Nhận thức được vấn đề này, nhiều tổ chức tín dụng và các chương trìnhtín dụng như: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Ngân hàngChính sách, NAV, ADB, ICCO,… đã và đang đáp ứng
Trang 1PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nước ta có khoảng 77% dân số sống bằng nghề nông nghiệp tập trung chủyếu ở vùng nông thôn thì vấn đề phát triển nông nghiệp đóng vai trò rất quantrọng trong việc phát triển nền kinh tế nông thôn và kinh tế nói chung của đấtnước Tuy nhiên, thực trạng phát triển nông nghiệp nông thôn luôn chậm chạp vàkhông đồng đều Điều này, một phần là do đặc điểm nền kinh tế nông nghiệpnước ta sản xuất nhỏ lẻ, manh mún Một phần, là vì người dân không chủ độngđược vốn đầu tư tái sản xuất mở rộng quy mô Từ đó hiệu quả sản xuất nôngnghiệp chưa cao và công cuộc xóa đói giảm nghèo gặp nhiều cản trở
Không phải là tất cả, nhưng không thể phủ nhận rằng vốn đóng một vai tròquan trọng trong việc phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nóichung Nhận thức được vấn đề này, nhiều tổ chức tín dụng và các chương trìnhtín dụng như: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Ngân hàngChính sách, NAV, ADB, ICCO,… đã và đang đáp ứng nhu cầu về vốn chongười dân
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thì các tổ chức, các chương trình tíndụng không có hiệu quả như nhau Thậm chí cùng một tổ chức, cùng mộtphương thức cho vay vốn nhưng trên những địa bàn khác nhau, với những đốitượng khác nhau thì hiệu quả cũng không giống nhau Điều này sơ lược chúng ta
có thể giải thích rằng những chương trình khác nhau có cơ cấu tổ chức, quy chếtín dụng, hình thức hoạt động, khác nhau dẫn đế hiệu quả cũng sẽ khác nhau
Và trong những vùng khác nhau, với những đối tượng khác nhau thì nhu cầu vềlượng vốn, lãi suất, thời gian vay vốn, cách thức trả vốn lãi, là không giốngnhau
Là một huyện vùng cao của tỉnh Thừa Thiên Huế, với đa số là người dântộc Pacô sinh sống A Lưới có nhiều dự án, tổ chức tín dụng đã và đang hoạtđộng như; Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển NôngThôn, dự án ICCO, Tổ chức bánh mỳ thế giới,… Tuy nhiên thực trạng hoạt động
Trang 2của các tổ chức tín dụng ở Huyện A Lưới cũng giống như thực trạng chung của
cả nước
Để đi vào tìm hiểu nguyên nhân của việc khác nhau hiệu quả của các tổ
chức tín dụng, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Xem xét các mô hình tín dụng đang hoạt động tại Huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá các hệ thống tín dụng trên địa bàn Huyện A Lưới
Tìm hiểu tình hình vay và sử dụng vốn vay của người dân Huyện A Lưới
Đề xuất các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm tín dụng
Danh từ tín dụng (credit) xuất phát từ gốc La tinh là Credittum, nghĩa là sựtin tưởng, tín nhiệm dùng để chỉ nhiều hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịuhàng hóa, cho vay, chiếc khấu, bảo lảnh, ký thác,…Trong mỗi hành vi này, haibên cam kết với nhau rằng: một bên thì trao quyền sử dụng một lượng giá trị,được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật còn bên kia cam kết hoàn lạilượng giá trị đó sau một thời gian nhất định, với điều kiện nhất định [1]
Nhà kinh tế pháp khẳng định tín dụng như là: “một sự trao đổi giá trị tiềnhiện tại lấy một giá trị tiền tương lai”
Theo luật ngân hàng quốc tế thì tín dụng được định nghĩa như sau: “Cấuthành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ một động tác nào, qua đó một người đưahoặc hứa đưa vốn cho một người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký chongười này như đảm bảo, bảo chứng hay bảo lảnh mà có thu tiền”.[1]
Hoạt động tín dụng gồm hai quá trình là tạo lập, và sử dụng vốn, hay còngọi là huy động vốn và cho vay Tín dụng không chỉ là một hình thức vận độngcủa vốn (quan hệ kinh tế) mà nó còn là quan hệ xã hội dựa vào lòng tin
Tóm lại có thể định nghĩa: Tín dụng biểu hiện mối quan hệ kinh tế - xã hộigắn với quá trình tạo lập và sử dụng vốn nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tạmthời cho quá trình tái sản xuất và phục vụ đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả [1]
2.1.2 Tín dụng dự trữ và tín dụng sử dụng
Trong kinh doanh, tín dụng được coi là nguồn quan trọng để mở rộng quy
mô Thực tế, tín dụng được sử dụng với hai vai trò là để hình thành tài sản và đểlàm một khoản dự trữ
Sử dụng tín dụng để hình thành tài sản là điều được nhiều người biết đến,được thừa nhận rộng rãi Đây chính là khoản tín dụng sử dụng
Một lượng tín dụng không được dùng trong thực tế nhưng lại có thể đượccung cấp và nó được xem như là một khoản dự trữ chính là tín dụng dự trữ [2]
Trang 4Như vậy, tổng lượng tín dụng có thể cung cấp gồm tín dụng đã sử dụng đểmua sắm và tín dụng chưa dùng để dự trữ Chỉ khi tín dụng trong vai trò tín dụng
sử dụng thì chúng mới trở thành món nợ, còn khi tín dụng còn là tín dụng dự trữthì chúng vẫn chưa phải là một món nợ
Trong kinh doanh, các chủ thể sản xuất đều phải duy trì một mức tín dụng
dự trữ nhất định Chỉ khi vay tới một giới hạn với tất cả các nguồn có thể có thìmới không còn tín dụng dự trữ [1]
2.1.3 Tín dụng nông thôn
Tổ chức tín dụng: là doanh nghiệp được thành lập theo quy định củaLuật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinhdoanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiềngửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.[3]
Các tổ chức tín dụng nước ta gồm: Tổ chức tín dụng nhà nước; Tổ chức tíndụng cổ phần của nhà nước và tư nhân; tổ chức tín dụng hợp tác.[3]
Chương trình tín dụng: Trong kinh tế quốc tế, ngoài tín dụng thanhtoán và đầu tư ở tầm vi mô giữa các doanh nghiệp khác nước với nhau, còn cócác chương trình tín dụng vĩ mô giữa các chính phủ, các chương trình tín dụng
vi mô của các tổ chức phi chính phủ Trong nội bộ từng quốc gia, tùy theo mụctiêu chiến lược kinh tế cụ thể mà có các chương trình tín dụng riêng biệt đặc thùtrong từng lĩnh vực trong một thời kỳ nhất định Đối với các tổ chức phi chínhphủ có hoạt động tài chính vi mô cần phân biệt hai loại:
Các dự án chỉ hoạt động tài chính qui mô,
Các dự án có hoạt động tài chính quy mô lồng ghép với các hoạtđộng khác.[2]
Nhiều tổ chức phi chính phủ chỉ coi tài chính vi mô như là một phương tiện
để đạt được mục đích chứ không phải bản thân nó là mục đích Một số tổ chức
đã sử dụng tài chính vi mô để thực thi các chương trình giáo dục sức khỏe và kếhoạch hóa gia đình Các tổ chức này có thể mang lại hiệu quả cao
2.1.4 Chính sách tín dụng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân
2.1.4.1 Tỷ lệ lãi suất cho vay
Trang 5Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá trị của tín dụng, giá
cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hìnhthức tiền tệ hoặc các dạng tài sản khác nhau Khi đến hạn, người đi vay sẽphải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiềnlãi.[4] Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất, lãi suấtphản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng tiền phải bỏ ra để thu được lợinhuận
Lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh nghiệp đưa racác quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành tiết kiệm; đầu tư
số vốn tích lũy được vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác.Mặc khác, lãi suất lại là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế rất nhạy bén
và có hiệu quả: thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từngthời kỳ nhất định, chính phủ có thể tác động đến qui mô và tỷ trọng các loạivốn đầu tư, từ đó có thể điều chỉnh được cơ cấu, tốc độ tăng trưởng, sảnlượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước.[2] Trong nhữngđiều kiện nhất định của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụngnhư một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi rađối với một quốc gia, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá,ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốctế
Đối với các nước kinh tế thị trường phát triển và theo đuổi chính sách
tự do hoá tài chính (financial liberalization), lãi suất được hình thành trên cơ
sở thị trường, tức là do quan hệ giữa cung và cầu về vốn trên thị trườngquyết định Tại những nước này, lãi suất đã trở thành một trong những chỉtiêu quan trọng được quan tâm theo dõi một cách chặt chẽ nhất Trái lại,trong các nước theo đuổi chính sách tài chính kiềm chế (financial repression)
và đặc biệt là các nước có nền kinh tế được tổ chức theo cơ chế kế hoạch hoátập trung, vai trò của lãi suất không được nhìn nhận một cách đúng đắn: lãisuất mạng nặng tính chất bao cấp về hành chính trong toàn bộ khu vực kinh
Trang 6tế quốc doanh và đảm bảo cho yêu cầu về “giới hạn ngân sách mềm” (softbudget constraints) trong các hoạt động chi tiêu của chính phủ Hậu quả đốivới các nước này là những mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu vốnđầu tư, không thể kiểm soát được lạm phát và sự biến động của tỷ giá hốiđoái, tình trạng thiếu vốn trầm trọng do không có khả năng huy động vốn và
sử dụng vốn một cách hiệu quả, hệ thống thị trường tài chính bị chia cắtmanh mún không thể kiểm soát nổi và đày rẩy rủi ro (thị trường tài chính bịphân đoạn) nên không thể góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cácnước này [6]
Lãi suất càng cao thì cầu về mức vay có xu hướng giảm, cung về mứcvay có xu hướng tăng và ngược lại, lãi suất càng thấp thì cầu về mức vay có
xu hướng càng tăng và cung giảm Theo lý thuyết kinh tế học của PaulSamuelson thì: “Với lãi suất cao hơn và của cải ít hơn, những chi tiêu nhạycảm với lãi suất - đặc biệt là đầu tư có xu hướng giảm đi Sự kết hợp giữa lãisuất có xu hướng tăng lên, tín dụng thắt chặt hơn sẽ có xu hướng ít khuyếnkhích đầu tư và chi tiêu, tiêu dùng” Có thể nói việc kích thích hoặc hạn chếđầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn chịu ảnh hưởng của qui luậtcung cầu về tiền tệ như đã dẫn ra ở trên Mức lãi suất cho vay càng cao cànglàm tăng chi phí sử dụng vốn của người sản xuất trong nông nghiệp lên cànglớn và đương nhiên càng làm giảm lợi ích của họ và hệ quả là người sản xuất
sẽ phải cắt giảm đầu tư Vậy nên để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triểncần phải hạ lãi suất xuống mức cần thiết thích hợp Đương nhiên khi thựchiện chính sách cắt giảm lãi suất, yêu cầu phải đảm bảo điều kiện lãi suấtdương, đủ bù đắp được các khoản chi phí Thực tế nếu lãi suất vay vốn bằngkhông (vay không trả lãi) thì về lâu dài phía nhà nước hoặc các tổ chức tíndụng sẽ không có đủ khả năng cung ứng vốn, còn về phía người vay vốn sẽkhông quan tâm đến chi phí sử dụng vốn vay và họ cũng không nhất thiếtphải tìm các giải pháp để tăng doanh thu, giảm chi phí,…và hệ quả là hiệuquả sử dụng vốn vay thấp và làm thiệt hại đến lợi ích của xã hội Tuy sự ưuđãi của Chính phủ thông qua việc cố gắng cung cấp tín dụng với lãi suất thấp
Trang 7cho người nghèo và nông dân để họ phát triển sản xuất và các hoạt động kinhdoanh đã có những ảnh hưởng ngắn hạn và trung hạn tích cực đối với sảnxuất nông nghiệp do tăng đầu tư tín dụng bao cấp.[4] Nhưng tín dụng ưu đãilại hạn chế khả năng của các tổ chức tài chính vi mô đáp ứng một cách lâudài các nhu cầu ngày càng tăng của các hộ
2.1.4.2 Các vấn đề thuộc về thủ tục cho vay, trả nợ vay
Thủ tục ở đây được hiểu là một tập hợp các bước, các công việc cầnthiết nhất định phải tiến hành giữa người đi vay và người cho vay để thựchiện hoàn thành theo trình tự một nghiệp vụ tín dụng
Một nghiệp vụ tín dụng phải trải qua ba giai đoạn: giai đoạn cấp tíndụng, giai đoạn ưu đãi và giai đoạn hoàn trả Vì vậy có thể hình dung rằng:thủ tục là các bước công việc cần thiết phải tiến hành, diễn ra trong quan hệgiao dịch giữa người đi vay và người cho vay trong suốt quá trình cho vay vàthu hồi vốn vay.[1] Thủ tục càng đơn giản (ít công việc, ít bước, ít giầytờ…)thì quan hệ giữa người đi vay và người cho vay càng gần gũi, chi phícho việc hoàn thành các thủ tục cho món vay càng nhỏ, người đi vay càng dểtiếp cận đối với các tổ chức tín dụng, khả năng tiếp cận các nguồn vốn tíndụng của người cần vay càng lớn…và ngược lại
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định lại rằng thủ tục là điều kiện cần thiếtkhông thể loại bỏ Giá trị món vay luôn đòi hỏi phải được đảm bảo trên cơ sởcác văn bản có tính pháp lý và ràng buộc về trách nhiệm dân sự giữa người
đi vay và người cho vay Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo tính pháp lý caonhưng thủ tục phải đơn giản ở mức cần thiết, cần phải cập nhật, phổ cập hoá
để mọi người dân có thể dễ dàng tiếp cận và chấp nhận tham gia vay vốn đầu
tư được thuận lợi nhất
2.1.4.3 Thời gian cho vay
Thời hạn cho vay là một khoản thời gian được tính từ khi khách hàngbắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã
Trang 8được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và kháchhàng.[2]
Thời hạn vay liên quan trực tiếp đến độ thoả dụng của người vay vốn.Thoả dụng ở đây là thoả mãn về thời gian mà người vay có quyền sử dụngvốn phục vụ cho mục đích chi tiêu và đầu tư cho mình Mỗi một đối tượngvay vốn đều có nhu cầu về thời gian sử dụng vốn khác nhau, điều đó đượcquy định bởi đặc điểm của hoạt động đầu tư và tiêu dùng như: loại hìnhngành nghề, đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, dịch vụ nói chung hay tronghoạt động sản xuất phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng thì tuỳ thuộc vàođối tượng, mục đích nhu cầu về vốn được sử dụng để làm gì mà tổ chức tíndụng có căn cứ xác định thời hạn cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn ha dàihạn.[7]
Cho vay trung hạn, dài hạn đối với khách hàng cho vay vốn trung hạn,dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,dịch vụ, đời sống Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thuhồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồnvốn cho vay của tổ chức tín dụng (12 tháng đến 5 năm).[7]
Nhu cầu vay vốn ngắn hạn dùng cho đầu tư mua sắm các tư liệu sảnxuất trực tiếp như: giống, thức ăn, phân bón, trả công lao động hoặc các chiphí phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết có trong một chu kỳ sản xuất Việc thuhồi vốn lưu động có thể thực hiện trọn vẹn ngay sau chu kỳ sản xuất đó.Nhu cầu vay vốn trung hạn và dài hạn dùng cho đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng và tài sản cố định có giá trị lớn như: mua máy cày, máy xay xác, máybơm, đào ao, trồng cây lâu năm, chăn nuôi đại gia súc…các khoản dầu tưnày hình thành nên các tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng tương đốidài Nguồn vay sử dụng cho mục đích này được chuyển hoá thành nguồn vốn
cố định một thời gian sử dụng một phần giá trị của nó bị tiêu hao và kết tinh
Trang 9vào giá trị sản phẩm Nó được thu hồi và tạo thành nguồn để trả nợ vaythông qua việc trích khấu hao từ tiêu thụ sản phẩm qua từng chu kỳ sản xuất(thường là hàng năm) Như vậy, nếu vay đầu tư tài sản có giá trị lớn thì việctrả nợ xong các món vay chỉ thực hiện được sau một số chu kỳ sản xuất hoặc
là một số năm sau đó.[2] Trong nhiều trường hợp sau khi trả nợ xong, người
đi vay chỉ còn lại một nguồn vốn duy nhất đó là các đối tượng được hìnhthành từ nguồn vốn vay trung, dài hạn đó, nay vẫn còn giá trị sử dụng (tuy đãkhấu hao hết), vẫn tiếp tục tham gia vào các chu kỳ sản xuất tiếp theo và tạo
ra lợi ích, phần lợi ích sinh ra trong suốt quá trình sử dụng còn lại của cácđối tượng đó được xem như một phần tích lũy được từ kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh có vay vốn ở trên
Như vậy, trong điều kiện sản xuất bình thường và các yếu tố rủi ro, việcvay vốn ngắn hạn để đầu tư mua giống, phân bón, thức ăn phục vụ chănnuôi trồng trọt gia đình thì hộ vay vốn hoàn toàn có khả năng hoàn trả hếtcác món nợ đúng hạn Nhưng nếu họ vay các khoản vay ngắn hạn để đầu tưcho mực đích lâu dài như trồng cây lâu năm, chăn nuôi đại gia súc, mua sắmtài sản cố định thì chắc chắn họ sẽ không trả nợ đúng hạn Ở đây phát sinh ramột yêu cầu trong quản lý là giám sát việc sử dụng vốn vay có đúng mụcđích như trong bản cam kết vay vốn hay không Đây là công tác rất quantrọng giúp cho tổ chức tín dụng kiểm tra thực tế việc sử dụng tiền vốn vay,
có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đồng vốn vay, khả năng trả nợcủa người đi vay và thu hồi vốn của tổ chức tín dụng.[3] Việc sử dụng vốnvay không đúng mục đích sẽ phát sinh nhiều rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soátcủa cả người vay vốn lẫn tổ chức tín dụng, dễ dẫn đến những kết quả khôngmong muốn trong công tác quản lý tín dụng
2.1.4.4 Mức cho vay
Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xácđịnh trên cơ sở tài sản thế chấp, do vậy đề cập đến mức vay ở trường hợpnày không phải là mục đích cần xem xét
Trang 10Đối với các hình thức cho vay tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa màcác tổ chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay Vì người đi vay khôngphải thế chấp tài sản cho giá trị của món vay nên các tổ chức tín dụngthường ấn định ra một số mức vay tối đa nào đó tương ứng với khả dĩ có thểtrên thực tế nhằm giảm thiểu các rủi ro về tín dụng có thể xảy ra Mức chovay là một khái niệm luôn luôn gắn liền với hình thức cho vay không có tàisản bảo đảm tiền vay.[1]
Việc các tổ chức tín dụng cho vay theo hình thức tín chấp là một cơ hộitiếp cận tốt đối với các đối tượng không có tài sản thế chấp Tuy nhiên việckhống chế ấn định mức cho vay của các tổ chức tín dụng đối với các đốitượng không có thế chấp đã có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu lượng vốn vay,các tổ chức tín dụng phải nâng cao nhưng lại bị cản bởi rào cản rủi ro tíndụng, do vậy việc loại bỏ mức cho vay là không thể, nó là nguyên tắc cầnthiết có tính chất bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng trong hình thức chovay theo tín chấp
2.1.4.5 Thời gian và hình thức thu hồi vốn vay
Kỳ hạn trả nợ là các khoản thời gian trong thời hạn cho vay được thoảthuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian
đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ số tiền vay cho tổ chức tíndụng
Thời gian thu hồi vốn vay được hiểu là thời gian bắt đầu từ khi ngườivay nhận được khoản tiền vay đến khi thực hiện lần trả tiền đầu tiên về lãihoặc nợ gốc Hình thức cho vay, thời gian thu hồi vốn vay cũng có thể hiểu
là hình thức người đi vay phải trả một lần hay nhiều lần, trả lãi riêng hoặcgộp chung với nợ gốc.[2]
Cơ sở của việc lựa chọn hình thức và thời gian thu hồi vốn cho vay đượccác tổ chức tín dụng tính toán trên cơ sở lý thuyết giá trị hiện tại (hoặc tươnglai) của dòng tiền hoặc lợi nhuận cá nhân của các tổ chức tín dụng Thông
Trang 11thường các tổ chức tín dụng sử dụng các hình thức cho vay sau đây (các hìnhthức này được coi là các công cụ của thị trường tín dụng)
- Cho vay đơn: Người vay phải trả một lần cả lãi lẫn gốc sau một thờigian nhất định
- Cho vay theo hình thức trái phiếu chiết khấu (trả lãi trước): Hình thứcnày cũng tương tự như cho vay đơn Nghĩa là người đi vay cũng phải trả tiềnmột lần cả lãi lẫn gốc sau khi kết thúc một kỳ hạn vay Nhưng hình thức nàykhác cho vay đơn ở chỗ: Người đi vay phải trả cho người cho vay một khoảntiền vào lúc đến hạn được gọi là giá trị danh nghĩa song anh ta lại nhận một
số tiền nhỏ hơn giá trị danh nghĩa lúc khởi đầu vay
- Trái phiếu Coupon: Là loại trái phiếu đầu tư dài hạn, hình thức này đòihỏi người vay phải trả lãi kỳ cuối cùng với giá trị danh nghĩa (vốn gốc) vàolúc mãn hạn
- Cho vay hoàn trả cố định: Hình thức này đòi hỏi người vay phải trảmột cách đều đặn theo định kỳ số tiền bao gồm cả lãi và gốc và tất nhiên khimãn hạn người đi vay không phải trả toàn bộ số tiền gốc.[2]
Tương ứng với mỗi hình thức cho vay nói trên các tổ chức tín dụng ápđặt một mức lãi suất để đảm bảo thu được một suất lợi mãn hạn theo ý muốn
có lợi nhất Như vậy, trong việc lựa chọn sử dụng các hình thức cho vay có
ba vấn đề cần bàn: Một là ảnh hưởng của vấn đề cách thu lãi và vốn vay; hai
là vấn đề về thời gian; ba là ảnh hưởng của lãi suất cho vay tương ứng được
áp dụng trong hình thức đó Do vấn đề về lãi suất đã được đề cập ở phầntrên, nên chúng ta chỉ quan tâm đến cách thu và thời gian thu hồi lãi và vốnvay
Việc thu lãi riêng, vốn riêng, một lần hoặc chia nhiều lần theo chu kỳhoặc gộp chung cả vốn lẫn lãi đều có tác động đến thái độ của người vaytheo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích vay và đặc điểm của loạihình đầu tư Người đi vay có thể chấp nhận kiểu trả tiền đều đặn theo kỳ
Trang 12hoặc trả một lần vào ngày đến hạn nếu vốn vay cho ngành đầu tư có thể cho
ra nhiều vòng đời sản phẩm trong thời gian vay vốn Nhưng cũng chính họkhó chấp nhận kiểu trả tiền hàng tháng, quý nếu vốn vay để đầu tư vàongành sản xuất chỉ cho ra một vòng đời sản phẩm ở cuối kỳ vay.[1]
2.1.4.6 Chính sách cho vay kết hợp hỗ trợ các biện pháp khác
Đây là chính sách khuyến mại vay vốn của Nhà nước và các tổ chức tíndụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay để đạt được mục tiêu tăngkhả năng thu hồi nợ vay
Hỗ trợ ở đây không chỉ là kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, nghề nghiệpdịch vụ, mà còn bao hàm nhiều vấn đề khác có liên quan đến việc sử dụng cóhiệu quả vốn vay, như là kỹ năng quản lý vốn vay, năng lực tiếp cận thịtrường tiêu thụ sản phẩm, thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào cho sảnxuất, hội thảo cộng đồng vay vốn về các vấn đề phát sinh trong quá trình vayvốn…nhằm tạo ra một môi trường đồng bộ có tính tích cực, xử lý những vấn
đề tồn tại, hỗ trợ cho mục đích chính là sử dụng có hiệu quả vốn vay và tínhkhả thi trong việc thu hồi vốn và lãi suất cao.[2]
Các đối tượng tham gia vay vốn ở nông thôn phần lớn là các hộ nôngdân sản xuất nông nghiệp nghèo khó neo đơn, kinh nghiệm và khả năng rấthạn chế, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng còn khó khăn, kỹ năng quản lývốn hầu như chưa có kinh nghiệm…Vì vậy, việc áp dụng chính sách cho vaykết hợp hỗ trợ các biện pháp kỹ thuật đồng bộ đi kèm như: tập huấn kỹ thuậttrồng trọt, chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, tập huấn và đào tạo kỹ năng sửdụng vốn vay cho người vay vốn có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khíchvay vốn đầu tư cải thiện thu nhập của hộ nông dân nghèo
Trang 13như đầu tư phát triển mở rộng sản suất, chuyển đổi cơ cấu sản suất Vì vậy năngsuất cây trồng vật nuôi thấp, kéo theo thu nhập hộ gia đình thấp Do đó, phầntích lũy tiết kiệm của họ hầu như không có hoặc ít không đáng kể Chính vìnguồn tiết kiệm quá ít nên mức đầu tư cho sản xuất thấp và kết quả là năng suấtthấp Vòng luẩn quẩn đó sẽ kéo dài mãi nếu không có sự tác động từ bên ngoài.[2]
Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối vớingười nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quan trọngtrọng trong việc thực hiện các chính sách việc làm, dân số, y tế, giáo dục, cácchương trình xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội
Thứ hai, tín dụng góp phần tạo ra và duy trì quy mô sản xuất và kinh doanh phù họp.
Trong hầu hết các cơ sở sản xuất nông nghiệp luôn tồn tại sự lệch pha giữanhu cầu và khả năng về vốn Tín dụng ra đời như một đòi hỏi tất yếu khách quan
để giải quyết sự lệch pha này Từ nguồn vốn tín dụng các cơ sở sản xuất nôngnghiệp sẽ mua được đầy đủ các yếu tố đầu vào còn thiếu để thực hiện các hoạtđộng sản xuất của mình, đồng thời duy trì được các hoạt động đó một cách liêntục.[2]
Thứ ba, tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai thác các nguồn lực địa phương
Tính chất thời vụ thể hiện rất rỏ nét trong hoạt động sản xuất kinh doanhnông nghiệp Nguồn vốn từ các khoản tín dụng sẽ giúp các cơ sở sản xuất nôngnghiệp bù đắp được chi phí những thời kỳ chưa có thu nhập, làm cho quá trìnhsản xuất được liên tục, tính tự chủ trong sản xuất nông nghiệp của các cơ sở sảnxuất củng được mở rộng Ngoài việc bù đắp các khoản thiếu hụt vốn tín dụngcòn giúp người sản xuất có thể mua sắm máy móc, mở rộng qui mô sản xuất, đầu
tư thâm canh để nâng cao chất lượng, khối lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động,đem lại thu nhập cao hơn.[2]
Thứ tư, tín dụng góp phần thực hiện điều chỉnh kinh doanh.
Trang 14Trong nền kinh tế thị trượng hiện nay, yêu cầu về hàng hóa của các kháchhàng thường xuyên có sự biến đổi Chính sự thay đổi của thị trường buộc cácnhà sản xuất phải có sự điều chính trong các hoạt động sản xuất kinh doanh củamình cho phù hợp Trong hoàn cảnh đó, tín dụng chính là nguồn quan trọng đểcác cơ sở sản xuất thực hiện điều chỉnh sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.Nguồn vốn tín dụng họ có thể đầu tư mua giống mới để có sản phẩm chất lượngcao hơn hoặc mua dây chuyền mới để tạo ra nhiều loại sản phẩm, mẩu mã đadạng.[2]
Thứ năm, tín dụng góp phần giải quyết các biến dạng và hạn chế các rủi ro trong sản xuất kinh doanh.
Những biến động về giá cả của các yếu tố đầu vào thường có tác động rấtmạnh đến người sản xuất Lúc này các khoản tín dụng sẽ giúp khắc phục các khókhăn về vốn, đảm bảo được các hoạt động sản xuất theo dự định Hơn thế, các cơ
sở sản xuất có thể sử dụng vốn vay để mua một số yếu tố đầu vào dự trữ cho cáchoạt động sản xuất
Ngoài những ảnh hưởng về giá sản xuất nông nghiệp còn chịu ảnh hưởngrất lớn về điều kiện tự nhiên như thời tiết, dịch bệnh,…Tín dụng được coi là yếu
tố góp phần ngăn ngừa những yếu tố bất lợi trong kinh doanh, chống lại hoặchạn chế những rủi ro có thể xảy ra.[2]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tín dụng nông thôn ở một số nước trên thế giới
* Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản khuyến khích phát triển nông nghiệp bằng cách thànhlập ngân hàng nông – công nghiệp địa phương, Vào những năm 1960 Chính PhủNhật Bản đã có chương trình cho vay để tăng đầu tư cho nông nghiệp, cho vay
để mua sắm tài sản, mở rộng đất trang trại, xây dựng cơ sở hạ tầng Nguồn vốn
là từ Chính Phủ và tư nhân thông qua Hợp tác xã nông nghiệp Lãi suất cho vayphát triển nông nghiệp là lãi suất thấp, thời gian cho vay là dài hạn Hợp tác xãnông nghiệp ở Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông
Trang 15nghiệp ở Nhật Bản, sự hình thành của Hợp tác xã nông nghiệp là huy động tiếtkiệm và vốn dư thừa từ nông nghiệp và nông dân cho vay các thành phần kinh tếkinh doanh ngoài nông nghiệp.
* Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Philippin
Hệ thống tín dụng chính thống cung cấp vốn tín dụng cho nông nghiệp,nông thôn ở Philippin bao gồm: Các Ngân hàng nông thôn, ngân hàng tiết kiệm,các Ngân hàng thương mại và các Ngân hàng của Chính phủ Ngân hàng nôngthôn là tổ chức tín dụng chính thống lớn nhất, chuyên cung cấp tín dụng chonông nghiệp, nông thôn Chính phủ Philippin đã có những chính sách tín dụngphục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn
Từ năm 1975, Chính phủ đã có chỉ tiêu bắt buộc các Ngân hàng thương mạiphải dành tối thiểu 25% cho vay ngành nông nghiệp Từ năm 1986 trở lại đây,Chính phủ Philippin đã ban hành chính sách tín dụng mới và được thực hiệndưới sự bảo trợ của hội đồng chính sách tín dụng nông nghiệp, nội dung chínhsách này bao gồm: Chấp nhận cơ chế thị trường, giảm trợ cấp ưu tiên trong Ngânhàng nông nghiệp, chấm dứt các hoạt động cho vay trực tiếp của các hoạt độngcho vay trực tiếp của các cơ sở Nhà nước phi tài chính, cung cấp các dịch vụ vàthực hiện cơ chế bảo hiểm để giảm rủi ro khi thực hiện cho vay.[3]
* Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Đài Loan
Nhờ có chiến lược phát triển kinh tế phù hợp có biện pháp quản lý hiệu quả,trong đó có chính sách trợ vốn và sử dụng vốn mà Đài Loan đã đạt được thànhtựu kinh tế to lớn
Về chính sách khôi phục kinh tế, chính sách đã huy động tối đa nguồn vốntrong nước thông qua chế độ ưu đãi về lãi suất, kết hợp với thu hút nguồn việntrợ của Mỹ nhập khẩu thiết bị, kỹ thuật, khôi phục các cơ sở sản xuất công –nông nghiệp Chính phủ tập trung kiểm soát khu vực tài chính tiền tệ thông quacác biện pháp:
Trang 16-Nhà nước xác lập quyền sở hữu đại bộ phận các Ngân hàng, khống chế các
tổ chức Ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán nhằm hạnchế cạnh tranh giữa hệ thống Ngân hàng trong nước và nước ngoài Mức lãi suấttiết kiệm vẫn do Chính phủ đặt ra
- Chính phủ khuyến khích đầu tư tư nhân ra nước ngoài, nhằm khai thác mởrộng thị trường, từ năm 1987 đã nới lỏng quyền kiểm soát ngoại hối cho phépcông dân Đài Loan có thể chuyển 5 triệu USD/năm ra nước ngoài và công dânnước ngoài có thể chuyển vào đài Loan 200.000 USD/năm Thông qua chínhsách đầu tư ra nước ngoài, Đài Loan đã phá vỡ hàng rào bảo hộ mậu dịch của
Mỹ, Nhật Bản và các nước phương tây, tiếp thu khoa học công nghệ mới ở nướcđầu tư Mở quỹ cho vay ngoại hối với số vốn 5 tỷ USD tập trung vào thị trường
mà Đài Loan đang quan tâm
-Chính phủ thực hiện các chính sách tiết kiệm chi tiêu, tăng thu và cân bằngngân sách, có cơ chế thuế hợp lý
-Cho phép các Ngân hàng nước ngoài góp vốn liên doanh với các doanhnghiệp trong nước, mức đóng góp không quá 40%
-Chính phủ thực hiện chính sách ngoại thương năng động, luôn gắn chặt vớiluật đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ từ nước ngoài vào, đồng thờithực hiện đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ từ nước ngoài vào, đồngthời thực hiện đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ sang các nước chậmphát triển từ đó mà xây dựng được các khu chế xuất có hiệu quả cao
-Trong lĩnh vực nông nghiệp ưu tiên phát triển nông nghiệp làm cơ sở tiền
đề phát triển công nghiệp Nông dân được vay vốn với lãi suất thấp Nhà nướcchú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn: xây dựng đường sá, khu chế biếnnông sản tại chỗ, các quan hệ thị trường xây dựng trên nguyên tắc cạnh tranh tựdo: giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông nghiệp và nông dân, giữa nôngdân với nông dân, đã kích thích nông nghiệp phát triển mạnh.[3]
Trang 172.2.2 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu tín dụng nông nghiệp, nông thôn các nước trên thế giới và và ở Việt Nam
Xuất phát từ những vấn đề phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụngnông nghiệp, nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam chúng ta rút
ra một số kết luận sau:
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà mỗi nước có hình thức tín dụng nôngthôn khác nhau
Mỗi quốc gia đều phải hoạch định cho mình chính sách để thu hút, tạo vốn
và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể,cũng như chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã lựa chọn Các chính sách về tạonguồn vốn tín dụng rất đa dạng, không có mô hình duy nhất đúng cho mỗi quốcgia Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống tín dụng giànhriêng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và đều có chung một mục tiêu làcung cấp đủ vốn cho sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, an toànlương thực, rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết hệ thống tín dụngnông nghiệp, nông thôn
Ở tất cả các nước, Chính phủ đều định ra các quyết sách điều tiết nền kinh
tế quốc dân thông qua việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó cóchính sách tiền tệ - tín dụng Các chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thônđều có tác động trực tiếp khuyến khích các nhà đầu tư vào nông nghiệp nôngthôn, đầu tư cho Chính phủ theo các chương trình, xoá đói giảm nghèo trongnông thôn
Xác định huy động vốn trong nước là chính, tranh thủ nguồn vốn viện trợcủa nước ngoài, ổn định và phát triển các tổ chức tín dụng nông nghiệp nôngthôn
Các tổ chức tín dụng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn là đơn vị kinh tếkinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tự hạch toán, đảm bảo thu hồi vốn, tăng trưởng
Trang 18vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi hơn là đầu tư vào các ngành khác, đồng thời huyđộng nguồn vốn dư thừa, tiết kiện trong dân cư để làm nguồn vốn cho vay chủyếu của các tổ chức tín dụng.
Sử dụng các phương thức cấp vốn đa dạng.
sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng biệt so với ngành sản xuấtkhác và hộ nông dân cũng có những đặc điểm riêng về trình độ, nhu cầu vay vốn,cách sử dụng vốn vay…vì vậy áp dụng phương thức cấp tín dụng trực tiếp haygián tiếp, bằng tiền hay bằng hiện vật, trả lãi và vốn một lần hay nhiều lần…phảiphù hợp với đối tượng vay, với từng loại sản phẩm và từng vùng khác nhau
Tín dụng ưu đãi là cần thiết cho nông nghiệp, nông thôn ở các nước đangphát triển
Ở các nước đang phát triển, đời sống nông dân khó khăn, chính trị xã hội ởnông thôn không ổn định Người nông dân thiếu vốn sản xuất, tỷ lệ hộ nghèo đóicao, việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho nông dân là nhu cầu bức thiết, các Chínhphủ cần tăng cường nguồn vốn cho chương trình tín dụng ưu đãi vì chỉ có nó mớigiúp cho hộ nông dân nghèo vay vốn để sản xuất Đó cũng là điều kiện để xoáđói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn.[2]
Trang 19PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những tổ chức tín dụng đã và đang hoạt động tại Huyện A Lưới
3.3 Nội dung nghiên cứu
Tình hình hoạt động của các tổ chức đã và đang hoạt động ở Huyện A Lưới
từ 2001 đến nay
Cơ chế quản lý, quy chế tín dụng của các tổ chức tín dụng đang hoạt động.Tình hình tham gia vay vốn của các hộ nông dân trên địa bàn Huyện ALưới
Hiệu quả sử dụng vốn vay của những hộ vay vốn trên địa bàn Huyện ALưới
3.4 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập thông tín dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội củađịa phương, tình hình hoạt động của các tổ chức chương trình tín dụng trên địabàn
Phỏng vấn người am hiểu (phỏng vấn bán cấu trúc và thảo luân nhóm cán
bộ tín dụng địa phương), tổ chức buổi hội thảo về cơ chế quản lý, các các quychế tín dụng, quy trình giải ngân vốn, trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chứcĐoàn, Hội địa phương
Trang 20Phỏng vấn hộ: Phỏng vấn cấu trúc (dùng phiếu điều tra hộ được thiết kếtrước), và tổ chức hội thảo về ưu nhược điểm của các tổ chức tín dụng, khó khăncủa người dân khi tiếp cận và sử dụng nguồn vốn, nhu cầu người dân, đề xuất vềvấn đề vay vốn.
phương pháp chọn hộ: chọn ngẫu nhiên các hộ đang tham gia vay vốntrong danh sách được cung cấp bởi cán bộ phụ trách về tín dụng
Số lượng phỏng vấn là 63 hộ gồm:
Phú Vinh 32 hộ vay vốn: 21 hộ nghèo và 11 hộ trên nghèo
Hồng Vân 31 hộ vay vốn: 20 hộ nghèo và 11 hộ kinh
b) Phương pháp xử lý số liệu
Dùng phần mềm Microsolft excel 2000 trong xử lý số liệu
Trang 21PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Vị trí địa lý
A Lưới là một huyện miền núi nằm về phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế,cách thành phố huế khoảng 70 km Được giới hạn trong toạ độ địa lý từ 160 vĩ độBắc và 1070 kinh Đông Với tổng diện tích là 122,901.8 ha, huyện A Lưới chiếm1/4 diện tích của tỉnh Thừa Thiên Huế Đây là huyện có đường biên giới dài nhấttỉnh và giáp với nhiều lãnh thổ khác nhau:
- Phía Bắc giáp với huyện Phong Điền và Hương Trà
- Phía Đông giáp huyện Hương Thủy
- Phía Tây Nam, Tây Bắc giáp nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào vàhuyện Dakrông (Quảng Trị)
- Phía nam giáp huyện Hiên (Quảng Nam)
Là huyện biên giới của tỉnh với gần 85km chiều dài biên giới quốc gia nênđịa bàn huyện A Lưới được xem là địa bàn xung yếu về công tác biên phòng củatỉnh
Ngoài đường 14 chạy xuyên suốt từ Bắc đến Nam nối liền tỉnh Quảng Trị
và đi Khe Sanh –Lao Bảo qua nước Lào, còn có tuyến quốc lộ 79 nối Huế với 75
km, tạo điều kiện cho A Lưới có khả năng giao lưu với bên ngoài Dự án mở cửakhẩu qua A Lưới sẽ tạo ra khả năng rất lớn trong mối quan hệ giữa Thừa ThiênHuế và Salavan của Lào và sẽ phát triển A Lưới thành một đô thị năng độngvùng biên giới
Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên tương đối phức tạp, phân bố ở độ cao500m so với mực nước biển và bị chia cắt mạnh nên giao thông đi lại và sản xuấtlưu thông gặp nhiều khó khăn Huyện hiện có 20 xã và 1 thị trấn; địa hình giữacác xã bị ngăn cách bởi những con suối và các dãy núi cao do toàn bộ lãnh thổkéo dài theo dãy Trường Sơn
Với vị trí địa lý nêu trên A Lưới có rất nhiều điều kiện thuận lợi nhưngcũng không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội và đảm bảo
Trang 22an ninh quốc phòng Để phát triển A Lưới thành một đô thị sầm uất của vùng núicao biên giới, cần nhanh chóng hình thành các tụ điểm dân cư, dịch vụ trên quốc
lộ 14B, tạo ra kết cấu hạ tầng tốt; mở rộng lưu thông tuyến cửa khẩu Thừa ThiênHuế-Salavan; định canh định cư cho các dân tộc, đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào
áp dụng tại địa phương…
4.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình
Về địa chất: Lãnh thổ A Lưới nằm trong vùng thấp Tây Bình Trị Thiênthuộc dãy Trường Sơn Bắc và được ngăn cách bởi các vùng núi thấp Tây QuảngBình bằng khu vực sụt lún, dấu vết đứt gãy kiến tạo lớn Vì vậy, ranh giới phíabắc của vùng là địa hình 300-400m phân chia vùng này với với vùng Bến Hải-Hướng Hoá Phía đông của lãnh thổ A Lưới được vạch theo bậc địa hình trên300m ngăn cách với vùng đồi Tây Huế Phía Nam ranh giới vùng chạy theo ranhgiới địa chất phân biệt hai khối đá lớn cơ bản là trầm tích hỗn hợp của vùng và
đá Granit của vùng Bạch Mã
Chính sự phức tạo về cấu trúc địa chất đã tạo cho lãnh thổ A Lưới có mộtnền thạch học kẽm đồng chất Trong vùng có 3 nhóm đá chính là: Macma axit,trầm tích hỗn hợp và biến chất Nhóm đá trầm tích hỗn hợp bao gồm các loại đá
và cát bột kết Đây là nhóm đá chiếm diện tích lớn và bổ sung ở trung tâm củavùng Nhóm đá biến chất bao gồm đá phiến sắt, phiến mica và Giơnai Đây lànhóm đá biến chất nhiệt với đá Macma xâm nhập của các khối Granit, có diệntích đáng kể và phân bố ven rìa của các khối Granit ở phía nam cũng như phíaTây Bắc của vùng
Do ảnh hưởng cấu trúc địa chất và vận động kiến tạo mà lãnh thổ A Lưới
có hướng núi chủ yếu là Tây Bắc– Đông Nam, kéo dài từ động Cô Tiên cách cầuĐaKrông khoảng 35km đến động Con Bôn nằm bên tả ngạn sông Hữu Trạch
Về địa hình: Khu vực A Lưới thuộc kiểu địa hình uốn nếp nâng trung bình,
có quá trình bào mòn, xâm thực và phân cách mạnh Độ cao trung bình của lãnhthổ A Lưới là 500-1,000 m, trong quá trình đó có một số đỉnh cao vượt trên1,400m như: Động Ngại (177m), động A So (91,528m), động A Nô (1,485m)
Do kết quả vận động kiến tạo mà hình thành nên ở đây một thung lũng sụt lún A
Trang 23So–A Lưới, chiều dài 25-30km chiều rộng 2-4km và chạy theo hướng Tây Đông Nam Đây là khu vực tập trung dân cư sinh sống chủ yếu của các dân tộc
Bắc-A Lưới
Qua các tài liệu nghiên cứu có 3 dạng phức hệ địa hình chủ yếu là phức hệđịa hình núi, phức hệ địa hình đồi và phức hệ địa hình thung lũng với diện tíchđịa hình được trình bày như bảng 1 :
Qua bảng cho thấy lãnh thổ A Lưới núi trung bình thấp (750-1400m)chiếm đến 46,61 % diện tích lãnh thổ và hiện nay trên hầu hết diện tích này cóthảm thực vật rừng tự nhiên bao phủ Nét đặc trưng của vùng A Lưới là mức độchia cắt sâu lớn (300-4,000m) và mức độ cắt ngang tương đối rõ nét Các bậc độcao trên 1,000m nối liền chạy thành một dãy chạy gần về phía đông tạo nênđường phân thủy của vùng Bề mặt 800-900m chiếm phần lớn diện tích phần TâyBắc là dấu vết của bề mặt san bằng cổ Thung lũng A So –A Lưới nằm ở độ cao500-600m, có địa hình tương đối bằng phẳng dạng bãi bồi hay bậc thềm, tuydiện tích không lớn nhưng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp vàphát triển kinh tế huyện
Bảng 1: Diện tích các nhóm kiểu địa hình
Stt Nhóm kiểu địa hình Diện tích (ha) Tỷ lệ (5%)
Trang 24Có hai mùa rõ rệt: Mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9đến tháng1 năm sau, hàng năm thỉnh thoảng có sương muối và mưa đá vào mùanắng.Thời tiết khí hậu nơi đây mang những nét đặc trưng chung của vùng núi.tuynhiên, nét đặc thù chủ yếu ở đây là sự chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi.nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22-25OC, nhiệt độ cao nhất từ 38,8-40OC tậptrung vào các tháng 4, 5, 6, nhiệt độ thấp nhất là 12OC và thường kết hợp vớimưa vào các tháng 12, 1, 2.
Độ ẩm bình quân hàng năm từ 79,8-81,3 %, độ ẩm thấp nhất từ 60,4%, cao nhất từ 78,6-90,8%, lương bốc hơi là 97,2mm Đặc biệt vào cáctháng 5-7 lượng bốc hơi lên đến 380-460mm
50,2-Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.690 mm, lượng mưa cao nhất là3.240 mm tập trung vào tháng 11, lượng mưa thấp nhất là 1.135 mm vào tháng6,7 Hàng năm vào các tháng 9,10,11 thường có mưa to kéo dài gây ra xói mònmạnh
Gió ở nơi đây được hình thành và thổi theo hướng Tây Bắc, thường xuấthiện vào mùa khô, kèm theo thời tiết nóng vào mùa này các loại cây trồngngừng phát triển và nhiều vùng không canh tác được do thiếu nước ngược lạivào mùa mưa nhiệt độ thấp, mưa kéo dài đôi khi kèm theo lũ lụt gây thiệt hại chocon người và sản xuất ở đây
4.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Đặc điểm dân số và lao động
A Lưới là Huyện miền núi có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, dân tộcKinh; Tà ôi; K Tu chiếm đa số, còn lại các dân tộc khác như Tày, Mường, Thái,Nùng, Bru, Vân Kiều, Lào, … chiếm tỷ lệ thấp Dân số của Huyện tính đến cuốinăm 1999 là 34.686 người
Số nữ của Huyện là 17,419 người chiếm tỷ lệ 50.2% dân số, nam là 17,267người chiếm 49.8% dân số của Huyện
Dân số nông thôn của Huyện là 29,736 người chiếm tỷ lệ 86.2% dân số,thành thị là 4,950 người chiếm tỷ lệ 13.8% dân số của Huyện
Trang 25Số người trong độ tuổi lao động là14,645 người chiếm 42.6% dân sốHuyện.
Mật độ dân số Huyện là 28 người/km2 so với mật độ dân số tỉnh là 207người/km2 thì mật độ dân số Huyện là rất thấp Tuy vậy mật độ dân số trên địabàn Huyện phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính xã, tập trung cao nhấtvào thị trấn A Lưới với mật độ dân số 396 người/km2, và xã Hồng Quảng 336người/km2, xã A Ngo 275 người/km2, trong khi đó mật độ dân số một số xã lạirất thấp như xã Hương Nguyên, Hương Phong 5 người/km2, Hồng Hạ 8người/km2
b) Thu nhập và đời sống người dân
Theo số liệu điều tra thực trạng nghèo đói trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huếcủa các ngành chuyên môn thì Huyện A Lưới có số hộ nghèo hơn 60% so vớitổng số hộ chung toàn Huyện (chủ yếu là đồng bào dân tộc) trong khi đó tỷ lệnày trên toàn tỉnh là Thừa Thiên Huế chỉ có 16.94% Mức thu nhập của các hộnghèo trên địa bàn Huyện rất thấp: số hộ có thu nhập dưới 55,000 đ/tháng chiếm37.56%, dưới 70,000 đ/tháng chiếm 16.05% so với tổng số hộ nói chung Điềunày chứng tỏ A Lưới là Huyện miền núi hết sức khó khăn, đời sống người dângặp nhiều túng thiếu, các hoạt động kinh tế hay sự phát triển nền kinh tế chưathực sự đảm bảo được cuộc sống sinh hoạt và nhu cầu của sự tăng trưởng kinhtế
4.1.5 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Trên địa bàn Huyện A Lưới giao thông chủ yếu là đường bộ như quốc lộ 14Người dân, quốc lộ 49 đi ngang qua xuyên suốt chiều dọc ngang của huyện tạothành trục xương chính cho hệ thống giao thông của Huyện Tuy nhiên do địahình đồi núi phức tạp, lảnh thổ bị chia cắt, dân cư phân bố nhiều nơi không tậptrung nên đã gây ra không ít khó khăn cho phát triển giao thông Mặc dù vậytrong những năm qua giao thông của Huyện vẫn có sự chuyển biến tốt ToànHuyện đã có 20/21 đường ô tô đi đến các trung tâm, trong đó 13 xã được đầu tưhàng năm và đã làm mới 52.4 km đường đi và đến các khu vực sản xuất
Trang 26b) Thuỷ lợi
Công tác xây dựng các công trình thuỷ lợi trong những năm qua bước đầuphát triển và củng cố Song nhìn chung hệ thống thuỷ lợi trên địa bàn Huyện cònthiếu, yếu kém, không đồng đều trên các khu vực sản xuất Hệ thống thuỷ lợitưới tiêu kiên cố chỉ chiếm khoảng 1/3 so với các công trình thuỷ lợi tạm, tất cảcác công trình thuỷ lợi mới cung cấp tưới cho 300 ha, số diện tích còn lại phụthuộc vào hệ thống tưới tiêu khác hoặc tự nhiên
c) Xấy dựng
Trong những năm qua bằng nhiều nguồn vốn đầu tư, hổ trợ của trung ương,tỉnh, các tổ chức nước ngoài và một phần đóng góp của nhân dân, tổng kinh phíđầu tư trên địa bàn Huyện A Lưới là 35,117 triệu đồng, trong đó vốn của trungương, tỉnh chiếm 84.89%, các tổ chức nước ngoài chiếm 14.49%, đóng góp củanhân dân là 0.03% Một số công trình trọng điểm như: điện, đài truyền thanh,truyền hình, giáo dục, y tế và các công trình phúc lợi công cộng,… đã được tậptrung xây dựng
4.2 Khái quát tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng đang hoạt động trên địa bàn
4.2.1 Các chương trình tín dụng đã và đang hoạt động tại A Lưới từ
2001 đến nay
Nhằm mục đích phát triển vùng kinh tế miền núi biên giới theo kịp đà pháttriển chung của cả nước và đáp ứng nhu cầu về vốn của người dân nhất là ngườinghèo và người dân tộc thiểu số, các chương trình và tổ chức tín dụng đã thànhlập và phát triển khá mạnh Mỗi tổ chức, chương trình tín dụng có cách thức hoạtđộng, quy chế tín dụng khác nhau đã tạo cho hoạt động tín dụng Huyện A Lướikhá đa dạng và phong phú về quy mô và phương thức cho vay Các thành phầntham gia vào thị trường vốn nông nghiệp nông thôn ở huyện A Lưới gồm các tổchức, chương trình tín dụng sau:
- Tổ chức tín dụng của nhà nước: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy
định luật của các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt
Trang 27động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sửdụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Điều đặc biệt làcác tổ chức tín dụng này có nguồn vốn từ nhà nước Huyện A Lưới tổ chức tíndụng nhà nước gồm có:
+ Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện A Lưới
+ Ngân hàng Chính sách Ngân hàng này gồm 3 nguồn chính là: 120 (tạocông ăn việc làm), WB3 (ngân hàng thế giới), và Ngân hàng phục vụ ngườinghèo
- Tổ chức tín dụng phi chính phủ: Là các tổ chức, chương trình tín dụng
mà được thành lập và phát triển bởi các cá nhân, tổ chức phi chính phủ và được
sự quản lý của nhà nước Các chương trình tín dụng này thường được lồng ghépvào các dự án, hoặc phục vụ cho các dự án đang hoạt động tại Huyện.Ở Huyện
A Lưới từ năm 2001 đến nay các tổ chức, chương trình tín dụng phi chính phủgồm: NAV, ICCO, Tầm nhìn, Dự án CORENAM
4.2.2 Hệ thống quản lý của các chương trinh tín dụng đã hoạt động tại Huyện A Lưới từ năm 2001 đến nay
Nếu chúng ta dựa vào sự khác biệt về hệ thống quản lý để phân biệt giữacác tổ chức, chương trình tín dụng thì ở Huyện A Lưới chúng ta có thể chia làm
2 loại
Một là, tổ chức, chương trình tín dụng cho vay với hình thức thế chấp, phục
vụ cho mọi đối tượng miễn là họ đáp ứng được điều kiện vay vốn Đặc điểmchung cảu những tổ chức, chương trình tín dụng này là không có sự tham giahoặc tham gia rất ít của các tổ chức Hội, Đoàn thể địa phương và thủ tục vay rấtđơn giản Hình thức này ở Huyện A Lưới có Ngân hàng Nông Nghiệp và PhátTriển Nông Thôn
Hai là, các tổ chức, chương trình tín dụng cho vay với hình thức tín chấp,đối tượng phục vụ chính chủ yếu là người nghèo và người dân tộc thiểu số Đặcđiểm chung trong hệ thống quản lý của những tổ chức, chương trình tín dụng này
là điều có sự tham gia phối hợp của các tổ chức Hội, Đoàn thể địa phương, vàthủ tục vay phức tạp hơn Ở Huyện A Lưới những tổ chức, chương trình tín dụng
Trang 28thuộc loại này gồm: Ngân hàng Chính sách, ICCO, Tầm nhìn, CORENAM,ADB (dự án đa dạng hóa nông nghiệp).
4.2.3 Mối quan hệ của các tổ chức tín dụng với hộ vay vốn
Mối quan hệ giữa các tổ chức, chương trình tín dụng với người dân ở Huyện
A Lưới thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức, chương trình tín dụng với người nông dân ở Huyện A Lưới
Ghi chú: : Vay vốn
: Gửi tiết kiệm
[Nguồn: Thảo luận nhóm cán bộ tín dụng địa phương]
Qua sơ đồ chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa các tổ chức, chương trìnhtín dụng với các hộ nông dân Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển NôngThôn Huyện A Lưới là tổ chức tín dụng sử dụng kênh cho vay trực tiếp với hộnông dân không thông qua các tổ chức Hội, Đoàn thể Còn tất cả các tổ chức,chương trình tín dụng còn lại điều thông qua các tổ chức Hội, Đoàn thể để chovay cũng như mở rộng mạng lưới của mình đến các hộ nông dân Với Ngân hàngChính sách, ICCO, Tầm Nhìn, CORENAM cho vay hộ nông dân thông qua các
tỏ chức Hội, Đoàn thể vì đối tượng cho vay của họ là các hộ nghèo, bản thân họkhông có tài sản thế chấp để vay vốn sản xuất Vì vậy phải cho vay theo hình
Hộ nông dân vay vốn
Các tổ chức, đoàn thể xã hội
Trang 29thức thông qua các tổ chức Hội, Đoàn thể ở từng xã, từng thôn, xóm để kiểm traxác nhận Việc cho vay thông qua các tổ chức Hội, Đoàn thể có ý nghĩa vô cùngquan trọng đối với các tổ chức, chương trình tín dụng vì: các tổ chức, chươngtrình tín dụng này không có đủ lực lượng nhân viên quản lý, giám sát dàn trảitrên nhiều địa bàn phân tán Và trong chừng mực chi phí quản lý có giới hạn nhấtđịnh mà vẫn phải đảm bảo duy trì hoạt động có hoạch toán kinh tế lâu dài củachương trình Thông qua các tổ chức Hội, Đoàn thể mà có thể tăng cường sự tiếpcận của tổ chức tín dụng đến các đối tượng vay vốn, giảm chi phí, nâng cao đượcchất lượng hoạt động dịch vụ tín dụng
4.2.4 Cơ chế quản lý của các chương trình tín dụng
4.2.4.1 Hệ thống quản lý
a) Ngân hàng NN&PTNT
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn là một trong những ngânhàng của nhà nước, cho vay với hình thức thế chấp và phục vụ cho tất cả các đốitượng trên địa bàn Huyện
Cơ cấu tổ chức tín dụng là sự bố trí, phân công trách nhiệm, quyền hạn củanhững đối tượng tham gia trong một nghiệp vụ tín dụng Các bên tham gia trongmột tổ chức, chương trình tính dụng sẽ có vai trò nhất định và có sự ảnh hưởngnhất định cho từng hoạt động tín dụng Các chương trình, tổ chức tín dụng khácnhau thường có hệ thống khác nhau Sự khác nhau đó tùy vào đối tượng cho vay,mục đích vay, hình thức tín dụng,…Các tổ chức chương trình tín dụng đang hoạtđộng tại A Lưới có hệ thống quản lý như sau:
Sơ đồ 2: Mô hình quản lý của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tại huyện Nam Đông
NHNN&PTNT
UBNDXãCộng tác viên
Trang 30Sơ đồ trên biểu diễn mối quan hệ trực tiếp giữa Ngân hàng Nông Nghiệp vàPhát Triển Nông Thôn và hộ vay vốn Trong mối quan hệ này có sự chứng nhậncủa UBND xã và có sự tham gia chỉ đường của người dân địa phương hay còngọi là cộng tác viên.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn là một tổ chức tín dụngchính thức hoạt động rất rộng trên cả nước Cho vay với hình thức thuế chấp vàlãi suất cao hơn những ngân hàng và tổ chức tín dụng khác dang hoạt động tạiHuyện A Lưới Đây được xem là ngân hàng có cơ cấu tổ chức đơn giản nhất tạiHuyện A Lưới Với ngân hàng này thì mọi đối tượng có thể tiếp cận nguồn vốnmột cách dễ dàng nếu tài sản thế chấp đủ Lượng vốn vay và thời gian vay thìphụ thuộc vào giá trị tài sản thuế chấp và lượng vốn vay Tuy Ngân hàng NôngNghiệp và Phát Triển Nông Thôn có lãi suất cao hơn những chương trình tổ chứctín dụng khác nhưng người dân vẫn thích vay ngân hàng này hơn vì nhiều lý dotrong đó có thủ tục vay vốn đơn giản
Qua mô hình 2 ta thấy tham gia trong Ngân hàng Nông Nghiệp và PhátTriển Nông Thôn gồm có: UBND xã, và Cộng tác viên
Vai trò của UBND xã trong Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển NôngThôn không lớn lắm, không có vai trò quyết định, xét hộ vay vốn như của các tổchức, chương trình tín dụng khác UBND xã tham gia vào hệ thống quản lý củaNgân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn với vai trò là chứng nhận sựhình thành quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển NôngThôn với người đi vay, thực hiện các thủ tục hành chính khi xảy ra tranh chấpgiữa các bên tham gia trong quan hệ tín dụng Và UBND xã cũng không cóquyền lợi gì trong quá trình cho vay vốn của Ngân hàng Nông Nghiệp và PhátTriển Nông Thôn, họ làm việc như một trách nhiệm bắt buộc của một cơ quanhành chính
Cộng tác viên là những người dân am hiểu tường tận về địa phương Họđược chọn để làm nhiệm vụ dẫn đường, cung cấp một số thông tin sơ bộ về hộcần vay vốn Người làm cộng tác viên không có định và tuỳ thuộc và địa bàn mà
Trang 31có hộ cần vay vốn của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Vềquyền lợi của cộng tác viên cũng không lớn lắm, họ được trả công tuỳ theo sốthời gian tham gia, và thường là 15.000 đ/buổi.
b) Ngân hàng Chính sách
Đây cũng là một ngân hàng của nhà nước, có nguồn vốn của nhà nướcnhưng là ngân hàng của người nghèo và cho vay với hình thức tín chấp Hệthống quản lý khá phức tạp và có sự tham gia, phối hợp cả nhiều tổ chức Hội,Đoàn thể, cơ quan
Sơ đồ 3: Mô hình quản lý của Ngân hàng Chính sách ở Huyện A Lưới
Sơ đồ trên thể hiện cơ chế quản lý của Ngân hàng Chính sách, Ngân hàngChính sách có mối quan hệ cho vay vốn gián tiếp với hộ vay vốn thông qua cácnhiều tổ chức Đoàn, Hội ở địa phương Và các tổ chức trung gian này đóng vaitrò rất quan trọng trong hệ thống quản lý, cũng như hiệu quả hoạt động của Ngânhàng Chính sách
Hội nông dân, phụ nữ huyện
Hội nông dân phụ nữ xã
Nhóm tín dụng
Hộ vay
UBND xãNHCS
Trang 32Đối tượng vay chính của Ngân hàng Chính sách là hộ nghèo và trung bình.Đây là những đối tượng thường không có tài sản thế chấp, có nhu cầu về vốn đểduy trì và mở rộng quy mô sản xuất
Đây là một mô hình tín dụng tương đối phức tạp so với những chương trình
tổ chức và gây không ít khó khăn cho người vay vốn, có sự tham gia của nhiều tổchức, hội Và vai trò của các tổ chức được phân công khác nhau bổ sung chonhau nhưng trong quá trình hoạt động không tránh được trương hợp chồng chéovai trò nhiệm vụ Trong mô hình có sự tham gia của Hội nông dân, phụ nữHuyện; Hội nông dân, phụ nữ xã; nhóm tín dụng và UBND xã.Các tổ chức Hội,Đoàn thể địa phương có vai trò, nhiệm vụ và quyền lợi như sau:
Còn bên Ngân hàng Chính sách thì có tác động, ảnh hưởng đến cả huyệnđội Nếu UBND xã không ký duyệt thì không thể thực hiện thủ tục vay vốn VàUBND xã có trách nhiệm cao hơn vì công việc này là một phần trách nhiệm củachính họ
Hội phụ nữ, hội nông dân:
Xác nhận đơn vay
Trang 33Hướng dẫn viết hồ sơ
Thúc đẩy thành lập nhóm
Kết hợp với ngân hàng thẩm định hộ vay
Đôn đốc, theo dõi việc thu hồi vốn, lãi, tiết kiệm
Báo cáo tình hình hoạt động cho huyện đội hàng tháng
Về quyền lợi họ được tham gia tập huấn nâng cao trình độ, hưởng 8% củalãi suất thu được để chi phí cho các hoạt động thu hồi vốn lãi
Nhóm tín dụng: số người tùy thuộc và thường từ 5 đến 15 người
Thu hồi vốn, lãi, tiết kiệm thu được nộp cho huyện hội theo tháng
Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn của hộ vay
Về quyền lợi: ngoài việc được ưu tiền trong quá trình vay vốn, họ đượchưởng 10% lãi thu được từ các hộ vay
Ngân hàng Chính sách có những mặt mạnh như sau:
Gắn trách nhiệm về tín dụng cho các tổ chức hành chính địa phương ở đây
là UBND xã như là một trách nhiệm bắc buộc, có trong nhiệm vụ cần hoàn thànhcủa nhà nước Từ đó sẽ thức đẩy được sự làm việc có trách nhiệm, làm hết mìnhcủa các tổ chức
Thứ hai là Ngân hàng Chính sách đã gắn quyền lợi của những bộ phận cóliên quan với kết quả họ đạt được như là : hội phụ nữ, hội nông dân được hưởng8% lãi suất, nhóm tổ được hưởng 10% lãi suất Nếu các bộ phận muốn có nhiềulợi ích thì sẽ tích cực hoạt động hơn nữa và hiệu quả của công việc cũng là lợiích của chính họ
Mặt yếu kém: Bộ máy trở nên rờm rà khi có mặt của huyện hội, trong khivai trò huyện hội cho hiệu quả chung không nhiều Vì có huyện hội cho nên thủtục vay và thời gian chờ giải ngân vốn dài hơn Đó là mặt không tốt
c) Dự án CORENAM.
Đây là chương trình tín dụng của tổ chức phi chính phủ, tuy nhiên trong cơchế quản lý thì chương trình này khác với các chương trình tín dụng của các tổchức phi chính phủ khác là quá trình hoạt động chia là hai giai đoạn Đó là: giaiđoạn dự án chưa kết thúc và giai đoạn sau khi dự án kết thúc
Trang 34- Giai đoạn dự án chưa kết thúc: Trong giai đoạn này bộ máy tồn tại đồng
thời hai ban quản lý: một là Ban quản lý dự án xã, hai là ban quản lý quỹ
Ban quản lý DA xã: đây là bộ phận chỉ tồn tại và hoạt động khi mà dự ántồn tại Khi dự án kết thúc thì bộ phận này cũng không còn nữa và mọi quyềnhạn giao cho ban quản lý quỹ Và ban này có nhiệm vụ là hộ trợ và chuyển dầndần trách nhiệm quản lý vốn cho ban quản lý quỹ
Thành phần ban gồm:
Trưởng ban: chủ tịch hội phụ nữ xã
Phó ban: Phó bí thư xã
Kế toán: thống kê kế hoạch
Ban quản lý quỹ: Trong giai đoạn này ban quản lý quỹ đóng vai tròkhông cao Trong quá trình hoạt động của dự án thì vai trò, trách nhiệm của banquản lý quỹ dần dần nâng lên và dần thay thế ban quản lý dự án xã
Thành phần ban quản lý quỹ gồm:
Trưởng ban: Chủ tịch hội phụ nữ xã
Kế toán: Đại diện tổ sản xuất (ở đây là tổ dệt dèn)
Thủ quỹ: Đại diện nhóm dệt dèn
Mô hình quản lý của dự án CORENAM khi dự án chưa kết thúc
Sơ đồ 4: Mô hình quản lý của dự án CORENAM tại Huyện A Lưới khi
dự án chưa kết thúc
Ban quản lý DA xãBan quản lý quỹnhóm
Hộ vay
UBND xãCORENAM
Trang 35Giai đoạn dự án kết thúc: Trong giai đoạn này thì ban quản lý dự án xã sẽ
giải tán Lúc này thì ban quản lý quỹ đã có đủ kinh nghiêm và kỹ năng để thaythế ban quản lý dự án xã Bộ phận này tồn tài và hoạt động vĩnh viễn ngay cảkhi dự án kết thúc Khi dự ác kết thúc thì vốn vay sẽ do ban này nắm giữ Và banchịu sự giám sát của UBND xã Thành phần trong ban vấn không thay đổi
d) Các chương trình tín dụng của các tổ chức phi chính phủ
Trong cơ cấu tổ chức, tất cả các tổ chức, chương trình tín dụng tín dụngđiều có sự tham gia của các tổ chức Hội, Đoàn thể địa phương Các tổ chức Hội,Đoàn thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định đối tượng, xét duyệt
hộ vay, giải ngân, thu hồi vốn lãi Trong các tổ chức, chương trình tín dụng thìthành viên của hội phụ nữ cùng với những thành viên của UBND xã thành lậpBan quản lý vốn gọi là ban quản lý dự án Ban này sẻ thay thế vĩnh viễn tổ chức,chương trình tín dụng khi mà dự án kết thúc
Sơ đồ 5: Hệ thống quản lý của các chương trình tín dụng của các tổ chức phi chính phủ:
Sơ đồ trên thể hiện cơ chế quản lý của các chương trình tín dụng của các tổchức phi chính phủ đang hoạt động tại Huyện A Lưới và sự tham gia cảu các tổchức Đoàn, Hội địa phương.Vai trò của các bên tham gia trong mô hình này nhưsau:
Tổ chức, chương trình tín dụng
Nhóm tíndụngBan quản lý DA
Hộ vay
UBND xã
Trang 36 UBND xã, có vai trò thẩm định đối tượng vay, xác nhận thủ tục vay vốngiưa hai bên, thực hiện các thủ tục hành chính.
Hội phụ nữ, hội nông dân, có vai trò chính trong các tổ chức, chươngtrình tín dụng này Thường hội phụ nữ, hội nông dân có vai trò sau: xác nhậnđơn vay vốn của hộ nông dân; hướng dẫn viết hồ sơ xin vay vốn cho hộ nôngdân; thúc đẩy sự thành lập nhóm, chi hội; kế hợp với ngân hàng, UBND xã thẩmđịnh hộ vay; đôn đốc, theo dõi việc thu hồi vốn lãi; báo cáo tình hình hoạt độngtín dụng cho các cấp trên,…
Nhóm, chi hội có số người thường từ5 đến 15 người và có vai trò:
Thu hồi vốn,lãi,tiết kiệm thu được nộp cho huyện hội, hội phụ nữ nôngdân xã theo tháng hoặc quý
Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn của hộ vay
Đối tượng phục vụ chủ của những tổ chức, chương trình tín dụng này chủyếu là hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số, với mức lãi suất ưu đãi Đây thật sự là cácchương trình giành cho ngươi nghèo, người nghèo được ưu tiên hơn, tiếp cận dễdàng hơn trong quá trình vay vốn
4.2.4.2 Quy chế tín dụng của các chương trình