MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong dòng chảy phát triển của lịch sử có một lực lượng to lớn để làm nên sức mạnh và niềm tự hào của dân tộc. Đó chính là nhân dân. Những nhà tư tưởng lớn của dân tộc đã từng có những tổng kết: “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “dân vi quý, xã tắc thứ chi”... Dân chính là chủ thể của dân tộc, tự đứng lên bằng chính sức mạnh nội sinh, tình đoàn kết, lòng nồng nàn yêu nước để bảo vệ chủ quyền dân tộc. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ chính là cuộc kháng chiến thần thánh, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết, đó là cuộc “chiến tranh nhân dân”, bởi nó được gột lên từ chính sự cố kết của cộng đồng, ý thức tự giác của mỗi một người dân, niềm tin vào chính nghĩa, vào ngày mai thắng lợi.Ngày nay đất nước đã sang một trang mới, công cuộc đổi mới bước đầu đã giành được những thành tựu đáng kể, chủ thể tiên phong trong công cuộc đổi mới chính là nhân dân, bài học xuyên suốt các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X mà Đảng ta quán triệt khi lãnh đạo đất nước đó chính là “lấy dân làm gốc”, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, các mặt trận đoàn thể đều trên cơ sở tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân. Trên bình diện lý luận và thực tiễn đều có sự xuất hiện của nhân dân với tư cách là chủ thể của xã hội. Mặt khác ta cũng thấy rằng, xã hội càng phát triển thì đi kèm theo nó là những nguy cơ, các nguy cơ không hề được dập tắt mà trái lại nó lại được nhân lên trong những điều kiện mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: đất nước ta đối diện với những “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta” [19, tr.22]. Đối diện và chịu những ảnh hưởng trực tiếp từ những nguy cơ này chính là những người dân, đặc biệt là những người dân ở cơ sở - cộng đồng dân cư - người dân ở đây tồn tại cùng chiều dài của lịch sử dân tộc, nơi nẩy sinh các mối quan hệ xã hội vững bền của dân tộc. Ngày nay cùng sự đi lên của đất nước thì cộng đồng dân cư chính là nhân tố để kiến tạo nên một xã hội mới. Nhưng chính trong điều kiện hiện nay, lại đặt ra vấn đề là làm sao phát huy được hiệu quả của cộng đồng dân cư, đặt nó trong yêu cầu cần được tự giác cao. Có một chủ thể nhận biết và phát huy được giá trị của cộng đồng dân cư một cách trực tiếp nhất là chính quyền cơ sở, là vai trò quản lý, chỉ đạo của nhà nước bằng pháp luật, bằng các chính sách, quy định hiện hành nhưng vấn đề là phát huy tính hiệu quả của nó tới mỗi một người dân, “bàn tay dài” của Nhà nước có với tới dân cư ở cơ sở không, người dân miền xuôi cũng như miền ngược có được ấm no, sung túc không, có bị đe doạ hay bị bóc tách tại cộng đồng mà mình đang sinh sống không? Vấn đề không phải là không có chính quyền, không có pháp luật, không có chính sách, nhưng vấn đề là án lệnh không được thực thi, chính sách không được chấp hành. Ở đây, chính là mối quan hệ giữa chủ trương và hiệu quả, giữa quản lý của chính quyền và tự quản của cộng đồng dân cư; những kết quả mà mỗi cá nhân cần thực hiện, không có gì tốt bằng tự thân chủ thể hành động, phát huy sức mạnh nội tại và một bên là sự quản lý của chính quyền cơ sở, cần tránh hai thái cực: buông lỏng quản lý hay o ép hoạt động chủ động tích cực của cộng đồng. Vậy ở đây đặt ra vấn đề thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở.Có một nhân tố tác động sâu sắc đến cộng đồng dân cư cơ sở, đó chính là cơ chế thị trường. Một mặt thị trường là sản phẩm tiến bộ của nhân loại nhưng mặt khác cơ chế của nó tác động rất khốc liệt, song hành với nó thì người dân phải đối mặt với cơm, áo, gạo, tiền, xăng dầu, lửa điện. Người nông dân sau một đêm tỉnh dậy thấy mình không còn là chính mình nữa, nguy cơ về tương lai sẽ ra sao khi ruộng đất không còn, nguy cơ của sản phẩm làm ra bị tư thương ép giá, tương lai con cái học hành như thế nào với mức học phí quá cao tại một trường học nào đó. Chúng ta vẫn nói đến dân chủ tức dân là chủ và dân làm chủ; nhưng thực tế có như vậy không? Cộng đồng dân cư chính là nơi chứa đựng những hậu quả của việc quyền lực nhà nước, quyền lực của dân, quyền lực của luật pháp, của những cá nhân được uỷ quyền nhưng không được kiểm soát chặt chẽ. Tại chính những cơ sở, một số cán bộ tự xem mình là “quan cơ sở” lợi dụng quyền lực cá nhân để trục lợi, đục khoét của dân, trong sớm chiều trở thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi. Vậy nên các chính sách, pháp luật về đến cộng đồng dân cư không được chấp hành hoặc bị méo mó, xuyên tạc. Đơn thư tố giác của người dân từ các cơ sở cộng đồng cứ gửi lên chồng chất mà không được giải quyết kịp thời. Tất cả những điều này đang giằng xé lấy đời sống thực tiễn của người dân; cái quyền lực của đa số, của một xã hội công dân sẽ được thể hiện và phát huy như thế nào? Cộng đồng dân cư phải làm gì để tự bảo vệ mình, không có một liều thuốc vắcxin để phòng ngừa hữu hiệu hết cho các loại bệnh. Phải chăng người dân tại các cộng đồng cần chủ động đề xuất, chủ động tổ chức, chủ động kết nối, chủ động thực hiện, chủ động kiểm tra, giám sát....Tựu trung lại đó chính là tính tự quản của cộng đồng dân cư ở tại chính quyền cơ sở.Chính quyền cơ sở- nơi được xem là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nhưng lại chịu sự chi phối trực tiếp nhất trong việc thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, nơi mà người dân được phát huy quyền làm chủ của mình với nhiều vấn đề thực tế nhất.Đại hội X của Đảng xác định: “Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển là chìa khoá của thành công” [19, tr.71]. Để thực hiện được điều đó thì một vấn đề quan trọng là chúng ta cần phải nâng cao vai trò chủ động của cộng đồng dân cư như một lăng kính phản ngược lại để chứng minh cho tính hiệu quả trong quản lý của nhà nước tại cơ sở.Thực tiễn cấp bách như thế bởi nó liên quan đến vận mệnh của người dân, của những nhu cầu thiết yếu của một xã hội công dân sinh động tại các cộng đồng dân cư cơ sở, nhưng lý luận để soi đường, để hướng dẫn, để tổ chức, để lý giải một cách sâu sắc có tính hệ thống thì đôi lúc lại chậm hơn một bước, nếu không nói đó là sự tụt hậu của lý luận trong vấn đề này. Ở nước ta, thực tiễn đặt ra cho tính tự quản của cộng đồng dân cư không phải là mới, nó xuất hiện ở miền bắc từ đầu những năm 60, khi tính tự quản của cộng đồng đánh giặc giữ nước chuyển sang tính cộng đồng của xây dựng quê hương, nhưng để phát huy tính tự quản của người dân tại các cộng đồng dân cư dưới sự bảo hộ của nhà nước thì lại là một quá trình đề xuất của người dân. Đến nay, vấn đề này qua các công trình lý luận nghiên cứu vẫn còn rất ít, có chăng chỉ là những đề xuất giải pháp khi các tác giả muốn phát huy tính hiệu quả của hệ thống chính trị, của tổ chức cơ sở đảng, của nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội, của quy chế dân chủ, của hiệu quả thực thi pháp luật, của vấn đề nông thôn, nông nghiệp... Trong khi đó phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, đất nước ta đi từ xã hội phong kiến thuần nông, với hơn 70% dân số làm nghề nông, cả một xã hội rộng lớn nằm ở đây, xoay xung quanh nó là một hỗn hợp những vấn đề, những nội dung đan xen và không đan xen, chính đáng và không chính đáng, hình thức hay thực quyền đều hiển hiện ở đây. Trên thế giới, nghiên cứu vấn đề này với tính cách là xã hội dân sự, còn ở nước ta vấn đề này mới được đặt ra và chưa được giải quyết thấu đáo, đặc biệt là triển khai và áp dụng lý thuyết này phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam. Và trong thực tiễn thì các nước như cộng hoà liên bang Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Hàn Quốc đều đã triển khai mạnh mẽ giao quyền tự quản cho cộng đồng dân cư như một phương cách hữu hiệu nhất cho việc làm chủ của người dân và thực sự đã thành một đối trọng tạo cân bằng quyền lực trong xã hội. Vì vậy chúng ta cần có một hệ thống lý luận cho vấn đề này xứng tầm với yêu cầu của thực tiễn.Sở dĩ chọn cộng đồng dân cư xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương Tỉnh Nghệ an làm mẫu nghiên cứu, bởi xuất phát nằm trong địa bàn tỉnh Nghệ An là cộng đồng dân cư trung chuyển các đặc thù của cộng đồng dân cư miền Bắc và miền Nam. Người dân Nghệ An đông đúc với nhiều loại hình cộng đồng tiêu biểu như cộng đồng dân cư thuần nông, cộng đồng dân cư dân tộc, cộng đồng dân cư nông công dịch vụ, cộng đồng dân cư nông trường... Cộng đồng dân cư Nghệ An luôn tự hào về truyền thống cố kết cộng đồng trong việc giữ làng, giữ nước, tinh thần sáng tạo, hiếu học của ông đồ xứ Nghệ, ý chí quật cường của Xô viết Nghệ tĩnh vv... Ngày nay, hoà cùng khí thế đổi mới của cả nước, dù xa các trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, nhiều vấn đề thực tiễn bức xúc nổi cộm, nhiều điều kiện khó khăn, lực cản khách quan và chủ quan, nhưng cộng đồng dân cư Nghệ An vẫn là một cộng đồng tiêu biểu của cả nước trong việc phát huy sức mạnh nội sinh, nhằm phát huy tính tự quản của mình mà xã Đồng Văn là một điển hình. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi chọn đề tài “Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở”(Qua khảo sát thực tiễn ở xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
Trang 1chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học
về làm việc tại chính quyền cơ sở
Trang 2
HÀ NỘI - 2009
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong dòng chảy phát triển của lịch sử có một lực lượng to lớn để làmnên sức mạnh và niềm tự hào của dân tộc Đó chính là nhân dân Những nhà
tư tưởng lớn của dân tộc đã từng có những tổng kết: “Đẩy thuyền cũng là dân,lật thuyền cũng là dân”, “dân vi quý, xã tắc thứ chi” Dân chính là chủ thểcủa dân tộc, tự đứng lên bằng chính sức mạnh nội sinh, tình đoàn kết, lòngnồng nàn yêu nước để bảo vệ chủ quyền dân tộc Cuộc kháng chiến trường kỳchống Pháp, chống Mỹ chính là cuộc kháng chiến thần thánh, như lời Chủtịch Hồ Chí Minh tổng kết, đó là cuộc “chiến tranh nhân dân”, bởi nó đượcgột lên từ chính sự cố kết của cộng đồng, ý thức tự giác của mỗi một ngườidân, niềm tin vào chính nghĩa, vào ngày mai thắng lợi
Ngày nay đất nước đã sang một trang mới, công cuộc đổi mới bước đầu
đã giành được những thành tựu đáng kể, chủ thể tiên phong trong công cuộcđổi mới chính là nhân dân, bài học xuyên suốt các kỳ Đại hội VI, VII, VIII,
IX, X mà Đảng ta quán triệt khi lãnh đạo đất nước đó chính là “lấy dân làmgốc”, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, các mặttrận đoàn thể đều trên cơ sở tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân Trên bìnhdiện lý luận và thực tiễn đều có sự xuất hiện của nhân dân với tư cách là chủthể của xã hội Mặt khác ta cũng thấy rằng, xã hội càng phát triển thì đi kèmtheo nó là những nguy cơ, các nguy cơ không hề được dập tắt mà trái lại nólại được nhân lên trong những điều kiện mới Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X của Đảng xác định: đất nước ta đối diện với những “nguy cơ tụt hậu xahơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phậncán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng.Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục
Trang 4Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gâybạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thayđổi chế độ chính trị ở nước ta” [19, tr.22] Đối diện và chịu những ảnh hưởngtrực tiếp từ những nguy cơ này chính là những người dân, đặc biệt là nhữngngười dân ở cơ sở - cộng đồng dân cư - người dân ở đây tồn tại cùng chiều dàicủa lịch sử dân tộc, nơi nẩy sinh các mối quan hệ xã hội vững bền của dân tộc.
Ngày nay cùng sự đi lên của đất nước thì cộng đồng dân cư chính lànhân tố để kiến tạo nên một xã hội mới Nhưng chính trong điều kiện hiệnnay, lại đặt ra vấn đề là làm sao phát huy được hiệu quả của cộng đồng dân
cư, đặt nó trong yêu cầu cần được tự giác cao Có một chủ thể nhận biết vàphát huy được giá trị của cộng đồng dân cư một cách trực tiếp nhất là chínhquyền cơ sở, là vai trò quản lý, chỉ đạo của nhà nước bằng pháp luật, bằngcác chính sách, quy định hiện hành nhưng vấn đề là phát huy tính hiệu quảcủa nó tới mỗi một người dân, “bàn tay dài” của Nhà nước có với tới dân
cư ở cơ sở không, người dân miền xuôi cũng như miền ngược có được ấm
no, sung túc không, có bị đe doạ hay bị bóc tách tại cộng đồng mà mìnhđang sinh sống không? Vấn đề không phải là không có chính quyền, không
có pháp luật, không có chính sách, nhưng vấn đề là án lệnh không đượcthực thi, chính sách không được chấp hành Ở đây, chính là mối quan hệgiữa chủ trương và hiệu quả, giữa quản lý của chính quyền và tự quản củacộng đồng dân cư; những kết quả mà mỗi cá nhân cần thực hiện, không có
gì tốt bằng tự thân chủ thể hành động, phát huy sức mạnh nội tại và mộtbên là sự quản lý của chính quyền cơ sở, cần tránh hai thái cực: buông lỏngquản lý hay o ép hoạt động chủ động tích cực của cộng đồng Vậy ở đâyđặt ra vấn đề thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở
Có một nhân tố tác động sâu sắc đến cộng đồng dân cư cơ sở, đóchính là cơ chế thị trường Một mặt thị trường là sản phẩm tiến bộ của nhânloại nhưng mặt khác cơ chế của nó tác động rất khốc liệt, song hành với nó
Trang 5thì người dân phải đối mặt với cơm, áo, gạo, tiền, xăng dầu, lửa điện.Người nông dân sau một đêm tỉnh dậy thấy mình không còn là chính mìnhnữa, nguy cơ về tương lai sẽ ra sao khi ruộng đất không còn, nguy cơ củasản phẩm làm ra bị tư thương ép giá, tương lai con cái học hành như thếnào với mức học phí quá cao tại một trường học nào đó Chúng ta vẫn nóiđến dân chủ tức dân là chủ và dân làm chủ; nhưng thực tế có như vậykhông? Cộng đồng dân cư chính là nơi chứa đựng những hậu quả của việcquyền lực nhà nước, quyền lực của dân, quyền lực của luật pháp, củanhững cá nhân được uỷ quyền nhưng không được kiểm soát chặt chẽ Tạichính những cơ sở, một số cán bộ tự xem mình là “quan cơ sở” lợi dụngquyền lực cá nhân để trục lợi, đục khoét của dân, trong sớm chiều trở thànhmột tầng lớp đặc quyền, đặc lợi Vậy nên các chính sách, pháp luật về đếncộng đồng dân cư không được chấp hành hoặc bị méo mó, xuyên tạc Đơnthư tố giác của người dân từ các cơ sở cộng đồng cứ gửi lên chồng chất màkhông được giải quyết kịp thời Tất cả những điều này đang giằng xé lấyđời sống thực tiễn của người dân; cái quyền lực của đa số, của một xã hộicông dân sẽ được thể hiện và phát huy như thế nào? Cộng đồng dân cư phảilàm gì để tự bảo vệ mình, không có một liều thuốc vắcxin để phòng ngừahữu hiệu hết cho các loại bệnh Phải chăng người dân tại các cộng đồng cầnchủ động đề xuất, chủ động tổ chức, chủ động kết nối, chủ động thực hiện,chủ động kiểm tra, giám sát Tựu trung lại đó chính là tính tự quản củacộng đồng dân cư ở tại chính quyền cơ sở.
Chính quyền cơ sở- nơi được xem là cấp thấp nhất trong hệ thống chínhtrị nhưng lại chịu sự chi phối trực tiếp nhất trong việc thực thi các chủ trương,chính sách, pháp luật của nhà nước, nơi mà người dân được phát huy quyềnlàm chủ của mình với nhiều vấn đề thực tế nhất
Đại hội X của Đảng xác định: “Những ý kiến, nguyện vọng và sángkiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi
Trang 6mới của Đảng Dựa vào dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kếtthực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển là chìakhoá của thành công” [19, tr.71] Để thực hiện được điều đó thì một vấn đềquan trọng là chúng ta cần phải nâng cao vai trò chủ động của cộng đồng dân
cư như một lăng kính phản ngược lại để chứng minh cho tính hiệu quả trongquản lý của nhà nước tại cơ sở
Thực tiễn cấp bách như thế bởi nó liên quan đến vận mệnh của ngườidân, của những nhu cầu thiết yếu của một xã hội công dân sinh động tại cáccộng đồng dân cư cơ sở, nhưng lý luận để soi đường, để hướng dẫn, để tổchức, để lý giải một cách sâu sắc có tính hệ thống thì đôi lúc lại chậm hơnmột bước, nếu không nói đó là sự tụt hậu của lý luận trong vấn đề này Ởnước ta, thực tiễn đặt ra cho tính tự quản của cộng đồng dân cư không phải làmới, nó xuất hiện ở miền bắc từ đầu những năm 60, khi tính tự quản của cộngđồng đánh giặc giữ nước chuyển sang tính cộng đồng của xây dựng quêhương, nhưng để phát huy tính tự quản của người dân tại các cộng đồng dân
cư dưới sự bảo hộ của nhà nước thì lại là một quá trình đề xuất của người dân.Đến nay, vấn đề này qua các công trình lý luận nghiên cứu vẫn còn rất ít, cóchăng chỉ là những đề xuất giải pháp khi các tác giả muốn phát huy tính hiệuquả của hệ thống chính trị, của tổ chức cơ sở đảng, của nhà nước, của các tổchức chính trị xã hội, của quy chế dân chủ, của hiệu quả thực thi pháp luật,của vấn đề nông thôn, nông nghiệp Trong khi đó phải nhìn nhận một cáchkhách quan rằng, đất nước ta đi từ xã hội phong kiến thuần nông, với hơn70% dân số làm nghề nông, cả một xã hội rộng lớn nằm ở đây, xoay xungquanh nó là một hỗn hợp những vấn đề, những nội dung đan xen và khôngđan xen, chính đáng và không chính đáng, hình thức hay thực quyền đều hiểnhiện ở đây Trên thế giới, nghiên cứu vấn đề này với tính cách là xã hội dân
sự, còn ở nước ta vấn đề này mới được đặt ra và chưa được giải quyết thấuđáo, đặc biệt là triển khai và áp dụng lý thuyết này phù hợp với điều kiện đặc
Trang 7thù của Việt Nam Và trong thực tiễn thì các nước như cộng hoà liên bangĐức, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Hàn Quốc đều đã triển khai mạnh mẽ giaoquyền tự quản cho cộng đồng dân cư như một phương cách hữu hiệu nhất choviệc làm chủ của người dân và thực sự đã thành một đối trọng tạo cân bằngquyền lực trong xã hội Vì vậy chúng ta cần có một hệ thống lý luận cho vấn
đề này xứng tầm với yêu cầu của thực tiễn
Sở dĩ chọn cộng đồng dân cư xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương TỉnhNghệ an làm mẫu nghiên cứu, bởi xuất phát nằm trong địa bàn tỉnh Nghệ An
là cộng đồng dân cư trung chuyển các đặc thù của cộng đồng dân cư miềnBắc và miền Nam Người dân Nghệ An đông đúc với nhiều loại hình cộngđồng tiêu biểu như cộng đồng dân cư thuần nông, cộng đồng dân cư dân tộc,cộng đồng dân cư nông công dịch vụ, cộng đồng dân cư nông trường Cộngđồng dân cư Nghệ An luôn tự hào về truyền thống cố kết cộng đồng trongviệc giữ làng, giữ nước, tinh thần sáng tạo, hiếu học của ông đồ xứ Nghệ, ýchí quật cường của Xô viết Nghệ tĩnh vv Ngày nay, hoà cùng khí thế đổimới của cả nước, dù xa các trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước, nhiều vấn
đề thực tiễn bức xúc nổi cộm, nhiều điều kiện khó khăn, lực cản khách quan
và chủ quan, nhưng cộng đồng dân cư Nghệ An vẫn là một cộng đồng tiêubiểu của cả nước trong việc phát huy sức mạnh nội sinh, nhằm phát huy tính
tự quản của mình mà xã Đồng Văn là một điển hình
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi chọn đề tài “Hoạt động tự
quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở”(Qua khảo sát thực tiễn ở xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu của tôi các công trình nghiên cứu về hoạt động tự quảncủa cộng đồng dân cư là không nhiều, đặc biệt là các nhà nghiên cứu chưa đisâu bàn bạc các nội dung trọng tâm, các giải pháp cụ thể của nó, để từ đó khái
Trang 8quát lên thành một hệ thống lý luận đem áp dụng vào thực tiễn Thường thìcác tác giả đã đề cập đến ít nhiều về tính tất yếu của cộng đồng dân cư trongviệc tồn tại và phát triển của nó, về vai trò nên áp dụng tính tự quản ở cộngđồng cơ sở mang tính chất thuận chiều từ hệ thống chính trị từ trên xuống chứchưa thực sự xem nó là một chủ thể thực sự của việc nghiên cứu Có nhiều tácgiả cũng đã mục sở thị các mô hình chính quyền địa phương các nước trên thếgiới nhưng vẫn là một lý luận mở, bởi các tác giả cũng chưa nhắc đến việcứng dụng cụ thể trong điều kiện Việt Nam, đặc biệt là thực tiễn hiện nay ở cáccộng đồng dân cư Việt thì tính tự quản được thể hiện và phát huy như thế nào.Một số công trình khác cũng đã bóc tách được vấn đề cộng đồng dân cư rakhỏi chính quyền nhưng dụng ý của tác giả cũng là để phát huy có hiệu quảcác chính sách của nhà nước ở cơ sở, đặc biệt là chính sách với cấp xã Tuynhiên khi nghiên cứu về đề tài này thì không thể bỏ qua các công trình nghiêncứu sau:
- Đề tài: “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay” do TS Nguyễn Văn
Sáu làm chủ nhiệm Đây là đề tài huy động được đông đảo tập thể các nhànghiên cứu lý luận giàu kinh nghiệm, nó đã đáp ứng được phần nào thực tiễnđang đặt ra cho việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền
cơ sở theo tinh thần Nghị quyết trung ương 5 khoá IX Các tác giả đã cungcấp được khá đầy đủ những cơ sở thực tiễn và lý luận về cộng đồng làng xãhiện nay như thực trạng và giải pháp xây dựng chính quyền cơ sở, vấn đề pháthuy dân chủ ở cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ, huy động các nguồn nhân lực
và tài chính từ cộng đồng, vấn đề huy động sức dân, các giải pháp để chốngđói nghèo ở cộng đồng dân cư làng xã Tác giả lấy thực tế từ các địa phương
cơ sở để chứng minh cho tính đúng đắn của lý luận
- Đề tài: “Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho Việt Nam” của tác giả Đặng Kim Sơn Đây là một cách nghiên cứu theo
hướng khá mới mẻ và thú vị Thông qua các mô hình, các hộp dữ liệu ở cácnước cũng như của đất nước mình mà tác giả đã dày công nghiên cứu, mổ xẻ
Trang 9để lý giải về mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng thànhmột lực lượng ngang hàng với nhà nước và thị trường Tên gọi cộng đồng trongsách này để chỉ loại cơ chế quan hệ và xử thế của từng cá nhân hoặc giữa cácnhóm người với nhau theo một số quy luật trong xã hội loài người.
Bằng các dẫn chứng của mình, tác giả đã nêu ra được những mặt tốtđẹp của cơ chế cộng đồng như lá chắn để bảo vệ quyền lợi của cá nhân, môitrường phát triển xã hội, khắc phục được những mặt yếu của cơ chế này nhưtính cục bộ họ mạc huyết thống, đúng sai đều dễ lây truyền Đây cũng chính
là một cơ sở để hiểu về cộng đồng dân cư sinh động, đa dạng và phức tạp
- Đề tài: “Vai trò của các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ ở
cơ sở” PGS.TSKH.Phan Xuân Sơn Tác giả đã nghiên cứu sâu sắc và khoa
học về một vấn đề mà tác giả xem là hướng nghiên cứu đúng và cần đầu tưhơn nữa Đó chính là xã hội công dân (cách nói hiện đại về cộng đồng dân cư)nền tảng cho vấn đề chính sách dân tộc; sức mạnh của cộng đồng thể hiện ởkhả năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia ra quyết định và tự huyđộng lực lượng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự chủ của cơ sở
Từ đây tác giả đã đề ra việc thực hiện tự trị và tự quản bằng cách nâng caohiệu quả hoạt động của các đoàn thể nhân dân
- Đề tài: "Tổ chức quản lý ở thôn, ấp, bản Thực trạng và giải pháp đổi mới, hoàn thiện” của TS Phạm Hữu Nghị Xuất phát từ quan điểm: Thôn, ấp,
bản không phải là cấp chính quyền mà là một tổ chức của công đồng dân cư,tác giả đã đề xuất đã đề xuất những giải pháp đổi mới, hoàn thiện các thiếtchế để quản lý nó Tác giả khẳng định rõ: Trưởng thôn chỉ là người đại diệncho cộng đồng dân cư và bỏ quy định trưởng thôn là người đại diện choUBND xã; đồng thời UBND xã chịu trách nhiệm quản lý hành chính nhànước trên toàn bộ địa bàn xã, còn thôn chỉ là đơn vị tổ chức do nhân dân tựquản; các thiết chế quản lý ở thôn, ấp, bản là thiết chế tự quản chứ không phảiđại diện của chính quyền xã, cánh tay nối dài của chính quyền xã; mặt khác
Trang 10cần đổi mới phương thức xây dựng hương ước, quy ước cho phù hợp với tínhđặc thù của mỗi cộng đồng dân cư.
- Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:
Hoàng Đức Sơn, Những đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị đảm bảo tốt dân chủ ở cơ sở, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2000.
Chu Văn Hưởng, Vấn đề phân cấp, phân quyền trong thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ
- Vấn đề quyền lực chính trị và thực thi quyền lực chính trị, (Báo cáo
tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2008) PGS,TSKH Phan Xuân Sơn,Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
- Một số lý thuyết và kinh nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới, 2005,
Thang Văn Phúc, Nguyễn Đăng Thành (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã Ban tổ chức cán
bộ Chính phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
- Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, TS Đào Duy Úc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Hệ thống chính trị cơ sở Đặc điểm xu hướng - những vấn đề bức xúc
(Kỷ yếu), TS Vũ Hoàng Công, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2001
- Hoạch định chính sách ở Việt Nam hiện nay - Tiếp cận bước đầu thông qua quá trình hoạch định chính sách đối với cán bộ cấp xã, (Trích từ đề tài
cấp bộ: Chính sách và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách ởViệt Nam) TS Nguyễn Đăng Thành, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2002
- Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay PGS Hoàng
Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Trang 11- Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay Đồng
chủ biên PGS,TSKH Phan Xuân Sơn-ThS Lưu Văn Quảng, Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2005
- Chính sách và chiến lược giảm bất bình đẳng và nghèo đói, Diễn đàn
kinh tế tài chính Việt Pháp, 2003
- Nông hội làng Hồ Chí Minh Trích Văn kiện Đảng toàn tập (giai
đoạn 1924-1930)
- Dân tộc học đại cương, Lê Sỹ Giáo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.
- Tâm lý người Việt Nam đi vào cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá -những diều cần khắc phục, Phạm Minh Hạc, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2004.
- Chuyện nhà chuyện nước, Hữu Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
- Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
- Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm Trần Quốc Vượng, Nxb Văn
hoá dân tộc, Hà Nội, 2000
- Chủ nghĩa tam dân Tôn Trung Sơn Viện thông tin khoa học xã hội,
Hà Nội, 1995
- Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi (Báo cáo nhanh về tình hình
phát triển thế giới năm 1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
- Thể chế chính trị, PGS,TS Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Nxb
- Bùi Ngọc Sơn (2002), “Trống làng nào làng ấy đánh”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Số 12
Trang 12- Phùng Văn Hùng (2006), “Tăng cường tính tự quản của chính quyền địa phương góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành ngân sách nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 4.
- Nguyễn Văn Thâm (2000), “Một số vấn đề quản lý nhà nước ở thôn bản hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1.
- Nguyễn Hữu Hải (2005), “Vài nét về chính quyền địa phương Đan Mạch”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1.
- Nguyễn Đức Hạnh (2001), “Vài nét về chính quyền địa phương Hoa Kỳ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,Số 2
- Nguyễn Xuân Diên (2002), “Thẩm phán làng”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, Số 2
Nhìn chung các công trình, các bài viết đã đóng góp những kiến giải nhấtđịnh có liên quan đến tính tự quản của công đồng dân cư với việc thực thi quyềnlực nhà nước ở cơ sở, tuỳ góc độ nghiên cứu mà các tác giả đã có cách khai thác
lý luận và gắn với thực tiễn khác nhau Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứuchuyên sâu toàn diện về tính tự quản của cộng đồng dân cư với việ thực thi quyềnlực nhà nước ở cơ sở Đặc biệt là lấy mẫu thực tế ở xã Đồng văn, Huyện ThanhChương, Tỉnh Nghệ An Vì vậy việc chọn đề tài này để nghiên cứu sẽ góp phầnlàm sáng tỏ thêm lý luận và thực tiễn về vấn đề nêu trên
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt
động tự quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ
sở qua khảo sát tại xã Đồng văn, Huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An, từ đó tìm
ra giải pháp hữu hiệu để phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của cộng đồng dân cưtrong việc quản lý của nhà nước ở cơ sở đáp ứng yêu cầu của đổi mới đất nướctrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Nhiệm vụ:
Trang 13- Làm rõ quan niệm, vai trò, đặc điểm, phương thức của hoạt động tựquản cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở.
- Nêu những thực trạng hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư trongviệc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở, làm rõ những nội dung của hoạtđộng tự quản của cộng đồng dân cư và sự quản lý của nhà nước ở cơ sở quakhảo sát ở xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất những giải pháp hữu hiệu để thực hiện tốt hoạt động tự quảncủa cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở đáp ứngyêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ trong tình hình mới đặt ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tự quản ở các cộng đồng dân
cư thông qua các Hương ước, quy ước, quy chế dân chủ, mối quan hệ, nhữngvấn đề nổi cộm mà người dân đặt ra
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tính kế thừa, chuyển giao hoạt động tự quản của cộngđồng dân cư từ lịch sử để lại Nhưng tập trung nghiên cứu thời kỳ đổi mới CNH,HĐH đất nướcvà xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương là điển hình
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách,pháp luật của nhà nước; lý luận khoa học, tiến bộ của các nhà nghiên cứutrong và ngoài nước về những nội dung liên quan đến hoạt động tự quản củacác cộng đồng dân cư ở chính quyền cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng phương pháp luận khoa học của chủnghĩa Mác-Lênin, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; giữa
Trang 14phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn giải và quy nạp, giữa phương pháplôgíc và lịch sử; đồng thời kết hợp với điều tra và khảo sát tình hình thực tế.
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ vị trí, vai trò, phương thức và phát huy sự chủ động, sáng tạohoạt động tự quản của các cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhànước ở cơ sở nói riêng, chính sách pháp luật của nhà nước, sự phát triển của
xã hội nói chung
- Đánh giá đúng thực trạng tính tự quản của các cộng đồng dân cưtrong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở và đưa ra một số giải pháp khảthi áp dụng thực tiễn
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu,tham khảo vận dụng cho các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, cáccấp chính quyền địa phương trong cả nước và riêng ở tỉnh Nghệ An
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu hoặcnhững ai quan tâm vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần ở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 15Chương 1 HOẠT ĐỘNG TỰ QUẢN CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC
THỰC THI QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở CƠ SỞ
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư là gì?
1.1.1.1 Cộng đồng
Theo Từ điển Tiếng Việt, cộng đồng là "toàn thể những người cùng
sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xãhội” [3, tr.192]
Có định nghĩa lại cho rằng: Cộng đồng là “Một tập hợp người sốngthành một xã hội trong cùng thời gian, trên cùng một lãnh thổ đã được xácđịnh, có chung đặc điểm tâm lý, tình cảm, có quan hệ gắn bó với nhau thànhmột khối và tạo ra một mạng lưới thông tin với nhau” [84, tr.15-16]
Khái niệm cộng đồng chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tươngđối khác về quy mô, đặc tính xã hội Nói đến khái niệm cộng đồng có thể lànhững khối tập hợp người, các liên minh rộng lớn như cộng đồng thế giới,cộng đồng Châu Âu Nhỏ hơn, cộng đồng có thể là một kiểu/ hạng xã hội,căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôngiáo Nhỏ hơn, danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản
là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung
về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp, thân phận xã hội [29, tr.15-16]
Quan điểm truyền thống sử dụng thuật ngữ cộng đồng như là một cảmnghĩ, khi con người có ý thức cộng đồng, là cảm giác chung của cộng đồngđược xác nhận thông qua việc tôn trọng các biểu tượng, các đặc điểm riêng cócủa cộng đồng
Quan điểm hiện đại cho rằng:
Trang 16Cộng đồng là một thuật ngữ dùng để mô tả một tổ chức xã hộiđạt trình độ cao trong tổ chức và hoạt động Nó là một nơi, một tậpthể địa lý giống như một làng, một thành phố hay một trung tâm.Một cộng đồng là một tổ chức xã hội có quan tâm đến những nhucầu cơ bản như kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, chính trị của cácthành viên của mình [8, tr.34]
Cộng đồng được xác định là những người sống và làm việc trong mộtkhu vực địa lý nhất định Điều đó có nghĩa là cộng đồng bao gồm tất cả cácthành viên của gia đình, không chỉ bao gồm chủ hộ Cộng đồng bao gồm các
tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho các quanđiểm của họ" [61, tr.5]
Thuật ngữ cộng đồng còn được hiểu như là một phân thể/ đơn vị/ nhómngười trong hệ thống xã hội, ở đó mọi người ý thức được những đặc trưng vàtính chất chung về những gì mà mình đang có Quan niệm mác-xít cho rằng:Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sựcộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiệntồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồmcác hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa
họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tươngđồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mụctiêu và phương tiện hoạt động [29]
Về bản chất của cộng đồng hoàn chỉnh, J.H.Fitcher cho rằng, cộng đồngbao gồm 4 yếu tố: (1) tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tươngquan này đôi khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt,tương quan thân mật; (2) có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc cá nhân trongnhững nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3) có sự hiến dâng tinh thầnhoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (4)một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể [36, tr.79-80]
Trang 17Vậy, cộng đồng chính là tập hợp những người cùng sống và hoạt động trong một môi trường tương đồng nhất định như cùng khu vực địa lý,
có chung đặc điểm tâm lý, tình cảm gắn bó, hệ giá trị chuẩn mực, điều kiện sống Cộng đồng bao gồm các tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho quan điểm và hoạt động của họ
1.1.1.2 Cộng đồng dân cư
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì dân cư là "toàn bộ những người đang cư
trú trên một địa bàn lãnh thổ nhất định một cách tự nhiên trong lịch sử và pháttriển không ngừng” [86, tr.518]
Hoặc có thể định nghĩa dân cư là “tập hợp những người có nhữngđiểm giống nhau làm thành một khối như là xã hội” [3, tr.461] Theo đó,trong phạm vi luận văn, cộng đồng dân cư được nhắc tới có thể hiểu là mộtnhóm dân cư sinh sống trong một thực thể xã hội, trong một địa vực nhấtđịnh, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và có cùng hệ giá trị chuẩn mực
1.1.1.3 Hoạt động, hoạt động tự quản
Hoạt động:
Là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thếgiới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộcsống của mình Trong mối quan hệ ấy chủ thể của hoạt động là conngười, khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tácđộng vào tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của chủ thể Mục đíchtrên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều hoạt động: Kinh
tế, chính trị, xã hội, quân sự, tư tưởng, lý luận văn hoá, tâm lývv Nhưng hình thức cơ bản, có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xãhội Hoạt động thường được chia làm 2 loại: Hoạt động hướngngoại nhằm cải tạo thiên nhiên, xã hội Hoạt động hướng nội nhằmcải tạo bản thân con người Hai loại hoạt động ấy gắn liền mật thiếtvới nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo
Trang 18tự nhiên và xã hội Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử quacác thời đại khác nhau [31].
Tự quản:
Là chế độ tổ chức và hoạt động của một xí nghiệp, một đơn vịkinh doanh, nói rộng ra là của một cộng đồng xã hội do tập thểnhững người lao động của nó quản lý, tự quyết định lấy công việccủa mình như tự đặt kế hoạch hành động, tự giám sát công việc, tựđánh giá kết quả công việc, hành vi xử sự của mình mà không cần
có sự điều hành chỉ huy của người quản lý hoặc bất cứ người nàokhác [31, tr.62]
A Lagain (1969) đã đưa ra một thang đo gồm 8 mức độ hoạt động củacộng đồng như sau: Nhân dân kiểm soát, chủ trì thực hiện; chính phủ phốihợp với các nhóm dân cư trong quản lý; giao quyền cho các nhóm dân cư;chính phủ đáp ứng một phần các nhu cầu của nhân dân; chính phủ trao đổibàn bạc với các nhóm dân; chính phủ thông báo cho dân biết; đưa ra quyếtđịnh và thông báo trước; chính phủ vận động nhân dân làm theo [24, tr.94]
Như vậy, cách thức hoạt động của cộng đồng có thể khác nhau, tuỳ vàoloại hình và mức độ của khách thể mà cộng đồng dân cư tác động cũng nhưtuỳ vào năng lực thấu hiểu của cộng đồng với các vấn đề liên quan Thời giancủa hoạt động cũng khác nhau Điều chú ý là cộng đồng dân cư càng hoạtđộng tích cực dưới sự hướng dẫn tốt của những chủ trương chính sách phápluật của nhà nước thì hiệu quả hoạt động càng cao
1.1.1.4 Một số lý thuyết Xã hội học
* Lý thuyết phát triển cộng đồng:
Phát triển cộng đồng là một quá trình biến đổi đưa tới sự thay đổi cănbản chất lượng của cộng đồng theo xu hướng tiến bộ xã hội và đa dạng vănhoá, văn minh [29, tr.4] Về thực chất phát triển cộng đồng là một cách thứctriển khai các hoạt động xây dựng và phát triển trên cơ sở tạo sự hợp lực và
Trang 19đồng thuận của nhiều tổ chức xã hội nhằm phát huy mọi nội lực bên trong củatừng thành viên cộng đồng và của cả cộng đồng.
Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm phát triển cộng đồng vào năm 1956,theo đó phát triển cộng đồng là một tiến trình, qua đó sự nổ lực của chính dânchúng hợp nhất với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế,văn hoá xã hội của cả cộng đồng, để các cộng đồng này có điều kiện hội nhập
và đóng góp tích cực vào đời sống quốc gia
Hoạt động tự quản dựa trên nguyên lý phát triển cộng đồng bao gồm:Nguyên lý tính tương đối: không nên tuyệt đối hoá sự vật, hiện tượng theomột quan niệm nào cả; nguyên lý tính đa dạng: Cộng đồng được biểu hiện đadạng, nên phát triển cộng đồng mang tính đa dạng, phong phú; nguyên lý tínhbền vững: cộng đồng luôn có tính bền vững, mặc dù có thể bị biến đổi tínhchất nhưng khi cộng đồng cũ bị giải thể thì cộng đồng mới hình thành;nguyên lý đồng biến: bản chất của cộng đồng là đồng thuận, do đó mọi thànhviên, thành phần cộng đồng đều đồng hành và đồng biến; nguyên lý tự biến:cộng đồng có năng lực riêng, vì vậy có quy luật riêng là tự vận động và tựphát triển gọi chung là tự biến; nguyên lý tham gia phát triển: chịu sự tácđộng của các tổ chức khác, đặc biệt là chịu sự tác động quan trọng của quản
lý nhà nước (còn gọi là hợp biến)
- Hoạt động tự quản thông qua lý thuyết phát triển cộng đồng: Thứnhất, hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, với sự cânbằng về vật chất và tinh thần, qua đó tạo sự chuyển biến xã hội trong cộngđồng Thứ hai, tạo sự bình đẳng trong hoạt động của mọi nhóm xã hội trongcộng đồng kể cả những người thuộc nhóm thiệt thòi nhất cũng tự mình nêulên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua
đó góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội Thứ ba, là củng cố các thiết chế, tổchức; trong đó nhà nước là trung tâm để tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội
Trang 20và sự tăng trưởng; cuối cùng là thu hút sự tham gia tối đa của người dân vàotiến trình phát triển.
* Lý thuyết hành động:
Thuyết hành động gắn liền với cha đẻ của nó là MaxWerber, nó bao gồm:
- Hành động duy cảm: là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tìnhcảm, bột phát gây ra, không có sự cân nhắc, xem xét
- Hành động duy lý - truyền thống: là loại hành động tuân thủ nhữngthói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán từ đời này sang đời khác
- Hành động duy lý: theo sự phân tích của trí tuệ, dựa trên những phântích về giá trị, chuẩn mực (giá trị pháp luật, chuẩn mực đạo đức)
* Lý thuyết xã hội hoá: là quá trình chủ thể hoá các tin tức của xã hội,
là sự tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội thông qua lăng kính chủ quan và
sự xét đoán của mỗi cá nhân Xã hội hoá không chính thức là sự tương tác xãhội, giữa những người gần gũi như gia đình, bạn bè, nhóm nghề nghiệp Xãhội hoá chính thức thông qua các tổ chức xã hội Cái cốt lõi của xã hội hoá là
sự quản lý của nhà nước với sự tham gia của nhiều người, nhiều tầng lớp xãhội nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn
* Lý thuyết xã hội dân sự: Khái niệm “civil society” thường được dịch
sang tiếng Việt là “xã hội dân sự” Nó được bắt nguồn từ tiếng Hy lạp màđược Aristotl dùng lần đầu tiên là “Koin nia politika” mà sau này ta vẫnthường dịch là politika (chính trị), từ này được bắt nguồn từ polis có nghĩa làcộng đồng dân cư thành bang, tức là một cộng đồng xã hội nhất định VớiAristotl thì “con người là động vật chính trị” cũng đồng nhất “con người là
động vật xã hội”, trong hệ thống lý luận của ông thì cái chính trị (the political) và cái đạo đức (the ethical) không có sự khác biệt rõ rệt Mục tiêu tối thượng của polis là đảm bảo sự phát triển và hình thành nhân cách của các
thành viên trong cộng đồng, trong đó “chính trị” là sự định hướng hành độngcủa mỗi cá nhân để đạt tới mục đích chung của cả cộng đồng, đó cũng là mục
Trang 21tiêu hình thành nhân cách sống có trách nhiệm của mỗi cộng đồng Chính vìvậy Aristotl xác định rõ rằng bản chất chính trị của một cộng đồng chính trị là
xã hội dân sự, ở đó không có sự cưỡng bức mà chỉ chú trọng đến hoạt động tham gia tự nguyện của các thành viên cộng đồng cùng nhau chia sẻ việc điều hành cộng đồng vì mục đích chung của cộng đồng Ý thức về xã hội dân
sự đã có một bước phát triển mạnh mẽ trong thời cận đại với các nhà tư tưởngnhư J Rodin (Pháp), T.Hobbes (Anh), B.Spinoza (Hà lan) và đến thế kỷXVIII, J J.Rousseau đã phát triển nó lên một trình độ hoàn chỉnh hơn, đối vớiông, con người mất đi quyền tự nhiên của mình nên cần đảm bảo bằng mộthình thức liên hiệp là Khế ước xã hội nhằm để bảo vệ tài sản của các cá nhâncũng như toàn bộ sức mạnh chung của xã hội và các thành viên xã hội gọi cơchế chính trị ấy là Nhà nước Các tác giả cùng thời như J.Locke hayMontesquieur thì cho rằng nhân dân hợp thành xã hội - nó là tối thượng và khithiết lập nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang Nhà nước nhưng Nhà
nước không thể nuốt mất xã hội Còn trong tư tưởng của Hegel thì xã hội dân
sự là một nơi mà các cá nhân được tự do theo đuổi những lợi ích, những khác biệt của mình, liên kết với nhau bằng sự cần thiết lẫn nhau và, với tư cách đó,
nó không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước chính trị, nhưng mặt khác ông
cũng cho rằng xã hội dân sự không thể trở thành dân sự được nếu nó khôngđược nhà nước cai quản về mặt chính trị - chỉ có việc thực thi một quyền lựccông cộng tối cao của một nhà nước hợp hiến mới có thể giải quyết đượcnhững xung đột của xã hội dân sự với tính bất công của nó, tổng hợp nhữnglợi ích cụ thể thành một cộng đồng chính trị chung Khác với Hegel xem xãhội dân sự là một “vật ban tặng” của tự nhiên thì C.Mác coi xã hội dân sự kếtquả của sự phát triển lịch sử tự nhiên, C.Mác khẳng định: "Xã hội dân sự baogồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một giai đoạn phát triểnnhất định của lực lượng sản xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương mại
và công nghiệp của giai đoạn lịch sử ấy, ở mức độ này, nó vượt khỏi khuôn
Trang 22khổ nhà nước và quốc gia, tuy rằng ở bên ngoài, nó phải tự khẳng định với tưcách quốc gia và, ở bên trong, phải tự tổ chức với tư cách nhà nước” và khikhông còn sự đối kháng giai cấp nữa thì xã hội cũ bị sụp đổ và C.Mác chorằng sẽ không có sự xuất hiện một giai cấp thống trị mới, “sẽ không còn mộtquyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó nữa vì quyền lực chính trị là sựtóm lược chính thống của đối kháng trong xã hội dân sự” và “tự do là chỗbiến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội, thành một cơ quan phụ thuộc vào xãhội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do làtuỳ ở chỗ trong những hình thức ấy “sự tự do của nhà nước bị hạn chế nhiều hayít” [42, tr.554] Xuất phát từ quan điểm này của C.Mác ta thấy rằng càng chínhtrị hoá, nhà nước hoá các tổ chức, các cộng đồng dân cư thì càng hạ thấp vaitrò của xã hội công dân và cản trở sự phát triển của xã hội công dân Điều nàycũng cho thấy, tại sao ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các tổ chức xãhội được tổ chức rộng khắp nhưng là vì “cánh tay nối dài” của nhà nước nên
xã hội công dân ở các nước đó lại kém phát triển và yếu ớt Theo C.Mác, xãhội công dân không phải là lĩnh vực chính trị, nhưng mọi hoạt động của xãhội công dân đều có ảnh hưởng đến nhà nước Vì vậy các thể chế của xã hộicông dân mang những hình thức chính trị nhất định Như vậy xây dựng xã hội
công dân, một mặt phải thừa nhận vai trò độc lập khách quan của nó đối với nhà nước, mặt khác không phủ nhận những hình thức chính trị của nó [60, tr.14]
Vậy nên, xã hội dân sự không những đảm đương chức năng đàoluyện con người thành những công dân sống và làm việc có trách nhiệm với
xã hội, hướng hoạt động của họ tới mục tiêu phát triển chung của cộngđồng và xã hội mà còn là diễn đàn xã hội để cá nhân có điều kiện trao đổicác kỹ năng sinh hoạt và làm việc, nâng cao trình độ dân trí của mình Với
nghĩa đó, xã hội dân sự có mối liên hệ mật thiết với khái niệm vốn xã hội trong việc chỉ ra sự liên kết và gắn bó của cá nhân con người với cộng đồng và truyền thống văn hoá Bên cạnh việc đề cập đến vai trò liên đới
Trang 23của các tổ chức xã hội dân sự trong quan hệ với nền kinh tế thị trường vànhà nước pháp quyền, thông qua sự tham gia tích cực của người dân vàocác hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội Bên cạnh việc kết hợp với nhànước cùng giải quyết các vấn đề phát triển chung của địa phương và quốcgia thì xã hội dân sự còn tích cực tham gia góp ý, giám sát các hoạt độngcủa nhà nước và kinh tế thị trường nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội,giảm thiểu sự lạm quyền, tham nhũng cũng như những phản phát triển gâytác hại cho cộng đồng và xã hội Như vậy, hoạt động của xã hội dân sựđóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập đồng thuận, đoàn kết xã hội vìmục tiêu phát triển chung
Khái niệm xã hội dân sự được quy chiếu ở xã hội nông nghiệp cổ
truyền ở nước ta thì đó là cộng đồng dân cư ở cơ sở Khái niệm cộng đồng
thường vẫn được dùng trong khoa học, người ta vẫn thường hiểu cộng đồng
đã tồn tại lâu đời trong lịch sử, gắn bó với những thăng trầm của dân tộc.Điều này lại càng phù hợp với tiến trình đi lên của đất nước, quá trình dựngnước và giữ nước là một quá trình gắn bó cùng sự phát triển của cộng đồng,vai trò của cộng đồng có tác dụng tích cực đối với nước ta vì nó tích luỹ đượcvốn xã hội (Social capital) là các tiêu chuẩn và quan hệ xã hội cho phép nhândân có khả năng phối hợp các hành động tập thể Điều này cũng khác với xãhội phương Tây, khái niệm này trong xã hội hiện đại được họ hiểu là xã hộidân sự bởi trong quá trình quản lý của mình có những việc nhà nước khônglàm được, “bàn tay hữu hình” của nhà nước mà Maynard Keynes đặt tênkhông thể bao hết các hoạt động chính trị, xã hội buộc phải giao lại cho “bàntay bán vô hình” là các tổ chức khác, các tổ chức này được xây dựng trên cơ
sở của sự thương lượng, hợp tác, thuyết phục đại diện cho hành động, có mặt
ở tất cả các cấp, thậm chí toàn cầu mà C.Mác trong phê phán học thuyết củaHêghen đã dùng lần đầu tiên
Trang 24Ở nước ta, với đặc thù của một nước nông nghiệp cổ truyền với chủnghĩa yêu nước dân tộc cao cả, trong đời sống xã hội Việt Nam, xã hội dân sựgắn với những thiết chế xã hội mang tính truyền thống có mặt trong các làng
xã nông thôn, những tổ chức quần chúng - “xã hội dân sự ở nông thôn” đãđóng vai trò lịch sử quan trọng và tích cực trong cấu trúc xã hội dân sự ViệtNam [47] Đó là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi người dân trựctiếp và bằng các hoạt động tự quản thích hợp, tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất
và đời sống, cùng nhau giải quyết các công việc của nội bộ cộng đồng, là nơi tồn tại
và duy trì bao đời nay “các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư trên cơ sở quan
hệ truyền thống gắn bó trong đời sống vật chất và văn hoá” [17, tr.171-173] Dù đượcthành lập theo mục tiêu và hướng dẫn của Đảng và Nhà nước nhưng các thiết chế
phi quan phương và các tổ chức đã hoạt động như một chiếc cầu nối giữa Đảng
với nhân dân hướng đến thực hiện các nhiệm vụ phát triển cụ thể, phục vụ chophúc lợi của cộng đồng dân cư cơ sở
1.1.2 Quyền lực nhà nước ở cơ sở
1.1.2.1 Quyền lực nhà nước
Quyền lực trong xã hội có cấu trúc phức tạp, được tạo thành từ nhiềuloại quyền lực khác nhau Có quyền lực đạo đức, quyền lực tôn giáo, quyềnlực dòng họ.Trong số rất nhiều loại quyền lực đồng thời tồn tại trong sự đanxen, thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể của quyền lựctrong xã hội
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minhgiai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân trong điều kiện của CNXH), nónói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình “Quyền lựcchính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp đểtrấn áp một giai cấp khác” [43, tr.628]
Một trong những nguồn gốc của quyền lực nhà nước là quyền lực côngcộng, là “sức mạnh của ý chí chung” của cả cộng đồng dân cư cùng sống trên
Trang 25một lãnh thổ, nhưng là quyền lực công cộng trong điều kiện "xã hội bị phânchia thành những mặt đối lập không thể điều hoà được, mà xã hội đó bất lựckhông sao loại bỏ được” [45, tr.251]
Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhànước Do vậy xét về bản chất, quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấpthống trị Nó được thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đólập ra Cho nên, quyền lực nhà nước được thực hiện bằng nhiều công cụ khácnhau Một trong những điểm phân biệt với phương thức thực hiện các loại quyềnlực chính trị khác là ở chỗ, quyền lực nhà nước được tổ chức thành cả một hệthống thiết chế và có khả năng vận dụng các công cụ của nhà nước từ tay giaicấp này sang tay giai cấp khác trực tiếp dẫn tới sự thay đổi căn bản tính chất chế
độ chính trị Trong một xã hội có giai cấp thì quyền lực nhà nước có hai chứcnăng cơ bản là: Chức năng thống trị chính trị và chức năng xã hội [26]
1.1.2.2 Quyền lực nhà nước ở cơ sở
Theo Rousseau thì quyền lực nhà nước "được thiết lập từ những cá thểthành viên hợp lại tạo ra nó” và "những bộ phận quyền hành được chia táchnhư vậy đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao, đều giả định phải có ý chí tốicao, mỗi bộ phận đều chỉ nhằm thực hiện ý chí tối cao đó” [54, tr.71-82]
Ở nước ta Cấp cơ sở trong hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính nhà
nước hiện hành của ta hiện nay: Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện
và xã Bốn cấp quản lý này được tổ chức theo một hệ thống dọc Từ trênxuống sẽ là trung ương - địa phương và cơ sở Nếu nhìn dưới lên sẽ là cơ sở -địa phương và toàn quốc
Theo Ph.Ăngghen, một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước là
Nó phân chia thần dân của nó theo địa vực, v.v người ta lấy
sự phân chia địa vực làm điểm xuất phát và người ta đã để chonhững công dân thực hiện những quyền lợi và nghĩa vụ của họ tạinơi họ cư trú, không kể họ thuộc bộ tộc, thị lạc nào Cách tổ chức
Trang 26những công dân của nhà nước theo địa vực họ cư trú như thế, là mộtđặc điểm chung cho tất cả các nhà nước [43, tr.253].
Và sự phân chia như trên cũng chính là sự phân cấp, phân quyền củaquyền lực nhà nước Tức là "Phân định quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệmbằng cách quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp theo nguyêntắc tập trung dân chủ, để vừa bảo đảm việc điều hành tập trung, thống nhấtcủa chính phủ, đồng thời phát huy dân chủ, nâng cao tính năng động của mỗiđịa phương, cơ sở” [76]
Quyền lực nhà nước ở cơ sở chính là vị trí, vai trò của chính quyền
cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước trọng phạm vi địa giới hànhchính cơ sở Chính quyền cơ sở vừa là đại diện cho quyền lực của nhân dântrong địa bàn, được người dân bầu ra, thực hiện ý chí chung của cộng đồngdân cư trong địa bàn; đồng thời cũng thay mặt quyền lực nhà nước ở địaphương Quyền lực nhà nước ở cơ sở thể hiện quyền đưa ra những quy định,quyết định, quyền cưỡng chế thực hiện những quy định, quyết định đó; quyềnxét xử những vi phạm các quy định, quyết định và pháp luật nói chung theonhững phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định cho chính quyền cơ sở
có hiệu lực với mọi đối tượng
Chính quyền cơ sở gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân là tổchức đại diện chính thức cho toàn bộ dân cư trên địa bàn Tính đại diện chínhthức thể hiện ở việc Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân ởđịa bàn trực tiếp bầu ra, thay mặt nhân dân, trên cơ sở yêu cầu, nguyện vọngcủa nhân dân và pháp luật, quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sốngcủa nhân dân ở đơn vị hành chính cơ sở
Chính quyền cơ sở trực tiếp thực hiện quyền lực nhân dân trên địa bàn.Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Hội đồng nhân dân là cơ quanđại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp
Trang 27hành với các công cụ (pháp luật, thẩm quyền ra quyết định) và phương tiện quản
lý (bộ máy giúp việc) nhằm đảm bảo thực hiện quyền lực nhân dân [9]
1.2 HOẠT ĐỘNG TỰ QUẢN CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VIỆC THỰC THI QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở CƠ SỞ- NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
1.2.1 Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở - Những nội dung cơ bản
1.2.1.1 Những cơ sở để đánh giá hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư cơ sở
Thứ nhất, cộng đồng dân cư cơ sở của Việt Nam gắn bó hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước với sự tồn tại bền vững của thiết chế làng xã, nói đếncộng đồng dân cư cơ sở cổ truyền là chúng ta nói đến cơ sở kinh tế của nó là chế
độ cộng hữu về tư liệu sản xuất - ruộng đất công của làng xã Có 3 lần biến cách:Thế kỷ XV khi chế độ quân điền thực hiện; cuối thế kỷ XIX khi thực dân Phápđặt ách thống trị; cách mạng Tháng tám năm 1945 và cải cách ruộng đất
Từ thế kỷ XV trở đi, các thái ấp thuộc quyền chiếm hữu và các vươnghầu thời nhà Lý-Trần bị thủ tiêu trong thế kỷ trước ngày càng phải nhườngchỗ cho quan hệ địa chủ - tá điền Về mặt cai trị thì trong các làng xã, đứngđầu là xã trưởng, vừa đại diện cho quyền lợi của cộng đồng dân cư trong làng,vừa đại diện cho quyền lực của chính quyền xã Điều quan trọng là từ đấy xãtrưởng do dân bầu lên Vậy quá trình tư hữu hoá ruộng đất lại tạo cho làng xãmột diện mạo tự quản, duy trì quyền tự trị cho đến năm 1921 - thời điểmchính quyền thuộc địa bắt tay vào cải cách hành chính xã [1]
Sự biến chất của cộng đồng dân cư cơ sở cổ truyền diễn ra một cáchsâu sắc vào các thế kỷ XVII-XVIII Đây là thời kỳ mà cơ sở ruộng đất công bịphá vỡ nghiêm trọng Khá phổ biến là xu thế đề cao quyền lực của địa chủ ởphạm vi từng làng và dần dần hình thành hệ thống tôn ti trong đời sống cộngđồng dân cư cơ sở Các thế lực phong kiến trong làng chia nhau quyền quyết
Trang 28định mọi việc, việc cắt đặt xã trưởng về danh nghĩa do bầu cử nhưng trongthực tế lại là do tầng lớp này chi phối [79, tr.32].
Trong cộng đồng dân cư cơ sở cổ truyền, nền đại sở hữu không pháttriển vì tổ chức chính quyền không thiện cảm với họ, vì tổ chức kinh tế khôngthuận lợi và vì phong tục lạc hậu chống lại chính họ Ví dụ: Trong thời kỳ nàynhà nước cấm chuyển nhượng ruộng đất vì nó đảm bảo cho người dân cơ sởluôn có phần mình trong việc phân chia ruộng công Như thế nhà nước khôngtập trung được ruộng đất
Do yêu cầu chinh phục tự nhiên, khai phá mở mang đất đai, để tồn tại
và chống đỡ lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, người Việt phải sớm hìnhthành cố kết cộng đồng Từ đây quan hệ nhà-làng xuất hiện, nó bền vữngtrong suốt chiều dài của lịch sử
Cùng với sự phát triển của nền nông nghiệp trong cộng đồng dân cư cơ
sở thì các công xã nông thôn của người Việt cũng có những biến đổi và phân
bổ dù nó diễn ra rất chậm chạp
Cho đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn cách đây 2.000 năm, những mầmmống của một nhà nước sơ khai cùng với kết cấu làng xã mới xuất hiện, nhànước đó trên thực tế chỉ là sự mở rộng liên cộng đồng dân cư cơ sở, một tổ chứcđứng trên các cộng đồng dân cư cơ sở để điều hành chung Nhà nước thời kỳHùng Vương với một đặc trưng chi phối là tính cộng đồng dân cư ở cơ sở [69]
Mỗi cộng đồng dân cư cơ sở Việt là một đơn vị tự trị Việt Nam giốngnhư một “liên bang thôn xã” Với một đời sống kinh tế đơn giản, sinh hoạt làng
xã thô sơ, thiếu đường giao thông và ít có nhu cầu, các làng chỉ có thể sống độclập với nhau và tự cung, tự cấp Dưới mắt chính quyền, làng là một gốc gác nhâncách, trong việc nước người ta chỉ biết làng chứ không phân biệt cá nhân, thườngthì các công việc nội bộ vẫn do làng tự giải quyết, chính quyền rất ít khi canthiệp Làng có thể được coi như một nhà nước nhỏ, được cai quản bởi một hộiđồng kỳ mục gồm các chức sắc, những người có học hành đỗ đạt Chỉ có làng
Trang 29mới biết được số dân cư và đất đai của mình, nhà nước không tiếp xúc trực tiếpvới dân làng Để thu thuế tuyển mộ lính thì quy định cho mỗi làng một con sốnhất định và để cho nó tự do phân bổ đến các thành viên của mình Như vậy nhànước xuất hiện nhưng tính giai cấp của nó chưa có gì nổi bật, nhà nước “siêucộng đồng cơ sở” không đối lập với cộng đồng dân cư cơ sở mà mang đậm nétcộng đồng dân cư cơ sở Từ quan hệ trong cộng đồng dân cư cơ sở là quan hệnhà - làng ở rộng tới làng - nước và tạo thành quan hệ nhà – làng - nước
Thiết chế cộng đồng dân cư cơ sở chi phối đến nhà nước thông quathiết chế làng việt cổ truyền với cả hai mặt tích cực và tiêu cực ảnh hưởng sâusắc đến tận ngày nay mà vẫn chưa phát huy hết hay xoá bỏ hết
Thứ hai, không giống như các xã hội phương Tây hay phương Đông, trong
tiến trình lịch sử ở Việt Nam không có sự giải thể các quan hệ công xã thị tộc đểhình thành chế độ tư hữu, từ đây khẳng định vai trò cá nhân; sự biến đổi ở đây từcông xã thị tộc gắn với quan hệ huyết thống sang công xã nông thôn và hình thànhquan hệ láng giềng như một quan hệ tự nhiên giữa các gia đình, các cá thể Trongmôi trường kinh tế tự túc, nguyên tắc “an toàn trên hết” quyết định, người nôngdân thà giảm đến mức tối thiểu xác suất gặp tai hoạ còn hơn là tăng đến mức tối
đa thu nhập bình quân Nhưng một mối quan tâm của người dân trong cộng đồngdân cư cổ truyền là quan hệ huyết thống “họ và làng chồng lên nhau, quan hệhuyết thống và quan hệ địa vực chồng lên nhau” Thời Lý Trần thì loại cộng đồngdân cư này là khá phổ biến, mang cấu trúc gia tộc phụ hệ, trọng đó mối ràng buộchuyết thống rất sâu sắc Dòng họ tồn tại như một kiểu tổ chức xã hội, cộng đồngdân cư cơ sở cổ truyền lấy họ làm cơ sở và các quan hệ họ hàng cũng là nền tảngcủa quản lý làng xã [83]
Sức vượt trội ngay từ đầu đã thuộc về cộng đồng chứ không phải là cánhân nổi trội nào đó Do sức vượt trội ấy mà cá nhân lệ thuộc tuyệt đối vàocộng đồng cơ sở Trong cộng đồng dân cư cơ sở thì cá nhân tồn tại giữa mộtđơn vị tập thể, mỗi người hành động chịu sự chi phối và đánh giá của họ
Trang 30hàng, của láng giềng, những mâu thuẫn, những xích mích nội bộ trong mỗimột cộng đồng dân cư cơ sở là luôn xuất hiện nhưng bao trùm lên trên hết vẫn
là tình đoàn kết, thông qua những tình cảm thường nhật và trên cơ sở tình cảm
và quan hệ quyền lợi, người nông dân xích lại gần với lý tưởng tương trợ vàđoàn kết Họ gắn với nhau thành một khối chống lại quyền lực của quan lạihoặc của kẻ nào đó muốn chiếm đoạt một vài món lợi làm thiệt hại cho cả cộngđồng Phong tục, tập quán trong cộng đồng được ý thức như là luật pháp Vàtrong quá trình phát triển sâu rộng khi đã có nhà nước và luật pháp của nhànước phong kiến, sức mạnh của tập quán, tục lệ trong các cộng đồng dân cư cơ
sở vẫn còn sức chi phối, không ít trường hợp lấn át cả luật pháp của nhà nước
Thứ ba, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc bị phong kiến phương Bắc
cai trị với sức mạnh cố kết cộng đồng người Việt đã chống lại âm mưu đồnghoá dân tộc và đã hình thành được bản sắc của riêng mình, hoạt động tự quản
đã xuất hiện trong tâm thức, tâm linh để hình thành nên bản lĩnh của mìnhchống lại sự đồng hoá của một quốc gia có trình độ văn minh cao hơn Khôngchấp nhận sự áp đặt văn hoá, ý thức tự vệ và bảo vệ những giá trị riêng củacộng đồng làng xã của mình là nét nổi bật trong ý thức người Việt Ở mọithời đại lịch sử đã qua, cộng đồng dân cư cơ sở phải dành hết nỗ lực và tinhlực cho chiến tranh giải phóng để bảo vệ quyền sống, quyền tồn tại của mình,bảo vệ độc lập chủ quyền cũng đồng thời là bảo vệ phẩm giá của chính mình.Vậy là, hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư cơ sở chính là sự lao động,chiến đấu và ý thức, tình cảm gắn bó cộng đồng, hướng về cội nguồn, đoànkết thương yêu đùm bọc nhau trong khó khăn hoạn nạn Nét tự quản nổi trộitrong cộng đồng dân cư Việt là thích nghi để tồn tại, hoà hợp để tồn tại Yêunước thực chất là yêu nhà, yêu làng, yêu cộng đồng làng xã của mình, hoạtđộng của mỗi người gửi gắm vào hoạt động của cộng đồng, con người nhận ramình trong cộng đồng, điều chỉnh mình qua lăng kính của cộng đồng
Trang 31Cộng đồng người Việt Nam quen sinh hoạt, ứng xử và giao lưu tìnhcảm hơn là quen thuộc với thể chế đi kèm là những nguyên tắc, chuẩn mực cótính pháp lý, có sức mạnh của lý trí, lý tính Vì vậy, trong hoạt động của mìnhcộng đồng dân cư người Việt không mạnh về tự quản theo thể chế pháp luật
và nhà nước pháp quyền mà nó nghiêng về những giới hạn của cộng đồng dân
cư với hệ quy chiếu tâm lý - đạo đức, tục lệ và tập quán theo kinh nghiệm củanhững thế hệ cộng đồng đi trước và kinh nghiệm của chính bản thân mình,trong khi đó hoạt động tự quản trong một cộng đồng dân cư hiện đại - một xãhội dân sự thì buộc phải theo hệ quy chiếu là pháp luật và pháp quyền Tronghàng ngàn năm phong kiến, cộng đồng dân cư người Việt vẫn biểu hiện mình
là tư cách của cộng đồng làng xã nhiều hơn, mạnh hơn là tư cách công dânnhà nước, đối diện với thể chế nhà nước và pháp luật Thậm chí lúc đại sở hữuphát triển đáng kể khi thiết lập chế độ cai trị của người Pháp, lúc này các quan hệruộng đất phát triển, cho đến năm 1954 tồn tại quan hệ địa chủ và tá điền, ngoài
ra còn có các quan hệ khác như phú nông và trung nông, dẫn đến quyền sở hữurất phức tạp nhưng cái mà cộng đồng dân cư Việt gắn bó mật thiết nhất vẫn làruộng đồng và luỹ tre làng Người Mỹ khi xâm lược Việt Nam cũng không hiểuđược cái nền tảng khắc sâu đời sống cộng đồng dân cư cơ sở là ruộng đất “người
Mỹ đưa cho nông dân một hiến pháp, việt cộng đưa cho nông dân ruộng đất vàcùng với ruộng đất là quyền sống” [20, tr.11]
Chiến tranh nhân dân- tự quản của cộng đồng dân cư cơ sở là vô địch
Chiến tranh là chủ đề không ai muốn nhắc đến nhưng nó chính là mặt trái của thế giới đương đại, người ta vẫn dùng nó như một công cụ nóng để tạo ra những áp phe trên bàn cờ chính trị, quyền lực bị mâu thuẫn đến điểm nóng, lợi ích bất phân buộc các thế lực phải giải quyết bằng vũ trang, chính điều này đa đẩy các cộng đồng dân cư lùi một bước cùng nhịp đi của loài người, họ phải đối diện với nghèo đói, bệnh tật, lạc hậu họ là cộng đồng nhỏ và trên bình diện nào đó họ là nạn nhân của một nhóm lợi ích hiếu chiến nào đó, đây cũng chính là thời điểm để thử thách ý chí của cộng đồng người trước một thế lực đại diện cho một nhà nước đi xâm lược nào đó Khác với các cộng đồng khác trên thế giới họ
tổ chức đánh giặc bằng sức mạnh của nhà nước, sức mạnh của các nhà cầm quyền với đội quân chính quy thì cộng đồng dân cư các dân tộc Việt Nam đã sử dụng sức mạnh của “cả nước là chiến trường, toàn dân tham gia đánh giặc”, cộng đồng dân cư ở cơ sở Việt Nam đã không chỉ có làm nghĩa vụ đi lính, nghĩa vụ đóng thuế, đóng quân lương mà còn chủ động tự bảo vệ chính mình, tự tổ chức thành lập các lực lượng tự vệ, tổ cứu thương, tự túc lương thực,
Trang 32đào hầm trú ẩn nơi công cộng, di tản người già trẻ em nơi chiến sự người dân đã đánh giặc một cách rất tự giác, không ỷ vào nhà nước không chờ đợi sự trợ giúp của quốc tế
Một mặt khác cũng phải thấy rằng cộng đồng dân cư cơ sở là một cộng đồng thuần nhất, đều cùng dòng giống sinh ra, cùng chung một lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, họ sống tình nghĩa tình yêu thương đùm bọc nhau, sự đồng nhất ở đây không những
là tình cảm mà còn là các quan niệm sống, khi có giặc đến thì không phân biệt giới tính, giai cấp lại càng không có chuyện phân biệt sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo và điều đó cũng không có nghĩa với bất cứ một quốc gia có nền sản xuất lạc hậu mà đánh giặc bằng lối đánh du kích (đây chỉ là một cách đánh giặc lẫn vào dân) đều có thể thắng mà chiến tranh nhân dân mà chiến tranh nhân dân là cuộc chiến của toàn dân, cả nước cùng đánh giặc Vậy nên nó gắn với sức mạnh vô địch của cộng đồng dân cư cơ sở Bên cạnh đó tìm nguồn gốc ta mới thấy rằng đây cũng chính là chiến thắng của một nhà nước lành mạnh, một nhà nước đại diện cho quyền lợi của toàn dân, từ người lãnh tụ cho đến những chiến sĩ binh nhất binh nhì đều dốc lòng hy sinh vì dân, dễ hiểu vì sao người dân đều dốc lòng hăng hái tham gia những gì mà nhà nước tổ chức.
* Nói đến hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, không thể khôngnói đến cái gốc gác cổ truyền và ảnh hưởng đến hiện tại trong mỗi cư dânViệt Nam, đó là làng xã Việt Nam Làng Việt Nam không phải là sự phân hóacủa Nam tộc và bộ lạc mà thành như những làng ở Đức, Ý; cũng không phải
là sự tập hợp cư dân dưới sự bảo hộ của những thủ lĩnh quân sự như nhữnglàng Pháp thời trung cổ Làng xã Việt Nam là một cộng đồng có tính chất dântộc học, xã hội học và tín ngưỡng, nó hình thành trong quá trình liên hiệp tựnguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phụcnhững vùng đất gieo trồng Ở đây họ phải chiến thắng đồng lầy và hoang rậm,chiến thắng lũ lụt và đẩy lùi biển cả; ở đây họ phải chiến đấu liên tục, bền bỉ
và rất gan dạ để chống thiên tai, chống ngoại xâm bảo đảm cuộc sống chung
và sự an ninh có tính chất hàng ngày trong hoàn cảnh thiên nhiên và xã hộiđầy biến động, căng thẳng Làng xã về phương diện ấy đã từng đóng vai trò tolớn trong lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước
Trong những thời kỳ chiến tranh chống ngoại xâm, làng xã với tính chất
tự quản chặt chẽ, với tinh thần cố kết truyền thống, với lòng yêu nước nồng nàn
đã là những pháo đài kiên cố, chặn đứng quân địch khi chúng tiến từng bước,khó khăn để “bình định nông thôn” và tấn công, tiêu hao sinh lực địch liên tụccho đến giai đoạn tổng tiến công toàn thắng của nhân dân cả nước, không có tổchức làng xã, không thể có những chiến công lịch sử vĩ đại Tổ chức làng xã cũ
Trang 33cũng đóng một vai trò to lớn trong công cuộc trị thuỷ chống thiên tai rất kiên trì,dũng cảm của nhân dân ta đã tiến hành rất thường xuyên, không có tổ chức làng
xã trong điều kiện của chế độ phong kiến và thủ công nghiệp thì không thể tiếnhành xây dựng được một hệ thống đê điều quy mô cùng với hệ thống sông ngòi,
hồ ao, kênh rạch chằng chịt khắp mọi miền đồng bằng nước ta như vậy
Làng xã cũ đóng một vai trò đặc thù trong việc xây dựng và phát triểnnền văn hoá dân tộc Làng có Chùa và Đình của mình, có trường học Làng cóthương nghiệp thủ công và làng có hội hoạ, làng thầy thuốc, làng thầy đồ,làng thương nhân, kiến trúc, điêu khắc, sân khấu Làng có nông, làng cũng có
sĩ, công, thương Vì làng đóng một vai trò như thế trong văn hoá mà nó trởthành nơi bảo tồn truyền thống văn hoá dân tộc, đánh bại mọi âm mưu đồnghoá văn hoá của bọn xâm lược ngoại bang xưa cũng như nay
Và về mặt sinh hoạt, tổ chức làng xã với tinh thần đoàn kết, đùm bọc
họ hàng làng xóm giữa những người lao động đã có tác dụng nâng đỡ rấtnhiều cho cuộc sống của nông dân ngày xưa ở vào hoàn cảnh xã hội áp bức,bóc lột và đầy những thay đổi bất thường do thiên tai hoặc do chiến tranh xâmlược gây ra Vì tất cả những điều này mà người Việt Nam từ xưa đã gắn bótình cảm sâu sắc với quê cha đất tổ của mình [52, tr.11-12]
Thứ tư, từ những ngày đầu mới thành lập Đảng, bên cạnh những văn bản rất quan trọng để lãnh đạo cách mạng như Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt; Điều lệ tóm tắt thì có một nội dung được Bác Hồ rất quan tâm đó là về
đời sống của dân làng, đó là nguồn gốc sức mạnh của mọi sức mạnh và cầnđược tổ chức thành một lực lượng mạnh mẽ thông qua Điều lệ Nông hội làng
“Hội tổ chức theo lối địa phương một làng một nông hội hộinghị toàn làng là cơ quan cao nhất của nông hội làng X một tháng ítnhất cũng khai hai kỳ Hội nghị ấy cử ra ban uỷ viên để làm côngviệc hội hằng ngày Ban uỷ viên tổ chức ra các ban nhỏ hoặc cử
Trang 34người phụ trách riêng như: tuyên truyền, tổ chức, phụ nữ, thanhniên, v.v để chuyên môn làm những công việc ấy” [16, tr.161-162] Cộng đồng dân cư Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch HồChí Minh đã “đem sức ta mà giải phóng cho ta” để đuổi quân xâm lược phươngtây dưới hình thức chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới với cuộcchiến tranh tàn bạo có tính chất huỷ diệt kéo dài gần 1/3 thế kỷ của thế kỷ XX.Trong hoàn cảnh đó, sức chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam là sựphản ánh hiệu quả trực tiếp của hoạt động tự quản cộng đồng cơ sở và phản ánhsâu xa sức sống bền vững của năng lực cố kết cộng đồng và gía trị cốt lõi của nó
là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần độc lập dân tộc của người Việt Nam
So với độ dài của lịch sử mà dân tộc ta đã trực tiếp trải qua với bao lớpcộng đồng dân cư cơ sở từ hàng ngàn năm trước thì lịch sử thời kỳ hiện đạivẫn là mới mẻ Ngay cả thời đương đại thì cộng đồng dân cư cơ sở Việt Namvẫn sống với hiện thực tự quản ở làng xã truyền thống là chủ yếu, trong khi đãkhông thể không bước theo hướng tự quản hiện đại, bắt nhịp những văn minhtiến bộ của loài người Tự quản trong cộng đồng xã hội dân sự mang tính chấthiện đại vẫn còn là bỡ ngỡ và lạ lẫm đối với cộng đồng dân cư cơ sở ViệtNam Trong khi đó, những thực tế từ tự quản làng xã bao đời đã xâm nhậpvào mọi cơ sở, mọi quan hệ của con người Lựa chọn và khẳng định một giátrị mới trong khi chưa ý thức để phủ định một giá trị to lớn từ quá khứ dù quákhứ đã là quá thời và nó đã “làm tổ” trong tâm thức, ý thức, lối sống hàngngày, nhu cầu thói quen Đó là một đặc điểm đáng lưu ý mà tự cộng đồng dân
cư cơ sở phải tự giải quyết trên con đường phát triển
Trong tính chất “phát triển rút ngắn” và quá độ gián tiếp ở Việt Namchúng ta, từ một xã hội thuộc địa, thực dân nửa phong kiến tới chủ nghĩa xãhội, từ nhà nước của cộng đồng làng xã sang nhà nước dân chủ pháp quyềntrong một hình thái kinh tế xã hội mới Cuộc hành trình tới chủ nghĩa xã hội,tới độc lập - tự do - hạnh phúc như những giá trị cơ bản nhất của phát triển cá
Trang 35nhân và phát triển cộng đồng mà con người Việt Nam đang thực hiện vừa cónhững lực đẩy nhưng cũng không ít rào cản hữu hình lẫn vô hình, rào cản đó
có cả lịch sử để lại, có cả trong hiện tại với những thể chế và thiết chế của nó,trong tổ chức quản lý đời sống cộng đồng, trong tâm lý, ý thức, hành vi củangười dân, trong hiện tại là những tật nhiễm, mô phỏng, sao chép một cáchmáy móc; với cơ chế kinh tế thị trường cũng vậy những mặt yếu của nó đểvượt qua không phải là đơn giản, vậy tự quản trong hoạt động của cộng đồngngày nay là mỗi bước đi của người dân tự phủ định mình để khẳng định mìnhtrên một tâm thế mới, trình độ mới
Thứ năm, cộng đồng dân cư cơ sở đối diện với những yêu cầu và tínhchất của hoạt động tự quản vẫn căn bản là một cộng đồng nông dân, nôngnghiệp và nông thôn dù nó đã biến đổi qua thăng trầm của lịch sử và để thaythế cho một cộng đồng dân cư truyền thống tiến tới một xã hội công nghiệp,công dân và đô thị thì trong hoạt động tự quản của mình cộng đồng dân cư
vừa bảo lưu, vừa biến đổi cộng đồng.
Trong thành quả nổi trội của nông nghiệp và nông thôn nước ta quanhững năm đổi mới, cộng đồng dân cư cơ sở đã đóng góp cơ bản và to lớncho sự vượt trội đó Sự chịu đựng gian khổ, làm nhiều hưởng ít, tìm tòi đềxuất, tạo điển hình phát triển Đây là sự tích tụ ý chí đấu tranh dựng nước
và giữ nước, những con người này đã và đang tạo ra những nguồn độnglực, những tấm gương sáng có sức lan toả lớn, lôi kéo các làng xã đi theo.Không phải chỉ cộng đồng tiên tiến mà cả những cộng đồng khác cũng tiềmtàng những khả năng, nguồn lực cần khai thác Nếu có chính sách và cơchế thích hợp kịp thời thì những điển hình tiên tiến cấp xã trở nên đôngđảo Cái vốn này ở cộng đồng dân cư cơ sở là rất độc đáo, là sức mạnh nộitại đề phát triển lâu dài mà nhiều quốc gia dân tộc khác không dễ gì có Khi
mà cơ chế thị trường bùng nổ những mặt xấu của nó tác động đến mỗi mộtngười Nếp sống nghiêng về vật chất mà quên đi những nét đẹp văn hoá,
Trang 36con người đối xử với nhau bằng những tính toán, sự dửng dưng trước cộngđồng tạo những bất cập trong đời sống Có hai xu hướng: Cộng đồng vănminh về vật chất thì lại thiếu yếu tố văn hoá, tinh thần, chủ nghĩa cá nhânphát triển; con người ít quan tâm đến những yếu tố truyền thống tốt đẹpxung quanh mình; Cộng đồng lạc hậu thì cộng đồng bị bỏ rơi, muốn làm gìthì làm, chính phủ không quan tâm đến các yếu tố phúc lợi đời sống cộngđồng dẫn đến sự lạc hậu, đời sống con người bị xem nhẹ Hoạt động tựquản của cộng đồng dân cư ở cơ sở phát huy tốt thì sẽ đẩy mạnh được yếu
tố dân chủ hoá, pháp chế hoá để xác lập các chuẩn mực pháp luật, kỷcương, nề nếp trong đời sống cá nhân và cộng đồng để vượt qua những bấtcập của cộng đồng dân cư cơ sở
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực sự là một sự nghiệp xây dựng vàphát triển ý thức của người dân cơ sở, nó hỗ trợ cho hoạt động tự quản củacộng đồng dân cư rất nhiều, từ đây cộng đồng dân cư cơ sở có thể phát triểnkinh tế và văn hoá, xây dựng con người và lối sống, cải cách thể chế, cải tạotâm lý, ý thức và biến đổi môi trường xã hội, để hoạt động tự quản của cộngđồng cơ sở trở thành nhân tố tham dự vào quá trình phát triển xã hội
1.2.1.2 Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở - sự vận động khách quan và yêu cầu chủ quan
Con người trong thế giới của mình muốn tồn tại và phát triển trong xãhội thì phải tìm ra và thống nhất cung cách cư xử với nhau, trước hết nó baohàm các quy tắc ràng buộc phi chính thức như các giá trị, chuẩn mực, cungcách ứng xử của con người trong cộng đồng "Chúng đã hình thành từ khiquan hệ giữa người với người vượt lên trên các quan hệ bầy đàn của các loàiđộng vật có sinh hoạt xã hội khác” [57, tr.34]
Động lực của cộng đồng là tối ưu hoá quyền lợi của mọi thành viên chứkhông chỉ riêng một cá nhân nào thông qua thoả thuận và phối hợp trongnhững đề xuất chung, giải pháp chung và luật chơi chung Tất nhiên sẽ có
Trang 37những vướng mắc nẩy sinh, mâu thuẫn hình thành và luôn thay đổi Nhưngnhững sự cạnh tranh tranh này không gay gắt mà luôn có động lực hướng vềhoàn thiện mình để củng cố uy thế xã hội mạnh hơn, làm cho xã hội trở nênhiệu quả, sự hợp tác nhẹ nhàng giữa các tác nhân giúp đạt tới cân bằng quyềnlợi tập thể, tạo sự đồng thuận chung Đây cũng chính là sự vận động của thếgiới tự nhiên và quy luật của xã hội loài người trong sự phát triển đi lên,nhưng nó khác ở chỗ hoạt động tự thân của cộng đồng nhẹ nhàng hơn, khôngtiềm ẩn và sục sôi những mâu thuẫn và hoạt động cạnh tranh mạnh mẽ, mộtmất một còn kiểu “thương trường là chiến trường” như hoạt động của nhànước và hoạt động của thị trường Hoạt động tự quản xuất phát điểm trong cáikhung như thế nên trong quá trình tiến hoá, thay đổi cũng không nổi bật nhưhoạt động của nhà nước hay thị trường, nó không có những thay đổi muônhình vạn trạng trong đời sống chính trị, kinh tế, thương mại, sự phát triển như
vũ bão của khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng hiện đại Nhưng cũngchính vì điểm này mà hoạt động tự quản của cộng đồng cho phép con người
có những lối đi nhỏ, hài hoà, xoa dịu và điều chỉnh những cái thô ráp, khôngkém gồ ghề của các hoạt động khác, nó lưu giữ lại và để chuyển giao các giátrị truyền thống giữa các thế hệ, hoạt động tự quản là sự thừa hưởng “ditruyền” từ chính đặc trưng của cộng đồng, nó hình thành và sẽ vận hành ổnthoả trong khuôn khổ những gì đã kế thừa được, dù đó là những lần “độtbiến” đi chăng nữa thì vẫn là ở mức độ tự nhiên, bền vững nẩy sinh giữa conngười với con người, nó khác với nhà nước bởi quan hệ mang tính tổ chức xãhội cao nên khung phạm vi hẹp hơn và mang tính chủ quan hơn Vậy trênbình diện cụ thể hơn thì nó thể hiện những nội dung:
- Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở là một hoạt độngđặc thù bởi xuất phát từ những đặc điểm của nó khác với các cấp chính quyềnkhác như Huyện, Tỉnh, Trung ương trong khi nhà nước thì không thể và cũngkhông cần thiết để bao biện hết mọi nhiệm vụ và quyền lực của mình
Trang 38- Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị đều có phương thức đặc thù vànhiệm vụ riêng Cộng đồng dân cư gắn phương thức sống của mình với hoạtđộng tự quản là phù hợp với điều kiện sống của mình (Đơn cử: Đảng gắn vớiphương thức lãnh đạo, Nhà nước gắn với phương thức quản lý; các tổ chứcchính trị xã hội gắn với phương thức tự nguyện, đồng thuận; cộng đồng dân
cư gắn với phương thức tự quản: nghĩa là kết hợp các phương thức trên)
- Hoạt động tự quản sẽ khơi dậy được sự chủ động, sáng tạo của từng
cơ sở trong việc khai thác hết mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của từng ngườidân và là nguồn lực rất tốt cho xã hội phát triển đi lên
- Thể hiện được thực quyền của người dân; từ đó xây dựng bộ máyquyền lực, quan phương theo ý kiến và quyết định của người dân cơ sở Từ đóxây dựng một xã hội công dân đích thực phù hợp với điều kiện của đất nước
ta, tạo niềm tin cho người dân vào chế độ XHCN mà toàn Đảng, toàn dânđang xây dựng
- Phát huy hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở chính làxuất phát từ thực tế các nguồn lực từ nhà nước chưa đủ, đặc biệt là ngân sách,kinh phí Do đó cần thực hiện sự huy động xã hội từ cơ sở
- Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở buộc quyền lực nhànước phải đổi mới; chống sự trì trệ quan liêu, gắn chính sách của mình với đa
số, phục vụ đa số, tạo một cán cân tốt đối với nhà nước trong việc thể hiệnbản chất của mình là nhà nước của dân, do dân, vì dân
1.2.1.3 Cơ cấu xã hội của hoạt động tự quản cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở
Tham gia hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư cơ sở nhìn chung hiệnnay có sự tồn tại các loại hình sau:
- Cộng đồng dân cư thuần nông, độc canh cây lúa là chủ yếu
- Cộng đồng dân cư kết hợp giữa thuần nông với nghề thủ công nghiệptruyền thống
Trang 39- Cộng đồng dân cư có số đông các hộ nông dân chuyển sang kinh doanhbuôn bán trên thị trường hoặc làm dịch vụ thương mại, dịch vụ sản xuất.
Về thành phần dân cư thì có sự tập hợp khá đa dạng mà quan hệ cũngnhư đời sống chính trị - xã hội không kém phần phức tạp:
- Bộ phận cộng đồng dân cư nông nghiệp, những cá nhân nông dân và hộnông dân, xét về mặt tổ chức thì gia đình - cộng đồng bé nhỏ nhất lại là hạt nhâncủa hoạt động tự quản cộng đồng, gia đình có gia đình hạt nhân với hai thế hệ và
có cả gia đình nhiều thế hệ, có gia đình đầy đủ và gia đình không đầy đủ
- Tham gia hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư cơ sở ngoài bộ phậnnông dân còn có những nhóm nghề nghiệp không phải nông dân Đó là nhữngngười thợ thủ công, những người làm nghề buôn bán, dịch vụ, những ngườilao động trí óc trong hệ thống các trường học từ mầm non đến trung học cơ
sở, đó còn là các bác sĩ, nhân viên y tế tại các trạm y tế, đó còn là các kỹ sư,nhân viên kỹ thuật đang làm việc tại xã, ngoài ra còn có các nhân viên thươngnghiệp, tín dụng, bưu điện, văn hoá
- Cộng đồng dân cư ở đây còn có những cán bộ công chức, có nhữngngười trước đây từng giữ trọng trách cao trong các cơ quan nhà nước nhưng
đã nghỉ hưu và một trong số họ vẫn gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia công táccủa cộng đồng dân cư, những người này rất được bà con làng xóm cũng nhưnhững người điều hành thể chế làng xã trọng nể Cùng với bộ phận giáo viên,
kỹ sư, bác sĩ họ hợp thành một tầng lớp xã hội có học thức và am hiểuđường lối, chính sách, pháp luật để có điều kiện để tham gia hoạt động tựquản một cách tích cực nhất
- Tự quản trong cộng đồng dân cư ở cơ sở còn là khả năng vượt lên trênhoàn cảnh, lập nghiệp, sinh sống rất lạc quan, ngoài bộ phận cựu chiến binhthì còn có cả những thương bệnh binh, những nạn nhân của chiến tranh, xãhội, họ vẫn sống đầy hy vọng vào ngày mai bằng chính những cố gắng hiện
Trang 40tại của họ bằng cách tham gia vào các tổ chức đoàn thể, hoạt động tích cựcnhư những tấm gương sáng của cộng đồng.
- Dân cư ở cộng đồng còn là những phạm nhân đã cải tạo xong nay vềtái hoà nhập cộng đồng, cũng có cả những đối tượng xã hội phức tạp cư trúbất hợp pháp, đang là đối tượng quản lý của ngành an ninh Ngoài ra còn cómột bộ phận dân cư từ nơi khác đến địa bàn để lao động đó là các công nhânnhà máy, những người lao động dịch vụ
- Cộng đồng dân cư còn là những người theo đạo, những người hànhđạo và mang chức sắc tôn giáo, họ có mặt trong cộng đồng và có có sự ảnhhưởng nhất định đến dân chúng Bên cạnh đó vẫn có những người hành nghề
mê tín dị đoan, những người khám bệnh và chữa bệnh bất hợp pháp
- Một số cộng đồng dân cư còn tổ chức chăm sóc những bà mẹ ViệtNam anh hùng, người cao tuổi không nơi nương tựa, trẻ em lang thang, cơnhỡ, thất học Dẫu rằng không phải cộng đồng dân cư cơ sở nào cũng có cácthành phần dân cư như trên, nhưng nhìn chung trong mỗi cộng đồng dân cư ở cơ
sở đều có những bộ phận dân cư như trên, họ là lực lượng thành viên tham giahoặc là những đối tượng chịu sự chi phối của hoạt động tự quản ở cộng đồng dân
cư cơ sở Qua đó cũng thấy sự đa dạng và phức tạp của cộng đồng dân cư cơ sở,với sự chuyển động đan xen cả mặt thuận lẫn nghịch, những tích cực và tiêu cực
từ những thành phần cộng đồng càng thấy được những trọng trách cần quan tâmkhi thực hiện hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư cơ sở
1.2.1.4 Vai trò của hoạt động tự quản
Qua mối quan hệ giữa hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và sựquản lý của nhà nước để chúng ta thấy những mặt nào là tốt, những xu hướngnào là tích cực cần được phát huy và những mặt nào là tiêu cực cần phải đượcloại bỏ; cái đích chung là lợi ích thiết thực, đúng đắn của cộng đồng dân cư ở
cơ sở, nơi người dân đang vật lộn với cuộc mưu sinh của mình; nhà nước làcái gì to tát nhưng cũng chính là cái gì gần gũi nếu sự quản lý đó đóng vai trò