- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thịtrường tiêu thụ sản phẩm * Các phương pháp khuyến nông Hiện nay dựa vào phương thức tác động tự cán bộ khyến nông đến hộn
Trang 1Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrường, sản xuất tự cấp tự túc không còn đảm bảo được điều kiện sống chongười dân Khắp mọi nơi chúng ta có thể thấy một xu thế cạnh tranh ngàycàng mạnh mẽ và chỉ có những người dân hoạt động hiệu quả cao mới đứngvững được Trong cơ chế mới, người nông dân luôn đứng trước thực trạngthiếu hụt thông tin về thị trường, giá cả để định hướng cho sản xuất Mặt kháctrình độ sản xuất của phần lớn người dân còn yếu, thông tin KHKT đối vớingười dân còn ít Do đó vấn đề nâng cao kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp,kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường, chuyển giao TBKH,… cho ngườidân để họ có đủ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh là một yêu cầu bứcthiết trong vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay
Trước yêu cầu đó, công tác khuyến nông đã được củng cố và từng bướccải thiện cho phù hợp với tình hình mới Ngày 02/03/1993, Chính phủ banhành Nghị định 13/CP về công tác KN, thông tư liên bộ số 02/LB/TT ngày02/08/1993 hướng dẫn thi hành nghị định 13/CP Từ khi ban hành Nghị địnhnày đã đem lại nhiều kết quả khả quan cho nông nghiệp nông thôn, hệ thống
KN nước ta không ngừng lớn mạnh kể cả về số lượng và chất lượng, vớimạng lưới ngày càng hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Có thể nóicông tác KN đã có những đóng góp quan trọng vào việc khuyến khích nôngdân áp dụng TBKH, phát triển sản xuất hiệu quả, tạo ra nhiều hàng hoá nôngsản có chất lượng, tăng thu nhập và mức sống cho người dân Bên cạnh nhữngthành tựu đạt được, vẫn phải thừa nhận một thực tế đó là hiệu quả mà hoạtđộng khuyến nông đem lại còn chưa cao, một phần là do trình độ nhận thức củangười dân còn thấp, một phần do năng lực của CBKN viên cơ sở còn hạn chế,công tác KN chưa được đầu tư đúng mức… Khắc phục những hạn chế trên đòihỏi Nhà nước và các CBKN cần có các biện pháp đẩy mạnh công tác KN hiệnnay
Công tác khuyến nông ở Bố Trạch đã có nhiều cố gắng để nâng cao năngsuất, phẩm chất cây trồng, vật nuôi, thuỷ hải sản, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất… Tuy nhiên, hoạt động KN của huyện vẫn chưa đáp ứng được nhu
Trang 2cầu ngày càng cao của bà con nông dân, chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có củahuyện Vấn đề đặt ra là: Hoạt động KN ở huyện Bố Trạch có đáp ứng được nhucầu sản xuất và đời sống của bà con nông dân trước xu thế hội nhập của nền kinh
tế hay không? Trong hoạt động chuyển giao TBKT gặp những thuận lợi và khókhăn gì? Cần phải thực hiện những biện pháp gì để các hoạt động KN ở BốTrạch phát huy tối đa những tác dụng?
Giải quyết những vấn đề trên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu
và Đánh giá hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nônghuyện Bố Trạch trong những năm gần đây
- Tìm hiểu và đánh giá hiệu quả các hoạt động khuyến nông của Trạmkhuyến nông huyện Bố Trạch
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động khuyến nông củaTrạm khuyến nông huyện Bố Trạch
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm, vai trò, nguyên tắc, mục tiêu, chức năng và phương pháp khuyến nông
* Khái niệm về khuyến nông
“Khuyến nông” là một thuật ngữ khó định nghĩa một cách chính xácbởi vì khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụnhiều mục đích rộng rãi, do đó có nhiều quan niệm và định nghĩa về khuyếnnông, mỗi cán bộ khuyến nông đều có những ý niệm riêng dựa trên kinhnghiệm và tính chất công việc của mình Nói cách khác không thể đưa ra mộtđịnh nghĩa khuyến nông duy nhất Dưới đây là một số định nghĩa có tínhchính xác hơn cả [4]
Định nghĩa của FAO – tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới(1984)
Khuyến nông là một dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và đào tạodạy nghề cho nông dân, làm cho nông dân có đủ khả năng để giải quyết lấycác vấn đề của gia đình và làng xã Nói cách khác, khuyến nông là một biệnpháp giúp đỡ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ, phát triểnnông thôn và cải thiện điều kiện vật chất, tinh thần cho nông dân [4]
Định nghĩa của Van den Ban và Hawkins (1988)
Khuyến nông bao gồm việc sử dụng có có suy nghĩ các thông tin đểgiúp người nông dân tự hình thành ý kiến và đưa ra những quyết định phùhợp với hoàn cảnh của họ [4]
Như vậy, Khuyến nông được định nghĩa như là một công tác tổ chức,thiết kế để cải thiện điều kiện sinh sống của người dân, các bà nội trợ và cácngười khác trong nông thôn, bằng cách dạy cho họ thực hiện tốt hơn, cải thiệnđiều kiện sinh sống của người dân, các bà nội trợ và những người khác trongnông thôn, bằng cách dạy cho họ thực hiện tốt hơn, cải thiện phương pháp vàcách làm đồng áng, công việc nội trợ và có cuộc sống cộng đồng tốt hơn.Khuyến nông được tiến hành bất cứ ở đâu mà con người hiện diện và bất cứcái gì họ cần Tất cả những kết quả đạt được của khuyến nông là giúp cho gia
Trang 4đình nông dân đạt được một đời sống tốt hơn, trở nên năng động hơn và lànhững thành viên tích cực trong cộng đồng
* Vai trò của khuyến nông:
- Khuyến nông là cầu nối giữa nông dân với: Nhà nước, nghiên cứukhoa học, môi trường sinh thái, thị trường, nông dân giỏi, các doanh nghiệp,các đoàn thể, các ngành có liên quan, Quốc tế
- Khuyến nông giúp cho hộ nông dân xoá đói giảm nghèo, tiến lên khá
- Không cho không
- Phải mang tính chất toàn diện và thích ứng với từng địa phương vàtừng nhóm đối tượng
- Phải bình đẳng
- Phải mang tính trao đổi hai chiều
- Phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phát triển nông thôn khác
* Mục tiêu của khuyến nông
- Nâng cao nhận thức về chủ trương chính sách, pháp luật của Nhànước và kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh chongười sản xuất
- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, nângcao năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả, phát triển sản xuấttheo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, gópphần thúc đẩy quá trinh CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn
- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thamgia khuyến nông
* Chức năng của khuyến nông
- Bồi dưỡng, tập huấn: Tổ chức các khoá tập huấn, xây dựng mô hình,tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân
Trang 5- Thúc đẩy: Tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất những ý tưởng,sáng kiến và thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ.
- Trao đổi và truyền bá thông tin: Bao gồm việc xử lý, lựa chọn cácthông tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nôngdân, giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương: Tạođiều kiện giúp họ có thể phát hiện, nhận biết và phân tích các vấn đề khó khăntrong sản xuất, đời sống và bàn bạc cùng nông dân tìm biện pháp giải quyết
- Giám sát và đánh giá các hoạt động khuyến nông: Đây là một trongnhững nội dung rất quan trọng, nếu làm tốt công tác giám sát đánh giá cónghĩa là đã cụ thể hoá được những kế hoạch, chương trình khuyến nông tớingười dân, nắm bắt những mặt được, chưa được trong quá trình triển khaihoàn thiện
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuậtmới, hoặc kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ
đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, pháttriển sản xuất quy mô trang trại
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thịtrường tiêu thụ sản phẩm
* Các phương pháp khuyến nông
Hiện nay dựa vào phương thức tác động tự cán bộ khyến nông đến hộnông dân, phương pháp khuyến nông được chia làm 3 nhóm là:
- Phương pháp nhóm, được thể hiện dưới các hình thức:
+ Họp nhóm
+ Đào tạo, tập huấn
+ Hội thảo đầu bờ
+ Xây dựng mô hình trình diễn
+ Tham quan
- Phương pháp cá nhân, được thể hiện dưới các hình thức sau:
+ Cán bộ khuyến nông đến thăm hộ nông dân
+ Nông dân đến thăm cơ quan khuyến nông
Trang 6+ Gửi thư riêng
+ Gọi điện thoại
- Phương pháp thông tin đại chúng
Phương pháp sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như: Đàiphát thanh, ti vi, báo chí, tờ rơi, tờ gấp, lịch, tài liệu tập huấn kỹ thuật, bản tinkhuyến nông …để khuyến cáo, tuyên truyền cho các hộ nông dân So với tiếpxúc nhóm và tiếp xúc nhóm và tiếp xúc cá nhân, phương pháp này phổ biếnnhanh, kịp thời hơn những TBKT mới Nó cũng thu hút được đông đảo nôngdân hơn do được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nông
* Về điều kiện tự nhiên
Khuyến nông hoạt động trong môi trường nông thôn Các điều kiện đấtđai, khí hậu thuỷ văn quyết định cơ cấu cây trồng của một địa phương có ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc Cán bộ KN cần nắm rõchất đất của từng xứ, từng chân ruộng, thông qua đó mà khuyến cáo ngườidân trồng cây gì, bón loại phân nào, bao nhiêu là phù hợp, nuôi con gì, loạigiống nào đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
* Điều kiện kinh tế xã hội
- Dân cư: Hiện nay dân số nông nghiệp của nước ta chiếm khoảng
74%, trong đó lao động trẻ em chiếm một tỷ trọng lớn Điều này rất thuận lợicho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên điều đó cũng đặt ra yêu cầu rất lớn đốivới hoạt động khuyến nông đặc biệt là cán bộ khuyến nông khi mà số lượngcán bộ khuyến nông còn quá ít
- Trình độ văn hoá: Phân loại trình độ văn hoá trong cộng đồng dân cư,
đặc biệt trình độ văn hoá của lao động nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đếnviệc tiếp thu khoa học công nghệ Những vùng nông dân có trình độ văn hoácao, giáp các thành phố thị trấn thường là những nơi tiếp thu mạnh khoa học kỹthuật, đòi hỏi hoạt động KN cần phải luôn đổi mới hấp dẫn người dân, đội ngũ
KN cần có trình độ cao luôn trau dồi kiến thức hơn những vùng xa xôi
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống thuỷ nông, điện, đường, trường,
trạm, nhà kho, công cụ máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởngrất lớn đến việc đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Người dân có điều
Trang 7kiện làm quen với máy móc thiết bị nên suy nghĩ cách làm đòi hỏi cao hơnyêu cầu những tiến bộ kỹ thuật mới hơn, hiệu quả hơn.
- Chính sách cán bộ: Con người là chủ thể của mọi hoạt động, là nhân
tố quyết định trong quá trình phát triển xã hội, nhưng con người chỉ phát huyđược những sáng tạo và nhiệt tình khi có một chính sách cán bộ đúng đắn, chế
độ thù lao phù hợp
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam
Khuyến nông được hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triểncủa sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển của khuyến nông trên thếgiới, khuyến nông Việt Nam hình thành và phát triển tương đối sớm Khuyếnnông có từ thời các vua Hùng, khi nhà nước Văn Lang phát triển gắn liền vớinền văn minh lúa nước Sông Hồng, các vua Hùng đã dạy dân cấy lúa, trồngmột số loại cây ngũ cốc (ngô, khoai, sắn…) và hướng dẫn nông dân chăn nuôimột số con gia súc (trâu, bò, lợn, gà ) Đây được coi là công tác KN của cácVua Hùng giúp dân phát triển sản xuất
Từ đó hoạt động khuyến nông tiếp tục được quan tâm phát triển ở triềuđại phong kiến sau này
Năm 1945 cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủcộng hoà ra đời đã có những chủ trương chính sách phát triển nông nghiệp:cải cách ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân thực hiện “người cày córuộng”, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp và các nông trường quốc doanh.Những kết quả về sản xuất nông nghiệp do phong trào hợp tác hoá mang lạitrong thời kỳ kháng chiến cứu nước là không thể phủ nhận Tuy nhiên chuyểnsang thời bình mô hình HTX nông nghiệp kiểu cũ không còn phù hợp, đời sốngnhân dân không những không được cải thiện mà còn rơi vào tình trạng hết sứckhó khăn, thiếu lương thực thực phẩm và đồ dùng thiết yếu, người dân mấtlòng tin
Để thay đổi cơ chế quản lý nông nghiệp, ban Bí thư Trung ương Đảng
ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến tay người lao động và hộ gia đình Sau
đó ngày 5/4/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “đổi mới quản lý trongnông nghiệp”, hộ nông dân trở thành đơn vị tự chủ kinh tế toàn quyền quyết
Trang 8định về quá trình sản xuất kinh doanh của mình Những chủ trương về chínhsách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo ra những điều kiện thuậnlợi đề phát triển sản xuất nông nghiệp và đặt ra những yêu cầu mới cho côngtác khuyến nông.
Trước tình hình đó, Việt Nam phải có những chủ trương, chính sáchphát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể, mội số địa phương đãhình thành tổ chức khuyến nông như ở An Giang, Bắc Cạn… Ngày 2/3/1993Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/CP quy định về công tác khuyếnnông, tiếp đó là thông tư liên bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và PTNT, bộThuỷ sản số 02/TTLB ngày 2/8/1993 hướng dẫn thực hiện Nghị định 13/CP
Hơn 10 năm qua khuyến nông Việt Nam đã không ngừng được củng cố
và phát triển, đã hình thành mạng lưới rộng khắp từ trung ương đến địaphương tới các làng bản xa xôi Để đáp ứng được những yêu cầu phong phú
và đa dạng của người dân và các nhóm cộng đồng, đặc biệt nền nông nghiệpnước ta bước vào hội nhập với thế giới, ngày 26/4/2005, Chính phủ đã banhành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về công tác khuyến nông, khuyến ngưnhằm thay thế Nghị định 13/CP không còn phù hợp
* Hệ thống khuyến nông Việt Nam
- Tổ chức khuyến nông nhà nước
Đây là lực lượng khuyến nông nằm trong biên chế hưởng lương sựnghiệp Hệ thống tổ chức khuyến nông của nước ta thể hiện qua sơ đồ 2.1.Qua sơ đồ 2.1 ta thấy: Tổ chức khuyến nông Nhà nước gồm 4 cấp: Cấp Trungương, cấp tỉnh cấp thành phố, huyện, thị, cấp xã và thôn bản Các chươngtrình khuyến nông được thực hiện dưới sự giám sát của các cơ quan khuyếnnông, ở các cấp cơ sở khuyến nông có thể trực tiếp làm công tác sản xuất,hướng dẫn nông dân làm theo Kinh phí của công tác khuyến nông được Nhànước cung cấp để hoạt động
- Tổ chức khuyến nông tự nguyện
Ngoài khuyến nông nhà nước còn có các tổ chức khuyến nông tựnguyện, tổ chức quốc tế phi Chính phủ cũng góp phần rất lớn trong hoạt độngkhuyến nông nước ta Họ hoạt động từ các nguồn kinh phí tự tạo, từ các hợpđồng thực hiện các nhiệm vụ khuyến nông hoặc từ các nguồn tài trợ của các
Trang 9tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước Các tổ chức này được tham giavào các chương trình dự án khuyến nông của Nhà nước, hoặc tham gia vàocác chương trình đào tạo chuyên môn thông qua các hợp đồng đối với các tổchức khuyến nông Nhà nước.
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức khuyến nông Việt Nam.
Trung tâm khuyến nông tỉnh, thành phố
CLBkhuyếnnông
Các hộ
Đoànthể
Hộnôngdân
Trung tâm khuyến nông Quốc gia
Bộ NN& PTNT
HTX
nông
nghiệp
Trang 10Những kết quả đạt được và những tồn tại của khuyến nông Việt Nam
* Những kết quả đạt được
Với hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực khá tốt nên trong những nămqua công tác khuyến nông của nước ta đã đạt được những kết quả khả quantrong các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm, ngư nghiệp đóng góp đáng kểvào quá trình phát triển kinh tế của đất nước nói chung và kinh tế nói riêng.Chỉ tính trong ba năm gần đây, theo số liệu thống kê của toàn hệ thốngkhuyến nông (2007-2009), bằng nguồn ngân sách khuyến nông Trung ương,hàng năm Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với khoảng 200 đơn vị,
cơ quan nghiên cứu, đào tạo về nông nghiệp, các hội, đoàn thể trong và ngoài
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và 64 tỉnh, thành triển khai, xâydựng trên 7000 điểm mô hình, chuyển giao khoa học công nghệ; tổ chức đàotạo cho gần 5000 lượt tập huấn viên khuyến nông, nông dân chủ chốt và gần 1triệu nông dân sản xuất nông nghiệp
Trung tâm đã phối hợp với các cơ quan truyền thông đại chúng như: ĐàiTruyền hình Việt Nam, VTC16, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việtnam, Báo Nông nghiệp Việt Nam… tuyên truyền chủ trương, chính sách nôngnghiệp và phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước, phổ biến kiến thức vàcác mô hình, điển hình sản xuất trên toàn quốc Hoạt động thông tin, truyềnthông trên trang web Khuyến nông, đến nay có hơn 12 triệu lượt người truycập, xuất bản 36 số/năm Bản tin Khuyến nông với hơn 10.000 bản/số phát hànhđến các xã, thôn bản và câu lạc bộ khuyến nông Biên soạn và phát hành trên 1triệu ấn phẩm khuyến nông/năm, trong đó có nhóm đĩa hình kỹ thuật Hàngnăm tổ chức trên 60 sự kiện (diễn đàn, hội thi, hội chợ nông nghiệp, khuyếnnông) thu hút hàng triệu lượt hộ nông dân và doanh nghiệp tham gia Trungtâm có quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, FAO, Ngânhàng Phát triển châu Á…) và nhiều quốc gia: Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Sĩ,Israel, Hàn Quốc, Mỹ, Canada, Nhật, Úc… để triển khai các hoạt độngkhuyến nông, đào tạo nguồn nhân lực về nghiệp vụ và các chuyên ngành, hợptác chặt chẽ với các nước ASEAN trong lĩnh vực đào tạo nông nghiệp vàkhuyến nông để tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông trongtoàn hệ thống
Trang 11Kinh phí hoạt động khuyến nông giai đoạn 2006-2010, được Nhà nướcđầu tư 1.513,43 tỷ đồng, trong đó:
- Ngân sách Trung ương: 843,880 tỷ đồng
- Ngân sách địa phương: 669,550 tỷ đồng
* Những tồn tại
Mặc dù được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư nhưng tình hình hoạtđộng khuyến nông ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn như:
- Hệ thống khuyến nông còn yếu cả về số lượng và chất lượng đặc biệt
là ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, tại các xã đặc biệt khókhăn tỷ lệ nghèo đói cao
- Mục tiêu nội dung công tác khuyến nông còn hạn hẹp, phân tán, chủyếu mới tập trung vào việc chuyển giao TBKT đơn lẻ trong sản xuất nôngnghiệp, chưa vươn tới mô hình tổng hợp, gắn trồng trọt với chăn nuôi và chếbiến tiêu thụ sản phẩm
- Khuyến nông còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức khácnhau như với các nhà khoa học và cac cơ quan nghiên cứu
- Kinh phí cho hoạt động khuyến nông còn hạn chế so với nhu cầu củanông dân và nhiệm vụ được giao
- Cơ chế chính sách khuyến khích cán bộ khuyến nông, các nhà khoahọc tham gia hoạt động khuyến nông chưa đủ sức hấp dẫn để các nhà khoahọc gắn bó với hoạt động khuyến nông
Trang 12Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Đánh giá thực trạng khuyến nông của huyện Bố Trạch
- Hệ thông tổ chức khuyến nông của huyện Bố Trạch
- Nguồn nhân lực của Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch
- Phương thức hoạt động và tổ chức của mạng lưới khuyến nông huyện
Bố Trạch
- Tình hình sử dụng kinh phí cho hoạt động khuyến nông của huyện
3.1.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch
- Hiệu quả của hoạt động thông tin tuyên truyền
- Hiệu quả của hoạt động đào tạo tập huấn và bồi dưỡng
- Hiệu quả của hoạt động xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giaokhoa học công nghệ
3.1.3 Nhận thức của người dân đối với hoạt động khuyến nông
- Sự tham gia của người dân vào các hoạt động khuyến nông
- Một số đánh giá và kiến nghị của người nông dân đối với hoạt độngkhuyến nông của huyện Bố Trach
3.1.4 Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch
- Những thuận lợi trong hoạt động khuyến nông của Trạm
- Những khó khăn trong hoạt động khuyến nông của Trạm
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Đề tài sẽ triển khai khảo sát nghiên cứu tại 3 xã, các xã là Đồng Trạch,Vạn Trạch và Hưng Trạch Trong 3 điểm nghiên cứu thì Vạn Trạch là điểm
có hoạt động sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh, hệ thống cán bộ khuyếnnông trên địa bàn thị trấn khá hoàn thiện do đó hoạt động khuyến nông cũngđược triển khai mạnh mẽ hơn Hưng Trạch là xã đại diện cho điểm nghiêncứu có hoạt động khuyến nông diễn ra ở mức trung bình và Đồng Trạch cóhoạt động khuyến nông diễn ra vào loại yếu của huyện
- Mỗi xã tiến hành khảo sát điều tra 15 hộ dựa vào các đặc điểm như:
Trang 13+ Hộ sẵn sàng chấp nhận TBKT mới, tham gia đầy đủ các hoạt độngkhuyến nông (Mức 1).
+ Hộ có tham gia nhưng không thường xuyên (Mức 2)
+ Hộ không tham gia và không áp dụng (mức 3)
- Tổng số hộ điều tra là 45 hộ, thuộc 3 xã đại diện cho huyện Bố Trạch
- Đối tượng điều tra trong xã bao gồm: Các hộ nông dân, cán bộkhuyến nông chuyên trách, các cán bộ xã, cán bộ HTX DV NN, cán bộ phụ
nữ, cán bộ hội nông dân…
Nội dung khảo sát: Các câu hỏi cho các đối tượng khác nhau sẽ đượcthiết kế cho phù hợp Nội dung chủ yếu tập trung vào vấn đề thực trạng hoạtđộng khuyến nông hiện nay ra sao? đội ngũ khuyến nông có đủ về số lượng vànăng lực có đáp ứng được nhu cầu của người dân hay không? Người dân đanggặp phải những khó khăn gì trong việc tiếp cận với khuyến nông và việc ápdụng những TBKH mà khuyến nông mang lại Nguyện vọng của họ thế nào để
từ đó tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động khuyến nông sao chophù hợp đáp ứng với yêu cầu cao của sản xuất nông nghiệp tại địa phương.Bảng 3.1 Phân loại hộ điều tra theo mức độ tham gia khuyến nông
Xã
Mức độ tham gia khuyến nông
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ (%)
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ (%)
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ (%)
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu
- Tiến hành thu thập thông tin thứ cấp thông qua các báo cáo hàng năm
về kinh tế xã hội nói chung và công tác khuyến nông nói riêng của các cấptỉnh, huyện, xã …
- Tiến hành thu thập thông tin sơ cấp thông qua việc sử dụng một sốcông cụ PRA:
Trang 14+ Phỏng vấn sâu: đối tượng là CBKN trạm, CBKN trung tâm, CBKN
xã, trưởng thôn chọn điểm
+ Phỏng vấn hộ: 45 hộ, bằng bảng hỏi bán cấu trúc, đối tượng là các
hộ dân tiêu biểu luôn đi đầu trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỷ thuật.Danh sách các hộ thông qua sự giới thiệu của trưởng thôn, người am hiểu địabàn thôn nhất
- Phương pháp thống kê mô tả: Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề
ra, kết quả điều tra sẽ được phân tích sử dụng phương pháp thống kê mô tả.Các chỉ tiêu thống kê sẽ được tính toán để mô tả thực trạng hoạt động khuyếnnông, những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động
- Thống kê so sánh: Trên cơ sở các số liệu điều tra, sử dụng phươngpháp thống kê so sánh để đánh giá hoạt động khuyến nông và các yếu tố ảnhhưởng đến hoạt động khuyến nông
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Nhằm thu nhập có chọn lọc ýkiến đánh giá của những người đại diện trong từng lĩnh vực như cán bộ khuyếnnông cấp tỉnh, huyện, cán bộ các đoàn thể Hội Phụ nữ, Hội Nông dân cấp xã vềhoạt động của cán bộ khuyến nông cơ sở Từ đó rút ra những nhận xét về thựctrạng hoạt động của cán bộ khuyến nông được chính xác và khách quan hơn
Trang 15Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Bố Trạch
Bố Trạch là một huyện cách trung tâm thành phố Đồng Hới 8km, phíaBắc giáp huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, phía Nam giáp thànhphố Đồng Hới, huyện Quảng Ninh, phía Tây giáp Lào và phía Đông giápbiển
Năm 2009 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 212417,81 ha trong
đó đất nông nghiệp là 196070,34 ha chiếm 92,30 % tổng diện tích đất tựnhiên, đất lâm nghiệp là 172365,91 ha chiếm 81,14 % diện tích đất nôngnghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản là 920,63 ha chiếm 0,43 % diện tích đất nôngnghiệp Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp liên tục bị thuhẹp do một phần đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng vào các mụcđích khác như xây dựng hệ thống giao thông thuỷ lợi, các cụm công nghiệp,các tuyến đường giao thông… Điều này khẳng định công tác khuyến nôngngày càng đóng vai trò quan trọng trên địa bàn huyện góp phần nâng cao năngsuất, chất lượng cây trồng
Bố Trạch có 30 xã, thị trấn trong đó có hai thị trấn, 9 xã miền núi và 2
xã miền núi rẻo cao Địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông PhíaTây là dãy núi cao (dãy trường sơn), tiếp đến là vùng gò đồi bát úp tạo nênmột số thung lũng và phía Đông là dãi đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra sát biển.Núi và gò đồi chiếm 80% diện tích tự nhiên Địa hình bị chia cắt hình thànhcác vùng sinh thái khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ Đất thì có 3nhóm chính Feralit, phù sa và cát biển khí hậu, nằm trong khu vực ảnh hưởngcủa khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của khí hậu miền bắc Bố Trạch cócác con sông chính: sông Gianh, sông Lý Hòa, sông Dinh, sông Son và hệthống các sông suối nhỏ phân bố trên địa bàn huyện
Với đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu và sông ngòi như vậy sẽrất thuận lợi cho Bố Trạch phát triển và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp
Trang 16Bản đồ hành chính huyện Bố Trạch
Xã Vạn Trạch
Xã
Hưng
Trạch
Xã Đồng Trạch
Trang 17Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai huyện Bố Trạch (2007-2009)
Chỉ tiêu
Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 212415,63 100 212417,35 100 212417,81 100
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bố Trạch )
Trang 184.1.2 Đặc điểm dân số của huyện
Bố trạch là huyện có truyền thống về sản xuất nông nghiệp từ bao đờinay, do đó dân số và lao động là nhân tố có ý nghĩa hết sức quan trọng Năm
2009 tổng dân số của huyện là 178.717 người trong đó nam chiếm 50,45% nữchiếm 49,55%.(theo số liệu phòng thống kê huyện Bố Trạch)
Do sản xuất nông nghiệp vẫn cần một nguồn nhân lực tương đối lớncho nên dân số vẫn tập trung ở khu vực nông thôn Bên cạnh đó các hoạt độngthương mại, dịch vụ đã dần phát triển để kéo một bộ phận dân cư ra khỏi khuvực nông thôn, tuy nhiên con số này con rất nhỏ
Bố Trạch có nguồn lao động rất dồi dào, thuận lợi cho việc phục vụphát triển sản xuất Năm 2008, số người trong độ tuổi lao động là 103.786người chiếm 58,15% tổng dân số Hàng năm lực lượng lao động của huyệnvẫn tăng trưởng đều đặn, năm 2009 có 104.403 người trong độ tuổi lao động,năm 2010 có 104.864 người chiếm 58,418% Điều này tạo điều kiện cho việcphát triển kinh tế của huyện trong những năm tới là tương đối ổn định và bềnvững Tuy nhiên trong số những người trong độ tuổi lao động vẫn còn một bộphận không nhỏ chưa có việc làm, năm 2007 con số này là 10.707 ngườichiếm 10,44% lao động, năm 2008 là 9.996 người chiếm 9,63% năm 2009 sốngười không có việc làm là 9.124 người chiếm 8,7392% lao động của huyện.Như vậy, số người chưa có việc làm giảm theo các năm, có được con số này
là do cuộc vận động đi học nghề và công tác liên kết đào tạo việc làm củaUBND huyện Điều đáng lo ngại là số người chưa có việc làm vẫn còn caodẫn đến một loạt những vấn đề xã hội cần giải quyết theo đó
Tóm lại, nền kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệpbiểu hiện ở chỗ số người sống trong khu vực nông thôn chiếm một tỷ lệ rấtcao Mặc dù tốc độ tăng bình quân của dân số thành thị nhanh hơn so vớinông thôn, nhưng tốc độ tăng này còn chậm trong khi đó số khẩu phi nôngnghiệp tăng vẫn chưa cao Vì vậy, trong những năm tiếp theo đòi hỏi huyệnphải có bước đột phá trong chuyển đổ cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theohướng CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn
Trang 19Bảng 4.2: Tình hình dân số của huyện Bố Trạch (2007 - 2009)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%) 2008/2007 2009/2008 BQ
2 Theo địa bàn sinh sống
- Số người ở nông thôn Người 159818 90,54 161760 90,63 161778 90,52 101,22 100,01 100,61
- Số người ở thành thị Người 16703 9,462 16729 9,373 16939 9,478 100,16 101,26 100,71
II Số người trong độ tuổi
Trong đó số người chưa có
(Nguồn: phòng thống kê huyện Bố Trạch)
Trang 204.2 Đánh giá thực trạng hoạt động khuyến nông huyện Bố Trạch
4.2.1 Hệ thống tổ chức khuyến nông của huyện Bố Trạch
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất nông nghiệp trên địa bànhuyện, cùng với việc thực hiện nghị định số 13/CP cuả Chính phủ ban hànhngày 02/03/1993 và thông tư liên bộ số 02/LBTT ngày 02/08/1993, ngày02/07/1998 UBND Bố Trạch ra quyết định số 92/1998/ QĐ-UB về việc thànhlập Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch
Trạm khuyến nông trực thuộc UBND huyện Bố Trạch là đơn vị sựnghiệp, có con dấu và tài khoản riêng để giao dịch đồng thời chịu sự quản lý vềnghiệp vụ và chuyên môn của trung tâm khuyến nông tỉnh
Kể từ khi thành lập cho đến nay được sự quan tâm chỉ đạo của thườngtrực huyện uỷ, hộ đồng nhân dân, UBND huyện Bố Trạch và Trung tâmkhuyến nông tỉnh, sự giúp đỡ của các phòng, ban, ngành có liên quan, Trạmkhuyến nông đã không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn và đã có nhữngđóng góp đáng kể vào kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện
* Hoạt động chung của công tác khuyến nông
Hệ thống khuyến nông từ huyện đến xã được đặt dưới sự chỉ đạo củaTrạm khuyến nông huyện, về địa bàn của UBND các xã, thị trấn Thông qua
đó lực lượng khuyến nông được cập nhật các chủ chương chính sách của Nhànước, các TBKT mới một cách nhanh nhất từ đó triển khai trên địa bàn mìnhphụ trách Chính vì thế công tác khuyến nông luôn bám sát thực tế sản xuất,tạo được cái mới, làm tốt công tác tham mưu chuyên môn, tư vấn giúp nôngdân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao điển hình như xây dựng vùng quyhoạch lúa chất lượng cao, ngô lai cho năng suất cao, vùng rau màu chuyêncanh, vùng hoa chất lượng cao, công tác cải tạo nâng cao tầm vóc đàn bò,công tác phát triển đàn lợn nái ngoại hướng nạc, chăn nuôi gia cầm an toànsinh học, xây dựng trang trại lợn nái ngoại nhập tập trung…
* Về quản lý công tác khuyến nông
Trạm khuyến nông được UBND huyện giao cho nhiệm vụ tổ chức, chỉđạo và quản lý chuyên môn hệ thống khuyến nông Riêng khuyến nông viêncấp thôn được UBND huyện giao nhiệm vụ quản lý trực tiếp và chi trả thù laohàng tháng
Trang 21Trạm khuyến nông chủ trì việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môncủa các khuyến nông viên cơ sở thông qua giao ban định kỳ hàng tháng vàbáo cáo định kỳ của từng khuyến nông viên UBND các xã, thị trấn chỉ đạonhiệm vụ và các công việc trực tiếp của khuyến nông viên, giao nhiệm vụcông việc, địa bàn hoạt động, kiểm tra kết quả, mức độ hoàn thành Đồng thờiTrạm khuyến nông cùng UBND các xã, thị trấn phối hợp với nhau hàngtháng, hàng quý đánh giá hoạt động khuyến nông viên cơ sở, xây dựng kếhoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực cho khuyến nông viên cả về trình độchuyên môn cũng như kinh nghiệm và thực tế công tác Chính vì thế trongnhững năm qua công tác khuyến nông trên địa bàn huyện đã có những khởisắc đáng kể Nhất là từ khi có thêm lực lượng khuyến nông thôn và cáckhuyến nông viên thuộc các chương trình dự án phát triển nông nghiệp nôngthôn trên điạ bàn huyện.
* Cơ cấu tổ chức nhân sự của hệ thống khuyến nông huyện
Đội ngũ khuyến nông viên của huyện bao gồm 34 người trong đó Trạmkhuyến nông huyện bao gồm 6 người Phần lớn các cán bộ của Trạm khuyếnnông đều được qua đào tạo tại các trường, và được phân bổ làm việc theo đúngchuyên môn, có bằng đại học hoặc ít nhất có bằng cao đẳng
Trạm khuyến nông huyện được đặt dưới sự phụ trách của UBNDhuyện, nhiệm vụ chính của Trạm là tham mưu cho UBND huyện chuẩn bị kếhoạch và tổ chức hoạt động sản xuất nông nghiệp, tổ chức các hoạt độngchuyển giao TBKT và thông tin, xây dựng mạng lưới khuyến nông cơ sở Kếthợp với các tổ chức, ban ngành, các dự án để xây dựng:
- Dự án hỗ trợ khuyến nông cho hộ nghèo
- Các mô hình trình diễn cấp trung ương
Trang 22+ Tổ chuyển giao TBKT: Xây dựng và phát triển các chương trình dự
án, tổ chức chuỵển giao các TBKT đến với sản xuất
+ Tổ thông tin tuyên truyền: có nhiệm vụ thu thập tài liệu, hình ảnh, tổchức các hoạt động tuyên truyền cho các TBKT mới, các mô hình tại cơ sở
+ Bộ phận hành chính tổ chức: Tổ chức quản lý nhân sự, vật lực, tàichính để phục vụ nhiệm vụ của đơn vị
2 Tuyến xã: Toàn huyện có 28 xã và 2 thị trấn với 28 khuyến nôngviên cơ sở với trình độ trung cấp, sơ cấp đặc biệt có 6 xã có khuyến nông viên
cơ sở có trình độ đại học Các chuyên ngành đào tạo của các khuyến nôngviên cơ sở là trồng trọt, chăn nuôi thú y, lâm sinh, kinh tế nông nghiệp, thủysản Tất cả các khuyến nông viên này đều thuộc sự quản lý trực tiếp củaUBND xã
Nhiệm vụ của họ là:
- Triển khai chương trình phát triển nông nghiệp của huyện
- Thông báo và chỉ đạo việc thực hiện nghiêm ngặt lịch trồng trọt
- Đưa các giống mới vào sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật phù hợp
- Đảm bảo công tác thú y, huy động nhân lực để thực hiện tiêm phòng
mà cũng qua đó Trạm khuyến nông có thể chuyển tải được đến người sản xuấtnhững vấn đề mà Đảng và Nhà nước muốn mang lại cho người dân
Trang 23Sơ đồ 4.3 Cơ cấu tổ chức của Trạm khuyến nông Bố Trạch
4.2.2 Nguồn nhân lực của Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch.
Nguồn nhân lực toàn trạm bao gồm các thành phần như sau:
Khuyến nông huyện bao gồm 34 người, trong đó: trạm huyện có 6người, xã là 28 người
Bảng 4.4 : Nguồn nhân lực của trạm khuyến nông huyện Bố Trạch năm
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch)
Các ngành nghề đào tạo của các khuyến nông viên bao gồm: Trồngtrọt, chăn nuôi thú y, kinh tế, nông học, lâm nghiệp, thủy sản Nhiệm vụ củakhuyến nông viên cơ sở là vận động nông dân, tổ chức xây dựng và duy trì
Trạm trưởng
KTV thủy sản
KTVchăn nuôi
KTV Trồng trọt
Kế toán
KNV cơ sở
Trang 24hoạt động của câu lạc bộ khuyến nông, nhóm sở thích, phục vụ hoạt độngkhuyến nông trên địa bàn, phối hợp với các ban ngành đoàn thể thường xuyênnắm chắc diễn biến đàn gia súc, gia cầm, sâu bệnh đối với cây trồng, tiếp thu
ý kiến của nông dân phản ánh kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền
để sớm được giải quyết Tham gia tổ chức triển khai thực hiện các mô hìnhkhuyến nông của trung ương, tỉnh, huyện, xã và của các cơ quan khoa học,các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước Nhiệm vụ của các khuyếnnông viên cơ sở rất khó khăn và nặng nề, yêu cầu phải thực sự có năng lực vàtrách nhiệm Nhưng trên thực tế, hầu hết các khuyến nông viên có thu nhậpthấp nên lòng nhiệt tình cũng không cao, đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởngđến kết qủa của khuyến nông Vì vậy mọi trách nhiệm công việc đều đổ dồnvào khuyến nông viên cấp huyện
4.2.3 Phương thức hoạt động và tổ chức của mạng lưới khuyến nông huyện Bố Trạch
Với hệ thống tổ chức được kiện toàn đến tất cả các xã, Trạm khuyếnnông đã tham gia rất nhiều hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệpnhư: Chỉ đạo sản xuất, tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình trình diễn, tổchức tham quan hội thảo, tuyên truyền khuyến cáo Tất cả những hoạt động
mà trạm thực hiện đều nhằm mục đích cơ bản là đưa kỷ thuật tiến bộ đếnngười nông dân
Tìm hiểu những kỷ thuật tiến bộ và chuyển giao thành công cho bà connông dân được trạm coi là nhiệm vụ trọng tâm Nguồn mà Trạm khuyến nôngtiếp nhận kỷ thuật tiến bộ mới chủ yếu từ trung tâm KN - KL tỉnh, chi cụcthuỷ sản, trại giống và một số nguồn khác Trạm KN tiến hành chuyển giaocác KTTB tới người nông dân bằng nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vàotừng KTTB mới Tuy nhiên, dưới đây là hình thức chuyển giao tiến bộ kỷthuật mới tới nông dân mà trạm đã đúc kết và cho rằng đạt hiệu quả cao
TBKT mới
Trung tâm khuyến nông tỉnh Quảng Bình
Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch
Chính quyền địa phương các xã
Nông dân sản xuất giỏi,
nông dân tiên tiến
Trang 25Sơ đồ 4.5: Hình thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới của hệ thống khuyến nông huyện Bố Trạch
Trong năm 2010, từ nguồn vốn tập huấn huyện Trạm đã tiến hành tậphuấn được 69 lớp cho 1725 người nông dân về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,
Trang 26thuỷ sản, lâm nghiệp Trong quá trình triển khai mô hình, Trạm đã phối hợpvới Trung tâm KN - KN chuyển giao các kỹ thuật liên quan đến các nội dungcủa mô hình, ngoài ra Trạm cũng đã phối hợp tích cực với các công ty kinhdoanh trong lĩnh vực nông nghiệp, hội nông dân, hội cựu chiến binh, dự ánDPPR để chuyển giao những kiến thức khoa học kỹ thuật cũng như học tậpcác tiến bộ khoa học kỹ thuật mới.
Các chương trình dự án của trạm khuyến nông tổ chức triển khai khôngthể thành công nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan trong và ngoàingành Do đó trạm cùng với hệ thống khuyến nông cơ sở tại các xã không ngừng
là cầu nối hai chiều, đẩy mạnh mối quan hệ giữa nông dân với các cơ quan đoànthể trong và ngoài ngành để các chương trình dự án khuyến nông sớm đi vàothực tiễn sản xuất, đem lại hiệu quả htực sự càng cao, lấy được lòng tin của nhândân
Các khuyến nông viên cơ sở kết hợp với chính quyền địa phương cùngcác nông dân tiên tiến, nông dân sản xuất giỏi thành lập các câu lạc bộ hoạtđộng dưới sự giám sát và chỉ đạo của trạm khuyến nông huyện, các câu lạc bộhoạt động rất phong phú và đa dạng đóng góp vai trò quan trọng trong sự hìnhthành của công tác khuyến nông, thông qua các câu lạc bộ người dân đượchọc hỏi trao đổi những kinh nghiệm và hỗ trợ nhau về kỹ thuật, giống, vốn vàcùng nhau bàn cách làm giàu
TBKT mới sau khi được tiếp nhận sẽ chuyển giao tới người dân qua 3phương thức:
a) Phương pháp tập huấn: Khi có chương trình đưa các giống cây, con
mới vào sản xuất, trạm KN sẽ cử cán bộ kỹ thuật của Trạm hoặc phối hợp với
cơ quan cung cấp cử cán bộ kỹ thuật xuống các xã tổ chức tập huấn cho nôngdân Cán bộ khuyến nông cơ sở sẽ chịu trách nhiệm tổ chức các lớp tập huấnvới quy mô xã hoặc quy mô thôn Để tổ chức được các lớp tập huấn này cáccán bộ khuyến nông cơ sở phải thông qua UBND xã (đối với các lớp tập huấntrên quy mô xã), phối hợp với chủ nhiệm HTX nông nghiệp, trưởng thôn hoặctrưởng các hội, đoàn thể để lựa chọn và vận động nông dân tham gia Do vậynhững người tham gia các lớp tập huấn gồm có trưởng thôn và những nôngdân tiêu biểu
Trang 27b) Phương pháp thông tin đại chúng: Đài phát thanh huyện có lịch phát
sóng 2 buổi/ngày, mỗi buổi 2 giờ Ngoài những thông tin chung về kinh tế xãhội đài đã dành riêng thời gian cho chuyên mục khuyến nông Bởi vì hàngnăm trạm KN có ký hợp đồng với đài truyền thanh huyện về việc phát sóngcác thông tin khuyến nông, các mô hình sản xuất thành công và các gươngnông dân sản xuất giỏi Trạm phát thanh các xã và loa phát thanh thôn cũngthường xuyên đưa những thông tin về tình hình sản xuất nông nghiệp, chỉ đạo
và khuyến cáo về sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã, thôn, những thông tin
về cây, con giống mới …Song việc tiếp sóng đài truyền thanh huyện chưa đềuđặn và triệt để ở một số xã Trạm phát thanh xã và loa phóng thanh của thôn
là phương tiện chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả màtrạm khuyến nông Bố Trạch đang phát huy, áp dụng
c) Phương pháp xây dựng mô hình trình diễn: Đây là phương pháp
Trạm sử dụng rất phổ biến Sử dụng phương pháp này, khuyến nông nhằmmục đích chứng minh cho người dân thấy tận mắt tính ưu việt, hiệu quả củagiống mới, kỹ thuật mới so với giống cũ và kỹ thuật cũ Từ đó thuyết phụcngười nông dân áp dụng vào sản xuất, giống mới và kỹ thuật mới đưa vào sảnxuất đại trà và nhân ra diện rộng Các mô hình trình diễn được huyện phân bổ
về các xã dựa trên điều kiện của từng xã, huyện sẽ gửi thông báo thông quaUBND xã, các khuyến nông viên cơ sở sẽ phối hợp với địa phương tổ chức môhình trình diễn Lựa chọn địa điểm, các hộ nông dân tham gia mô hình trìnhdiễn, họ là những hộ sản xuất nông nghiệp khá có điều kiện tham gia mô hìnhsẵn sàng tiếp nhận cái mới Trạm KN, khuyến nông viên cơ sở và địa phương
sẽ cùng phối hợp trong quá trình triển khai, giám sát, đánh giá mô hình
Khi áp dụng các phương pháp trên, KTTB sẽ được chuyển giao đến cácCLBKN, các hội đoàn thể, các nhóm nông dân và những nông dân sản xuấtgiỏi, sau đó sẽ chuyển giao tới những nông dân sản xuất đại trà
Trên thực tế khuyến nông không sử dụng riêng rẽ từng biện pháp trên,
mà thường sử dụng phối hợp giữa các phương pháp Bởi vì mỗi phương phápđều có những ưu điểm và hạn chế riêng Vì thế nếu sử dụng một phương phápriêng sẽ không thể chuyển tải đầy đủ KTTB mới cho nông dân, và làm chongười nông dân thực sự tin tưởng và chấp nhận đưa KTTB vào sản xuất Tuỳ
Trang 28thuộc vào từng KTTB mà khuyến nông huyện sử dụng các phương pháp khácnhau Đối với xây dựng mô hình trình diễn thì vừa phải kết hợp giữa thông tintuyên truyền để giới thiệu mô hình, xây dựng, triển khai thực hiện mô hìnhtrên quy mô nhỏ trên đồng ruộng của nông dân, sau đó phải tiến hành thamquan hội thảo để người dân thấy được kết quả của mô hình, ưu nhược điểmhay chính là hiệu quả kinh tế của mô hình mang lại Qua quá trình này ngườidân có thể nắm được quy trình kỹ thuật, nếu mô hình có hiệu quả họ sẽ sẵnsàng áp dụng vào sản xuất.
Tóm lại, hệ thống khuyến nông huyện Bố Trạch có cấu trúc hoàn chỉnhtheo ngành dọc từ trung tâm khuyến nông tỉnh đến các khuyến nông viên cơ
sở Theo cấu trúc mạng nhện có liên quan chặt chẽ với nhau, phối hợp với cácban ngành có liên quan chuyển giao TBKT mới tới người dân, thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước đẩy mạnh công cuộc CNH –HĐH nông nghiệp nông thôn
4.2.4 Tình hình sử dụng nguồn kinh phí cho hoạt động khuyến nông của huyện
Nguồn kinh phí của huyện dành cho khuyến nông chủ yếu lấy từ cácnguồn: Ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và một phần do dân góp Theo bảng4.6 ta thấy nguồn kinh phí hàng năm của huyện dành cho hoạt động khuyếnnông tăng dần qua các năm, năm 2008 là 478.1 triệu đồng, năm 2010 tăng lên602,3 triệu đồng mức độ tăng bình quân qua 3 năm là 12,53% Nguồn kinh phínày chủ yếu lấy từ ngân sách nhà nước Trong đó nguồn kinh phí từ ngân sáchtỉnh do trung tâm KN - KL phân bổ về theo các mô hình trình diễn xây dựngtrên địa bàn huyện và theo kế hoạch hoạt động khuyến nông được giao.Nguồn kinh phí từ ngân sách huyện được UBND phân bổ dựa trên kế hoạch
và những hoạt động khuyến nông triển khai trên cơ sở mức đầu tư cho nôngnghiệp của huyện Nguồn kinh phí do dân góp là khoản tiền mà người dânđóng góp khi tham gia vào các chương trình, các mô hình trình diễn Theochính sách nhà nước quy định, người dân sẽ chịu 40% giá giống và nhà nước
hỗ trợ 60% giá giống và một phần vật tư
Trang 29Bảng 4.6: Kinh phí đầu tư hoạt động khuyến nông huyện Bố Trạch
Đơn vị tính: triệu đồng
Hạng Mục
2008 2009 2010 2009/2008 2010/2009 BQ Tổng nguồn kinh phí 476,1 553 602,3 116,15 108,92 112.53
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch)
Tình hình sử dụng kinh phí khuyến nông: Với nguồn kinh phí nàyhuyện chi cho các hoạt động khuyến nông như xây dựng mô hình trình diễn,triển khai các chương trình sản xuất, hoạt động thông tin tuyên truyền, hoạtđộng tập huấn, tham quan hội thảo Khi triển khai các mô hình trình diễn,phải tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ giá giống, phân bón, thuốc trừsâu Các mô hình điểm, chi phí cao, khó thực hiện mức hỗ trợ có thể là 100%.Triển khai các chương trình sản xuất nông nghiệp huyện cũng thường hỗ trợ60% giá giống và tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật Trong mỗi buổi tấp huấn
do Trạm tổ chức sẽ phải chi cho giảng viên với mức 25.000 - 30.000 đồng/giờ
và mỗi nông dân tham gia sẽ được 15.000 đồng Trạm cũng chi một phần kinhphí cho việc khai giảng và tổng kết mô hình
Qua bảng 4.7 ta thấy nguồn kinh phí chi cho hoạt động khuyến nôngtrong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản đều tăng với tốc độ nhanh quacác năm đạt mức tăng bình quân 3 năm là 15,37% Trong lĩnh vực trồng trọtTrạm đã xây dựng rất nhiều mô hình trình diễn lúa, ngô, lạc, tổ chức nhiềulớp tập huấn kỹ thuật
Riêng kinh phí cho các hoạt động khuyến nông về lâm nghiệp cũng có
xu hướng tăng lên qua các năm, mặc dù diện tích đất lâm nghiệp trên địa bànhuyện đã dần thu hẹp và đạt mức tăng bình quân 3 năm là 13,24 %
Trang 30Đối với hoạt động thông tin tuyên truyền: hàng năm huyện cũng dànhmột nguồn kinh phí đáng kể cho việc in tài liệu tập huấn, tranh ảnh về các môhình, quy trình kỹ thuật …phát cho nông dân; đặc biệt huyện có chi kinh phí
để đài phát thanh huyện phát các thông tin về hoạt động khuyến nông
Phần kinh phí chi cho các hoạt động tham quan, hội thảo còn hạn chế,mặc dù cũng tăng lên qua các năm Hoạt động tham quan, hội thảo tuy tốnkém song đây là những hoạt động cần thiết và hiệu quả, giúp nông dân tậnmắt thấy được những mô hình có hiệu quả có thể tạo cơ hội cho nông dân họchỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau Do vậy, trong những năm tới huyện cầntiết kiệm những khoản chi không cần thiết để phân bổ kinh phí nhiều hơn chohoạt động này
Bảng 4.7: Kinh phí khuyến nông sử dụng theo ngành sản xuất
Đơn vị tính: Triệu đồng
2008 2009 2010 2009/2008 2010/2009 BQ Tổng nguồn kinh phí 486,10 563,00 602,30 115,82 106,98 111,40
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Bố Trạch)
4.3 Đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông huyện Bố Trạch
4.3.1 Kết quả triển khai thực hiện các mô hình trình diễn và một số mô hình sản xuất
Xây dựng mô hình trình diễn được coi là nhiệm vụ trọng tâm của Trạm
KN Bố Trạch, từ các mô hình trình diễn người dân được tay làm, mắt thấy tainghe nên dễ tiếp thu và ứng dụng vào sản xuất Các mô hình trình diễn doTrạm tổ chức hoặc phối hợp với trung tâm KN - KL Quảng Bình, chi cục thuỷsản… Trong những năm qua KN huyện đã tổ chức xây dựng nhiều mô hìnhtrình diễn về cả 4 lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản vànhiều mô hình đạt kết quả tốt