1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ BCV của Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL hiện nay (qua thực tế Long An)

112 563 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ BCV của Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL hiện nay (qua thực tế Long An)
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Long An
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Long An
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 496 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂNBCV: Bỏo cỏo viờnCC: Cao cấpCĐ: Cao đẳngCNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoáCNXH : Chủ nghĩa xó hộiCSCN : Cộng sản chủ nghĩa ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu longĐH: Đại họcLLCT : Lý luận chớnh trịSC: Sơ cấpTC: Trung cấpTHCS : Trung học cơ sởTHPT : Trung học phổ thụngTTBDCT : Trung tâm bồi dưỡng chính trịXHCN : Xó hội chủ nghĩaMỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chương 1: Lí LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRề CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI BÁO CÁO VIÊN51.1. Bản chất và đặc trưng của lý luận chớnh trị 51.2. Vai trũ của lý luận chớnh trị đối với hoạt động của người báo cáo viên18Chương 2: NÂNG CAO TRèNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU312.1. Thực trạng trỡnh độ lý luận chính trị của đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long (qua khảo sát thực tế Long An)312.2. Yờu cầu nõng cao trỡnh độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long48Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRèNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY603.1. Một số phương hướng cơ bản nhằm nâng cao trỡnh độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long683.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trỡnh độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long68KẾT LUẬN91DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO93PHỤ LỤC97

Trang 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI

1.1 Bản chất và đặc trưng của lý luận chính trị 51.2 Vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt động của người báo cáo viên 18

Chương 2: NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI

NGŨ BÁO CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU 312.1 Thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ báo cáo viên

Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long (qua khảo sát

2.2 Yêu cầu nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo

viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long 48

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO

TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ BÁO

CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG BẰNG SÔNG

3.1 Một số phương hướng cơ bản nhằm nâng cao trình độ lý luận

chính trị cho đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị

cho đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xuất phát từ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử:tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời những tư tưởng tiêntiến, lý luận cách mạng có vai trò rất to lớn đối với sự tồn tại và pháttriển xã hội, C.Mác chỉ ra: “lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chấtmột khi nó thâm nhập vào quần chúng” [33, tr 25] Lênin khẳng định:

“không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” [24,

tr 30] “chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiên phong hướng dẫn thìmới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [24, tr.32] Đểlàm tròn sứ mệnh của mình, Đảng cộng sản không chỉ nắm vững lýluận tiên phong, mà còn phải trang bị cho quần chúng lý luận tiênphong đó; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chỉ khi nào quầnchúng giác ngộ, tự giác chiến đấu với niềm tin khoa học vào sự thắnglợi thì cách mạng mới thành công

Với ý nghĩa đó trong mỗi giai đoạn cách mạng Đảng cộng sảnViệt Nam luôn coi trọng công tác tư tưởng, lý luận nói chung và côngtác tuyên truyền chính trị nói riêng Công tác tuyên truyền là một trongnhững lực lượng xung kích của Đảng góp phần cùng cả nước tạo nênnhững thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đấtnước, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), thực hiện công nghiệphóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hộicông bằng dân chủ và văn minh

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đã và đang xuất hiện nhiềuvấn đề phức tạp, to lớn và cấp bách cần được nhận thức đúng và giảiquyết kịp thời Trên thế giới cũng đang diễn ra nhiều sự kiện có tính

“đảo lộn”, cực kì phức tạp, hàng ngày hàng giờ đang tác động vào tưtưởng, tình cảm của hàng triệu đảng viên và quần chúng nhân dân;cuộc đấu tranh chống lại “diễn biến hòa bình” của địch diễn ra vô cùnggay gắt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và thông tin Các thếlực thù địch ra sức lợi dụng những khó khăn khủng hoảng của CNXH

để tấn công ráo riết vào học thuyết Mác - Lênin, con đường và chế độ

Trang 4

xã hội chủ nghĩa (XHCN), hòng làm lung lạc niềm tin của cán bộ, đảngviên, quần chúng nhân dân.

Để giành thế chủ động trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng taphải coi trọng việc lãnh đạo và tổ chức phối hợp thật tốt các kênhtuyên truyền; đặc biệt, phải coi trọng xây dựng đội ngũ báo cáo viên(BCV) từ Trung ương đến cơ sở vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực,trình độ lý luận chính trị (LLCT), nắm bắt và phản ánh đúng chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các

xu hướng biến động đời sống xã hội, nhằm định hướng tuyên truyền,giáo dục thuyết phục quần chúng sát điều kiện thực tế của địaphương

Thực tế cho thấy, đội ngũ BCV các cấp nói chung, đội ngũ BCVđồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng còn thiếu chuyênnghiệp, trình độ LLCT còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp cách mạng Vì vậy, nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ BCV ởnước ta hiện nay nói chung, địa phương và cơ sở nói riêng, là nhiệm

vụ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức cấp bách

Với tính cấp thiết đó tác giả chọn đề tài: “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ BCV của Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL hiện nay (qua thực tế Long An)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học

triết học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ đã có một

số công trình nghiên cứu trên tạp chí và luận văn như sau:

- “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy”, của

Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Cộng sản, số 10, 1987

- “Quan hệ giữa lý luận và chính trị”, của Nguyễn Thế Phấn, Tạp

chí Cộng sản, số 8, 1982

- “Góp phần bàn thêm khái niệm chính trị”, của Hồ Tấn Sáng,

Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5, 1995

- “Vai trò của lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội ở nước ta

hiện nay”, của Phạm Đình Đạt, Luận văn thạc sĩ triết học, 1993.

4

Trang 5

- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất

kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”,

của Trần Thị Yến Ninh, Luận văn thạc sĩ triết học, 1998

- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý

cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay”, của Nông Văn

Tiềm, Luận văn thạc sĩ triết học, 2001

- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ

chốt cấp cơ sở ơ tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn

Thị Hồng Lê, Luận văn thạc sĩ triết học, 2004

Các tác giả trên đã đề cập ở những góc độ khác nhau về LLCT,trình độ LLCT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nói chung hoặccán bộ quản lý sản xuất kinh doanh… Nhưng vấn đề nâng cao trình

độ LLCT cho đội ngũ BCV các cấp của Đảng, cụ thể là cấp huyện ởĐBSCL vẫn còn là mảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở phân tích thực trạng trình độ LLCT của đội ngũ BCVĐảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL (qua thực tế Long An), đề xuất một sốphương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng bước nâng cao trình

độ LLCT cho đội ngũ này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Chỉ rõ vai trò LLCT đối với hoạt động của người BCV

- Phân tích thực trạng nâng cao trình độ LLCT của đội ngũ BCVĐảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL (qua thực tế Long An)

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từngbước nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện ởĐBSCL

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc nâng cao trình độ LLCTcho đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL trong giai đoạn hiệnnay (qua thực tế Long An)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Trang 6

Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm của Đảng ta về đào tạo bồi dưỡng LLCT cho cánbộ.

5.2 Phương pháp luận nghiên cứu:

Dựa trên cơ sơ phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy về lịch sử, cùng với những phương phápnghiên cứu khoa học cụ thể: phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xãhội học

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ yêu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độLLCT cho đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện ĐBSCL, qua đó đề xuấtmột số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũBCV này

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể giúp cho các cấp ủy Đảng,

hệ thống các Trường Chính trị tham khảo và vận dụng trong việcnghiên cứu , xây dựng tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyêntruyền của Đảng trong tình hình mới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn chia làm

3 chương, 6 tiết

6

Trang 7

Có thể chia tri thức đạt được thành: tri thức kinh nghiệm và trithức lý luận Không nên đồng nhất kinh nghiệm với tri thức cảm tính,hoặc đồng nhất lý luận với tri thức lý tính, vì trong kinh nghiệm ít nhiều

có tính khái quát hóa, có yếu tố lý tính, tri thức kinh nghiệm là cơ sở

để khái quát thành lý luận, lý luận là kết quả khái quát hóa kinhnghiệm

Tri thức kinh nghiệm là tri thức thu nhận được chủ yếu từ quan sáttrực tiếp đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, chiến đấu và thựcnghiệm Tri thức kinh nghiệm của con người bước đầu đã mang tínhtrừu tượng hóa, khái quát hóa, song còn nhiều hạn chế Nó mới đem lạicho con người sự hiểu biết về các mặt riêng lẻ, bên ngoài của sự vật Trithức kinh nghiệm còn rời rạc, chưa tạo thành chỉnh thể, phạm vi áp dụnghẹp Khi nhận xét về tri thức kinh nghiệm Ăngghen nói: “Sự quan sátdựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy

đủ tính tất yếu” [35, tr 718]

Xét về bản chất, lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từthực tiễn phản ánh những mối liên hệ tất nhiên, bản chất, mang tínhquy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan; lý luậnkhông tự phát hình thành mà thông qua hoạt động tự giác của các nhà

lý luận Không phải cứ có nhiều kinh nghiệm là có lý luận, lý luận

Trang 8

không phải là số cộng giản đơn của các kinh nghiệm; tri thức lý luận

có tính trừu tượng và khái quát cao, có thể đem lại cho con ngườinhững hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính tất yếu, tính quy luật củacác sự vật hiện tượng

Tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận có quan hệ biện chứng,kinh nghiệm là cơ sở để các nhà lý luận tổng kết, khái quát hóa thành

lý luận Lý luận thực sự là khoa học khi nó khái quát từ những kinhnghiệm thực tiễn phản ánh cái tất yếu, cái bản chất, những mối liên hệbản chất của các sự vật hiện tượng Kinh nghiệm và lý luận là hai trình

độ khác nhau trong quá trình nhận thức, nhưng ranh giới giữa chúngcũng chỉ là tương đối; sự chuyển hóa giữa hai quá trình này tạo nênnhững vòng khâu phát triển liên tục, tạo nên bước nhảy về chất trongnhận thức của con người Vậy lý luận là gì? Hiện nay, có rất nhiềuđịnh nghĩa khác nhau về lý luận theo nhiều quan điểm tiếp cận khácnhau

Trong từ điển triết học: “Lý luận là hệ thống những tri thức đãđược khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật vàmối liên hệ cơ bản của hiện thực” [58, tr 341]

Trong từ điển tiếng Việt: “Lý luận là hệ thống những tư tưởngđược khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thựctiễn Lý luận là những kiến thức được khái quát hóa và hệ thống hóatrong một lĩnh vực nào đó” [48, tr 561]

Trong Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn

Ái Quốc, ngày 7/ 9/ 1957 Hồ Chí Minh coi: “Lý luận là sự tổng kết kinh

nghiệm của loài người là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xãhội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [42, tr 497]

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu trung lạiđều thống nhất ở chỗ: Lý luận là sự khái quát những kinh nghiệm thựctiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũytrong quá trình hoạt động lịch sử của con người; phản ánh mối liên hệbản chất, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong một lĩnhvực nào đó của hiện thực khách quan và có vai trò hướng dẫn hoạt

8

Trang 9

động thực tiễn Trong điều kiện hiện nay, lý luận ngày càng có vai tròquan trọng đối với hoạt động của con người.

Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị muốn giữ vững địa vịthống trị thì phải có lý luận của mình, nói đến Đảng chính trị, đồng thờiphải nói đến LLCT của Đảng ấy

Để hiểu LLCT, chúng ta cần làm rõ thêm khái niệm chính trị:chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ khi xã hội phânchia thành giai cấp, nhà nước Thuật ngữ chính trị xuất phát từ tiếng

Hy Lạp có nghĩa là công việc có liên quan đến nhà nước, nghệ thuậtcai trị nhà nước, là phương pháp nhất định để thực hiện các mục tiêucủa quốc gia

Trong lịch sử nhân loại, chính trị đã từng được coi là lĩnh vựchoạt động, là công cụ đặc quyền của nhóm người thống trị đối vớingười bị trị, là đặc quyền của tầng lớp trên, thậm chí của một ngườiđược coi là “thiên tử” Tư tưởng dân chủ ra đời là một bước tiến củalịch sử: chính trị trở thành công việc đông đảo của quần chúng nhândân, mọi người có quyền tham gia vào chính trị, vào công việc củanhà nước… tuy nhiên, mức độ này phụ thuộc vào những điều kiệnkinh tế, văn hóa xã hội của mỗi công dân

Nhà Triết học Hy lạp cổ đại – Platon cho rằng, chính trị là nghệthuật cai trị, cai trị bằng sức mạnh là độc tài còn cai trị bằng thuyếtphục mới đích thực là chính trị

Nhà xã hội học Đức đầu thế kỷ XX – Max Weber quan niệm,chính trị là khát vọng tham gia quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phânchia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, hay giữa cáctập đoàn người bên trong quốc gia Chính trị là những mong muốn vànhững tương tác khách quan của cộng đồng người đối với quyền lựcv.v…

Các quan niệm trên tuy có những nhân tố hợp lý, nhưng chưa

đề cập đến nội dung cơ bản của phạm trù chính trị như là thực thể tồntại bên trong đời sống xã hội với những cấp độ khác nhau, liên quanđến những công việc của nhà nước

Trang 10

Với thế giới quan khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đưa ra cách hiểuđúng đắn về chính trị C.Mác cho rằng:

Tuyệt đối từ bỏ chính trị là không thể được, tất cả các

tờ báo chủ trương từ bỏ chính trị cũng đều làm chính trị Vấn

đề chỉ là làm chính trị như thế nào và làm loại chính trị gì? Vảchăng đối với chúng ta không thể từ bỏ chính trị Đảng Côngnhân với tư cách là chính Đảng đã tồi tại trong phần lớn cácnước Chúng ta không được phá hoại nó bằng cổ vũ từ bỏchính trị Thực tiễn của cuộc sống hiện đại, sự áp bức chínhtrị của chính phủ hiện tồn tại với công nhân nhằm mục đíchchính trị cũng như xã hội đều buộc giáo dục công nhân dùmuốn hay không cũng phải làm chính trị Cổ vũ họ từ bỏ chínhtrị có nghĩa là đẩy họ vào vòng tay của chính trị tư sản Từ bỏchính trị là hoàn toàn không thể được, đặc biệt sau công xãPari đã đưa hoạt động chính trị của giai cấp vô sản vàochương trình nghị sự [34, tr 551-552]

Như vậy bản chất giai cấp của hoạt động chính trị đã đượcC.Mác xác định rõ: chính trị là hoạt động thực hiện lợi ích giai cấp, lợiích giai cấp khác nhau thì mục đích chính trị cũng khác nhau

Theo Lênin, “Chính trị có tính lôgic khách quan của nó, khôngphụ vào những dự tính cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng nàyhay đảng khác” [25, tr.246] Chính trị luôn tồn tại và gắn liền nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể, không phụ thuộc ý chí chủ quan của một ai,hay giai cấp, chính Đảng nào “Chính trị là sự tham gia vào nhữngcông việc của nhà nước, là vạch hướng đi cho nhà nước, việc xácđịnh những hình thức nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước”[28, tr.404] Chính trị là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, là thái độcủa giai cấp vô sản đang đấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp

tư sản toàn thế giới … chính trị của chúng ta lúc này là xây dựng nhànước về mặt kinh tế “ Lênin còn chỉ rõ:

10

Trang 11

Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp – là cái quyết địnhvận mệnh của các nước Cộng hòa Bộ máy là công cụ bổ trợ,

nó càng vững mạnh chừng nào thì càng tốt và càng có íchhơn cho sự biến đổi Nhưng nếu không có năng lực chấphành sứ mệnh đó, thì nó cũng chẳng còn có tác dụng gì nữa[30, tr 482-483]

Như vậy, vấn đề mà Lênin quan tâm là: “năng lực chấp hành sứmệnh” của giai cấp Năng lực này không chỉ phụ thuộc vào ý chí,nguyện vọng của giai cấp mà còn phụ thuộc trình độ dân trí, trình độvăn hóa của quần chúng nhân dân: “một người không biết chữ làngười đứng ngoài chính trị; trước hết phải dạy a, b, c, d… cho họ đã.Không thế thì không thể có chính trị; không thế thì chỉ có những tinđồn đại, những chuyện nhảm nhí, những chuyện hoang đường,những thiên kiến chứ không phải chính trị” [31, tr 87-88]

“Quần chúng có hàng triệu, và chính trị thì bắt đầu ở nơi nào

có hàng triệu người, không phải ở nơi có hàng nghìn người mà ở đâu

có hàng triệu người thì ở đó có một chính trị nghiêm túc” [29, tr 20]

Như vậy theo Lênin, phạm trù chính trị được hiểu:

* Chính trị là lợi ích, là đấu tranh giai cấp

* Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền,quyền lực nhà nước

* Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, đồng thời chính trịkhông thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế

* Văn hóa là cơ sở để xây dựng nền chính trị tiến bộ

* Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan đến vậnmệnh hàng triệu người, giải quyết vấn đề chính trị vừa khoa học, vừanghệ thuật

Từ cách tiếp cận về khái niệm lý luận và chính trị ở trên, có thể

khái quát chung về LLCT như sau: LLCT là lý luận về chính trị phản

ánh trực tiếp tập trung lợi ích giai cấp, một chính Đảng nhất định trong

xã hội; là cơ sở lý luận cho hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường

Trang 12

lối, chính sách của một Đảng hay một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước.

Đối với giai cấp vô sản lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin là LLCT, lýluận này là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản và chính Đảng Cộng sản

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác- Lênin được truyền

bá vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam nhằmthành lập chính Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh từng nói,Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt … Đảng màkhông có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bànchỉ nam và Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩanhiều, nhưng học thuyết chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạngnhất là chủ nghĩa Lênin” [38, tr 268] Chính vì vậy, trong tiến trìnhcách mạng Đảng ta luôn kiên định và lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng cho hành động cách mạng.Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, LLCT là lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là LLCT của Đảng cộng sản ViệtNam

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta khẳng định, đổi mới phải nắmvững bản chất cách mạng và khoa học chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởngChủ tịch Hồ Chí Minh Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ đã chỉ rõ:

Kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin là vấn đề có tính nguyêntắc số một của Đảng ta Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng, khoa họccủa chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng một cách đúng đắn thíchhợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo và cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam chohành động của Đảng [10, tr 127]

Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 nămđổi mới, Đảng ta khẳng định, từ đại hội VII một bước tiến mới trong tưduy lý luận của Đảng ta là nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò,

12

Trang 13

vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định chủ nghĩa Mác- Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ namcho hành động cách mạng Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thốngquan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cáchmạng Việt Nam, là kết quả vận dụng sáng tạo, phát triển sáng tạo củachủ nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn cụ thể nước ta, kế thừa và pháttriển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa vănhóa nhân loại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳngđịnh:

Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lậpdân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu CNXH

mà là làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn hơn và xâydựng có hiệu quả hơn Đổi mới không phải là xa rời mà lànhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tưtưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng[18, tr 70]

Trong những năm đổi mới, Đảng ta có sự nhận thức đúng hơn,

tư duy lý luận của Đảng ta ngày càng sâu sắc hơn, bổ sung, phát triểnchủ nghĩa Mác- Lênin trên một loạt các vấn đề Chẳng hạn, mục tiêucủa CNXH, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, vấn đề phát triển kinh tếthị trường định hướng XHCN, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN v.v…

Lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin là sự tổng kết kinh nghiệmcủa phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước, nó làkhoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học

về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột; khoa học về sựthắng lợi của CNXH; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản … Vìvậy, tất yếu nó phải được bổ sung và hoàn thiện trong điều kiện thựctiễn mới Lênin từng nói: “chúng ta không hề coi lý luận của Mác như

là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm… mà những

Trang 14

người XHCN cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ khôngmuốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” [23, tr 232] Với Hồ Chí Minhthì: “Chủ nghĩa Mác- Lênin không phải là kinh thánh” [40, tr 247].

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh,trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta, trong từng giai đoạncách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cho mình những quanđiểm cơ bản chỉ đạo hành động cách mạng, xây dựng nên hệ thốngquan điểm tư tưởng lý luận bằng những chủ trương, đường lối, chínhsách, pháp luật cụ thể LLCT của Đảng ta bao gồm: lý luận về conđường đi lên CNXH ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN,vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp… xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN, xây dựng Đảng… trong điều kiện nước ta hiện nay Bản chấtLLCT của Đảng ta hiện nay là lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc toàn diện, có hệ thốngnhững di sản tư tưởng lý luận mác xít Phải đổi mới tư duy để trở vềvới chính luận điểm của các ông, kể cả những bổ sung phát triển màchính các ông đã phác họa trước những thay đổi của thực tiễn

Sức sống và sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh vẫn còn nguyên giá trị định hướng cho công cuộc cách mạnghiện nay, những giá trị ấy không chỉ ảnh hưởng trước mắt mà còn lâudài đối với sự phát triển của nước ta và các nước trên thế giới Hìnhthành tư duy mới đối với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

là trở về cội nguồn sáng tạo với tư duy khoa học của Mác, Ăngghen,Lênin, Hồ Chí Minh Ngọn đuốc tinh thần sáng tạo không ngừng dẫndắt chúng ta bước vào thế kỷ XXI với một quyết tâm không gì laychuyển nổi xây dựng thành công CNXH ở nước ta

1.1.2 Đặc trưng của lý luận chính trị

Một là, như tất cả mọi lý luận khác, LLCT cũng có tính trừu tượng và khái quát cao.

LLCT là kết quả khái quát hoá những tri thức về chính trị xã hội,trên cở hoạt động thực tiễn chính trị xã hội của quần chúng Do đó, nó

14

Trang 15

có tính trừu tượng và khái quát cao Nó giúp nhận thức đi sâu vào bảnchất và phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển của xã hội.Quá trình trừu tượng hoá, khái quát hóa không tách rời nhau mà liên

hệ, bổ sung, xâm nhập nhau Mục đích của hoạt động lý luận đặc biệtLLCT là đi vào bản chất của đời sống xã hội, quan hệ giai cấp, vạch rabản chất ấy thông qua quy luật lịch sử và hoạt động lý luận – thực tiễncủa con người Với LLCT khoa học, các khái niệm, phạm trù, quy luậtcủa nó có tính chính xác, chặt chẽ và lôgic, có độ tin cậy cao, tạothành một chỉnh thể thống nhất; tuy diễn đạt sự vật hiện tượng ởnhững khía cạnh, yếu tố khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽnhau Do đó, LLCT khoa học không thể là sự hùng biện áp đặt, chấp

vá, cắt xén những tri thức rời rạc, trái lại phản ánh đúng sự vật, dựbáo, định hướng sự vận động phát triển của lịch sử, xã hội

Chủ nghĩa Mác- Lênin, một hệ thống lý luận khoa học điển hình,tiêu biểu cho sự phản ánh hiện thực xã hội, Lênin viết: “Trong cái triếthọc ấy của chủ nghĩa Mác, đúng bằng một khối thép duy nhất, người takhông thể vứt bỏ một tiền đề cơ bản, một phần chủ yếu nào, mà không xarời chân lý khách quan, không rơi vào dối trá của giai cấp vô sản phảnđộng” [26, tr 404] Một lý luận khoa học sẽ có tác dụng tích cực thúcđẩy hoạt động con người, sẽ được con người, cộng đồng người,những lực lượng cách mạng trong xã hội nhanh chóng tiếp thu và ủnghộ

Hai là, LLCT của Đảng ta có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

LLCT hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự vận động vàphát triển của đời sống hiện thực; thực tiễn luôn vận động, biến đổi,LLCT phản ánh đời sống chính trị xã – hội cũng không ngừng được bổsung phát triển Vì vậy, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, làm choLLCT ngày càng phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phúhơn đời sống thực tiễn chính trị – xã hội Tuy nhiên, LLCT cũng cótính độc lập tương đối, có vai trò rất lớn đối với thực tiễn chính trị – xãhội, tác động trở lại đời sống chính trị – xã hội, góp phần làm biến đổi

Trang 16

đời sống chính trị – xã hội thông qua hoạt động của con người LLCT

có thể dự kiến được sự vận động của xã hội trong tương lai, chỉ raphương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn xã hội LLCT khoahọc làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác hạnchế tình trạng mò mẫm, tự phát Vì vậy, Hồ Chí Minh nói: “Không có lýluận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [39, tr 234]

Tuy nhiên, do tính trừu tượng, khái quát trong phản ánh hiệnthực nên đôi lúc LLCT có khả năng xa rời thực tiễn, trở nên ảo tưởng;khả năng ấy càng lớn nếu LLCT đó bị chi phối bởi những tư tưởngkhông khoa học hoặc phản động Vì vậy, LLCT là quan trọng, nhưngkhông nên tuyệt đối hóa nó, tách LLCT khỏi thực tiễn, xem thườngthực tiễn, mà phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn trong nhận thức khoa học và hành động cách mạng “Thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủnghĩa Mác- Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông” [42,tr.496]

Chính chủ nghĩa Mác- Lênin là hiện thân tiêu biểu cho sự gắn

bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành vàphát triển, là sự khái quát thực tiễn cách mạng và lịch sử xã hội, là sựđúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vựckhác nhau Sức mạnh của nó là ở chỗ nó gắn bó hữu cơ với thực tiễn

xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển trong thực tiễn chính trị– xã hội

Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng mộtcách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thểViệt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi to lớn

Vì vậy, sinh thời Hồ Chủ tịch luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lýluận cho cán bộ Đảng viên, nhất là bồi dưỡng giáo dục LLCT – yêucầu cơ bản không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng

Việc học tập của các đồng chí không phải nhằm biếncác đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm

16

Trang 17

thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là cácđồng chí phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác- Lênin; học lậptrường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin,

để áp dụng lập trường, quan điểm, phương pháp ấy mà giảiquyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạngcủa chúng ta Như thế chúng ta học lý luận là cốt để áp dụngvào thực tế Học lý luận là nhằm mục đích học để vận dụngchứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mìnhmột cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng.Không phải học để thuộc lòng từng câu chữ, đem kinh nghiệmcác nước anh em áp dụng máy móc, nhưng chúng ta phảihọc chủ nghĩa Mác- Lênin để phân tích và giải quyết nhữngvấn đề cụ thể của cách mạng nước ta; cho phù hợp với điềukiện đặc biệt của nước ta [42, tr 497]

Trong giai đoạn hiện nay tổng kết thực tiễn là một đòi hỏi tất yếuđồng thời là yêu cầu quan trọng để tiếp tục nâng cao trình độ tư duy lýluận của Đảng:

Kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạtđộng của Đảng, thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, pháttriển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt

ra [18, tr 131]

Sự nghiệp đổi mới hiện nay đã và đang tạo ra những tiền đềcho lý luận tổng kết, khái quát, chính trong quá trình đó lý luận có vaitrò tiếp tục luận giải, minh chứng soi sáng và chỉ đường cho hoạt độngcách mạng Do đó, con đường phát triển lý luận nói chung, LLCT nóiriêng là con đường thông qua nghiên cứu tổng kết thực tiễn, nâng caotầm tư duy lý luận của Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hìnhmới

Ba là, LLCT của Đảng ta có sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học.

Trang 18

Tính đảng, tính khoa học của LLCT của Đảng ta thể hiện lợiích của giai cấp công nhân, toàn thể nhân dân lao động; là sự phảnánh đúng quy luật khách quan của tiến trình cách mạng Việt Nam.Chủ nghĩa Mác- Lênin không chỉ xuất phát, phản ánh khách quannhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà cònphù hợp nguyện vọng giai cấp công nhân, nhân dân lao động nữa.

Do vậy, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong LLCTcủa Đảng ta là một đặc trưng quan trọng, không thể thiếu

Nhiệm vụ của LLCT không phải chỉ dừng lại mô tả, ngắm nhìn,giải thích những hiện tượng xã hội mà còn ở sức mạnh cải tạo xã hộiphục vụ nhân dân lao động Tính khoa học của LLCT càng cao sẽ làm

cơ sở, tiền đề cho tính cách mạng trong LLCT càng vững chắc; đồngthời tính cách mạng càng triệt để, sâu sắc thì làm cho tính khoa họccủa LLCT càng phát triển Lênin viết:

Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn nhữngngười XHCN của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là

ở chỗ nó kết hợp tính khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnhcao nhất của khoa học xã hội ) với tinh thần cách mạng và kếthợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì ngườisáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mìnhnhững phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng,

mà là sự kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy một sự kếthợp nội tại và khắng khít Thật thế, nhiệm vụ của lý luận, mụcđích của khoa học được nêu ra ở đây là giúp đỡ giai cấp,những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh kinh tế đangthực sự diễn ra [22, tr 421]

Để làm vai trò của người chiến sĩ tiên phong thì trước hết phải

có được một lý luận tiên phong hướng dẫn, để thực hiện vai trò lãnhđạo của mình, Đảng phải thực sự tiêu biểu cho trí tuệ của dân tộc,thời đại LLCT phải xuất phát từ thực tiễn chính trị và đời sống củanhân dân, đồng thời đưa ra những kiến giải dự báo khoa học về sự

18

Trang 19

phát triển cho các vấn đề mới nảy sinh và những kết luận mới nhằm

bổ sung phát triển chính bản thân LLCT Tính đảng giữ vai trò địnhhướng cho sự nghiên cứu LLCT đạt hiệu quả cao trong thực tiễnchính trị Lý luận cách mạng xuất phát từ thực tiễn cách mạng, đượcthực tiễn cách mạng kiểm nghiệm và điều đó làm cho LLCT có tínhđảng và tính khoa học cao

LLCT của Đảng ta được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát triển những tinh hoa trítuệ của dân tộc, thời đại khái quát những thành tựu khoa học côngnghệ thế giới, là sự tổng kết kinh nghiệm từ phong trào đấu tranh cáchmạng của dân tộc và nhân dân thế giới

Mác-LLCT của Đảng ta cũng có tính hệ thống và kế thừa Nó giúpcho Đảng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình; là kim chỉnam cho Đảng cách mạng hành động, lãnh đạo phong trào cáchmạng quần chúng trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hộimới Trong giai đoạn hiện nay Đảng ta kiên định mục tiêu Độc lậpdân tộc gắn liền với CNXH, xây dựng đất nước vì dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Vì vậy phải tập trungnghiên cứu lý luận, làm cho LLCT của Đảng không ngừng phát triển,những chủ trương đường lối ngày đi vào cuộc sống có sức sốngmạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn; mặt khác bổ sung thêm vào kho tàng

lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin tính khoa học và cách mạng của nó

1.2 VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI BÁO CÁO VIÊN

1.2.1 Báo cáo viên

Thuật ngữ BCV trong một thời gian dài được sử dụng ở nước tavới rất nhiều nghĩa khác nhau, qua các giai đoạn và trong từng lĩnhvực cụ thể

Theo từ điển tiếng Việt, BCV là người trình bày báo cáo trước

một hội nghị đông người [48, tr 54] Theo cách hiểu này, BCV chỉ tất

cả những người trình bày báo cáo trước hội nghị đông người do cơ

Trang 20

quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế và tổchức xã hội nghề nghiệp… tổ chức Do vậy, BCV không chỉ có trongcác tổ chức Đảng, Nhà nước, Đoàn thể mà còn trong các tổ chứcquần chúng tự nguyện khác.

Chức danh BCV được Đảng ta qui định trong nhiều văn bản vàBan Tư tưởng - Văn hóa Trung ương hướng dẫn thực hiện, trừ một sốBCV ở các cơ quan chức năng và một số cán bộ, đảng viên đã nghỉhưu được các cấp ủy Đảng lựa chọn làm BCV chuyên trách Phần lớnBCV hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm và hưởng chế độ theo quiđịnh của Bộ Tài chính

Chỉ thị số 14 ngày 03/08/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảngnêu rõ “BCV, tuyên truyền viên là lực lượng tuyên truyền miệng cónhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn tư tưởng và hành độngcho cán bộ Đảng viên và nhân dân theo đường lối, quan điểm củaĐảng” [9] Theo chỉ thị này, BCV là một chức danh để chỉ đội ngũnhững người tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói đến các đối tượng làcán bộ, đảng viên và nhân dân dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp củacác cấp ủy Đảng, cơ quan Nhà nước Đội ngũ BCV được tổ chức chặtchẽ từ Trung ương đến cơ sở, các ngành, các tổ chức đoàn thể, lựclượng vũ trang, được tổ chức theo hệ thống dọc, dưới sự lãnh đạocủa cấp ủy và sự quản lý của cơ quan Tư tưởng - Văn hóa, cơ quanTuyên huấn các cấp

BCV của Trung ương: do Ban Bí thư ủy nhiệm cho Ban Tưtưởng - Văn hóa Trung ương chọn một số cán bộ cao cấp, Ủy viênTrung ương, lãnh đạo các bộ, ban, ngành, chuyên gia giỏi có phẩmchất và năng lực tuyên truyền làm BCV

Ở địa phương, BCV được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhấtđịnh do cấp ủy xây dựng BCV ở cấp nào do cấp ủy cấp đó trực tiếp raquyết định công nhận, Ban Tuyên giáo quản lý điều hành, số lượngBCV phụ thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ của từng cấp Thông thường,BCV ở cấp tỉnh có từ 35 – 50 người, cấp huyện có từ 15-30 người,cấp xã có từ 1-3 người, phương thức hoạt động chủ yếu của BCV làgiảng bài, báo cáo chuyên đề, giới thiệu nghị quyết, nói chuyện thời

20

Trang 21

sự, chính sách, các vấn đề xã hội khác… trong các hội nghị, các buổisinh hoạt đảng, câu lạc bộ, mít tinh, nơi tập trung đông đảo cán bộ,đảng viên và quần chúng nhân dân.

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả chỉ tập trung bànđến đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện- còn gọi BCV Huyện ủy, lànhững người do Ban chấp hành Huyện Đảng bộ chọn, Ban thường vụHuyện ủy công nhận và ra quyết định, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếpcủa Ban Tuyên giáo Huyện ủy BCV Huyện ủy gồm một số đồng chí làcán bộ chủ chốt cấp huyện, lãnh đạo quản lý các ban, ngành, đoànthể của huyện, một số chuyên viên giỏi trên các lĩnh vực kinh tế, vănhóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… và một số đồng chí cán bộ chủchốt cấp xã BCV Huyện ủy với nhiệm vụ tiếp thu quán triệt những chủtrương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, cácchỉ thị, nghị quyết của địa phương, những vấn đề về thời sự chính trị

xã hội, trong nước và quốc tế đến cán bộ, đảng viên, quần chúngnhân dân trên địa bàn cấp huyện, cấp xã

Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trịcủa mình, hoạt động của BCV không chỉ đa dạng về phương thức màcòn phải có phẩm chất và năng lực nhất định, một trình độ LLCT cao,

có vậy công tác tuyên truyền của Đảng mới đi vào chiều sâu, có hiệuquả

Chức năng chủ yếu của BCV:

Một là, cung cấp thông tin, đặc biệt là những thông tin mới có

giá trị, những thông tin có tính nội bộ về tình hình trong nước và quốctế; phổ biến, giải thích các quan điểm, đường lối, chủ trương, chínhsách lớn, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Thông quacung cấp thông tin, BCV giúp cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dânhiểu được nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, địa phương, cơquan và đơn vị

Hai là, BCV không chỉ dừng lại cung cấp thông tin cho đối tượng

mà quan trọng hơn phân tích, bình luận, làm rõ ý nghĩa nội dung chínhtrị của các sự kiện, các nhiệm vụ Trên cơ sở lý luận, thực tiễn khoa

Trang 22

học, xác đáng, có tính thuyết phục, BCV phân tích, bình luận, làm rõbản chất các sự kiện chính trị, từ đó chỉ ra các nguyên nhân, dự báochiều hướng, khả năng và triển vọng của tình hình, định hướng thôngtin, nhất là thông tin có tính chính trị cao; góp phần hình thành dư luận

xã hội tích cực, đúng đắn nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của cán

bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân

Ba là, động viên cổ vũ mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tích

cực tham gia vào các hoạt động xã hội, nâng cao chất lượng hiệu quảsản xuất Chức năng hiệu triệu, cổ vũ sẽ tăng lên nếu như lời nói củaBCV có sức truyền cảm mạnh mẽ, có khả năng làm xúc động lòngngười, tác động sâu sắc đến tình cảm của quần chúng nhân dân

Bốn là, hoạt động BCV là hoạt động thông tin hai chiều, một mặt

thông tin tác động đến đối tượng, mặt khác nhận thông tin phản hồi từphía đối tượng Qua đó BCV nắm tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, cũngnhư tâm trạng, thái độ nhận thức, tư tưởng của họ đối với chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để phảnánh lên cấp trên Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước kịp thời điềuchỉnh, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối của mình cho phùhợp quy luật phát triển, với thực tiễn cách mạng, hợp lòng dân, trong

đó BCV đóng vai trò là kênh thông tin huyết mạch, là cầu nối giữaĐảng với quần chúng nhân dân BCV không chỉ thực hiện nhiệm vụbằng trí tuệ, năng lực, bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm mà còn bằng cảlòng nhiệt tình, tâm huyết, phong cách gần gũi gắn bó với quần chúng,gương mẫu để thuyết phục người nghe Trên cơ sở phân tích các mốiquan hệ lợi ích giữa các nhóm xã hội, tình trạng phát triển dân trí vàtình trạng thông tin, BCV có thể nắm được tình hình tư tưởng và dưluận xã hội trong những giai đoạn nhất định để báo cáo lên cấp trên

Tâm trạng của con người rất dễ thay đổi trước những biến độngcủa đời sống xã hội Trong công tác tuyên truyền miệng, BCV cầnphải nắm bắt diễn biến tư tưởng của đối tượng khi tâm trạng chưa bộc

lộ thành quan điểm chủ kiến, nhất là phải nắm được tâm trạng khởiđầu, xu hướng phát triển của nó để định hướng nội dung tuyên truyền,

22

Trang 23

có những phương pháp, hình thức tuyên truyền phù hợp và hiệu quảnhất.

Tóm lại, chức năng thông tin, bình luận và định hướng thông tin,

cổ vũ và thực hiện, nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội luôn gắn chặtnhau, bổ sung tác động cho nhau BCV khi tuyên truyền với những nộidung phong phú, phân tích thấu đáo, có cơ sở lý luận- thực tiễn khoahọc xác đáng, bình luận sâu sắc, tính định hướng cao, nắm bắt diễnbiến tư tưởng tâm trạng của đối tượng chắc chắn sẽ có tác dụngtuyên truyền giáo dục rất lớn, sức cổ vũ hoạt động mạnh mẽ, hiệu quảtuyên truyền sẽ cao

Tính đặc thù hoạt động BCV:

Một là, đối tượng hoạt động BCV và giảng viên đều làm nhiệm

vụ truyền đạt, thuyết trình trước một tập thể có đông người nghe,nhưng giảng viên là người được đào tạo chuyên ngành về nội dung vàphương pháp sư phạm; nội dung chương trình đã được đào tạo theoquy chuẩn như: giáo khoa, giáo trình; giảng dạy nhiều lần về nội dungchương trình cho đối tượng nhất định, tương đối đồng đều về trình độ.Đối tượng thuyết trình của BCV là những cộng đồng người vừa không

ổn định vừa không đồng đều về đặc điểm xã hội: giai cấp, nghềnghiệp, tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, trình độ, kinh nghiệm, cáchsuy nghĩ… cũng như tâm lý: nhu cầu, tâm trạng, lợi ích Vì vậy, sự đadạng về đối tượng đòi hỏi người BCV phải có trình độ tri thức về cáclĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, con người, cũng nhưphương pháp truyền đạt, sự hiểu biết đối tượng sâu sắc

Hai là, công cụ chủ yếu của BCV là ngôn ngữ Quá trình diễn

giảng, thuyết phục, sự cảm hóa mà BCV thực hiện với đối tượng đềuqua ngôn ngữ; bằng ngôn ngữ BCV thực hiện quá trình chuyển thôngtin đến đối tượng như mục đích đã đặt ra Vì vậy, người BCV phải tíchlũy vốn từ, nắm vững quy luật của ngôn ngữ và đặc điểm văn phongtrình bày

Ba là, tính chất hoạt động tuyên truyền miệng của BCV vừa là

một khoa học vừa là một nghệ thuật Trong quá trình tuyên truyền:

Trang 24

Một mặt, dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn để nhìn nhận,phân tích sự việc, hiện tượng, từ đó thuyết phục cảm hóa đối tượng;mặt khác, công tác tuyên truyền phải gắn với thực tiễn, trên cơ sởtổng kết thực tiễn, tổng kết công tác tuyên truyền trong từng thời kỳcách mạng để giải đáp những vấn đề cuộc sống đặt ra Muốn đạt hiệuquả thì phương pháp và hình thức tuyên truyền phải phù hợp với từngđối tượng và tình hình thực tiễn Điều đó cho thấy, hoạt động BCV làhoạt động nghệ thuật- nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật giaotiếp, nói chung nghệ thuật diễn thuyết Hoạt động BCV còn có đặctrưng sáng tạo - sáng tạo ra bài giảng của mình (với những nội dungkhác nhau chưa sẵn có, biên soạn đề cương nội dung chương trìnhtheo yêu cầu nhiệm vụ chính trị hoặc yêu cầu người tổ chức) Nhiềukhi những nội dung trong trình bày bài giảng là những vấn đề mới,chưa diễn ra nhưng người BCV cần sáng tạo, cần phân tích, dự báonhững khả năng sắp xảy ra, đây là một yếu tố khách quan quy địnhđặc trưng hoạt động BCV - thực hiện hai lần sáng tạo trong một hoạtđộng.

Là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệthuật, hoạt động BCV không chỉ đòi hỏi tính sáng tạo, sự rèn luyệnnghiêm túc, mà còn phải có năng khiếu nghề nghiệp (giao tiếp, sựnhạy cảm chính trị)

Bốn là, hoạt động BCV khác với hoạt động của các “binh

chủng” hợp thành công tác tư tưởng, như: hệ thống trường chính trị,báo chí, xuất bản, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình … Mỗi “binhchủng” có đặc điểm riêng, chức năng riêng, có phương thức tácđộng riêng, và do đó hiệu quả tác động là không giống nhau So vớicác “binh chủng” khác, tác động tuyên truyền miệng của BCV có ưuthế: tiếp xúc trực tiếp với người nghe, biết được phản ứng củangười nghe, có khả năng điều chỉnh ngay bài nói của mình cho thíchhợp Người BCV có thể gợi ý, trao đổi với người nghe, lấy được ýkiến quần chúng, thực hiện được thông tin hai chiều, do đó có thểgiải đáp một cách sinh động, kịp thời vấn đề quần chúng nêu ra.Điều quan trọng là do nói với từng tập thể nhỏ, từng người nên BCV

24

Trang 25

phải vận dụng những nội dung chung nhưng phù hợp với từng đốitượng cụ thể.

Năm là, BCV cấp ủy các cấp cũng có những nét đặc thù nhất

định BCV Tỉnh ủy báo cáo chuyên đề theo từng lĩnh vực BCV phụtrách Do đó hoạt động BCV Tỉnh ủy thể hiện tính chuyên môn vàchuyên sâu rõ rệt Ở cơ sở do tính đặc thù của đối tượng người nghe:trình độ tương đối thấp, đa phần nông dân, địa bàn nông thôn nên lựachọn BCV cấp ủy ở cở thường là những người cao tuổi, có uy tín, kinhnghiệm; đa phần những cán bộ đã về hưu tham gia BCV, không nhấtthiết là đảng viên trong cấp ủy Đối với BCV Đảng bộ cấp huyện hầuhết là những người đang tham gia cấp ủy, tham gia báo cáo chuyên

đề trên tất cả các lĩnh vực do cấp ủy phân công Khác với BCV Tỉnh

uỷ, người BCV Đảng bộ cấp huyện không chỉ hoạt động trên địa bàncấp huyện mà còn tăng cường hoạt động ở cơ sở khi cấp ủy cơ sởyêu cầu BCV Đảng bộ cấp huyện phải không ngừng thay đổi nội dungbáo cáo và lựa chọn phương pháp thuyết trình phù hợp với từng đốitượng Có thể nói, đội ngũ BCV này phải rất năng động, sáng tạo, linhhoạt và nhạy bén … Nhưng do đặc thù vậy, nên ở họ có sự hạn chếtính chuyên môn và chuyên sâu khi báo cáo các chuyên đề, nhất lànhững chuyên đề không thuộc lĩnh vực mình công tác

Biểu hiện trình độ lý luận chính trị của người BCV:

Trong từ điển tiếng Việt, trình độ là “mức độ về sự hiểu biết về

kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nàođó; là “ trình độ khá cao trong một lĩnh vực nào đó”[48, tr 1018] Với

nghĩa như vậy, có thể hiểu, trình độ LLCT là sự hiểu biết sâu sắc,

nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thể hiện qua hiệu quả hoạt động thực tiễn Như vậy, trình độ LLCT của

người BCV được hiểu là mức độ hiểu biết, mức độ nhận thức, khảnăng vận dụng LLCT vào thực tiễn công tác tuyên truyền của họ

Đối với hoạt động BCV, trình độ LLCT được biểu hiện:

Trang 26

Một là, có thế giới quan khoa học Mác- Lênin, phương pháp

biện chứng duy vật, được trang bị một cách cơ bản về lý luận chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về xây dựng Đảng,Nhà nước và nghiệp vụ đoàn thể

Hai là, có niềm tin vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng của

Đảng,vào sự nghiệp cách mạng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộcgắn liền CNXH, trung thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Ba là, hiểu đúng, bảo vệ, tuyên truyền một cách sáng tạo nền

tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, những chủ trương, biện pháp của địaphương; thông tin có định hướng tình hình thời sự trong nước và quốc

tế, những thành tựu kinh tế, chính trị xã hội của đất nước địa phươngđến cán bộ đảng viên, quần chúng nhân dân một cách có hiệu quả

Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước Thực chất hoạt động của người BCV là tuyên truyền,

giáo dục sâu rộng về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nướcnhằm xây dựng và hình thành lập trường tư tưởng đúng đắn, kiênđịnh mục tiêu lý tưởng của Đảng và sự nghiệp đổi mới Quán triệtquan điểm, Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức tưtưởng, hướng dẫn và cổ vũ quần chúng hành động; góp phần thựchiện và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đã đề ra Giáodục về tư tưởng – văn hóa, phẩm chất đạo đức, lối sống cho quần

26

Trang 27

chúng là nhằm xây dựng con người mới, nền văn hóa mới, đấu tranhchống các trào lưu tư tưởng lạc hậu, các quan điểm chống đối sai trái

và phản động, góp phần hạn chế, đẩy lùi tiêu cực trong xã hội Vì vậy,

để hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình, đòi hỏi người BCV phải cótrình độ LLCT nhất định

Có trình độ LLCT thì BCV mới có thể nhận thức vấn đề mộtcách có hệ thống, hiểu rõ bản chất khoa học và cách mạng của chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó hình thànhnăng lực định hướng đúng đắn, thế giới quan khoa học, nhân sinhquan cách mạng, phương pháp luận đúng đắn, có nhãn quan chính trịrộng để nhận thức các vấn đề một cách toàn diện; có ý thức tự giác vàtích cực trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Đảng đề

ra Thực tế cho thấy, nếu BCV không có trình độ LLCT, thì khôngnhững không tiếp thu được chuẩn xác những tinh thần cơ bản của lýluận khi truyền thụ, mà trong quá trình tuyên truyền sẽ chỉ đơn thuầnđọc lại tài liệu sẵn có, thậm chí còn làm mất đi tính hệ thống, khônglàm rõ được bản chất, trọng tâm của vấn đề trình bày Từ đó, việctriển khai chủ trương, đường lối các vấn đề kinh tế - xã hội của địaphương gặp không ít những khó khăn, thậm chí còn phản tác dụng khiquần chúng nhân dân tiếp nhận làm ảnh hưởng đến việc chấp hành

và thực thi nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Tuyên truyền miệng – không phải là thuộc lòng câu chữ mà làhiểu thực chất nội dung của nó; nắm bắt được bản chất linh hồn sốngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, biến tri thức cần tuyên truyền của Đảng –chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lốicủa Đảng, các vấn đề về thời sự chính trị khác… thành tri thức củachính mình, trên cơ sở đó tuyên truyền cho quần chúng Một tất yếunếu không có trình độ LLCT thì sẽ không hiểu được bản chất củaLLCT, chứ chưa nói gì đến một trình độ lý luận cao, để hiểu nền tảng

tư tưởng của Đảng cơ sở lý luận trực tiếp trong việc xây dựng các chủtrương, đường lối Do vậy, người BCV ngoài năng khiếu tuyên truyền

Trang 28

sẵn có của bản thân, đòi hỏi họ phải không ngừng nâng cao trình độLLCT cho mình

Vì vậy, việc nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ nói chung vàtrình độ LLCT nói riêng là điều kiện để nhận thức tốt bản chất LLCT củaĐảng

Hai là, trình độ LLCT góp phần nâng cao năng lực hoạt động của người BCV Quá trình thực hiện một bài tuyên truyền của BCV

phải bắt đầu từ sự chuẩn bị đề cương, tính lôgic và những kiến thức

cơ bản cho một bài nói, lựa chọn chủ đề phù hợp chính xác, bố cụcchặt chẽ, thu thập thông tin và sử dụng tư liệu sát thực tế Vì vậylựa chọn, thu thập tài liệu là một nhiệm vụ quan trọng Đối với hoạtđộng BCV cần có sự sử dụng tổng hợp các nguồn tài liệu trong đónguồn tài liệu quan trọng nhất là: những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác- Lênin, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện,nghị quyết của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Đây vừa

là nội dung vừa là cơ sở lý luận trực tiếp cho công tác tuyên truyềnmiệng, là những yếu tố quan trọng để bài tuyên truyền đạt hiệu quảcao

Trình độ LLCT góp phần nâng cao trình độ nhận thức, quá trìnhtích luỹ vốn kiến thức người BCV; nâng cao khả năng thuyết trình, lựachọn thông tin phù hợp để tác động đến đối tượng; nâng cao năng lựcđối thoại, đảm bảo tính định hướng, thực hiện tốt tự phê bình và phêbình

Năng lực hoạt động BCV còn thể hiện thông qua sự nhạy cảm

về chính trị, thông qua khả năng phát hiện, nắm bắt, dự báo và xử lýnhững vấn đề mới phát sinh trong đời sống chính trị, hiểu biết nhữngquan hệ chính trị, quá trình chính trị, các quy luật của đời sống chínhtrị, cũng như kinh nghiệm công tác của người BCV Hiểu bản chấtLLCT, thâm nhập vào đời sống chính trị, bám sát thực tiễn đời sốngchính trị xã hội là một trong những con đường đạt tới bản lĩnh và sựnhạy bén chính trị ở mỗi BCV Trước những diễn biến trong nước

và quốc tế ngày càng nhanh với nhiều sự kiện nội dung thông tin

28

Trang 29

ngày đa dạng, phức tạp, thậm chí đối lập nhau … đòi hỏi BCV mộtmặt phải thông tin, giải thích cho cán bộ, đảng viên và nhân dânnhanh chóng kịp thời Mặt khác, phải đảm bảo tính định hướngnhững vấn đề thời sự được đông đảo xã hội quan tâm trên lậptrường quan điểm của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống lại nhữngluận điểm xuyên tạc, diễn biến hòa bình trên mặt trận tư tưởng - vănhóa Nhờ trình độ LLCT, sự nhạy cảm về chính trị mà BCV có thểlàm tăng lượng thông tin, cổ vũ người nghe thực hiện mục tiêu đề ra

và định hướng chính trị đúng đắn cho người nghe

Ba là, trình độ LLCT là cơ sở lý luận để đội ngũ BCV học tập

nâng cao trình độ về mọi mặt Trình độ người BCV phụ thuộc vào

nhiều các yếu tố, trong đó có năng lực tư duy lý luận Người BCV vớinăng lực tư duy lý luận của mình sẽ tạo ra khả năng học tốt, khôngngừng nâng cao trình độ văn hóa, khoa học và sự hiểu biết nói chung.Trình độ LLCT trang bị cho BCV những kiến thức cơ bản trên các lĩnhvực: kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, nghiệp vụcông tác Đảng, chính quyền Nhà nước… qua đó BCV thấy được vị trí,vai trò, chức năng của mình Chính những kiến thức đó sẽ định hướngBCV tham gia soạn đề cương bài giảng, tự tin trong thuyết trình, phântích bình luận các hiện tượng xã hội có luận cứ khoa học, có khả năngnắm bắt dư luận xã hội, thực hiện tốt vai trò định hướng thông tin chocán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân

Đội ngũ BCV đa phần là những cán bộ lãnh đạo quản lý đượcđào tạo, bồi dưỡng và công tác trên các lĩnh vực khác nhau Trình độLLCT giúp cho người BCV dù hoạt động ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng cókhả năng bám sát thực tế, gắn lý luận với thực tiễn sinh động, tổng kếtthực tiễn, và hoàn thiện, phát triển lý luận lên trình độ cao hơn Sựhạn chế về trình độ LLCT là nguyên nhân gây ra căn bệnh khá phổbiến trong đội ngũ cán bộ xã hội ta hiện nay: bệnh giáo điều, kinhnghiệm Đại bộ phận BCV cấp huyện chưa qua đào tạo một cách bàibản, mà chỉ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chonên phần nào còn hạn chế về LLCT Do vậy, trong quá trình tuyên

Trang 30

truyền miệng, BCV sẽ không tránh khỏi dựa vào những kinh nghiệmcủa bản thân là chủ yếu, cũng như những cảm nhận chủ quan, áp đặtnhững kinh nghiệm của ngành, địa phương, lĩnh vực mà mình côngtác lên chủ trương, đường lối lớn mà không tính đến sự phù hợp của

nó Dĩ nhiên, thực tiễn của ngành, địa phương là quý, đáng trân trọng,nhưng chẳng qua là những bộ phận riêng lẻ, chỉ thiên về một mặt, mộtđịa phương hay một ngành mà chưa có sự tổng kết và khái quát trêntầm vĩ mô cả nước

Bác Hồ kính yêu của chúng ta thường nhắc nhở cán bộ đảngviên: Học tập lý luận Mác- Lênin không phải là để trang sức, để lòethiên hạ mà nắm cái tinh thần xử trí mọi việc, nắm cái chân lý phổbiến; học lý luận phải đạt được những hiệu quả thực sự, phải nắmđược quy luật vận động của xã hội, để vận dụng sáng tạo vào côngtác thực tiễn, học để có tri thức, để làm việc Đó cũng là một trongnhững yêu cầu để đội ngũ cán bộ nói chung, người BCV của Đảng nóiriêng khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm

Bốn là, trình độ LLCT là cơ sở xây dựng niềm tin chính trị của người BCV Niềm tin là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức, tình cảm

và ý chí sẵn sàng hành động của con người phù hợp với những địnhhướng, chuẩn giá trị mà bản thân đã lĩnh hội Niềm tin là hiện tượngtâm lý đặc biệt của con người, là động lực mạnh mẽ của hành vi, thiếu

nó thì con người không làm được gì Niềm tin không phải là phẩmchất vốn có của con người, nó mang bản chất xã hội, có tính giai cấp,tính thời đại và phụ thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ dân trí Niềmtin khoa học là niềm tin đúng đắn, vững chắc khi nó kết hợp được lýluận với thực tiễn, tri thức với tình cảm và ý chí

Niềm tin chính trị của người BCV là niềm tin khoa học, niềm tinCSCN, nó là yếu tố cấu thành nhân cách của người BCV Niềm tinCSCN dựa trên nền tảng tri thức khoa học là chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước Trình độ LLCT giúp cho đội ngũ BCV từngbước nâng cao niềm tin chính trị của họ, bởi vì tri thức LLCT mà BCV

30

Trang 31

có được trong quá trình học tập, nghiên cứu, kết hợp kinh nghiệmthực tiễn của quá trình tuyên truyền miệng, trong cuộc sống, góp phầnhình thành niềm tin cộng sản người BCV Có niềm tin chính trị, ngườiBCV không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, rèn luyện mình theo

lý tưởng CSCN, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiênđịnh mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phấn đấu thực hiện có hiệuquả các chủ trương, đường lối của Đảng, trung thành với sự nghiệpcách mạng, không sợ hy sinh gian khổ, suốt đời đấu tranh vì sựnghiệp cách mạng của dân tộc

Trước những diễn biến trong nước và thế giới, một bộ phận cán

bộ, đảng viên hoài nghi về CNXH, đã làm giảm sút lòng tin của quầnchúng nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên CNXH ở nước ta.Trong bối cảnh đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải cóniềm tin chính trị Đối với người BCV đó là một trong những phẩmchất chính trị hàng đầu, để khi gặp khó khăn không bị lúng túng,hoang mang dao động, trái lại còn bảo vệ nền tảng tư tưởng, quanđiểm của Đảng; đấu tranh phê phán các quan điểm lệch lạc, sai trái

Từ đó, phân tích tính tất yếu của con đường đi lên CNXH ở nước ta làcon đường lựa chọn duy nhất đúng đắn, hợp quy luật; góp phần xâydựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho các chủ trương, đường lối củaĐảng

Tóm lại, LLCT đóng vai trò rất quan trọng trong nhận thức và

hoạt động của người BCV Trình độ LLCT được nâng cao, người BCVcàng có cơ sở vững chắc để tiếp thu chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao khả năng nắm bắt,phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tế; nâng cao năng lựctuyên truyền miệng, định hướng thông tin, nắm bắt dư luận quầnchúng; củng cố niềm tin vào Đảng, hướng dẫn cán bộ, đảng viên,quần chúng nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trước yêucầu đổi mới của đất nước

Trang 33

Chương 2

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU

2.1 THỰC TRẠNG TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (QUA KHẢO SÁT THỰC TẾ LONG AN)

2.1.1 Đặc điểm cấp huyện vùng đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL thuộc hạ lưu sông Mê-Kông gồm 12 tỉnh và một thànhphố trực thuộc trung ương (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long,Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng,Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ) Ranh giới vùng châu thổnày được phân định bởi phía Bắc giáp Cam-Pu-Chia, phía Đông giápsông Vàm Cỏ, phía Nam giáp biển Đông và tây nam giáp Vịnh TháiLan ĐBSCL có diện tích tự nhiên gần 40.000 km2 (12% diện tích cảnước), dân số hơn 17 triệu người (hơn 21% dân số cả nước), đây làvùng kinh tế nông – ngư - lâm nghiệp trù phú, là nơi cung cấp lươngthực chính cho cả nước Lợi thế của ĐBSCL là rừng đước và rừngtràm, cả hai đều có giá trị kinh tế cao; 360.000 km2 vùng đặc quyềnkinh tế biển là ngư trường lớn nhất quốc gia; đảo, hòn, thuận lợi choviệc khai thác nguồn tài nguyên trù phú trên biển

Biển Đông và vịnh Thái Lan mở ra cho ĐBSCL chân trời giaothông hàng hải thuận lợi nhất trong khu vực, với 5000km đường sôngchằng chịt khắp đồng bằng châu thổ hình thành mạng lưới giao thôngthủy nội địa độc đáo chưa từng có bất cứ nơi nào trên lãnh thổ ViệtNam Cư dân nông thôn sống chủ yếu trải dài trên các bờ sông, đồngruộng mênh mông nối nhau, ranh giới thôn, làng như ở đồng bằngBắc bộ thì không rõ lắm, hoặc là không có Người dân phân biệt nơimình cư trú là định giới ấp, xóm hay xã theo qui định hành chính củanhà nước Khí hậu ĐBSCL chỉ có hai mùa mưa và nắng, mùa mưanguồn nước dồi dào thậm chí còn bị thiên tai lũ lụt Hệ thống giaothông nông thôn chậm phát triển so với miền Đông nam bộ hay miền

Trang 34

Bắc - khó khăn đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của ngườiBCV, cũng như việc nâng cao trình độ LLCT của họ.

ĐBSCL đất đai màu mỡ, thiên nhiên phong phú, môi trườngsống khoáng đãng, người dân ở đây sớm tiếp xúc với kinh tế, vănhóa, khoa học, kỹ thuật phương tây nên phương thức làm ăn cũng cónhiều biến đổi so với tổ tiên ở vùng đồng bằng sông Hồng hay khuvực khác, sản xuất hàng hóa ra đời sớm, quan hệ kinh tế thị trườngkhá phát triển

Nông dân ĐBSCL chiếm khoảng 80% dân số, tập trung ở nôngthôn, đời sống của dân cư vừa mang tính nông nghiệp lúa nước, vừamang đậm sắc thái của các quan hệ kinh tế thị trường Với nhữngtiềm năng lớn, một nghịch lý mà ai cũng thấy là mức sống còn thấp,trình độ dân trí chưa cao, ý thức pháp luật còn yếu, điều kiện vệ sinh

ăn ở chưa đảm bảo, giao thông thủy tuy thuận lợi nhưng phương tiệncòn rất thô sơ Giao thông đường bộ còn khó khăn, kinh tế nói chungchưa thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nên ít nhiều ảnh hưởng tiêucực tới hoạt động của BCV, cũng như việc nâng cao trình độ LLCTcho họ

ĐBSCL có bốn tộc người cùng sinh sống là: Kinh, Khơ me, Hoa

và một số ít người Chăm Trong đó, tộc người Kinh chiếm đại đa sốdân cư trong vùng (92%), 8% còn lại là người Khơ me, người Hoa, vàngười Chăm

ĐBSCL có các tôn giáo lớn: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao đài

và các tôn giáo bản địa khác: đạo Hòa hảo, đạo Dừa, đạo Hiếu lễ vànhiều tín ngưỡng dân gian Tuy mỗi tôn giáo có giáo lý, giáo luật và lễnghi riêng nhưng mỗi giáo dân đều có ý thức tốt “sống phúc âm tronglòng dân tộc", “tốt đời đẹp đạo”

Mỗi dân tộc và tôn giáo đều có những sắc thái văn hóa riêng,nhưng tất cả những dân cư sống ở đây đều ý thức xem mình là “conrồng cháu tiên”, gắn bó phong tục, tập quán, của quê hương xứ sở vàđều mang đậm bản sắc văn hóa của Việt Nam Đại bộ phận ngườidân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng đi theo Đảng, nhưng vẫn còn một bộ

34

Trang 35

phận nhỏ do các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng kích động chia rẽchống phá cách mạng nên không ít những vấn đề tế nhị về tôn giáo vàdân tộc đã xảy ra trong quá khứ cũng như hiện tại, có những vấn đềhết sức phức tạp và kéo dài.

Nhìn chung, tình hình chính trị cấp huyện ĐBSCL ổn định,nhưng trong chiều sâu của nó vẫn còn tồn tại những nét phức tạp Dohậu quả chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới, nên không ít nhữngphần tử tay sai đế quốc trước đây còn mang ý thức hận thù giai cấp,khôi phục lại chế độ, ngấm ngầm “diễn biến hòa bình”, tham gia các tổchức phản động để chống lại Đảng, Nhà nước và chế độ ta Chủquyền vùng biển, vùng lãnh thổ và biên giới của ĐBSCL cũng chưaphải là yên tĩnh… Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên nóichung, đội ngũ BCV nói riêng ở ĐBSCL phải nhạy bén chính trị và cótrình độ LLCT cao mới hoàn thành tốt nhiệm vụ

Con người ĐBSCL - ở vùng đất mới khai phá đầy gian khổ vàcũng đầy tình người Một trong những đặc điểm nổi bật của con ngườiĐBSCL là tính thiết thực, cuộc đấu tranh sinh tồn với tự nhiên làm cho

họ không có nhiều thời gian để bàn về những vấn đề lý luận ĐBSCLtồn tại nhiều tôn giáo lớn, nhưng người dân ở đây lại đến với tôn giáotheo cách riêng của mình Những tôn giáo này không làm cho conngười ở đây quay lưng lại hiện thực, mà chính ở đây con người kéotôn giáo trở về với hiện thực để sát cánh với họ trong cuộc đấu tranhsinh tồn Điều đó chứng minh cho tính thực tế của con người ĐBSCL,

đó vừa là ưu điểm và đồng thời cũng chính là nhược điểm của họ Họ

có tính năng động, miệng nói tay làm, lấy thực tiễn cuộc sống làm tiêuchuẩn chân lý Cho nên, họ tỏ ra ít xem trọng lý luận, những vấn đề

"siêu hình", quay lưng lại với cuộc sống hay những cái gọi là lý luậnphiền toái thường không phải là những đề tài hấp dẫn đối với họ Dovậy, việc nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ, nhân dân ĐBSCL, trong

đó có đội ngũ BCV là một vấn đề khó khăn

So với các địa phương khác trong cả nước thì Nho giáo ảnhhưởng tới con người ĐBSCL mờ nhạt hơn, họ học Nho giáo để làmngười chứ không phải để thi cử làm quan Do đó, tư duy của người

Trang 36

ĐBSCL ít giáo điều, họ thực tế trong kinh tế, nhưng lại rộng mở trong đờisống tinh thần, và đó là thuận lợi trong quá trình mở cửa hội nhập quốc

tế của người dân nơi đây

Con người ở đây rất kiên cường trong đấu tranh sinh tồn trước

tự nhiên đầy thử thách cũng như trước kẻ thù xâm lược và trướcnhững cái ác hàng ngày Nên lòng nhân ái, tương thân tương ái làđiều trở nên rất đỗi bình thường, hiển nhiên trong mỗi con người ởđây, đức tính ấy giúp họ không rơi vào cảnh cạnh tranh tương tàntrong cơ chế thị trường, lạnh lùng theo pháp luật vốn không có tìnhcảm

Người ĐBSCL thích sống theo tự nhiên hơn là bị chi phối bởinhững giáo lý Tính đẳng cấp trong Nho giáo được xem trọng, nhưngngười dân ở đây vẫn không đánh mất cái gọi là trạng thái tự nhiên củamình, quan hệ hôn nhân ngoại tộc đã biến cộng đồng xã hội thành mộtgia đình, ở đâu cũng là bà con Lẽ sống tự nhiên, dân dã vẫn có chỗđứng trong những gia quy, lễ nghĩa gia đình; lối sống tự nhiên trong

họ vừa là tác nhân đề kháng, chống lại những luận điệu chia rẽ dântộc của các thế lực thù địch, vừa kéo con người xích lại gần nhau hơn.Điều này tạo thuận lợi cho đội ngũ BCV trong việc tiếp nhận ý kiếnphản hồi của quần chúng Nhưng đòi hỏi người BCV phải có tácphong quần chúng, phải có trình độ LLCT nhưng khi tuyên truyền phải

dễ nghe, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm theo

Môi trường tự nhiên và xã hội của ĐBSCL không những tạo ranhững thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tuyên truyền miệng củađội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện, mà còn ít nhiều ảnh hưởng đến việcnâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ này

2.1.2 Những mặt mạnh về trình độ lý luận chính trị của đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long (qua thực tế Long An)

Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng côngtác tuyên truyền, đây là một trong những “binh chủng” cấu thành côngtác tư tưởng của Đảng, góp phần cùng cả nước tạo nên thắng lợi của

sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiếnlên xây dựng CNXH, thực hiện CNH, HĐH đất nước

36

Trang 37

Từ khi có chỉ thị 14 – CT/TW ngày 3/8/1977 của Ban Bí thư

Trung ương Đảng khóa IV về việc: “Tổ chức đội ngũ BCV, tuyên

truyền viên của Đảng” và sự chỉ đạo trực tiếp các cấp ủy Đảng ở địa

phương, công tác BCV cấp ủy ngày càng được các cấp ủy Đảng coitrọng Mục tiêu công tác tuyên truyền của Đảng là góp phần tạo raphong trào hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toànquân trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh xâm lược của kẻ thù,xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh, phát triển kinh tế - xã hội,

ổn định chính trị, xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân

Đặc biệt thông báo 71- TB/ TW ngày 7/ 6 /1997 của Thường vụ

Bộ chính trị Khóa VIII về việc “Tăng cường lãnh đạo và đổi mới công

tác tuyên truyền miệng” ở địa phương, các cấp ủy đã ra chỉ thị về tổ

chức và qui chế hoạt động của đội ngũ BCV, tuyên truyền viên củacấp mình Do đó công tác BCV, tuyên truyền viên của địa phương cóbước đổi mới toàn diện và hoạt động có hiệu quả, chất lượng nâng lên

rõ rệt, góp phần tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhândân tình hình nhiệm vụ các chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, các vấn đề thời sự trong nước và quốc

tế có bước chuyển biến tốt Ở một số nơi, công tác giáo dục LLCT,thông báo thời sự, chính sách đã đi vào nền nếp, lực lượng BCV trởthành người lính xung kích của Đảng trên mặt trận tư tưởng, đảm bảotruyền tải nhanh chính xác quan điểm tư tưởng của Đảng đến đờisống xã hội; nhiều cán bộ được phân công làm BCV đã hoạt động tíchcực Ban Tuyên giáo các cấp, các ngành đã có những cố gắng bồidưỡng đội ngũ BCV và hướng dẫn họ hoạt động, góp phần thực hiệnthắng lợi những nhiệm vụ chính trị của địa phương và tạo những tiền

đề vững chắc tiến tới đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Những năm qua đội ngũ BCV Đảng bộ cấp Huyện ở ĐBSCL nóichung và ở Long An nói riêng đã có bước trưởng thành cả số lượng

và chất lượng Đa số BCV được tôi luyện, thử thách và trưởng thànhqua thực tiễn cách mạng, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở

Trang 38

địa phương, cũng trong quá trình ấy họ đã được các cấp ủy Đảng giáodục, bồi dưỡng Cho nên, hầu hết BCV có bản lĩnh chính trị vữngvàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định lập trường mục tiêu lýtưởng của Đảng, tâm huyết với nghề nghiệp, quyết tâm thực hiệnđường lối đổi mới Nhiều BCV có năng lực, uy tín, kinh nghiệm trongtuyên truyền, giáo dục thuyết phục quần chúng, nhờ đó những chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nướcnhanh chóng được đưa đến cơ sở, góp phần tích cực vào sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội, tăng cường sự nhất trí trong Đảng, ổn địnhchính trị tư tưởng trong nhân dân.

Trình độ LLCT của người BCV, như đã trình bày cụ thể ở phần1.2.2 biểu hiện ở việc được trang bị một cách cơ bản lý luận chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức đúng đắn chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có niềm tinvững chắc vào mục tiêu lý tưởng của Đảng; có năng lực tuyên truyềnmiệmg, có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, thực hiện nghiêm túc phê

và tự phê bình, có ý thức đấu tranh chống tham nhũng, chống diễnbiến hòa bình trên mặt trận tư tưởng - văn hóa và các biểu hiện tiêucực xã hội khác Trình độ LLCT của người BCV còn thể hiện ở nănglực hoạt động, trong việc tự giác và tích cực thực hiện nhiệm vụ doĐảng đề ra

Trong điều kiện hiện nay một bộ phận đội ngũ BCV của Đảng

bộ cấp huyện ở ĐBSCL, vẫn còn hạn chế về LLCT, chưa đáp ứng yêucầu của sự nghiệp đổi mới Theo số liệu điều tra (xem phụ lục số 3) tạiTrung tâm thông tin công tác tư tưởng - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: Long

An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng;

cho thấy đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện:

Giới tính: 83,3% nam, 16,6% nữ.

Trình độ văn hóa: 1,7% BCV có trình độ trung học cơ sở

(THCS), 98,3% có trình độ trung học phổ thông (THPT)

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: 11,8% trung cấp (TC); 62%

cao đẳng (CĐ), đại học (ĐH); 26,8% chưa qua đào tạo

38

Trang 39

Trình độ LLCT: 2,3% là sơ cấp (SC0; 31% TC; 66,6% cao cấp

(CC), ĐH Như vậy số BCV có trình độ LLCT SC và TC lên đến tới33,4%

Qua khảo sát 293 BCV Đảng bộ cấp huyện ở Long An:

Độ tuổi BCV cấp ủy: dưới 30 tuổi:1%; Từ 30 đến 45 tuổi: 51,5%;

từ 45 đến 60 tuổi: 46,5%; trên 60 tuổi: 1%

Thâm niên BCV cấp ủy: dưới 5 năm: 52,6%; từ 5 đến 10 năm:

35,8%; trên 10 năm: 11,6% (trong đó có BCV tham gia trên 20 nămnhưng chiếm tỉ lệ rất nhỏ: 0,3%)

Trình độ văn hóa: BCV có trình độ học vấn tốt nghiệp THPT

chiếm tỉ lệ 95,9%; còn lại 4,1% chưa tốt nghiệp

Trình độ chuyên môn: phần lớn BCV Đảng bộ cấp huyện ở

Long An có trình độ CĐ và ĐH: 61,8%; Sau ĐH: 2,3%; số ít có trình độTC: 4,1%; còn lại chưa có bằng cấp chuyên môn: 25,6%

Trình độ LLCT: trong những năm gần đây đội ngũ cán bộ lãnh

đạo quản lý các cấp của Tỉnh đã được chuẩn hóa đào tạo LLCT Vìthế tất cả BCV Huyện ủy, Thị ủy đều có trình độ LLCT nhất định: SCLLCT: 2%; TC LLCT: 34,5%; CC và ĐH: 63,8% (phụ lục1,3)

Qua kết quả khảo sát đội ngũ BCV của Đảng bộ cấp huyện của

14 Huyện, Thị trong tỉnh Long An nhận thấy:

- Lực lượng nữ tham gia vào đội ngũ BCV chiếm tỉ lệ 14,3%tăng 3% so với nhiệm kỳ (2001- 2005) Tuy chưa phải là nhiều so vớiđội ngũ nhưng bước đầu đã cho thấy sự quan tâm của cấp ủy Đảng,chính quyền địa phương và các đoàn thể chính trị xã hội trong việcthực hiện chính sách cán bộ nữ theo quan điểm của Đảng và Nhànước Đây cũng là vấn đề các cấp, các ngành và toàn xã hội đangquan tâm suy nghĩ trong việc thực hiện bình đẳng giới; lựa chọn, đàotạo,bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ tham gia vào các lĩnh vực quản lý

xã hội

Đội ngũ BCV nhìn chung còn trẻ, năng động BCV tuổi đời dưới

30 chiếm 1%; từ 30 đến 45 tuổi 51,5% Số năm tham gia làm BCV cấp

ủy dưới 5 năm: 52,6%; từ 5 đến 10 năm: 35,8%; trên 10 năm:11,6%

Trang 40

Sau khi kết thúc nhiệm kỳ Đảng bộ cấp huyện (2001-2005), các Đảng

bộ cấp huyện nhiệm kỳ mới (2006- 2010) đã chủ động xây dựng lạiđội ngũ BCV có sự đan xen về thâm niên công tác giữa các thế hệ,cho nên có sự thay đổi và biến động lớn, tạo điều kiện cho BCV traođổi học tập kinh nghiệm và đảm bảo sự kế thừa đội ngũ

95,9% BCV tốt nghiệp THPT; 61,8% có trình độ CĐ,ĐH; 2,3%sau ĐH Đây là những thuận lợi rất lớn để BCV tiếp thu và nâng caotrình độ LLCT Thực tế cho thấy, để tiếp thu được trình độ LLCT đòihỏi BCV phải có trình độ học vấn tương xứng Trình độ học vấn càngcao thì càng tác động tích cực đến việc nâng cao trình độ LLCT, là cơ

sở khoa học để đội ngũ BCV tiếp thu LLCT nhanh, có hiệu quả Mặtkhác, đa phần BCV Huyện ủy là cán bộ chủ chốt cấp huyện, cấp xã,việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn còn tạo điều kiện thuậnlợi trong tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, có cách suy nghĩ sâu sắc trước yêucầu sự nghiệp đổi mới, sáng tạo trong xây dựng, triển khai, thực hiện

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từ đó hoàn thànhtốt nhiệm vụ chuyên môn của mình tại cơ quan, đơn vị Trình độ họcvấn, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ LLCT càng cao sẽ là cơ sở vữngchắc để BCV tiếp thu chủ trương, đường lối và tổ chức tuyên truyền

có hiệu quả chủ trương, đường lối đó đến cán bộ, đảng viên và quầnchúng nhân dân

Thực hiện chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới, quán triệt cácnghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trongnhững năm qua Đảng bộ Long An đã có những chủ trương biện pháptích cực phát huy sức mạnh nội lực hiện có, phối kết hợp với các cơ

sở đào tạo ở Trung ương chủ động đào tạo, bồi dưỡng nhằm nângcao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp cácngành, trong đó có đội ngũ BCV Qua khảo sát nhiệm kỳ (2001-2005)địa phương đã đào tạo được 1640 cán bộ có trình độ SC LLCT; 2368

TC LLCT; 401 CC LLCT; 178 cử nhân xây dựng Đảng và các chuyênngành LLCT khác, những kết quả đào tạo, bồi dưỡng đó đã góp phần

40

Ngày đăng: 03/05/2014, 11:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An (1999), Báo cáo sơ kết “Hai năm thực hiện thông báo 71 – TB/TW của Thường vụ Bộ chính trị khóa VIII về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết" “Hai năm thực hiện thông báo 71 – TB/TW của Thường vụ Bộ chính trị khóa VIII về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An
Năm: 1999
6. Nguyễn Đức Bình (1992), “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (6), tr.5-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1992
7. Nguyễn Đức Bình (1996), “Phấn đấu vươn lên ngang tầm những nhiệm vụ công tác tư tưởng trong thời kỳ mới”, Tạp chí Cộng sản, (10), tr. 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phấn đấu vươn lên ngang tầm những nhiệm vụ công tác tư tưởng trong thời kỳ mới”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1996
8. Thùy Dương (1997), “Vì sao cán bộ ít muốn về tuyên giáo”, Tạp chí Tư tưởng- Văn hóa, (9), tr.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao cán bộ ít muốn về tuyên giáo”, "Tạp chí Tư tưởng- Văn hóa
Tác giả: Thùy Dương
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Chỉ thị số 14 – CT/TW “Về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên của Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 14 – CT/TW" “Về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1977
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Thông báo số 71 – TB/TW “về việc lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 71 – TB/TW " “về việc lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX" “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1996 – 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1996 – 2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Hà Đăng (1994),“Đổi mới và tăng cường hoạt động BCV, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng”, Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, (10), tr.4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường hoạt động BCV, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng”, "Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa
Tác giả: Hà Đăng
Năm: 1994
20. Lương Khắc Hiếu, Nguyễn Viết Thông (2003), “Đổi mới tư duy về công tác cán bộ tuyên giáo hiện nay”, Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, (2), tr.23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy về công tác cán bộ tuyên giáo hiện nay”, "Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa
Tác giả: Lương Khắc Hiếu, Nguyễn Viết Thông
Năm: 2003
21. Phạm Đình Huỳnh (chủ nhiệm đề tài) (1995), Nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ tuyên giáo huyện thị - thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ tuyên giáo huyện thị - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phạm Đình Huỳnh (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 1995
22. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, T1, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
23. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, T4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
24. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, T6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975
25. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, T14, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w