Chihội nghề cá là cơ quan đại diện người dân trong các hoạt động quản lý cộngđồng, phối hợp và chủ trì thực hiện các hoạt động về quản lý đầm phá như raquy chế điều lệ về quản lý khai
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN 1: ĐẶT VẦN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu cụ thể 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Lý thuyết về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng 3
2.2 Chuyển biến quản lý tài nguyên trên phá Tam Giang 4
2.2.1 Việc quản lý trước khi có chi hội nghề cá 4
2.2.2 Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng 5
2.3 Xây dựng đồng quản lý thủy sản 7
2.3.1 Khái niệm ĐQL 7
2.3.2 Xây dựng tổ chức cộng đồng trong ĐQL 7
2.3.3 Sự hình thành và phát triển của hội nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế 9
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
3.3 Nội dung nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 13
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 15
4.1.1 Đặc điểm cộng đồng thủy sản tại vùng nghiên cứu 15
4.1.2 Đặc điểm của hộ khảo sát 18
4.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên đầm phá 21
4.2.1 Đặc điểm tài nguyên và phân vùng quản lý và sử dụng 21
4.2.2 Hoạt động khai thác thủy sản 22
4.2.2 Hoạt động nuôi trồng thủy sản 23
4.4 Quá trình cải tiến quản lý tài nguyên và xây dựng đồng quản lý 27
4.4.1 Công tác xây dựng chi hội 28
4.4.2 Phân vùng quy hoạch quản lý thủy sản có sự tham gia của cộng động 29
4.4.3 Xây dựng quy chế bảo vệ thủy sản dựa vào cộng đồng 30
4.4.4 Trao quyền 32
4.4.5 Đăng ký nghề, thu phí quản lý ngư cụ mắt lưới 33
4.4.6 Công tác tuyên truyền, giải quyết xung đột 34
2.4.7 Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý 34
4.5 Hoạt động và vai trò của chi hội nghề cá trong việc tiến hành KT và NTTS dựa vào cộng đồng 35
Trang 24.5.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi hội 35
4.5.2 Các hoạt động của chi hội 38
4.5 3 Đánh giá của hội viên về chi hội 41
4.6 Đánh giá kết quả cải tiến quản lý 45
4.6.1 Kết quả nuôi trồng thủy sản qua các năm 45
4.6.2 Kết quả khai thác thủy sản và bảo vệ sản xuất 47
4.7 Kết quả của việc quản lý dựa vào cộng đồng đối với việc cải thiện sinh kế người dân và môi trường thủy sản 49
4.7.1 Thay đổi về sinh kế và thu nhập của hộ 49
4.7.2 Thay đổi về môi trường, tài nguyên thiên nhiên 54
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghi 57
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thông tin hiện trạng sử dụng đất xã Hương Phong 16
Bảng 2: Tình hình dân số và lao động tại Hương Phong 17
Bảng 3: Đặc điểm cơ bản của hộ sản xuất thủy sản thôn VQĐ 19
Bảng 4: Tài nguyên và phân vùng quản lý 21
Bảng 5: Hoạt động KTTS mấy năm gần đây 23
Bảng 6: Hoạt động nuôi trồng thủy sản 24
Bảng 7 : Đánh giá các hoạt động xây dựng ĐQL tại Hương Phong 27
Bảng 8: Dự kiến phân vùng tại VQĐ 30
Bảng 9: Sự hiểu biết của hội viên về các hoạt động của chi hội 35
Bảng 10: Tình hình phát triển chi hội nghề cá Đông Phong ở Hương Phong36 Bảng 11: Đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động của chi hội 42
Bảng 12: Đánh giá kết quả thực hiện của hội viên 44
Bảng 13: Tiến trình nuôi xen ghép 46
Bảng 14: Kết quả hoạt động nuôi trồng thủy sản tại thôn VQĐ 46
Bảng 15 : Sự thay đổi trong hoạt động khai thác tự nhiên của hộ 48
Bảng 16: Nguồn thu và mức thu nhập của hộ 50
Bảng 17 : Sự thay đổi sinh kế của hội viên 51
Bảng 18 : Nguyên nhân sinh kế người dân thay đổi 52
Bảng 19: Thu nhập của hộ khai thác và hộ nuôi trồng 52
Bảng 20: Sự thay đổi môi trường đầm phá 54
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HỘP
Sơ đồ 1: Tổ chức chi hội 29
Hộp số 1: Quy định của chi hội: 31
Hộp số 2: Xử lý vi phạm quy chế 31
Hộp số 3:Mục tiêu của chi hội 37
Hộp số 4 :Nguồn thu của hội 41
Hộp số 5: Nguyên nhân không nuôi chuyên tôm nữa 47
Hộp số 6: Giá bán các loại tôm cá 53
Hộp số 7: Ý kiến về nuôi xen ghép 53
Hộp số 8: Chi phí ngư cụ 53
Hộp số 9: Ý kiến người dân về vấn đề môi trường 55
Trang 5PHẦN 1: ĐẶT VẦN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Đầm phá Tam Giang- Cầu Hai là vùng đầm phá lớn nhất khu vực ĐôngNam Á với tổng diện tích gần 22,000 ha chạy qua 5 huyện với 31 xã và thịtrấn của tỉnh Thừa Thiên Huế Phá Tam Giang nổi tiếng về nguồn lợi thủy sảnphong phú nó được xem là một bảo tàng về sinh học với sự đa dạng về nguồngen của cả động vật và thực vật Đây là nguồn sống của hơn 30,000 dân cưven phá và là một vùng kinh tế đang phát triển mạnh của tỉnh Thừa ThiênHuế Tài nguyên đầm phá là vô vùng phong phú nhưng vì đây là tài sản dungchung nên ý thức bảo vệ nguồn lợi này của người dân còn rất nhiều hạn chếkhai thác qua mức làm tài nguyên cạn kiệt ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kếcộng đồng của người dân sống ven phá
Cùng với sự gia tăng dân số, số người tham gia và số lượng ngư cụ sửdụng nhằm khai thác tài nguyên thủy sản ngày một gia tăng Để sinh tồn,những hộ tham gia khai thác cạnh tranh với nhau một cách tối đa nhằm giatăng khả năng tiếp cận và thu hoạch tài nguyên Việc tiếp cận tài nguyên thủysản một cách tự do là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái tài nguyên(Acheson, 2006; Njaya) Sự suy thoái này đã và đang diễn ra trên toàn đầmphá Tam Giang với tốc độ ngày càng nhanh Do đó, ảnh hưởng nghiêm trọng
và gây ra những tác động tiêu cực đến sinh kế người dân nơi đây Nhiều hộkhai thác và nuôi trồng lâm vào cảnh nghèo đói, nợ nần chồng chất (IMOLA,2006b)
Ngoài ra, với sự quản lý và quy hoạch của nhà nước không chặt chẽ, rõràng đã dẫn tới việc phát triển nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch đãgây nên dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nuôi nghiêm trọng và làm cho việcnuôi trồng thủy sản luôn dẫn tới thua lỗ, đời sống người dân ngày càng bấpbênh, nợ nần người dân ngày càng chồng chất
Trước thực trạng đó thì chính quyền nhà nước đã đưa ra quyết địnhquản lý khai thác và nuôi trồng thủy sản mới là quản lý khai thác và nuôitrồng thủy sản dựa vào cộng đồng Quy định này nhằm giảm nhẹ chi phí quản
lý cho nhà nước, phát huy tinh thần tự bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của cộngđồng người dân sống ven phá
Trang 6Để thực hiện quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng thì tổ chức chi hộinghề cá cơ sở được ra đời Đó là tổ chức đại diện cho cộng đồng để cùng vớinhà nước quản lý khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn.Với cách quản
lý này thì người dân, những người hưởng lợi trực tiếp từ tài nguyên trực tiếpquản lý tài nguyên đần phá thông qua tổ chứa của họ là chi hội nghề cá Chihội nghề cá là cơ quan đại diện người dân trong các hoạt động quản lý cộngđồng, phối hợp và chủ trì thực hiện các hoạt động về quản lý đầm phá như raquy chế điều lệ về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên, tiến hành phốihợp với các cơ quan tổ chức quy hoạch lại các vùng nuôi trồng và khai thác,các vùng chức năng của đàm phá, tập huấn, phát triển các mô hình nuôi hợp
lý trên địa bàn… Chính vì vậy chi hội là một mắt xích quan trọng trong quản
lý, bảo vệ, phát triển và sư dụng đầm phá một cách bền vững Vì vậy chi hộinghề cá đóng vai trò là đối tác chính trong công tác quản lý khai thác và nuôitrồng thủy sản dựa vào cộng đồng tại xã Việc nghiên cứu vai trò của chi hộitrong quản lý giúp cho việc tiếp tục xây dựng mô hình quản lý dựa vào dânngày càng hoàn thiện
Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài:” Tìm Hiểu Vai Trò Của Chi Hội Nghề Cá Trong Quản lý Khai Thác Và Nuôi Trồng Thủy Sản Dựa Vào Cộng Đồng” Trường hợp nghiên cứu tại xã Hương Phong, huyện Hương Trà,
tỉnh Thừa Thiên Huế một xã bãi ngang nằm ven phá Tam Giang, nơi có chihội nghề cá Đông Phong được hình thành và phát triển trong những năm gầnđây
1.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng và thay đổi trong hoạt động khai thác thủy sản
và nuôi trồng thủy sản tại Vân Quật Đông, xã Hương Phong - TTH
- Tìm hiểu và đánh giá cải tiến quản lý khai thác thủy sản và nuôitrồng thủy sản theo hướng dựa vào cộng đồng củng như vai trò củachi hội nghề cá trong thực hiện các cải tiến đó
- Đánh giá kết quả thực hiện cải tiến quản lý tài nguyên đối với sảnxuất thủy sản và cải thiện sinh kế người dân
Trang 7PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Lý thuyết về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
* Khái niệm:
Đồng quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều phương thức quản
lý có người sử dụng hay chủ tài nguyên tham gia vào quá trình quản lý [7]
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng đó là cách quả lý mà mọithành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giáthực trạng, xác địh nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọinguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử dụng tối đa các nguồntài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng [3]
Các nguyên tắc trong xây dựng quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
* Tăng quyền lực:
Sự tang quyền lực là sự phát triển của sức mạnh (quyền lực) thựchiện việc kiểm soát quản lý nguồn tài nguyên và thể chế để nâng cao thu nhậpđảm bảo sử dụng bền vưng nguồn tài nguyên mà các cộng đồng phụ thuộc.Việc này thường được thực hiện với những cơ quan chính thức của chính phủ
Bằng việc tăng cường sự kiểm soát và tiếp cận của cộng đồngđối với các nguồn tài nguyên sẽ tạo ra cơ hội tích lũy lợi ích kinh tế địaphương Các tổ chức dựa vào cộng đồng quản lý tốt nguồn tài nguyên cũng cóthể được công nhận như những người cộng tác hợp pháp trong việc quản lýtài nguyên Sự tăng quyền lực cũng có nghĩa là xây dựng nguồn nhân lực vàkhả năng của cộng đồng để quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên của họ theocách bền vững
* Sự công bằng
Nguyên tắc công bằng gắn liền với nguyên tắc tăng quyền lực
Sự công bằng có nghĩa là sự bình dẳng giữa mọi người và mọi tầng lớp đốivới những cơ hội Tính công bằng chỉ có thể đạt được khi những người là đốitượng thiệt thòi trong cộng đồng cũng có quyền tiếp cận bình đẳng đối vớinhững cơ hội tồn tại để phát triển bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên
Trang 8Sự phát triển bền vững có nghĩa là phải cân nhắc nghiên cứu trạng thái
và bản chất của môi trường
2.2 Chuyển biến quản lý tài nguyên trên phá Tam Giang
2.2.1 Việc quản lý trước khi có chi hội nghề cá
Trước khi có chi hội nghề cá, hoạt động quản lý đầm phá có sự thay đổiqua từng thời kỳ lịch sử khác nhau
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 1999, trong thời lỳ phong kiến triềuđình giao cho các vạn chài quản lý những thủy vực, dựa trên các đơn vị nghềnghiệp và xác nhận quyền sử dụng tào nguyên có thu thuế Vạn chài quản lýtrên các lĩnh vực: quản lý ngư dân (hành vi, ứng xử) quản lý sản xuất, quản lýcộng đồng và quản lý nguồn lợi thủy sản
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 2005, chính quyền thuộc địa Phápcũng như chế độ Mỹ- Ngụy ở miền Nam trước năm 1975 hầu như bảo lưuphương cách quản lý mặt nước Thừa Thiên Huế từ thời phong kiến dựa vàocác vạn chài[4]
Thời kỳ tập thể hóa (1975-1989) Phong trào tập thể hóa toàn quốc đượcthực thi trên đầm phá.Ngư dân được tổ chức thành đội hoặc tập đoàn ngưnghiệp (tương đương với hợp tác xã nông nghiệp) Các khu vực đầm pháđược giao cho các hợp tác xã quản lý
Thời kỳ từ năm 1989 cho tới nay tài nguyên đầm phá do nhà nước quản
lý thông qua các đơn vị hành chính như thôn đội…và các HTX ngư nghiệp
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, hình thức quản lí Vạn bị tan rã,sau một thời gian dài thì được sự chỉ đạo UBND xã thành lập ra 2 HTX ngưnghiệp ở 2 thôn trên địa bàn xã Hình thức quản lí: được sự chỉ đạo củaUBND xã bầu ra gồm có chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và thư kí…quản lí các hộgia đình làm ngư nghiệp Luật quản lí: luật của đội do UBND xã đưa ra vàtruyền về cho trưởng đội vá trưởng đội có nhiệm vụ thông báo, bắt buộc các
Trang 9thành viên trong đội phải chấp hành nghiêm túc Mỗi hộ gia đình phải đóngthuế, một năm đóng 150 nghìn đồng và được chia làm hai kì để đóng Ông độitrưởng là người thu thuế và đóng góp lên cho xã Những ai không nộp thuế thìbị thu nốt đò, thu lưới và không cho làm nghề Khu vực đánh bắt đươc phânchia cho từng hộ gia đình (chủ yếu là các hộ nghề Nò sáo) không một ai cóquyền lấn chiếm Đưa ra các hình thức như sau: khi vi phạm lần 1 thì bị cảnhcáo, lần 2 đem vào UBND xã để giải quyết.
2.2.2 Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng
Hoạt động quản lý tài nguyên dự vào cộng đồng ở đầm phá tam giangcầu hai bao gồm các hoạt động sau:
* Phân vùng quy hoạch quản lý nguồn lợi đầm phá (quyết định củaUBND tỉnh số 3677/QD_UB ngày 25/10/2004)
* Phân vùng quy hoạch tổng thể hệ đầm phá quy vùng quy hoạch tổngthể chia vùng đầm phá cho khai thác thủy sản thành 3 khu vực: vùng nhạycảm dặc biệt, vùng nhạy cảm, và vùng bình thường Vùng nhạy cảm là vùng
có bãi giống bãi đẻ của các loài thủy sản, vùng cỏ biển, vùng chim nước, vàvùng có cây ngập mặn Việc phân vùng quy hoạch này cụ thể hóa thới hạncấp phép khai thác thủy sản ở các vùng, đồng thời ngăn chặn việc giao quyền
sử dụng đất “lấn phá” đối với các khu đất ven phá có thể làm cạn nà cản trởdòng chảy ở đầm phá…
* Phân vùng quy hoạch ở các địa phương (Huyện và Xã)
Phân vùng quy hoạch sử dụng đầm phá cũng đã được thực hiện ở tất
cả các địa phương (5 Huyện và 33 Xã, Thị trấn) Quy hoạch cấp huyện chủyếu là ban hành các chỉ tiêu và hướng dẫn phân vùng cho các xã dựa vào diệntích mặt nước đầm phá theo lãnh thổ, hiện trạng sử dụng mặt nước và chínhsách của tỉnh Các xã dựa vào chí tiêu và hướng dẫn của huyện đã tiến hànhthực hiện phân vùng mặt nước đầm phá của xã cho các mục tiêu sử dụng vàquản lý
* Phân vùng quy hoạch chi tiết trong các tiểu vùng đầm phá
Quy hoạch chi tiết trong các tiểu vùng mặt nước đầm phá do UBND xãchỉ đạo và hỗ trợ pháp lý Thôn và các nhóm hộ sử dụng nguồn lợi (nhóm
Trang 10nuôi trồng, nhóm nò sáo…) trực tiếp thực hiện quy hoạch dựa vào hiện trạng
và đồng thuận giữa các thành viên nhóm
* Quản lý chủng loại, số lượng và mắt lưới ngư cụ
Quy định về chủng loại và số lượng ngư cụ không chỉ được thực hiệntrong quy hoạch tổng thể mà còn được UBND tỉnh và huyện ban hành qua cácthời điểm khác nhau Quy định về chủng loại và số lượng ngư cụ cố định đanghướng tới mục tiêu giảm quy mô và cường độ khai thác thủy sản, giải quyết vấn
đề khai thác quá mức Tại các thời điểm ban hành, UBND tỉnh ban hành các chỉtiêu điều chỉnh (giảm) chủng loại và số lượng ngư cụ cố định cho các huyện.Huyện dựa vào chỉ tiêu này để ban hành chỉ tiêu điều chỉnh số lượng và quy môngư cụ tại các xã Xã tổ chức thực hiện điều chỉnh số lượng và quy mô ngư cụthông qua việc sắp xếp lại khai thác do các nhóm đề xuất theo hướng chia sẻtrong cộng đồng
Tuy nhiên quy hoạch tổng thể cũng quy định các hoạt động thủy sảnquy mô nhỏ (bao gồm câu cá, chài, lưới bạc với chiều dài của lưới dưới 50m,chơm cá, bắt sò, cua, ốc bằng tay) và thủy sản giải trí (du lịch) không bị hạnchế trong quy định về quyền đánh bắt Có thể nói, việc kiểm soát (giảm)chủng loại và quy mô khai thác thủy sản bằng ngư cụ cố định chưa được quantâm đúng mức Vì vậy, khai thác di động vẫn là hoạt động tiếp cận mở
* Kiểm soát khai thác hủy diệt.
Hoạt động này có cơ quan chuyên trách là Chi cục Bảo vệ nguồn lợithủy sản Chi cục đề xuất UBND Tỉnh ban hành Quy chế bảo vệ nguồn lợithủy sản gồm: các hoạt động bị cấm, quy định mắt lưới, các quy định liênquan khác và quy định về các hoạt động tuần tra bảo vệ, bắt và xử lý các hộ viphạm Quy chế này đồng thời xem xét các vùng không được đánh bắt, hoặc bịcấm trong một thời gian Chi Cục Bảo vệ nguồn lợi tổ chức mạng lưới thanhtra chuyên ngành, tuần tra và xử lý vi phạm UBND huyện và xã tổ chức hoạtđộng tuần tra bảo vệ nguồn lợi định kỳ trong vùng lãnh thổ Các cộng đồng và
tổ chức ngư dân có vai trò giám sát và tổ chức tuần tra bảo vệ nguồn lợithường xuyên tại các tiểu vùng
* Xung đột và giải quyết xung đột
Trang 11Xung đột là vấn đề phổ biến và có thể xảy giữa ngư dân với nhau; giữangư dân và các nghề khác như NTTS và nông nghiệp Xung đột ngư dânthường phát sinh do (i) tranh chấp diện tích hoặc vùng đánh bắt, và (ii) nhiềungười dùng nhiều loại ngư cụ khác nhau (như nò sáo và lưới bén), nhưng chủyếu vẫn là giữa ngư dân dùng ngư cụ hợp pháp và ngư dân dùng ngư cụ bấthợp pháp và mang tính huỷ diệt Xung đột càng dễ xảy ra hơn giữa người trong
xã và người ngoài xã
Giải quyết xung đột được đề cập trong các quy định khác nhau Hầu hếtchức năng trực tiếp giải quyết xung đột do thôn, nhóm tự quản và chi hộinghề cá đảm nhận thông qua hòa giải và vận động UBND xã là cơ quan nhànước trực tiếp xử lý tranh chấp Xã ban hành các quy định pháp lý do cộngđồng xây dựng để giải quyết tranh chấp tại địa phương Các tranh chấp không
xử lý được theo phương thức hòa giải được chuyển đến các cấp có thẩmquyền giải quyết theo các luật dân sự hiện hành.[8]
2.3 Xây dựng đồng quản lý thủy sản
2.3.1 Khái niệm ĐQL
Đồng quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều phương thức quản
lý có người sử dụng hay chủ tài nguyên tham gia vào quá trình quản lý [7]
Theo Sen và Nielsen (1996) định nghĩa đồng quản lý là một sự sắp xếp
có sự chia sẻ về mặt sức mạnh cũng như quyền lực nhằm quản lý nguồn lợithuỷ sản giữa các nhóm người sử dụng nguồn lợi và chính quyền
2.3.2 Xây dựng tổ chức cộng đồng trong ĐQL
* Cơ sở pháp lý
Hoạt động quản lý tài nguyên của chi hội nghề cá là một nội dung củaquản lý nghề cá dựa vào dân Thể chế quản lý nghề cá dựa vào dân được ghinhận đầu tiên tại quyết định số 3677/QĐ-UB ngày 25/10/2004 của UBNDtỉnh Thừa Thiên Huế, về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể quản lý khai thácthủy sản vùng đầm phá Thừa Thiên Huế đến năm 2010 Điểm 8 trong điều 1
quy định rõ: “Phát triển hệ thống Nghề cá dựa vào cộng đồng để giảm nhẹ
chi phí quản lý Nhà Nước, đồng thời phát huy tính dân chủ cơ sở ở các tổ chức ngư dân trong việc tự quản ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản, môi trường thuỷ sinh và các lĩnh vực liên quan như: giao thông thuỷ, phòng chống lụt
Trang 12Việt Nam là đối tác chính để chính quyền phối hợp quản lý khai thác thuỷ sản nói riêng và quản lý Nghề cá nói chung trên đầm phá Thừa Thiên Huế ” [5]
Sau đó, thể chế dựa vào dân để quản lý nghề cá được kiện toàn hơn tại
“ Quy chế quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế ”, ban hànhkèm theo quyết định số 4260/2005/QD-UB ngày 19/12/2005 của UBND tỉnhThừa Thiên Huế [6] Trong “Quy chế”, tổ chức ngư dân cấp cơ sở được chỉđịnh là tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cụ thể: “là chi hội Nghề cá thuộc hệthống Hội Nghề cá Việt Nam” (điều 4) Quy chế quy định cơ chế phân quyền
cho ngư dân: “Chi hội Nghề cá cấp cơ sở có thể được Nhà Nước uỷ quyền
quản lý nguồn lợi thuỷ sản trên một thuỷ vực nhất định Trên cơ sở đó, Chi hội Nghề cá tự chủ điều phối các hoạt động khai thác thuỷ sản của các thành viên một cách sang tạo, phù hợp, đảm bảo lợi ích hài hoà cho từng thành viên trong lợi ích chung của Tổ chức và toàn xã hội” (điều 5) Việc tái sắp xếp ngư trường cũng được chỉ rõ: “Chi hội Nghề cá có thể sắp xếp lại ngư trường một cách chủ động, sáng tạo trên cơ sở bảo lưu các khu vực đánh cá truyền thống của cá nhân, hộ gia đình thành viên, phù hợp với quy hoạch chung của Nhà Nước và hiệu quả của cộng đồng” (điều 6) Về giải quyết mâu thuẫn nội
bộ, Nhà Nước giao rõ trách nhiệm ban đầu: “Chi hội Nghề cá cấp cơ sở có
trách nhiệm hoà giải các tranh chấp về ngư trường, nguồn lợi giữa các cá nhân, hộ gia đình trong tổ chức mình Chỉ khi nào không thể hoà giải được mới đưa đến chính quyền giải quyết” (điều 8) Các quy định nội bộ của cộng đồng như hương ước cũng được xem là nhiệm vụ của tổ chức ngư dân: “Nhà Nước khuyến khích Chi hội Nghề cá cấp cơ sở xây dựng “quy chế tự quản” trên cơ sở pháp luật Nhà Nước, để cụ thể, chi tiết hoá các quy định của cộng đồng, nhằm bảo vệ ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản và một số vấn đề có liên quan: môi trường vùng nước, giao thông thuỷ nội địa, quản lý thuế khai thác thuỷ sản… ” ( điều 11).
Kế hoạch quản lý của Tỉnh Thừa Thiên Huế là giao vùng mặt nước chocác Chi hội Nghề cá cấp cơ sở khai thác, nuôi trồng trong thuỷ vực để cộngđồng chủ động cùng nhau quản lý “UBND Tỉnh uỷ quyền cho uỷ ban nhândân các huyện có vùng đầm phá được cấp quyền khai thác thuỷ sản cho các tổchức ngư dân cấp thôn, xã, trong vùng mặt nước cụ thể thuộc địa bàn quản lý
Trang 13trên cơ sở số lượng ngư cụ, mùa vụ và đối tượng đánh bắt”.( Điều 14 ) Quyền
khai thác thuỷ sản trên vùng đầm phá cũng được chỉ rõ là bao gồm: “Các
quyền hạn và trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật thuỷ sản, trách nhiệm bảo vệ ngư trường, phát triển nguồn lợi thuỷ sản, trách nhiệm bảo đảm luồng tuyến giao thông, trách nhiệm phòng chống suy thoái môi trường vùng nước và nghĩa vụ thuế cho Nhà Nước” (Điều14) Như vậy,
hầu như Chi hội Nghề cá cấp cơ sở đã được giao đầy đủ quyền hạn, cũng nhưquyền lợi sử dụng nguồn lợi để thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mìnhtrong sử dụng và quản lý ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên
Huế “Quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá là nghĩa vụ và trách nhiệm của
các cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ sản, của UBND các cấp và các cộng đồng sử dụng nguồn lợi thuỷ sản đầm phá Tổ chức ngư dân được giao sử dụng vùng mặt nước để khai thác thuỷ sản có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, chủ động sản xuất tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.”( Điều 42 ) Một lần nữa, chính quyền
tỉnh Thừa Thiên Huế đã xem các cộng đồng sử dụng nguồn lợi mà đại diện làcác tổ chức ngư dân như đối tác của Nhà Nước trong quản lý Nghề cá đầmphá Thừa Thiên Huế
Và tiếp theo là hướng dẫn số 159/HD-STS ngày 6/4/2006 hướng dẫnthực hiện quy chế quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế quy
định “quyền khai thác thủy sản bao gồm số lượng, chủng loại ngư cụ, đối
tượng nuôi, từng loại hình nghề nghiệp Chi hội Nghề cá được cấp quyền khai thác thuỷ sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng để quản lý
và tự quản lý ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản, môi trường thuỷ sinh, luồng lạch giao thông nội vùng, đường thoát lũ và luồng di cư sinh sản của các loài thuỷ sản đầm phá… phát huy dân chủ cơ sở hơn nữa trong quản lý thuỷ sản ở địa phương” [2]
2.3.3 Sự hình thành và phát triển của hội nghề cá tỉnh Thừa Thiên Huế
Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế (HUEFIS) được thành lập năm 2003 là tổ
chức xã hội - nghề nghiệp tự nguyện của những cá nhân, tổ chức hoạt động
Trang 14trong các lĩnh vực nghề cá HUEFIS là thành viên của Hội Nghề cá Việt Nam
(VINAFIS) có phạm vi hoạt động trên toàn quốc
Mục đích của Hội là tập hợp những cá nhân và tổ chức hoạt động trongcác lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ và hậu cần dịch vụ nghề
cá nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau về kinh tế - kỹ thuật sản xuất, kinh doanh, dịchvụ; để nâng cao giá trị sản phẩm hàng hoá; phòng tránh thiên tai, ngăn ngừadịch bệnh; bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ môi trường; đạidiện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của hội viên; góp phần phát triển nghề cá bềnvững, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của người làm nghề cá và cộng đồng nghề cá [6]
Đến cuối năm 2009 HUEFIS đã phát triển được mạng lưới chi hội rộnglớn với 54 chi hội nghề cá cơ sở hoạt động tại cộng đồng thu hút khoảng4.500 hội viên là ngư dân và hộ sản xuất thủy sản Mạng lưới các chi hội nghề
cá vùng đầm phá TGCH được củng cố và phát triển đã giúp nâng cao hiệuquả quản lý tài nguyên, phát triển sản xuất và cải thiện sinh kế cho cộng đồng.Hội đã có vai trò quan trọng trong việc tăng cường sự phối hợp và hợp tácgiữa cộng đồng với các chương trình, dự án hoạt động trên địa bàn và cácphòng ban chức năng ở địa phương Kết quả nổi bật là việc thực hiện thànhcông mô hình đồng quản lý tài nguyên và vận động cấp quyền khai thác thuỷsản cho chi hội nghề cá cơ sở
Tổ chức ngư dân các cấp nằm trong hệ thống Hội nghề cá Việt Nam làđối tác chính để chính quyền phối hợp quản lý khai thác thuỷ sản nói riêng vàquản lý nghề cá nói chung trên đầm phá TTH Tổ chức hệ thống Nghề cá cơ
sở ở Thừa Thiên Huế có điểm khác với các hội Nghề cá các tỉnh bạn là đượccông nhận chính thức là loại hình tổ chức ngư dân được Nhà Nước sử dụng đểphát triển hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng thông qua văn phạmquy phạm pháp luật Trong quy chế quản lý đầm phá, chi hội Nghề cá cở sở
có thể được cấp quyền đánh cá trong một thủy vực nhất định, có thể coi đây là
“ thẻ đỏ - quyền sử dụng đất ” cho nghề cá Đây là động lực lớn để phát triểnhội Nghề cá vì ngư dân luôn mong muốn có quyền sử dụng lâu dài trong ngưtrường, được Nhà Nước chính thức công nhận bằng văn bản [1]
Trang 15PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò quản lý tài nguyên của chi hội Nghề cá cơ sở.Nghiên cứu đối tượng quản lý như tài nguyên đầm phá, đời sống kinh tế xãhội của cộng đồng, các hội viên chi hội
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Nội dung: Trọng tâm nghiên cứu là tìm hiểu hoạt động quản lý chi hộiNghề cá cơ sở và tác động của hoạt động quản lý đến tài nguyên đầm phá vàsinh kế của hộ hội viên
Không gian: Nghiên cứu chi hội Nghề cá cơ sở Đông Phong-HươngPhong - Thừa Thiên Huế
Thời gian: Tìm hiểu thông tin từ năm 2008- 2010
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm kinh tế xã hội và tài nguyên đầm phá Xã Hương Phong
Đề tài nghiên cứu về các đặc điểm kinh tế xã hội và tài nguyên đầmphá Xã Hương Phong như các thông tin cơ bản, số lao động, trình độ laođộng, tổng số diện tích trên toàn xã và tổng số hộ có tiến hành nuôi Ngoàiquá trình nghiên cứu đã tìm hiểu về việc sử dụng tài nguyên đầm phá ở cộngđồng như tổng diện tích đầm phá của xã, số diện tích khai thác tự nhiên, diệntích nuôi trồng và các vùng chức năng không chỉ thế đề tài đã tìm hiểu vềtổng số hộ nuôi trồng, số hộ khai thác và các đóng góp của hoạt động thủy sảncho sự phát triển của xã
- Đặc điểm nông hộ nghiên cứu
+ Số lao động, độ tuổi, trình độ văn hoá của chủ hộ
+ Số năm tham gia NTTS, KTTS, diện tích và thu nhập của hộ
- Thực trạng KT và NTTS tại xã Hương Phong
+ Đối với hộ khai thác thủy sản: tìm hiểu về tình hình khai thác , cáchoạt động khai thác, sản lượng khai thác của cộng đồng…
+ Đối với hộ nuôi trồng thủy sản: tìm hiểu về số hộ nuôi trồng, diệntích nuôi Kết quả nuôi máy năm gần đây, số hộ nuôi xen ghép, số hộ nuôichuyên tôm, năng suất nuôi trồng
Trang 16- Sự thay đổi trong hoạt động khai thác nuôi trồng thủy sản trong nhữngnăm trở lại đây là tìm hiểu về sự thay đổi về khai thác thủy sản, thay đổi củahoạt động nuôi trồng và các tác động tích cực và tiêu cực đến môi trường,sinh kế…
- Hoạt động quản lý KT và NTTS tại xã: bao gồm:
+Việc quản lý KT và NTTS tại xã trước đây: tìm hiểu cơ quan quản lý,các hoạt động quản lý, các kết quả thu được và không thu được
+ Việc quản lý KT và NTTS tại xã bây giờ: về cơ quan quản lý, cáchoạt động quản lý và các kết quả đạt được
- Hoạt động và vai trò của chi hội nghề cá trong việc tiến hành cải tiến
KT và NTTS dựa vào cộng đồng; tìm hiểu quá trình thành lập của chi hội, lý
do hình thành, cơ sở pháp lý, quyết định thành lập
+ Các hoạt động quản lý của chi hội: tìm hiểu về những hoạt động chihội đã tiến hành thực hiện như ra quy chế điều lệ, tuần tra bảo vệ, hoạt động
hỗ trợ sản xuất, bảo vệ môi trường, tài nguyên đầm phá…
+ Vai trò của chi hội trong cải tiến khai thác và nuôi trồng thủy sản:việc quản lý , giảm tình trạng đáng bắt hủy diệt, đánh bắt vùng cấm Về nuôitrồng thì tìm hiểu về việc giaups các hộ nuôi phát triển…
-Việc thực hiện quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng ở địa phương làviệc tìm hiểu về cơ quan quản lý khi thực hiện đồng quản lý, nguyên tắc quản
lý, và các thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đồng quản lý
- Vai trò của chi hội nghề cá trong quản lý KT và NTTS dựa vào cộngđồng tại xã
+ Vai trò của chi hội trong việc quản lý khai thác và nuôi trồng thủysản
+ Vai trò trong việc phát triển các mô hình hiệu quả
+ Vai trò trong việc bảo vệ tài nguyên
- Đánh giá của hội viên về chi hội: là sự nhận xét, đánh giá của hội viên
về tầm quan trọng của chi hội, việc thực hiện các hoạt động của chi hội như:
+ Tuần tra
+ Ra quy chế, điều lệ
+Quy hoạch vùng khai thác, nuôi trồng, bảo vệ…
Trang 17+Hỗ trợ sản xuất cho các hội viên
+ Giúp đỡ hộ khó khăn
+ Cho vay vốn sản xuất
+ Việc thưởng, phạt của chi hội
- Kết quả của sự cải tiến về hoạt độg quản lý chủ yếu về sự suy giảm
về khai thác hủy diệt, sự hoàn thiên trong công tác quản lý, tầm ảnh hưởngcủa chi hội, việc thực hiện quy chế qua các năm…
- Kết quả của việc quản lý dựa vào cộng đồng đối với sản xuất thuỷ sản
để biết rõ về sự thay dổi của các hoạt động kể từ khi có chi hội ra đời
+ Đối với hoạt động khai thác:
Sự thay đổi về: số hộ nuôi, đối tượng nuôi, hình thức nuôi, sản lượngnuôi, đối lượng nuôi…
+ Đối với hoạt động nuôi trồng
Sự thay đổi về số hộ khai thác, năng suất khai thác, số lượng khai thác,loại ngư cụ…
- Kết quả của việc quản lý dựa vào cộng đồng đối với việc cải thiệnsinh kế người dân: mục đích tìm hieur xu hướng thay đổi thu nhập của củacác hội viên từ khi vào cho hội:
+ Các nguồn thu của ngư dân
+ Nguồn thu của người dân qua các năm 2008, 2009, 2010
3.4 Phương pháp nghiên cứu
* Chọn điểm: Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Vân Quật Đông xãHương Phong Huyện Hương Trà Tỉnh Thừa Thiên Huế là điọa bàn có chi hộinghề các Đông Phong Dược hình thành và phát triển trong mấy năm gần đây
* Chọn mẫu: Số mẫu đã được chọn là 60 hộ thuộc 2 nhóm hộ: hộ khaithác (30 hộ) nhóm hộ nuôi trồng thuỷ sản (30 hộ )
* Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp đã thực hiện là thu thập danhsách tại chi hội trưởng chi hội nghề cá sau đó chon ngẫu nhiên cho đến khi dủsố hộ cần chọn
Trang 18* Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
1/ Thu thập thông tin thứ cấp
Các thông tin thứ cấp được thu thập bao gồm :
-Tình hình kinh tế xã hội của xã qua các năm 2008, 2009, 2010
-Tình hình phát triển thủy sản của HTX ngư nghiệp Đông Tiến thuộcthôn VQĐ
- Hiện trạng sử dụng đất của xã Hương Phong năm 2010
- Điều lệ cho hội Đông Phong xã Hương Phong
-Tổng kết hoạt động của chi hội qua 3 năm 2008-2010
- Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2009 của chi hội nghề các ĐôngPhong
- Báo cáo phương án kiện toàn chi hội nghề các Đông Phong năm 2008
2/ Thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn hộ: đã thu thập bằng cách dùng phiếu khảo sát với câu hỏibán cấu trúc, quan sát, dòng thời gian
-Phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ và người am hiểu+ Cấp thôn xã: đã phỏng vấn, thu thập thông tin cán bộ khuyến ngư xã,cán bộ đảm nhận phát triển kinh tế xã, trưởng thôn Vân Quật Đông, chủ tịchchi hội nghề cá Đông Phong, thành viên ban chấp hành chi hội và 5 người
có am hiểu tại địa phương nhằm mục đích hiểu rõ tình hình của địa phương
và chi hội và kiểm tra lại thông tin
+ Cấp tỉnh, huyện: cán bộ khuyến nông huyện Hương Trà, cán bộ pháttriển thủy sản huyện Hương Trà nhằm tìm hiểu việc quy hoạch phát triểnthủy sản, định hướng phát triển, việc phát triển các chi hội nghề cá và cáchoạt động tiến hành trao quyền cho chi hội Đông Phong
3/ Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý thống kê qua phần mềm của excel
Trang 19PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm cộng đồng thủy sản tại vùng nghiên cứu.
Xã Hương Phong là một xã bãi ngang nằm phía Tây Bắc huyện HươngTrà tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 12 Km Phía Bắc giáp xã HảiDương, phía đông giáp thị trấn Thuận An, phía Tây giáp xã Quảng Thànhhuyện Quảng Điền, phía Nam giáp xã Hương Vinh, huyện Hương Trà Xãnằm vị trí đặc biệt, hai mặt giáp sông, một mặt giáp phá Tam Giang thuận lợitrong phát triển NN và khai thác NTTS
Đặc biệt tại Hương Phong với vị trí nằm gần thành phố Huế rất thuậntiện để thông thương trao đổi mua bán hàng hoá, và tiến cận với khoa học kĩthuật mới
- Đất đai và đặc điểm địa hình
Đất đai là cơ sở đầu tiên, là đầu vào quan trọng nhất để tiến hành cáchoạt động NN, cũng như NTTS Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất cóảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi.Tại xã Hương Phong do mang đặc điểm địa hình ven biển nên chia diện tíchđất thành nhiều vùng có đặc điểm và độ màu mỡ khác nhau, đặc biệt vùngven phá với diện tích chiếm 1/3 đất NN, vùng này nhiễm mặn và bị thiếunước ngọt vào mùa hè, mùa mưa bị ngập úng Đây là vùng sản xuất NN gặpnhiều khó khăn, thường chỉ cấy được một vụ, năng suất thấp hoặc bỏ hoang.Tình hình sử dụng đất đai của xã được thể hiện qua bảng 1
Hương Phong là xã có diện tích đất tự nhiên khá lớn 1569 ha Với quỹđất tự nhiên lớn sẽ tạo điều kiện rất lớn để phát triển kinh tế địa phương
Cơ cấu đất của xã Hương Phong khá đồng đều, với diện tích dành chosản xuất NN là lớn nhất chiếm 43% Với hệ thống thuỷ lợi tốt, đất đai màu mỡnên năng suất NN ở đây là cao và ổn định, hoạt động sản xuất NN là một thếmạnh của xã Diện tích mặt nước khai thác thuỷ sản của xã là 165,56 ha,chiếm 24,53%; đây là diện tích khai thác không lớn so với các xã khác venphá Tam Giang nhưng nó cũng là nguồn lợi quan trọng, và là nguồn sinh kếcủa một bộ phận người dân Diện tích lâm nghiệp của xã nhỏ, nhưng có giá trị
Trang 20kinh tế và giá trị sinh học rất cao, nó bao gồm các cây ngập mặn lâu năm, đây
là một tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái trong tương lai
Bảng 1: Thông tin hiện trạng sử dụng đất xã Hương Phong
Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội xã Hương Phong ,2010
Với diện tích nuôi trồng không lớn lắm, nhưng tập trung tạo điều kiệncho phát triển NTTS thành một ngành kinh tế chính của xã Các diện tích aonuôi thuỷ sản của xã chủ yếu là ao nuôi hạ triều,nên năng suất không cao,khó xử lý… Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng tại Hương Phong, diện tíchđất NN rộng màu mỡ nên sản xuất NN phát triển mạnh hơn so với nuôi trồng
và khai thác thuỷ sản
- Vấn đề dân số và lao động
Dân số và lao động được sức sản xuất của địa phương đó Trong quátrình phát triển kinh tế thì dân số và lao động có của một địa phương thể hiệnảnh hưởng rất lớn, một mặt nó sẽ tạo ra tiềm lực để phát triển mặt khác nó sẽcản trở lại sự phát triển kinh tế khi công ăn việc làm, đời sống nhân dân khôngđược đảm bảo Bảng 2 mô tả tình hình dân số và lao động cuả xã năm 2010
Trang 21Bảng 2: Tình hình dân số và lao động tại Hương Phong
Chỉ tiêu Đơn vị tính Toàn xã Thôn VQĐ
(Nguồn: UBND xã Hương Phong, 2011)
Bảng trên cho thấy: Hương Phong 2,328 hộ với 11,371 nhân khẩu, vớisố nhân khẩu khá đông với bình quân 5,25 nhân khẩu trên hộ Lực lượng laođộng ở xã Hương Phong cũng khá dồi dào với 4.901 lao động (chiếm 43.10
% tổng số khẩu), trung bình 2,64 lao động trên một hộ Với lực lượng laođộng dồi dào ở địa phương sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh
mẽ, nhưng kéo theo đó là những hệ quả cần được chú ý Tại xã Hương Phongvới số nhân khẩu đông và tốc độ gia tăng dân số là khá cao so với các vùngkhác với 1,1% Như vậy, gia tăng dân số trong khi diện tích đất không mởrộng sẽ là một khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc giải quyếtviệc làm và đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân ở đây
Ở Hương Phong, lực lượng lao động chủ yếu tập trung vào hai ngànhchính là sản xuất NN và thuỷ sản, số còn lại đi làm ăn xa (chủ yếu là vàothành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng) Với diện tích đất NN rộng hơn, và điềukiện thuận lợi nên số lao động NN ở Hương Phong (2.514 lao động), lao độngtham gia vào khai thác thuỷ sản cũng nhiều hơn với 549 lao động Đáng chú ý
là tại Hương Phong có lực lượng lao động làm việc ở các ngành nghề phụ là
Trang 22khá đông, nhờ vị trí gần với thành phố Huế nên một số bộ phận lao động ởđây có thể làm thêm các ngành nghề.
Vân Quật Đông là một thôn nông ngư nghiệp, với tổng số hộ là 531 hộvới hơn 128 hộ chuyên về nuôi trồng và khai thác thủy sản Với tổng diện tíchmặt nước của địa phương là hơn 300 ha thì việc phát triển ngư nghiệp là một
xu hướng của thôn Ngoài ngư nghiệp ra tại thôn còn gần 400 hộ Nông nghiệptuy nông nghiệp ở đây không pháp triển tốt một số diện tích chỉ trồng được 1
vụ / năm nhưng với diện tích rộng lớn thì nông nghiệp vẫn là nguồn thu chínhtại thôn Ngoài làm nông và ngề ngư thì ở Vân Quật Đông còn có một số nghềnghiệp khác như thợ nề, buôn bán, hay lên thành phố Huế làm việc Một sốlượng khá đông lao động trẻ tại thôn thì vào nam kiếm việc làm Những địađiểm chính nguồn lao động này hướng đến là thành phố Hồ Chí Minh, BìnhDương, Bình Phước… thường thì đến tết nguyên đán thì nguồn lao động này
về và lại đi khi qua đợt này Đây là một nguồn thu nhập đáng kể cho ngườidân ở đây
Qua bảng trên ta thấy toàn thôn có đến 531 hộ và 2870 khẩu với nguồnlao động dồi dào trung bình 3.08 lao động / hộ Với nguồn lao động này sẽ làđộng lực điểm mạnh cho thôn Vân Quật Đông phát triển kinh tế, tuy nhiênvới trung bình số khẩu trên hộ của thôn khá cao 6.2 khẩu/ hộ sẽ tạo tra gánhnặng cho sự phát triển Lao động dồi dào nhưng trong nông nghiệp mỗi hộ chỉcần từ 2 -3 lao động nên nguồn lao động còn lạo thường đi làm việc khác
hoặc đi làm ăn xa.
4.1.2 Đặc điểm của hộ khảo sát
Cũng như các cộng đồng ven phá khác, hoạt động sản xuất thuỷ sản làhoạt động sinh kế chính của hộ tại cộng đồng ngư nghiệp này Hoạt động sảnxuất thủy sản bao gồm nuôi trồng thủy sản và khai thác đánh bắt tự nhiên
Các hộ ở đây vừa có hộ chuyên nuôi trồng thuỷ sản, có hộ chuyên khaithác đánh bắt tự nhiên, cũng có hộ cả nuôi trồng và khai thác tự nhiên Theokết quả khảo sát hộ chuyên nuôi trồng là 2 hộ, hộ chuyên khai thác là 17 hộchuyên khai thác, 41 hộ vừa nuôi trồng vừa khai thác
Đặc điểm chung của các hộ được khảo sát trong nghiên cứu này đượcđược thể hiện qua các chỉ tiêu về: tuổi chủ hộ, số năm đến trường của chủ hộ,số lao động, số nhân khẩu, số năm NTTS, diện tích NTTS, thu nhập củahộ/năm (bảng 4)
Trang 23Bảng 3: Đặc điểm cơ bản của hộ sản xuất thủy sản thôn VQĐ Chỉ tiêu
NTTS
Hộ KTTS
Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011 Xét về số nhân khẩu và số lao động, số khẩu bình quân giữa các nhóm
hộ nghiên cứu là không có sự khác biệt nào đáng kể Số khẩu bình quân củacác nhóm hộ khá lớn tương ứng khoảng từ 6,13 đến 6,26 khẩu/hộ Đó cũng làđặc trưng chung cho các hộ ở ven phá và ven biển, là tiềm năng về lao độngcho sự phát triển sau này của vùng đầm phá Thông thường các hộ đây rấtđông con, nhất là các chủ hộ có độ tuổi trên 50 thường có từ 5-7 người con.Bình quân số lao động của các hộ điểm nghiên cứu vào khoảng 2,4 đến 2,8người trong khi số khẩu bình quân trên một hộ lại khá đông, chứng tỏ nguồnlao động ở đây còn hạn chế và sẽ gặp khó khăn khi đến vụ thả, gieo trồng haythu hoạch Đa số lao động ăn theo tại hai điểm nghiên cứu đang trong độ tuổi
đi học, nên ngoài khoản chi hằng ngày còn phải có khoản khá lớn đầu tư choviệc học hành, điều này đã làm cho nguồn vốn để tái đầu tư vào sản xuất rấtkhó khăn Vì vậy việc phát triển mô hình NTTS đầu tư thấp nhanh thu hồivốn và chắc ăn là rất cần thiết
Trình độ văn hoá ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và áp dụng các biệnpháp kĩ thuật vào sản xuất của nông hộ Số năm đến trường thể hiện trình độvăn hoá của chủ hộ Kết quả khảo sát hộ cho thấy số năm đến trường của chủ
hộ tại Vân Quật Đông vào khoảng 5.06 đến 5.4 năm Trong NTTS ngoàikiến thức kĩ thuật thì một vấn đề cần phải quan tâm đó là năm kinh nghiệmnuôi trồng Tại đây, số năm NTTS của các hộ đều khá lâu khoảng 13.6 năm
Lý do là do NTTS tại Hương Phong xuất hiện sớm (vào năm 1986) Số năm
Trang 24kinh nghiệm của các hộ được khảo sát là tương đối cao so với các nơi khác,đặc biệt là tại Vân Quật Đông - được coi là nơi bắt đầu nuôi thuỷ sản trên pháTam Giang Số năm kinh nghiệm NTTS sẽ giúp người dân biết được quy luậtcủa thời tiết và hiểu rõ các đối tượng nuôi từ đó sẽ đưa ra các quyết định,phương án sản xuất phù hợp với ao nuôi, và nên áp dụng các kĩ thuật nào làthích hợp.
Hầu hết các diện tích ao nuôi của điểm nghiên cứu đều nằm ở vùng hạtriều, nên việc xử lí ao nuôi thường rất khó khăn và tốn kém, một số hộ đã xử
lý ao nuôi không đúng yêu cầu trước khi thả nuôi dẫn đến mầm bệnh khôngđược loại bỏ triệt để làm cho tình hình dịch bệnh lây lan mạnh, tại Vân QuậtĐông có 2 dạng diệt tạp (xử lý ao) chính là xử lý khô và xử lý nước Xử lýkhô là làm cho khô hồ rồi xử lý hình thức này tốn kém và kỹ lưỡng thườngdùng khi đầu tư mạnh nuôi tôm sú Xử lý ướt là hình thức xử lý không cầnlàm khô nước, người ta bón vôi trực tiếp xuông ao nuôi, đây là hình thức xử
lý không triệt để nhưng tiết kiệm nhiều chi phí nên đang được áp dụng nhiều.Như vậy, diện tích ao trung bình của mỗi hộ là khá lớn nhưng lại có sự khácbiệt quá lớn giữa hộ nuôi nhiều nhất và hộ nuôi ít nhất Cụ thể: Hộ có diệntích lớn nhất là gần 7 ha, trong khi đó hộ thấp nhất chỉ có 1 hồ với diện tích0,68 ha Thông thường tại đây những hộ NTTS trước năm 1994 thường códiện tích nuôi trồng rất lớn, còn các hộ nuôi sau năm 1999 thì diện tích nuôitrồng rất nhỏ Như vậy, qua đây chúng ta có thể thấy việc đầu tư NTTS củangười dân về mặt qui mô là mang tính tự phát và thiếu quy hoạch chung Với
sự biến động diện tích ao nuôi khá lớn sẽ ảnh hưởng đến quyết định NTTSđối với các ao nuôi và sự áp dụng nuôi trồng của các hộ, đồng thời nguồn thunhập của nông hộ cũng sẽ có nhiều chênh lệch
Như vậy chúng ta thấy rằng các yếu tố về trình độ văn hoá, số nhânkhẩu, số lao động, số năm NTTS và đặc biệt diện tích đất nuôi trồng đã cóảnh hưởng rất lớn đến việc NTTS của hộ và trực tiếp ảnh hưởng đến nguồnthu vì thu nhập chủ yếu của các hộ được khảo sát là dựa vào NTTS
Trang 254.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên đầm phá
4.2.1 Đặc điểm tài nguyên và phân vùng quản lý và sử dụng
Ở điểm nghiên cửu nhận thấy rằng hoạt động NTTS và KTTS có từ rấtlâu đời Theo kết quả nghiên cứu 60 hộ thì hình thức KTTS có tù năm 1970
và NTTS có từ năm 1986.Việc phát triển lâu năm như vậy nên sẽ tạo diềukiện nuôi trồng tốt kinh nghiệm NTTS phong phú bên dưới là bảng tình hìnhđánh bắt và nuôi trồng tại xã và thôn VQĐ
Bảng 4: Tài nguyên và phân vùng quản lý
Về diện tích nuôi trồng trong khi tổng diện tích của toàn xã là 183.14
ha thì riêng thông VQĐ đa chiếm đến 93 ha và chiếm tỷ trọng là 50.7% diệntích nuôi trồng toàn xã.Với diện tích nuôi trồng lớn như vậy nên sản lượngthu hoạch cũng chiếm tỷ trọng cao trong xã Riêng sản lượng tôm thu hoạchhằng năm cũng chiếm đến 49.5 % với 35 tấn tôm mỗi năm Sản lượng nàybao gồm cả tôm sú và tôm rào
Trang 26Về số hộ tham gia 2 hình thức khai thác và nuôi trồng ta cũng nhậnthấy Tận dụng lợi thế địa lý của mình thôn VQĐ có số hộ nuôi trồng và khaithác cao nhất xã Riêng về nuôi trồng thôn VQĐ có đến 88 hộ nuôi trồng baogồm các hộ có hồ nuôi và 14 hộ nuôi ở các bàu đấu thầu tài nguyên củaxã.Trong khi đó toàn xã chỉ có 154 hộ tiến hành nuôi trổng.Về khai thác tạiVQĐ bao gồm khai thác di động và khai thác cố định với các nghề chủ yếunhư : lưới đáy , sáo, nùng trên đầm phá với số hộ tham gia là 40 hộ trongkhi toàn xã có 70 hộ có tham gia hoạt động khai thác trên phá
Về sản lượng khai thác thủy sản Sản lượng khai thác của Vân QuậtĐông chiếm đến 245 tấn trong năm 2010 trong khi toàn xã chỉ có 356 tấn.Việc chiếm tỷ trọng lớn là do ở VQĐ có các điều kiện rất thuận lợi để pháttriển khai thác, kinh nghiệm lâu đời cũng góp phần cho sản lượng khai tháccao
4.2.2 Hoạt động khai thác thủy sản
Hoạt động KTTS xuất hiện ở Hương Phong từ rất lâu đời, đây là nguồnthu nhập chính của rất nhiều hộ chuyên khai thác ở trên địa bàn xã và đặc biệt
là thôn VQĐ Hoạt động khai thác trên đầm phá được hiểu là hoạt động đánhbắt động thực vật thủy sinh nhằm mang lại nguồn thức ăn và thu nhập cho conngười Các hoạt động khai thác thủy sản phải gắn với các ngư cụ khác nhau.Trên địa bàn xã Hương Phong có các loại hình khai thác là khai thác cố định
và khai thác di động Về khai thác cố định có các ngư cụ chính là nò sáo, đáy,
rớ, chuôm còn về khai thác di động bao gồm các ngư cụ như lưới bén, xungđiện, lừ Những năm trở lại đây tình hình KTTS trên địa bàn xã có nhiều biếnđộng về cả sản lượng cho tới số lượng các ngư cụ , các hình thức khai thác.Theo kết quả nghiên cứu ở bảng phía dưới ta có thể biết được tình hình khaithác chung của xã Hương Phong và thôn VQĐ trong mấy năm trở lại đây.Theo đó ta nhận thấy về diện tích khai thác là không biến động nhưng về sảnlượng thì biến động lên xuống thất thường, sản lượng trong năm 2009 sụtgiảm do tài nguyên đàm phá đã suy giảm nhiều, hiện nay việc tiến hành khaithác thường hiệu quả không cao do sản lượng khai thác giảm Theo các ngườidân sống lâu năm ở đây cho biết trước đây tôm cá rất nhiều, việc khai thác rấtthoải mai nhưng bây giò cá tôm bị cạn kiệt cả rồi
Theo nghiên cứu cho thấy về ngư cụ khai thác cố định hầu như không biếnđộng, các ngư cụ nò sáo và đáy này tồn tại rất lâu ở đây rồi tuy nhiên về sảnlượng thì có sự thay đổi đáng kể Trong thời gian tới để đảm bảo sinh kế và sự
Trang 27ổn định của môi trường trên đầm phá thì sẽ tiến hành các hoạt động sắp xếplại nò sáo một cách hợp lý hơn.
Bảng 5: Hoạt động KTTS mấy năm gần đây
Tiêu
chí
Toàn xã
ở thôn VQĐ có 5 hộ có sử dụng lừ, với 1 hộ có trung bình 50-60 lừ Việc sửdụng lừ đang được hạn chế ở địa phương Theo quy chế của chi hội thì mỗi hộchỉ được sử dụng tối đa 40 lừ Về lưới bén thì sự biến động càng rõ rệt, lướibén là ngư cụ phổ biến nhất ở VQĐ Trước đây mỗi hộ có trong bình 30-40tay lưới nhưng trong 2 năm trở lại đây số tay lưới của mỗi hộ là 50-60 taylưới/ hộ Hoạt động khai thác thủy sản là hoạt động mang lại thu nhập chínhcho các hộ ngư dân tại VQĐ, việc quản lý tốt các loại ngư cụ về số lượng vàkích cõ mắt lưới là điều kiện cần thiết cho việc phát triển và đảm bảo sinh kếngười dân
4.2.2 Hoạt động nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là hoạt động lâu đời tại thôn VQĐ VQĐ được xem
là một trong những nơi nuôi trồng sớm nhất cả nước, hoạt động NTTS ở đây
Trang 28được tiến hành từ năm 1986 Chính vì thế người dân ở đây có tuổi kinh
nghiệm khá cao Hoạt động NTTS ở đây cũng có những biến động nhất định
Việc phát triển NTTS 1 cách ồ ạt, không có định hướng khiến môi trường
nuôi ô nhiễm nặng, dịch bệnh thường xuyên, NTTS thất bát làm cho việc phát
triển NTTS gặp rất nhiều khó khăn Trước tình hình đó thì sự xuất hiên mô
hình nuôi xen ghép (2005) là 1 bước đi mới tại địa bàn Sau 5 năm thi mô
mình này đã được nhân rộng toàn bộ diện tích nuôi Dưới đây là bảng biểu chỉ
hoạt động nuôi trồng thủy sản của vùng nghiên cửu
Bảng 6: Hoạt động nuôi trồng thủy sản
Toànxã
Diện tích xen ghép Hộ 167.5 69 194.6
5 87.12 183.14 87.12
Sản lượng tôm nuôi
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của xã, 2008, 2009, 2010)
Năm 2008 hoạt động NTTS gặp nhiều yếu tố bất lợi do thời tiết, đê đập
hư hại nặng do các đợt lũ năm 2007, môi trường nuôi ngày càng bị nhiểm,
dịch bệnh, cũng như khó khăn về vốn để đầu tư vào vụ nuôi vì thế một số bà
con không mặn mà với việc nuôi Diện tích nuôi giảm 47,5 ha trên toàn xã do
một số hộ bỏ nuôi, một số diện tích nuôi trước đây giải tỏa để trả lại lộ giới
theo Pháp lệnh đê điều
Trang 29Do thời tiết rét đậm, rét hại từ đầu vụ nên bà con vào vụ chậm so vớilịch thời vụ, dịch bệnh, triều cường làm ảnh hưởng đến quá trình nuôi, chămsóc tôm, cá của bà con Nhưng với kinh nghiệm, nhanh nhạy của người dân,
sự hổ trợ, đầu tư của Trung tâm khuyến ngư tỉnh, huyện, Trường Đại họcNông nghiệp nhiều hộ đã chuyển từ nuôi chuyên tôm sú sang các đối tượngnuôi khác như: nuôi thí điểm tôm Rằn, nuôi tôm xen cá kìn, cá Rô phi, cua.Qua đánh giá của các ngành chuyên môn các mô hình nuôi trên bước đầu cóhiệu quả, có thể nhân rộng mô hình cho các vụ nuôi tiếp theo
Đến năm 2009 thì diện tích nuôi trồng đã tăng lên 194,65 ha đạt 105 %trẻn toàn xã và 87,12 ha trên thôn VQĐ tăng 18.12 ha so với năm 2008 Kếhoạch diện tích tăng mạnh ở thời điểm nay là do mùa vụ 2008 người dânchuyển qua nuôi xen ghép có hiệu quả nên nhiều diện tích bỏ hoang được sửdụng lại Đến 2010 thi tổng diện tích NTTS là 183.14 ha toàn thôn và 87.12
ha tại thôn VQĐ Về số hộ NTTS thì số hộ nuôi có xu hướng tăng máy nămgần đây Vào năm 2008 có 135 hộ nuôi nhưng đến năm 2010 thì là 154 hộnuôi Tại VQĐ số hộ nuôi qua 3 năm là 77 hộ năm 2008 và giữ ở mức 90 hộnăm 2010 Kết quả nuôi cũng khả quan hơn, mặt dù hiệu quả kinh tế khôngcao nhưng 100% đều có lãi Một điểm đáng lưu ý là sản lượng tôm thu hoạchqua 3 năm trở lại đây suy giảm đáng kể năm 2008 người dân thu được 89.4tấn tôm các loại trên toàn xã nhưng sản lượng tôm giảm nhanh chóng trongcác năm tiếp theo 45 tấn năm 2009 và 70.5 tấn năm 2010 Nguyên nhân chính
là do năm 2009 tỷ lệ hao hụt tôm lớn do người dân tiến hành thả thẳng, nguồngiống không đảm bảo và điều kiện chăm sóc còn hạn chế Tại VQĐ sản lượngtôm các loại qua 3 năm cũng giảm đáng kể 60 tấn năm 2008 chỉ còn 34.5 tấnnăm 2009 và năm vừa rồi là 36 tấn Qua thực tế trên chúng ta có thể nhậnthấy rằng người dân đã không còn mặn mà gì với con tôm nữa họ không còn
ôm tham vọng làm giàu từ con tôm như trước đây Ngoài tôm ra thì số lượng
cá nước lợ người dân lại đầu tư nhằm thu được lợi nhuận từ con cá Còn vềsản lượng thu hoạch:
Tôm thu hoạch : 89,4 tấn năm 2008 và giảm còn 45 tấn năm 2010 vàtiếp tục giảm còn 35,7 tấn vào năm 2010 Đó là kết quả của việc người dânkhông còn mặn mà với con tôm nữa Bên cạnh đó sản lượng cá nước lợ lại
Trang 30liên tục tăng 15 tấn ở năm 2008, 20 tấn ở năm 2009 và thu hoạch cá đạt 31,8tấn vào năm 2010 chứng tỏ tại Hương Phong người ta bắt đầu thay con tômbằng con cá Về sản lượng cua , sản lượng cua năm 2008 đạt 15 tấn đến năm
2009 đạt 17,3 tấn và năm 2010 sản lượng cua là 27,3 tấn Qua sản lượng thuhoạch ta nhận thấy xu hướng người nuôi trồng hiện nay là giảm đầu tư contôm và tăng đầu tư con cua và cá nguyên nhân vì khi nuôi xen ghép 3 dốitượng này việc nuôi quá nhiều tôm thường không mang lại hiệu quả trong khi
cá và cua lại dễ nuôi và giá trị cũng cao Tại thôn VQĐ sản lượng cá qua 3năm cũng tăng liên tục ban đầu năm 2008 toàn thôn hỉ thu được 7,5 tấn cáccác loại nhưng đến năm 2009 đã là 10 tấn và tăng đến 30 tấn vào năm 2010
Về hình thức nuôi: trên địa bàn toàn xã nói chung và VQĐ nói riêngngười đan hàu như đã nhận thấy hiệu quả của mô hình nuôi xen ghép rồi nênhầu như không có hộ nào tiến hành nuôi dộc canh tôm nữa Trong năm 2008
và 2009 trên toàn xã có 2 hộ tiến hành nuôi chuyên canh tôm với chế phẩmsinh học với tổng diện tích là 2ha nhưng kết quả mang lai không cao, khokhông còn hỗ trợ thì đã chuyển số diện tích này sang nuôi xen ghép