1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thuyet minh ve the tho luc bat

33 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuyết minh về thể thơ lục bát
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 405,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyết minh về thể thơ lục bát Download vn Văn mẫu lớp 8 Thuyết minh về thể thơ lục bát Tổng hợp Download vn 1 Dàn ý thuyết minh về thể thơ lục bát 1 Mở bài Giới thiệu khái quát về thể thơ lục bát (do[.]

Trang 1

Dàn ý thuyết minh về thể thơ lục bát

● Số câu: Không giới hạn nhưng khi kết thúc phải dừng lại ở câu tám tiếng

=> Một bài thơ lục bát: Có thể có một câu, hai câu, ba câu hay có thể có nhiềucâu nối dài

- Cách gieo vần:

● Âm tiết cuối của dòng sáu hiệp vần với âm tiết thứ sáu của dòng tám theotừng cặp Âm tiết cuối của dòng tám lại hiệp vần với âm tiết thứ sáu củadòng sáu nối tiếp Cứ thế luân chuyển như vậy cho đến hết bài

● Vần cuối dòng là vần chân, vần ở giữa dòng là vần lưng

- Phối thanh:

● Chỉ bắt buộc: các tiếng thứ tư phải là trắc; các tiếng thứ hai, sáu, thứ támphải là bằng

Trang 2

● Những câu tám tiếng thì tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám phải khác dấu(nếu tiếng trước là dấu huyền thì tiếng sau phải không có dấu và ngượclại).

● Các tiếng thứ một, ba, năm, bảy của cả hai câu sáu tiếng, tám tiếng và âmtiết thứ hai (của cả hai câu) có thể linh động tuỳ ý về bằng trắc

- Nhịp và đối trong thơ lục bát:

● Cách ngắt nhịp: thường là nhịp chẵn

● Đối: Thơ lục bát không nhất thiết phải sử dụng phép đối Nhưng đôi khi

để làm nổi bật một ý nào đó, người làm thơ có thể sử dụng tiểu đối trongtừng cặp hoặc từng câu thơ

* Lục bát biến thể (không tuân thủ quy tắc)

- Số chữ tăng lên: Vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo

- Thanh: Tiếng thứ hai có thể là thanh trắc:

- Gieo vần: Có thể gieo vần trắc

b Tác dụng của thơ lục bát

- Phản ánh và cô kết trung thành những phẩm chất thẩm mĩ của Tiếng Việt

- Cách gieo vần và phối thanh, ngắt nhịp giản dị mà biến hoá vô cùng linh hoạt,phong phú và đa dạng làm cho thơ lục bát dồi dào khả năng diễn tả

3 Kết bài

- Nêu vị trí của thơ lục bát trong nền văn học Việt Nam

- Bắt nguồn từ ca dao, dân ca, được phát triển qua các truyện thơ Nôm, các kịchbản ca kịch dân tộc và đạt đến mức hoàn thiện với các thiên tài như Nguyễn

Du …

Trang 3

- Được tiếp tục phát huy qua các thế hệ sau như Tố Hữu …

=> Thơ lục bát có sức sống mãnh liệt trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam

Thuyết minh về thơ lục bát

Lục bát được xem là một trong những thể thơ ra đời sớm ở Việt Nam Bởi thơlục bát giản dị; gần gũi; gắn bó với người nông dân, nhân dân Việt nên được ưachuộng rất nhiều Nói đến thơ lục bát Việt Nam ta như dựng lên cả một bứctranh hòa hợp; hữu tình; đậm đà trong đó Thơ lục bát- thơ truyền thống của conngười Việt, dân tộc Việt

Thể thơ Lục Bát có nguồn gốc lâu đời trong lịch sử văn học nhân loại Có nhiều

ý kiến cho rằng thơ lục bát xuất hiện từ cuối thế kỉ XV; là bắt nguồn từ các câu

ca dao; đồng dao của người nông dân; người lao động để xua tan mệt mỏi; hứngthú hăng say lao động Trải qua hàng nghìn năm phát triển thơ lục bát cũngngày càng hoàn thiện hơn; khuôn mẫu hơn và có những biến chuyển cho phùhợp với tiêu chí thơ ca, trở thành nét đặc sắc rất riêng của người Việt

Về cấu tạo, thơ lục bát gồm một cặp câu đối ứng Một câu 6 chữ bên trên và câu

8 chữ đặt liền kề bên dưới Trong bài không giới hạn số câu Thông thường sẽ

mở đầu bằng câu 6 chữ và kết thúc bằng câu 8 chữ trừ những trường hợp đặcbiệt với ẩn ý, tình cảm và dư vị riêng của tác giả Hai câu thơ đan xen, hài hòa,

bệ đỡ nhau nhằm biểu đạt ý nghĩa rất riêng của cặp câu và ý nghĩa chung chotoàn bài

Tuy là thể thơ phóng khoáng; gợi nhiều hơn tả nhưng thơ Lục Bát vẫn tôn trọngnghiêm ngặt quy luật về thanh Cũng giống như thơ đường Luật; thanh trongcâu lục bát cũng phải theo sườn: Nhất; tam; ngũ bất luận nhị tứ lục phân minh.Theo đó, các tiếng 2 4 và 6 sẽ theo khuôn khổ Cụ thể như sau:

Trang 4

Đối với câu lục: 2-4-6 lần lượt sẽ là Bằng(B)- Trắc- Bằng Đối với câu bát: cácthanh 2-4-6-8 sẽ tương ứng với B-T-B-B (Tiếng thứ 6 với tiếng thứ 8 khôngđược đồng dấu) Quy luật chặt chẽ về thanh tạo nên âm hương thanh nhẹ; cộnghưởng trong mỗi cặp câu thơ tương ứng.

Một điểm đặc trưng không thể trộn lẫn của thể thơ lục bát đó chính là cách gieovần của thơ Vần được sử dụng trong thơ hầu hết là vần bằng Tùy khả năng tácgiả và tình cảm cũng như nội dung biểu đạt mà có thể gieo nhiều vần linh hoạt,vấn đề này không hề khiên cưỡng nhưng nhà thơ vẫn phải đáp ứng yêu cầu: đó

là tiếng cuối cùng câu lục phải hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát, cứ như thếtiếp tục cho đến hết bài Sở dĩ có quy định như vậy là để thơ được xuyên suốt,dòng cảm xúc được bất tận và thăng hoa Ví dụ như trong bài thơ Quê hươngnỗi nhớ có viết:

“Trở về tìm mái nhà quê Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho

Tìm đàn trâu với con đò

Áo bà ba mẹ câu hò trên sông”

Nỗi nhớ quê hương trong lòng tác giả như trải dài ra đầy miên man, da diết, dưcảm đong đầy Nổi tiếng với bút danh thơ của dân gian; thơ gần gũi Thơ lục bátkhoác trên mình cái dáng vẻ nền nã; đôi lúc trầm mặc; yên ả nhưng đôi lúc cũng

dữ dội; da diết khôn cùng Chính nhịp thơ đã làm chất hồn; chất sóng trong thơ

Để diễn tả nỗi buồn đau thê lương tha thiết người ta dùng nhịp chẵn 2/2/2; 4/4.Trái lại để diễn tả dữ đội; xúc cảm mạnh mẽ; quyết liệt; những đột ngột bất ngờ

ta dùng nhịp lẻ 1/5; 3/5 Và đôi khi để nhấn mạnh; để phô bày cái cảm xúc hạnhphúc, vui sướng ta lại dùng nhịp 3/3

Trang 5

Thơ lục bát là thể thơ được sử dụng khá nhiều trong cả văn nói lẫn văn viết bởikhả năng sử dụng linh hoạt; ý nghĩa câu từ phong phú; đơn giản; không kénngười đọc; người nghe; người sáng tác Thơ lục bát xuất hiện nhiều chiều trongcuộc sống từ sinh hoạt đến vui chơi; giải trí; lao động Thơ lục bát là tiếng nóihạnh phúc; ngọt ngào của tình yêu đôi lứa:

“Dạt dào ngây ngất đắm say Giận hờn đến nỗi lung lay dạ lòng”

Là tình yêu gia đình, xóm làng thống thiết:

“Cuộc đời bao nỗi đắng cay Nhìn về cha mẹ, lệ cay nghẹn ngào Hôm nay nước mắt tuôn trào Nhớ ơn cha mẹ, cả đời cưu mang”

Và đó còn là những giọt tâm sự sâu cay của người phụ nữ trong xã hội bạc bẽo:

“Thương thay thân phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Thơ lục bát là tiếng nói, là nhịp đập của người nhân dân Việt Nam; thể hiện biếtbao ước mơ về một cuộc sống âm no; thái bình thịnh trị của đất nước Đại Việt.Những bài thơ Lục bát nổi tiếng như vẫn còn nguyên hơi thở và giá trị cho đếnngày nay ta có thể kể đến như Truyện Lục Vân Tiên; Truyện kiều hay nhữngcâu ru con chan chứa nghĩa lý nghĩa tình Hiện nay với sự phát triển và làm giàuhơn vốn văn thơ nước nhà thể thơ lục bát có nhiều dạng biến thể phong phú hơn:nhịp; tăng số tiếng; tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng; hiệp vần thay đổi;…Nhưng dù thay đổi nó vẫn mang một khí chất rất riêng rất nồng nàn truyềnthống

Trang 6

Duyên dáng, nền nã, pha chút đỏng đảnh; bỡ ngỡ; thẹn thùng; dữ dội thể thơLục Bát như món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa ngườiViệt xưa và nay, trở thành một nét độc đáo, đặc sắc rất riêng, rất khác, rất đẹp;trở thành dấu ấn đầy tự hào gửi đến mỗi du khách nước ngoài khi ghé thăm đấtnước Việt Nam xinh đẹp.

Thuyết minh về thể thơ lục bát - Mẫu 1

Kho tàng thơ văn Việt Nam có rất nhiều những tác phẩm đặc sắc, từ nội dungcho đến từng thể loại Và khi nhắc riêng đến thi ca Việt Nam thì chúng ta khôngthể không nhắc đến những bài thơ đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người nhưTruyện Kiều của Nguyễn Du hay cho đến các câu ca dao được bà, được mẹ đưavào mỗi giấc ngủ

Tất cả từng câu từng chữ như mang một giai điệu khác nhau và khi được kếthợp bằng thể lục bát thì chúng như hòa vào làm một, thật nhịp nhàng và hoànhảo, nhưng lại gần gũi, mộc mạc, chân chất như chính hơi thở cuộc sống Lụcbát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải tỏa tâm sự, kí thác tâm trạng,thăng hoa tâm hồn.Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc vềbản sắc dân tộc này.Thật tự hào mỗi khi nhắc đến thể thơ của dân tộc là nhắcđến lục bát

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm câu trả lời nhưng đây vẫn là câu hỏi chưa

có câu trả lời chính xác, chỉ biết là đã từ rất lâu rồi Văn hóa đặc trưng củangười Việt là văn hóa lúa nước, gắn liền với lao động sản xuất nên luôn cónhững cách sáng tạo để quên đi nỗi nhọc nhằn sớm hôm Họ thường vừa cùngnhau làm việc trên đồng, vừa cùng nhau sáng tạo thi ca Đơn giản chỉ là thể hiệnnhững ước mong giản đơn:

Trang 7

“Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”

Đơn vị cơ bản của thơ lục bát gồm một cặp câu: câu lục (sáu tiếng) và câu bát(tám tiếng) Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câulục và kết thúc bằng câu bát.Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề

bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật Một bài thơ lục bát có thểbao gồm hai hoặc bốn câu như:

“Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân.

Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận hai thân vui vầy”.

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể

kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thihào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát)

Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốntruyền tải độc giả

Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà.Các vần chính là hình thức kếtdính các câu thơ lại với nhau, tạo ra “tiếng nhạc” cho cả bài thơ.Vần trong thơlục bát có hai loại: vần lưng và vần chân Hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng cónghĩa là tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát Nếu tiếp tụckéo dài thì tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục bêndưới Đó là vần chân Ví dụ:

Trang 8

“Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.

Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Quy luật phối thanh của thơ lục bát khá linh hoạt, uyển chuyển Thường thườngthì ở câu lục các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu là bằng (B), trắc (T), bằng (T),còn ở câu bát các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu, tám là B-T-B-B

“Trăm năm trong cõi người ta, (B-T-B) Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.(B-T-B-B)

Nhịp trong thơ lục bát phần lớn là nhịp chẵn, tạo nên âm điệu êm đềm, thongthả, thích hợp làm lời hát ru, hát ngâm

Thơ lục bát từ lâu đến nay luôn có một vị trí vững chắc trong lòng mỗi ngườidân đất Việt Chúng ta dùng lục bát để bày tỏ những tâm tư tình cảm, nhữngcung bậc cảm xúc của mình trong cuộc sống, công việc, tình bạn, tình yêu,…Chúng ta cũng đến với lục bát như là chốn an yên cho tâm hồn được tĩnh lặng

Trang 9

sau những giông bão, khó khăn của cuộc đời, là được trở về với ấu thơ cùng câuhát ru chứa chan yêu thương của bà, của mẹ Chẳng thể tìm ở đâu được loại thơ

mà từng câu từng chữ đều mang giai điệu, đều chất chứa cảm xúc mà lại gần gũi,mộc mạc đến lạ

Dù không rõ là bắt đầu từ khi nào nhưng lục bát là đứa con cưng của tiếng Việt,tiếng Việt đã nuôi lớn lục bát, đồng thời, chính lục bát cũng góp mình làm chotiếng Việt hay hơn, đẹp hơn

Thuyết minh về thể thơ lục bát - Mẫu 2

Trong nền văn học đồ sộ của Việt Nam, để làm nên các tác phẩm thực sự có giátrị không thể kể đến công lao của các hình thức thơ mà các nhà thơ, nhà văn đãlựa chọn làm chất liệu cho tác phẩm của mình Nếu nói nội dung là phần hồncủa bài thơ, bài văn thì hình thức thơ lại được xem là phương tiện truyền tải đểnhững nội dung ấy, quan niệm của tác giả có thể đến được với bạn đọc Mộttrong những thể thơ được xem là mang đậm màu sắc của dân tộc Việt Nam cóthể kể đến là thể thơ lục bát

So với nền văn học già lâu đời như nền văn học Trung Hoa, nền văn học ViệtNam có thể coi là non trẻ hơn Nhưng qua bao thế hệ người Việt Nam luôn có ýthức trong việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, sau đó tiếp thu,chọn lọc một cách có sáng tạo vào Việt Nam, sự chọn lọc này hoàn toàn sángtạo, bởi người Việt Nam ta chỉ tiếp thu những cái phù hợp nhất với quốc gia,dân tộc mình, và sự kế thừa đó không phải sao chép mà là sáng tạo Nhìn lại quátrình tiếp thu ấy ta có thể thấy được bản lĩnh dân tộc của con người Việt Nam.Xét về thể loại và các hình thức thơ trong văn học, người Việt Nam bên cạnhtiếp thu của người Trung Hoa như thể thơ cổ phong hay thơ Đường luật Bêncạnh đó, ông cha ta cũng sáng tạo riêng cho dân tộc mình những thể thơ độc đáo,

Trang 10

mang đậm màu sắc, văn hóa của dân tộc Việt Nam, như thể thơ Song thất lụcbát hay thể thơ Lục bát đã trở nên vô cùng quen thuộc trong văn học Việt Nam.Trong đó, thể thơ Lục bát được nhiều nhà thơ lựa chọn làm chất liệu để xâydựng nên các tác phẩm văn chương của mình, cũng là xây dựng nên những bàivăn mang đậm tinh thần dân tộc nhất.

Thơ lục bát là thể thơ bao gồm có hai phần câu sáu (câu lục) và câu tám (câu bát)nối tiếp nhau Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câulục và kết thúc bằng câu bát Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không

hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật hay thể thơ song thất lụcbát Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể

kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thihào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát)

Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốntruyền tải đến những độc giả

Về cách gieo vần, thơ Lục bát tuy không bị giới hạn bởi những luật lệ nghiêmngặt như thể thơ Đường luật nhưng vẫn phải đảm bảo những yếu tố cơ bản Cụthể là trong một bài thơ Lục bát thì câu thơ cuối của câu lục phải vần với câuthơ thứ sáu của câu bát Tương tự, câu cuối của câu bát phải hiệp vần với câucuối của câu lục Có thể lấy một ví dụ trong bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ TốHữu như:

Trang 11

“Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn"

Những câu thơ trên thể hiện được tình cảm thiết tha, gắn bó của nhà thơ Tố Hữuvới chiến khu Việt Bắc Nhưng ở đây ta quan tâm đến cách gieo vần của bốncâu thơ này Như ta thấy, câu thơ cuối của câu lục kết thúc là chữ “ta” thì trongcâu thơ thứ tám của câu bát được hiệp vần bằng từ “tha” Tương tự, câu bát kếtthúc bằng vần “ông” thì câu cuối của câu lục lại được hiệp vần bằng từ “không”.Chính vì đảm bảo những quy tắc trên mà những câu thơ lục bát đọc lên rất dễnhớ, dễ hiểu, dù đọc một lần thì người đọc cũng có thể có thể đọc lại

Về thanh điệu của bài thơ Lục bát ta có thể thấy, chữ thứ hai và chữ thứ sáu củacâu bát thì đều là vần bằng, nhưng yêu cầu đặt ra ở đây là chúng không đượccùng một thanh Nếu thứ thứ sáu là thanh không có dấu , hay còn gọi là phùbình thì chữ thứ tám phải thuộc thanh trầm bình Ví dụ cụ thể như trong bài cadao sau:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Như vậy, ta có thể thấy một cách khái quát về định nghĩa cũng như những đặcđiểm, những luật lệ cơ bản trong một bài thơ lục bát Qua đó ta cũng phần nàohiểu được cách mà các nhà thơ sáng tạo ra một tác phẩm văn chương, đó là cả

Trang 12

một quá trình, vừa thể hiện được tài năng, vừa thể hiện được tư duy nhanh nhạycủa các thi sĩ.

Thuyết minh về thể thơ lục bát - Mẫu 3

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thấtlục bát) Thơ lục bát ở Việt Nam được truyền bá và phát triển hàng trăm nămnay Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơtrong ca dao, đồng dao và các bài ru con Ngày nay thơ lục bát vẫn được cácnhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền vănhọc Việt Nam hiện đại Thể thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm thườngdùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.Thể thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát baogồm có thể từ hai câu trở lên Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặpcâu Các cặp câu gồm có một câu sáu tiếng (câu lục) và một câu tám tiếng (câubát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài

không giới hạn Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ớ câutám chữ Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng,thanh và vần, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó Luật

về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà Các vần chính là hình thức kết dínhcác câu thơ lại với nhau

Luật thanh trong thơ lục bát: Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và 2 câu làcâu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận;nhị, tứ, lục phân minh Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do vềthanh, nhưng các tiếng thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ Luật như sau:Câu lục: Theo thứ tự tiếng thứ 2 - 4 - 6 là Bằng (B) - Trắc (T) - Bằng (B) Câubát: Theo thứ tự tiếng thứ 2 - 4 - 6 - 8 là B - T - B - B

Trang 13

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thểbiến nó thành thanh trắc Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ

tự T - B - T - B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể

Trang 14

thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lụcbát:

“Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Như thế ngoài vần chân có ở hai câu 6 và 8, lại có cả vần lưng trong câu

tám.Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đôi thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4)của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếngkia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại

Ví dụ:

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung Ngoài đối thanh còn có đối ý:

Dù mặt lạ, đã lòng quen”

(Bích câu kỳ ngộ)Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, lànhịp 2/2/2, hoặc 4/4 để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

“Người thương/ơi hỡi/ người thương

Đi đâu /mà để /buồng hương/ lạnh lùng”

Trang 15

Đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3: Chồng gìanh/ vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đòi chi đây Khi cần diễn đạt những điều trắctrở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thểchuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5 Thể thơ lục bát với cách gieo vần, phối thanh

và ngắt nhịp giản dị mà biến hóa vô cùng linh hoạt, phong phú và đa dạng, nórất dồi dào khả năng diễn tả Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát Theothống kê của các nhà nghiên cứu có hơn 90% lời thơ trong ca dao được sáng tácbằng thể thơ này

Từ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên có thể thấy về cơ bản thể thơ lục bátvẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về sốtiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mồi câu trong thể Tuy vậycũng có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xêdịch phối thanh, hiệp vần đó là dạng lục bát biến thể Sự biến đổi đó là do nhucầu biểu đạt tình cảm ngày càng phong phú, đa dạng phá vỡ khuôn hình 6/8thông thường Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơlục bát cơ bản vẫn giữ nguyên Đó là dấu hiệu đặc trưng cho ta nhận biết nó vẫn

là thể lục bát

Bên cạnh lục bát truyền thống còn có lục bát biến thể là những câu có hình thứclục bát nhưng không phải trên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âmtiết về vị trí hiệp vần Hiện tượng lục bát biến thể là vấn đề đáng chú ý trong cadao, chúng ta có thể xem xét một số trường hợp: Lục bát biến thể tăng, tiếng lụcbát biến thể giảm số tiếng

Xét về mặt nội dung thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữtình Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗilòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… Do vậy thể thơchủ yếu của ca dao vần là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tất thảy nhữngcung bậc cảm xúc như: Tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng

Trang 16

ruộng, đất được, yêu lao động, yêu thiên nhiên Dân tộc nào cũng có một thể thơ,một điệu nhạc phù hợp với cách điệu cuộc sống của dân tộc đó Lục bát là thểthơ hài hòa với nhịp đập của con tim, nếp nghĩ, cách sinh hoạt của người dânViệt Nam Ca dao, tiếng nói mang đầy âm sắc dân tộc cũng được chuyền tảibằng lục bát Việc sáng tạo thể thơ độc đáo này thể hiện đời sống tinh thần

phong phú của người bình dân, rất nhiều nhà thơ thành công nhờ thể thơ này.Những truyện thơ vĩ đại nhất của Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiênđều được thể hiện bằng hình thức thơ Lục bát Sau này các nhà thơ hiện đạicũng đã rất thành công khi vận dụng thể lục bát trong các sáng tác của mình.Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn tiêu biểu cho dòng lục bát dân gian Dòng lục báttrí tuệ có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận trong phong trào Thơ Mới là thànhtựu mở đầu Dòng lục bát hiện đại có Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Tố Hữu…

Như vậy, lục bát là thể thơ vô cùng quan trong trong nền văn học của dân tộc

Thuyết minh về thể thơ lục bát - Mẫu 4

Trong nền thơ ca phong phú của dân tộc, lục bát chính là thể thơ tiêu biểu nhất –một thể thơ cách luật cổ điển thuần túy Việt Nam

Về nguồn gốc, thể thơ lục bát vốn rất phổ biến trong ca dao dân ca và lời ăntiếng nói của dân tộc Bởi thê mà, nhiều người nhầm lẫn thể thơ này có từ lâuđời Thực tế, thể thơ lục bát có thể xuất hiện vào khoảng trước thế kỉ XVI đếnthế kỉ XVII Từ một loại hình nghệ thuật dân gian, lục bát trở thành một kiểuloại của văn học viết và bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các thế kỉ sau đó

Thể thơ này gắn bó với cuộc sống văn hóa tinh thần của dân tộc Từ lối nói vầnnói vè đến đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền đềudùng thể thơ lục bát Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng đểdiễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người

Ngày đăng: 05/04/2023, 10:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w