Và nhiều vùng ở trong nước ta đã tiến hành đưa cây rau vào sản xuấtgóp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân ở các thành phố lớn như Hà Nội, ĐàLạt… Trong hoạt động sinh kế của người
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU 1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ
Sản xuất rau là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu sản xuất nôngnghiệp, là yếu tố để chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn nước ta hiệnnay Rau được xem là cây công nghiệp ngắn ngày, rất thuận lợi cho việc bố trí thời vụ,thâm canh, xen canh, gối vụ với các cây trồng khác nhằm tăng năng xuất trên cùngmột diện tích canh tác Vì vậy cây rau mang lại hiệu quả KT khá cao trong sản xuấtnông nghiệp Và nhiều vùng ở trong nước ta đã tiến hành đưa cây rau vào sản xuấtgóp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân ở các thành phố lớn như Hà Nội, ĐàLạt…
Trong hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt là người dân nông thôn khi màtrình độ sản xuất của người dân còn hạn chế, trong khi đó lực lượng lao động trong giađình thì dư thừa, để cải thiên cuộc sống của gia đình mình cũng như góp phần làmtăng thu nhập cho nông hộ, cải thiện điều kiện sống trong gia đình chỉ với một khoảnđầu tư thấp trong hoạt động sản xuất Chính vì thế mà hoạt động sinh kế trồng rautrong nông hộ những năm gần đây phát triển mạnh, góp phần quan trọng trong hoạtđộng xóa đói giảm nghèo mà chính phủ và nhà nước ta đang quan tâm đến
Để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho cơ thể con người thì rau xanh
là loại thực phẩm không thể thiếu được trong các bữa ăn Rau quả qua chế biến gópphần tăng khẩu vị và tăng tính hấp dẫn đối với người ăn Bởi trong rau có nhiềuVitamin, các yếu tố vi lượng, các enzim có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
cơ thể con người Bên cạnh đó khi mà đời sống XH ngày càng cao thì nhu cầu về raucũng như các loại nông sản khác đều tăng lên không chỉ về số lượng mà còn về chấtlượng
Thành phố Huế là trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm giao dịch thương mại của ThừaThiên Huế Theo định hướng phát triển KT - XH của thành phố Huế thời kì 2005 –20010: “Chuyển dịch KT mạnh mẽ KT nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sảnhàng hóa có giá trị KT cao theo hướng cơ cấu KT đô thị…”.Chuyển đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi, mở rộng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp-du lich-thươngmại trong nông thôn, nhằm phục vụ cho du lịch Ngoài ra cùng với sự phát triển của
XH và nhu cầu đô thị hóa, đã làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bịthu hẹp Hiện nay các vùng sản xuất rau của Thừa Thiên Huế chủ yếu tập trung ở các
Trang 2huyện vành đai như: Phú Vang, Hương Trà, Hương Thủy, Quảng Điền Đây là nhữngvùng rất thích hợp với việc trồng rau xanh, nhằm cung cấp nguồn rau cho thành phố
Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc khu vực miền trung, với điều kiện khí hậubất thuân lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và hoạt động sản xuất raunói riêng Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau xanh trong toàn tỉnh thì Huế phải nhập nộimột lượng rau khá lớn từ các vùng lân cận Do phải vận chuyển xa nên chất lượng raugiảm sút, giá thành lại cao Để khắc phục tình trạng đó và góp phần cải thiên sinh kếcho người dân trồng rau, thì việc quy hoạch và bố trí hoạt động sản xuất, nâng caonăng suất cho nghề trồng rau đã được tỉnh quan tâm đúng với tầm quan trọng của nó
Xã Quảng Thành – huyện Quảng Điền là vùng trồng rau nổi tiếng, có từ lâu đờicủa Thừa Thiên Huế Là vùng có tiềm năng lớn về đất đai, lao động và giao thôngthuận lợi Đại bộ phận người dân trong xã gắn liền với hoạt động sinh kế nghề rau.Tuynhiên việc sản xuất rau trên địa bàn xã Quảng Thành chưa thật sự tương xứng với tiềmnăng của xã, và chưa góp phần nâng cao thu nhập cho các nông hộ.Xuất phát từ những
lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài cho quá trình thực tập của mình là:
“Tìm hiểu vai trò sinh kế của sản xuất rau ở xã Quảng Thành – huyện QuảngĐiền – tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Tìm hiểu tình hình sản xuất rau của xã Quảng Thành
- Và đánh giá vai trò sản xuất rau đối với sinh kế của nông hộ
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Địa điểm nghiên cứu : Thôn Tây Thành và Thành Trung xã Quảng Thànhhuyện Quảng Điền
Trang 3PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.PHÂN TÍCH SINH KẾ BỀN VỮNG
Nếu diễn đạt bằng sơ đồ thì nó sẽ có dạng như sau
(Nguồn: Bùi Đình Toái, 2007)Một kế sinh nhai được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình cóthể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổn thương(từ các cú SỐC, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ - vụ) và đồng thời có thểduy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên
Kiếm sống
Mục tiêu
và kỳ vọng khác
Trang 4• Khái niệm SKBV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho các dự án giảmnghèo, giảm rủi ro, tổn thương tại các vùng khó khăn, nghèo khổ, vùng chịu nhiều tácđộng của thiên tai như bão, lũ, lụt, hạn hán
2.1.2 Khung phân tích sinh kế bền vững (SKBV)
Khung phân tích SKBV có dạng như sau
(Nguồn: Bùi Đình Toái,2007)Theo sơ đồ khung phân tích SKBV nêu trên thì các hợp phần của khung baogồm
Bối cảnh dễtổn thương
Chiến lược SKBV
Các kết quả của SKBV-
Trang 5- Vốn tự nhiên: Là cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của 1 hộ, của 1 cộng đồng)
mà con người trông cậy vào để sử dụng vào mục đích sinh kế như đất đai, nguồnnước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng
- Vốn xã hội: Được đề cập tới là mạng lưới và mối quan hệ XH, các tổ chức
XH, các nhóm chính thức hay bán chính thức, chính phủ hay phi chính phủ mà conngười tham gia và từ đó tạo ra khả năng, các cơ hội phục vụ sinh kế của gia đình hoặccủa cộng đồng
- Vốn tài chính: Là nguồn lực tài chính mà con người có được như: nguồn thunhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, bổng, nguồn hỗtrợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng
- Vốn vật chất: Bao gồm các cơ sở hạ tầng XH, tài sản hộ gia đình hỗ trợ chosinh kế như Giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp nănglượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin [8]
2.1.4 Kết quả sinh kế bền vững
Kết quả của sinh kế là mục tiêu và ước nguyện của hoạt động sinh kế của conngười Bao gồm:
- Tăng cường được an ninh lương thực
- Nâng cao thu nhập và ổn định nguồn thu nhập
- Nâng cao chất lượng đời sồng và giá trị cuộc sống
Để đảm bảo cho sinh kế trở nên bền vững thì 2 mục tiêu tiếp theo cần xác định
Trang 62.1.5 Chiến lược sinh kế
Được dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và những quyết định
mà con người đưa ra trong việc sử dung và quản lý các nguồn vốn (tài sản sinh kế)nhằm đạt đến mục tiêu và kêt quả sinh kế đã được xác định
Chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của con người và cóthể liệt kê dưới đây:
tài sản sinh kế) như thế nào để đạt hiệu quả cho sinh kế
• Cách thức họ quản lý như thế nào để họ bảo tồn các tài sản sinh kế
•Cách thức họ thu nhận và phát triển như thế nào những kiến thức, kỹ năng cầnthiết để tăng cường sinh kế
những khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau
• Cách sử dụng nguồn lao động (sức lao động, kỹ năng lao động, thời gianlao động) như thế nào để làm được những điều nêu trên
2.1.6 Bối cảnh dễ bị tổn thương
Nắm được kết quả sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ:
• Động lực nào con người đưa ra được những hoạt động mà họ đang thực
hiện?
• Những ưu tiên của họ là gì? Đây là cơ sở để hỗ trợ họ trong việc lập ra
kế hoạch và thực hiện, xác định được các chỉ số phát triển để đánh giá
được hiệu quả của những hỗ trợ đó
• Người dân sẽ hành động như thể nào trước những cơ hội mới đã và sẽ
nắm bắt được?
Trang 72.1.7 Chính sách và thể chế
Các chính sách và thể chế là những cơ hội, có khi trở thành “cứu cánh” chohoạt động sinh kế của hộ gia đình, của cộng đồng Bao gồm những luật lệ, những quiđịnh, những chính sách cụ thể, các tổ chức các cấp, các tổ chức chính phủ và phi chínhphủ liên quan Đặc biệt là các tổ chức dịch vụ nhà nước và bao gồm cả các tổ chứcdịch vụ tư nhân
Chính sách thể chế là một hợp phần quan trọng trong Khung phân tích SKBV
Vì nó không những tạo ra cơ hội nhằm giúp cho người dân và cộng đồng thực hiệncác mục tiêu đã xác định để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống trong sinh kế màcòn là cơ hội, là cứu cánh cho người dân và cộng đồng tăng cường khả năng làm giảmthiểu các tổn thương và sử dụng hợp lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tuy nhiên, phần quan trọng và quyết định vai trò của hợp phần này trongKhung phân tích SKBV là ở chỗ khả năng tiếp cận của các chính sách, thể chế nàyđến người dân như thế nào? Và người dân tiếp cận các cơ hội này ra sao? Điều nàycũng được quyết định cho việc làm thế nào khuyến khích vận động được người dântích cực tham gia vào mọi quá trình phát triển, mặt khác cũng được quyết định bởi sựtích cực tham gia của nhiều bên có liên quan từ chính quyền các cấp, các tổ chứcchính thức hoặc bán chính thức, chính phủ hoặc phi chính phủ, các tổ chức dịch vụnhà nước và các khu vực khác [8]
2.2.NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ
Việt Nam nằm ở vị trí địa lý từ 8030’ Bắc đến 230 Bắc, phía Bắc giáp Trung Quốc,phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông và Nam giáp biển Đông Việt Nam lànước nhiệt đới gió mùa, cả nước chia làm 7 vùng sinh thái NN khác nhau nên tạo ra sựphong phú, đa dạng trong sản xuất NN, cũng như trong sản xuất rau Các vùng đều cónhững tiềm năng nhất định cho sự phát triển của NN nói chung, đậu rau nói riêng.Trong đó khu vực miền Trung bao gồm 12 tỉnh thành kéo dài trên 8 vĩ độ, rất phongphú về các giống rau trồng có nguồn gốc ôn đới và nhiệt đới [1]
Năm 1721 – 1783 Lê Quý Đôn đã tiến hành ghi chép các vùng phân bố rau.Năm1829, ở nước ta có trồng cải trắng, khoai tây Như vậy, nghề trồng rau ở nước ta
ra đời từ rất sớm nhưng với chủng loại rau còn nghèo, diện tích và sản lượng rau thấp.Cho đến nay, nước ta đã có khoảng 70 loài thực vật sử dụng làm rau hoặc chế biếnthành rau Riêng rau trồng có tới hơn 30 loài, trong đó 15 loài là rau chủ lực, trong sốnày có 80% là rau ăn lá [2]
Trang 8Theo thống kê hiện có khoảng 70 loài rau ôn đới, á nhiệt đới, cận nhiệt đới vànhiệt đới đã trồng ở Việt Nam.[4]
Tùy thuộc vào vị trí địa lý và khí hậu ở mỗi miền mà có sự phân bố chủng loạirau khác nhau Khu vực phía Nam: có đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ ChíMinh, Lâm Đồng, Tiền Giang là những nơi có diện tích trồng rau lớn nhất và đa dạng
về chủng loại; khu vực phía Bắc: đồng bằng sông Hồng có khí hậu thích hợp chonhiều loại như mù tạt, bắp cải, su hào, cà chua Thái Bình, Hà Tây là hai tỉnh có diệntích rau lớn nhất Hà Nội, Hải Phòng, Trung du phía Bắc là những vùng sản xuất rautập trung với sản lượng lớn nhất Trong số 70 loài rau trồng ở Việt Nam thì miềnTrung có tới trên 51 loài và thuộc nhóm rau ăn thân lá, ăn quả, hạt là chủ yếu; nhómrau gia vị cũng rất phong phú về chủng loại Nhìn chung rau trồng ở miền Trung cónguồn gốc ôn đới, á nhiệt đới và nhiệt đới
2.3 GIÁ TRỊ CỦA CÂY RAU
Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, chính vì thế trong một năm
có thể bố trí nhiều lứa trồng Do đó trồng rau có tác dụng làm tăng hệ số sử dụngđất, tận dụng tốt đất vườn, đất ruộng mạ Mặt khác, sản xuất rau phù hợp với sảnxuất KT hộ gia đình, tạo cơ hội việc làm cho vùng nông thôn, đặc biệt là lao động ven thành thị; tăng thêm thu nhập trên mỗi đơn vị sử dụng đất, tăng hiệu quả KT, góp phần thúc đẩy KT NN và Nông thôn phát triển Theo kết quả của một số nghiên cứu gần đây nếu bình quân một ha rau cho năng suất 15 tấn thì giátrị KT của rau lớn hơn 2,8 lần so với trồng lúa hoặc 1,8 lần so với trồng đay ở miền Bắc.[5]
Rau xanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhiều ngành nghềkhác nhau như chăn nuôi, công nghiệp chế biến thực phẩm, dược liệu…Rau là nguồnthức ăn quan trọng cho gia súc, để nuôi một đầu lợn cần tiêu thụ 2 – 3 kg rau/ngay,trong đó 50 – 60% loại rau giống như rau người ăn: rau muống, rau cải, rau dền, bắpcải…Ngoài ra, chăn nuôi có thể tận dụng các sản phẩm của trồng rau, vì vậy muốnphát triển chăn nuôi cần phải tính toán đầy đủ sao cho việc sản xuất rau có hiệu quảcao
Đối với việc chế biến đồ hộp và đông lạnh, Việt Nam hiện có 16 nhà máy vớitổng công xuất hơn 90 ngàn tấn sản phẩm/năm; năng suất cao nhất đạt 30 ngàn tấn sản
Trang 9Rau được dùng làm thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày Trước đây, lươngthực đang ở trong tình trạng thiếu thốn thì rau trở thành nguồn lương thực thay thế chocác cây lương thực khác Điều này cho thấy cây rau là loại thực phẩm không thể thiếutrong đời sống người dân, kể cả khi ngày nay đời sống XH đang được nâng cao thì raulại càng giữ một vị trí quan trọng.
Trồng rau tạo ra cơ hội việc làm ở các vùng nông thôn và ngoại thành Nghềtrồng rau có xu hướng thu nhập cao hơn so với các nghề trồng cây khác vì có khảnăng cho năng suất cao và giá trị sản xuất cao hơn một cách tương đối
So với cây lúa thì thu nhập từ rau đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều Thu nhập
từ lúa đạt khoảng 3,8 triệu đông/ha, trong khi đó thu nhập từ trồng bắp cảI là 11,7triệu đông/ha, cà chua 14,3 triệu đồng/ha, dưa chuột 23,6 triệu đồng/ha Được thể hiệnqua bảng 20
Bảng 20: So sánh hiệu quả sản xuất một số loại rau so với cây trồng khác 2.4.SỰ ĐA DẠNG CÁC GIỐNG RAU TRỒNG Ở NƯỚC TA
Rau ở nước ta rất phong phú có tới hàng trăm loại, nhưng thường thấy trong sản xuất
70 – 80 loại Trong những loại đó có nhiều giống, nhiều biến chứng khác nhau Vì vậycác nhu cầu phân loại một cách có hệ thống giúp cho công tác chọn tạo giống nhậpnội, giống đáp ứng thực tiễn sản xuất
* Phân loại theo thực vật học:
+ Lớp đơn từ điệp: Họ hòa thảo, măng tre, họ hành tỏi, hành tây, hành hoa
+ Lớp song từ điệp: Họ Thập tự (cải củ, cải bắp, su lơ); Họ đậu, họ hoa tán (cà rốt,thìa là…); Họ bìm bìm (tía tô, húng, quế); Họ mồng tơi
* Phân loại theo bộ phận sử dụng, gồm:
- Loại ăn rễ củ: Cải củ, cà rốt, củ đậu…
- Loại ăn lá: Bắp cải, cải bẹ, rau dền, xà lách…
- Loại ăn quả: Dưa chuột, bầu bí, mướp, vừng, đậu
Trang 10Nhìn chung những loại rau này đều được trồng phổ biến ở nước ta theo các vụtrong năm, các cách phân loại này rất thuậ lợi cho việc trồng trọt, chăm sóc và giúpcho cây rau có thể thích nghi với điều kiện khí hậu, thời tiết của từng vùng.
Ở Thừa Thiên Huế, cây rau được trồng gần như quanh năm, mặc dù điều kiệnkhí hậu có những lúc không thuận lợi cho lắm, song nơi đây vẫn trồng được nhiều loạirau để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cũng như chăn nuôi và làm hàng hóa trên thịtrường các hộ gia đình, hầu hết các loại rau nơi đây đều có nguồn gốc nhiệt đới và ônđới Các loại rau nơi đây đã được bố trí hợp lý theo thới tiết khí hậu trong năm NhưngThừa Thiên Huế vốn là nơi có khí hậu thời tiết khắc nghiệt nên quá trình sinh trưởng
và phát triển của rau còn gặp nhiều khó khăn, chi phí cho việc chăm sóc khá tốn kémhơn một số vùng phía Bắc nước ta
2.5.KINH TÉ HỘ VÀ ƯU THẾ ĐỐI VỚI SẢN XUẤT RAU QUY MÔ NHỎ 2.5.1.Kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp.
Hộ gia đình là một hình thức KT đặc thù nhất trong hệ thống NN nông thônnước ta Sự tồn tại và phát triển của KT nông hộ là một tất yếu khách quan dưới sự tácđộng của nhiều yếu tố KT XH Mấy chục năm qua, KT hộ ở nước ta đã trãi qua nhữngbước tiến đỗi thăng trầm Một thời gian dài KT nông hộ chưa được đánh giá đúng vịtrí, vai trò của nó trong nhà nước và trong nền KT, do đó nó chưa có điều kiện để pháttriển
Năm 2004, bình quân giá trị sản lượng/ha canh tác của trang trại đạt từ 35 triệuđồng đến 50 triệu đông Trong đó trang trại nuôi trồng thủy sản đạt hơn 100 triệuđồng/ha/năm Những kế quả trên đã mở ra khả năng và hướng đầu tư để phát triển KTtrang trại Theo số liệu của 45 tỉnh, thành phố trong cả nước trong năm 2004 tổng giátrị hàng hóa dịch vụ của các trang trại đạt 8.500 tỷ đồng Nó đã mở ra hướng làm ănmới cho các hộ nông dân, giúp giải quyết việc làm cho nông hộ
2.5.2.Những ưu thế chủ yếu của kinh tế hộ gia đình trong việc sản xuất
rau quy mô nhỏ
Tổ chức sản xuất rau quy mô nhỏ sẽ tận dụng được những ưu thế sau:
- Tận dụng được các nguồn lao động nhàn rỗi trong sản xuất NN, có điều kiện đểchăm sóc nhiều hơn, nên đảm bảo được chất lượng cũng như sản phẩm của rau được
Trang 11- Hộ gia đình sản xuất theo quy mô nhỏ này sẽ ít bị tổn thất so với những vùngrau sản xuất tập trung quy mô lớn khi gặp thời tiết không thuận lợi Sâu bệnh phá hoạiđặc biệt là khi có biến động về giá cả thị trường.
- Dễ dàng ứng dụng được các kinh nghiệm, có khả năng tiếp cận nhanh chóngcác tiến bộ kỹ thuật về sản xuất rau
- Với quy mô sản xuất nhỏ có thể tận dụng được các quỹ đất bằng cách tiếnhành luân canh, xen canh, trồng lẫn với nhiều loại rau khác nhau, tạo ra khả năng cạnhtranh hơn về chất lượng đối với những vùng rau sản xuất chuyên canh với diện tíchlớn
2.6.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ VÀ XUẤT KHẨU RAU
2.6.1.Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Theo số liệu thống kê của tổ chức FAO thì toàn thế giới năm 1980 sản xuấtđược 375 triệu tấn Riêng châu Á, sản lượng hàng năm đạt 400 triệu tấn với mức tăngtrưởng 3% năm (khoảng 5 triệu tấn/năm) Bình quân rau đầu người đạt 90 kg/nămriêng Trung Quốc và Nhật Bản đạt 110 kg/năm Trong số các nước phát triển, TrungQuốc là nước có sản lượng rau cao nhất đạt 130 triệu tấn/năm, với tốc độ bình quân3,4% năm sau Trung Quốc là Ấn Độ với sản lượng 65 triệu tấn/năm Năm 2001, sảnlượng rau cả thế giới sản xuất được 678,06 triệu tấn
Theo số liệu gần đây nhất, năm 2005 diện tích trồng rau trên thế giới khoảng17.999.009 ha, năng suất đạt 138,829 tạ/ha, sản lượng đạt 249,879 triệu tấn Số liệu từbảng B cho thấy: Nước có diện tích trồng rau lớn nhất là Trung Quốc với 8.266.500
ha, sau Trung Quốc là các nước như Ấn Độ (3.400.000 ha), Việt Nam (525.000),Philippin (500.000 ha), Liên Bang Nga (207.000 ha) Trong những năm gần đây cùngvới sự thay đổi chủng loại rau, là quá trình áp dụng những tiến bộ khoa học kỷ thuậtvào sản xuất làm năng suất sản xuất rau của một số nước tăng lên đáng kể Nước cónăng xuất cao nhẩt là Hoa Kỳ 778,01 tạ/ha, sau Hoa Kỳ là các nước như: Pháp(357,143 tạ/ha), Hàn Quốc (318,996 tạ/ha), Phần Lan (200,000 tạ/ha)
Bảng 21 : Tình hình sản xuất rau của một số nước trên Thế giới năm 2005
Về sản lượng rau thì Trung Quốc vẫn dẫn đầu với 142 triệu tấn chiếm 56,82%tổng sản lượng rau thế giới Sau Trung Quốc là Ấn Độ đạt 35 triệu tấn (chiếm 14%).Như vậy, chỉ riêng 2 nước Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm 70,82% tổng sản lượng rautoàn thế giới
Trang 12Rau là cây trồng rất được chú trọng trên thế giới Theo thống kê của tổ chứclương thực thế giới, thì tổng diện tích trồng rau trên thế giới là 17.730.887 ha với tổngsản lượng la 246.480.485 tấn, đạt năng suất bình quân 139.012 tạ/ha Trong đó có một
số nước trồng rau lớn như: Trung Quốc (8,066 triệu ha), Ấn Độ (3,37 triệu ha),Nigeria (0,67 triệu ha), Philippin (0,5 triệu ha) Nhưng cũng có những nước chỉ có 700
ha như Quata, 300 ha như Singgapore
Bảng 22 : Cán cân xuất phập khẩu rau quả thế giới (năm 2003)
Tuy nhiên ở một số nước diện tích trồng rau không lớn nhưng năng suất lại đạtrất cao như: Nhật Bản (năng suất đạt 245,5 tạ/ha, với diện tích chỉ 110.000 ha), Hoa
Kỳ (516,8 tạ/ha) Ở khu vực châu Á và Viễn Đông theo nghiên cứu dự báo cứ thunhập tăng lên 1% thì nhu cầu rau đậu, quả tươi tăng 0,9% Lượng tiêu thụ rau của cácnước trên thế giới khác nhau và phụ thuộc vào đời sống KT của nước đó TheoGansen, năm 1992 nhu cầu rau bình quân cho một người là 200 gram/ngày, mức tiêuthụ đầu người là 73 kg/năm (năm 1996) và ngày có xu hướng tăng lên
Trước nhu cầu rau càng tăng, một số nước trên thế giới đã có những chính sáchnhập khẩu rau khác nhau Năm 2005, nước nhập khẩu rau nhiều nhất trên thế giới làPháp đạt 145,224 nghìn tấn; sau Pháp là các nước như: Canada (143,332 nghìn tấn);Anh (140,839 nghìn tấn), Đức (116,866 nghìn tấn) Trong khi đó, 5 nước chi tiêu chonhập khẩu rau lớn nhất thế giới là: Đức (149.140 nghìn USD); Pháp (132.942 nghìnUSD); Canada (84.496 nghìn USD); Trung Quốc (80.325 nghìn USD); Nhật Bản(75.236 nghìn USD)
2.6.2.Tình hình sản xuất rau ở trong nước
Nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước; (lịch
sử NN việt Nam NXB Nnghiệp 1994); nước ta cũng là trung tâm khởi nguyên củanhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) Tuy nhiên, dochịu ảnh hưởng của một nền NN tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngànhtrồng rau còn một khoảng cách rất xa so với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác.Ngay cả những năm gần đây, mức độ phát triển vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khácnhau trong sản xuẩt NN
Trong” Đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999-2010” của Bộ
Trang 13tiêu dùng trong nước nhất là các vùng dân cư tập trung (đô thị, khu công nghiệp…) vàxuất khẩu Phấn đấu đến năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người 85kgrau/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 690 triệu USD” [7]
Theo số liệu của Bộ NN và phát triển nông thôn năm 2000 nước ta có 377.000
ha rau, sản lượng hằng năm là 5,6 triệu tấn, trung bình 14, 854 tấn/ha Đến năm 2004nước ta đã tăn diện tích lên 520.000 ha với sản lượng 6,45 triệu tấn, trung bình đạt12,403 tấn/ha Qua đó ta thấy diện tích trồng rau năm 2004 tăng 37,94% so với năm2000
Theo số liệu thống kê, diện tích trồng rau cả nước đến năm 2005 là 525,0 nghìn ha,tăng 59.96% so với năm 1995 (328,2 nghìn ha) Bình quân mỗi năm tăng 19,68 nghìn
ha (mức tăng 5,99 %/năm) Năng xuất rau nói chung còn thấp và bấp bênh Năm
2005, năng suất đạt 133,5 tạ/ha đạt 96,16%so với mức trung bình của thế giới(138,829 tạ/ha) Trong khi đó sản lượng rau sản xuất cả nước năm 2005 đạt 6,6 triệutấn so với năm 1995 (4,1 triệu tấn) tăng 60,97% hay tăng 2,5 triệu tấn Mức sản lượngtăng trung bình hàng năm là 0,25 triệu tấn chủ yếu là do tăng diện tích đất gieo trồng
Bảng 23 : Tình hình sản xuất rau của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2005
Rau quả nước ta tuy đa dạng, phong phú và có diện tích lớn nhưng phát triểnchưa theo yêu cầu của thị trường , quy trình canh tác chưa thống nhất, nhiều giống raucòn sử dụng giống củ Mặc dù việc sản xuất rau phân bố đều trong cả nước với gần80% dân số nước ta sống ở nông thôn và miền núi nên việc sản xuất rau còn manhmún, nhỏ lẻ, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường về chất lượng, kích thước,hình dáng và năng suất thấp nên không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu và làm nguyên liệucho ngành công nghiệp chế biến
2.6.3.Tình hình tiêu thụ rau
Kế hoạch phát triển rau của Việt Nam đã được Bộ NN và phát triển Nông thônxây dựng về lượng tiêu thụ rau bình quân trên đầu người trong năm/tháng và diện tích,sản lượng rau trong những năm tới như sau: Về cơ cấu cây trồng phải đảm bảo một tỷ
lệ hợp lý, tính từ những năm sau 2000 đến 2010 là: Rau ăn lá chiếm 35% sản lượng;rau ăn quả chiếm 40% (trong đó đậu rau 10%); rau gia vị (ớt, hành, mùi, tỏi, gừng…)chiếm 15%; rau ăn củ, hoa, rau khác chiếm 10% Trong thành phần này ít nhất 80%rau tươi, còn lại là rau chế biến.[3]
Trang 14Bảng 24: Thống kê tình hình tiêu thụ rau trên đầu người Việt Nam năm
2000 và dự tính theo giai đoạn 5 năm đến 2010.
Sản phẩm rau không chỉ tiêu dùng nội địa, mà còn được chế biến thành các sảnphẩm xuất khẩu có giá trị KT Trong mấy năm gần đây việc sản xuất và chế biến rau
để xuất khẩu đạt sản lượng cao, năm 2004 kim ngạch xuất khẩu rau của ta đạt 178,8triệu USD Đến năm 2005 thì đạt được 250 triệu USD, theo thống kê thì đến năm
2006 kim ngạch xuất khẩu rau đạt được 259 triệu USD, và ước đạt trong năm 2007 là
300 triệu USD
Bảng 25: Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả qua các năm
2.7 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGHỀ TRỒNG RAU Ở NƯỚC
2.7.1.Thuận lợi
- Rau là ngành sản xuất NN có khả năng phát triển mạnh, bởi nước ta nằmtrong khu vực nhiệt đới, nắng lắm mưa nhiều Hơn nữa địa hình nước ta một phần gắnvới lục địa, một phần thông với đại dương, địa hình trải dài suốt 15 vĩ độ, với khí hậu
đa dạng, vì vậy mà có nhiều loại cây trồng khác nhau, mang lại năng suất cao và cógiá trị KT lớn
- Hơn nữa nghề trồng rau nước ta đã có từ lâu đời, nhân dân ta có nhiều kinhnghiệm, cần cù, chăm chỉ do đó đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản cho nghề sản xuấtrau
- Trong những năm gần đây nghề sản xuất rau đã được Nhà Nước chú trọngphát triển bằng cách ban hành nhiều chính sách, tạo hành lang pháp lý ngày càngthuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh rau phát triển
- Cơ chế của nền KT mở cửa được áp dụng nên cơ hội phát triển thị trườngxuất khẩu rau ngày càng được mở rộng
- Hàng loạt những tiến bộ khoa học, công nghệ mới trong nước và thế giớiđang và sẽ là tác nhân mạnh mẽ tạo ra bước ngoặc mới để tăng năng suất, chất lượngsản phẩm
- Với đội ngũ cán bộ nghiên cứu về rau có trình độ năng lực và nhiệt tình trong
Trang 15đã cung cấp đủ rau cho người tiêu dùng quanh năm, đó là một bước tiến bộ cần đánhgiá trong lịch sử nghề trồng rau ở Việt Nam.
- Nhờ có các phương tiện truyền thông báo chí, truyền hình, mạng Ingternetcùng những phương tiện khác phát triển mạnh, giúp cho người trồng rau có đầy đủnhững thông tin về giá cả cũng như thị trường và là nơi cung cấp những tài liệu về kỷthuật quan trọng trong sản xuất rau
- Công nghệ thu hoạch của chúng ta còn kém nên đã làm thất thoát một lượnglớn sản phẩm
- Chi phí cho việc vận chuyển tăng cao, phương tiện vận chuyển không đảmbảo đã làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiêu chuẩn rau
- Việt sử dụng thuốc kích thích, thuốc tăng trưởng vượt quá mức cho phép đãlàm cho dư lượng độc tố tồn tại trong rau nhiều, gây ảnh hưởng đến sức khỏe chongười tiêu dùng và làm giảm khả năng cạnh tranh về chất lượng rau sạch so với cácnước khác trên thế giới, ảnh hưởng đến việc xuất khẩu rau
- Chưa có một nền sản xuất hàng hóa lớn, sản xuất rau chưa được quan tâmđúng mức và xứng đáng với tầm quan trọng của nó nên hiệu quả còn thấp
- Việc chuyển giao công nghệ trong sản xuẩt rau chưa được chú trọng nên hiệuquả còn thấp
- Sự phát triển nghề trồng rau còn tập trung vào các thành phố và khu côngnghiệp vốn có một diện tích dành cho trồng trọt khá ít Trong khi đó các vùng nôngthôn, miền núi chưa khai thác hết tiềm năng về đất đai
Trang 16- Chưa quan tâm đúng mức đến việc lai tạo, để chọn tạo những giống rau mới
có năng suất cao, phẩm chất tốt
- Công nghệ tiếp thị thị trường còn hạn chế
- Nghề trồng rau còn mang tính tự cung tự cấp, khả năng đầu tư cho cây rau ởcác hộ gia đình còn thấp nên hiệu quả của việc trồng rau còn thấp
2.8.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc khu vực miền Trung, có diện tích đất tựnhiên 500.920 ha, diện tích đất NN 51.527 ha trong đó đất trồng rau là 2.789 ha Dân
số Thừa Thiên Huế 1,1 triệu người, nhu cầu rau tươi hằng ngày cua người dân là rấtlớn Ngoài ra thành phố Huế là một thành phố du lịch, thành phố FESTIVAL hằngnăm du khách đến Huế khá đông Nhu cầu về rau cao cấp, rau an toàn là rất lớn vì thếcác hoạt động sinh kế về nghề rau có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn raucho thị trường Tuy vậy thời tiết khí hậu ở Thừa Thiên Huế hết sức khắc nghiệt nắnghạn, ngập úng, mưa nhiều, rét đậm nên việc trồng rau gặp rất nhiều khó khăn, mặtkhác do trình độ thâm canh thấp và chưa hình thành được tập quán sản xuất rau hànghóa, việc sản xuất rau chỉ mang tính tự cung tự cấp Và việc sản xuất rau ở đây cũngchỉ đáp ứng một phần nhu cầu trong toàn tỉnh
Để nắm được tình hình diễn biến về diện tích rau của các huyện và thành phốHuế trong những năm trở lại đây chúng ta nghiên cứu kết quả bảng thể hiện ở bảngsau
Bảng 26: Diện tích rau xanh của các huyện, thành phố Huế.
Qua bảng ta thấy diện tích rau của các huyện và thành phố Huế qua các năm có
xu hướng ngày một tăng nhanh, tổng diện tích rau toàn tỉnh tăng 39,05% so với năm
2000 Trong đó huyện có diện tích rau lớn nhất hiện nay là huyện Phú Vang với 1.150
ha, tăng 42,86% so với năm 2000, nhưng huyện có tỉ lệ diện tích tăng lớn nhất làhuyện Quảng Điền tăng 193,51% so với năm 2000 Việc diện tích rau tăng trên toàntỉnh qua một số năm có rất nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất
là do giá trị KT của cây rau mang lại cao hơn hẳn so với các loại cây lương thực, thựcphẩm khác, từ đó cây ra được nhiều người dân lựa chọn làm cây mục tiêu sinh kế củanông hộ mình
Trang 17Về năng suất qua số liệu (bảng ), ta thấy năng suất rau toàn Tỉnh tăng châm,thậm chí cớ huyện năng suất giảm như Quảng Điền Riêng thành phố Huế có năngsuất rau cao nhất so với các huyện khác trong tỉnh 133,1tạ/ha.
Bảng 27 : Năng suất rau xanh của các huyện, thành phố Huế.
Qua đó ta thấy giữa các vùng trong tỉnh có sự chênh lệch về trình độ thâm canhrau cũng như kinh nghiệm sản xuất rau, nông dân ở thành phố vượt trội hơn so với cáchuyện, do nông dân thành phố có nhiều khả năng hơn để tiếp cận và ứng dụng cácthành tựu khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất rau So sánh năng suất của năm
2005 với năm 2000 ta thấy hầu hết có năng suất giảm, do tình hình sâu bệnh phát triểnmạnh Ngoài ra có một nguyên nhân khách quan khá qua trọng làm năng suất cáchuyện không cao, có năm còn giảm đó là kỹ thuật canh tác của người sản xuất còn ởmức thấp, đã sử sụng quá liều lượng nhiều loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật độchại làm hạn chế quá trình sinh trưởng, phát triển của rau và làm cho rau phát triểnchậm và sâu kháng thuốc
Để biết được tình hình sản lượng rau của các huyện và thành phố Huế trongnhững năm trở lại đây chúng ta quan sát kết quả ở bảng sau:
Qua bảng ta thấy hầu hết sản lượng rau của các huyện đều tăng, riêng thànhphố Huế và huyện Hương Thủy là có sản lượng rau giảm Trong đó thành phố Huếgiảm 10,5% so với 2000, huyện Hương Thủy giảm mạnh nhất 15,53% so với năm
2000 Nhìn chung cùng với sự phát triển chậm của diện tích và năng suất rau trongtoàn tỉnh thì sản lượng rau cũng tăng chậm Tuy nhiên, huyện Nam Đông và huyệnQuảng Điền là có sản lượng rau tăng lên đáng kể Để góp phần thúc đẩy sự tăng lên vềsản lượng rau trên toàn tỉnh thì cần đòi hỏi các ngành chức năng có biện pháp khắcphục sự yếu kém về năng suất Cần chuyển giao tiến bộ về khoa học, kỹ thuật tronglĩnh vực sản xuất rau, đồng thời quy hoạch những vùng sản xuất rau tập trung nhằmthuận tiện cho vấn đề chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh
Với đặc điểm địa hình đất đai và tình hình thời tiết, khí hậu ở Tỉnh Thừa ThiênHuế, như đã phân tích ở trên, có thể nói rằng là môi trường thuận lợi cho việc pháttriển đa dạng nhiều loại rau vùng nhiệt đới gió mùa
Bảng 28 : Sản lượng rau xanh của các huyện, thành phố Huế.
Hiện nay ở tỉnh Thừa Thiên Huế có đến 51 loại rau trong số 70 loại rau trồng ởViệt Nam thuộc 14 họ Trong đó có 6 loại thuộc họ thập tự (Crueifereae), 8 loại thuộc
họ bầu bí (Cuicurbitaceae), 12 loại thuộc họ đậu (Fabaceae), còn lại thuộc họ cà
Trang 18(Solanaceae), họ đay (Titiaceae), họ cúc (Copositae) Rau ở Thừa Thiên Huế gồm 4nhóm rau ăn lá, than; ăn quả, hoa; ăn củ và nhóm rau gia vị thì nhóm rau ăn quả và ăn
lá có số lượng tương đương nhau là 17 loại chiếm 33%, 10 loại rau ăn củ chiếm19,6%, 7 loại rau ăn trái và hạt chiếm 13,7%
Trang 19PHẦN THỨ BA ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nông hộ trồng rau và hệ thống sản xuất rau
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.Tình hình kinh tế - XH của xã
+ Dân số, lao động
+ Các loại hình sinh kế của nông hộ
2.Tình hình sản xuất rau tại xã Quảng Thành:
+ Diện tích, năng suất, sản lượng rau
+ Chủng loại, cơ cấu, mùa vụ
+ Tình hình tiêu thụ rau
+ Thời vụ
+ Hiệu quả kinh tế
+ Thị trường tiêu thụ
3.Vai trò sản xuất rau đối với sinh kế của nông hộ
4.Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của sinh kế nghề rau
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích và nội dung nghiên cứu có kết quả tốt, có độ tin cậy cao,chúng tôi sử dụng một số phương pháp điều tra nghiên cứu sau đây:
- Thu thập số liệu, phỏng vấn trực tiếp (theo phương pháp PRA) và điều trathông tin hộ theo phiếu điều tra tức phương pháp điều tra trực tiếp có sự tham gia củangười dân trồng rau
- Thu thập thông tin thứ cấp: Điều tra chung về tình hình sản xuất rau bằngcách thu thập thông tin dữ liệu thứ cấp ở xã, hợp tác xã, người am hiểu cộng đồng vềhiện trạng, các điều kiện tự nhiên, điều kiện KT - XH và nhận định về những tình hìnhchung trên địa bàn toàn xã
Trang 21PHẦN THỨ TƯ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SINH KẾ CỦA XÃ QUẢNG THÀNH 4.1.1.Lĩnh vực văn hóa - xã hội
* Về giáo dục - đào tạo:
Trong năm 2006 toàn xã có 2.472 học sinh Trong đó: Ngành học nầm non:
416 em, đạt 100% kế hoạch huy động Tiểu học: 1.119 em, đạt 100% kế hoạch huyđộng Trung học cơ sở: 937 em, đạt 98% kế hoạch huy động Trong đó riêng lớp 6 đạt100% kế hoạch huy động Nhiệm vụ phổ cập giáo dục cũng được duy trì, huy độngđược 20 học viên, đạt 100% kế hoạch
Về chất lượng: Nhìn chung chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến tíchcực, tỷ lệ học sinh đạt khá, giỏi tăng so với năm trước, tỷ lệ về học sinh yếu kémgiảm Đội ngủ giáo viên từng bước được chuẩn hoá
* Về y tế - dân số:
Đã thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, nâng cao chất lượng và tăngcường công tác tuyên truyền, giám sát dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân,quan tâm cấp phát thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, duy trì số lượng bảo hiểm y tế tựnguyện lên trên 4.000 người, đồng thời thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác khámchữa bệnh, phòng chống dịch bệnh do vậy đã hạn chế được tình hình dịch bệnh xãy ratrên địa bàn
Xã đã thực hiện được 03 đợt chăm sóc sức khỏe sinh sản , với tổng số ngườitham gia trên 650 người, trong đó 98 trường hợp thực hiện các biện pháp tránh thai
Đã tiến hành cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi, nâng tổng số trẻ
em được cấp thẻ lên 1.120 cháu
4.1.2.Lĩnh vực kinh tế.
Với quyết tâm xây dựng sản xuất NN theo hướng sản xuất hàn hóa, xã đã tíchcực xây dựng kế hoạch và tập trung đầu tư vào công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
Trang 22điều kiện canh tác và thâm canh, quy hoạch vùng sản xuất do đó bước đầu đã tạo dángdấp các vùng sản xuất theo định hướng và đạt một số kết quả:
kế hoạch cả năm
Đối với cây rau màu: Diện tích trồng rau màu được duy trì và mở rộng ở một
số vùng khô ráo đưa tổng diện tích trồng rau lên 30 ha đạt 100% kế hoạch năm 2006,bước đầu đã tạo ra một số diện tích chuyên rau trên địa bàn Qua đó tạo điều kiện tăngthu nhập và việc làm tại chỗ cho một số người dân
- Về chăn nuôi:
Trước diễn biến phức tạp của dịch cúm gia cầm và dịch lở mồn lông móng củagia súc, trong năm 2006 xã đã quan tâm củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chốngdịch bệnh, Ban chăn nuôi thú y, tăng cường công tác tuyên truyền vận động công táckhống chế và phòng chống dịch cúm gia cầm nên do đó dịch bệnh chưa xãy ra trên địabàn:
- Tổng đàn lợn có trên 9.000 con, đạt 90% kế hoạch năm
- Tổng đàn trâu bò trên 550 con, đạt trên 100% kế hoạch
- Tổng đàn gia cầm trên 50.000 con, đạt 70% kế hoạch
Nhìn chung chăn nuôi vẫn chưa được đầu tư phát triển mạnh, một số gia trạibước đầu được xây dựng, song quy mô vẫn còn nhỏ do ảnh hưởng của dịch bệnh Tuynhiên với mức độ đầu tư và kiến thức chăn nuôi của nhân dân đã giữ vững và tránhđược những thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và cho hộ gia đình nói riêng
- Về nuôi trồng thủy sản:
Để phát triển nuôi trồng thủy sản và KT vùng đầm phá theo hướng bền vững an
Trang 23năm nay toàn vùng đã thả nuôi được 51 ha, đạt 68% kế hoạch diện tích toàn vùng,trong đó có 5 ha chuyên cá; 8,5 ha tôm xen cá và 37,5 ha chuyên tôm với 520 vạn contôm giống và 27.200 con cá dìa Nhờ dịch bệnh đã được khống chế và kỹ thuật nuôitiến bộ nên năng suất đạt 8 tạ/ha và các hộ nuôi trồng đã thực sự có lãi từ 5 – 7 triệuđồng/hộ.
- Về dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, một chương trình KT trọng điểm nhằmchuyển đổi cơ cấu KT trong thời kỳ đổi mới Song nhiệm vụ này chưa phát triển, chỉduy trì một số ngành nghề, dịch vụ với quy mô nhỏ của các hộ gia đình, doanh sốkhông đáng kể, chưa có chuyển biến trong việc giải quyết việc làm tại chỗ và phân bổlại lao động, tuy có một số đề án xây dựng các doanh nghiệp tư nhân trên một sốngành nghề dịch vụ nhưng đang trong quá trình chuẩn bị và xúc tiến đầu tư
Mạng lưới dịch vụ sản xuất và dịch vụ thương mại được duy trì theo chiềuhướng có đầu tư mở rộng gắn với quá trình cơ giớ hóa dịch vụ sản xuất đã góp phầnđáp ứng các nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn
4.1.3.Tình hình dân số, lao động của xã
Lực lượng lao động là động lực quan trọng của sự phát triển KT - XH của mộtquốc gia hay của một địa phương Nói như vậy là bởi vì mọi sự tăng trưởng, phát triển
về KT, XH đều do con người tạo ra tất cả đều nhằm phục vụ cho nhu cầu tồn tại vàphát triển của con người Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, dân số càng đông là mộttrở ngại lớn cho sự phát triển KT XH, nâng cao đời sống nhân dân
Để biết được sự biến động về vấn đề dân số có tác động như thế nào đến nền
KT của xã Quảng Thành, chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình dân số của xã
Bảng 1: Dân số, số hộ và lao động của xã trong năm 2006
2.2461.887316
100,0084,0214,07
Trang 24Tổng lao động
Lao động nam
Lao động nữ
Lao độngLao độngLao động
5.3442.6352.709
100,0049,3150,69
(Nguồn: Từ UBND xã Quảng Thành)
Xã Quảng Thành với tổng số nhân khẩu lên đến 10.687, và có đến 2.246 hộ.Trong đó có đến 1.887 hộ hoạt động sản xuất NN, chiếm 84,02% trong tổng số hộ trênđịa bàn toàn xã Còn lại là các hộ tham gia hoạt động sản xuất phi NN chiếm tỷ lệthấp15,98% Trong những năm vừa qua, xã đã và đang thực hiện công tác xoá đóigiảm nghèo và cho đến nay theo điều tra thì số hộ nghèo hiện còn 316 hộ chiếm14,07% Đây là một bài toán khó cho các cấp lãnh đạo trong việc thực hiện giảm tỷ lệ
hộ nghèo xuống thấp trong khi Quảng Thành là một xã nghèo, thuần nông
Theo thống kê trên địa bàn toàn xã thì hiện nay số người trong độ tuổi lao động
là 5.344 lao động, lao động nam là 2.635 người, chiếm 49,31%, còn lao động nữ cónhiều hơn chiếm 50,69% Để giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người dân trong độtuổi lao là công việc không đơn giản nó đòi hỏi phải có sự nổ lực của bản người laođộng mà còn là sự quan tâm của nhà nước
4.2.TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ SỬ DỤNG ĐẤT XÃ QUẢNG THÀNH
Đất đai là một trong những yếu tố đầu vào hết sức quan trọng trong quá trìnhsản xuất của con người, là nơi trú ngụ, sinh sống và tổ chức hoạt động của các hộ giađình, các cơ quan, các tổ chức Cùng với sự biến chuyển của quá trình công nghiệphóa, quá trình đô thị hóa thì đất đai trong cả nước nói chung, cũng như đất đai trên địabàn xã Quảng Thành nói riêng, đều có chiều hướng biến động
Qua bảng 2 về tình hình đất đai của xã trong năm 2006 cho phép ta đưa ranhững đánh giá sau:
Bảng 2: Tình hình đất đai của xã Quảng Thành trong năm 2006
Trang 25NN có diện tích khá lớn: 646,09 ha chiếm 59,71% trong tổng diện tích đất tự nhiên.
Số còn lại được sử dụng vào mục đích khác như: đất ở, đất chuyên dùng, đất chưa sửdụng…với diện tích 435,91 ha chiếm 40,29%
Đất NN của xã Quảng Thành được sử dụng chủ yếu cho việc trồng cây hàngnăm và nuôi trồng thuỷ sản Trong đó đất trồng cây hàng năm của xã là 558,17 ha,chiếm tỷ lệ khác cao trong tổng diện tích đất NN đến 86,39% Chỉ có 13,61% diện tíchđất dùng cho nuôi trồng thuỷ sản
Trong cơ cấu diện tích đất trồng cây hàng năm thì diện tích đất trồng lúa lênđến 490,06 ha, chiếm 87,80% trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm Trongnhững năm gần đây diện tích đất trồng rau trên địa bàn toàn xã tiếp tục tăng Theochúng tôi điều tra cho đến cuối năm 2006 diện tích đất trồng rau trên toàn xã lên đến
60 ha, chiếm 10,75% trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm Việc diện tích đấttrồng rau tăng lên thể hiện sự quan tâm của người dân trên địa bàn xã đối với sinh kếnghề rau Diện tích đất sử dụng cho trồng các loại cây rau màu khác như: Lạc, đậu,ngô…chỉ có 8,11 ha, chiếm 1,45%
Điểm qua tình hình đất đai của xã cho ta thấy xã đã có một kế hoạch cho việc
sử dụng đất hợp lý, đúng mục đích phù hợp với sự phát triển của XH
4.3.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TẠI QUẢNG THÀNH
Quảng Thành là một xã có truyền thống trồng rau từ lâu đời Trong những nămtrở lại đây tình hình sản xuất rau trên địa bàn xã có những biến động do điều kiện thời
Trang 26tiết, chính sách về cơ cấu cây trồng của xã, giá cả thị trường,…đã có những tác độngđến việc trồng rau trên địa bàn.
4.3.1.Diện tích, năng suất và sản lượng rau tại Quảng Thành trong năm
2006
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng rau tại Quảng Thành trong năm 2006
(Nguồn: Từ UBND xã Quảng Thành)Qua bảng chúng ta thấy diện tích trồng rau trong năm 2006 của xã là 60 ha,trong năm qua do điều kiện thờI tiết thuận lợI và được ngườI trồng rau chăm sóc tốtnên năng suất đạt được 87,3 tạ/ha Chính điều đó đã làm cho năng suất rau trên địabàn toàn xã trong năm qua đạt 523 tấn
4.3.2.Biến động diện tích đất trồng rau qua các năm tại Quảng Thành
Để đánh giá sự biến động diện tích đất trồng rau tạI xã chúng tôi đã tiến hành thu thậpdiện tích trồng rau qua các năm từ 2003 – 2006
Bảng 4: Diện tích trồng rau qua các năm tại Quảng Thành
(*): Dự kiến trong năm 2007 của xã Quảng Thành
(Nguồn: Từ UBND xã Quảng Thành)Qua bảng ta nhận thấy diện tích đất trồng rau qua các năm có tăng với mứctăng ổn định, trung bình 4 ha/năm Và theo dự kiến của xã đến năm 2007 sẽ có diệntích đạt 64 ha Điều đó cho ta thấy vai trò của trồng rau trong nền KT của xã rất quantrọng
Trang 274.3.3.Tình hình đa dạng giống rau tại Quảng Thành
Để đánh giá được sự đa dạng trong việc trồng các loại rau trên địa bàn, chúngtôi đã tiến hành điều tra và thu thập được những loại rau mà người dân Quảng Thànhthường xuyên trồng và trồng với diện tích lớn
Bảng 5: Danh mục các loại rau chính tại Quảng Thành
(Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2006)
4.3.4.Đánh giá vai trò/tầm quan trọng của sản xuất rau
Trong các hoạt động sinh kế của người dân trong xã Quảng Thành, qua thuthập thông tin thứ cấp từ những người am hiểu trong cộng đồng Chúng tôi được biếthiện nay trên địa bàn toàn xã đã tồn tại một số hoạt động sinh kế truyền thống tồn tạitrong cộng đồng như sau
Do đặc điểm và điều kiện tự nhiên của xã Quảng Thành thuộc huyện QuảngĐiền, nên trên địa bàn toàn xã có một số thuận lợi cho sự tồn tại của các hoạt độngsinh kế như: (1) Trồng lúa, trồng màu; (2) trồng rau;(3) chăn nuôi gia súc; (4) buôn
Trang 28bán nhỏ; (5) nuôi trồng thủy sản (6) tiểu thủ công nghiệp; (7) một số hoạt động sinh
kế khác;(8) làm thuê theo thời vụ; Trong các loại hoạt động sinh kế đó, thì có đến 5loại hoạt động sinh kế mang lại hiệu quả cao và được nhiều hộ gia đình tham gia nhất
Bảng 6: Các hoạt động sinh kế chính ở xã Quảng Thành
(Nguồn từ người am hiểu cộng đồng năm 2006)
Sinh kế đựơc nhiều hộ gia đình tham gia là trồng lúa và trồng màu với 1.342
hộ, đối với nghề nông thì đây vẫn là hoạt động sinh kế mang lại thu nhập theo kiểutruyền thống Tuy nhiên do điều kiện sản xuất không thuận lợi (giá các yếu tố đâu vàocao nhưng giá bán lại thấp) nên năng suất thấp, chủ yếu là tự cung tự cấp, chỉ trừ cómột số hộ trồng với diện tích lớn nhưng hiệu quả trồng lúa vẫn không cao Mặt khác,
do phải dùng phân bón và thuốc BVTV nhiều trong quá trình trồng trọt nên hoạt độngsinh kế này làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường
Sau trồng lúa và trồng màu thì trồng rau được xếp thứ 2 với 762 hộ Mặc dù ởnhững vùng khác nhau thì nghề trồng rau còn mang tính tự phát và nhiều hộ gia đình
Trang 29thu nhập ổn định, giúp xóa đói giảm nghèo, kỹ thuật trồng rau đơn giản, chi phí chocác yếu tố đầu vào thấp trong khi đó nhu cầu tiêu thụ rau là rất lớn
Thực tế ở các hộ gia đình cho thấy trồng rau đem lại thu nhập cao hơn trồng lúarất nhiều Bên cạnh đó việc trồng rau ít sử dụng thuốc BVTV hơn so với trồng lúa nên
ít làm ô nhiễm môi trường hơn
Chăn nuôi gia súc là sinh kế có vị trí ưu tiên chiếm thứ 3 với 651 hộ tham gia.Tuy nhiên do người dân thiếu vốn và thiếu kiến thức nuôi nên đầu tư không đồng bộ
về chuồn trại, dễ bị dịch bệnh làm ảnh hưởng đến môi trường
Tiếp đến là buôn bán nhỏ với 583 hộ đây là hoạt động sinh kế mang lai thunhập ổn định cho nông hộ nhưng số hộ tham gia hoạt động sinh kế này không nhiều.Tùy vào khả năng của nông hộ mà nguồn vốn bỏ ra nhiều hay ít, buôn bán các loạihàng tạp hóa khác nhau Xếp thứ năm là hoạt động nuôi trồng thủy sản có 95 hộ,nhưng trong những năm trở lại đây thì hoạt động này không đem lại hiệu quả cho lắm,thâm chí có hộ còn mất trắng và không ít hộ hiện còn nợ vốn vay ngân hàng
Các hoạt động sinh kế như tiểu thủ công nghiệp,làm thuê theo thời vụ và cáchoạt động sinh kế khác mặc dù không mang lại nhiều thu nhập và các hoạt động sinh
kế này về lâu về dài không ổn định Tuy nhiên đây cũng là lựa chọn không ít của các
hộ dân
Trong các hoạt động sinh kế thì sinh kế nghề rau không đòi hỏi đầu tư nhiềuvào cơ sơ hạ tầng mà chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, cây giống và kỹ thuậtchăm sóc nên được khá nhiều hộ gia đình chọn lựa trong hoạt động sinh kế của nônghộ
4.3.5.Thời vụ gieo trồng của một số loại rau chính
Bảng 7: Số lứa trồng của một số loại rau chính trong năm
Trang 30Rau dền 2,4 2,7 3,9 3,0
(Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2006)
Từ bảng trên cho ta thấy có sự chênh lệch về số thời vụ trong năm đốI vớI 3loại hộ trong từng loại rau Hộ nghèo thường có số vụ trồng ít hơn so với hộ trungbình và hộ khá Ví dụ, ở loại rau xà lách số vụ trồng của hộ nghèo và hộ trung bìnhchỉ 5,6 lứa/năm, trong khi đó hộ khá thi cao hơn đến 7,2 lứa/năm Trung bình cho 3loại hộ đối với rau xà lách là 6,1 lứa/năm Có sự chênh lệch về số lứa trồng cho từngloại hộ là do hộ khá có mức đầu tư cao hơn, có điều kiện trong việc trồng rau trái vụnên đem lại thu nhập cao hơn so với hộ nghèo và hộ trung bình
Bảng 8: Thời vụ gieo trồng của một số loại rau