MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chơng 1: NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM ĐỊNH HỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NỚC TA HIỆN NAY51.1. Nhân tố chủ quan và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội51.2. Vai trò nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta19Chơng 2: PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN BẢO ĐẢM ĐỊNH HỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NỚC TA - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP422.1. Thực trạng việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta422.2. Một số giải pháp nâng cao và phát huy vai trò nhân tố chủ quan nhằm bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay60KẾT LUẬN84DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO87
Trang 1Mục lục
Trang
Chơng 1: Nhân tố chủ quan và vai trò của nó đối với
việc bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở n-
Chơng 2: Phát huy vai trò nhân tố chủ quan bảo đảm
định hớng xã hội chủ nghĩa quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta - Thực trạng và giải pháp
42
2.1 Thực trạng việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan bảo đảm
định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần ở nớc ta
42
2.2 Một số giải pháp nâng cao và phát huy vai trò nhân tố chủ
quan nhằm bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay
60
Trang 3kỳ CNH, HĐH đất nớc.
Song, thực tiễn cũng cho thấy, sự phát triển nền kinh tế ở nớc ta bêncạnh những mặt tích cực nh đã nêu, đồng thời đã bộc lộ những khuyết tật cónguy cơ chệch hớng XHCN Nguy cơ đó xuất phát từ những điều kiệnkhách quan và ngay cả trong nhân tố chủ quan của nớc ta Để bảo đảm địnhhớng XHCN trong quá trình phát triển nền kinh tế ở giai đoạn tiếp theo, đòihỏi cần có sự nỗ lực; sự phát huy cao độ vai trò nhân tố chủ quan của Đảng
và Nhà nớc ta Vì đây là hai chủ thể quan trọng nhất nhằm bảo đảm giữvững định hớng XHCN quá trình phát triển nền kinh tế Bởi vậy, việc
nghiên cứu "Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vừa cơ bản vừa cấp thiết.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề vai trò "nhân tố chủ quan" và "điều kiện khách quan" tronglịch sử đã đợc các nhà triết học đề cập, nghiên cứu Ngay trong các tác
Trang 4phẩm của mình các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã đề cậpnghiên cứu nhiều về vấn đề đó Do vị trí và ý nghĩa cả về lý luận và thựctiễn, những năm gần đây ở nớc ta nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về
"nhân tố chủ quan" và "điều kiện khách quan" đối với quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội, nh các công trình nghiên cứu sau:
- "Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng con
ngời mới ở Việt Nam" Luận án PTS của Nguyễn Thế Kiệt; Hà Nội, 1988.
- "Quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan trong quá
trình xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hớng XHCN ở nớc ta" Luận án Thạc sĩ của Chế Công Tâm, Hà Nội, 1993.
- "Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với
quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa"
Luận án PTS của Dơng Thị Liễu; Hà Nội, 1996
- "Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Một số vấn đề về lý
luận và thực tiễn ở nớc ta hiện nay" Luận án TS của Phạm Ngọc Minh, Hà
Nội, 2000
Bên cạnh những công trình chuyên khảo về vấn đề này, nh đã nêutrên, các tạp chí "Cộng sản", "Triết học", "Nghiên cứu Lý luận", "Thông tin
Lý luận"… Cũng đã xuất hiện nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu Cũng đã xuất hiện nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu
đề cập tới việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan nh:
- "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc nớc ta" của Dơng Phú Hiệp, tạp chí Triết học số 2/1973.
- "Vị trí và vai trò của nhân tố chủ quan trong cơ chế tác động của
quy luật xã hội" của Phạm Văn Đức, tạp chí Triết học số 3/1989.
- "Những yếu tố cơ bản làm tăng cờng chất lợng của nhân tố chủ
quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội" của Trần Bảo, tạp chí Triết học số 3
tháng 9/1991
Trang 5- "Xu hớng và các nhân tố bảo đảm định hớng XHCN của nền kinh
tế nhiều thành phần" của Nguyễn Chí Mỹ, tạp chí Cộng sản số 10/5/1997
v.v
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây rất có giá trị , cáctác giả nghiên cứu đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của điều kiệnkhách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình phát triển xã hội nói chung
và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta nói riêng
Tuy nhiên cho tới nay, vẫn cha có công trình nào đi sâu vào nghiêncứu có tính hệ thống vai trò nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hớngXHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta Vì vậy, tác giảluận văn mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này Với mongmuốn có những đóng góp nhất định về phơng diện lý luận và thực tiễn, gópphần vào việc xây dựng giải pháp nâng cao chất lợng nhân tố chủ quan,nhằm giữ vững định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
ở nớc ta
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Luận văn có mục đích: Trên cơ sở làm rõ vai trò nhân tố chủ
quan trong việc bảo đảm định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần ở nớc ta và đánh giá thực trạng của việc phát huy nhân tố chủquan hiện nay, từ đó nêu ra một số giải pháp nâng cao chất lợng nhân tốchủ quan
Để đạt đợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Làm rõ nội dung khái niệm "nhân tố chủ quan" và "điều
kiện khách quan" và vai trò của nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hộinói chung và bảo đảm định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần ở nớc ta nói riêng
Thứ hai: Khảo sát thực trạng việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan,
chỉ ra những bất cập của nó, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao nhân
Trang 6tố chủ quản nhằm bảo đảm định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay.
3.2 Giới hạn của luận văn
Luận văn chỉ tập trung đi vào phân tích và làm rõ vai trò nhân tố chủquan của Đảng và Nhà nớc ta là hai chủ thể cơ bản và quan trọng nhất trongviệc lãnh đạo, quản lý và định hớng nền kinh tế phát triển theo hớng XHCN
4 Cái mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm địnhhớng XHCN sự phát triển nền kinh tế ở nớc ta hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò nhân tố chủ quan,nhất là ở địa phơng, cơ sở
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn đợc thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên lý, các nguyên tắcphơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin T tởng Hồ Chí Minh, đờng lối,chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc, kế thừa một cách hợp lý cáccông trình có liên quan
- Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã dùng các phơngpháp nghiên cứu khoa học nh: Phân tích, tổng hợp, lôgic và lịch sử, hệthống và yếu tố v.v
6 ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn trớc tiên nhằm nâng cao nhận thứccho tác giả Luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việchọc tập, nghiên cứu và giảng dạy bộ môn triết học trong các trờng chính trịtỉnh thành
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn bao gồm 2 chơng 4 tiết
Trang 7Chơng I
Nhân tố chủ quan và vai trò của nó đối với việc bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay
1.1 Nhân tố chủ quan và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội
1.1.1 Khái niệm: "Nhân tố chủ quan", "Điều kiện khách quan"
Khái niệm nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan đợc hìnhthành và phát triển trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của conngời Do vậy, để làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm đó, đòi hỏi phải
đề cập tới các khái niệm có liên quan tới hoạt động của con ngời Đó lànhững khái niệm: "chủ thể", "khách thể"
Khái niệm "chủ thể": trong hoạt động tác động và cải tạo thế giớikhách quan, con ngời vừa là sản phẩm của hoàn cảnh khách quan; đồng thời
là chủ thể của hoạt động cải tạo hoàn cảnh khách quan, từ đó hình thành nênkhái niệm chủ thể Đây là một khái niệm đã đợc nhiều nhà triết học quan tâmnghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đa ra nhiều
định nghĩa và cách hiểu khác nhau về nội dung của khái niệm này nh:
Có ngời cho rằng: "Chủ thể" là con ngời (cá nhân hoặc nhóm ) tiếnhành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn 59, tr 92
Cũng có ngời hiểu: "chủ thể là con ngời có ý thức và ý chí, và đốilập với khách thể bên ngoài" 60, tr 192
Qua những quan niệm khác nhau trên đây cho thấy: tùy theo cấp độxem xét, chủ thể có thể là cả loài ngời, có thể là một nhóm, một giai cấp,một đảng phái Đang thực hiện một quá trình hoạt động nhằm cải tạokhách thể tơng ứng
Trang 8Kế thừa những cách hiểu trên, trong luận văn này chúng tôi quan niệm:Chủ thể - đó là con ngời với những cấp độ tồn tại khác khác nhau(cá nhân, nhóm, giai cấp) đã và đang thực hiện sự tác động đến khách thể.
Với khái niệm chúng tôi đã nêu trên, cho thấy: Con ngời là chủ thể,
đó là con ngời thực tiễn, con ngời hành động, đặc trng cơ bản nhất là cónăng lực hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo khách thể (tự nhiên, xã hội) Nétbiểu hiện về năng lực sáng tạo của chủ thể đó là việc lựa chọn những hìnhthức và phơng pháp tác động, xây dựng ý chí và quyết tâm trong quá trìnhtác động vào khách thể, nhằm đạt đợc mục đích đề ra Đúng nh trớc đây LêNin đã từng viết: "Khái niệm ấy (bằng con ngời) là khuynh hớng tự mìnhthực hiện mình, qua bản thân mình, một tích khách quan trong thế giớikhách và tự hoàn thiện (tự thực hiện) mình" 27, tr 228
Khái niệm "khách thể" và khái niệm "chủ thể" có mối liên hệ hữucơ và liên quan mật thiết với nhau Với cách hiểu nội dung khái niệm "chủthể" nh đã nêu trên Chúng tôi quan niệm về khách thể, đó là:
Khách thể là tất cả những gì mà chủ thể hớng vào nhằm nhận thức
và cải tạo nó
Với cách hiểu và quan niệm nh vậy, theo chúng tôi: Khách thể phải
đợc xác định tùy thuộc vào chủ thể tơng ứng với nó và do vậy khách thểkhông phải là toàn bộ hiện thực khách quan, nó chỉ là một bộ phận của hiệnthực khách quan (là các sự vật hiện tợng, quá trình ), các bộ phận đó chịu
sự tác động của chủ thể xác định Nói cách khác, tùy từng cấp độ xác định vềchủ thể để chúng ta xác định khách thể Do hiện thực khách quan hết sứcphong phú, từ đó khách thể là những bộ phận của nó cũng rất đa dạng Cókhách thể là những hiện tợng, quá trình thuộc giới tự nhiên; có khách thể lànhững hiện tợng, quá trình thuộc về lĩnh vực đời sống xã hội Chẳng hạn,những quan hệ kinh tế, những quan hệ chính trị - xã hội, kể cả những quan
hệ t tởng cũng là những khách thể của những chủ thể tơng ứng 35
Trang 9Khách thể và chủ thể có liên quan mật thiết với nhau, quy định lẫnnhau Không thể nói tới một khách thể cụ thể, nếu không nói tới một chủthể xác định Bởi vì, chủ thể và khách thể có mối quan hệ biện chứng vớinhau, chúng chỉ tồn tại với t cách là chủ thể và khách thể khi lấy nhau làmtiền đề Khách thể tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào chủ thể song kháchthể không đối lập trừu tợng với chủ thể Vì nó chính là đối tợng mà chủ thểluôn luôn hớng vào cải tạo bằng hoạt động có ý thức của mình.
Khi xem xét hoạt động của con ngời, ngời ta không chỉ nghiên cứucác khái niệm chủ thể và khách thể; mà còn quan tâm tới khái niệm "nhân
tố chủ quan" và "điều kiện khách quan" Bởi vì các khái niệm điều kiệnkhách quan và nhân tố chủ quan đợc dùng để chỉ mối quan hệ giữa hoạt
động có ý thức của con ngời và hoàn cảnh mà trong đó con ngời hoạt động
Khái niệm nhân tố chủ quan không hoàn toàn đồng nhất với kháiniệm chủ thể Hiện nay trên sách, báo, tạp chí nghiên cứu xuất hiện nhiềunhững quan niệm khác nhau về khái niệm nhân tố chủ quan
Chẳng hạn, trong khi nghiên cứu khái niệm "nhân tố chủ quan", cótác giả đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con ngờinói chung "Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ýthức của những con ngời, những giai cấp, những chính đảng sáng tạo ra lịch
sử " 36, tr 18 Cũng có tác giả lại giới hạn và đồng nhất nhân tố chủ quanvới hoạt động tự giác của con ngời Nh vậy, nhóm quan niệm nêu trên th-ờng nhấn mạnh đặc trng sáng tạo của ý thức, t tởng, nhấn mạnh vai trò của
ý thức trong việc phản ánh điều kiện khách quan
Những quan niệm trên đây có nhiều giá trị và tính hợp lý, vì đã chỉ
ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con ngời Nhng, nếu
đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có thức của con ngời; hoặc giớihạn nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con ngời, thì theo chúng tôicha thật đầy đủ và nh vậy dễ dẫn đến tình trạng "chủ quan hóa" hoạt động
Trang 10của con ngời Bởi vì, hoạt động của con ngời không chỉ thuần túy thuộc vềnhân tố chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện khách quan.
Ngoài những quan niệm nêu trên, còn có quan niệm đồng nhất nhân
tố chủ quan với ý thức của chủ thể hoạt động Về quan niệm này, A.K.Uleđôp
đã nhận xét và phê phán một cách xác đáng, rằng:
Nhiều phẩm chất t tởng, tâm lý xã hội, đạo đức của cáctập đoàn xã hội, của các giai cấp và các tổ chức của nó, của cácdân tộc là nằm trong nội dung của nhân tố chủ quan, nhng sẽ làsai lầm khi cho rằng toàn bộ ý thức xã hội cũng nằm trong đó.Nhân tố chủ quan không phải là ý thức nói chung (cũng hệt nh là
sự hoạt động), mà là các ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kíchthích và phơng châm của hoạt động Nói cách khác là ý thức đãbiến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động củachủ thể 61, tr 69
Nh vậy, theo A.K.Uleđôp nhân tố chủ quan chỉ bao gồm những bộphận ý thức của chủ thể tham gia vào quá trình tơng tác giữa chủ thể vàkhách thể
Theo chúng tôi, nói tới "nhân tố chủ quan", trớc hết chúng ta cần đềcập tới đặc trng cơ bản của nó là "tính tích cực, tính sáng tạo" của chủ thểhoạt động Bởi lẽ, các nguyên lý triết học Mác xít chỉ ra rằng, con ngời vừa
là sản phẩm của hoàn cảnh nhng đồng thời là chủ thể của hoàn cảnh đó Do
đó, khi đặt trong mối quan hệ chung nhất, đối diện với giới tự nhiên chúng
ta có khái niệm con ngời Khi đặt con ngời (có thể là cả loài ngời, hoặc một
bộ phận, một cá nhân trong trạng thái đang tích cực hoạt động trớc một đốitợng cần nhận thức và cải tạo nó theo mục đích nhất định, lúc đó chúng ta
có khái niệm chủ thể và đối lập với nó là khách thể Còn khi xem xét conngời - chủ thể tích cực hoạt động trong một hoạt động xác định, với đầy đủcác mặt, các yếu tố, mối quan hệ Tức khi xem xét con ngời - chủ thể đó
Trang 11với tất cả các nhân tố tạo thành tính tích cực của chủ thể - các nhân tố vừa
là nguyên nhân, vừa là điều kiện của mọi hoạt động tích cực, sáng tạo củachủ thể chúng ta có khái niệm nhân tố chủ quan và đối lập với nó là điềukiện khách quan [43, tr 58]
Nh vậy, "vấn đề nhân tố chủ quan trong lịch sử dù ngời ta tiếp cậnviệc giải quyết nó về mặt nào và ở bình diện nào đi nữa cũng chỉ có thể đợcvạch ra thông qua sự phân tích đặc trng về chất của những chủ thể lịch sử"
61, tr 67 Nhng điều đáng lu ý, không phải là bản thân các chủ thể lịch sử
đó đóng vai trò nhân tố chủ quan, mà những thuộc tính, những phẩm chất,những trạng thái của chủ thể biểu hiện trong hoạt động đóng vai trò nhân tốchủ quan Những thuộc tính, phẩm chất của chủ thể là nhân tố chủ quan, lànhững yếu tố cần thiết để tạo ra khả năng tích cực, sáng tạo của chủ thể.Biểu hiện sức mạnh sáng tạo đó của chủ thể phải đợc thể hiện thông quahành động thực tiễn cải tạo các khách thể xác định Tổng hợp toàn bộnhững nội dung đó tạo thành khái niệm nhân tố chủ quan Nhấn mạnh điều
đó tác giả V.N Lavrineko cho rằng:
Nhân tố chủ quan trong quá trình lịch sử là những khảnăng khác nhau của con ngời mà bằng sự tác động của mình, đã
đem lại sự biến đối trong những mặt nhất định của đời sống xãhội Điều quan trọng nhất cấu thành nhân tố chủ quan là ý thức
và nói chung là đời sống tinh thần của con ngời, những kỹ năng,
kỹ xảo và thói quen của họ trong hoạt động sản xuất, kinhnghiệm xã hội, trình độ văn hóa và đồng thời là những phẩm chất
ý chí của họ: Tính tổ chức trong hoạt động của con ngời có một ýnghĩa to lớn 35, tr 20
Từ những nội dung phân tích trên đây cho thấy, giữa nhân tố chủquan và chủ thể có sự thống nhất, nhng không đồng nhất với nhau Sự thốngnhất giữa khái niệm "chủ thể" và "nhân tố chủ quan" đợc thể hiện ở chỗ:
Trang 12nhân tố chủ quan là thuộc về chủ thể Còn giữa các khái niệm này có sựkhác nhau và tính độc lập tơng đối, vì nhân tố chủ quan, là khái niệm để chỉnhững yếu tố, đặc trng cấu thành phẩm chất của chủ thể, đợc chủ thể huy
động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng nh động lực của chủ thể nhằm để
biến đổi khách thể cụ thể Với quan niệm nh trên, chúng tôi hiểu: Nhân tố
chủ quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào một hoạt
động cụ thể của chủ thể cũng nh bản thân sự hoạt động đó.
Với quan niệm về khái niệm nhân tố chủ quan nêu trên, theo chúngtôi, cấu trúc của nhân tố chủ quan, bao gồm các nhân tố sau đây:
Thứ nhất: ý thức của chủ thể là nhân tố cấu thành nội dung khái
niệm nhân tố chủ quan Song điều đáng lu ý ở đây, không phải toàn bộ ýthức nói chung của chủ thể là nhân tố chủ quan ý thức của chủ thể tồn tạivới t cách là yếu tố của nhân tố khách quan là bộ phận ý thức đã trở thành
sự chỉ đạo, sự kích thích và là phơng châm của hoạt động, nói cách khác là
ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủthể 35, tr 19
Thứ hai: Nói tới nhân tố chủ quan là nói tới hoạt động có ý thức
của chủ thể (con ngời cụ thể, của giai cấp, của chính đảng ) để sáng tạo
ra lịch sử; là nói tới những hoạt động thực tiễn của họ để giải quyết nhữngnhiệm vụ lịch sử nhất định Do đó, nhân tố chủ quan không chỉ thuần túy
là ý thức của chủ thể mà còn bao gồm cả bản thân quá trình hoạt động đó.Nhấn mạnh vai trò của hoạt động cải tạo thế giới của con ng ời với t cách
là chủ thể, Mác viết: "T tởng căn bản không thực hiện đợc gì hết, muốnthực hiện t tởng thì cần có những con ngời sử dụng lực lợng thực tiễn" 32,
tr 187 Từ những nội dung trên đây, chúng tôi cho rằng, cấu thành nhân
tố chủ quan còn bao gồm cả quá trình hoạt động cải tạo thực tiễn của chủthể đối với một khách thể xác định
Trang 13Thứ ba: Sức mạnh hoạt động thực tiễn của các chủ thể lịch sử - xã
hội là sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh thể chất và sức mạnh tinhthần Do đó, thuộc về nhân tố chủ quan còn bao gồm cả những phẩm chất,những trạng thái thuộc về năng lực thể chất của chủ thể Tức là, khi chủthể đợc xem xét là con ngời cụ thể thì đó là phẩm chất, thể lực Còn khichủ thể đợc xem xét với tính cách là một tổ chức, một lực lợng xã hội thì
điều đó đợc xem xét dới góc độ là tính tổ chức; sự phối kết hợp giữanhững bộ phận cấu thành nên tổ chức hay lực lợng xã hội đó Bởi vì, trongquá trình lịch sử, các chủ thể lịch sử đợc xem xét tùy theo cấp độ đó lànhững con ngời cá biệt với ý thức ý chí và khả năng hoạt động của họ ;mặt khác còn xem xét ở cấp độ đó là những lực lợng xã hội (nh giai cấp,
đảng phái )
Nh chúng ta đều biết, bất cứ một chủ thể lịch sử - xã hội nào, cho dù
ở các vị trí và địa vị xã hội khác nhau, trong hoạt động và tồn tại đều gắnliền với một điều kiện khách quan xác định cụ thể Do vậy, trong mỗi hoạt
động của chủ thể, các yếu tố hợp thành điều kiện khách quan rất phong phú
và đa dạng, bao gồm nhiều mặt Nh, các yếu tố, các kết cấu vật chất tồn tạidới dạng có sẵn trong tự nhiên; các yếu tố vật chất tồn tại dới dạng xã hội.Những yếu tố có tính vật chất, cùng với các yếu tố tinh thần nh t tởng, tâm
lý, tập quán đang tồn tại hiện thực trong xã hội hợp thành một hoàn cảnh
để chủ thể tồn tại và hoạt động - đó cũng là điều kiện khách quan
Trong nghiên cứu, khi đề cập tới khái niệm điều kiện khách quancác nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau và cũng đã đa
ra những quan niệm về cơ bản thống nhất với nhau về khái niệm đó, chẳnghạn:
- Những điều kiện khách quan là tất cả những gì tạo nên một hoàncảnh hiện thực quy định và tác động lên mọi hoạt động của chủ thể, tồn tạikhông phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động 4, tr 19
Trang 14- Điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các nhân tố tạo nên mộthoàn cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tác động vàohoạt động của chủ thể trong hoàn cảnh cụ thể đó 35, tr 12.
- Điều kiện khách quan là những yếu tố tạo nên một hoàn cảnh hiệnthực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể đang hoạt động ở những thời
điểm cụ thể nhất định và có tham gia vào việc quy định kết quả hoạt độngcủa chủ thể 36, tr 16
Kế thừa những quan niệm đó, chúng tôi hiểu: Điều kiện khách quan
là tổng thể các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ tồn tại ở bên ngoài chủ thể, độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thờng xuyên tác động, quy định hoạt động của chủ thể trong mỗi hoạt động xác định.
Từ khái niệm điều kiện khách quan nh chúng tôi đã nêu trên chothấy: Điều kiện khách quan đó là hoàn cảnh chủ thể tồn tại và hoạt động, nóquyết định hoạt động của chủ thể Bởi vì "Bất kỳ một hoạt động nào củachủ thể cũng có thể đợc thực hiện khi có những điều kiện nhất định Những
điều kiện đó đóng vai những tiền đề của hoạt động" 61, tr 71-72
Xét về các yếu tố cấu thành điều kiện khách quan, trớc hết phải nói
đến những điều kiện vật chất tạo nên một hoàn cảnh hiện thực, độc lập vớichủ thể xác định và quy định hoạt động của chủ thể đó Nếu nh các điềukiện vật chất bao giờ cũng là những điều kiện khách quan xét trong mối t-
ơng quan chung với ý thức, song điều kiện khách quan đợc xác định cụ thểlại không phải chỉ là những điều kiện vật chất mà còn bao gồm cả nhữngyếu tố thuộc lĩnh vực ý thức, t tởng Những hiện tợng tinh thần, ý thức tồntại khách quan đối với một chủ thể cụ thể, ảnh hởng đến hoạt động của chủthể, đó cũng là yếu tố cấu thành điều kiện khách quan
Nh vậy những yếu tố vật chất và tinh thần t tởng tồn tại khách quanvới chủ thể cụ thể, cấu thành hoàn cảnh và tác động đến hoạt động của chủthế đó đều là những bộ phận cấu thành điều kiện khách quan
Trang 15Nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan có mối liên hệ hữu cơvới nhau Theo quan điểm mác xít, nhân tố chủ quan và điều kiện kháchquan có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó điều kiện khách quan là tínhthứ nhất, nó quy định nhân tố chủ quan Vai trò này của điều kiện kháchquan đợc thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là: Hoạt động của chủ thể là quá trình thực hiện mục đích
nhằm để thỏa mãn nhu cầu Vai trò quy định của điều kiện khách quan đốivới nhân tố chủ quan thể hiện ở chỗ, mục đích, mục tiêu chủ thể đặt ra phảixuất phát từ những điều kiện và khả năng của hiện thực Đối với con ngờinói chung, đối với một chủ thể xác định nói riêng nào đó không phải là họmuốn làm gì, mà họ có thể làm gì Do đó, chỉ những mục tiêu nào của chủthể xuất phát từ khả năng của hiện thực, của điều kiện khách quan thì hoạt
động của chủ thể mới có khả năng thành công Khẳng định điều đó, Lênin
đã từng viết: "Thật ra, mục đích của con ngời là do thế giới khách quan sảnsinh ra và lấy thế giới khách quan làm tiền đề" 27, tr 201
Hai là: Điều kiện khách quan quy định hoạt động thực tiễn của chủ
thể Tức là, phơng thức hoạt động thực tiễn của chủ thể nó bị quy định bởi
điều kiện, hoàn cảnh khách quan Nói về điều này, Mác viết:
Nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm
vụ mà có thể giải quyết đợc, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ ngời tacũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điềukiện vật chất nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở quatrình hình thành 33, tr 16
Từ luận điểm của Mác cho thấy điều kiện khách quan là yếu tố chiphối và quyết định đến phơng tiện và phơng pháp hành động của chủ thể
Ba là: Điều kiện khách quan quy định sự phát triển của nhân tố chủ
quan Điều đó cũng có nghĩa, tùy ở điều kiện khách quan mà đòi hỏi chủthể hoạt động cải tạo điều kiện đó phải có những phẩm chất tơng ứng Khi
Trang 16điều kiện khách quan đã thay đổi thì nhân tố chủ quan cũng phải thay đổitheo cho phù hợp với sự đòi hỏi của điều kiện khách quan mới.
Tuy bị điều kiện khách quan quy định, nhng nhân tố chủ quankhông phải thụ động hoàn toàn, mà nó có tính tích cực; tính độc lập tơng
đối của nó Vai trò tích cực và sự tác động sáng tạo trở lại của nhân tố chủquan đối với điều kiện khách quan, đó là: Dựa trên năng lực nhận thức củamình, chủ thể xem xét, đánh giá điều kiện khách quan, từ đó chủ thể đặt raphơng hớng, phơng thức để thực hiện nhiệm vụ đã đặt ra Ngoài ra, nhân tốchủ quan, bằng hoạt động thực tiễn, chủ thể đã cải tạo điều kiện, hoàn cảnhkhách quan; tạo ra những điều kiện khách quan thuận lợi cho hoạt động củamình Thực chất vai trò nhân tố chủ quan ở đây, là sự phát hiện ra nhữngkhả năng khách quan, trên cơ sở những điều kiện, phơng tiện vật chất vốn
có của hoàn cảnh khách quan để biến đổi hoàn cảnh theo quy luật vận độngvốn có của nó
1.1.2 Vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội
Lịch sử xã hội là lịch sử của con ngời, do con ngời Hành động làmnên lịch sử xã hội đầu tiên của con ngời, đó là con ngời tiến hành cải tạothế giới tự nhiên nhằm đáp ứng những nhu cầu của mình Khẳng định điều
đó, trớc đây Lênin đã từng chỉ ra: "Thế giới không thỏa mãn con ngời vàcon ngời quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình" [28, tr.229] Chính bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, con ngời đã xác lập nên mốiquan hệ khách quan giữa con ngời với con ngời trong việc cải tạo tự nhiên,
từ đó tạo ra các quan hệ xã hội của con ngời và tạo thành xã hội Do đó "xãhội với tính cách là hệ thống là tổng thể những hình thức hoạt động khácnhau của con ngời, các quan hệ xã hội" [61, tr.106]
Xã hội ra đời không ngừng vận động và phát triển, quá trình pháttriển đó bao giờ cũng sự thống nhất biện chứng giữa cái khách quan và cáichủ quan, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Trong sự tác
Trang 17động lẫn nhau giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, điều kiệnkhách quan bao giờ cũng giữa vai trò quyết định Tuy nhiên điều đó không
có nghĩa, nhân tố chủ quan hoàn toàn thụ động và lệ thuộc vào điều kiệnkhách quan mà nó có thể chuyển đợc các điều kiện khách quan thành nộidung hoạt động tự do sáng tạo của mình Chính vì vậy nhân tố chủ quan cóvai trò to lớn trong tiến trình phát triển của lịch sử [35, tr 24] Vai trò nhân
tố chủ quan đối với quá trình phát triển của xã hội biểu hiện ở chỗ, bằnghoạt động có ý thức; bằng tính tích cực và tự giác của mình các chủ thể lịch
sử nhận thức những điều kiện khách quan; quy luật khách quan của xã hội,
từ đó điều chỉnh các điều kiện khách quan, vận dụng các quy luật kháchquan theo yêu cầu và mục đích của chủ thể [57, tr 95]
Lịch sử đã chứng minh, sự kết hợp giữa điều kiện khách quan đãchín muồi và nhân tố chủ quan đợc phát huy cao độ sẽ gây tác động mạnh
mẽ, có ảnh hởng to lớn đến sự phát triển của xã hội, nhất là việc phát huyvai trò tích cực, tự giác, vai trò chủ động sáng tạo của nhân tố chủ quan.Nhấn mạnh và khẳng định điều đó, trớc đây khi phân tích về điều kiệnkhách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội, V.I.Lênin đã chỉ ranhân tố chủ quan trở thành khâu quyết định để một cuộc cách mạng xã hội
nổ ra và đi đến thành công Ngời đã viết:
Không phải tình thế cách mạng nào cũng làm nổ ra cáchmạng, mà chỉ có trong trờng hợp là cùng với tất cả những thay đổikhách quan nói trên, lại còn có thêm một thay đổi chủ quan, tức làgiai cấp cách mạng có khả năng phát động hành động cách mạng cótính chất quần chúng khá mạnh mẽ đập tan (hoặc lật đổ) chính phủ cũ,
là chính phủ, ngay cả trong thời kỳ có những cuộc khủng hoảng, cũng
sẽ không bao giờ "đổ" nếu không đẩy cho nó "ngã" [27, tr 264] Quan điểm trên đây của V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, để cách mạng nổ
ra và đi đến thành công đòi hỏi phải có sự nỗ lực của nhân tố chủ quan Đó
Trang 18là tính tự giác, sự giác ngộ về t tởng, ý chí, nghị lực cách mạng của giaicấp làm cách mạng Nếu thiếu sự biến đổi, sự nỗ lực chủ quan thì cáchmạng chỉ là một khả năng mà thôi.
Quá trình vận động, phát triển của xã hội luôn tuân theo những quyluật khách quan vốn có của nó Các quy luật khách quan không thể do bất
kỳ ngời nào sáng tạo ra Nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của những điềukiện khách quan nhất định Khi các điều kiện khách quan mất đi, tiêu diệt
đi, thì đồng thời các quy luật tơng ứng cũng mất hiệu lực, không còn tồn tạinữa Điều đó hoàn toàn đúng với cả tự nhiên cũng nh trong thời sống xãhội Bởi vì, tuy trong xã hội sự hình thành hay biến đổi của những điều kiệnkhách quan trong đời sống xã hội do hoạt động của con ngời tạo ra, nhngquá trình hoạt động của con ngời là một quá trình khách quan Nói cáchkhác, tùy theo các điều kiện khách quan hiện đang tồn tại, con ngời bớc vàonhững quan hệ tất yếu, không phụ thuộc vào ý chí và ý thức của họ; nhữngquan hệ ấy biểu hiện các quy luật khách quan của xã hội tơng ứng vớinhững điều kiện khách quan ấy Ví dụ, trong đời sống xã hội, trong điềukiện còn tồn tại một số ngời này có t liệu sản xuất, còn một số ngời khác thìhoàn toàn không có (hoặc có không đáng kể) và đồng thời đợc tự do về mặtpháp luật, thì hai loại ngời ấy nhấn định có quan hệ với nhau với tính cách
là nhà t bản và công nhân làm thuê Do vậy, tất yếu quy luật giá trị thặng dthực hiện trong những quan hệ ấy
Từ những nội dung trên đây chỉ ra, quy luật khách quan trong sựphát triển của xã hội không phải hoàn toàn bất biến, nó sẽ bị thay đổi mức
độ phát huy tác dụng của nó khi điều kiện khách quan bị thay đổi Vì vậyvai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển của xã hội là ở chỗ, nhân tố chủquan biết vận dụng những điều kiện khách quan này, để xóa bỏ điều kiệnkhách quan khách theo những quan hệ tất yếu, vốn có trong sự phát triểncủa hiện thực khách quan Từ đó làm mất hiệu lực của một quy luật khách
Trang 19quan nhất định làm cho quy luật khách quan mới phát huy tác dụng Tức làcăn cứ vào lợi ích của thực tiễn, chủ thể có thể đẩy mạnh, hoặc ngợc lại kìmhãm tác dụng của một quy luật nào đó hay của cả một loạt quy luật Điều
đó cũng có nghĩa, trong quá trình hoạt động thực tiễn của các chủ thể lịch
sử, bằng năng lực chủ quan của mình đã nẩy ra những phơng pháp nhấn
định về việc sử dụng, áp dụng những quy luật khách quan Khi thay đổinhững điều kiện khách quan, thì có thể hớng dẫn, thay đổi hoặc ngăn ngừa
sự phát huy tác dụng của các quy luật
Sự vận động và phát triển của xã hội biểu hiện trên những nấc thangcủa nó, tơng xứng với mỗi nấc thang phát triển là một chế độ kinh tế - xãhội Trong mỗi chế kinh tế - xã hội cùng tồn tại và phát huy tác dụng củanhiều quy luật khách quan, trong đó vai trò phát huy tác dụng của các quyluật khách quan đối với chế độ kinh tế - xã hội đó không phải là ngangnhau Ngoài ra, trong đời sống xã hội, quy luật xã hội bao giờ cũng tác
động lẫn nhau với quy luật tự nhiên Quy luật của tự nhiên ảnh hởng đến xãhội thông qua tác dụng của chính quy luật xã hội Nh vậy, vai trò nhân tốchủ quan còn đợc thể hiện ở chỗ, dựa trên năng lực nhận thức các quy luậtkhách quan (tự nhiên - xã hội), các chủ thể điều chỉnh một cách tự giác sựtác động tổng hợp của nhiều quy luật khách quan, làm cho các quy luậtphát huy tác dụng có lợi nhất đối với chủ thể Nhân tố chủ quan biết vậndụng sự liên hệ lẫn nhau của các quy luật có thể tăng cờng tác dụng củamỗi quy luật bằng cách tạo ra những điều kiện khách quan làm cho sự thíchứng phát huy tác dụng tổng hợp của các quy luật khách quan đó
Sự vận động và phát triển của hiện thực xã hội luôn có rất nhiều khảnăng xảy ra Những khả năng khách quan cho quá trình phát triển phụthuộc vào những điều kiện khách quan của nó, sở dĩ những điều kiện nàyhoặc những điều kiện khác tạo ra những khả năng nhất định chính là do sựquy định của những quy luật khách quan tồn tại trong đời sống xã hội Nó
Trang 20biểu hiện mối liên hệ hợp quy luật giữa các điều kiện với những hiện tợng
mà khả năng của những hiện tợng này là do các điều kiện đó tạo ra Do vậyvai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội chính là quá trình, cácchủ thể lịch sử lựa chọn và hiện thực hóa các khả năng phù hợp với tiếntrình phát triển của lịch sử; phù hợp với yêu cầu và lợi ích của mình Muốnvậy, điều đặc biệt quan trọng là ngời ta phải hiểu đợc khả năng khách quannày nay khả năng khách quan khác đến mức nh thế nào để sử dụng nó, ngời
ta có muốn sử dụng nó không, ý chí và lòng quyết tâm thực hiện nó nh thếnào v.v Nh vậy, trong việc thực hiện những khả năng phát triển của xãhội, ngoài những điều kiện khách quan, cái có ý nghĩa to lớn là vai trò nhân
tố chủ quan, là yếu tố có ý thức, có mục đích khi sử dụng những điều kiệnkhách quan cần thiết để biến khả năng thành hiện thực Các chủ thể lịch sửbằng những phẩm chất vốn có của mình - nhân tố chủ quan, tìm ra con đ-ờng, những biện pháp, phơng tiện tối u hiện thực hóa khả năng, thúc đẩynhanh quá trình lịch sử Nhấn mạnh điều đó, trớc đây cố Tổng Bí th LêDuẩn đã viết:
Trong hoàn cảnh lịch sử nhất định bao giờ cũng có thể cónhiều khả năng tiến lên Và sự vật tiến lên theo khả năng này haykhả năng khác còn tùy thuộc vào ý định của con ngời Cũng nh
để đạt đợc mục đích nhất định, không phải chỉ có một con đờng
mà có thể có nhiều con đờng, giống nh đi đến một điểm trungtâm, ngời ta có thể đi từ trên xuống, hoặc từ dới lên, từ tả qua hay
từ hữu lại Đi theo con đờng nào, cái đó do con ngời quyết định[8, tr 116]
Vai trò nhân tố chủ quan đối với sự phát triển của xã hội đó là, trongtiến trình hoạt động của mình, các chủ thể bảo đảm một cách tự giác và cómục đích cho các quy luật khách quan, những khả năng khách quan pháthuy tác dụng và đợc hiện thực hóa theo một chiều hớng nhất định Quá
Trang 21trình phát triển của xã hội phải xuất phát, dựa trên những điều kiện kháchquan, nhng những điều kiện khách quan chỉ thực sự trở thành nhân tố độnglực thúc đẩy sự phát triển của xã hội khi có đợc sự phát huy vai trò to lớncủa nhân tố chủ quan.
1.2 Vai trò nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta
Từ một nền kinh tế thuần nhất về thành phần và chế độ sở hữuchuyển qua kinh tế nhiều thành phần và đa dạng sở hữu; Từ cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp chuyển quan cơ chế thị trờng; Từ một nền kinh tế
đóng cửa chuyển qua nền kinh tế mở cửa với bên ngoài - Đó là sự chuyển ớng lớn lao, một sự thay đổi sâu sắc trong xây dựng nền kinh tế ở nớc ta.Nhng toàn bộ sự chuyển hớng đó, không phải là chúng ta đã thay đổi mụctiêu, con đờng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và thực hiện suốt mấythập kỷ qua Sự thay đổi đó, chỉ là sự thay đổi về biện pháp; về bớc đi đểchúng ta càng có khả năng sớm đến với mục tiêu XHCN
h-1.2.1 Phát triển theo hớng XHCN - một khả năng khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay
Cách mạng XHCN tháng Mời năm 1917 thành công đã mở ra mộtthời đại mới: thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới
Ngày nay, tuy CNXH đang lâm vào một thời kỳ khủng hoảng, thoáitrào, nhiều mô hình CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ Nhng không phải vì thế
mà tính chất của thời đại đã thay đổi Khẳng định điều đó, Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta cho rằng: "Loài ngời vẫn đangtrong thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội" [13, tr 76]
Nền kinh tế còn nghèo so với thế giới và khu vực Vì vậy, cũng phảithấy rằng, chúng ta lựa chọn con đờng phát triển của đất nớc theo con đờng
Trang 22XHCN trong dòng chảy lịch sử tự nhiên, với những quy luật vốn có của nó,
là sự lựa chọn đúng đắn, nhng hết sức khó khăn Biện chứng của cuộc sống
đã tạo ra một thời đại mới, với những khả năng mới, để các nớc lạc hậu cóthể tiến lên CNXH nhng đấy là con đờng đồng nghĩa với khó khăn, phứctạp
Muốn quá độ lên CNXH, trớc hết phải có lực lợng sản xuất pháttriển Đất nớc ta có thể quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, đó là xu h-ớng và khả năng khách quan của thời kỳ lịch sử hiện nay Nhng chúng takhông thể bỏ qua những tiền đề kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, xã hội cần thiếtcho sự quá độ đó Cái thiếu hụt lớn của nớc ta là lực lợng sản xuất cha pháttriển Với trình độ lực lợng sản xuất còn thấp kém và phát triển không đồng
đều chúng ta không thể thiết lập tràn lan quan hệ sản xuất XHCN Vì vậy
đà phát triển lực lợng sản xuất, tạo tiền đề vật chất và thuận lợi cho CNXHchúng ta phải thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần Chỉ có phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần mới phù hợp với thực trạng trình độ thực tế của lựclợng sản xuất ở nớc ta; chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,chúng ta mới có khả năng huy động đợc mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật;mới có khả năng tạo thêm công ăn việc làm và phát huy nguồn lao động dồidào ở nớc ta để đẩy nhanh sự phát triển lực lợng sản xuất, tăng trởng kinh tế[37, tr.35] Nh vậy, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần là nhu cầukhách quan và phù hợp với quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN
đối với nớc ta Đó là con đờng để tạo ra tiền đề kinh tế kỹ thuật cần thiếtcho sự quá độ lên CNXH
Vấn đề đặt ra cho chúng ta hiện nay là, nền kinh tế nhiều thànhphần, vận động theo cơ chế thị trờng liệu có thể phát triển theo định hớngXHCN đợc hay không? Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đềthực tiễn nóng bỏng Thực tiễn hàng ngày, hàng giờ đang đòi hỏi chúng taphải lý giải và khẳng định đợc trên thực tế xu hớng phát triển đó
Trang 23Nghiên cứu những điều kiện khách quan (trong và ngoài nớc), cho
đến nay chúng ta có căn cứ khẳng định rằng định hớng XHCN nền kinh tếnhiều thành phần ở nớc ta là một xu hớng khách quan, một khả năng kháchquan có đầy triển vọng
Trớc hết những điều kiện khách quan quốc tế: Ngày nay với sự pháttriển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nó đã trở thànhlực lợng sản xuất trực tiếp, với đặc điểm cơ bản so với thời kỳ trớc đây đó làtrí tuệ đóng vai trò là trung tâm Các thành tựu, các phát minh khoa học đãnhanh chóng đợc ứng dụng vào quá trình sản xuất; vào quá trình đổi mớicông nghệ Do vậy, khoa học đã mở ra khả năng to lớn cho phép con ngời,các quốc gia dân tộc, bằng ứng dụng những quy trình công nghệ hiện đại,khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên Nâng trình độ pháttriển quá trình sản xuất của xã hội lên một trình độ mới về chất
Bớc ngoặt quan trọng trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội thểhiện ở chỗ, nó đã thúc đẩy lực lợng sản xuất thế giới bớc vào một thời kỳphát triển cao cha từng có, sự phát triển đó đợc thực hiện trên tất cả các yếu
tố cấu thành lực lợng sản xuất Trong đó, nhất là yếu tố ngời lao động Độingũ ngời lao động ngày nay đòi hỏi phải có hàm lợng trí tuệ cao; có chuyênmôn cơ bản Sự chuyển hóa về chất của lực lợng sản xuất kéo theo nó hàngloạt các chuyển biến khác về lao động sản xuất của con ngời ngay cả trongsản xuất cũng nh khâu tổ chức và quản lý nền sản xuất Từ đó, tạo ra nhữngphơng hớng, cách thức mới cho mọi quốc gia trong việc lựa chọn con đờngphát triển kinh tế của mình, nhất là việc lựa chọn cách thức khai thác cácnguồn lực cho phát triển kinh tế Trong đó nguồn lực ngời lao động đợc xác
định là một trong các nguồn lực quan trọng
Có thể nói, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ,
do đó mở ra một thời cơ lớn cho các nớc đang phát triển (trong đó có ViệtNam) có thể sử dụng; lợi dụng nó nhằm để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
Trang 24tế Vì, nếu biết tận dụng đúng đắn những thành tựu của khoa học - côngnghệ thì chỉ trong khoảng thời gian ngắn có thể chuyển từ nớc lạc hậu trởthành nớc công nghiệp phát triển, và nh vậy rút ngắn đợc khoảng cách sovới các nớc phát triển.
Chính những thành quả của cách mạng khoa học - công nghệ manglại và sự tác động của nó đã thúc đẩy quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tếthế giới Xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới của các quốc gia, dân tộctrở nên tất yếu khách quan Bởi vậy, ngay ở các nớc t bản phát triển, giaicấp t sản đã có những bớc điều chỉnh lớn về quan hệ sản xuất cho phù hợpvới đòi hỏi khách quan của xu thế đó Các công ty t bản mở rộng sự liênkết, đầu t và đi kèm động thái sát nhập nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
Từ đó thúc đẩy nhanh sự phát triển của quá trình chu chuyển vốn bằng con
đờng đầu t, làm cho quá trình sản xuất và dịch vụ mang tính chất quốc tếhóa Nền kinh tế thế giới hiện nay đã phá vỡ tính chất tự khép kín, biệt lậpcả về sản xuất và dịch vụ ở mỗi quốc gia cũng nh từng khu vực Quá trình
đó đã làm cho thị trờng trong từng quốc gia; ở từng khu vực có mối liên hệchặt chẽ với thị trờng ngoài nớc cũng nh ngoài khu vực Thị trờng trongtừng quốc gia có đợc những điều kiện khách quan để nhanh chóng tiếp cậnthị trờng các quốc gia khác trên phạm vi quốc tế bằng cách mở rộng hợp táckinh tế đối ngoại và hoạt động ngoại thơng
Từ sự biến đổi của nền kinh tế thế giới, tạo ra tính thống nhất về thịtrờng thế giới nh đã nêu trên, ngoài ra xu thế toàn cầu hóa đã tác độngmạnh mẽ tới quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế Thực tiễn đãchỉ rõ, đây là yêu cầu tất yếu của việc hội nhập để phát triển kinh tế, nó
đang thực sự là nhân tố kích thích nền kinh tế của mỗi quốc gia vơn lên bắtkịp trình độ thế giới Điều đó đã tạo ra một điều kiện thuận lợi, một cơ hội
để mỗi quốc gia có thể phát huy triệt để các lợi thế của mình, tăng cờngtính độc lập và tính phụ thuộc lẫn nhau trên nguyên tắc bình đẳng, hợp tác
Trang 25cùng có lợi giữa các nớc với nhau Toàn bộ những quá trình đó đã mở ranhững mối quan hệ quốc tế rộng lớn theo xu thế quan hệ đa phơng Thôngqua các mối quan hệ quốc tế rộng lớn, đó là những điều kiện thuận lợi trongquan hệ kinh tế quốc tế, cho phép chúng ta có thể tranh thủ những mặt tíchcực, thuận lợi nhằm thúc đẩy sự phát triển lực lợng sản xuất, thúc đẩy quátrình tăng trởng kinh tế, khắc phục nguy cơ tụt hậu kinh tế.
Với những nội dung đã đợc đề cập và phân tích trên đây cho thấy,quá trình chúng ta phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theocơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN là sự lựachọn đúng đắn những điều kiện khách quan quốc tế Mà trớc hết là sự tác
động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; xu thế toàn cầu hóa vềkinh tế Nếu nh chúng ta có đợc những chủ trơng và định hớng đúng đắn,lựa chọn đợc những lợi thế quốc tế bằng việc xây dựng những chủ trơng phùhợp thì khả năng đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế là một thực tế Và nhvậy việc định hớng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo hớngXHCN là một khả năng khách quan cho phép Tuy vậy cũng phải thấy rằngcùng với những mặt thuận lợi nh đã phân tích, với điều kiện quốc tế hiệnnay còn tiềm ẩn những khó khăn trong quá trình định hớng XHCN sự pháttriển nền kinh tế của nớc ta
Khẳng định khả năng khách quan phát triển theo định hớng XHCNcủa nền kinh tế nhiều thành phần còn bắt nguồn từ chính thực tiễn sau hơn
10 năm đổi mới ở nớc ta
Trớc thời kỳ đổi mới, do cha nhận thức và quán triệt đầy đủ đặc
điểm và hoàn cảnh bao trùm của nớc ta, đó là đi nên CNXH với một xuấtphát điểm về kinh tế còn thấp; từ một nớc nông nghiệp lạc hậu cha trải quagiai đoạn phát triển TBCN nên chúng ta đã vấp phải những sai lầm lệch lạc,chủ quan Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta đã nóng vội xóa bỏ các thànhphần kinh tế phi XHCN, thiết lập ngay nền kinh tế XHCN thuần nhất dới
Trang 26hai hình thức kinh tế quốc doanh và tập thể Điều đó thể hiện rõ nét trongphong trào hợp tác hóa ở miền Bắc vào những năm 1958-1976 và trong cảitạo công thơng nghiệp ở miền Nam năm 1978 Từ đó, làm cho nền kinh tế ởnớc ta không những không phát triển mà còn bị suy thoái, nhiều tiềm năng
và lợi thế kinh tế của đất nớc không đợc khai thác và phát huy
Nhận thức ra những lệch lạc sai lầm trên đây, Đảng ta đã khởi xớng
và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nớc Đó là một cuộc biến đổisâu sắc trong t duy chính trị về CNXH của Đảng, là biểu hiện năng lựcnhận thức đúng đắn các quy luật khách quan quá trình phát triển của xã hội.Vì:
Một xã hội, ngay cả khi phát hiện đợc quy luật tự nhiêncủa sự vận động của nó cũng không thể nào nhảy qua đợc cácgiai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh xóa bỏ những giai
đoạn đó, nhng có thể rút ngắn, làm dịu bớt những cơn đau đẻ [34,
tr 21]
Quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc nêu trên, Đảng ta đã chủ
động xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơchế thị trờng theo định hớng XHCN
Với đờng lối phát triển kinh tế đúng đắn và đã đợc Đảng ta đề ra từ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) và tiếp tục đợc bổ sung
và hoàn thiện trong các văn kiện tiếp theo, đã tạo thành động lực thúc đẩyquá trình phát triển nền kinh tế nớc ta thời gian qua
Từ thực tiễn, nhất là thời kỳ thực hiện định hớng XHCN sự pháttriển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta (từ Đại hội VII tháng 6/1991của Đảng) đến nay Nền kinh tế nớc ta đã có bớc phát triển vợt bậc Nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần từng bớc đợc phát triển, cơ chế thị trờngngày càng đợc hình thành rõ nét và phát triển theo hớng văn minh hiện đại,luôn có sự quản lý và điều tiết của nhà nớc
Trang 27Nớc ta vốn là nớc có nguồn lao động dồi dào, thực tiễn những nămqua, các thành phần kinh tế đã thu hút đợc một tiềm năng lớn sức lao độngxã hội d thừa vào quá trình sản xuất Do vậy, kinh tế nhiều thành phần đã và
đang đóng vai trò tích cực vào việc giải quyết việc làm cho xã hội, tăng thunhập và mức sống cho đội ngũ ngời lao động ở nớc ta Từ đó, làm cho đờisống xã hội có bớc phát triển và ổn định
Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng ở nớc
ta, không phải là vận động và phát triển theo hớng bất kỳ, mà theo định ớng XHCN Do đó, kinh tế Nhà nớc và kinh tế hợp tác luôn đợc Đảng taxác định là nền tảng vật chất của chế độ mới Những năm qua, kinh tế nhànớc và kinh tế hợp tác là hai thành phần kinh tế đang đợc phát triển mạnh,từng bớc thể hiện vai trò nòng cốt và đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tếquốc dân Nhờ liên tục đổi mới hệ thống chính sách đối với kinh tế nhà nớcnói chung và doanh nghiệp nhà nớc nói riêng, nên đã làm cho cơ cấu sở hữunhà nớc đợc đổi mới, tạo ra động lực thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả tàisản nhà nớc và huy động vốn xã hội vào quá trình phát triển kinh tế; gópphần thúc đẩy quá trình CNH, HĐH Chúng ta đã khắc phục tình trạng hoạt
h-động tách biệt trong từng thành phần kinh tế, "nhất là tình trạng cách bứcgiữa doanh nghiệp nhà nớc với các thành phần kinh tế khác" [1, tr 33] Đó
là quá trình không ngừng hoàn thiện sự hợp tác và đa dạng hóa các hìnhthức hợp tác giữa các thành phần kinh tế Thông qua đó kinh tế Nhà nớctừng bớc thực hiện vai trò chủ đạo và điều tiết các thành phần kinh tế khác
Nh vậy, xét trên lĩnh vực kinh tế, thời gian qua ở nớc ta đã có nhữngbớc phát triển đáng kể, kinh tế tăng trởng nhanh, lạm phát đợc đẩy lui mức
độ đầu t phát triển cho quá trình sản xuất tăng đáng kể Kinh tế nhà nớckhông ngừng đợc củng cố theo hớng tuy có giảm về số lợng nhng tăng tínhhiệu quả trong cạnh tranh, bớc đầu thể hiện đợc vai trò chủ đạo trong nền
Trang 28kinh tế quốc dân Quan hệ sản xuất XHCN tiếp tục đợc xác lập và củng cố.Quá trình đó đợc thực hiện trên cả ba phơng diện.
Về sở hữu, một mặt chúng ta tiếp tục duy trì chế độ sở hữu côngcộng với những t liệu sản xuất chủ yếu, trong đó nhà nớc là đại diện chủ sởhữu Mặt khác, chúng ta đã thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu chophù hợp với trình độ phát triển thực tế của lực lợng sản xuất, từ đó góp phầnthúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất
Về quản lý, thông qua đổi mới chế độ quản lý đối với nền kinh tếnhiều thành phần, trớc hết là cơ chế quản lý đối với thành phần kinh tế nhànớc, chúng ta đã dần dần tạo lập đợc cơ chế để ngời lao động thực hiệnquyền làm chủ, kiểm tra, kiểm soát quá trình sản xuất kinh doanh, tham giaquyết định những vấn đề lớn của doanh nghiệp Cùng với đổi mới các doanhnghiệp nhà nớc, chúng ta đã tiến hành đổi mới kinh tế HTX Trên quan điểm
"HTX đợc tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trựctiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần đóng góp;mỗi xã viên có quyền ngang nhau đối với công việc chung" [13, tr 95] Vìvậy, những năm qua các doanh nghiệp nhà nớc và thành phần kinh tế hợptác xã đã có sự vơn lên trong nền kinh tế Những đổi mới quản lý đó đãkhắc phục đợc tình trạng: tha hóa về chế độ sở hữu; tình trạng "cha chungkhông ai khóc" trớc đây
Về phân phối, quan hệ phân phối không ngừng đợc củng cố và đổimới Quá trình phân phối có sự thay đổi lớn, đã kết hợp chặt chẽ giữa nhiềuhình thức phân phối làm cho quá trình phân phối ngày càng hợp lý, bảo
đảm tính công bằng và tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xãhội nói chung
Bên cạnh tiền đề kinh tế khách quan nh đã nêu trên, trong quá trìnhphát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta, một điều kiện khách quanrất cơ bản và có ý nghĩa to lớn, tạo ra khả năng phát triển theo hớng XHCN
Trang 29ở nớc ta đó là chúng ta có một hệ thống chính trị vững chắc, đã đợc tôi luyện
và thử thách trong đấu tranh cách mạng luôn đợc quần chúng tin yêu Quátrình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hệ thống chính trị ở nớc ta tiếptục đợc đổi mới cho phù hợp với kết cấu kinh tế - xã hội; luôn giữ vững đ ợc
sự ổn định về chính trị xã hội Đó là cơ sở khách quan cho quá trình pháttriển kinh tế theo định hớng XHCN
Từ toàn bộ những lập luận trên đây, chúng ta có thể khẳng định,
định hớng XHCN, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là khả năngkhách quan Vấn đề đặt ra là liệu có thể phát huy đợc vai trò nhân tố chủquan, biến khả năng khách quan đó trở thành hiện thực đợc hay không?
Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn
1.2.2 Vai trò nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta
Sự lựa chọn và định hớng đất nớc phát triển theo con đờng XHCN làhợp với quy luật khách quan của lịch sử; là sự lựa chọn có tính đến đầy đủcác điều kiện khách quan trong nớc và quốc tế của Đảng ta trong việc lãnh
đạo đất nớc Tuy nhiên cũng phải thấy rằng đây là sự nghiệp đầy khó khăn
và phức tạp
Định hớng XHCN sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần ởnớc ta là một xu hớng khách quan, một khả năng khách quan Nhng xu h-ớng và khả năng đó không thể tự phát biến thành hiện thực Hay nói cáchkhác sự nghiệp định hớng đó đòi hỏi sự nỗ lực rất cao vai trò của nhân tốchủ quan, của chủ thể Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả dântộc Do giới hạn và điều kiện nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung chủ yếuvào tìm hiểu vai trò định hớng chính trị trong phát triển kinh tế của Đảng vàNhà nớc, hai chủ thể có vai trò quan trọng nhất bảo đảm định hớng XHCN
sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Trang 30Đảng Cộng sản - nhân tố cơ bản bảo đảm quá trình định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta.
Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dânlàm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện
đại và chế độ công hữu về các t liệu sản xuất chủ yếu; con ngời đợc giảiphóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hởng theo lao
động, có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàndiện cá nhân [11, tr 8-9] Để xây dựng thành công một chế độ xã hội nhvậy, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản "đội quân tiên phongcủa giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc" [19, tr 14]
Nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, với sự
đa dạng hóa các loại hình sở hữu, các hình thức sở hữu và cùng với việc mởcửa làm ăn với các nớc có chế độ chính trị khác nhau sẽ làm xuất hiện,thậm chí tăng thêm các yếu tố tự phát TBCN Không định hớng đợc sự pháttriển kinh tế theo mục tiêu CNXH, nền kinh tế nớc ta không tránh khỏi tựphát lên TBCN Phải có sự định hớng một cách tự giác, kiên trì và kiênquyết thì nền kinh tế nhiều thành phần mới phát triển theo hớng XHCN đ-ợc
Nói đến định hớng XHCN nền kinh tế trớc hết phải nói tới vai tròcủa Đảng cộng sản Vai trò này của Đảng không chỉ thể hiện ở sự lựa chọn
định hớng chính trị cho quá trình phát triển, không chỉ xây dựng mô hìnhkinh tế - xã hội cần hớng tới, mà còn cả việc tạo ra những điều kiện; nhữngtiền đề cho việc hiện thực hóa mô hình đó trong hiện thực
Chính trị và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đókinh tế đóng vai trò quyết định Tuy nhiên, trong điều kiện cách mạng nớc
ta hiện nay, nh V.I.Lênin đã chỉ ra "chính trị không thể chiếm vị trí hàng
đầu so với kinh tế" [27, 349] Chính vì vậy để nền kinh tế nớc ta phát triển
Trang 31theo đúng định hớng XHCN, Đảng trớc hết phải xác định mục tiêu chính trịcho phát triển kinh tế.
Đảng lãnh đạo và định hớng chính trị trong phát triển nền kinh tế
đ-ợc thể hiện bằng các chủ trơng, đờng lối; bằng những định hớng lớn Cácchủ trơng, nghị quyết, đờng lối định hớng cho sự phát triển nền kinh tế của
Đảng phải xuất phát từ thực tế của đất nớc và tôn trọng các quy luật kháchquan
Chúng ta đều biết, không thể có CNXH nếu không có một cơ sở vậtchất kinh tế hùng hậu; không có một lực lợng sản xuất phát triển Trong khi
đó, nền kinh tế nớc ta cho tới nay vẫn còn là một trong những nớc nghèo,trình độ phát triển của lực lợng sản xuất còn thấp để tạo đợc cơ sở vật chấtkinh tế cho CNXH, một mặt cần phải làm cho mọi tiềm năng to lớn của đấtnớc, của thế giới trở thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển và tăng tr -ởng kinh tế Chính vì vậy, Đảng ta chủ trơng thực hiện nhất quán chínhsách phát triển kinh tế nhiều thành phần Nhng đó không phải nền kinh tế
đó phát triển theo hớng bất kỳ, mà là nền kinh tế nhiều thành phần định ớng XHCN, nền kinh tế thực hiện: "dân giàu, nớc mạnh, tiến lên hiện đạitrong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái có văn hóa, có kỷ cơng, xóa bỏ
h-áp bức bất công tạo điều kiện cho mọi ngời có cuộc sống ấm no, tự do,hạnh phúc" 11, tr.8 Từ yêu cầu đó, đòi hỏi trong sự định hớng phát triểnkinh tế, Đảng cần phải xuất phát từ thực trạng nền kinh tế với kết cấu đathành phần, với nhiều hình thức sở hữu khác nhau; bao gồm nhiều chủ thểkinh tế có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau Đảng phải dự báo đợcnhững vấn đề xã hội phát sinh trái với mục tiêu XHCN, do việc thực hiệnlợi ích của các chủ thể kinh tế Đảng cần có biện pháp giải quyết cho thíchhợp, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Muốn vậy đòi hỏi trong định h-ớng phát triển kinh tế, từ ngay trong các đờng lối, chính sách của Đảng,phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội; "Tăng tr-
Trang 32ởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
b-ớc và suốt cả quá trình phát triển" 13, tr.113
Nh vậy, vai trò nhân tố chủ quan của Đảng trong việc bảo đảm địnhhớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, một mặt cần nhậnthức và vận dụng đúng đắn các quy luật kinh tế khách quan từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn; mặt khác phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chínhtrị và kinh tế Bởi vì, nếu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo địnhhớng XHCN là nhận thức và vận dụng đúng đắn lôgíc khách quan sự pháttriển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, thì việc giải quyết đúng đắnmối quan hệ giữa kinh tế với chính trị là quá trình bảo đảm giữ vững định h-ớng chính trị quá trình phát triển đó
Nền kinh tế nhiều thành phần định hớng XHCN là một cách làmmới, cha có tiền lệ trong lịch sử phát triển của thế giới cũng nh của dân tộc
ta Vì vậy việc định hớng XHCN trong quá trình phát triển nền kinh tế,
Đảng cần phải từng bớc cụ thể hóa (lợng hóa) các yêu cầu phát triển xã hội;các tiêu thức phát triển xã hội trong từng chính sách phát triển kinh tế;không thể chỉ nói và hô hào chung chung, mà phải xác định những mục tiêu
cụ thể có tính khả thi, từng bớc làm cho tính u việt của CNXH đợc cụ thểhóa từng bớc trong tăng trởng kinh tế Nói cách khác trong quá trình xâydựng đờng lối, Đảng cần có sự định tính và định lợng XHCN cho từng giai
đoạn cụ thể, cho từng kế hoạch Đó là, những chỉ tiêu phải đợc thực hiện,
đồng thời những chỉ tiêu đó cũng là những tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá sựphát triển đúng hay chệch hớng 51, tr 17
Bảo đảm định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế thị trờng ở nớc
ta, ngoài việc Đảng cần xây dựng đờng lối phát triển đúng đắn và đúng ớng còn đòi hỏi trong chỉ đạo thực tiễn Đảng cần hớng dẫn, chỉ đạo, kiểmtra đôn đốc việc thực hiện đờng lối phát triển kinh tế đó của Nhà nớc theomục tiêu phục vụ lợi ích đa số nhân dân lao động Thông qua chỉ đạo thực
Trang 33h-tiễn Đảng kịp thời phát hiện và uốn nắn những lệch lạc; kịp thời bổ sung vàhoàn chỉnh những chính sách về mục tiêu xã hội trong phát triển nền kinh tếsao cho sự phát triển đó đúng định hớng XHCN.
Từ những nội dung đã đợc phân tích và đề cập trên đây cho thấy, đểbảo đảm định hớng XHCN quá trình phát triển nền kinh tế ở nớc ta, vai trònhân tố chủ quan của Đảng đó là:
Bảo đảm tính chính trị trong sự phát triển kinh tế, làm chokinh tế vừa có tốc độ tăng trởng nhanh và năng suất lao động cao,
có lực lợng sản xuất không ngừng lớn mạnh, vừa đi đúng hớng xãhội chủ nghĩa, hạn chế bất công và bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợiích của đại đa số nhân dân lao động Điều đó không chỉ thể hiện
ở cấp Trung ơng mà ở ngay từng tế bào của Đảng Mọi tổ chức cơ
sở Đảng, từng cán bộ và đảng viên có trách nhiệm làm cho tính
định hớng chính trị của Đảng quán triệt trong toàn bộ các hoạt
động kinh tế - xã hội đó 58, tr 49
Nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo định hớng XHCN ở
n-ớc ta, đợc thực hiện trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang có sự hội nhập
và toàn cầu hóa ở mức độ cao Do đó, đòi hỏi trong định hớng sự phát triểnkinh tế, một mặt Đảng phải chủ động mở rộng và phát triển kinh tế đốingoại theo hớng đa phơng hóa quan hệ; mở rộng thị trờng, tạo cơ hội cạnhtranh; tạo ra điều kiện để thu hút vốn, công nghệ tiên tiến nhằm thúc đẩyquá trình CNH, HĐH Đối với một nền kinh tế kém phát triển nh nớc ta, thihành chính sách mở cửa là biện pháp khắc phục khó khăn về vốn, về kỹthuật và công nghệ tiên tiến, về thị trờng và kinh nghiệm quản lý một cáchtốt nhất Toàn cầu hóa là điều kiện khách quan tốt nhất, thuận lợi nhất chochính sách mở cửa của chúng ta Đóng cửa để phát triển kinh tế và xâydựng CNXH là không phù hợp với điều kiện hiện nay Thực tiễn đã chứngminh, bằng luật đầu t nớc ngoài, đã thu hút nhiều nớc t bản và các công ty t
Trang 34bản nớc ngoài đầu t vào nớc ta, làm cho nền kinh tế nớc ta có những bớctiến đáng kể Chẳng hạn, so với 6% tổng số vốn đầu t nớc ngoài vào ViệtNam thời kỳ 1988 - 1991, năm 1997 đạt tới 34% số dự án với 19% tổng giátrị tài sản, thu hút 40% lao động Chỉ tính đến cuối năm 1997 đã có hơn
2000 dự án đầu t trực tiếp của nớc ngoài đợc cấp phép với tổng số vốn
đăng ký là 30 tỷ USD, trong đó 1/3 đã đợc thực hiện [17, tr 190] Nhngquá trình đó đòi hỏi Đảng phải quán triệt đầy đủ và giải quyết đúng đắngiữa phát triển kinh tế và an ninh quốc gia, giữ vững mục tiêu "Độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội" Thực tiễn cho thấy, trong xu hớng toàn cầu hóa,lợi thế về kỹ thuật và vốn thuộc về các nớc t bản phát triển Quá trình thựchiện hợp tác quốc tế về kinh tế, giai cấp t sản không từ bỏ âm mu xóa bỏchế độ XHCN của nó bằng biện pháp diễn biến hòa bình kinh tế Nên trongphát triển kinh tế đối ngoại Đảng cần giữ vững và thực hiện vai trò lãnh đạotoàn diện và tuyệt đối của mình, không buông lỏng vai trò lãnh đạo, khôngmất cảnh giác trong quá trình hợp tác
Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc bảo đảm địnhhớng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Song điều đókhông có nghĩa là Đảng trực tiếp can thiệp vào quá trình phát triển kinh tế.Vai trò của Đảng đó là vai trò định hớng chính trị, là hạt nhân lãnh đạochính trị Quyền lực của Đảng đợc thể hiện thông qua quyền lực của Nhà n-
ớc và các tổ chức trong hệ thống chính trị Để bảo đảm định hớng XHCNtrong quá trình lãnh đạo phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta,
Đảng cần phải đổi mới phơng thức lãnh đạo cho phù hợp với chức năng là
"hạt nhân lãnh đạo chính trị" Phơng thức lãnh đạo của Đảng có vai tròquan trọng Nếu chỉ có đờng lối chủ trơng đúng mà không có phơng thứclãnh đạo phù hợp; không giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nớc
và các tổ chức đoàn thể nhân dân, thì hiệu quả vẫn cha cao, thậm chí có thểvô hiệu hóa cả đờng lối, chủ trơng Vì vậy, cần phải có sự phân định chức
Trang 35năng và phơng pháp thực hiện chức năng của Đảng, Nhà nớc và các tổ chứcchính trị xã hội một cách cụ thể, rõ ràng là điều cần thiết Nhất là sự phân
định chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nớc
46, tr 12
Để đảm bảo có sự định hớng chính trị đúng đắn con đờng phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng XHCN, ngoài việc Đảng phảixây dựng đờng lối chính trị định hớng cho sự phát triển kinh tế về hớng đi.Nh: xác định phơng hớng, mục tiêu phát triển cho từng thời kỳ; con đờng vàgiải pháp thực hiện của nền kinh tế, Đảng còn phải thực hiện tốt khâu chỉ
đạo thực tiễn Quá trình chỉ đạo thực tiễn, Đảng phải lãnh đạo toàn bộ hệthống chính trị và guồng máy xã hội, mà trớc hết là Nhà nớc, tổ chức thựchiện bằng đợc các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng
đã đề ra Trớc mắt, Đảng cần lãnh đạo Nhà nớc thể chế hóa, luật pháp hóacác nghị quyết của Đảng; thiết kế tổ chức bộ máy; đào tạo, bố trí cán bộ,quản lý và rèn luyện cán bộ; kiểm tra thực tiễn các chủ trơng, đờng lối của
Đảng Đảng phải tăng cờng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận cách mạngnhất là lý luận về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở nớc ta Vấn đề có ýnghĩa quan trọng và cấp bách hiện nay, đó là công tác tổ chức và công táccán bộ của Đảng Về vấn đề này, trớc hết, Đảng cần lãnh đạo, thiết kế tổchức bộ máy của Đảng cũng nh các tổ trong hệ thống chính trị sao cho tinhgọn có đủ năng lực lãnh đạo, điều hành phù hợp với yêu cầu phát triển củanền kinh tế Mặt khác, phải làm cho Đảng và các tổ chức chính trị ngàycàng gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo vệ lợi ích thiết thực và chính đángcủa quần chúng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việcxây dựng chế độ mới Nhất là việc chăm lo xây dựng Nhà nớc mạnh - mộtNhà nớc thể hiện tập trung quyền làm chủ của nhân dân và là công cụ xâydựng, bảo vệ và phát triển nền dân chủ XHCN
Trang 36Nhà nớc XHCN - nhân tố quyết định tổ chức thực hiện định hớng sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta.
Nền kinh tế nớc ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc Nhà nớc trong nềnkinh tế đó không chỉ là ngời quản lý nền kinh tế, mà còn có vai trò thựchiện định hớng và bảo đảm giữ vững quá trình định hớng sự phát triển nềnkinh tế
Trong sự phát triển của kinh tế đơng đại, nhà nớc có một vai trò cực
kỳ to lớn Thiếu sự quản lý, điều tiết của nhà nớc, không có một nền kinh tếnào trong thời kỳ hiện nay (kể cả TBCN, cả XHCN) có thể ổn định và pháttriển đợc Kinh tế tăng trởng hay suy thoái; Tăng trởng kinh tế có gây ra sựphân cực, xung đột trong xã hội hay không, để nền kinh tế phát triển theo h-ớng nào v.v phụ thuộc rất lớn vào sự quản lý và điều tiết của nhà nớc Đặcbiệt trong điều kiện kinh tế nớc ta, phát triển lên CNTB và theo CNXH đều
là những xu hớng, khả năng khách quan thì vai trò định hớng XHCN củanhà nớc là cực kỳ quan trọng Điều đó xuất phát từ bản chất của nhà nớc ta
là nhà nớc của dân, do dân và vì dân Nhà nớc ta với tính cách là chủ thểquản lý xã hội nói chung và nền kinh tế thị trờng nói riêng, luôn định hớng
và điều khiển mọi hoạt động kinh tế nhằm bảo đảm vì mục tiêu XHCN, vìlợi ích của toàn xã hội Bảo đảm định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế
ở nớc ta, vai trò của nhà nớc thể hiện trên các nội dung sau:
Thứ nhất: Nhà nớc thực hiện chức năng quản lý, giám sát vĩ mô đối
với nền kinh tế, tạo môi trờng và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tếphát triển
Để thực hiện tốt vai trò định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế,trớc hết nhà nớc phải quản lý đợc sự phát triển kinh tế Phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng là một chủ trơng đúng
đắn của công cuộc đổi mới, nhng đồng thời đẻ ra cho sự quản lý của nhà
Trang 37n-ớc trn-ớc những khó khăn phức tạp Quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trờng là điều hoàn toàn mới mẻ đối với nhà nớc ta.Quản lý nền kinh tế này hoàn toàn khác với quản lý nền kinh tế thuần nhấtXHCN, kế hoạch hóa tập trung trớc đây Đặc biệt hiện nay nền kinh tế nớc
ta đang ở trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trờng, các thành phần kinh tế đang có xu hớng biến
đổi phức tạp, cơ chế thị trờng cũng đang trong thời kỳ từng bớc hình thànhthì sự quản lý kinh tế của nhà nớc càng trở nên khó khăn hơn
Nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng sẽ ổn
định và phát triển nếu nhà nớc quản lý đợc nó, ngợc lại sẽ không tránh khỏirối loạn, mất ổn định và khủng hoảng Vì vậy, trong quản lý ở tầm vĩ mô
đối với nền kinh tế, nhà nớc cần tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi choquá trình sản xuất kinh doanh, bảo đảm tính chất bình đẳng trong quá trìnhcạnh tranh giữa các thành phần kinh tế Một nền kinh tế nhiều thành phần,
đơng nhiên phải bao gồm nhiều chủ thể sở hữu thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau, cạnh tranh và lợi nhuận là những vấn đề tất yếu đặt ra cho cácchủ thể sở hữu Do đó trong quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, trớc hết nhànớc cần phải xây dựng đợc hệ thống pháp luật; xây dựng đợc cơ sở pháp lýquy định rõ quyền và giới hạn sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh
tế Ngoài ra nhà nớc cũng cần tạo lập các điều kiện xã hội; kết cấu hạ tầngkinh tế v.v từ đó lôi cuốn, thu hút các chủ thể sở hữu ở các thành phầnkinh tế yên tâm bỏ vốn đầu t phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình xã hộihóa nền sản xuất ở nớc ta
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa các hình thức
sở hữu trong CNXH là một đòi hỏi khách quan và thực tiễn đã chứng minhtính đúng đắn của nó [6, tr 5] Bởi vì, trong điều kiện lực lợng sản xuất chaphát triển đến trình độ cao, tất yếu phải có sự tồn tại của một hệ thống quan
hệ sản xuất đa dạng, bảo đảm cho sự phù hợp sinh động đối với trình độ
Trang 38phát triển lực lợng sản xuất đó và thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển Vềtất yếu kinh tế, sự vận động của nền kinh tế ấy phải vận động theo cơ chếthị trờng; vận động trong sự tác động cạnh tranh giữa các thành phần kinh
tế Thực tiễn đang chỉ ra:
Cơ chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến
sự phát triển kinh tế - xã hội Nó chẳng những không đối lập màcòn là nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và pháttriển đất nớc theo con đờng XHCN [13, tr 26]
Vì vậy, chuyển đổi cơ chế vận hành của nền kinh tế để Nhà nớc lợidụng cơ chế thị trờng; lợi dụng quá trình tự do hóa sản xuất kinh doanh đểgiải phóng và phát triển lực lợng sản xuất, khơi dậy mọi thành phần kinh tếthúc đẩy sự phát triển sản xuất và tăng trởng kinh tế
Trong quản lý và giám sát vĩ mô đối với nền kinh tế, nhà nớc phảinhằm đẩy mạnh sự ra đời, sự phát triển của các loại thị trờng, để sớm chocơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc hoạt động đầy đủ, đúng nghĩacủa nó ở nớc ta, do thị trờng phát triển cha đầy đủ, vì vậy tác động của nhànớc trớc hết phải nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của thị trờng,gắn sự phát triển thị trờng trong nớc với thị trờng quốc tế
Nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, mặttích cực của cơ chế đó là làm cho quá trình xã hội hóa sản xuất đợc pháttriển nhanh, thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất Vì trong cơ chếthị trờng các chủ thể kinh tế không ngừng đổi mới công nghệ, ứng dụngkhoa học - công nghệ; đổi mới cung cách quản lý; mở rộng quy mô sảnxuất nhằm để tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị tr ờng Tuy vậy,cũng phải thấy, cơ chế thị trờng bên cạnh mặt tích cực còn chứa đựng yếu
tố tiêu cực Mặt tiêu cực của nó đợc biểu hiện khá rõ nét đó là mức độphân hóa về mức sống giữa các thành viên xã hội, giữa các bộ phận dân c ;tăng khả năng thất nghiệp đối với ngời lao động có trình độ chuyên môn
Trang 39và tay nghề thấp; gây nên sự ô nhiễm môi trờng và lãng phí tài nguyênv.v Ngoài ra hàng loạt các vấn đề tiêu cực trong quá trình sản xuất kinhdoanh nảy sinh và phát triển, nh tệ làm hàng giả, buôn lậu, đầu cơ, lừa
đảo
Việc chúng ta sử dụng cơ chế thị trờng làm cơ chế vận hành cho nềnkinh tế chỉ với tính cách là phơng tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển vìmục tiêu XHCN Để phát huy đợc mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của
nó, đòi hỏi trong quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, nhà nớc cần xây dựng
và sử dụng đúng đắn các chính sách kinh tế; các công cụ kinh tế để định ớng thị trờng phát triển Song điều đáng lu ý, nhà nớc không nên làm thaychức năng thị trờng, nhà nớc chỉ can thiệp khi thị trờng có những biểu hiệntiêu cực có nguy cơ gây rối loạn nền kinh tế
h-Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặc biệt trong thời kỳmới tạo lập nền kinh tế thị trờng, các nhà kinh doanh và các tổ chức kinh tế
đợc tự chủ kinh doanh nhng nhìn chung không nắm đợc tình hình và xu ớng vận động của thị trờng, do đó thờng chạy theo thị trờng một cách mùquáng, dễ gây ra thua lỗ, đổ vỡ gây thiệt hại chung cho nền kinh tế Hơnnữa nền kinh tế mà chúng ta đang chủ trơng xây dựng và phát triển theoquỹ đạo vì mục tiêu CNXH do Đảng và Nhà nớc đặt ra Do đó nhà nớc cóchức năng định hớng phát triển kinh tế và hớng dẫn các chủ thể kinh tế, các
h-tổ chức kinh tế hoạt động đúng định hớng Nhà nớc định hớng và hớng dẫnnền kinh tế bằng chiến lợc phát triển kinh tế vĩ mô, bằng quy hoạch, kếhoạch và các công cụ quản lý nh pháp luật, chính sách, thông tin và cácnguồn lực kinh tế của nhà nớc Quá trình định hớng và hớng dẫn đó của nhànớc phải nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời tránh đợc những rủi
ro, khủng hoảng
Trang 40Thứ hai: Nhà nớc thực hiện chức năng xã hội điều tiết nền kinh tế
nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng thực hiện các mục tiêu XHCN, từngbớc gắn tăng trởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế thị trờng hiện đại vớitính chất xã hội hiện đại (xã hội XHCN) Nền kinh tế đó dới sự quản lý,
điều tiết của nhà nớc của dân, do dân, vì dân, đặt dới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản Để thực hiện đợc mục tiêu XHCN, đòi hỏi quá trình quản lý,
điều tiết nhà nớc phải định hớng sự phát triển đối với nền kinh tế Điềuquan trọng là Nhà nớc cần thực hiện hệ thống chính sách xã hội sao chovừa giải quyết đợc công bằng về lợi ích, vừa kích thích đợc con ngời sángtạo không ngừng Bởi vì thực chất quản lý nhà nớc trong lĩnh vực kinh tế
là hình thành những nhu cầu, lợi ích đúng đắn, trên cơ sở đó h ớng toàn bộhoạt động của quần chúng của các thành phần kinh tế vào mục tiêu, lợi ích
đã đợc xác định một cách khoa học, đồng thời phát huy khả năng sáng tạocủa họ [48, tr 35] Do đó, Nhà nớc cần hớng các chủ thể kinh tế vừa thựchiện lợi ích riêng có của mình; vừa thực hiện lợi ích chung cơ bản, thúc
đẩy sự tiến bộ xã hội Chỉ có nh vậy mới tạo ra điều kiện xã hội cần thiếtcho sự phát triển kinh tế bền vững Vì tiến bộ xã hội là kết quả của pháttriển kinh tế nhng phải coi tiến bộ xã hội cũng là động lực, yếu tố nội tạicủa sự phát triển kinh tế Nhà nớc trong quá trình điều tiết nền kinh tế cầnphải thông qua vốn ngân sách và các nguồn khác, thực hiện các chơngtrình quốc gia về xã hội Ví dụ nh chơng trình đầu t, phát triển, chơngtrình giải quyết việc làm, chơng trình xóa đói giảm nghèo, các chơng trìnhbảo trợ xã hội Có nh vậy mới tạo đợc sự cân bằng xã hội, rút ngắn khoảngcách chênh lệch xã hội về thu nhập, khoảng cách về kinh doanh, mức sốngcũng nh những điều kiện phát triển kinh tế giữa các bộ phận dân c, vùngdân c, xóa bỏ từng bớc những bất công xã hội Đối với nền kinh tế nớc ta,khi kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chiếm tỷ lệ lớn, hạ tầng kinh tế