Theo Muhammad2004 trong nghiên cứu về “Rural-urban migration” đã chỉ ra rằng, các nhómyếu tố tích cực Pull factors ảnh hưởng đến di cư lao động từ nông thôn rathành thị bao gồm: cơ hội n
Trang 1Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành trong quá trình thực tập tại xã Vinh Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế Đó là sự kết tinh những kiến thức và kinh nghiệm thực tế mà bản thân tôi đã tích lũy được cùng với sự giúp đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè, những người che chở, nuôi dưỡng tôi trưởng thành, cho tôi biết điều hay lẽ phải và mang đến cho tôi những hành trang kiến thức để bước vào đời.
Đầu tiên tôi xin gửi lời tri ân đến thầy giáo Hồ Lê Phi Khanh, người thầy đã tận tâm chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Xin cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Vinh Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tôi những số liệu cũng như những kinh nghiệm thực tế quý báu, cảm ơn quý thầy
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế đã dày công dìu dắt và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè và những người đã giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian qua
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã có nhiều nổ lực để hoàn thành khóa luận đảm bảo nội dung khoa học, phản ánh đúng thực tế tại địa phương Song do khả năng, kiến thức, và thời gian có hạn đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự thông cảm và sự góp ý chân thành từ phía thầy cô và bạn bè để khóa luận hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà My
Trang 2PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong hai thập kỷ vừaqua đặc trưng bởi những chính sách cải cách kinh tế, mở cửa nền kinh tế vàchuyển sự vận hành các quan hệ kinh tế theo hướng thị trường Tăng trưởngkinh tế và sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô đã khẳng định tính đúngđắn của chính sách đổi mới Cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theohướng công nghiệp hóa; xu hướng này thể hiện đặc biệt rõ hơn trong 10 nămtrở lại đây Tỷ trọng nông nghiệp trong tổng GDP của cả nước giảm dần, từ27,18% năm 1995 xuống 24,37% năm 2000 và 21,76% vào năm 2004 Ở khuvực nông thôn, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ
Tỷ trọng các ngành nghề phi nông nghiệp đã tăng lên rõ rệt, đóng góp nhiềuvào cải thiện và đa dạng hóa thu nhập của người dân
Đi liền với thay đổi về cơ cấu kinh tế trong nông thôn là sự biến đổi về
cơ cấu của lực lượng lao động trong đó tập trung vào vấn đề di cư lao động từcác vùng nông thôn ra thành thị Nguyên nhân của vấn đề này có thể đượcxem xét là do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở nông thôn cao hơn ở khu vực thànhthị kết hợp với tốc độ tăng việc làm ở nông thôn chậm hơn đã dẫn đến cànglàm tăng sức ép về việc làm ở khu vực nông thôn Thêm vào đó, năng suất laođộng trong nông nghiệp thấp, đất đai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp docác nhu cầu về phát triển các khu công nghiệp, các khu đô thị càng làm chothời gian nông nhàn tăng lên và sức ép về việc làm càng thêm gay gắt
Xã Vinh Hải là một xã bãi ngang ven biển thuộc huyện Phú Lộc, tỉnhThừa Thiên Huế, với hoạt đông sản xuất chủ yếu là nông nghiệp và ngưnghiệp Nơi đây, hiện tượng di cư lao động đã diễn ra hết sức mạnh mẽ trongthời gian gần đây, hiện nay toàn xã có đến 75% trên tổng số hộ trong xã cócon em di cư vào miền Nam làm việc Tuy nhiên, lực lượng di cư ở đây chủyểu là lao động trẻ, phần lớn chưa qua đào tạo nghề, trình độ văn hóa còn hạn
Trang 3học cơ sở Hiện nay, tỷ lệ di cư trên toàn xã có xu hướng tăng qua các năm,
và tập trung chủ yếu tới thành phố Hồ Chí Minh với các công việc chủ yếunhư lái xe, phụ thợ nề, may mặc, may dày da, giúp việc nhà Việc di cư nàygiúp mang lại một công việc ổn định và nguồn thu nhập để cải thiện mức sốngcho lao động di cư Có thể thấy rõ ràng rằng, di cư lao động bao gồm 2 mặtcủa một quá trình, một mặt di cư lao động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội, góp phần phân bổ lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động, giảiquyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, là một bộ phận của chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội bền vững Kinh tế phát triển, quá trình đô thị hoá, công nghiệphoá, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế diễn ra nhanh chóng cùng với chính sách
mở cửa, hội nhập dẫn đến việc di cư nội địa và ra nước ngoài tăng lên Tuynhiên, chính việc di cư từ nông thôn lên thành thị lại gây nên áp lực dân sồ ởthành thị, hạn chế sản xuất nông nghiệp tại địa phương Mặt khác nó còn dẫnđến các vấn đề xã hội như thiếu việc làm, ánh hưởng đến trật tự trị an Bêncạnh đó, di cư quá mực còn gây hiện tương thiếu lao động ở nông thôn(nơiđi), lao động di cư cũng là nhóm người dễ bị tổn thương và bị lạm dụng nhưđiều kiện sống không đảm bảo, bị bóc lột sức lao động, buôn lán, lừa đảo, bịảnh hưởng của tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, lây nhiễm HIV/AIDS Do
đó cần phải xác định một tỷ lệ di cư lao động phù hợp cho mỗi vùng Để hiểu
rỏ hơn về thực trang và các yếu tổ ảnh hưởng đến di cư trên địa bàn nên tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động
trên địa bàn xã Vinh Hải - huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị tại điểmnghiên cứu
Xác định các yếu tố đóng vai trò tích cực thúc đẩy vấn đề di cư lao độngtrên địa bàn nghiên cứu
Xác định các yếu tố đóng vai trò tiêu cực ảnh hưởng đến vấn đề di cư laođộng trên địa bàn nghiên cứu
Trang 4PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm di cư lao động
Thực tế hiện đang tồn tại nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về laođộng, việc làm nông thôn và di cư lao động nông thôn, đã có những khái niệmtương đối rõ và dễ dàng được chấp thuận, nhưng cũng còn những khái niệmcòn đang gây nhiều tranh cãi Trong đó di cư thường được hiểu là chuyển đếnmột chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng cách đủ lớn, buộc người di cư phảithay đổi hộ khẩu thường trú, chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh kháchay một nước khác [7] Như vậy theo khái niệm trên, hoạt động thay đổi chỗ
ở của con người chỉ được gọi là di cư khi nó đảm bảo đuợc hai điều kiện sau:Thứ nhất, chỗ ở cũ và chỗ ở mới phải có một khoảng cách nhất định và đủlớn Nó khác với tái định cư, tái định cư cũng là sự thay đổi chỗ ở nhưng chỗ
ở cũ và mới đôi lúc chỉ cách nhau vài chục mét, một quả đồi hay là một thôn
Thứ hai, người thay đổi chỗ ở phải kèm theo sự thay đổi về hộ khẩu thường
trú, tức là phải đăng ký để địa phương mới quản lý
Đề tài này không đi sâu vào phân tích nhằm đưa ra một khái niệm mới liênquan đến di cư lao động nông thôn mà chỉ đề cập đến khái niệm đã và đangđược sử dụng hiện nay để có một cách hiểu thống nhất trong toàn bộ báo cáo.Các hoạt động tại một địa phương có thể được chia thành 2 loại phụ: (a) tạinhà và (b) không ở tại nhà nhưng vẫn tại địa phương Các hoạt động xa nhàcũng được chia thành 2 loại (a) làm tại các thành phố khác, nước khác và (b)các vùng nông thôn khác Trong nghiên cứu này lao động di cư được hiểu làngười có thời gian đi ra khỏi địa phương (tỉnh) từ 6 tháng trở lên [5] Laođộng di cư có thể là di cư nông thôn ra thành thị, nông thôn-nông thôn Mộtthực tế không rõ ràng trong cách phân loại hiện nay là lao động di cư ra cáckhu công nghiệp lớn ở ngoại ô (ví dụ lao động di cư từ nông thôn ở Thái Bình
ra làm việc tại các khu công nghiệp ở Gia lâm Hà Nội) mặc dù là ngoại ô
Trang 5sinh họat, chi tiêu, dịch vụ đời sống…Trong nghiên cứu này những lao động
di cư như thế đuợc xếp vào di cư nông thôn thành thị Như vậy lao động địaphương sẽ là những người còn lại, không di chuyển ra khỏi địa phương hoặc
có thời gian di chuyển ít hơn 6 tháng hoặc di chuyển nhưng trong nội tỉnh
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động nông thôn- thành thị
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề di cư lao động từ nông thôn rathành thị, tuy nhiên các yếu tố này có thể được phân thành 2 nhóm là yếu tốtích cực ( Pull factors) và yếu tố tiêu cực ( Push factors) Theo Muhammad(2004) trong nghiên cứu về “Rural-urban migration” đã chỉ ra rằng, các nhómyếu tố tích cực (Pull factors) ảnh hưởng đến di cư lao động từ nông thôn rathành thị bao gồm: cơ hội nghề nghiệp tốt hơn, tiền lương cao hơn, có cơ hộithăng tiến, môi trường xã hội, chất lượng sống cao hơn, tương lai hơn cho concái của những lao động di cư và được đào tạo nghề tại những nơi làm việc.Liên quan đến nhân tố tiêu cực (Push factors) bao gồm: số nhân khẩu tronggia đình, mức thu nhập bình quân của hộ, không tiếp cận được các dịch vụ cơbản, thiếu cơ hội phát triển kinh tế của gia đình [21] Tuy nhiên cũng phảithấy rằng, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến di cư lao động cần xemxét cụ thể bối cảnh của từng quốc gia và khu vực Xuất phát từ lí do đó, việcxem xét các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động nông thôn làm cơ sở nghiêncứu cho đề tài này xuất phát từ thực tế của vùng nông thôn Việt Nam Như đã
đề cập, trọng tâm của nghiên cứu này là việc xem xét yếu tố tác động đến quátrình di cư lao động từ nông thôn ra thành thị Mối liên kết hai khu vực ở trên,
về mặt bản chất có thể cho phép đưa ra các yếu tố tác động đến dòng chuyểndịch lao động này Sự thay đổi của các yếu tố bao hàm trong sơ đồ cũng như
sự thay đổi về mức độ liên kết giữa chúng đều có thể dẫn việc chuyển dịchlao động giữa hai khu vực [16] Ví dụ, sự phát triển của khu vực phi nôngnghiệp sẽ làm gia tăng nhu cầu lao động cho khu vực này Năng suất lao độngtăng cao trong khu vực phi nông nghiệp sẽ tăng mức hấp dẫn về mặt thu nhậpđối với lao động nông nghiệp chuyển sang nhưng cũng có thể làm hạn chế laođộng di chuyển do nhu cầu lao động phi nông nghiệp ít đi (giả sử rằng nhucầu sử dụng sản phẩm phi nông nghiệp là không đổi họăc thay đổi chậm hơnvới tốc độ thay đổi của năng suất) Các hạn chế trong khu vực sản xuất nông
Trang 6nghiệp (đất đai, năng suất cây trồng vật nuôi…) sẽ làm cho lao động nôngnghiệp dư thừa và có nhu cầu chuyển dịch sang khu vực khác Trong nhữngnăm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới một mô hình khác về các yếu tốtác động tới quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động Mô hình này chorằng hộ gia đình quyết định tham gia vào họat động phi nông nghiệp là do hainhóm yếu tố khác nhau “kéo” và “đẩy” lao động vào họat động phi nôngnghiệp Reardon (1997) đưa ra các nhân tố “đẩy” sau đây: (1) tăng trưởng dân
số, (2) tăng sự khan hiếm của đất có thể sản xuất, (3) giảm khả năng tiếp cậnvới đất phì nhiêu, (4) giảm độ màu mỡ và năng suất của đất, (5) giảm cácnguồn lực tự nhiên cơ bản, (6) giảm doanh thu đối với nông nghiệp, (7) tăngnhu cầu tiền trong cuộc sống, (8) các sự kiện và các cú sốc xảy ra, (9) thiếukhả năng tiếp cận đối với các thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp,(10) thiếu vắng các thị trường tài chính nông thôn Hơn nữa, ông cũng gợi ýcác nhân tố “kéo” sau đây: (1) doanh thu cao hơn của lao động phi nôngnghiệp, (2) doanh thu cao hơn khi đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp, (3) rủi
ro thấp hơn của khu vực phi nông nghiệp so với khu vực nông nghiệp, (4) tạo
ra tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của gia đình và (5) nhiều cơ hộiđầu tư Tóm lại, nhân tố “kéo” đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực phi nôngnghiệp đối với người nông dân Nhân tố đẩy liên quan đến áp lực hoặc cáchạn chế của khu vực nông nghiệp buộc nông dân tìm kiếm thu nhập khác nếu
họ muốn cải thiện các điều kiện sống của mình
Quan hệ “kéo” và “đẩy” đưa ra một khung khổ tương đối toàn diện choviệc xác định sự tham gia của hộ nông dân vào các hoạt động phi nôngnghiệp Tuy nhiên công cụ này chỉ phân tích cùng lao động của hộ Về mặtthực tiễn, hai hộ gia đình có các điều kiện giống nhau nhưng ở hai vùng địa lýkhác nhau có thể có các phản ứng khác nhau Nói cách khác, các đặc điểmcủa vùng cũng ảnh hưởng đến sự tham gia hoạt động phi nông nghiệp của hộnông dân Thêm vào đó còn có những yếu tố của chính bản thân người laođộng Điều này giải thích tạo sao hai người có cùng điều kiện như nhau nhưnglại chọn cách phản ứng khác nhau khi tham gia vào họat động phi nôngnghiệp
Trang 7Cũng như mô hình về mối liên kết giữa hai khu vực, một điểm khá quantrọng trong quan hệ “kéo” và “đẩy” là sự giao thoa giữa hai nhóm yếu tố.Thực tế, có những yếu tố khó có thể ghép vào quan hệ “kéo” hay “đẩy” Bởi
vì, ở một quy mô nhất định nó là yếu tố "kéo", nhưng ở một quy mô khác nólại là yếu tố “đẩy”
2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu di cư lao động nông thôn thành thị
-2.2.1 Tình hình về số lượng lao động và việc làm ở nông thôn
Cho đến năm 2004, dân số của Việt Nam đã đạt tới mức 82 triệu dântrong đó dân số nông thôn là 60,4 triệu người Vì vậy về cơ bản xã hội ViệtNam vẫn là một xã hội nông thôn với dân số nông thôn chiếm 73,68% Cơcấu dân số nông thôn của Việt Nam khá trẻ nên lực lượng lao động nông thôntiếp tục tăng với quy mô khá lớn khoảng 0,5 triệu người/năm trong giai đoạn1996-2004 và hậu quả dẫn đến là áp lực việc làm trong nông thôn ngày cànglớn [14] [15] Số liệu cơ bản về dân số và số lượng lao động nông thôn đượctrình bày ở đồ thị 1
Đồ thị 1: Dân số và lao động nông thôn cả nước
73,68 77,34
78,92 76,85 76,39 75,82 75,26 74,89 74,2
54,07 52,14
Dan số NT Lao động NT Dân số NT/Cả nước LĐ/dân số NT
(Nguồn: Niên giám thống kê 2000,2004; Số liệu thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam)
Đồ thị cho thấy, về giá trị tuyệt đối, dân số nông thôn thay đổi rất ít saugần 10 năm, tăng nhẹ từ 57.7 triệu lên 60.4 triệu năm 2004 Tỷ trọng dân sốnông thôn trong tổng dân số có xu hướng giảm dần, tuy nhiên mức độ giảmcũng không lớn (trên 5%) Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm tỷ lệ dân nông
Trang 8thôn là do quá trình đô thị hóa làm cho các vùng nông thôn thu hẹp lại ở mộtmức độ nhất định Ngoài ra, quá trình di cư nông thôn – thành thị cũng gópphần làm giảm tỷ lệ dân số nông thôn trong tổng dân số mặc dù tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên ở nông thôn cao hơn thành thị Tuy vậy, tỷ lệ dân số nông thôn từ
15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế trong tổng dân số nông thôn lại có xu hướngtăng lên trong khoảng 10 năm trở lại đây Tỷ lệ này đã tăng từ 48,5% năm
1996 lên 50,8% năm 2000 và ở mức 54% năm 2004
Theo địa bàn lãnh thổ, tỷ lệ dân số nông thôn trên 15 tuổi tăng hầu hết ởcác vùng trừ Miền núi phía bắc và Đông Nam Bộ Tỷ lệ tăng nhanh nhất làvùng Đồng bằng Sông Hồng và Tây nguyên (đồ thị 2) Đối với Miền núi phíaBắc việc giảm tỷ lệ dân số nông thôn có thể do di cư nông thôn thành thị;ngược lại, ở vùng Đông Nam bộ, hiện tượng này có thể giải thích là do sựphát triển của các đô thị và khu công nghiệp Di cư của dân số nông thôn đếnTây nguyên làm cho dân số nông thôn ở Tây nguyên tăng khá nhanh từ năm
Nguồn: Thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam 1996-2004 (Bộ LĐTB-XH)
Sự chênh lệch về tỷ lệ dân số nông thôn giữa các vùng không lớn Số liệu
Trang 9thời kỳ 1996 và 2000, (khoảng cách giữa tỷ lệ cao nhất - ở vùng Đông Bắc vàthấp nhất- ở Tây Nguyên- là gần 30%).
Lực lượng lao động cả nước năm 2004 ở mức 42,3 triệu người trong đólực lượng lao động nông thôn là 32,7 triệu, chiếm 77,2% Trong khi dân sốnông thôn giảm khoảng 5%, tỷ lệ lao động nông thôn trong tổng lực lượng laođộng cả nước chỉ giảm từ 79,6% năm 1996 xuống 77,2% năm 2004 (giảm2,4%, bảng 1, đồ thị 3) Số liệu trên cho thấy, chủ trương đô thị hóa của ViệtNam là khá rõ nhưng không tiến triển được nhiều nếu nhìn trên góc độ laođộng
Bảng 1: Số lượng lao động Việt Nam thời kỳ 1996-2004
lao động cả nước (1000 người)
Lực lượng lao động khu vực nông thôn (1000 người)
Tỷ lệ Lực lượng lao động nông thôn/cả nước(%)
Trang 10Đồ thị 3: Lực lượng lao động cả nước và lực lượng lao động nông thôn
010000
Lực lượng lao động cả nước (1000 người) LLLĐ khu vực NT(1000 người)
(Nguồn: Thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 1996-2004 (Bộ Lao động – thương binh xã hội).
Số liệu thống kê Lao động việc làm cũng cho thấy lực lượng lao động cóviệc làm ở nông thôn đang có xu hướng tăng lên, tuy nhiên với tốc độ kháthấp 1,89% năm 2001, 0,92% năm 2003 và 1,42% năm 2004 Năm 1996, tỷ lệnày thậm chí còn ở mức âm, tức là lực lượng lao động nông thôn có việc làm
ở thời điểm đó còn giảm so với cùng kỳ năm trước So sánh với tốc độ tăngtrưởng kinh tế chung của cả nước (GDP) và tốc độ tăng GDP ngành nôngnghiệp, điều dễ nhận thấy là tốc độ tăng lao động thấp hơn nhiều so với tăngGDP, ngay cả GDP cả nông nghiệp(đồ thị 4) Mức độ tăng GDP ngành nôngnghiệp cao hơn tỷ lệ tăng lực lượng lao động có việc làm ở nông thôn chứng
tỏ rằng năng suất lao động trong nông nghiệp đã tăng lên đáng kể trong 10năm qua [7] [10]
Trang 11Đồ thị 4: Tăng trưởng GDP, GDP nông nghiệp và lao động ở nông thôn
Nguồn : Niên giám Thống kê 1997-2004 và Số liệu thống kê lao việc làm ở Việt Nam 1996-2004-Bộ LĐTB-XH
động-2.2.2 Chất lượng lao động nông thôn
Nếu xét trên góc độ trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật và thểlực của người lao động, có thể nói rằng vẫn còn khoảng cách khá xa về mặtchất lượng lao động giữa nông thôn và thành thị Khoảng cách này lớn hơnkhi xem xét ở các loại lao động có trình độ cao [6] Đặc biệt chất lượng nàythay đổi không đáng kể tính từ năm 1996 trở lại đây(Đồ thị 5)
Đồ thị 5: Chất lượng lao động theo trình độ văn hóa ở nông thôn
1996
29.16
28.85 32.81
9.19
2004
21.31
32.11 34.12
12.47
Dưới cấp I Cấp I Cấp 2 Cấp 3
(Nguồn :Thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam 1996-2004 (Bộ LĐTB-XH))
Trang 12Tỷ lệ lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học đã giảm từ29,16% năm 1996 xuống còn 21,31% năm 2004 Tỷ lệ lao động có trình độvăn hóa từ trung học phổ thông trở lên chỉ chiếm trên dưới 10% trong thời kỳ1996-2004 và chỉ tăng lên chút ít từ 9,19% lên 11,18% năm 2000 và 12,47%năm 2004 Trình độ văn hóa phổ biến của lao động nông thôn là ở mức tốtnghiệp tiểu học và trung học cơ sở Số người có trình độ này chiếm tới trên60% lao động ở nông thôn.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo số liệu thống kê lao động và việclàm của Bộ Lao động – Thương binh xã hội, số lao động không có trình độchuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông thôn vẫn chiếm một tỷ lệ rất lớn với85% năm 2004, mặc dù giảm 7% so với năm 1996 (với 92,6%) Theo số liệuĐiều tra Nông nghiệp, Nông thôn của Tổng cục Thống kê năm 2004, số laođộng được đào tạo trình độ cao đăng, đại học và tương đương ở nông thôn chỉchiếm 1,5% Số lao động được đào tạo nghề gồm sơ cấp và công nhân kỹthuật là 2,3%, trung cấp kỹ thuật là 2,4% Nguyên nhân dẫn đến thực trạngnày có thể là do trong thời gian qua chưa có chuyển biến đáng kể trong đàotạo ở nông thôn hoặc nhiều lao động đào tạo đã di cư ra khỏi nông thôn hoặc
Trang 13Về mặt thể lực, mặc dầu thể lực và chiều cao của lao động có tăng lên do
chất lượng cuộc sống được nâng cao hơn nhưng lao động nông thôn cũng yếuhơn so với lao động ở thành thị Theo Điều tra Y tế quốc gia năm 2000-2001cho thấy lao động nông thôn bị ốm nhiều hơn lao động thành thị, trong khi laođộng thành thị bình quân có 1,1 lần ốm/năm thì lao động nông thôn là 1,7 lần
Số ngày ốm không tham gia họat động kinh tế của lao động nông thôn cũngdài hơn (6,7 ngày so với 4,8 ngày của lao động ở thành thị) Do chất lượngcuộc sống nông thôn còn thấp hơn ở thành thị cùng với sự gia tăng về chênhlệch thu nhập, khoảng cách này sẽ có xu hướng ngày một lớn hơn
2.2 Di cư lao động ở Việt Nam
2.3.1 Di cư lao động giữa các vùng trong cả nước
Thực tế của quá trình di cư ở Việt Nam đã diễn ra từ rất lâu Trong nhữngthập kỷ trước, số lượng người di cư lớn nhất là trong những đợt di cư có tổchức của nhà nước đi làm “kinh tế mới” Thời gian gần đây, đặc biệt là 10năm trở lại đây, số người di cư tự do tăng lên do tác động của các quan hệkinh tế hơn là theo các kế hoạch của nhà nước Các vùng có tốc độ côngnghiệp hóa và đô thị hóa nhanh là các vùng thu hút số lượng người nhập cưlớn, ngoài ra cũng có một số lượng người di cư từ các vùng nông thôn tới cácvùng nông thôn khác, chẳng hạn người di cư từ các tỉnh phía Bắc vào Tâynguyên [1] [2] Số lượng lao động di cư đi và đến của các vùng trong nướcđược thể hiện trong bảng 2
Trang 14Bảng 2: Số lao động di cư đi và đến theo vùng trong cả nước
Nơi cư trú vào
1/7/2004
Tổng số lao động đang làm việc
Số người làm việc tại vùng
cư trú
Số người
di cư đi
Số người
di cư đến
Tỷ lệ
di cư đi (%)
Tỷ lệ
di cư đến (%)
Ghi chú: Tính theo số người từ đủ 15 tuổi trở lên.
Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm 1-7-2004
Tỷ lệ lao động di cư khỏi vùng Duyên hải nam trung bộ trên tổng số ngườiđang làm việc của vùng là 3,38% lớn nhất so với các vùng khác trong cảnước, trong khi tỷ lệ này ở Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc trung bộ và ĐồngBằng Sông Cửu Long là tương đương nhau với khoảng trên dưới 1% Sốlượng lao động di cư khỏi vùng Duyên hải miền Trung tới hơn 118 ngànngười do đây vẫn còn là vùng có các điều kiện tự nhiên khó khăn, phát triểnkinh tế còn thấp và do vậy không thu hút được nhiều lao động của địaphương Xét về địa phương tiếp nhận lao động di cư, tỷ lệ lao động di cư đếnvùng Đông Nam bộ là lớn nhất chiếm tới 4,16% lực lượng lao động hoạt độngkinh tế của cả vùng, tiếp đó là Tây nguyên (1,1%) và vùng Đông bắc (0,86%).Trước đây, nhà nước có các chương trình di chuyển dân cư và lao động tớiTây nguyên theo kế hoạch Hiện nay, các chương trình này không còn thực sựtiếp tục nhưng nông dân vẫn di chuyển vào vùng Tây nguyên làm ăn do đâyvẫn còn là vùng có thể khai phá, phát triển sản xuất nhiều hơn so với một sốvùng đã canh tác lâu đời ở các tỉnh phía bắc hoặc các tỉnh đồng bằng [4] [6]
Trang 15Xem xét cơ cấu của tổng số lao động di cư của cả nước theo vùng () chothấy trong tổng số lao động di cư đi của cả nước, vùng Duyên hải miền Trungchiếm lớn nhất với 31%, tiếp đến là Đồng Bằng Sông Cửu Long 24% vàĐồng Bằng Sông Hồng với 22%
Theo cơ cấu lao động di cư đến, Đông Nam bộ nổi rõ là vùng thu hút nhânlực nhiều nhất và chiếm phần áp đảo số lao động di cư với 67% tổng số laođộng di cư đến của cả nước Vùng Đông bắc và Đồng Bằng Sông Hồng lànhững vùng tiếp theo tiếp nhận nhiều lao động từ các vùng khác đến với 11%
và 8% tương ứng của tổng số lao động di cư đến của cả nước
Đồ thị 7: Cơ cấu lao động di cư đi và đến của cả nước phân theo vùng
Di cư đi
0.07 30.50
22.36 23.66
Di cư đến
1.76 0.96 11.27
67.43
6.77
2.16 7.91
1.74
( Nguồn: Điều tra lao động việc làm năm 2004)
2.3.2 Di cư lao động từ nông thôn ra thành thị
Quá trình di cư nông thôn – thành thị diễn ra mạnh mẽ trong khoảng 10năm trở lại đây Tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ công nghiệp hóa và đô thịhóa ngày càng cao một mặt biến một số vùng nông thôn trở thành thành thị,mặt khác khu vực đô thị ngày càng mở rộng cũng tạo ra khả năng số người dichuyển đến các đô thị ngày càng lớn hơn và với tốc độ nhanh hơn [3] Tỷ lệ di
cư từ nông thôn tới các đô thị (theo nơi đến) được trình bày trong đồ thị 8
Trang 16Đồ thị 8: Di cư tính theo địa bàn của nơi đi
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
Đồ thị trên cho thấy nông thôn là nơi xuất phát của đại đa số người di cư.Tính trên bình diện cả nước, số lao động di cư xuất phát từ nông thôn chiếmtới 73% Ở hai thành phố lớn, tỷ lệ dân nông thôn di cư đến là khá cao Tỷ lệdân nông thôn di cư đến vùng Đông bắc khoảng 80%, tương đương vớiTPHCM Rất ngạc nhiên là trong tổng số dân di cư, nữ giới chiếm tỉ lệ caohơn với 57% Điều này đúng cho hầu hết các vùng trong cả nước, riêng vùngTây bắc có số nam lao động di cư đi cao hơn với 59% Bắc trung bộ là nơi có
tỷ lệ nữ lao động di cư đi cao nhất với 63% Tỷ lệ lao động nữ di cư đi củacác một số vùng trong cả nước được thể hiện trong đồ thị 9
Trang 17Đồ thị 9: Tỷ lệ lao động di cư theo giới tính
(Nguồn: Tính toán và minh họa từ số liệu điều tra di cư năm 2004)
2.3.3 Lao động nông thôn di cư đến vùng trọng điểm
Cơ cấu lao động di cư từ nông thôn đến một số vùng trọng điểm qua sốliệu của cuộc điều tra di cư năm 2004 được thể hiện trong bảng 3 Yếu tố địa
lý có tác động lớn đến cơ cấu này, tuy nhiên không hoàn toàn đúng đối với tất
cả các vùng Phần lớn số lượng lao động nông thôn di cư đến Hà nội và vùngĐông bắc xuất phát từ vùng Đồng Bằng Sông Hồng (77% của tổng người dicư), trong khi ở thành phố Hồ Chí Minh 31,46% số người di cư đến là từĐồng Bằng Sông Cửu Long Cơ cấu lao động nông thôn di cư đến vùng ĐôngNam bộ mang những nét đặc trưng riêng, cao nhất là từ Bắc trung bộ với27,44%, Đồng Bằng Sông Hồng, di cư nội vùng Đông Nam bộ và từ ĐồngBằng Sông Cửu Long đều có một tỷ lệ tương đương nhau khoảng 19% ViệcĐồng Bằng Sông Hồng chiếm tới 19% số người di cư tới Đông Nam Bộngang với từ Đồng Bằng Sông Cửu Long cho thấy yếu tố địa lý không còn làmột lực cản cho việc di cư mà yếu tố việc làm là một lực kéo lớn Một lý dokhác có thể là lực “đẩy” từ bản thân vùng Đồng bằng sông Hồng với “đấtchật, người đông” hơn rất nhiều so với các vùng khác [6] [7] [9] Di cư đến
Trang 18Tây nguyên lại khá đặc thù với gần 50% là di cư nội vùng và từ miền núi phíaBắc Đồng Bằng Sông Hồng cũng đóng góp một tỷ lệ không nhỏ trong sốngười di cư đến Tây nguyên Phân tích trên cho thấy, dường như luồng di cưchủ yếu theo chiều từ Bắc vào Nam mà ít thấy chiều ngược lại Với tốc độphát triển kinh tế và lợi thế tự nhiên ở các tỉnh miền nam, có thể kết luận rằng
cơ hội việc làm chứ không phải là khoảng cách địa lý là lực hút lớn nhất tácđộng tới việc di cư
Bảng 3: Cơ cấu lao động nông thôn di cư theo vùng và theo nơi điều tra
Nam Bộ
Đông Bắc
Tây Nguyên
Cả nước
( Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra di cư năm 2004)
Phân bố về tỷ lệ lao động di cư theo độ tuổi được trình bày trong bảng 4.Khoảng tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là từ 20-30 chiếm trên dưới 50% số lao động
di cư ở hầu hết tất cả các vùng trong nước Nếu tính số lao động di cư dưới 30tuổi xuất phát từ nông thôn tính trên địa bàn cả nước thì tỷ lệ này lên đến gần70% Trong số lao động nông thôn di cư đi từ Bắc trung bộ có tới trên 25% ở
độ tuổi dưới 20 Tỷ lệ này đối với Đồng Bằng Sông Hồng, Đông bắc và ĐôngNam bộ cũng từ 15-17% Như vậy, lao động trẻ dễ có xu hướng di cư hơn do
có khả năng thích ứng nhanh ở nơi đến, đồng thời cũng có ít hơn yếu tố “níukéo” ở quê nhà so với các lao động lớn tuổi hơn
Trang 19Bảng 4: Cơ cấu lao động di cư theo độ tuổi
Di cư đi/độ tuổi <20 20-30 30-40 >40 Tổng số
( Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra di cư năm 2004 (Bộ LĐ-TBXH))
Phân bố theo độ tuổi của lao động nông thôn di cư theo nơi đến cũng cónét tương tự như từ giác độ theo nơi đi Tuy nhiên sự khác biệt giữa các vùnglao động di cư đến cũng khá rõ nét (Bảng 5 và đồ thị 1) Lao động nông thôn
di cư đến Hà nội và Tây Nguyên có độ tuổi trung bình cao hơn so với cácvùng như thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam bộ và Đông bắc Có tới 20-24% số lao động di cư đến thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam bộ và Đôngbắc ở độ tuổi dưới 20, trong khi tỷ lệ lao động trên 40 tuổi di cư đến Hà nội
và Tây nguyên cũng tới mức 19-20% [4][16][17] Cơ cấu tuổi di cư này cũngphản ánh một phần cơ hội việc làm và cơ cấu việc làm khác nhau ở các vùngtrên Ở Tây nguyên, lao động di cư đến có lẽ chủ yếu tham gia sản xuất nôngnghiệp (do lợi thế về nông nghiệp) do đó không đòi hỏi về vấn đề tuổi tác;trong khi đó, ở các vùng phát triển các khu công nghiệp có nhu cầu cao hơn
Trang 20Đồ thị 10: Phân bố lao động di cư theo độ tuổi
( Nguồn: Điều tra di cư năm 2004 (Bộ LĐ-TBXH))
Cơ cấu lao động di cư theo độ tuổi còn có thể xem xét ở một góc độ khác
là theo giới Có thể thấy rằng tỷ lệ lao động nữ đều cao hơn lao động nam ởtất cả các khoảng tuổi Tuy nhiên, khi độ tuổi càng cao, khoảng cách này càngthu hẹp dần Trong khi ở độ tuổi dưới 20, có tới 66% lao động di cư là nữ,trong khi đó ở độ tuổi trên 40, tỷ lệ giữa nam và nữ gần như cân bằng Điềunày cần được lưu ý trong hoạch định chính sách để giảm mất cân đối về giới ởcác vùng di cư, nhất là các khu công nghiệp có nhiều ngành nghề thu hút laođộng nữ Nếu không có các chính sách thích hợp, các vấn đề xã hội khó giảiquyết sẽ phát sinh kèm theo hiện tượng này [9]
Trang 21Đồ thị 11: Cơ cấu lao động di cư theo giới và tuổi
(Nguồn: Tính toán và minh họa từ số liệu điều tra di cư năm 2004 (Bộ TBXH)
LĐ-Xét về trình độ văn hoá, lao động di cư từ Đồng Bằng Sông Hồng và
vùng Đông bắc có trình độ cao nhất với 35,53% số lao động di cư từ vùng này
có trình độ trung học phổ thông và 5,48% có trình độ cao đẳng hoặc đại học(Bảng 6) Lao động di cư từ Tây nguyên và Đồng Bằng Sông Cửu Long cótrình độ văn hoá thấp nhất với đa số người di cư có trình độ từ trung học cơ sởtrở xuống Tây nguyên có 36,7% số lao động di cư đi các vùng khác có trình
độ văn hoá từ tiểu học trở xuống và con số này đối với Đồng Bằng Sông CửuLong là gần 30% Một mặt những con số này phù hợp với trình độ văn hoánói chung của các vùng cụ thể, mặt khác điều này cũng sẽ dẫn đến hệ quả làcác lao động nông thôn di cư từ các vùng văn hoá thấp sẽ có xác suất làm cáccông việc giản đơn hơn lao động di cư đi từ các vùng có trình độ văn hoá caohơn một cách tương đối
Trang 22Bảng 6: Cơ cấu lao động di cư theo trình độ văn hoá
Vùng/trình độ
VH
Tiểu học trở xuống
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Cao đẳng - Đại học
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
Bảng 6 phản ánh trình độ văn hoá của lao động di cư từ nông thôn đếnmột số vùng trong nước Tây nguyên là vùng tiếp nhận người lao động di cư
có trình độ văn hoá thấp nhất Ở đây có tới trên 36% số lao động di cư đến cótrình độ từ tiểu học trở xuống và nếu tính tỷ lệ của đối tượng lao động này cótrình độ từ trung học cơ sở (cấp II) trở xuống chiếm đại đa số với khoảng88% thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ cũng là những địa phương có
tỷ lệ lao động di cư đến có trình độ văn hoá thấp tương đối so với các vùngkhác nhưng chủ yếu là những lao động có trình độ trung học cơ sở (tỷ lệ này
ở thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ lần lượt là 56% và 52%) Laođộng di cư từ nông thôn đến Hà nội có trình độ văn hoá cao nhất Có tới 45%
số lao động di cư đến Hà nội có trình độ trung học phổ thông và 13% số laođộng đến Hà nội có trình độ cao đẳng và đại học
Trang 23Đồ thị 12: Cơ cấu lao động di cư nông thôn theo trình độ văn hoá ở nơi
đến
Hà Nội TPHCM D_NamB Dong Bac Tay Nguyen Chung
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
Lý do hay động lực thúc đẩy lao động di cư từ nông thôn đến các đô thị vàcác vùng cũng khá khác nhau Lý do chính để lao động nông thôn tới Hà nội
và thành phố Hồ Chí Minh là để tìm kiếm việc làm Tỷ lệ số lao động nàytheo nơi đến của Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh lần lượt là 47% và 59%.Trong khi đó lý do chính để lao động di cư đến Đông Nam bộ và Tây nguyên
là do ở các địa phương này có điều kiện sống, điều kiện sản xuất-kinh doanhtốt hơn Tỷ lệ số lao động đến Đông Nam bộ và Tây nguyên với lý do này lầnlượt là 48% và 50% Trong khi đó tỷ lệ này ở Hà nội và thành phố Hồ ChíMinh là 20% và 27% (là loại lý do đứng thứ hai) Tìm kiếm việc làm cũng làloại lý do đứng thứ hai tại vùng Đông Nam bộ [18][19]
Trang 24Đồ thị 13: Lý do lao động nông thôn di cư theo vùng
(Nguồn: Điều tra di cư năm 2004)
* Thu nhập của lao động di cư:
Theo điều tra di cư năm 2004 của Tổng cục Thồng kê, thu nhập của laođộng di cư trung bình từ khoảng 957 ngàn đồng/tháng, lao động nam kiếmđược nhiều tiền hơn lao động nữ(1,1 triệu đồng so với 0.8 triệu đồng) Ngườilao động di cư dân tộc Kinh có mức thu nhập cao gấp hai lần người di cư làngười dân tộc thiểu số Thu nhập trung bình của người lao động tăng theotrình độ, người có trình độ cao nhất kiếm được khoảng 1,6 triệu đồng/tháng,cao gấp 4 lần người không đi học Thu nhập cao nhất là cán bộ kỷ thuật bậccao, trung bình khoảng 1,5 triệu đồng/tháng, sau đó là thợ lắp ráp, vận hànhmáy(khoảng 1,1 triệu đồng/tháng), lao động giản đơn có thu nhập thấp nhất(khoảng 770 nghìn đồng/tháng) Trong số người di cư, cán bộ nhà nước cómức lương khoảng 1,2 triệu đồng/tháng, tiếp đó là người làm cho chủ tư nhân,khoảng 1 triệu đồng/tháng [4][6][10]
Mức thu nhập trung bình của người di cư thấp hơn của người không di cư
Sự khác biệt ở thành phổ Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp đông nam bộ
là lớn nhất, ở đây người di cư nhận mức lương chỉ bằng khoảng 2/3 thu nhậpcủa người không di cư
Trang 25Nhìn chung đối với người lao động, thu nhập được tăng lên khi di cư đitìm việc làm 71% người lao động nói rằng thu nhập của học cao hơn sau khi
di cư, 12% nói rằng có hơn rất nhiều, 13% nói rằng không đổi và số còn lạinói rằng thấp hơn Lao động làm trông lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp điều
có tiến bộ rõ rệt về thu nhập sau khi di cư: 14% cho biết có thu nhập cao hơnnhiều và 75% cho biết có thu nhập cao hơn
2.2.2 Di cư lao động ở Thừa Thiên Huế
* Tình hình lao động việc làm ở TTHuế
Với tư cách là thủ phủ của xứ Đàng Trong và sau đó là kinh đô của triềuNguyễn nên Huế mang nặng tư tưởng phong kiến Trong đó có tư tưởng trọngnam khinh nữ, quan niệm đông con hơn đông của Vì vậy sau giải phóng mộtthời gian dài tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Thừa Thiên Huế luôn cao hơnmức trung bình chung của cả nước Điều này góp phần tạo nên một lực lượnglao động hết sức dồi dào cho mảnh đất cố đô hiện nay
Bảng 7: Lao động Thừa Thiên Huế từ năm 2003 đến 2007.
Đơn vị: người
(Nguồn: Thống kê TTHuế năm 2008)
Từ bảng trên ta có thể nhận thấy: trước năm 2006 thì hàng năm lựclượng lao động của Thừa Thiên Huế đều tăng trên 10 nghìn người, từ năm
2006 số lượng này có giảm nhưng vẫn đạt mức 4 nghìn người Lao động dồidào là một lợi thế rất lớn để tăng trưởng kinh tế nhưng nếu nền kinh tế khôngtạo ra đủ việc làm thì nó lại trở thành gánh nặng Huế mặc dù là kinh đô cũnhưng mức tăng trưởng kinh tế trong những năm qua không cao, đặc biệttrong lĩnh vực công nghiệp, lĩnh vực mà có thể tạo ra được nhiều việc làmnhất Vì vậy người lao dộng thiếu việc làm, thất nghiệp nơi đây chiếm một tỉ
lệ khá cao
Trang 26Bảng 6: Tỉ lệ thất nghiệp của dân thành thị ở Huế từ năm 2003 đến 2007
Đơn vị: %
(Nguồn: Thống kê TTHuế năm 2008)
Khi so sánh số liệu của Huế với số liệu chung của cả nước thì chỉ có năm
2003 và 2007 Huế cao hơn Điều này dẫn đến một điều tất yếu họ sẽ di cư đếnnơi khác để tìm việc làm
* Di cư lao động ra ngoại tỉnh của Thừa Thiên Huế trong những năm quaNằm ở dãy đất miền trung, nơi có điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệtnhất cả nước Vì vậy rất khó để có thể thu hút đầu tư trong và ngoài nước vàođây nên các khu công nghiệp lớn hầu như không có Sản xuất nông nghiệpcũng không được thiên nhiên ưu đãi, cho nên giải pháp của người lao độngtrong vùng nói chung và của người lao động Thừa Thiên Huế nói riêng là di
cư đến những tỉnh thành có sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp như thànhphố Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai để tìm kiếm việclàm
Tuy không có số liệu chính thức thống kê về số lượng lao động ThừaThiên Huế di cư ra ngoại tỉnh để làm việc Nhưng theo một số cán bộ của sởlao động thương binh và xã hội của tỉnh thì hiện tại có khoảng 70.000- 80.000lao động đang làm việc ngoại tỉnh, con số này chiếm 15% lao động của tỉnh.Cũng như thực trạng chung của cả nước lao động di cư của Thừa Thiên Huếchủ yếu vẫn là lao dộng giản đơn Họ đến các thành phố lớn để làm côngnhân cho các nhà máy may mặc, giày da, công ty xây dựng Một điều khácbiệt với nhiều địa phương khác đó là lao động di cư của Huế đa phần là laođộng trẻ (18- 25tuổi), những người lớn chỉ di cư khi họ có nghề nghiệp nhấtđịnh
Với chủ trương phát triển công nghiệp đi đôi với du lịch và bằng chứng là
đã có một số khu công nghiệp lớn ra đời như khu công nghiệp Phú Bài, khucông nghiệp Phong Điền Chắc chắn trong giai đoạn tới người lao động quay
về quê hương làm việc sẽ đông hơn
Trang 27* Di cư lao động quốc tế ( xuất khẩu lao động ) của Thừa Thiên Huế
So với những địa phương ở phía nam và phía bắc của đất nước thì hoạtđộng xuất khẩu lao động của Thừa Thiên Huế diễn ra có phần chậm hơn vàcũng ít sôi động hơn Tuy nhiên trong những năm gần đây đã ghi nhận những
cố gắng của chính quyền các cấp và sự quan tâm của người dân trong lĩnh vựcnày Bằng chứng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 8: Xuất khẩu lao động của Thừa Thiên Huế từ 2000 đến 2007
Đơn vị: Người
(Nguồn: Thống kê của Sở LĐTBXH tỉnh TTHuế năm 2008)
Từ bảng trên ta nhận thấy: từ năm 2001 đến 2006 số lượng lao động xuấtkhẩu được có sự tăng mạnh qua các năm Bước sang năm 2007 lại có sự giảmmạnh, nguyên nhân của sự giảm sút này có thể là do sau một loạt các vụ lừađảo khiến nhiều gia đình không còn muốn để người thân mình mạo hiểm Hyvọng rằng với nổ lực của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên Huế, đã lập ramột đề án xuất khẩu lao động từ năm 2006 đến 2010 với mục tiêu mỗi nămđưa được 2000 lao động ra nước ngoài làm việc thì thực trạng này sẽ khôngkéo dài Bởi lẽ xuất khẩu lao động góp phần rất lớn vào việc cải thiện và nângcao thu nhập của các gia đình
Trang 28PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Khung phân tích nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng mô hình phân tích yếu tố quyết định đến di cư lao
động của Lee (1966) [20] trong nghiên cứu về “ A theory of migration”, trong
đó, các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động được phân chia thành hai nhómyếu tố tác động đến quyết định di cư của lao động bao gồm: các yếu tố “đẩy”( push factors) và các yếu tố “kéo” ( push factors) Nhóm yếu tố “đẩy” đượcxem xét là mang ý nghĩa tiêu cực buộc những người lao động phải di cư khỏinơi ở ban đầu để đến một nơi khác cho các hoạt động sinh kế mới Ngược lại,các yếu tố “đẩy” ( Pull factors) mang ý nghĩa tích cực thu hút lao động đếnnhững địa điểm mới với mong ước cải thiện cuộc sống Theo Lee (1966)những nhân tố “đẩy” được xem xét quan trọng hơn những nhân tố “kéo” đặcbiệt là tại các vùng nông thôn nơi thường tồn tại các thực tế như đói nghèo,thất nghiệp, thiếu đất canh tác Những yếu tố này buộc người dân nông thônphải rời nơi sinh sống để đến một địa điểm khác định cư Trái lại các nhân tố
“kéo” chủ yếu xoay quanh việc tạo ra các cơ hội thu nhập, việc làm và cảithiện đời sống Tuy nhiên Lee (1966) cũng nhấn mạnh rằng, việc xem xét cácyếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động không nên tách rời giữa yếu tố “kéo” và
“đẩy” mà phải kết hợp phân tích cả hai nhóm làm cơ sở cho việc đánh giá mộtcách hoàn chỉnh yếu tố tác động đến di cư
- Mạng lưới xã hội
Trang 29Nghiên cứu này, một mặt sử dụng những khái niệm liên quan đến nhân tố
“kéo” và “đẩy” được đề cập đến trong nghiên cứu của Lee (1966) một mặt kếthợp với thực tế về thực trạng di cư lao động của địa phương Theo đó, cácnhân tố “đẩy” mang ý nghĩa tiêu cực ảnh hưởng đến di cư lao động bao gồm:thiếu việc làm, thiếu đất canh tác, thu nhập thấp, điều kiện thời tiết khôngthuận lợi Trái lại, các nhóm yếu tố “kéo” mang ý nghĩa tích cực bao gồm cơhội việc làm, thu nhập cao, nâng cao mức sống và mạng lưới xã hội
3.2 Chọn điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu được chọn lựa dựa trên các số liệu khảo sát ban đầu vềthực trạng di cư lao động tại huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế Căn cứ vàocác số liệu thu được sau khi tiến hành thu thập số liệu cơ bản về tình hình di
cư lao động của huyện do phòng Thống Kê của huyện Phú Lộc cung cấp vàtheo tiêu chí đặt ra là điểm nghiên cứu phải có số lượng lớn di cư lao độngdiễn ra mạnh trong các năm và phải diển ra mạnh nhất huyện Phú Lộc
Theo tiêu chuẩn trên xã Vinh Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huếđược chọn làm điểm nghiên cứu vì xã Vinh Hải có tổng lao động di cư chiếmgần 35% tổng lao động di cư của cả huyện
3.3 Nôi dung nghiên cứu
3.3.1 Thực trạng về di cư lao động tại điểm nghiên cứu
* Tình hình dân số và lao động của xã Vinh Hải huyên Phú Lộc tỉnh ThừaThiên Huế
- Các loại hình lao động của xã
* Tình hình di cư lao động trên địa bàn nghiên cứu
- Số lượng lao động di cư trên địa bàn nghiên cứu
- Các hình thức di cư lao động trên địa bàn nghiên cứu
* Đặc điểm của lao động di cư trên địa bàn nghiên cứu
- Trình độ giáo dục của lao động di cư
- Trình độ chuyên môn của lao động di cư
- Các loại hình nghề nghiệp
- Thu nhập của lao động di cư
Trang 303.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến di cư lao động trên địa bàn nghiên cứu
* Đặc điểm lao động di cư của các hộ điều tra
- Số khẩu, số lao động, số lao động di cư của hộ
- Trình độ giáo dục của lao động
- Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của lao động
- Thu nhập của gia đình(Trong đó bao gồm thu nhập của các lao độngtrông gia đình, thu nhập của lao động di cư)
* Các nhân tố mang ý nghĩa tích cực dẫn đến di cư lao động
- Cơ hội việc làm của nơi đền
- Thu nhập cao
- Nâng cao chất lượng cuộc sống
* Các nhân tố mang ý nghĩa tiêu cực dẫn đến di cư lao động trên địa bàn :
- Thiếu việc làm
- Thiếu đất canh tác
- Thu nhập thấp
3.4 Đối tượng nghiên cứu
Để có thể đánh giá chính xác những yếu tố ảnh hưởng đến di cư laođộng thì đối tượng nghiên cứu ở đây được lựa chọn bao gồm cả: nhóm hộ cóngười di cư lao động và nhóm hộ không có người di cư lao động trên địa bànnghiên cứu
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xem xét các yếu tố ảnh hưởng đếnquyết định di cư lao động của người dân nông thôn Do đó, các thông tin thứcấp thu thập bao gồm các vấn đề liên quan đến số lượng di cư lao động quacác năm, các báo cáo liên quan đến các yếu tố như sản xuất nông nghiệp, nuôitrồng thủy sản, các hoạt động ngành nghề dịch vụ trên địa bàn làm cơ sở choviệc phân tích
Bên cạnh đó, một số thông tin thứ cấp về điều kiện tự nhiên: Thời tiết, khíhậu, tài nguyên thiên nhiên, đất đai Các số liệu về điều kiện kinh tế xã hội:
Trang 31Báo cáo Tổng kết và Định hướng phát triển kinh tế của xã Vinh Hải huyệnPhú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010.
3.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp
a Chọn hộ điều tra
Để thu thập các thông tin liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng quyết định
di cư của lao động nông thôn, các hộ khảo sát được phân thành 2 mẫu: hộ cólao động di cư và hộ không có lao động di cư với cỡ mẫu được xác định nhưsau
cư lao động trên địa bàn
b Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
* Phỏng vấn sâu(phỏng vấn người am hiểu):
- Đối tượng phỏng vấn: Trưởng thôn của thôn I, công an thôn, hội nôngdân và hội phụ nữ thôn, 6 hộ gia đình có người di cư lao động
- Công cụ: Sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc kết hợp với nói chuyện
- Nội dung phỏng vấn:
Tìm hiểu tình hình lao động của thôn
Tìm hiểu tình hình di cư lao động của thôn
Các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động trên địa bàn
Trang 32Nội dung bảng hỏi:
+ Thông tin chung về hộ
+ Thông tin về các hoạt động tạo thu nhập và nguồn lực của hộ
Các hoạt động tạo thu nhập của nông hộ
Diện tích các loại đất canh tác của hộ
Tình hình sản xuất của các nông hộ
+ Tình hình di cư lao động của các nông hộ
+ Thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động
+ Thông tin về cơ cấu thu nhập của các nông hộ có lao động di cư+ Thông tin về cơ cấu thu nhập của các nông hộ không có lao động dicư
- Cuộc thảo luận được tiến hành ở cấp thôn
Thảo luận nhóm trọng tâm
- Đối tượng tham gia thảo luận: các hộ người di cư lao động
- Mục đích của cuộc thảo luận: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến di cưlao động của các hộ tham gia
- Cuộc thảo luận được tiến hành ở cấp thôn
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
* Xử lý số liệu theo phương pháp định tính từ các thông tin thu được trongthảo luận nhóm, phỏng vấn người am hiểu và một số thông tin trong bảng hỏibán cấu trúc
* Xử lý số liệu theo phương pháp định lượng
- Các số liệu sau khi thu thập được mã hoá và xử lý thông qua phần mềmExcel
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả
Trang 33PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin kinh tế xã hội của điểm nghiên cứu
4.1.1.Điều kiện tự nhiên của xã
a.Vị trí địa lý của xã
Bản đồ về điểm nghiên cứu
Xã Vinh Hải là một xã bãi ngang ven biển huyện Phú Lộc, cách thành phốHuế 45 km về phía Đông và cách thị trấn Phú Lộc 20 km về phía Nam
Xã có tất cả 4 thôn bao gồm Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3 và Thôn 4 trong đóthôn 1 được làm điểm nghiên cứu bởi vì Thôn 1 là thôn có số lượng lao động
di cư lớn nhất xã, người dân trong thôn dễ tiếp cận và hòa đồng Thôn 1 làthôn nằm giáp liền với xã Vinh Hiền của huyện Phú Lộc và là thôn nằm xabiển nhất của xã
Trang 344.1.2.Thông tin kinh tế xã hôi của điểm nghiên cứu
Bảng 9: Tình hình sử dụng đất của xã Vinh Hải và thôn 1
Trang 35Qua bảng 9 ta thấy rằng tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 618,68 ha baogồm 4 thôn nhưng trong đó Thôn 1 có tổng diện tích đất tự nhiên chiếm tỷ lệthấp nhất xã là 18,30% tức 113,2 ha Bên cạnh đó, khi nhìn vào bảng 9 ta cònthấy được trong tổng số diện tích đất tự nhiên của thôn thì đất nông nghiệpchiếm diện tích lớn nhất đạt 42,7 ha Trong đất nông nghiệp thì đất trồng lúachiếm diện tích lớn nhất là 30,7 ha chiếm 71,91 % diện tích đất nông nghiệp,lúa ở đây chủ yếu trồng một vụ đó là vụ đông xuân vì đất ở đây thấp vàthường xuyên bị thiên tai hoành hành làm đất bị bạc màu Không những thế, ởđây cứ đến tháng 10 thường có bão và lụt ngập đến hơn một diện tích vùng,còn lại là đất hoa màu đạt 12 ha Đứng thứ hai là đất thổ cư đạt 35,8 ha tiếptheo là diện tích nuôi trồng thủy sản Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sảncủa cả xã 70,2 ha trong đó thôn 1 chiếm 45,78% tức là 32,14 ha Hiện nay dothất bại nuôi tôm trong nhiều năm liên tiếp nên phần lớn diện tích nuôi trồngthủy sản ở đây điều chuyển sang nuôi cá nước ngọt.
Qua kết quả thu được ở bảng trên ta có thể nhận thấy rằng xã Vinh Hải nóichung và thôn 1 nói riêng là một xã thuần nông, phần lớn diện tích đất được
sử dụng trong việc sản xuất nông nghiệp
b Cơ cấu sản xuất tại điểm nghiên cứu
Cơ cấu sản xuất tại xã Vinh hải nói chung và thôn 1 nói riêng rất đa dạng
về ngành nghề, có đầy đủ các ngành nông-lâm, thủy sản, công nghiệp dịchvụ… nhưng trong đó tỷ trọng lớn nhất thuộc về ngành nông-lâm nghiệp Cơcấu sản xuất của xã được thể hiện ở bảng 10 sau