanh nghiệp vừa
Trang 32thực hiện được mục đích trên, vừa là một hình thức quảng cáo nâng cao uy tíncủa doanh nghiệp trên thương trường.
Hiện nay trên thế giới không có nước nào lại không có hình thức phânphối thu nhập cho cá nhân từ quỹ phúc lợi xã hội và cũng ít có doanh nghiệpnào lại không có quỹ phúc lợi riêng của mình Chỉ khác nhau ở chỗ quỹ đó sửdụng nhằm vào mục đích gì, đem lại lợi ích cho ai là chủ yếu Đối với nước ta,Đảng ta luôn coi chính sách xã hội, thực hiện phúc lợi cho đông đảo nhân dânlao động, thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu cực kỳ quan trọng và nókhông thể tách rời với quá trình tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Việc làm và điều kiện nhà ở, đi lại của người lao động trong
các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá
Việc làm là vấn đề mọi người lao động đều quan tâm vì nó là tiền đề để
có thu nhập và thông qua đó người lao động mới có cơ hội bộc lộ tài năng vànâng cao kiến thức Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luậtcấm đều được thừa nhận là việc làm Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọingười có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhànước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội Người lao động luôn mongmuốn có được việc làm ổn định và phù hợp với sức khỏe, trình độ chuyênmôn của mình Việc làm trở thành động lực thúc đẩy người lao động ra sứchọc tập, nâng cao kỹ năng để được làm việc và được gắn bó với công việc phùhợp với mình Chính nhu cầu được làm việc đã gắn người lao động với doanhnghiệp, gắn trách nhiệm của họ với sản phẩm cuối cùng, họ ý thức rõ ràng vềhiệu quả công việc và trách nhiệm của mình trước doanh nghiệp Đồng thời,cũng chính nhu cầu đó đã thôi thúc họ không ngừng phát huy tính năng động,sáng tạo của mình trong quá trình lao động sản xuất Nếu người lao động không
có việc làm hoặc việc làm không đầy đủ thì tính tích cực, tài năng, trí tuệ của họ
sẽ không được phát huy, thì sẽ không còn động lực thúc đẩy sản xuất
Vấn đề nhà ở liên quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động Việckhó khăn về nhà ở sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động do không đượcđảm bảo về điều kiện nghỉ ngơi, sinh hoạt, đảm bảo về trật tự an toàn, an ninh
Trang 33xã hội Người lao động có chỗ ở ổn định sẽ phấn khởi, an tâm, có điều kiệnnghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe, tái sản xuất sức lao động, góp phần nâng caonăng suất lao động và chất lượng sản phẩm, thúc đẩy sản xuất phát triển.Chính vì vậy, việc tạo điều kiện cho người lao động có được chỗ ở ổn định vàphương tiện đi lại thuận lợi cũng là một trong những chính sách quan trọng
mà các doanh nghiệp nếu muốn ổn định, phát triển sản xuất phải quan tâm
1.2.3 Điều kiện môi trường làm việc của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá
Trong quá trình ký kết hợp đồng lao động đối với người lao động, bêncạnh việc ký kết đảm bảo về công việc, giờ làm việc , tiền lương…doanhnghiệp còn phải thực hiện tốt điều kiện môi trường làm việc Trong bộ luật laođộng, chương IX quy định về: An toàn lao động, vệ sinh lao động cho ngườilao động Tại điều 97 Bộ luật lao động chỉ rõ:
Người sử dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu chuẩn vềkhông gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về buị, hơi,khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hạikhác Các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường [36, tr.184]
Thực tế hiện nay ở nước ta, phần lớn các doanh nghiệp áp dụng quytrình ISO (International Standard Organization) thì sẽ đảm bảo được môitrường làm việc cho người lao động, khi đó lợi ích của người lao động sẽđược đảm bảo Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa thựchiện tốt điều kiện làm việc cho người lao động
An toàn vệ sinh lao động là chủ doanh nghiệp phải đảm bảo môitrường an toàn và vệ sinh lao động, đảm bảo sức khỏe, an toàn tính mạng chongười lao động trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp Vì vậy, nếu doanhnghiệp luôn quan tâm cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo các chế độ trangthiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân để người lao động được làm việc trongđiều kiện an toàn vệ sinh Thường xuyên phổ biến và bồi dưỡng kiến thức về
an toàn vệ sinh lao động sẽ tạo điều kiện để người lao động được đảm bảo vềsức khỏe, có điều kiện để hoàn thành tốt công việc của mình, tăng năng suất
Trang 34lao động, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và tăng thu nhập cho bản thân vàgia đình.
1.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, nâng cao trình độ cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá
Để lợi ích kinh tế cá nhân người lao động luôn luôn trở thành động lựccủa sản xuất thì bản thân người lao động không chỉ có tinh thần, thái độ laođộng đúng đắn, mà còn phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ kỹthuật, kỹ năng tay nghề của mình Đồng thời về phía doanh nghiệp phải tạođiều kiện cả về mặt vật chất và thời gian để người lao động được học nghề,được đào tạo nghề
Xét về lợi ích kinh tế thì trước hết người lao động được bồi dưỡng,đào tạo được hưởng nguồn lợi từ ngân quỹ đào tạo mà chủ doanh nghiệp bỏ
ra Nhưng cái lợi lớn hơn mà người lao động thu được đó là, qua việc bồidưỡng, nâng cao trình độ thì kỹ năng chuyên môn, trình độ tay nghề củangười lao động được nâng lên Trên cơ sở đó người lao động có khả năngnâng cao năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ của doanhnghiệp, có thể đảm nhận được những công việc ở cấp bậc cao hơn, thu nhập từlương và các khoản phụ cấp khác cũng tăng theo
Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động nhằm trang bị kiến thức căn bản hayhuấn luyện, nâng cao kỹ năng thành thạo nghề cho người lao động, để họ hoànthành tốt yêu cầu của công việc hiện tại hoặc phù hợp với yêu cầu công việcmới trong tương lai Việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, trình độ laođộng cho người lao động sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho người lao động làmcho họ phát triển năng lực sáng tạo; hình thành phong cách lao động côngnghiệp, đạo đức, lối sống mới, phát triển đời sống tinh thần, tích cực chủ độngtrong nghề nghiệp, xã hội và chính trị của người lao động
Việc bồi dưỡng tay nghề, nâng cao trình độ chuyên môn cho người laođộng có thể tiến hành bằng nhiều hình thức: kèm cặp, bồi dưỡng tại chỗ, mởcác lớp học tại doanh nghiệp, hoặc gửi công nhân đi học tại các cơ sở đào tạo
Trang 35(có thể ngắn hạn hoặc dài hạn), tổ chức tham quan các doanh nghiệp khác…qua đó người lao động có thể học tập, chia sẻ kinh nghiệm với nhau.
1.2.5 Chế độ bảo hiểm của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá
Các doanh nghiệp có trách nhiệm trích một phần từ quỹ phúc lợi cùngvới người lao động đóng góp vào mua BHYT, BHXH cho người lao động,đảm bảo đúng quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động
Chế độ bảo hiểm cho người lao động trong các doanh nghiệp nói chungbao gồm BHXH và BHYT Đây là hai loại bảo hiểm bắt buộc Ngoài ra tùytheo khả năng tài chính, doanh nghiệp có thể mua thêm các loại bảo hiểmkhác cho người lao động
BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việchuy động các nguồn vốn đóng góp để trợ cấp cho họ nhằm khắc phục nhữngkhó khăn về kinh tế do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thaisản, tai nạn lao động, thất nghiêp, tuổi già, chết…Đồng thời đảm bảo chămsóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình người lao động, góp phần
ổn định cuộc sống bản thân người lao động và gia đình, góp phần đảm bảo antoàn xã hội
Khi tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động được:
- Khám bệnh và điều trị tại các cơ sở y tế theo chế độ BHYT
- Người lao động ốm đau có giấy chứng nhận của nhân viên y tế chonghỉ việc tại nhà hoặc điều trị tại bệnh viện thì được trợ cấp ốm đau do quỹbảo hiểm xã hội trả
- Khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng BHXH, người laođộng dược hưởng chế độ hưu trí hàng tháng
- Người lao động tham gia BHXH được nhận các khoản trợ cấp vềBHXH đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn
Xét về lợi ích kinh tế, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏtrong thu nhập của mình vào quỹ BHXH, nhưng được hưởng một khoản thunhập thay thế khi họ gặp phải các rủi ro, nhằm đảm bảo đời sống cho họ vànhững người trong gia đình
Trang 361.3 CƠ CHẾ THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ
Qua phân tích ở trên một lần nữa khẳng định rằng việc nhận thức vàgiải quyết tốt mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động có
ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển Vì vậy, Đảng
và Nhà nước ta đã có những quy định pháp luật cụ thể liên quan đến việc đảmbảo lợi ích kinh tế cho người lao động
- Theo Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007, cóhiệu lực từ 01 - 7 - 2007, quy định cụ thể như sau:
+ Chương II: Việc làm
* Điều 16 quy định:
1 Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng laođộng nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Người cần tìm việclàm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức giớithiệu việc làm để tìm việc tùy theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghềnghiệp và sức khỏe của mình
2 Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổchức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao độngphù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật
* Điều 17 quy định: Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc côngnghệ mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ
12 tháng trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệmđào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thểgiải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trảtrợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấpnhất cũng bằng hai tháng lương
+ Chương III: Học nghề,điều 23 quy định:
Trang 371 Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức nâng cao trình độ nghềnghiệp cho người lao động và đào tạo lại trước khi tuyển người lao động sanglàm nghề khác trong doanh nghiệp.
2 Doanh nghiệp tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc tạidoanh nghiệp theo thời hạn cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề thìkhông phải đăng ký và không được thu học phí Thời gian học nghề, tập nghềđược tính vào thâm niên làm việc tại doanh nghiệp Trong thời gian học nghề,tập nghề, nếu trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp thìngười học nghề, tập nghề được trả công theo mức do hai bên thỏa thuận
+ Chương IV: Hợp đồng lao động
* Điều 29 quy định:
1 Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: côngviệc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làmviệc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động vàbảo hiểm xã hội đối với người lao động
2 Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng laođộng quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn mức được quy địnhtrong pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đang ápdụng trong doanh nghiệp hoặc hạn chế các quyền khác của người lao động thìmột phần hoặc toàn bộ nội dung đó phải được sửa đổi, bổ sung
* Điều 32 quy định: Người sử dụng lao động và người lao động thỏathuận về việc làm thử, thời gian thử việc, về quyền, nghĩa vụ của hai bên Tiềnlương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70% mứclương cấp bậc của công việc đó Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đốivới lao động chuyên môn kỹ thuật cao và không được quá 30 ngày đối với laođộng khác Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ thỏa thuận làmthử mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử khôngđạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sửdụng lao động phải nhận người lao động vào làm việc chính thức như đã thỏathuận
Trang 38+ Chương V: Thỏa ước lao động tập thể
* Điều 45 quy định:
1 Đại diện thương lượng thỏa ước tập thể của hai bên gồm:
a) Bên tập thể lao động là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Banchấp hành công đoàn lâm thời
b) Bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc ngườiđược ủy quyền theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy ủy quyền củaGiám đốc doanh nghiệp
Số lượng đại diện thương lượng thỏa ước tập thể của các bên do hai bênthỏa thuận
2 Đại diện ký kết của bên tập thể lao động là Chủ tịch Ban chấp hànhcông đoàn cơ sở hoặc người có giấy ủy quyền của Ban chấp hành công đoàn.Đại diện ký kết của bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệphoặc người có giấy ủy quyền của Giám đốc doanh nghiệp
3 Việc ký kết thỏa ước tập thể chỉ được tiến hành khi có trên 50% sốngười của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội dung thỏa ước đãthương lượng
* Điều 46 quy định: Nội dung chủ yếu của thỏa ước tập thể gồm nhữngcam kết về việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương; định mức lao động; an toàn laođộng, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động
+ Chương VI: Tiền lương:
* Điều 55 quy định: Tiền lương của người lao động do hai bên thỏathuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chấtlượng và hiệu quả công việc Mức lương của người lao động không được thấphơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
* Điều 56 quy định:
Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm chongười lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bìnhthường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao
Trang 39động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loạilao động khác.
Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối tiểu chung, mức lươngtối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiếnTổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động
Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của ngườilao động bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảmbảo tiền lương thực tế
* Điều 61 quy định:
1 Người lao động làm thêm giờ được trả lương theo đơn giá tiền lươnghoặc tiền lương của công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%
b) Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%
c) Vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%
Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì còn được trả thêm theo quy định tạikhoản 2 điều này
Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm, thì người sửdụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương tính theođơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm của ngày làm việcbình thường
2 Người lao động làm việc vào ban đêm quy định tại Điều 70 của Bộluật này, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiềnlương hoặc tiền lương của công việc đang làm vào ban ngày
+ Chương VII: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi:
* Điều 68 quy định:
1 Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trongmột tuần Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theongày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết
Trang 402 Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đốivới những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểmtheo danh mục do Bộ lao động - thương binh và Xã hội và Bộ y tế ban hành.
* Điều 69 quy định: Người sử dụng lao động và người lao động có thểthỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờtrong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không được quá
300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến củaTổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động
* Điều 70 quy định: Thời giờ làm việc ban đêm tính từ 22 giờ đến 6 giờhoặc từ 21 giờ đến 5 giờ, tùy theo vùng khí hậu do Chính phủ quy định
1 Mỗi tuần người lao động được nghỉ ít nhất một ngày ( 24 giờ liên tục)
2 Người sử dụng lao động có thể sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần vào chủnhật hoặc vào một ngày cố định khác trong tuần
3 Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hàngtuần thì người sử dụng lao động phải bảo đảm cho người lao động được nghỉtính bình quân một tháng ít nhất là bốn ngày
* Điều 73 quy định: Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyênlương những ngày lễ sau đây:
- Tết dương lịch: một ngày (ngày 1 tháng 1 dương lịch)
- Tết âm lịch: bốn ngày (một ngày cuối năm và ba ngày đầu năm âm lịch)
- Ngày giỗ tổ Hùng Vương: một ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch)
- Ngày Chiến thắng: một ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch)