MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TMỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức Trung Quốc, ra đời ở thế kỷ VI trước Công nguyên trong điều kiện nhà Chu đang bị suy yếu về địa vị kinh tế và vai trò chính trị sau đó lần lượt được truyền sang các nước Á Đông khác, Nho gia đã có mặt ở Việt Nam hàng ngàn năm nay và trải qua nhiều biến đổi. Từ chỗ những ngày đầu còn xa lạ và bị phần lớn người Việt từ chối, sau thời Bắc thuộc, Nho gia đã dần được các triều đại Việt Nam tiếp nhận, sử dụng làm hệ tư tưởng và công cụ chính trị, đào tạo ra những con người phù hợp với mục đích cai trị của chế độ phong kiến nước nhà. Từ thời Lê, Nho gia trở thành hệ tư tưởng chính thống, ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần, tư tưởng ở Việt Nam. Lúc ấy, Nho gia đã trở thành công cụ phục vụ đắc lực để trị nước, tổ chức nhà nước và quản lý xã hội của các triều đại phong kiến Việt Nam. Nho gia bàn nhiều về vấn đề trị chinh trị xã hội. Tư tưởng chính trị được ghi lại rõ ràng, khá nhiều trong các kinh điển Nho gia. Các di sản tư tưởng ấy không những không xa lạ, mà còn gần gũi với văn hóa và con người Việt Nam trong lịch sử. Nó không chỉ ảnh hưởng đến xã hội và con người Việt Nam trong quá khứ mà cả trong giai đoạn hiện nay, dù Nho gia không còn giữ địa vị của hệ tư tưởng thống trị. Trong nội dung tư tưởng chính trị của Nho gia, bên cạnh những giá trị và những yếu tố có tính hợp lý nhất định thì những hạn chế có tính lịch sử của nó là điều không tránh khỏi. Vì thế, ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội nói chung, đến quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước hiện nay nói riêng là sự ảnh hưởng mang tính hai mặt mà Việt Nam phải tính đến. Ngày nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”, đòi hỏi phải xem xét ảnh hưởng của những tư tưởng, lý thuyết chính trị xã hội trong lịch sử, bởi chúng có ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đến quá trình ấy. Trong số đó, tư tưởng chính trị Nho gia có ảnh hưởng sâu đậm đến con người Việt Nam và đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Ảnh hưởng mang tính hai mặt của tư tưởng chính trị Nho gia đối với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là do nhiều nguyên nhân khác nhau, chừng nào những nguyên nhân ấy còn thì tư tưởng chính trị Nho gia sẽ còn ảnh hưởng ở những mức độ nhất định. Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, từ đó tìm ra nguyên nhân, có phương hướng và giải pháp phù hợp để phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó là vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn rõ rệt. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, em chọn vấn đề “Quá trình du nhập và ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” để làm tiểu luận kết thức học phần chính trị học nâng cao.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO GIA 5
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Nho gia 51.2 Một số tư tưởng chính trị Nho gia tiêu biểu 5
Chương 2: QUÁ TRÌNH DU NHẬP NHO GIA VÀO VIỆT NAM
142.1 Những điều kiện cho sự du nhập của Nho gia vào ViệtNam 142.2 Các giai đoạn trong quá trình Nho gia du nhập vào ViệtNam 162.3 Ý nghĩa lịch sử của quá trình Nho gia du nhập vào ViệtNam 19
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO GIA TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 22
3.1 Những ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia trong xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiệnnay 223.2 Giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnhhưởng tiêu cực của tư tưởng chính trị Nho gia trong xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay 24
KẾT LUẬN 28
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức Trung Quốc, rađời ở thế kỷ VI trước Công nguyên trong điều kiện nhà Chu đang bị suyyếu về địa vị kinh tế và vai trò chính trị sau đó lần lượt được truyềnsang các nước Á Đông khác, Nho gia đã có mặt ở Việt Nam hàngngàn năm nay và trải qua nhiều biến đổi Từ chỗ những ngàyđầu còn xa lạ và bị phần lớn người Việt từ chối, sau thời Bắcthuộc, Nho gia đã dần được các triều đại Việt Nam tiếp nhận, sửdụng làm hệ tư tưởng và công cụ chính trị, đào tạo ra nhữngcon người phù hợp với mục đích cai trị của chế độ phong kiếnnước nhà Từ thời Lê, Nho gia trở thành hệ tư tưởng chính thống, ảnh hưởngsâu đậm đến đời sống tinh thần, tư tưởng ở Việt Nam Lúc ấy, Nho gia đã trởthành công cụ phục vụ đắc lực để trị nước, tổ chức nhà nước và quản lý xã hộicủa các triều đại phong kiến Việt Nam
Nho gia bàn nhiều về vấn đề trị chinh trị - xã hội Tư tưởng chính trị đượcghi lại rõ ràng, khá nhiều trong các kinh điển Nho gia Các di sản tư tưởng ấykhông những không xa lạ, mà còn gần gũi với văn hóa và con người Việt Namtrong lịch sử Nó không chỉ ảnh hưởng đến xã hội và con người Việt Nam trongquá khứ mà cả trong giai đoạn hiện nay, dù Nho gia không còn giữ địa vị của hệ
tư tưởng thống trị Trong nội dung tư tưởng chính trị của Nho gia, bên cạnhnhững giá trị và những yếu tố có tính hợp lý nhất định thì những hạn chế có tínhlịch sử của nó là điều không tránh khỏi Vì thế, ảnh hưởng của nó đến đời sống
xã hội nói chung, đến quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước hiện nay nóiriêng là sự ảnh hưởng mang tính hai mặt mà Việt Nam phải tính đến
Ngày nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Để xây
Trang 4dân hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”,đòi hỏi phải xem xét ảnh hưởng của những tư tưởng, lý thuyết chính trị xã hộitrong lịch sử, bởi chúng có ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đến quá trình ấy.Trong số đó, tư tưởng chính trị Nho gia có ảnh hưởng sâu đậm đến con ngườiViệt Nam và đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namhiện nay Ảnh hưởng mang tính hai mặt của tư tưởng chính trị Nho gia đối vớixây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là do nhiềunguyên nhân khác nhau, chừng nào những nguyên nhân ấy còn thì tư tưởngchính trị Nho gia sẽ còn ảnh hưởng ở những mức độ nhất định Do đó, việcnghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia đối với việc xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, từ đó tìm ra nguyênnhân, có phương hướng và giải pháp phù hợp để phát huy ảnh hưởng tích cực,hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó là vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn rõ rệt.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, em chọn vấn đề “Quá trình du nhập và ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” để làm tiểu
luận kết thức học phần chính trị học nâng cao
2 Tình hình nghiên cứu liên qua
Quá trình du nhập và ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia đối vớiviệc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được nhiều tác giả đềcập và nghiên cứu với các góc độ khác nhau, cụ thể gồm:
Nguyễn Thanh Bình (2007), Tư tưởng về "đạo trị nước" ở các nhà nho Việt Nam, Tạp chí Triết học, số 1 (188).
Trương Văn Huyền (2019), Giáo trình lịch sử tư tưởng chính trị, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Bùi Quốc Hưng (2015), Vấn đề quản lý quốc gia trong quan niệm của Khổng giáo, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 233.
Bùi Quốc Hưng (2018), Tư tưởng đức trị Nho giáo, Tạp chí Khoa học và
Trang 5Bùi Quốc Hưng, Phạm Mạnh Toàn (2018), Triết lý trị quốc của Nho giáo với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền (1999), Giáo trình chính trị đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Khoa Triết học - Học viện báo chí và tuyên truyền (2009), Giáo trình lịch
sử triết học Trung Quốc thời kỳ cổ - trung đại, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà
Nội
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: trên cơ sở làm rõ nội dung chủ yếu của tư tưởngchính trị Nho gia và quá trình du nhập vào Việt Nam để phân tích thực trạng ảnhhưởng cùng nguyên nhân cũng như đề giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tíchcực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng chính trị nho gia đối với việc xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, làm rõ cơ sở hình thành, những nội dung cơ bản trong tư tưởngchính trị Nho gia
Hai là, tìm hiểu những điều kiện, quá trình du nhập và ý nghĩa của việc dunhập tư tưởng chính trị Nho gia vào Việt Nam
Ba là, phân tích ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia đối với việcxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay và đềxuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởngtiêu cực của tư tưởng chính trị Nho gia đối với việc xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia đối vớiviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Phạm vi nghiên cứu: tại Việt Nam hiện nay
Trang 6Cơ sở lý luận: những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; tưtưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nướcpháp quyền và xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một sốphương pháp cụ thể như: phân tích tài liệu, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, sosánh
6 Đóng góp mới của đề tài
Từ việc phân tích ảnh hưởng có tính hai mặt của tư tưởng chính trị Nhogia đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam hiện nay trên một số phương diện cơ bản cùng nguyên nhân của thực trạng
đó, từ đó có những đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằmphát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng chínhtrị Nho gia đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: việc hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các nội dung cốtlõi trong tư tưởng chính trị Nho gia từ đó góp phần nhận diện rõ hơn thực trạngảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho gia và sự cần thiết phải phát huy ảnhhưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với việc xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: đề tài có ý nghĩa thiết thực đối với giảng viên, sinh viêntrong việc học tập, nghiên cứu tư tưởng chính trị nho gia
8 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề được kếtcấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO
GIA
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Nho gia
Nho gia là một học thuyết chính trị - đạo đức nổi tiếng của TrungQuốc thời cổ đại, do Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) hệ thống hóanhững tư tưởng và tri thức trước đây mà thành, sau này Mạnh Tử (372-289trước công nguyên) kế thừa và phát triển theo chiều hướng duy tâm, gọi làNho nguyên thuỷ hay Nho Khổng - Mạnh
Thời Hán, Đổng Trọng Thư (179 -104 trước công nguyên) đã pháttriển Nho Khổng - Mạnh theo hướng duy tâm, thần bí và tăng thêm tínhđẳng cấp nhiệt ngã gọi là Hán Nho Đến thời Tống, Nho gia pha trộn vớinhiều bộ phận của tư tưởng Phật, Lão - Trang, Âm Dương thành một hệthống hoàn chỉnh, dựa vào Kinh Dịch làm xương sống triết học, với cáccặp phạm trù cơ bản, cả về bản thể luận, nhận thức luận và luân lý - đạođức, chính trị - xã hội, như là lý - khí, tâm - vật, số, tính, tình, mệnh, tamcương ngũ thường, tri và hành, thiên lý và nhân dục
Vào thời Minh, Vương Thủ Nhân (1472 - 1527) phát triển thêm theohướng duy tâm và xây dựng nên học thuyết Tâm học Đến đời Thanh,Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hi, Cố Viêm Võ… đã đề xướng trào lưuThực học, cố gắng đổi mới Nho học theo hướng hiệu quả, thiết thực hơn
Cuộc cách mạng tư sản đầu thế kỷ XX đã làm sụp đổ triều đại phongkiến cuối cùng của Trung Quốc, đồng thời chấm dứt vị trí chính thống củaNho gia trong đời sống xã hội
Trang 81.2 Một số tư tưởng chính trị Nho gia tiêu biểu
Thứ nhất, người cầm quyền, tham gia chính sự phải thường xuyên thực hiện việc tu thân để nêu gương cho dân chúng
Với tư cách là học thuyết chính trị - đạo đức, “tu thân” làmột trong những vấn đề được Nho gia đặt lên hàng đầu Nhogia rất coi trọng việc giáo hoá, tu dưỡng con người theo nhữngchuẩn mực đạo đức lý tưởng của đạo Nho, khiến họ có thể trởthành những con người có khả năng cứu đời giúp nước, cải tạo
xã hội, giáo hoá nhân dân Để đạt mục đích ấy, mỗi người phải
tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân bởi đó là điều kiện căn bản, tiênquyết của mọi sự thành công, của việc thực hiện lý tưởng “trịquốc, bình thiên hạ”
Với Nho gia, tu thân, sửa mình là một quá trình tự trau dồi,
tu dưỡng bản thân dựa trên khuôn khổ một hệ thống khái niệmđạo đức, nhằm hoàn thiện con người về mặt đạo đức Nó đặt ranhững yêu cầu rất cao, những đòi hỏi vô cùng khắt khe đối với
sự nỗ lực phấn đấu của con người Quan niệm đó mang tính haimặt: Mặt tích cực là nó đã vạch ra những nội dung cụ thể, nhậnthấy tác dụng to lớn của việc rèn giũa bản thân, nêu lên nhữngphương pháp và yêu cầu nghiêm khắc trong việc rèn luyện, tudưỡng đạo đức đối với các thành viên, nhất là đối với người
“quân tử”, những người cầm quyền trong xã hội Hơn nữa, cácbậc đại hiền Nho gia luôn là những người đi đầu trong việc thựchiện những chuẩn mực ấy Nó đã góp phần đào tạo, xây dựngnên mô hình con người đáp ứng đòi hỏi của xã hội phong kiếntrong những giai đoạn lịch sử nhất định
Hơn nữa, mặc dù vẫn khẳng định tu thân là nhiệm vụ củatất cả mọi người, từ thiên tử cho đến dân thường, song thực
Trang 9chất nó chỉ quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng của những conngười thuộc về giai cấp thống trị, vạch ra những tiêu chí phấnđấu cụ thể cho giai tầng này - mà mục đích tối cao là “bìnhthiên hạ” Chỉ có những người đó mới có đủ điều kiện và khảnăng để làm “toả sáng những đức sáng” của mình trong thiên
hạ Mặt khác, trên thực tế giai cấp phong kiến qua các triều đạithường đề ra những qui tắc, chuẩn mực khắt khe để gò ép thầndân của mình vào khuôn khổ của lễ giáo nhưng bản thân mìnhlại thường phớt lờ những yêu cầu đạo đức do chính nó đề ra,như Hồ Chí Minh đã nhận xét rất xác đáng rằng: Ngày xưa, giaicấp phong kiến cũng nêu ra cần kiệm liêm chính nhưng khôngbao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sựquyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần kiệm liêm chính chocán bộ thực hiện làm gương cho dân để lợi cho nước, cho dân
Thứ hai, dùng đức để làm chính sự, thực hiện vương đạo.
Theo Nho gia, đạo đức và việc thực hành đạo đức đóng vaitrò quyết định đối với việc xây dựng mẫu người lý tưởng và gópphần tạo lập xã hội lý tưởng Là hệ thống những quan điểm đadạng, phong phú về thế giới, xã hội và con người, song Nho giachủ yếu nhấn mạnh về đạo đức, tuyệt đối hoá vai trò của đạođức đối với sự bình ổn xã hội Với mong muốn trở về với xã hộithời Tây Chu, khôi phục lại chế độ, lễ nhạc của Chu Công nênKhổng Tử thể hiện sự nuối tiếc và tìm cách bảo vệ, duy trì chế
độ ấy bằng đạo đức chứ không phải bằng những lực lượng kinh
tế và những lực lượng quân sự hùng mạnh (bởi trên thực tế, thếlực cũ của nhà Chu lúc đó cũng không có được những điều kiệnnhư thế nữa) Đạo đức trở thành công cụ và vũ khí nhằm thựchiện mục tiêu ấy Về cách thức trị nước yên dân, sau khi cân
Trang 10nhắc giữa đạo đức vă hình phâp, Khổng Tử đê rút ra kết luận:
“Dùng đức lăm chính trị giống như sao Bắc đẩu ở một chỗ măcâc vì sao khâc đều hướng về nó”
Nho gia yíu cầu mỗi con người phải thực hiện đúng nhữngtiíu chuẩn đạo đức do nó đề ra, không được nghe, nhìn, nói,lăm những gì trâi với những qui phạm đó Đê lăm người lă phảihọc, phải biết những qui phạm đạo đức Nho gia, nếu không sẽ
lă trâi lễ, vô đạo Nho gia hết sức coi trọng trật tự trín dưới,đẳng cấp tôn ti vă sự phục tùng trật tự tôn ti mă giai cấp thốngtrị đặt ra cũng lă một tinh thần cơ bản của đạo đức Nho gia Câcnhă nho rất ghĩt những kẻ lăm người mă không thực hiện đúngnhững qui định về trâch nhiệm vă bổn phận, bởi vi phạm văonhững sự quy định cho địa vị của từng người sẽ lăm xâo trộnđẳng cấp, rối loạn tôn ti Do đó, Khổng Tử yíu cầu: “Nếu không
ở cấp năo, địa vị năo thì cũng không được suy nghĩ, băn luậnnhững công việc của cấp ấy, địa vị ấy” Bản thđn Khổng Tửcũng lă người giữ gìn vă thực hiện điều đó rất nghiím cẩn vẵng phí phân gay gắt những kẻ tiếm lễ, việt vị, coi đó lă kẻ phâhoại trật tự xê hội, lă mầm của sự rối loạn
Mạnh Tử thì coi những phẩm chất đạo đức lă câi khôngphải ở đđu xa xôi mă đầu mối của nó nằm ngay trong tđm mỗicon người: “Lòng trắc ẩn lă đầu mối của đức nhđn, lòng từnhượng lă đầu mối của đức lễ, lòng biết xấu hổ lă đầu mối củađức nghĩa, lòng biết phđn biệt phải trâi lă đầu mối của đức trí”.Con người sinh ra bản tính vốn lănh, những mầm mống của câcphẩm chất đạo đức tốt đẹp đê có sẵn trong tđm nhưng phải giữgìn được bản tính lănh ấy, duy trì được những phẩm chất đạođức mang tính tiín thiín ấy thông qua giâo dục, rỉn luyện, nếu
Trang 11không chỉ đáng làm tôi tớ cho người mà thôi Ông nói: “bấtnhân, bất trí, vô lễ, vô nghĩa - kẻ như vậy chỉ đáng làm tôi tớcho người mà thôi” Nói về tầm quan trọng của đạo đức, lễnghĩa trong việc khôi phục và duy trì trật tự xã hội, ông khẳngđịnh: “Nếu trong nước chẳng có lễ nghĩa, ắt ngôi thứ kẻ trênngười dưới đều lộn bậy hết cả” Ngược lại, Tuân Tử coi bản tínhcon người vốn ác nên phải có thầy, có phép tắc, lễ nghĩa để cảihoá cho nó trở nên thiện Người nào tuân theo những nguyêntắc đạo đức mà rèn tâm luyện tính sẽ trở thành quân tử; nếubuông lỏng tính tình, trái với nó là kẻ tiểu nhân Đó còn là tiêuchuẩn để phân biệt quân tử - tiểu nhân, là cái phân rõ sự khácnhau giữa con người và vạn vật Hơn nữa, sự giáo hoá của đạođức màu nhiệm ở chỗ, nó ngăn cấm điều “bậy bạ” ngay từ lúcchưa hình thành, chưa xảy ra, khiến cho con người ngày cànggần điều thiện xa điều ác, dứt bỏ tội lỗi Nếu chỉ dùng mệnhlệnh và hình phạt thì không đủ mà cần phải có “đức” để giáodục, có “lễ” để ràng buộc con người: “Dùng pháp chế mà dẫnđạo dân, lấy hình phạt để tề chỉnh dân thì dân sợ mà chẳng viphạm chứ không biết xấu hổ Dùng đạo đức để dẫn dụ dân, lấy
lễ giáo mà tề chỉnh dân thì họ không những có liêm sỉ mà cònđược cảm hóa trở nên tốt lành” Nho gia muốn dùng đạo đức để
bổ sung cho “chính” và “hình” Theo cách lập luận của cácthánh hiền đạo Nho, chỉ dùng mệnh lệnh và hình phạt sẽ không
đủ mà cần phải tăng cường giáo dục đạo đức, dùng nó để ràngbuộc con người Với mục đích như thế, đạo đức trở thành mộttrong những nguyên tắc chính trị quan trọng, một công cụ chínhtrị mạnh mẽ, một phương pháp cai trị đắc lực mà thánh hiền
Trang 12Nho gia đã cung cấp cho các thời đại đế vương Trung Quốctrong hàng ngàn năm của lịch sử chế độ phong kiến.
Nho gia không chỉ đề cao vai trò của đạo đức và tác dụngcủa đức trị mà còn phần nào thấy được sự cần thiết của phápluật (Đức pháp tịnh trọng, ngoại Nho nội Pháp, dương Nho âmPháp) Một trong những yêu cầu của việc giáo dục theo tinhthần Nho gia là nâng cao ý thức giữ gìn đẳng cấp, tôn ti trật tựbởi đó là một trong những yếu tố cần thiết để có thể ngăn chặn
sự “phạm thượng” Thực tế cuộc sống trong hoàn cảnh của thờiđại lúc đó cho thấy, chỉ dùng đạo đức, giáo dục đạo đức làkhông đủ để thực hiện trật tự từ trong nhà cho tới triều đìnhtheo tinh thần “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử, huynhhuynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ” Do đó, bên cạnh đạo đức vàgiáo dục cũng cần phải có thể chế, pháp luật để phân định ngôithứ, bảo đảm cho trật tự trên dưới theo những vai vế nhất định.Tuy nhiên, khi nhà và nước xuất hiện mâu thuẫn thì pháp luậtcũng phải nhường chỗ cho quan hệ họ hàng thân thuộc, tìnhnhà vẫn cao hơn phép nước Giữa đạo đức và hình phạt, Nho giacoi trọng đạo đức hơn nhưng cũng không phủ nhận hình phạt.Song Nho gia cũng khuyên nhà cầm quyền không nên lạm dụng
nó, không nên ham giết dân bởi đó chỉ là cái tạm thời làm chodân tránh phạm tội chứ không làm cho họ nhận thức được liêm
sỉ Muốn cho họ thực sự qui phục phải dùng đạo đức, giáo hóabằng đạo đức
Thứ ba, phải đi từ tề gia đến trị quốc, “muốn trị được quốc trước hết phải tề được gia”
Trong quan niệm Nho gia, xã hội lấy nhà làm gốc, nướcđược xây dựng phỏng theo mô hình của nhà Trong xã hội Trung
Trang 13Quốc cổ đại cũng như trong học thuyết Nho gia, vấn đề gia đìnhđược đặc biệt chú trọng Trong giáo dục thì một trong nhữngvấn đề quan trọng bậc nhất là giáo dục đạo hiếu.
Theo cách nhìn của Nho gia, “nhà” với “nước” và “thiênhạ” là những loại hình đồng dạng, trong đó nhà là gốc Nước vàthiên hạ chỉ là sự mở rộng của nhà, chúng giống nhau về bảnthể, chỉ khác nhau về qui mô lớn nhỏ mà thôi Điều đó đã đượcMạnh Tử khẳng định: “Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bảntại gia” Do đó muốn trị nước, bình thiên hạ trước hết phải tềgia; muốn làm nên nghiệp lớn, tất phải xây dựng chắc nềnmóng, tức củng cố thế lực gia đình, gia tộc Phan Bội Châu trongKhổng học đăng khẳng định: “nhà tức là cái nước nhỏ, nước tức
là cái nhà to” và “tề, trị chỉ có một lẽ, “gia, quốc” chung nhaumột gốc” Các nhà nho tin tưởng rằng, “một nhà nhân, cả nướcdấy lên đức nhân, một nhà lễ nhượng cả nước dấy lên lễnhượng” Phương châm của đạo lý Nho gia và chí lớn của cácnhà nho không phải dừng lại ở phạm vi tề gia mà là phải hướngtới trị quốc, bình thiên hạ Trên cơ sở thực hiện tốt công việc tềgia, những con người nổi bật về tài đức và được nhận mệnh trời
sẽ leo lên bậc thang trị quốc rồi tiến đến bình cả thiên hạ
Coi quốc gia là một gia đình lớn, gia đình là một quốc gianhỏ; coi người gia trưởng là vua của một nhà, vua như ngườicha của muôn dân, Nho gia đặt vua vào vị trí tối cao trong tamcương và ngũ luân Trong nhà đứng đầu là cha, có uy quyền tốicao thì trong nước có vua giữ quyền uy tối thượng Vì thế, đãlàm người là phải biết tận hiếu với cha và biết tận trung với vua.Nho gia đã trộn lẫn tình cảm của con cái đối với cha mẹ vào yêucầu của bề tôi đối với nhà vua, coi “trung với vua, hiếu với cha
Trang 14mẹ là cùng một gốc” Nho gia yêu cầu người bề trên, bậc vuaquan phải đối xử tốt với người bề dưới, với thần dân giống nhưcha đối với con và ngược lại Người bề trên phải thương yêu,nuôi nấng, dạy dỗ do đó mà sẽ có được đức “từ”, đức “nhân”;người dưới phải nghe lời, phụng sự và biết ơn do đó mà sẽ cóđức “hiếu” Đó là cách thức để đi từ tề gia đến trị quốc, là cách
để làm cho gia đình êm ấm, xã hội thái bình theo hình mẫu củađạo Nho
Từ chỗ khẳng định vai trò to lớn của gia đình, nhất lànhững “cự thất” và “thế gia”, tức những gia tộc lớn, những dòng
họ lớn, Mạnh Tử cho rằng “làm chính trị không khó, miễn làkhông đắc tội với các cự thất là được; cự thất yêu thích thì cảnước yêu thích, cả nước yêu thích thì cả thiên hạ yêu thích” Vì
lẽ đó, mục đích giáo dục con người của Nho gia cũng xuất phát
từ những quan hệ gia đình Chỉ khi nào dạy được người trongnhà mới có thể dạy được người trong nước, dạy được ngườitrong nước mới có thể dạy được người trong thiên hạ, nhờ đóthiên hạ mới có thể thái bình Mạnh Tử khẳng định, “Thân yêucha mẹ mình, kính trọng bề trên của mình, thề là thiên hạ bình”
và “Đạo của Nghiêu Thuấn cũng chỉ là hiếu đễ mà thôi”
Thứ tư, phải coi trọng vấn đề dưỡng dân và giáo dân
Theo quan niệm Nho gia, dân vốn có nghĩa là người sinh ra
ở một nước nào đó đối với đất nước ấy, và dân cũng thường cónghĩa là bất kỳ người nào được sinh ra trên đời Ngoài ra, khi đềcập đến quan hệ với vua, dân bao gồm đông đảo bề tôi của vua
và trong trường hợp đó, “dân” thường đi liền với “thần” thành
“thần dân” Trong Nho gia có nhiều chỗ thể hiện sự coi trọng,
đề cao ý nghĩa và vai trò của dân Về quan hệ giữa dân với
Trang 15nước, người ta thường nhắc đến câu trong Kinh Thư: “Dân là gốcnước”, và “Dân như là nước vậy, nước có thể chở thuyền vàcũng có thể lật thuyền” Điều đó không chỉ nói rõ vai trò củadân là “gốc nước” mà còn khẳng định sức mạnh to lớn của dânđối với các thế lực trị nước, trị dân Mặc dù Mạnh Tử tỏ ra rấtdũng cảm khi đánh giá và sắp xếp: “dân là quý, sau đó là xãtắc, vua là khinh” nhưng cũng không có nghĩa là ông có tưtưởng đấu tranh cho nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ vậnmệnh của mình Dân là quý bởi vì dân như nước, vừa có thể chởthuyền, vừa có thể lật úp thuyền nên người nào biết tranh thủdân và nắm được dân sẽ làm thiên tử Ý nghĩa của “dân vi quý”
đã được Mạnh Tử giải thích: “Tranh thủ được dân thì làm thiên
tử Tranh thủ được thiên tử thì làm chư hầu, tranh thủ được chưhầu thì làm đại phu” Điều kiện xã hội đương thời chưa thể chophép nảy sinh trong suy nghĩ của các Thánh hiền đạo Nho ýthức về vai trò của người dân làm chủ đất nước, được định đoạttương lai của đất nước và vận mệnh của mình mà Nho gia chỉnhắc nhở cho các vua chúa, từ Thiên tử đến chư hầu - những kẻ
“có nước có nhà” không được lìa bỏ dân nếu không muốn mấtquyền sở hữu đó Nho gia khuyên các vua chúa phải biết nắmlấy dân, tranh thủ được dân, phải làm cho dân tin mình để dễsai khiến Nghĩa vụ của người dân chỉ là làm thế nào trở nên dễsai khiến là được Nước thịnh hay suy, hưng hay vong, vậnmệnh của nước gắn với nhà này hay nhà khác do mệnh trờiquyết định Nhân dân lao động chỉ có số phận và nghĩa vụ phụctùng, phụng sự và bảo vệ gia tộc đang trị vì cả nước, trị vì thiên
hạ Suốt cuộc đời của người dân, rồi từ đời này sang đời khác,người “dân đen” cứ phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để
Trang 16nuôi những kẻ cai trị, bóc lột mình Những thành quả lao độngcủa người dân không chỉ bị chiếm hữu bởi các cự thất, thế gia ởđịa phương mà còn bị chiếm hữu bởi những gia tộc đang thaotúng ngai vàng Dù suốt đời lao động cần cù, cực khổ và cũngđầy sáng tạo nhưng người dân lao động vẫn không thể cốnghiến được nhiều cho bản thân, cho Tổ quốc mà chủ yếu là cungphụng cho những kẻ đang thống trị mình.
Có thể nói, mặc dù Nho gia đã từng coi “dân là gốc nước”,
“vua lấy dân làm trời” nhưng không có nghĩa là trong Nho gia
có tư tưởng dân chủ, đấu tranh cho dân chủ Nho gia không baogiờ rời bỏ đạo lý “quân thần”, không hề nghĩ đến một xã hội màlại không có vua để người dân làm chủ Với Nho gia, người dânchỉ là người sinh ra để cho người ta sai khiến và dân phải dễ saikhiến mới là hợp đạo Nhân dân, nhất là những người mà Nhogia gọi là người dân “lao lực” chỉ có nghĩa vụ “nuôi người” và “bịngười trị” mà thôi
Về quan hệ giữa dân với nước, trong Kinh Thư viết: “Dân làgốc nước, gốc vững thì nước yên” (Dân vi bang bản, bản cốbang ninh) Bên cạnh đó, Nho gia cũng khẳng định sức mạnh tolớn của dân Đến Mạnh Tử, vai trò của dân trong quan hệ vớivua và xã tắc được đánh giá và sắp xếp theo thứ tự “Dân vi quý,
xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Trong ý thức xã hội trước đó, uyquyền của vua là tối thượng còn thân phận của dân quá thấphèn nên sự đánh giá và sắp xếp như trên, có thể nói là một sựtiến bộ vượt bậc trong quan niệm về dân, về vai trò của dântrong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cho đến lúc bấy giờ Ý thứcđược vai trò to lớn của dân, Mạnh Tử chủ trương thực hiệnđường lối chính trị được lòng dân Ông cũng chỉ ra cách thức để
Trang 17có thể chiếm được lòng dân: “việc được thiên hạ có đạo của nó:nắm được dân là nắm được thiên hạ; việc nắm được dân có đạocủa nó: nắm được lòng dân là nắm được dân; việc được lòngdân có đạo của nó: cái gì dân muốn thì làm cho họ, cái gì dânghét thì đừng thi thố cho họ, chỉ vậy thôi” Tuy nhiên, tráchnhiệm của dân là phải trung với vua, phục vụ nhà vua màkhông được bàn việc nước Dân bàn việc nước là biểu hiện của
sự rối loạn Khổng Tử từng khẳng định “Thiên hạ có đạo thì dânkhông bàn chính sự”
Nho gia đòi hỏi nhà cầm quyền phải biết quý trọng và giữgìn sinh mệnh của dân, phản đối giết người, chống chiến tranh.Điều đó xuất phát từ thực tế của xã hội đương thời, khi các nhànho phải chứng kiến những sự thật tàn nhẫn “tranh đất đánhnhau, giết người đầy đồng; tranh thành đánh nhau, giết ngườiđầy thành” Mạnh Tử cho rằng, nếu nhà cầm quyền không hamthích việc giết người thì dân chúng khắp nơi sẽ theo về nhưnước chảy xuống chỗ trũng, không ai ngăn cản nổi Bên cạnh
đó, Nho gia còn yêu cầu, nhà cầm quyền phải biết tiết kiệm, dèsẻn tài sản của dân, phản đối sự tham lam vơ vét của bọn vuachúa Tăng Tử nhắc nhở nhà cầm quyền “của cải dồn lại thì dântản đi, của cải tản đi thì dân dồn lại” Mạnh Tử thì lên án những
kẻ làm bề tôi mà giúp vua vơ vét của cải của dân, thu tô thuthuế nặng của dân, gọi đó là giặc của dân (dân tặc) Vua phảithi hành “nhân chính”, giảm hình phạt, bớt thuế khóa để chomỗi người dân “ngẩng lên đủ phụng dưỡng cha mẹ, cúi xuống
đủ nuôi nấng vợ con” Khi đời sống của dân được đảm bảo mới
có thể sai khiến họ một cách dễ dàng Cùng với việc dưỡng dân,Nho gia còn đòi hỏi cần phải giáo hóa dân bởi nếu không giáo
Trang 18hóa họ thì không việc ác nào họ không dám làm Nhiệm vụ củanhà cầm quyền không chỉ là làm cho dân đông, dân giàu mà khidân đã đông và đã giàu thì điều cần thiết là phải giáo hóa họ.Tuy nhiên, mục đích của việc giáo hóa này cũng chỉ là để cho
họ trở nên “dễ sai khiến” mà thôi