1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế

79 941 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã Vinh Giang, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 9,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được xem như là một hệ thống tài nguyên tiếp cận mở nên ngư dân luôn tìm cách để nâng cao khả năng tiếp cận của mình trongviệc khai thác các loại thủy hải sản thông qua việc phát triể

Trang 1

PHẦN 1.

PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Ávới diện tích 22.000 ha và chiều dài gần 70 km dọc theo bờ biển Hệ đầm pháTam Giang - Cầu Hai đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xãhội của tỉnh Thừa Thiên Huế, là nguồn sinh kế của khoảng 300.000 người dânsinh sống quanh đầm phá Được xem như là một hệ thống tài nguyên tiếp cận

mở nên ngư dân luôn tìm cách để nâng cao khả năng tiếp cận của mình trongviệc khai thác các loại thủy hải sản thông qua việc phát triển nhiều loại ngư cụkhác nhau trong khai thác thủy sản và có nhiều diện tích để nuôi trồng thủysản Trong những năm gần đây, do tình trạng khai thác và sử dụng quá mứcđã gây nên những đe dọa đến việc phát triển có hiệu quả và bền vững hệ đầmphá Tài nguyên đầm phá thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân Tuy nhiênviệc tiếp cận nguồn tài nguyên này của người dân chịu ảnh hưởng nhiều củacác phong tục tập quán Do đó quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá của cácnông hộ không thống nhất và tính pháp lý chưa cao

Vinh Giang là xã trung tâm của 5 xã khu III, huyện Phú Lộc, tỉnh ThừaThiên Huế, Phía nam tiếp giáp đầm phá Cầu Hai Xã Vinh Giang có diện tíchmặt nước rộng lớn với 1.168 ha là nguồn lợi chính cho đa số người dân sinhsống nơi đây Cuộc sống của ngư dân phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lợi này

Vì đây vừa là hoạt động tạo thu nhập vừa là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho

cư dân Nhiều hộ giàu lên hay nghèo đi cũng do nguồn lợi này quyết định Dùgiàu hay nghèo thì khai thác tài nguyên đầm phá cũng là nghề chính của cộngđồng nên họ không thể từ bỏ được Đây là nghề truyền thống có từ lâu đờinên có nhiều thay đổi trong cơ chế quản lý, cách thức và mức độ tiếp cận.Quá trình tiếp cận tài nguyên được tích lũy trong thời gian dài chịu sự tácđộng của các cơ chế quản lý khác nhau nên có sự phân hóa về diện tích được

sở hữu giữa các hộ Sự thiếu cân đối trong diện tích tài nguyên được tiếp cận

và sở hữu dẫn đến không đồng đều trong thu nhập giữa các nông hộ và đó làbiểu hiện của phân hóa giàu nghèo

Trang 2

Vậy qua thời gian sự phân hóa trong tiếp cận tài nguyên cũng như phânhóa giàu nghèo của cộng đồng diễn ra như thế nào Quyền tiếp cận tài nguyênđã được hình thành có tác động như thế nào đến thực trạng này Để thấy đượckết quả của những nổ lực hình thành quyền tài sản đối với tài nguyên đầm phá

thì tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã Vinh Giang, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” là việc làm cần thiết.

1.2 Mục tiêu đề tài

Tiến hành nghiên cứu đề tài với các mục tiêu:

1) Tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên qua các giai đoạn khác nhau.2) Tìm hiểu tác động của tiếp cận tài nguyên đến phân hóa giàu nghèo

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Việc thực hiện quyền tiếp cận diễn ra như thế nào?

2) Thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá ảnh hưởng đến phân hóagiàu nghèo ở địa phương như thế nào?

3) Giải pháp nào để hạn chế phân hóa giàu nghèo về góc độ tài nguyên?

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Lý thuyết về tài nguyên và quyền tiếp cận tài nguyên

Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sửdụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người[10] Theo Điều 3 (Luật thủy sản), Điều 5 (Luật đất đai) tài nguyên thủy sản,tài nguyên đất thuộc quyền sở hữu toàn dân [13],[14] Hiểu theo nghĩa rộng ta

có thể coi mặt nước đầm phá, hồ là loại tài sản thuộc sở hữu toàn dân Theoluật dân sự Điều 173, Điều 189, Điều 198: “Quyền của chủ sở hữu bao gồmquyền của chủ sở hữu được chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạttheo pháp luật” Chủ sở hữu là “cá nhân, những pháp nhân và chủ thể khác có

cả 3 quyền nói trên” [15] Thực hành tiếp cận quyền tài sản của cá nhân, hộgia đình là việc chiếm dụng mặt nước khai thác trên cơ sở pháp lý hoặc tự dođược cộng đồng thừa nhận [7] Vậy tiếp cận là gì? Tiếp cận là cơ hội được sửdụng các nguồn lực và được hưởng các lợi ích Tiếp cận nguồn lực trả lời câuhỏi ai được sử dụng cái gì và ai được hưởng lợi? [2]

Theo Schlager và Ostrom (1992), mỗi cá nhân thực hiện các công việchằng ngày của họ theo những quy tắc, quy định sẵn ở cấp đọ tương ứng ở mỗimột khu vực cụ thể Những quy tắc, quy định này là cơ sở để hình thành các

cơ chế quyền tài sản của nguồn tài nguyên ở địa phương đó [3]

Do đó theo Lê Thị Hoa Sen (2010) quyền tiếp cận được hiểu là quyền

có thể để đi vào/tiếp cận để xác định tài sản vật chất [3] Hay theo TrươngVăn Tuyển (2006) quyền tiếp cận được coi là quyền tham gia vào hoạt độngquản lý, sử dụng tài nguyên Quyền tiếp cận xác định chủ thể tiếp cận, đốitượng (tài nguyên cụ thể) tiếp cận, mức độ tiếp cận theo các tiêu chí khônggian, thời gian, phương thức tiếp cận [6]

Các loại tiếp cận đến nguồn lực là tiếp cận qua công việc và tiếp cậnqua hệ thống hỗ trợ [2] Loại nguồn lực có thể tiếp cận qua công việc là tiềnmặt hoặc các loại hiện vật khác Năng suất phụ thuộc vào vốn, đất đai, công

Trang 4

việc, thiết bị, gia súc, và kỹ thuật mà người lao động được sử dụng, cũng nhưphụ thuộc vào trình độ học vấn của người lao động Tiếp cận qua hệ thống hỗtrợ như mối quan hệ họ hàng, sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác vàmạng lưới giúp đỡ lẫn nhau.

Mọi loại công việc đều phải sử dụng các nguồn lực để thực hiện cáccông việc đó Một trong những vấn đề quan trọng là xác định được ai là người

có cơ hội tiếp cận các nguồn lực hiện có trong hộ cũng như cộng đồng? Aiđược hưởng thụ các sản phẩm làm ra của gia đình hoặc cộng đồng? Trong cáchộ gia đình khác nhau, các thành viên có thể có cơ hội khác nhau về tiếp cậnvới các nguồn lực Cơ hội tiếp cận các nguồn lực khác nhau như đất đai, mặtnước, hệ thống thủy nông, cầu đường, tín dụng, giáo dục, y tế và các dịch vụkhuyến nông - lâm, các hoạt động đào tạo, của các thành viên liên quan chặtchẽ đến việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của gia đình hoặc cộngđồng để xây dựng nông thôn Một trong những nhân tố cản trở để tăng năngsuất, thu nhập của các thành viên, và quản lý tài nguyên kém hiệu quả là sựtiếp cận kém đến các nguồn lực sản xuất như đất, nước, tín dụng [2]

2.1.2 Đặc điểm tài nguyên vùng đầm phá thuộc xã Vinh Giang

Đầm Cầu Hai huyện Phú Lộc với diện tích khoảng 9.800 ha, là bộ phậnlớn trong vùng đầm phá ở Thừa Thiên Huế [8] Có 9 xã của huyện liên quanđến mặt nước đầm phá Cầu Hai là Vinh Giang, Vinh Hưng, Vinh Hiền, LộcTrì Có hàng nghìn hộ trong vùng có liên quan đến vùng đầm phá, số lượnghộ chuyên sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản tăng mạnh tạo nên sức ép lênđầm phá

Với quan niệm "điền tư ngư chung" nên người dân có tư tưởng mạnh ainấy được, trong những năm qua với sự phát triển mạnh mẽ của nghề khai thác

di động, xuất hiện nhiều loại ngư cụ đánh bắt mang tính hủy diệt [8] NghềLừ mới xuất hiện cách đây một số năm nhưng đã phát triển rất mạnh, với sốlượng ngư cụ trên một hộ lớn, mắt lưới nhỏ do vậy tài nguyên đầm phá ngàymột cạn kiệt Có một thực tế nữa là việc quản lý nguồn lợi thủy sản hệ đầmphá Tam Giang - Cầu Hai cho thấy rằng các cơ quan quản lý nhà nước không

Trang 5

có đủ cán bộ, thời gian, kinh phí, nguồn lực đủ mạnh để duy trì trật tự quản lý

vì các hoạt động vi phạm diễn ra khắp nơi, bất kể ngày đêm

Muốn quản lý tốt thì cần khuyến khích sự tham gia kết hợp giữa cộngđồng ngư dân đầm phá với chính quyền địa phương, các ban ngành chức năngkhác Trong các phương thức quản lý thì sự tham gia các bên đặc biệt là cấpxã và cộng đồng thôn là nền tảng để phát huy tính tự chủ và kiểm soát nguồntài nguyên đầm phá Chi hội nghề đánh cá Giang Xuân là chi hội mới thànhlập nhưng đã tập hợp được lực lượng đông đảo hội viên tham gia, sẽ là cơ sở

để trao quyền khai thác thủy sản

Một số căn cứ quản lý tài nguyên đầm phá tại địa phương như: Căn cứquyết định 3677/QĐ-UB ngày 25 tháng 10 năm 2004 của UBND tỉnh về việcquy hoạch tổng thể về quản lý khai thác thủy sản đến năm 2010; căn cứ quyếtđịnh số 4260/QĐ-UBND ngày 19/12/2005 về việc ban hành quy chế quản lýkhai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên Huế; căn cứ hướng dẫn số 159/HD-STS ngày 26/4/2006 hướng dẫn thực hiện quy chế quản lý khai thác thủy sảnđầm phá Thừa Thiên Huế; căn cứ kế hoạch số 142/KH - UBND huyện triểnkhai sắp xếp và chuyển đổi nghề ở đầm Cầu Hai - Phú Lộc ngày 9/9/2008 [8]

Để tăng hiệu quả việc quản lý nguồn tài nguyên địa phương đã tiếnhành phân vùng diện tích và số lượng nghề, đó là các tiểu vùng khai thác cốđịnh và di động và các tiểu vùng giao thông, thủy đạo Kế thừa việc sắp xếp

nò sáo và những quy định của UBND xã Vinh Giang, mặt nước cho khai thác

cố định được hình thành 6 tiểu vùng (theo 6 dãy nò sáo) từ dãy 1 đến dãy 6hiện nay có 91 nò sáo và tổng diện tích khoảng 544 ha [8] Trong tổng diệntích của dãy sáo được chia ra 2 phần: phần diện tích mà các chủ hộ đượcquyền bảo vệ theo tam giác của mỗi nò sáo, tổng diện tích phần này là 324 ha,lệch sáo là phần diện tích cho tiếp cận mở, các chủ hộ khai thác di động đượcphép vào đánh bắt trên diện tích này (220 ha) Số nò sáo theo quy hoạch ổnđịnh lâu dài theo kế hoạch số 142/KH - UBND huyện Phú Lộc ngày 9/9/2008đối với Vinh Giang trong tương lai sẽ giảm xuống còn 56 trộ [8]

Mặt nước cho khai thác di động bao gồm: các đường thủy đạo trongvùng, luồng lạch, trong các lệch sáo, vùng đệm khai thác mở, vùng bãi giống

Trang 6

bãi đẽ ngoài thời gian cấm Tổng diện tích mặt nước cho khai thác di độngkhoảng 604 ha Chủ hộ tham gia khai thác di động thuộc cư dân Vinh Giang

là 122 hộ trong đó có 56 hộ nghề nò sáo và 66 hộ chuyên di động Để giảmsức ép lên vùng đầm phá số hộ khai thác di động trong xã sẽ không tăng thêm

Số hộ ngoài xã tham gia khai thác trên địa bàn Vinh Giang có khoảng 30 - 40hộ, những hộ này muốn khai thác trên địa bàn Vinh Giang phải đăng ký nghề

và thực hiện nghiêm túc quy định của chi hội Giang Xuân

Như vậy tổng số hộ cả trong và ngoài xã sẽ luôn duy trì khoảng 150hộ Trung bình có khoảng 4 ha/hộ cho đánh bắt di động Về góc độ quản lý thì

có hai loại đường giao thông thủy: Một đường từ Vinh Giang chạy qua đầmphá nối với mặt nước của thị trấn Phú Lộc và một đường từ vùng mặt nước thịtrấn Phú Lộc chạy qua mặt nước Vinh Giang và sang vùng mặt nước vùngVinh Hưng Trên hai đường này không được phép khai thác

2.2.3 Mối quan hệ giữa tiếp cận tài nguyên với giàu nghèo

Theo TS Trần Đức Viên và cộng sự, phát triển kinh tế trong những nămqua đã làm tăng khoảng cách về mức sống giữa dân cư vùng đồng bằng vàdân vùng cao, và giữa các thành viên trong một cộng đồng Những cư dân cónguồn tài nguyên nghèo đang phải đối mặt với điều kiện ngày một khó khănhơn trong việc kiếm đủ lương thực cho gia đình [18]

Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương doASCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993, đã đưa ra định nghĩachung về đói nghèo và Việt Nam thừa nhận định nghĩa này: "Nghèo là thựctrang một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bảncủa con người mà nhưng nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độphát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương" [16]

Một trong những nguyên nhân dẫn tới đói nghèo đó là trữ lượng và việckhai thác cũng như sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn Đa số ngườinghèo sinh sống ở những vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện

tự nhiên khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa

Trang 7

Theo TS Trần Thanh Lâm: Nguồn lực và nghèo nàn có mối quan hệ vớinhau: Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào luẩn quẩn củanghèo đói và thiếu nguồn lực Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạngkhông có đất đai đang có chiều hướng tăng lên Thiếu đất đai ảnh hưởng tớiviệc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạnghoá sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn [16] Hiện nay, công tác xóa đói giảm nghèo và rút ngắn khoảng cách giàunghèo đang được quan tâm Theo Lê Tây Sơn: Có thể tăng tốc độ thực hiệnxóa đói giảm nghèo bằng những nỗ lực to lớn hơn nữa nhằm giảm mức độcách biệt của người dân, tăng phạm vi lựa chọn và khả năng tiếp cận với cácnguồn lực hiện có, kiểm soát tốt hơn các rủi ro, đảm bảo môi trường bềnvững Việc mở rộng sự lựa chọn trong lĩnh vực phát triển con người là mộtchiến lược quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Con đường ngắnnhất để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở nông thôn là tạo ra một môitrường thuận lợi hơn để nông dân có thể sử dụng hiệu quả hơn những nguồnlực sẵn có, tăng khả năng tiếp cận với nguồn lực mới và được hưởng thụ mộtcách hợp lý và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản [17]

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình trạng sử dụng tài nguyên thủy sản trên thế giới

Nuôi trồng thuỷ sản là một ngành sản xuất động thực vật thuỷ sinhtrong điều kiện kiểm soát hoặc bán kiểm soát, hoặc như người ta vẫn thườngnói, NTTS là sản xuất nông nghiệp trong môi trường nước [9]

Trước đây, khi con người sử dụng thuỷ sản, người ta thường nghĩ đếncác sản phẩm khai thác từ biển hoặc các sông hồ Nghề nuôi cá ở các ao hồcũng có từ lâu nhưng chiếm vị trí quá nhỏ bé so với nghề đánh cá Nhưngtrong thời gian từ vài thập kỷ trở lại đây, NTTS liên tục tăng mức đóng gópvào sản lượng thuỷ sản trên thế giới, từ chỗ chỉ chiếm 7,3% sản lượng trongnăm 1970, đến năm 2001 đã lên tới 33,92% (Trong tổng số 142,1 triệu tấnthuỷ sản thế giới sản xuất được trong năm 2001, NTTS đạt 48,42 triệu tấn,KTTS đạt 93,65 triệu tấn) [9]

Trang 8

Mục tiêu của NTTS là sản xuất ra thực phẩm cho con người NTTSđang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế thế giới,đặc biệt ở các nước nghèo, nơi mà nông nghiệp đóng vai trò chính trong nềnkinh tế quốc dân Sản lượng NTTS của các nước đang phát triển chiếm tới91,2%, cụ thể là trong năm 2001, các nước nghèo đã sản xuất tới 40.515.504

tấn [9] Thành tựu trong NTTS đã góp phần đáng kể trong việc tăng thu nhập

cho dân cư ở những nước nghèo

Kể từ hơn 2 thập kỷ qua, Việt Nam cũng từng bước tham gia vào phongtrào phát triển NTTS của thế giới và đã đạt được nhiều kết quả khả quan.Năm 2003, sản lượng NTTS đạt 1.110.138 tấn [9]

Tuy nhiên, đứng về góc độ quản lý, ngành NTTS thế giới nói chung vàcủa Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề Nếu những ngườiNTTS không có được những giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhấtthì không thể phát triển NTTS bền vững được Ngoài các vấn đề về kỹ thuậtnuôi và sản xuất giống để có thể nâng cao năng suất và chất lượng thuỷ sảnnuôi, đa dạng hoá đối tượng nuôi, loại hình nuôi, phát triển công nghệ sinhhọc trong NTTS, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trị bệnh,phương pháp bảo quản sau thu hoạch,v.v vốn là các vấn đề mà nghề nuôitruyền thống yêu cầu còn rất nhiều vấn đề mà bất cứ một nhà quản lý, nghiêncứu về NTTS nào cũng phải nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng củachúng Ðó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng do ảnh hưởng của cáchoạt động nuôi; tình trạng nhiễm hoá chất và kháng sinh trong thuỷ sản nuôilàm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu thụ; tình trạng lan truyền mầmbệnh ở các vùng nuôi do hoạt động di giống, nhập giống thủy sản trên toàncầu và tình trạng cấp thoát nước bừa bãi; sự phát triển vùng nuôi thiếu quyhoạch và đầu tư lâu dài đã trở thành một nguy cơ trước mắt đối với nhiềunước phát triển NTTS quá nhanh; và trên hết là sự cạnh tranh khốc liệt trênthương trường đòi hỏi các nước sản xuất phải liên tục tăng chất lượng và hạgiá thành sản phẩm trong khi vẫn giữ được sự phát triển bền vững, đồng thờilại phải hết sức nhanh nhạy trong công tác xúc tiến thương mại để chiếm lĩnhthị trường Chính vì vậy, việc có được những đánh giá toàn diện về bất cứhoạt động NTTS nào đều hết sức cần thiết

Trang 9

Thực tiễn nghề KTTS thế giới trong vài thập kỷ cuối cùng của thế kỷtrước hoàn toàn bác bỏ quan niệm từ lâu vẫn cho rằng nguồn lợi thuỷ sản là

vô tận và đại dương rất hào phóng [9] Việc khai thác bừa bãi, quá mức, mangtính huỷ diệt và không quản lý được đang diễn ra thường xuyên trên khắp cácvùng biển thế giới được coi là nguy cơ lớn nhất Ðể thỏa mãn nhu cầu ngàycàng cao của thị trường, để chạy theo lợi nhuận, người ta bất chấp tất cả, tiếnhành khai thác ào ạt và chỉ nhằm vào một số đối tượng có giá trị cao, nhanhchóng làm cạn kiệt trữ lượng của chúng Sản lượng khai thác tăng nhanh vàlớn quá mức, vượt xa khả năng tự tái tạo nguồn lợi của thuỷ sản bất chấp cáckhuyến cáo khoa học, bất chấp luật pháp của quốc gia và quốc tế được coi lànguyên nhân quan trọng nhất làm suy giảm nhanh nguồn lợi nhiều loài thuỷsản quý

Ngoài ra, việc các vùng nước bị thu hẹp, bị xuống cấp do sử dụng khôngđúng, nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng đang diễn ra ở nhiều nơi, việc quản

lý nguồn lợi, quản lý nghề khai thác bị xem nhẹ hay buông lỏng cũng đều lànguyên nhân quan trọng đưa đến sự cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản

2.2.2 Tình trạng sử dụng tài nguyên thủy sản ở Việt Nam

Là một quốc gia với hơn 3.260 km đường bờ biển, khoảng 3.000 đảo lớn

và nhỏ, với hơn 100 cửa sông và khoảng 1 triệu km2 EEZ, Việt Nam được xemnhư là quốc gia giàu có về sự đa dạng sinh học và nguồn tài nguyên thủy sản [12]

Theo đánh giá tình hình kinh tế xã hội của UNDP (2007) thì một phầnrất lớn (gần 1/3 tổng số dân cư miền trung Việt Nam) tập trung ở các vùngven biển, thủy vực ven miền trung Và đại bộ phận dân cư ở đây sống phụthuộc tài nguyên này [3]

Sản phẩm thủy sản có tầm quan trọng rất lớn, là nguồn cung cấp thựcphẩm, nguồn thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, an ninh lương thực Họatđộng NT và KTTS đã rất phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.Theo hội nghị IIFET- 2008, Việt Nam là một trong 10 nước dẫn đầu về sảnlượng thủy sản và một trong 5 nước xuất khẩu thủy sản cao nhất Sản lượngtừ 600.000 tấn (1980) đã tăng đến 4.200.000 tấn (2007); giá trị XK: 11,2 triệuUSD (1980) đã tăng đến 3.750 triệu USD (2007) [12]

Trang 10

Ngoài ra, đã có sự thay đổi về chiến lược và chính sách phát triển mộtcách linh hoạt chẳng hạn như: từ việc chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sangnền kinh tế thị trường, ở phương diện đầu tư và hình thức chủ sở hữu của cácđơn vị sản xuất Trong lĩnh vực thủy sản thì hoạt động nghề cá đã có sự pháttriển đáng kể Nghề cá Việt Nam đã phát triển nhanh chóng từ năm 1980 Vớinhững thành tựu đã đạt được, ngành thủy sản Việt Nam đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển chung của kinh tế nước nhà Vào năm 2004, ViệtNam là nước có sản lượng khai thác và NTTS lớn thứ 10 thế giới, đạt tổngsản lượng 3,1 triệu tấn, tăng vượt bậc so với mức nửa triệu tấn hồi năm 1975

là thời điểm kết thúc chiến tranh [10] Lĩnh vực khai thác đóng góp 1,7 triệutấn và vẫn đang tiếp tục tăng Tỷ lệ tăng trưởng trong lĩnh vực NTTS của ViệtNam đặc biệt cao, đưa Việt Nam trở thành quốc gia NTTS lớn nhất ĐôngNam Á và lớn thứ ba trên thế giới vào năm 2004 (chỉ đứng sau Ấn Độ vàTrung Quốc), đạt 1,1 triệu tấn [10] Ngành NTTS Việt Nam được coi là tiếnbộ nhanh nhất, bất chấp sự khởi đầu muộn và hiện chiếm khoảng 1/3 tổng sảnlượng thủy sản của cả nước Năm 2001, Việt Nam đứng hàng thứ 10 thế giới

về xuất khẩu hải sản với kim ngạch 1,8 tỷ USD [10]

Năm 2004 - 2005, Việt Nam là nhà xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ ba tại thịtrường Australia (sau Thái Lan và New Zealand) với sản lượng khoảng18.000 tấn, đạt kim ngạch 122 triệu đôla Australia (AUD) Các mặt hàng thủysản chính của Việt Nam xuất sang Australia là tôm (khoảng 70 triệu AUD) vàphilê cá đông lạnh (35 triệu AUD) Ngược lại, Australia xuất sang Việt Namkhoảng 1.000 tấn thủy sản với kim ngạch khoảng 10 triệu AUD [10] Điềuđáng quan tâm là kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Australialiên tục tăng trong những năm gần đây, ngược lại với những nước khác là giữnguyên mức xuất khẩu hoặc giảm dần (ngoại trừ Trung Quốc) Ngành thuỷsản phục vụ cho cuộc sống của khoảng 3 triệu ngư dân trong tổng số dân sốhơn 80 triệu dân của Việt Nam [10]

Tuy nhiên, sự phát triển của nghề cá cũng đặt ra rất nhiều vấn đề vànhững thách thức cho xã hội và cho môi trường, mà điều này phải được giảiquyết Như mâu thuẫn về đất nhiễm mặn, về nước tưới tiêu cho nông nghiệp,

sự thoái hóa của môi trường và ô nhiễm Rất nhiều khu vực đã xuống cấp

Trang 11

nghiêm trọng và những nơi khác đang bị đe dọa Quản lý nghề cá theo tiếpcận hệ sinh thái còn bị hạn chế Khai thác quá mức ở khu vực ven bờ Nạnnghèo và khó khăn sinh kế vẫn chưa được giải quyết triệt để… Hàng triệungười Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn hay một phần về thức ăn, sinh kế vànghề nghiệp dựa trên nguồn tài nguyên biển của quốc gia, ngư dân luôn tìmkiếm thu nhập trong ngắn hạn, và không thể suy nghĩ đến việc phát triển bềnvững nghề cá trong dài hạn Nhiều loài thủy sản ở Việt Nam đã có sự sụtgiảm đáng kể trong khai thác và kích cỡ cá Điều này ảnh hưởng đến hàngtriệu người Việt Nam - những ai sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển,vấn đề được bàn ở đây là không chỉ phải phát triển những tập quán quản lýnghề cá bền vững mà còn hiểu được mối liên kết giữa tính dễ bị gây hại củathủy sản và các nhân tố về kinh tế xã hội khác, để có thể loại bỏ được nhữngtrở ngại và thúc đẩy các cơ hội cho sự bền vững và xóa nghèo

Nạn nghèo là kết quả của sự kết hợp những hoàn cảnh mà bị giới hạn

về cơ hội sinh kế Do vậy, những nỗ lực xóa nghèo phải nhìn nhận đượcnhững hoàn cảnh nào có thể dẫn đến sự nguy hại cho người nghèo, chẳng hạnnhư thiếu cách tiếp cận đến kiểm soát nguồn tài nguyên, và an ninh lươngthực Bởi vì tính dễ bị gây hại trong lĩnh vực thủy sản là do bởi sự kết hợpgiữa các hoàn cảnh với nhau, việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên biển sẽkhông đủ để xóa nghèo Sự phân phối lại các cách tiếp cận với nguồn tàinguyên thủy sản, hoặc tới các lợi ích có được từ thủy sản sẽ là thiết yếu đốivới việc xóa nghèo

Dự án tổng quan kinh tế xã hội đã nghiên cứu những trở ngại và cơ hộiđối mặt với cách thức phát triển bền vững ngành thủy sản mà sẽ hỗ trợ xóanghèo tại Việt Nam Phân tích chỉ ra: “ Những nguy cơ tồn tại đối với nghề cá

và sinh kế nghề cá” Những trở ngại đến việc thi hành hệ thống thích hợp vàbền vững để thúc đẩy việc xóa nghèo” và “Những cơ hội và những mô hìnhtối ưu cho nghề cá thích hợp với xu hướng bền vững trong các chiến lượcphát triển.” [12]

Trang 12

2.2.3 Một số nghiên cứu về tài nguyên thủy sản

Vinh Giang là xã đầu tiên trong huyện Phú Lộc tiến hành hoạt động

trao quyền tiếp cận và sử dụng tài nguyên đầm phá Tiếp cận và trao quyền làvấn đề mới nhưng trong thời gian qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn

đề này Đó là các nghiên cứu cụ thể về thực hành quyền tài sản trong hoạtđộng nò sáo của tác giả Trần Quang Sáu và Lê Thị Hồng Phương [5], thựchành quyền tài sản trong hoạt động nghề lừ của tác giả Võ Ngọc Vũ và Hồ LêPhi Khanh [4] Đặc điểm chung của các nghiên cứu này là tìm hiểu sự hìnhthành các cơ chế quyền và thực hành quyền tài sản đối với tài nguyên đầmphá trong từng hoạt động khai thác riêng lẽ Và những nghiên cứu này thiên

về tính pháp lý và các quy định nên chưa thấy được vai trò của cơ chế đó vớiđời sống người dân Do đó cần có nghiên cứu tổng thể về cơ chế tiếp cận tàinguyên của các nhóm hộ để thấy được vai trò của các cơ chế đối với đời sốngcủa người dân thông qua sự phân hóa giàu nghèo của các nông hộ

Phân hóa giàu nghèo và nghèo đói là vấn đề đang được quan tâm giải quyếthiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng ven biển Nhiềuchương trình dự án cùng chung mục đích là phát triển kinh tế cho các nông hộsống dựa vào tài nguyên đầm phá Tiêu biểu là chiến lược SAPA (chiến lược xóađói nghèo thông qua NTTS) của bộ thủy sản nhằm phát triển NTTS bền vữnggóp phần xóa đói giảm nghèo [1] Tuy nhiên chiến lược chưa giải quyết đượcvấn đề phân hóa giàu nghèo trong tiếp cận tài nguyên, chưa xem xét đến mức độtiếp cận tài nguyên của từng nông hộ do đó kết quả mang lại chưa toàn diện

Ngoài ra, các nghiên cứu về quyền tài sản cũng thu hút sự quan tâm củanhiều tác giả trong và ngoài nước Các quyền tài sản (property rights) đối vớitài nguyên (Ostrom, 1994 and Pomeroy, 1994) và khung phân tích do Barry

và Meizen-Dick (2008) đề xuất đã được áp dụng Các quyền cụ thể được xemxét và phân tích là: quyền tiếp cận (access), quyền khai thác/thu hoạch(withdrawal), và quyền chuyển nhượng, trao đổi (alienation) [6] Việc thựchiện các quyền tài sản đối với tài nguyên không tách rời nhau mà có liên hệchặt chẽ, ví dụ thực hiện tiếp cận gắn liền với thu hoạch theo các quy chếquản lý nhất định

Trang 13

Cơ chế quyền tài sản (property rights regimes) đối với tài nguyên có thểcoi là sự dàn xếp giữa các bên liên quan, các thể chế và cơ chế về xã hội đểbảo vệ, duy trì và sử dụng hợp lý một loại tài nguyên thiên nhiên [6] Ở ViệtNam, nhà nước sở hữu toàn bộ tài nguyên thiên nhiên và trao các quyền cụthể cho các đối tác khác để thiết lập cơ chế quyền tương ứng theo thời hạntrao quyền Một số cơ chế quyền cụ thể: Cơ chế quyền tài nguyên tiếp cận mở

- là các loại tài nguyên mà cơ chế quyền tài sản đối với tài nguyên chưa đượcthiết lập một cách rõ ràng; Cơ chế quyền tài nguyên công cộng – là cơ chếquyền tài sản toàn dân đối do cơ quan nhà nước làm chủ thể; Cơ chế quyền tàinguyên cộng đồng/tập thể đối với tài nguyên được thiết lập một cách chínhthức hoặc theo tập tục, và Cơ chế quyền tài nguyên cá nhân – cơ chế quyền tàisản cá thể đối với tài nguyên được thiết lập

Các cơ chế quyền tài sản có các chủ thể quyền tương ứng Cơ quan nhànước là chủ thể quyền tài sản đối với tài nguyên công cộng Các tổ chức tậpthể đại diện cho một bộ phận các hộ sử dụng nguồn lợi là chủ thể quyền tàisản tập thể đối với tài nguyên cộng đồng Các cá nhân hộ là chủ thể quyền tàisản cá thể đối với tài nguyên cá nhân Ở hệ đầm phá Tam Giang, cơ chếquyền trong các hoạt động khai thác thủy sản rất đa dạng và phức tạp Thực tếcho thấy rằng các cơ chế quyền tài sản khác nhau đã được thiết lập trong cáchoạt động cụ thể (nò sáo, đáy, giao thông thủy…) với đặc điểm chung là dựavào tập tục và truyền thống Cùng với các tác động quản lý của nhà nước, một

số cơ chế quyền tài sản đã được cung cấp cơ sở pháp lý nhất định, nhưng mứcđộ rất khác nhau

Trang 14

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ và hoạt động tiếp cận tài nguyênđầm phá Tam Giang – Cầu Hai xã Vinh Giang - huyện Phú Lộc - tỉnh ThừaThiên Huế

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Vùng nghiên cứu: xã Vinh Giang - một xã ven biển của huyện PhúLộc - tỉnh Thừa Thiên Huế

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 06/01/2009 - 09/05/2009

Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng tiếp cận tài nguyên của người dân vàảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn tài nguyên đến thu nhập và phân hóa giàunghèo của họ Đề tài không nghiên cứu về các văn bản pháp luật và tính pháp

lý của các quyền tiếp cận tài nguyên

3.2 Nội dung nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài với các nội dung :

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã

- Đặc điểm cộng đồng tiếp cận tài nguyên đầm phá và các hoạt độngtạo thu nhập của cộng đồng

- Thay đổi cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ theo thời gian

- Quá trình tích tụ tài nguyên và cơ chế tác động

- Tác động của tiếp cận tài nguyên đến phân hóa giàu nghèo

Trang 15

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Chọn điểm, chọn mẫu

3.3.1.1 Chọn điểm

Vinh Giang là một xã nông nghiệp ven biển có diện tích mặt nước rộnglớn và nguồn tài nguyên đầm phá khá đa dạng Đề tài được tiến hành nghiêncứu trên toàn xã Vinh Giang, trong đó hoạt động KT và NTTS được tiến hànhchủ yếu ở thôn Nghi Xuân, thôn làm ngư nghiệp là chủ yếu

3.3.1.2 Phương pháp chọn mẫu

- Tiêu chí chọn mẫu : các nông hộ đang sinh sống và tiến hành các hoạtđộng tiếp cận tài nguyên đầm phá trên địa bàn xã Vinh Giang

- Dung lượng mẫu điều tra

Phân loại nhóm nông hộ điều tra thành 5 nhóm chính gồm hộ chuyênnông, hộ nông nghiệp và NTTS, hộ chuyên NTTS, hộ chuyên KTDĐ và hộvừa nuôi trồng vừa KTTS Chọn 30 hộ đại diện từ danh sách phân loại nhómhộ theo nghề nghiệp Dung lượng mẫu trong mỗi nhóm là bằng nhau và mangtính đại diện cho nhóm đó - Cách thức chọn mẫu

Xin danh sách các nhóm hộ cần điều tra thông qua tiếp cận với các cánbộ thôn, xã bao gồm cán bộ Nông - Ngư, chủ tịch hợp tác xã Nông – Ngư, hộitrưởng chi hội nghề cá Từ danh sách đã có lựa chọn số mẫu tương ứng chotừng nhóm hộ Vì đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếp cận tài nguyên đếnphân hóa giàu nghèo nên phải nghiên cứu trong thời gian dài và qua các giaiđoạn khác nhau Do đó những hộ được phỏng vấn phải là những người cókinh nghiệm sản xuất và có thể đại diện cho nhóm mình

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.3.2.1 Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu thứ cấp

Tập hợp và tham khảo các sách báo, báo cáo khoa học, tài liệu nghiêncứu, tạp chí, thông tin trên mạng internet liên quan đến đề tài để có nhữnghiểu biết cần thiết về vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụngtrong phần tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trang 16

- Thu thập dữ liệu thứ cấp tại xã bao gồm các báo cáo, các tài liệu lưutrữ, số liệu thống kê về tình hình sử dụng tài nguyên đất và mặt nước, hiệuquả các hoạt động sản xuất, tình hình kinh tế xã hội của xã Vinh Giang 2009.

- Các báo cáo tổng kết sản xuất nông - ngư của hợp tác xã Vinh Giangqua các năm 2007, 2008, 2009

- Các văn bản về chủ trương, chính sách của chính quyền các cấp liênquan đến nội dung nghiên cứu

3.3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu sơ cấp

Tình hình phát triển các hoạt động KT và NTTS của địa phương Quá trình hình thành và phát triển quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá.+ Thảo luận nhóm người dân để thu thập thông tin chung của cộngđồng ngư nghiệp và làm cơ sở để kiểm tra chéo thông tin phỏng vấn hộ Baogồm thảo luận nhóm KTDĐ, thảo luận nhóm KTCĐ, thảo luận nhóm NTTS

+ Thảo luận nhóm người dân có sự tham gia của người am hiểu (phânhội trưởng phân hội KTDĐ, KTCĐ, NTTS) và cán bộ xã nhằm tổng kết vàkiểm tra kết quả các cuộc thảo luận nhóm nhỏ và thu thập thông tin cấp xã

Trang 17

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Vinh Giang

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý, nguồn lợi tự nhiên

Vinh Giang là xã nằm ven bờ đầm phá Cầu Hai phía Đông Bắc giápxã Vinh Hải, phía Đông Nam giáp xã Vinh Hiền, Tây Bắc giáp xã VinhHưng, phía Tây Nam được bao bọc bởi hệ thống đầm phá Cầu Hai với1.044 ha Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng vàđánh bắt tài nguyên thuỷ sản đầm phá

Vùng đầm phá thuộc xã Vinh Giang là nơi hội tụ của hai dòng nước từhai cửa biển Thuận An và Tư Hiền Sự trao đổi nước giữa đầm phá và biểnxảy ra qua các cửa biển này Hai dòng nước đan vào nhau tạo thành vùngnước xoáy Chịu tác động của hai nguồn nước nên đây là vùng đa dạng vềnguồn lợi thuỷ sản tự nhiên Tuy nhiên vùng gặp phải sự bất lợi là nguồnnước từ cửa Tư Hiền bị chặn bởi núi Tuý Vân và nguồn nước từ cửa Thuận

An bị chặn bởi cồn Cửa Cạn nên khi hai dòng nước gặp nhau tạo thành vùngnước động, lưu lượng triều cường của vùng mặt nước Vinh Giang dao độngkhông đáng kể, làm cho tốc độ dòng chảy yếu Do đó nguồn nước của vùngnuôi tôm ô nhiễm lớn vì không được thay đổi thường xuyên

- Đặc điểm về khí hậu

Điểm đặc trưng của khí hậu vùng này là mùa mưa thường diễn ra vàothời điểm cuối năm (từ tháng 9 đến 12) với tổng lượng mưa là 2.000 mm(72.8%) Lượng mưa cao tập trung vào tháng 10 và 11 với đỉnh điểm là vàotháng 10 (740mm, 26,96%), lượng mưa trong các tháng còn lại không đáng

kể Vậy nên hằng năm vào mùa đông thường xuyên xảy ra lũ lụt còn vào mùa

hè, thường thiếu nước vì lượng mưa thấp, gây nhiều trở ngại cho các hoạtđộng sản xuất nông nghiệp ở địa phương (đa số diện tích đất nông nghiệp chỉgieo trồng được một vụ)

Trang 18

- Đặc điểm địa hình, đất đai

Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành các hoạt độngnông nghiệp Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy

mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi Đất đai ở VinhGiang chủ yếu là đất cát nên độ màu mỡ thấp, một số vùng đất bị nhiễm mặn.Điều này đã gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của địa phương

Bảng 1 : Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước xã Vinh Giang.

(ha)

Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 1877,00 100

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 205,96 10,97

1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 210,00 11,19

1.4 Mặt nước khai thác thuỷ sản 1044,00 55,62

2.3 Đất phi nông nghiệp khác 49,62 2.64

(Nguồn: Tổng hợp số liệu thứ cấp các báo cáo)

Toàn xã có 1.877 ha đất tự nhiên được phân thành 3 loại chính: đấtnông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng trong đó đất nôngnghiệp có diện tích lớn nhất 1488,02 ha (chiếm 79,28%) Trong cơ cấu này,diện tích mặt nước chiếm tới 55,62%, là điều kiện thích hợp cho việc pháttriển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản Tuy vậy diện tích NTTS chiếm tỷ lệ

Trang 19

không cao (11,19%) và có xu hướng ngày càng giảm do hoạt động nuôi tôm íthiệu quả nên hàng năm đều có diện tích hồ tôm bị bỏ hoang.

Diện tích đất nông nghiệp có thể tiến hành các hoạt động canh táctương đối ít, chỉ có 205,96 ha (chiếm 10,97%) Mặt khác, do đất đai cằn cổi,nguồn nước không đảm bảo nên diện tích này cho năng suất rất thấp (trungbình hiện nay đạt 46 tạ/ha) Đất lâm nghiệp chiếm một tỷ lệ thấp nhất trong

cơ cấu các loại đất nông nghiệp (chỉ 1.49%)

Trong cơ cấu đất phi nông nghiệp, đất thổ cư chiếm diện tích lớn (96,3ha) Đất chuyên dùng khá rộng lớn (60,8 ha) Diện tích này được sử dụng vàoviệc xây dựng các trụ sở cơ quan, xây dựng các công trình xã hội như chợ,bệnh viện, trường học, làm đường giao thông Ở địa phương vẫn còn một tỷ

lệ diện tích đất chưa sử dụng khá lớn (9,71%) Diện tích này bao gồm đất đểxây dựng mồ mã và đất sản xuất bị bỏ hoang

4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Vinh Giang có 4 thôn: Nghi Xuân, Nghi Giang, Nam Trường và ĐơnChế trong đó chỉ có thôn Nghi Xuân là sống chuyên bằng nghề khai thác vànuôi trồng thủy sản, các thôn khác có liên quan nhưng số lượng không lớn

Bảng 2: Phân bố dân cư theo thôn của xã Vinh Giang.

Trang 20

Toàn xã có 1.173 hộ với 4.877 nhân khẩu Lực lượng lao động của xãkhá dồi dào, số người trong độ tuổi lao động là 2.843 người (chiếm 58,3%tổng số khẩu) Lực lượng lao động này chủ yếu tập trung vào hai ngành chính

là sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, số còn lại đi làm ăn xa (chủ yếu là vàothành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng)

Mặc dù có thế mạnh về tài nguyên thủy sản nhưng xét toàn xã thì hoạtđộng nông nghiệp vẫn thu hút số lượng lao động đông nhất là 855 hộ (chiếm72,9% tổng số hộ) Trong đó 100% số dân thôn Nghi Giang tham gia sản xuấtnông nghiệp Nghi Xuân là thôn trung tâm khai thác và nuôi trồng thủy sảncủa xã, chỉ có 3,1% tổng số hộ toàn thôn không tham gia vào hoạt động này

Vinh Giang được đánh giá là xã có tình hình phát triển kinh tế xã hộicao, đời sống của người dân được ổn định Tỷ lệ hộ nghèo của xã thấp(11,8%), và đa số những hộ nghèo này thuộc diện già cả neo đơn

4.2 Thực trạng tiếp cận tài nguyên của các nhóm hộ khảo sát

Bảng 3: Thực trạng tiếp cận tài nguyên của các nhóm hộ

Trang 21

Qua điều tra thấy được hoạt động tiếp cận tài nguyên của người dân địaphương rất phong phú đa dạng, do mức độ tiếp cận tài nguyên nhiều ít khácnhau mà dẫn đến sự phân hóa theo nghề nghiệp

Trong 30 hộ khảo sát thì có 6 hộ chuyên nông, 6 hộ chuyên NTTS, 6 hộvừa làm Nông nghiệp vừa NTTS, 6 hộ vừa NTTS vừa làm nò sáo kết hợp vớilưới hoặc lừ, 1 hộ chuyên lưới, 2 hộ chuyên lừ và 3 hộ lưới kết hợp với lừ

Có thể thấy rằng diện tích tài nguyên mỗi nhóm hộ được tiếp cận làkhông bằng nhau Nhóm hộ vừa NTTS vừa làm nò sáo kết hợp với lưới và lừđược tiếp cận với tài nguyên đầm phá nhiều nhất là 15 ha, trong đó có 1 haNTTS, 6 ha nò sáo, 4 ha khai thác lưới và 4 ha khai thác lừ Nhóm hộ đượctiếp cận với nhiều tài nguyên tiếp theo là NTTS + Nò sáo + Lưới/Lừ (11 ha),nhóm hộ lưới + lừ (8 ha) và nhóm chuyên Lưới/Lừ (4 ha) Các hộ trong nhómchuyên nông không được tiếp cận tài nguyên đầm phá mà diện tích đất nôngnghiệp mỗi hộ được tiếp cận cũng rất ít (0,3 ha) Càng có nhiều hoạt động thì

cơ hội tiếp cận với tài nguyên càng lớn

Cơ hôi tiếp cận diện tích KTTS của các hộ là ngang nhau (4 ha/hộKTDĐ và 6 ha/hộ KTCĐ) nhưng diện tích NTTS của các nhóm hộ có nhiềuchênh lệch Bình quân diện tích hồ nuôi của các hộ chuyên NTTS lớn nhất là2,3 ha, tiếp đến là nhóm hộ Nông nghiệp + NTTS (2,2 ha) và nhóm hộ NTTS+ KTTS là 1 ha

Kết quả phân tích bảng số liệu cho thấy tại cộng đồng có sự phân hóa cácnhóm hộ theo nghề nghiệp Giữa các nhóm hộ có sự chênh lệch về diện tíchtài nguyên được tiếp cận và đó là cơ sở dẫn đến sự chênh lệch trong hiệu quả

do sự tiếp cận này mang lại

4.3 Đặc điểm tiếp cận tài nguyên và hoạt động tạo thu nhập của cộng đồng xã Vinh Giang

4.3.1 Tiếp cận tài nguyên và hoạt động sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là sinh kế quan trọng nhất trong xã với sự tham gia của

855 hộ, trong đó thôn Nghi Giang có tỷ lệ cao nhất 560 hộ (chiếm 100%tổng số hộ trong thôn) Tuy không có thu nhập cao nhưng ổn định nên

Trang 22

ngành này thu hút được nhiều lực lượng lao động nhất Tỷ lệ hộ tham gianông nghiệp của xã là 70% tổng số hộ Các hoạt động chính là trồng trọt,chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò…

Đất đai là tài sản chính của người nông dân Theo nghị định 64 năm

1994 đất nông nghiệp được chia đều theo nhân khẩu (tính nhân khẩu đến10/10/1994) Xã có 2 hợp tác xã nông nghiệp là Hợp tác xã Giang Đông vàhợp tác xã Giang Tây Đất nông nghiệp được chia cho các thành viên trong

2 hợp tác xã là khác nhau Hợp tác xã Giang Nam có 420 m2/khẩu, hợp tác

xã Giang Đông có 370 m2/khẩu Ngoài ra còn có quỹ đất xã là 5 ha.

Lúa là cây trồng chủ đạo của nghề nông, tuy nhiên do đất đai cằn cỗi,nhiễm mặn và thủy lợi chưa đảm bảo nên hiệu quả sử dụng đất thấp

Bảng 4: Tình hình phát triển nông nghiệp của xã

-1999

2000 2006

2007 2009

Diện tích đất trồng lúa ở đây chủ yếu chỉ canh tác một vụ Đông Xuân,còn vụ Hè Thu phải bỏ hoang vì thiếu nước Không chỉ canh tác được một vụ

mà năng suất còn thấp do đó thu nhập hằng năm từ mỗi sào lúa trong nhữngnăm gần đây chỉ đạt 1.150.000 đồng Theo thời gian, năng suất lúa tăng chậm

Trang 23

nhưng đều đặn qua các gian đoạn Những năm đầu năng suất bình quân đạt

151 kg/sào, sau đó tăng lên 187 kg/sào và hiện nay là 230 kg/sào Cùng với sựgia tăng của năng suất lúa thì giá cả cũng tăng nhưng không đáng kể Trồnglúa được coi là nghề lấy công làm lãi, là nghề chính của các nông hộ nhưngmục đích trồng lúa chủ yếu là đáp ứng nhu cầu lương thực trong nông hộ Khiđược hỏi về vấn đề trao đổi thị trường của sản phẩm lúa gạo nông dân Mai

Chiến trả lời rằng: “Làm chi mà có bán o, làm chỉ đủ ăn thôi Nhiều năm gạo

chỉ đủ ăn có nửa năm còn nửa năm phải mua thêm nữa chứ ”

Trên đất trồng lúa vào vụ hè thu có thể trồng lạc, khoai, dưa hấu.Nhưng đây chỉ là những cây phụ nhằm đáp ứng nhu cầu hằng ngày của giađình (nếu tính ra giá trị thì đạt trung bình 3 - 5 trăm/năm) Tuy nhiên, trên90% số hộ làm nông nghiệp tham gia hoạt động nuôi lợn Nuôi lợn cũngmang lại thu nhập đáng kể cho người dân Số lợn trung bình trong chuồng củamỗi hộ là 2 con, thu nhập 4 - 5 triệu/năm Nuôi lợn không chỉ tạo thu nhậpcho gia đình mà còn cung cấp phân bón để trồng lúa Trâu bò cũng được nuôi

ở nông hộ để cung cấp sức kéo và phân bón

4.3.2 Tiếp cận tài nguyên và hoạt động khai thác thuỷ sản

4.3.2.1 Cơ chế và thực hành KTTS

Quá trình tiếp cận tài nguyên của cộng đồng thay đổi phụ thuộc vào sựthay đổi cơ chế tiếp cận

Trang 24

Bảng 5: Cơ chế tiếp cận tài nguyên qua các giai đoạn khác nhau

Thời gian Tổ chức quản lý Cơ chế quản lý Hình tức tiếp cận

Trước 1975 - Theo các vạn - Chế độ cách

mạng và Ngụy - Đấu thầu

1975 - 1978 - Ban tự quản - Tập thể hóa - Bốc xăm hàng năm

1979 - 1985 - Hợp tác xã - Tập thể hóa - Bốc xăm hàng năm

1985 - 1995 - Tập đoàn ngư

nghiệp - Tập thể hóa - Bốc xăm hàng năm

1995 - 2008 - Thôn quản lý - Cơ chế thị

trường

- Cố định diện tích;chuyển nhượng, muabán tự do

2008 - nay - Chi hội nghề cá - Cơ chế thị

trường

- Cố định diện tích;chuyển nhượng, muabán tự do

(Nguồn: Phỏng vấn người am hiểu, 2010)

Tài nguyên đầm phá là tài sản thuộc quyền sở hữu toàn dân Quyền tiếpcận nguồn tài nguyên này đã được hình thành từ rất lâu đời thể hiện thông quaviệc các nông hộ đã sử dụng rất nhiều ngư cụ như nò sáo, lưới, lừ, chuôm…

và cả tiến hành nuôi trồng các loại thủy sản Qua thời gian các hình thức tiếpcận cũng có nhiều thay đổi

Trước năm 1975, mặt nước tự nhiên được quản lý theo 2 chế độ cáchmạng và Ngụy với người đứng đầu là chủ tịch Thủy Diện Các hộ khai thác tựnhiên được chia làm các vạn theo loại ngư cụ mà họ sử dụng: Vạn lưới mòi sửdụng dạy để bắt những loài tôm cá hay di chuyển lên tầng mặt; Vạn lưới cao(cao 3m, dài 1km) chỉ khai thác bằng nghề lưới; Vạn đuộc đăng gồm nhữnghộ làm sáo Các hộ đăng ký với chủ tịch Thủy Diện hoạt động khai thác mà

họ tham gia Ban quản lý tổ chức đấu giá để giao quyền sử dụng mặt nướccho các chủ KTCĐ Các hộ KTDĐ với quy mô nhỏ nên phát triển tự do và

Trang 25

không đánh thuế Các hộ thắng thầu sẽ nằm trong vạn đuộc đăng, có quyềnđặt các trộ sáo để khai thác và có thể chuyển nhượng cho các thế hệ tiếp theo.Trong thời kỳ này có sự phân hóa trong tiếp cận mặt nước tự nhiên giữa cáchộ KTCĐ và KTDĐ Các hộ KTCĐ có quyền sử dụng vùng mình chiếm giử

và được cộng đồng thừa nhận quyền sở hữu nên không bị xâm phạm về vùngkhai thác Các hộ KTDĐ không có ngư trường cố định nên không được cộngđồng thừa nhận quyền sở hữu

Từ năm 1975 đến năm 1978, việc quản lý tài nguyên mặt nước do tổ tựquản chịu trách nhiệm và ban tự quan thực hiện nhiệm vụ này Đây là nhữngnăm đầu của thời kỳ tập thể hóa Sau cách mạng, trộ sáo của các hộ bị thu hồi.Toàn bộ tài nguyên mặt nước thuộc sở hữu toàn dân Các hộ có điều kiện tiếnhành bốc xăm để sắp xếp lại nò sáo Quyền tiếp cận tài nguyên mặt nước giaiđoạn này là khá công bằng vì những hộ có nhu cầu và có điều kiện kinh tế đểxây dựng nò sáo đều có thể tham gia bốc thăm trộ sáo Tuy nhiên các hộ thamgia khai thác còn hạn chế, có 70 hộ thủy diện tham gia trong đó có 40 hộ vừakhai thác nò sáo vừa kết hợp khai thác lưới bạc Ngư cụ lúc bấy giờ còn thô

sơ, chủ yếu là hệ thống sáo tre và lưới mùng, nhưng khai thác lưới mùng cótính hủy diệt cao nên không được khuyến khích phát triển

Trong gian đoạn này, mỗi trộ sáo do hai đến ba hộ sở hữu và mỗi hộ lại cóthể tham gia khai thác ở hai đến ba trộ sáo Vì để xây dựng một trộ sáo đòihỏi chi phí lớn nên mỗi hộ gia đình không đủ điều kiện để xây dựng riêngtừng trộ Hơn nữa phân chia như vậy để đảm bảo công bằng giữa các hộ vìmức độ thuận lợi giữa các trộ sáo là không giống nhau Các hộ cùng trộ sáo tựthỏa thuận luân phiên giữ sáo giữa các đêm Tùy thuộc vào điều kiện kinh tếtừng hộ mà có thể tham gia vào hai, ba trộ sáo hay chỉ một trộ và có những hộkhông có trộ sáo Là thời kỳ tập thể hóa nhưng tính tập thể chỉ thể hiện rõtrong hoạt động khai thác rong câu Các lao động cùng nhau khai thác rong vàlợi nhuận được chia theo điểm Mỗi lao động sẽ được hưởng 70% giá trị rongcâu họ thu được, còn 30% giá trị được chi trả cho ban quản lý để thực hiệncác hoạt động quản lý chung Còn các hoạt động khai thác tự nhiên khác thì ailàm nấy ăn

Trang 26

Năm 1979, hợp tác xã được thành lập, đây cũng là thời kỳ tập thể hóanên cơ chế quản lý và tiếp cận tài nguyên giống với thời kỳ trước Đến thờiđiểm này toàn xã có 15 đến 20 hộ khai thác lưới mùng Hàng năm việc bốcxăm chia lại nò sáo vẫn diễn ra và gây lãng phí cho mỗi hộ từ 4 – 5 triệu đồng.

Từ năm 1985 đến năm 1995, hoạt động khai thác tự nhiên do tập đoànngư nghiệp Giang Xuân quản lý Đây là thời kỳ tập thể hóa nhưng ban quản

lý chỉ làm dịch vụ thu mua tôm cá và tổ chức hoạt động khai thác rong câu.Còn các hoạt động khai thác tự nhiên là của nông hộ

Năm 1985, bão đã trôi hết sáo tre dẫn đến nhiều hộ thủy diện mất hếtngư cụ để khai thác và mất luôn nơi ở của họ Trước tình hình đó nhà nước đãtiến hành đưa các hộ thủy diện lên bờ định cư và hỗ trợ cơm gạo cho họ trongvòng thời gian từ 6 đến 12 tháng tùy theo mức độ khó khăn của từng hộ Tuyđược nhà nước quan tâm hỗ trợ khắc phục khó khăn đưa được 75 hộ thủy diệnlên bờ nhưng đây chỉ là giải pháp tạm thời Người dân phải đương đầu vớivấn đề mới còn nghiêm trọng hơn là tình trạng thất nghiệp xảy ra triền miên,đời sống của người dân lại khó khăn chồng chất khó khăn Để khắc phục tìnhtrạng này nhà nước cho phép sử dụng lưới mùng và có 50 hộ tham gia, tiếnhành khai thác ven đầm phá

Năm 1994 khi có nghị định 64CP về chia đất Nông nghiệp lâu dài chocác hộ gia đình Tuy không có chủ trương thực thi đối với mặt nước, đất ngậpnước UBND xã Vinh Giang vận dụng theo cơ chế giống với giao đất nôngnghiệp, tránh tình trạng mỗi năm phải nhổ nò sáo lên để di chuyển ra chỗkhác gây lãng phí Các nông hộ đăng kí diện tích nò sáo theo nhu cầu và đượcUBND xã xác nhận

Từ năm 1995 đến 2008, tài nguyên mặt nước chịu sự quản lý của thôntheo cơ chế thị trường Năm 2007, Phòng Nông nghiệp và phát triển nôngthôn của huyện kết hợp với UBND xã và thôn đã sắp xếp lại nò sáo và cácdãy sáo Các hộ không tiến hành bốc xăm chia lại nò sáo mà đồng loạt thuhẹp diện tích, dồn ra ngoài khơi cách bờ 200 m Các trộ sáo có miệng từ 200 -

250 m, chiều dài 350 - 500 m đều thu hẹp diện tích trung bình là rộng 180 m

và dài 350 m Chỉ có một số trộ ngoài khơi có thể tận dụng diện tích mặt nước

Trang 27

kéo dài đến 400 m nhưng chiều rộng thì cố định 180 m Các trộ sáo có diệntích nhỏ hơn diện tích trung bình thì giử nguyên Kết quả của việc sắp xếp làhình thành các hàng các dãy cách đều nhau và hệ thống giao thông thủy đượcnới rộng, lưu thông dễ dàng.

Các trộ sáo đã được cố định cho các hộ về vùng khai thác và quyền sửdụng do đó số lượng, diện tích và vị trí nò sáo ít có thay đổi, chỉ có thay tên đổi

họ thông qua việc chuyển nhượng và mua bán tự do Hiện nay, ai có nhu cầuphát triển nò sáo thì tiến hành mua lại của các hộ, nhà nước không cấp thêmdiện tích Mặc dù việc chuyển nhượng, mua bán diễn ra một cách tự do vàđược cộng đồng thừa nhận nhưng không có sự thống kế nào về hoạt động này

Từ năm 2008 đến nay, hoạt động khai thác tài nuyên đầm phá chịu sựquản lý của chi hội nghề cá theo cơ chế thị trường Chi hội có trách nhiệmđưa ra các quy định về vùng khai thác, thời gian và ngư cụ KTTS và giảiquyết các vấn đề chung còn hoạt động KTTS là của cá nhân mỗi hộ

4.3.2.2 Thực trạng hoạt động nghề KTTS

Hoạt động KTTS trên đầm phá là ngành nghề truyền thống đã truyền từ đờinày sang đời khác, tập trung chủ yếu tại thôn Nghi Xuân (78 hộ làm sáo và 82 hộđánh bắt di động) là nguồn thu chủ yếu của người dân ở đây Thôn Nghi Xuântrước đây chỉ bao gồm một nhóm hộ sống tự do trên mặt nước và đến năm 1985mới được đưa lên bờ định cư Hoạt động KTTS bao gồm KTCĐ và KTDĐ

* Hoạt động KTDĐ

Các hộ KTDĐ được đánh bắt ở vùng khai thác mở, vùng thủy đạo và lệchsáo Trong đó vùng khai thác mở là địa bàn hoạt động chính của nhóm hộKTDĐ Ngoài ra họ còn được khai thác ở vùng thủy đạo và vùng nò sáo nhưngphải đặt lừ cách cánh sáo và miệng sáo 20 m, lưới có thể bủa vào 1/2 miệng sáo,vùng rong câu (tháng 9 -12 âm lịch), bãi giống, bãi đẻ (tháng 4 - 1 âm lịch)

Mặc dù các thành viên trong xã chấp hành tốt quy định vùng khai thácnhưng ngư dân các xã Vinh Hưng, Vinh Hiền đều có thể vào khai thác vùngVinh Giang mà chưa kiểm soát được Về mặt bằng chung thì đã có khoanh

Trang 28

vùng KTDĐ tuy nhiên mặt nước KTDĐ vẫn là tự do giữa các hộ nên xảy rahiện tượng các ngư cụ phân bố không đều và đặt chồng chéo lên nhau.

Hiện nay, nghề KTDĐ chủ yếu là lưới bạc và lừ Lừ hay còn gọi là “lừxếp khung sắt” là một loại ngư cụ xuất hiện năm 2006 từ Trung Quốc, cấu tạobao gồm các khung sắt hình chữ nhật có kích thước 20 x 40 cm được kết lướithành hình hộp chữ nhật có chiều dài 7 m Nghề này hoạt động dựa trênnguyên lý bẫy, cá bị dẫn dụ vào miệng lừ và không thể ra được Cứ mỗikhung lừ có miệng dẫn dụ cá vào, mặt sau được gọi là đụt thắt lại giữ khôngcho cá đi ngược ra Các miệng lừ được sắp xếp so le nhau để lượng tôm cávào được nhiều hơn Nghề lừ tuy mới xuất hiện nhưng đã phát triển rộng rãi,phần lớn các hộ ngư nghiệp đều tham gia hoạt động này

Bảng 6: Tình hình phát triển nghề lừ của toàn xã và thôn Nghi Xuân

Chỉ tiêu

Toànxã

NghiXuân

Toànxã

NghiXuân

Toànxã

NghiXuân

(Nguồn: Tổng hợp tài liệu thứ cấp và phỏng vấn hộ, 2010)

Nghề lừ xuất hiện đầu tiên vào năm 2006 Đây là hoạt động tự phát,không có sự kiểm soát của nhà nước nên số lượng lừ tăng ồ ạt Ngay từ khimới xuất hiện chỉ có 20 hộ tham gia với số lừ trung bình là 60 lừ/hộ Toàn bộ

20 hộ hoạt động nghề lừ của xã đều tập trung vào thôn Nghi Xuân, vì đây làthôn tập trung hoạt động KTTS của xã Chỉ sau một năm (năm 2007) số hộkhai thác cũng như số lừ trên đầm phá tăng lên đáng kể Toàn xã có 132 hộtham gia nghề lừ, tăng thêm 112 hộ (6,6 lần) so với năm trước Trong đó thônNghi Xuân có 120 hộ, tăng 100 hộ (6 lần) Số lừ trung bình mỗi hộ tăng từ 60

Trang 29

cái lên 100 cái (1,67 lần) Số hộ và số lừ đạt đỉnh vào năm 2007 và ổn địnhvào năm 2008 Vì từ năm 2007 đã thấy hoạt động nghề lừ mang lại hiệu quảrất cao nên tất cả các hộ có nhu cầu đều ồ ạt tham gia Mặt khác, lừ có thể sửdụng tốt trong vòng 2 năm nên số lượng lừ năm 2008 không bị giảm đi

Nhưng hiện nay, hoạt động lừ lại giảm xuống, không còn sôi nổi nữa

So với năm 2008, thì hiện nay có gần 20 hộ bỏ hẳn nghề lừ các hộ này chủyếu là hộ KTCĐ đã có nguồn lợi từ trộ sáo Những hộ có trộ sáo khác không

bỏ nghề lừ thì số lượng cũng không đáng kể, chỉ có những hộ chuyên lừ mớiduy trì số lượng lớn Có sự suy giảm nghề lừ là do ngư cụ giảm chất lượng,hoạt động đánh bắt không thu lãi cao như giai đoạn đầu nữa nên ngư cụkhông được chú trọng đầu tư và nghề lừ cũng phát triển chậm

Tuy mới xuất hiện trong vài năm nhưng nghề lừ cũng đã đóng góp lớntrong thu nhập người dân, gần như thay thế cho nghề lưới Có nhiều hộ đã chuyểnhẳn sang hoạt động nghề lừ và một số hộ khác kết hợp nghề lừ với nò sáo

Bảng 7: Hoạt động nghề lừ của các nhóm hộ

(Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2010)

Trang 30

Từ kết quả tổng hợp trên ta thấy, tuy mới xuất hiện nhưng nghề lừ đãthu hút nhiều hộ tham gia với số lượng ngư cụ lớn Toàn xã có 61 hộ chuyênlừ với trung bình 100 lừ/ hộ, ngoài ra các hộ KTCĐ cũng tham gia nghề lừvới trung bình 79 lừ/hộ.

Lừ là nghề KTDĐ nhưng có thời gian khai thác trong năm nhiều (350ngày/năm đối với hộ chuyên lừ và 310 ngày/năm đối với hộ có nò sáo) Mặc

dù sản lượng thu được không cao (2,4 – 3 kg/đêm) nhưng loài khai thác chínhcủa ngư cụ này là tôm và cá bóng nên mang lại giá trị lớn Bình quân mỗiđêm nghề lừ mang lại thu nhập 80.000 đồng cho những hộ chuyên lừ và64.000 đồng cho những hộ lừ kết hợp nò sáo Ngoài thu nhập chính thỉnhthoảng còn có thêm 20.000 đồng đến 30.000 đồng mỗi đêm từ các sản phẩmphụ khác như lươn, cua, tôm sú…(Trích lời của ngư dân Nguyễn Khoai:

“Làm lừ mà chỉ có tôm và cá bóng thì không đủ sống Thỉnh thoảng có đêm cũng thu được hai, ba chục ngàn đồ lặt vặt như lươn, cua, tôm sú Như thế mới có dư ra để lo công này việc nọ nữa chứ”.)

Mặc dù đầu tư nhiều số lượng ngư cụ và thời gian khai thác nhưng thunhập trung bình mỗi năm của những hộ chuyên lừ thấp hơn nhiều so với hộ có

nò sáo (60 triệu > 28 triệu)

Không giống như nghề lừ, lưới là nghề truyền thống có từ lâu đời.Trước khi có lừ, lưới là hoạt động sinh kế chính của những hộ KTDĐ và nghềphụ của những hộ KTCĐ Tuy nhiên, từ khi lừ xuất hiện thì nghề này có sựsuy giảm rõ rệt cả về số hộ và số lượng lưới Hiện nay các hộ tham gia nghềlưới bao gồm hộ chuyên lưới và hộ có nò sáo

Trang 31

Bảng 8: Hoạt động nghề lưới của các nhóm hộ

1999

2000 –2006

2007 –2009

- Số hộ tham gia

634

10035

30060

42,7

7052

- Thu nhập TB/năm

+ Chuyên Lưới

+ Lưới + Nò sáo

1.000đồng 21.000

52.000

22.50046.000

21.00048.000

(Nguồn: Phỏng vấn hộ và người am hiểu, 2010)

Qua bảng số liệu ta thấy, nhìn chung hoạt động nghề lưới trên toàncộng đồng có xu hướng giảm cả về số hộ tham gia và số lượng ngư cụ Từ

Trang 32

năm 1994 đến năm 2006, toàn xã có 76 hộ chuyên lưới và 79 hộ làm lưới kếthợp với nò sáo nhưng hiện nay chỉ còn 6 hộ chuyên lưới Làm lưới là sinh kếduy nhất của những hộ chuyên lưới nên bình quân mỗi hộ có 100 tay lưới cònnhững hộ có nò sáo thì có ít ngư cụ hơn và giảm mạnh khi có nghề lừ

Hoạt động lưới được tiến hành vào tất cả các tháng trong năm Tuynhiên vào mùa mưa bão thì người dân không thể làm nghề được, bởi vì lưới làngư cụ di động thô sơ nên dễ bị gió bão cuốn đi Có nhiều trường hợp gió bãolớn làm lùa lưới và lượng ngư cụ đó phải bỏ đi, nhiều khi tính mạng con

người cũng bị đe dọa (Trích lời ngư dân Trần Đợi: “ Đang thả 70 tay lái nghe

giông bão thì phải chạy nhanh vào bờ để bảo vệ tính mạng người Khi đó ngoài khơi chỉ có lưới và tiếng giông thét Chờ giông bão xong, lôi vô bán đồng nát được mấy chục ngàn rồi sắm lại lưới mới thôi”)

Nhìn chung trước khi có lừ hoạt động lưới được tiến hành 10tháng/năm Từ năm 2007, nhiều hộ từ bỏ nghề lưới chuyển sang nghề lừ, một

số hộ giữ lưới lại để khai thác vào những mùa có năng suất cao Do đó, nhữnghộ không chuyên lừ có thời gian khai thác bình quân mỗi năm 60 ngày vớisản lượng bình quân mỗi đêm là 2,7 kg

Sản phẩm khai thác được từ lưới chủ yếu là cá, giai đoạn gần đây cũngxuất hiện tôm, còn cua thì có thể cắn lưới chui ra nên không thu được Vì lướichủ yếu là đánh bắt cá nên giá trị mang lại không cao bằng các nghề khác nhưlừ và nò sáo

Trước năm 1999 khi cửa Tư Hiền đóng kín, độ mặn của phá thấp do đó tàinguyên chủ yếu là cá Thời gian này điều kiện môi trường còn thuận lợi, chưa

bị ô nhiễm từ nuôi tôm, nguồn tài nguyên đa dạng nên sản lượng thu được cao(trung bình 7 kg/đêm đối với chuyên lưới và 6,25 kg/đêm đối với những hộ có

nò sáo) Giai đoạn 2000 - 2006, môi trường nước bị ô nhiễm do nước thải từcác hồ tôm bị dịch bệnh nên sản lượng giảm xuống còn 5 kg/đêm đối với hộchuyên lưới và 3,2 kg/đêm đối với hộ không chuyên Giai đoạn 2007 - 2009,lưới chỉ là nghề phụ nên thời gian khai thác chỉ tập trung vào mùa có sảnlượng cao, nhưng trung bình cũng chỉ thu được 2,5 kg/đêm và thời gian khaithác trung bình là 2 tháng

Trang 33

Ngoài thu nhập từ lưới thì các hộ làm lưới kết hợp với nò sáo có nguồn thuchính là từ các trộ nò nên thu nhập trung bình mỗi năm của các hộ này là rấtlớn, giai đoạn 1994 – 1999 : 52 triệu đồng/năm, giai đoạn 2000 – 2006: 46triệu đồng/năm, giai đoạn 2007 – 2009: 48 triệu đồng/năm).

Những hộ chuyên lưới có thu nhập thấp hơn và khá ổn định qua các giaiđoạn (21 triệu đồng/năm)

* Hoạt động KTCĐ

Nghề nò sáo là hoạt động KTCĐ có từ lâu đời Hiện nay tại mặt nước xãVinh giang có 91 nò sáo với tổng diện tích là 554 ha, được quy hoạch vùng cụthể Mặt nước chiếm giữ của nò sáo là toàn bộ không gian hình chữ V củamỗi nò sáo và các nò sáo sắp xếp kế tiếp nhau với số lượng khác nhau ở cácdãy Toàn bộ các nò sáo được sắp xếp thành 6 dãy:

- Dãy Chùa và Dãy Dừa: gồm 9 nò sáo với diện tích 64 ha

- Dãy Mốc: gồm 11 nò sáo, diện tích 77 ha

- Lệch Nò - Triền Gác: 16 nò sáo, diện tích 112 ha

- Triền Gác Trên: có 18 nò sáo, diện tích 112 ha

- Cồn Trần: 10 nò sáo, diện tích 55 ha

- Lệch Lớn : gồm 3 dãy nhỏ có tổng số 26 nò sáo với diện tích 124 ha.Dãy Lệch Lớn là dãy nò sáo của cư dân đến từ xã Vinh Hưng, Vinh Hiềnthuộc huyện Phú Lộc

Nò sáo được coi là nghề quan trọng nhất của ngư dân nơi đây bởi vìnghề này cho thu nhập cao và ổn định

Trang 34

Bảng 9: Quá trình phát triển hoạt động nò sáo.

(Nguồn: Tổng hợp kết quả phỏng vấn hộ, 2010)

Số hộ tham gia cũng như số lượng nò mỗi trộ ổn định qua các năm trungbình mỗi trộ đặt 6 nò Nò chính được đặt ở đáy chữ V của sáo, dưới đáy đặtthêm 1 nò phụ Ở mỗi bên miệng cánh sáo thường đặt 2 nò Nò sáo chữ N, Mchiếm nhiều diện tích mặt nước hơn sáo hình chữ V do đó số nò đặt nhiều hơn (7

nò) Trước khi quy hoạch sắp xếp nò sáo (2007) mỗi trộ sáo có diện tích 8 ha với

chiều dài cánh sáo là 350 - 500 m, miệng sáo 200 - 250 m Kết quả của hoạtđộng sắp xếp nò sáo là diện tích trung bình/trộ sáo giảm còn 6 ha với kích thướctrung bình là 180 x 350 m Loài khai thác chủ yếu là tôm, cá Càng về sau lượngtôm càng tăng, lượng cá giảm do nước bị mặn hóa Hoạt động nò sáo được tiếnhành quanh năm (365 ngày) vì việc đỗ nò diễn ra vào buổi tối và sáng sớm Vìđây là hoạt động KTCĐ nên mùa mưa bão vẫn thu hoạch được

Trên diện tích vùng đầm phá có nhiều hoạt động khai thác tài nguyên tựnhiên như nò sáo, nghề lưới, nghề lừ nhưng mức độ tiếp cận của các nhóm hộ

là không giống nhau

Trang 35

Bảng 10: Mức độ phân hóa nghề trong tiếp cận KTTS

Từ năm 2007 – 2009, nghề lừ xuất hiện, đa số các hộ làm lưới chuyển dầnsang làm lừ Số hộ có nò sáo làm thêm lừ hoặc lưới chiếm tỷ lệ 39,1%, số hộ

có cả 3 hoạt động nò sáo, lưới và lừ chiếm 15%, số hộ chuyên lưới là 4,1% và

số hộ chuyên lừ là 41,8%

Đặc điểm chung của các hộ KTCĐ là ngoài hoạt động nò sáo họ còn tiếpcận tài nguyên thông qua hoạt động KTDĐ do đó mức độ tiếp cận tài nguyênđầm phá của những hộ này lớn hơn những hộ chuyên KTDĐ

4.3.3 Tiếp cận tài nguyên và hoạt động nuôi trồng thuỷ sản

4.3.3.1 Cơ chế và thực hành NTTS

Quá trình tiếp cận diện tích NTTS diễn ra trong thời gian dài với sự tácđộng của nhiều cơ chế tiếp cận

Trang 36

Diễn biến diện tích nuôi trồng thuỷ sản theo thời gian

Biểu đồ 1: Diễn biến diện tích nuôi trồng thuỷ sản của xã

Nhìn vào biểu đồ ta thấy diện tích nuôi trồng của toàn xã có sự thay đổiqua các giai đoạn khác nhau Diện tích bắt đầu tăng từ năm 1994 đến năm

1996 và ổn định trong 3 năm 1997, 1998 và 1999 với 155 ha Sau năm 1999diện tích NTTS lại tiếp tục tăng đến năm 2003 là đạt giá trị cực đại với 210

ha Từ năm 2003 đến 2007 diện tích có giảm nhưng không đáng kể Năm

2008 diện tích giảm mạnh từ 205 ha xuống 165 ha nhưng đến năm 2009 thìdiện tích lại tăng lên mức tối đa là 210 ha Đây chính là sự thay đổi trong mứcđộ tiếp cận tài nguyên của cồng đồng, và kết quả này chịu tác động của nhiềunguyên nhân khác nhau

Năm 1994 là năm chính thức phát triển hoạt động NTTS có quy hoạch,diện tích toàn xã lúc này là 40 ha Vùng nuôi đầu tiên của xã là vùng ThâmTuấn ruộng cạn có diện tích 7 ha gồm 4 chủ, (năm 1992) Khu vực 327 diệntích 33 ha phát triển đầu tiên năm 1993 với 14 ha theo chương trình xóa đóigiảm nghèo có sự hỗ trợ của nhà nước, năm sau đó (1994) quy hoach vùngnuôi phát triển thêm 23 ha Nhưng năm 1995 diện tích đã tăng lên 150 ha, chỉsau 1 năm mà diện tích các hồ tôm đã tăng thêm 110 ha (3,75 lần) Có sự tăngđột biến này là do thấy được hiệu quả của hoạt động nuôi tôm nên huyện chủ

Trang 37

trương mở rộng vùng nuôi Các hộ nông nghiệp cũng xuống tận dụng các ôđầm lúa nhiễm mặn để nuôi tôm Mặt khác, đây là giai đoạn quyền tiếp cậndiện tích mặt nước NTTS rất dễ dàng, những ai có nhu cầu đăng ký đều đượcxem xét để cấp diện tích và ưu tiên cho những hộ chưa có Từ năm 1996 đếnnăm 1999 diện tích ít thay đổi, sau 4 năm mà diện tích chỉ tăng thêm 5 ha và 5

ha này ưu tiên cho các hộ nông nghiệp

Trong thời gian này nhiều vùng nuôi tôm đã phát triển ổn định, không thểgia tăng diện tích và những hồ tôm trong vùng này đã được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng

Mốc thay đổi đáng kể tiếp theo là sau lụt năm 1999, vùng nuôi tômđược mở rộng thêm 50 ha và tăng dần đến năm 2002 thì ngừng Đây là sự giatăng cuối cùng của diện tích thấp triều Sau lụt năm 1999, cửa Tư Hiền mở đãchuyển 50 ha vùng trồng lúa nước ngọt thành vùng nuôi tôm Các hộ trồnglúa trên các diện tích này chuyển sang hoạt động nuôi tôm Vùng diện tíchnày ảnh hưởng nguồn nước từ cửa biển Thuận An nên từ khi được chuyển đổiđến nay hiệu quả mang lại luôn ổn định ở mức cao Nguồn nước thườngxuyên được thay mới nên dịch bệnh ít xảy ra Trước đây vùng này bị ngọt hoá

do nguồn nước ngọt từ Vinh Mỹ chảy qua, nước từ cửa biển Thuận An khôngthể mặn hoá vùng này Nhưng từ khi cửa Tư Hiền mở độ mặn được tăngcường nên có thể nuôi tôm được

Vì giữa các ao hồ nuôi tôm không có ranh giới cụ thể nên hàng năm có

sự lấn chiếm diện tích tự nhiên và gây mâu thuẫn giữa các hộ Năm 2002, xãquy định xây đê bao để cố định diện tích hồ nuôi

Năm 2003, 10 ha đất ruộng tiền đình được chuyển thành vùng nuôi tômcao triều Và toàn bộ diện tích nuôi trồng thủy sản được giới hạn vào năm

2003 với 210 ha Giai đoạn này không những có sự gia tăng mạnh tổng diệntích NTTS toàn xã mà từ năm 2000 đến năm 2003 việc mua bán diện tíchcũng diễn ra rất sôi nổi Đây là giai đoạn nuôi tôm đạt hiệu quả cao nhất nênthu hút sự quan tâm của những người có điều kiện kinh tế Người mua chủyếu là từ các vùng khác như Vinh Hưng, Vinh Hiền, Đắc lắc Vì thấy lợinhuận rất lớn từ hoạt động nuôi tôm nên những người có tiền mua lại diện

Trang 38

tích của người dân địa phương rồi thuê người làm chứ họ không trực tiếp sảnxuất Việc mua bán diễn ra tự do giữa các cá nhân, tên chủ sở hữu có thể cóthay đổi hoặc không nên không có sự thống kê cụ thể về diện tích mua bánnày Cũng có nhiều hộ tại địa phương đã có hồ nuôi nhưng vẫn mua thêmdiện tích vì họ có điều kiện kinh tế khá nhưng số lượng này rất ít Đa số cáchộ có diện tích lớn thường bán bớt diện tích vì các hồ nuôi bán rất được giá(100 triệu đồng/ha).

Với việc phát triển ồ ạt diện tích NTTS đã gây ra dịch đốm trắng trên90% diện tích của toàn xã vào năm 2004 Sau 4 năm liền được mùa nên ngườidân vẫn còn vốn đầu tư và nuôi hy vọng gỡ lại được món nợ Do đó diện tíchnuôi trồng vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên hoạt động nuôi tôm trong nhữngnăm tiếp theo không hiệu quả lắm nên diện tích có giảm nhưng tương đối ít (5ha/ 2 năm) Năm 2008, diện tích giảm mạnh, toàn xã chỉ còn 165 ha (giảm 40

ha so với năm 2007) Có sự suy giảm đáng kể này là do trận dịch 2007 đã làmnhiều diện tích bị bỏ hoang vì nuôi tôm bị ô nhiễm và thiếu vốn đầu tư Tronggiai đoạn này việc mua bán hồ nuôi ít xảy ra Nhiều hộ lỗ nặng muốn từ bỏnghề nhưng không được vì đây là nguồn thu chính của gia đình Chỉ có nhữnghộ gia đình trẻ mua hồ nuôi với giá trung bình 40 triệu đồng mỗi ha Tuynhiên, năm 2009 diện tích NTTS lại tăng lên mức tối đa 210 ha nhờ áp dụng

mô hình nuôi xen ghép và chủ trương nuôi thưa, nuôi một vụ ăn chắc

Hiện nay, toàn xã có 220 hộ tham gia NTTS với diện tích 210 ha.Nhưng diện tích này không phải chia đều cho các hộ mà được phân làm cácnhóm khác nhau theo mức độ tiếp cận tài nguyên của những hộ đó Phần lớncác hộ có diện tích từ 1 - 1,5 ha, trong khoảng diện tích này có 125 hộ (chiếm57%) Mức diện tích có ít hộ sở hữu nhất là từ 5ha trở lên, chỉ có 7 hộ (chiếm3%) Còn lại có 66 hộ (30%) sở hữu diện tích lớn hơn 1 ha và có 22 hộ (10%)

sở hữu từ 2 - 5 ha

Theo chủ trương khuyến khích phát triển NTTS của xã thì tất cả các hộ đều

có quyền lợi như nhau Tuy nhiên, trên thực tế quyền tiếp cận diện tích NTTSngoài phụ thuộc vào nguồn vốn, lao động tự có của gia đình thì còn phụ thuộcvào mối quan hệ xã của họ nữa Những hộ được tiếp cận nhiều với tài nguyên

Trang 39

thường là cán bộ địa chính, cán bộ xã và những người thân quen của họ Thực

trạng này được người dân phản ánh: “Đợt mô dân có thì cán bộ có Dân chỉ

có 1 hoặc 2 lần thôi Cán bộ thì có 5-7 lần luôn Dân vừa không có tiền vừa không có quyền, xin mà họ không cho cũng chịu Mặt nước không chia theo khẩu mà chia theo hộ Xin trước chứ xin sau cũng hết…” (Ngư dân Trần

Quốc Sắt, thôn Nghi Xuân)

4.3.3.2 Thực trạng hoạt động nghề NTTS

Nuôi trồng thuỷ sản là sinh kế quan trọng thứ hai sau nông nghiệp với

sự tham gia của 220 hộ (chiếm 20,6% tổng số hộ trong xã) chủ yếu là nuôitôm sú Đây cũng là ngành cho thu nhập cao nhất trong cơ cấu ngành nghềtrong xã

Bảng 11: Tình hình phát triển hoạt động NTTS

Các chỉ tiêu ĐVT 1994 - 1999 2000 - 2005 2006 - 2009

bà con xử lí ao và tiến hành nuôi Đến tháng 7, sắp đến mùa mưa lũ thì bàcon thu hoạch Vì nuôi với mật độ thưa (1 - 2 con/m2) nên tôm nhanh lớn vàsản lượng cao Tuy nhiên do chưa đầu tư xây đập chống ngập nước, đê thấpdẫn đến thất thoát nhiều

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước xã Vinh Giang. - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất, mặt nước xã Vinh Giang (Trang 18)
Bảng 2: Phân bố dân cư theo thôn của xã Vinh Giang. - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Phân bố dân cư theo thôn của xã Vinh Giang (Trang 19)
Bảng 5: Cơ chế tiếp cận tài nguyên qua các giai đoạn khác nhau - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 5 Cơ chế tiếp cận tài nguyên qua các giai đoạn khác nhau (Trang 24)
Bảng 7: Hoạt động nghề lừ của các nhóm hộ - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 7 Hoạt động nghề lừ của các nhóm hộ (Trang 29)
Bảng 8: Hoạt động nghề lưới của các nhóm hộ - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 8 Hoạt động nghề lưới của các nhóm hộ (Trang 31)
Bảng 9: Quá trình phát triển hoạt động nò sáo. - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 9 Quá trình phát triển hoạt động nò sáo (Trang 34)
Bảng 10: Mức độ phân hóa nghề trong tiếp cận KTTS - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 10 Mức độ phân hóa nghề trong tiếp cận KTTS (Trang 35)
Bảng 11: Tình hình phát triển hoạt động NTTS - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 11 Tình hình phát triển hoạt động NTTS (Trang 39)
Hình thức nuôi xen ghép mới chỉ áp dụng cho nhóm hộ nuôi tôm có KTTS. - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Hình th ức nuôi xen ghép mới chỉ áp dụng cho nhóm hộ nuôi tôm có KTTS (Trang 40)
Bảng 13: Diễn biến tiếp cận tài nguyên với phân hoá giàu nghèo  của các hộ - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 13 Diễn biến tiếp cận tài nguyên với phân hoá giàu nghèo của các hộ (Trang 42)
Bảng 14: Tình hình phân hóa giàu nghèo giữa nhóm hộ chuyên nông và  nhóm hộ KT và NTTS - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 14 Tình hình phân hóa giàu nghèo giữa nhóm hộ chuyên nông và nhóm hộ KT và NTTS (Trang 45)
Bảng 15: Mối liên hệ giữa mức độ tiếp cận tài nguyên và mức thu  nhập của hộ - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 15 Mối liên hệ giữa mức độ tiếp cận tài nguyên và mức thu nhập của hộ (Trang 50)
PHỤ LỤC 3: BẢNG GIÁ MỘT SỐ SẢN PHẨM THỦY SẢN - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
3 BẢNG GIÁ MỘT SỐ SẢN PHẨM THỦY SẢN (Trang 75)
BẢNG CHI PHÍ CHO 1 HA NUÔI TÔM - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
1 HA NUÔI TÔM (Trang 76)
PHỤ LỤC 4: BẢNG CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG NTTS - tìm hiểu thực hành quyền tiếp cận tài nguyên đầm phá với phân hóa giàu nghèo tại xã vinh giang, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế
4 BẢNG CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG NTTS (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w