1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế

48 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng (xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế)
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý nông hộ, Phát triển nông thôn
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 494 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều yếu tố quyết định đến các hình thứcsản xuất như: trình độ của người dân, giao thông, vị trí địa lí của vùng…Thông thường thì vùng nào mà có vị trí địa lí thuận lợi như: Gần trun

Trang 1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập của đất nước để tiến lên xây dựng một xã hộigiàu mạnh, thì việc phát triển kinh tế vùng nông thôn đặc biệt cần quan tâmhàng đầu Chú trọng phát triển nông nghiệp, coi đó là thế mạnh của vùngnông thôn Phát triển nông nghiệp để tạo thế vững chắc cho phát triển côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn

Đất nước ta với 3/4 diện tích là đồi núi, địa hình phân chia tạo thànhcác vùng đất khác nhau như: Vùng đồng bằng, vùng ven biển, vùng gò đồi.Các vùng này có những khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Do

đó mà đã hình thành nên các hệ thống sản xuất đặc trưng riêng cho mỗi vùng

Do điều kiện tự nhiên của mỗi vùng có sự khác nhau tương đối lớn nên

hệ thống cây trồng, vật nuôi cũng tương đối đa dạng để phù hợp với điều kiện

tự nhiên của vùng Sự đa dạng trong hoạt động sản xuất đã tạo ra các sản phẩmnông nghiệp của nước ta ngày càng phong phú và đa dạng như hiện nay

Trong sản xuất thì có nhiều hình thức sản xuất như: sản xuất mang tính tựcung tự cấp, sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ, sản xuất hàng hóa quy mô vừa,sản xuất hàng hóa quy mô lớn Có nhiều yếu tố quyết định đến các hình thứcsản xuất như: trình độ của người dân, giao thông, vị trí địa lí của vùng…Thông thường thì vùng nào mà có vị trí địa lí thuận lợi như: Gần trung tâmthành phố, gần đô thị hay có cơ sở hạ tầng tốt và người dân có trình độ cao thìvùng đó sẽ hình thành nên hình thức sản xuất hàng hóa, ngược lại vùng nào

mà trình độ của người dân chưa cao, cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo, cách xatrung tâm thành phố, đô thị thì vùng đó sản xuất mang tính tự cung tự cấp, do

đó người dân của những vùng này thường có cuộc sống không đảm bảo.Hiện nay vẫn đang còn xảy ra tình trạng đó là người dân của một số vùngchưa xác định được hệ thống cây trồng nào cho phù hợp với điều kiện của vùng,

do đó mà chưa phát huy hết lợi thế so sánh của vùng dẫn đến kết quả là hiệu quảmang lại từ sản xuất nông nghiệp là chưa cao, đời sống của bà con nông dân còngặp rất nhiều khó khăn Do vậy, cần phải tìm hiểu và đưa ra các giải pháp để góp

Trang 2

Được sự đồng ý của nhà trường, khoa khuyến nông và phát triển nông

thôn tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế).”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Phong An, huyệnPhong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tìm hiểu các hệ thống sản xuất ở cấp độ cộng đồng và sự vận hành của chúng.Tìm hiểu sự đa dạng của hệ thống sản xuất ở cấp độ nông hộ: trồngtrọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp…

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Khái niệm hệ thống, hệ thống nông nghiệp, hệ thống sản xuất

Khái niệm hệ thống

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan

hệ và tác động qua lại lẫn nhau Một hệ thống có thể xác định như một tậphợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết tạo thành một chỉnh thể

và nhờ đó đặc tính mới gọi là “tính trồi”(esmeergence) của hệ thống

Theo Đào Thế Tuấn thì hệ thống là các tập hợp trật tự bên trong (haybên ngoài) của các yếu tố có liên quan với nhau (hay tác động lẫn nhau).Thành phần của hệ thống là yếu tố Các mối liên hệ và tác động giữa các yếu

tố bên trong mạnh hơn so với yếu tố bên ngoài hệ thống và tạo nên một trật tựbên trong của hệ thống Một hệ thống là một nhóm các yếu tố tác động lẫnnhau hoạt động chung cho một mục đích chung [5]

Khái niệm hệ thống nông nghiệp

Theo Đào Thế Tuấn (1989), Hệ thống nông nghiệp (HTNN) về thựcchất là sự thống nhất của hai hệ thống: 1) Hệ sinh thái nông nghiệp là một bộphận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vậtchất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứcấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái 2) Hệ kinh tế xã hội, chủ yếu là hoạt độngcủa con người trong sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội [5]

Hệ thống nông nghiệp (HTNN) là sự hiểu biết không gian của sự phốihợp các ngành sản xuất và các kĩ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãncác nhu cầu Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinhhọc và sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội vănhóa qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kĩ thuật khoa học [3]

Một số nhà khoa học Mĩ cho rằng: Hệ thống cây trồng là sự bố trí mộtcách thống nhất và các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ giađình trong môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu và nguồnlực của nông hộ

Trang 4

Hệ thống trồng trọt là một hệ thống con và trung tâm của hệ thống nôngnghiệp, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ thống phụ khácnhư chăn nuôi, chế biến [4]

Với khái niệm về hệ thống cây trồng như trên thì hệ thống trồng trọt là

bộ phận chủ yếu của hệ thống cây trồng

Hệ thống cây trồng là việc thực hiện mô hình canh tác cây trồng có sự liênquan giữa những cây trồng này với môi trường bên ngoài bao gồm thích nghi điềukiện tự nhiên, lao động và cách quản lý để cho hiệu quả kinh tế cao [3]

- Khái niệm về cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theokhông gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp [4]

Nghiên cứu về hệ thống sản xuất là một vấn đề rất phức tạp vì nó liênquan đến nhiều yếu tố như: Đất đai, khí hậu, vốn, trình độ khoa học kĩ thuật,vấn đề sâu bệnh, dịch bệnh, thị trường…Mục đích của việc nghiên cứu các hệthống sản xuất là nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai, nâng cao năng suất câytrồng, vật nuôi Đồng thời xem xét sự tác động qua lại giữa các cây trồng, giữatrồng trọt với chăn nuôi, với nuôi trồng thủy sản và tới hệ thống chế biến

2.1.2 Thành phần của hệ thống nông nghiệp

Theo Đào Thế Tuấn thành phần của hệ thống nông nghiệp bao gồm: Môitrường tự nhiên như đất, khí hậu, nước ; Môi trường kinh tế, xã hội như: Thểchế quan hệ tổ chức, nhà nước, thị trường, xã hội dân sự và hộ nông dân.Trongmôi trường kinh tế xã hội thì thể chế đóng một vai trò cực kì quan trọng

Thể chế là các cản trở do con người đặt ra để hình thành các mối quan

hệ giữa người, giữa các tổ chức

Thể chế bao gồm các luật chơi của xã hội bao gồm có các luật hìnhthức (hiến pháp, điều lệ, luật lệ và quy định) và các ràng buộc phi hình thức(tiêu chuẩn, công ước và các quy tắc đối xử) và các đặc điểm ép buộc củachúng Bản thân thị trường cũng là một thể chế Thể chế tạo ra thị trường cóhiệu quả Thị trường hiệu quả là các thể chế có chi phí trao đổi thấp và tạo ralợi ích kinh tế để các tác nhân cạnh tranh với nhau qua giá và chất lượng

Trang 5

- Khả năng sinh lợi: Khả năng sinh lợi là hiệu quả kinh tế (cho người sảnxuất và xã hội) của một hệ thống nông nghiệp.

- Tính ổn định: Tính ổn định của một hệ thống nông nghiệp là khả năngduy trì sức sản xuất khi có rủi ro hay thay đổi điều kiện thời tiết, điều kiệnkinh tế thị trường Tính ổn định này được đo lường từ hệ số biến động của sứcsản xuất

- Tính bền vững: Là khả năng duy trì sức sản xuất của hệ thống trong thờigian dài khi chịu tác động của stress hoặc sự đảo lộn Một hệ thống nông nghiệpbền vững được coi là bền vững khi bị stress xảy ra sức sản xuất có thể bị giảmnghiêm trọng sau đó sức sản xuất được phục hồi và duy trì ổn định

- Tính công bằng: Được đo lường bằng sự phân bố tài nguyên đến nhữngngười tham gia sản xuất trong cùng hệ thống

- Tính tự chủ: Tính tự chủ của hệ thống được biểu thị bằng khả năng tựvận hành sao cho có hiệu quả mà ít lệ thuộc vào môi trường

Trong sáu đặc tính trên gồm cả đặc tính về sinh học và đặc tính về xã hộicủa hệ thống

2.1.4 Các loại hệ thống nông nghiệp

Nông nghiệp du canh: Nông nghiệp du canh là sự thay đổi nơi sản xuất từvùng này sang vùng khác, từ khu vực đất này sang khu vực đất khác sau khi

độ phì của đất đã nghèo kiệt

Hệ thống du mục: Du mục là một phương thức sản xuất nông nghiệp chủyếu gắn liền với các hệ thống chăn nuôi được di chuyển liên tục từ vùng nàysang vùng khác Các kiểu du mục: Du mục hoàn toàn là sự di chuyển đàn giasúc của họ từ vùng này đến vùng khác quanh năm Họ đều không có nhà cửa

Trang 6

cố định và không có hoạt động trồng trọt Bán du mục là những người dân chỉnuôi và chăn thả đàn gia súc theo mùa của đồng cỏ tự nhiên.

Hệ thống nông nghiệp cố định: Là các hoạt động sản xuất nông nghiệpcủa người dân được tiến hành trên những vùng, khu vực hay trên các mảnhđất cố định qua các năm Bao gồm các kiểu hệ thống nông nghiệp sau:

+ Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hóa: Là những hệ thống nôngnghiệp chuyên sản xuất một hoặc hai loại sản phẩm nhất định Từ đặc điểmcủa điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của vùng, hay tập quán xã hội của mộtvùng nào đó Được phân công của xã hội mà được sản xuất một hoặc 2 loạisản phẩm chính

+ Hệ thống nông nghiệp cố định hỗn hợp: Là hệ thống sản xuất bao gồmnhiều loại sản phẩm cả sản phẩm trồng trọt lẫn sản phẩm chăn nuôi

+ Một số hệ thống nông nghiệp cố định phát triển có tính điển hình như:

Hệ thống VACR, SALT

2.1.5 Vai trò của các hệ thống sản xuất

Các hệ thống sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cóvai trò vô cùng quan trọng tới đời sống của mỗi hộ gia đình nói riêng và cả xãhội nói chung Vì nó cung cấp lương thực, thực phẩm là những sản phẩm vôcùng thiết yếu cho sự sống của mỗi con người Đồng thời các hệ thống sảnxuất này hàng năm đem về cho nước ta một nguồn thu ngoại tệ tương đối lớnthông qua việc xuất khẩu các sản phẩm của hệ thống Thật vậy, Việt nam làquốc gia đứng hàng đầu trện thế giới về xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệpnhư: Gạo, tiêu, hải sản

Chế biến là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất, đây là khâu vô cùngquan trọng vì nó là yếu tố để nâng cao giá trị sản phẩm của các hệ thống trồngtrọt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi Nhưng nhìn chung so với các hệ thốngtrên thì hệ thống này là còn kém phát triển hơn Do đó mà các sản phẩm nôngnghiệp của nước ta bán ở dạng thô chiếm tỉ lệ cao

2.2 Cơ sở thực tiễn

Các nghiên cứu về hệ thống trồng trọt

Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu (kể cả trongnước và ngoài nước) về lĩnh vực nông nghiệp của nước ta Các nghiên cứu

Trang 7

này tìm ra những điểm hạn chế cản trở sự phát triển nền nông nghiệp, từ đó

có cơ sở để đề xuất với nhà nước đưa ra những chính sách và giải pháp đồng

bộ làm cho nền nông nghiệp ngày càng phát triển

Các nhà nghiên cứu đã điều tra được sự ảnh hưởng của việc tăng thờigian và sự phức hợp luân canh trên sản lượng cây trồng trong các hệ thốngnông nghiệp hữu cơ trong giai đoạn mười năm Họ đã phát hiện ra rằng sựluân phiên phức tạp hơn và lâu hơn bằng cách sử dụng ngô, đậu nành, lúa mì

và cỏ khô sẽ mang lại sản lượng ngô nhiều hơn 30% so với một vụ luân canhngô và đậu nành đơn giản Nhiều loại cây trồng phụ và thời gian luân phiêngiúp cung cấp đầy đủ khí nitơ và làm giảm đi sự cạnh tranh của cỏ, do đó làmtăng sản lượng cây trồng [8]

Vào mùa Đông ở vùng đồng bằng và các tỉnh phía Bắc trồng các cây cónguồn gốc xứ lạnh (khoai tây, cải bắp, xu hào ) hoặc các nhóm cây xứ nóngngắn ngày như (ngô, đậu rau các loại ) không nhũng nâng cao sản lượng,tăng hiệu quả kinh tế mà còn có tác dụng bảo vệ và bồi dưỡng đất [6]

Theo tác giả Bùi Huy Đáp [1] với “cơ sở khoa học của cây vụ đông” đã di sâunghiên cứu bố trí cây vụ đông cho nhiều vùng sinh thái có hệ thống luân canh

2 vụ lúa – 1 vụ đông hoặc 1 vụ lúa – 1 vụ màu – 1 vụ đông

Lê Quốc Hưng (1994) [2] khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng chovùng gò đồi tỉnh Hà Tây đã đề xuất mô hình canh tác mới đem lại hiệu quảkinh tế cao hơn mô hình cũ

- Trên chân đất cao thiếu nước: Cây ăn quả - lúa – cá

- Trên đất gò đồi đang canh tác: Chè – cây ăn quả - dứa

- Trên đất gò đồi hoang hóa: cây keo tai tượng cải tạo đất, đến năm thứ 6thu hoạch và trồng cây công nghiệp dài ngày

Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăn nuôi.

Thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hệ thống chăn nuôi giacầm và HPAI Nghiên cứu tiến hành từ tháng 3-8/2007 tại tỉnh Hà Tây (Đồngbằng sông Hồng) và Long An (Đồng bằng sông Cửu Long) Kết quả nghiêncứu là có 3 hệ thống chăn nuôi gia cầm chính bao gồm các hệ thống chăn nuôigia cầm quy mô hàng hóa với sự đầu tư tốt chuồng trại (hệ thống 1); Các hệthống chăn nuôi gia cầm quy mô hàng hóa không có đầu tư chuồng trại (hệ

Trang 8

thống 2); Hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ (hệ thống 3) Số lượng giacầm được nuôi trong các hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô hàng hóa nhiềuhơn rất nhiều hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ Số lượng các loài giacầm được nuôi trong các hệ thống 2 và 3 nhiều hơn trong hệ thống 1 Tỷ lệcác nông hộ có đàn gia cầm bị mắc H5N1 trong giai đoạn 2003-2005 ở hệthống 2 và 3 nhiều hơn hệ thống 1 (21%-59% so với 33%-36%) Hệ thống 2

và 3 có mức độ an toàn sinh học thấp, nhiều loại gia cầm được nuôi trongcùng một hộ gia đình với một diện tích dành cho chăn nuôi hạn chế hoặc chănthả tự do… Hiểu biết về vệ sinh dịch tễ, phòng bệnh bằng vắc-xin cho đàn giacầm còn hạn chế Đây là những nguy cơ tiềm ẩn của dịch bệnh trong đó cóbệnh cúm H5N1 Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, toàn bộ đàn gia cầm trong hệthống 1 đều được tiêm phòng vắc-xin, trong khi chỉ có từ 87,5%-90% trong

hệ thống 2,58% trong hệ thống 3 được tiêm vắc-xin phòng bệnh Việc bánchạy gia cầm, gồm cả gia cầm bị bệnh khi có dịch là phổ biến trong chănnuôi, đây là một trong những nguyên nhân làm tăng thêm dịch bệnh trongchăn nuôi Nguồn con giống gia cầm được cung cấp phần lớn từ các lò ấptrứng gia cầm tư nhân, khâu kiểm soát vệ sinh ấp nở, chất lượng con giốngcòn bị hạn chế Biện pháp tiêm vắc-xin phòng bệnh cúm gia cầm đã góp phầnngăn chặn dịch bệnh bùng phát trên đàn gia cầm được tiêm [7]

Một dự án toàn diện mới được thực hiện liên quan đến chăn nuôi lợnthịt hữu cơ Liên quan đến việc xây dựng chuồng trại với sân chơi ngoài trời,Mứller (2000), Olsen (2001), Olsen và cộng tác viên (2001) nghiên cứu chitiết ảnh hưởng của loại nền bên trong chuồng (hố đằm và một phần sàn gỗ),kích thước sân ngoài trời và một phần bao phủ sân ngoài trời đến chăn nuôi

và tập tính Trong mọi trường hợp, những chuồng nuôi này phải được đểthông thoáng tự nhiên và nền của sân chơi phải chắc chắn (làm bằng bêtông).Tổng thể, các kết quả chăn nuôi rất tốt đã thu được từ hệ thống này, >900gtăng trọng/ngày, khả năng tiêu thụ thức ăn thấp và lượng thịt nạc xấp xỉ 60%

Về công tác chữa trị, có rất ít sự khác nhau Những kiểu chuồng nàyđược mô tả chi tiết bởi Olsen (2001) không có nghi vấn gì rằng chúng có thểhoạt động rất tốt nhưng xây dựng chúng sẽ đắt

Trang 9

Một mô hình khác mà lợn được nuôi từ khi cai sữa đến khi giết mổtrong hệ thống chuồng có sân chơi, đường chạy đã được nghiên cứu chi tiết.Đường chạy được đặt trên cao của vùng đất được tạo bởi một lớp vỏ trên mộtmàng chống thấm Do vậy, nước mưa và nước tiểu được lưu lại, điều đó cónghiã là không bị ngấm xuống đất.

Nhìn chung, một hệ thống như vậy mang lại kết quả chăn nuôi rất tốt(Jensen và Andersen, 2000) Tuy nhiên, việc kiểm soát ký sinh trùng là rấtkhó Một điểm thú vị khác của phương thức này là lượng Nitơ mất đi từ khuvực bên ngoài nhỏ hơn nhiều so với những gì dự đoán (Mứller et al., 2000) vàlượng Nitơ lỏng thu được trong vùng đất này là cực kỳ thấp, thể hiện rằnglượng Nitơ này được tạo gắn sâu vào ổ rơm dày qua con đường vi sinh vật

Đối với lợn nái nuôi ngoài trời, Vaarst và cộng sự (2000) theo dõi một

vài bệnh lâm sàng Những tổn thương cơ học gây gãy chân, tổn thương da vàcháy nắng là những biểu hiện lâm sàng nổi bật nhất Feenstra (2000) đãnghiên cứu sự lan truyền mầm bệnh qua các mẫu máu và kiểm tra phổi lúcgiết mổ từ 4 đàn lợn nuôi hữu cơ Kết luận rằng phổi của chúng tốt hơn so vớinhững đàn nuôi theo phương thức truyền thống, điều này tương tự như kếtquả cuộc điều tra của Thụy điển tiến hành tại lò mổ (Hansen và cộng sự1999)

Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chế biến

Trường đại học Nông Lâm TP.HCM đã kết hợp với Sở Công ThươngTiền Giang thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị chếbiến hủ tiếu quy mô vừa và nhỏ năng suất 1 tấn/ngày” nhằm tìm ra giải pháp

về công nghệ và thiết bị để giải quyết những khó khăn trên trong việc sảnxuất, đáp ứng nhu cầu sản xuất hủ tiếu của địa phương; Đề tài do PGS.TSNguyễn Hay và KS Nguyễn Văn Công đồng chủ nhiệm Với mục tiêu giảmbớt các công đoạn thủ công và hạn chế việc phụ thuộc vào thời tiết trong quátrình sản xuất hủ tiếu, chủ động trong sản xuất, và bảo đảm an toàn vệ sinhthực phẩm, nhóm thực hiện đề tài đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo các thiết bịchính đưa vào sử dụng trong các công đoạn sản xuất truyền thống Kết quảnghiên cứu cho thấy Một là:Việc nghiên cứu chế tạo hệ thống chế biến hủtiếu đáp ứng nhu cầu chế biến hủ tiểu của các hộ, các cơ sở hủ tiếu Hai là: Hệ

Trang 10

thống chế biến hủ tiếu được chế tạo dựa trên quy trình chế biến thủ công,truyền thống của các hộ sản xuất hủ tiếu Ba là: Công suất hệ thống chế biến

hủ tiếu là 1tấn/ngày (chỉ tính 1 ca 5 giờ), nếu tính 3 ca thì công suất là 3tấn/ngày Bốn là: Về giá thành hủ tiếu, so với giá thủ công thì có thể nganghoặc cao hơn, tuy nhiên vấn đề an toàn vệ sinh thực thẩm được đảm bảo,đồng thời chủ động được thời tiết và sản phẩm có thể đưa vào bán được ở cácsiêu thị…Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, chế tạo thành công hệ thống chế biến

hủ tiếu sẽ giới thiệu phổ biến đến các hộ sản xuất trong làng nghề chế biến hủtiếu để nâng cao chất lượng của sản phẩm hủ tiếu Mỹ Tho,mở rộng thị trườngtiêu thụ sản phẩm trong thời gian tới [9]

Các nghiên cứu về hệ thống sản xuất ở vùng gò đồi

Vùng gò đồi là vùng mà địa bàn có tiềm năng về đất đai và nguồn laođộng thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là phát triển lâm nghiệp, kinh tếtrang trại (trồng trọt và chăn nuôi) Các ngành nghề chưa phát triển, kết cấu

hạ tầng còn thấp kém, trình độ canh tác của người lao động còn hạn chế, môhình lúa – cá, sen – cá đang được nhân dân triển khai nhân rộng, lượng vàchất lượng, đặc biệt chương trình Zebu hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn [10] Vềcải tạo vườn tạp: Đã đưa một số cây trồng có giá trị kinh tế vào trồng tại vườnnhà và vườn đồi như xoài ghép Trung Quốc, bưởi Bimilo Trung Quốc , cam,chanh [10]

Về chăn nuôi cùng với việc khai thác thế mạnh vùng gò đồi các xã đãtích cực phát triển đàn gia súc, gia cầm cả về số lượng và chất lượng

Về kinh tế trang trại các trang trại với quy mô vừa và nhỏ, hầu hết các trangtrại ở đây phát triển theo hướng nông lâm kết hợp như VAC, VARC, vườnrừng, ao rừng, [10]

Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (cũ) đã đầu tư cho Thanh Hóa

Dự án xây dựng mô hình kinh tế lâm nông kết hợp trên vùng gò đồi nghèokhó xã Cẩm Châu, huyện Cẩm Thủy Sau 5 năm thực hiện, dự án đã tạo đượccác mô hình trình diễn về kinh tế tổng hợp vùng gò đồi gồm cây lâm nghiệp,cây ăn quả, cây nông lâm kết hợp và chăn nuôi để phát huy tối đa tiềm năngđất đai Khi thực hiện dự án Cẩm Châu, chúng ta đã trồng được 230ha cây ănquả tập trung Người dân đã tự bỏ vốn trồng thêm hàng trăm hécta cây ăn quả

Trang 11

phân tán trong vườn rừng, tạo ra một vùng cây ăn quả lớn, trù phú, nhưng dokhông có đầu ra ổn định, giá cả bấp bênh, có năm giá nhãn rớt xuống chỉ còn1.500đồng/kg Nhà nước chưa đầu tư xây dựng hoặc liên kết xây dựng nhàmáy chế biến nên năm 2006, 2007 dân Cẩm Châu đã chặt gần 2.000 gốcnhãn, vải để trồng luồng và quay lại sản xuất lương thực vì ngô sắn đang cógiá cao Những cây nhãn còn lại trên đồi cũng bị tỉa thưa cành nhánh sát đếnngọn Họ không quan tâm đến năng suất cây ăn quả mà nghĩ làm sao rút đất

ra cho sản xuất lương thực càng nhiều càng tốt Rõ ràng bài toán cây ăn quảvùng đồi vẫn loanh quanh chưa có định hướng phát triển bền vững, cũng nhưtrong nông nghiệp với cây mía, cây dứa, cà phê hoặc bò sữa người dân dễmất phương hướng chạy theo thị trường ngắn hạn.[11]

Các nghiên cứu về hệ thống sản xuất ở vùng đồng bằng.

Các hệ thống sản xuất chính là, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi

và nuôi cá quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và chănnuôi động vật dạ dày đơn quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh - chănnuôi và canh tác cây ăn quả hoặc làm vườn quy mô hàng hoá, hệ thống sảnxuất đa canh – chăn nuôi và thu nhập từ các công việc ngoài nông nghiệp và

hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và bán một phần các sản phẩm ở quy

mô sản xuất nhỏ

Trang 12

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm nghiên cứu

Chọn điểm để tiến hành nghiên cứu là xã Phong An, huyện PhongĐiền, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống sản xuất tại xã Phong An

3.4 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đồng bằng xãPhong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Tìm hiểu sự đa dạng hệ thống sản xuất ở cấp độ cộng đồng

- Tìm hiểu đặc điểm nguồn lực của nông hộ

- Nghiên cứu các hệ thống sản xuất ở cấp nông hộ: trồng trọt, chănnuôi, chế biến

- Các khuyến nghị để phát triển sự đa dạng hệ thống sản xuất cấp cộngđồng và nông hộ

3.5 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập thông tin thứ cấp

Thu thập thông tin từ UBND xã Phong An

Thu thập thông tin từ sách báo, internet…

- Thu thập thông tin sơ cấp

Đi thực địa, khảo sát tình hình các hệ thống sản xuất ở xã Phong An

Trang 13

Chọn mẫu 30 hộ trên địa bàn xã Phong An Chọn mẫu ngẫu nhiên cóphân loại bao gồm: 15 hộ thuần nông và 15 hộ có thu nhập thêm từ hoạt độngngành nghề và dịch vụ để so sánh sự khác nhau.

Chọn 15 hộ thuần nông và 15 hộ có thêm ngành nghề, dịch vụ bằngcách: Phỏng vấn người am hiểu (các trưởng thôn) để xin danh sách các hộ ởthôn Phò Ninh, Thượng An, Bồ Điền và xác định xem hộ nào chỉ tham giavào hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nào vừa sản xuất nông nghiệp vừatham gia vào hoạt động ngành nghề, dịch vụ để tiến hành phỏng vấn hộ

Phương pháp phỏng vấn hộ bằng bảng câu hỏi có cấu trúc, bán cấu trúc.Phỏng vấn người am hiểu (các trưởng thôn)

Trang 14

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Tình hình cơ bản của xã Phong An

4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phong An

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của xã được xác định như sau:

Phía Bắc giáp thị trấn Phong Điền, xã Phong Hiền

Phía Tây giáp xã Phong Thu, xã Phong Xuân

Phía Đông giáp huyện Quảng Điền

Phía Nam giáp xã Phong Sơn

Xã Phong An có vị trí trải dài trên tuyến đường quốc lộ 1A, đoạn từ cầu An

Lỗ đến thị trấn Phong Điền Do giáp tuyến đường giao thông huyết mạch của

cả nước nên việc trao đổi mua bán sản phẩm diễn ra rất mạnh mẽ

4.1.1.2 Địa hình

Xã Phong An là xã đồng bằng có diện tích tự nhiên 3.228 ha Địa hìnhđược chia thành 2 vùng: vùng đồng bằng và vùng trung du (gò đồi), với diện tíchvùng đồng bằng lớn hơn nên xã Phong An vẫn được xem là xã đồng bằng Địahình được bao bọc bởi con sông Bồ nên hằng năm thường diễn ra nhiều trận lũlụt gây thiệt hại đến tài sản và mùa màng của bà con Nhưng hằng năm đất đaicũng được những trận lũ này bồi đắp một lượng phù sa tương đối lớn, điều này

có một ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp

4.1.1.3 Điều kiện thời tiết khí hậu

Thời tiết khí hậu là điều kiện đầu tiên và ảnh hưởng trực tiếp nhất đốivới hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân Hoạt động sản xuấtnông nghiệp luôn chịu sự chi phối của thời tiết Điều kiện khí hậu thời tiếtthuận lợi, mưa thuận gió hòa thì hoạt động sản xuất của bà con nông dân gặpnhiều thuận lợi, năng suất và chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo, vụ mùabội thu, đời sống của bà con được cải thiện Ngược lại, nếu điều kiện khí hậuthời tiết diễn biến phức tạp, khó lường trước, thiên tai xảy ra thương xuyênnhư bão, lũ, hạn hán…thì sẽ gây trở ngại rất lớn cho bà con nông dân, năngsuất và chất lượng sản phẩm bị giảm sút, có khi còn trắng tay Khi đó cuộc

Trang 15

sống của người dân sẽ gặp nhiều khó khăn Để giảm thiểu phần nào rủi rotrong sản xuất nông nghiệp thì cần có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu tácđộng của thiên tai đối với cây trồng trong những giai đoạn quan trọng như trổbông, giai đoạn thu hoạch Muốn thực hiện được điều này thì đòi hỏi chúng taphải nắm bắt được diễn biến của khí hậu, thời tiết của địa phương trongnhững năm vừa qua Sau khi tiến hành nghiên cứu về tình hình thời tiết củavùng, địa phương đó thì chúng ta bắt đầu lựa chọn phương án bố trí thời vụgieo trồng sao cho hợp lý (nên gieo trồng những loại giống cây trồng gì, khinào thì nên bắt đầu gieo trồng các loại giống đó, thu hoạch vào thời điểmnào…) để từ đó khuyến cáo cho bà con nông dân thực hiện nhằm giảm tác hạicủa khí hậu, thời tiết xấu mang lại Ngoài ra còn xây dựng các kế hoạch đểphòng chống lũ lụt và hạn hán để đảm bảo hoạt động tưới và tiêu nước khicần thiết.

Xã Phong An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng củakhí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Do địa hình của dải TrườngSơn có ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển tạo nên sự khác biệt lớntrong phân hóa khí hậu của xã

Mùa nóng: Từ tháng 3 đến tháng 8 do chịu ảnh hưởng của gió Tây Namnên khô nóng Nhiệt độ cao trung bình lớn hơn 250C, tháng nóng nhất thường

là tháng 6 hoặc tháng 7 nhiệt độ trung bình 290C, nhiệt độ cao nhất (tháng 6)lên đến 39,40C

Mùa lạnh: Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau do chịu ảnh hưởng của gióĐông Bắc nên mưa nhiều,trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh từ 170C –

ro và có thể mất trắng vụ Hè Thu

Chế độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm trung bình của các tháng được thể hiện ởbảng sau:

Trang 16

Bảng 1: Số liệu thời tiết khí hậu trung bình từ năm 2000 đến năm 2010 của xã Phong

An

Tháng

Nhiệt độ ( 0 C)

Ẩm độ (%)

(Nguồn: Trạm thủy văn KM17- QL1A)

Thủy văn: Địa hình tương đối bằng phẳng, sông ngòi có đặc điểm là ngắn,vào mùa mưa lưu lượng nước lên cao, lưu lượng nước trung bình 3000m/s,mùa khô lòng sông nước khô cạn, lưu lượng nước xuống thấp 3-4m/s

Ở xã có con sông chính là sông Bồ, ngoài ra còn có các hói nhỏ, các bàu,

hồ và một số khe rạch Đặc điểm thủy văn của con sông Bồ như sau:

- Chiều dài: 150km

- Chiều rộng: 50-200m

- Diện tích lưu vực: 680km2

- Lưu lượng nước: mùa lũ là 4000m3, mùa kiệt 0,5m3/s

(Nguồn: Trạm thủy văn KM17- QL1A)

Trang 17

Chế độ mưa:

Xã Phong An có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình hằng nămđạt 2.800 – 3000mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yếu trong mùa mưa, 2tháng có mưa lớn nhất là tháng 10 (lượng mưa: 711,9mm) và tháng 11(lượngmưa: 840,1mm) chiếm 45% tổng lượng mưa toàn năm nên thường có lũ lụtxảy ra vào thời gian này Tháng 3 có lượng mưa thấp nhất với lượng mưa đođược là 61,5mm

Vì lượng mưa lớn thường rơi vào các tháng 9,10,11,12 nên khi bố trílịch thời vụ cần tránh thu hoạch vào các tháng này Cần bố trí vào các tháng

có thời tiết khô ráo để tránh thiệt hại trong thời điểm trước và sau thu hoạch

Độ ẩm:

Độ ẩm không khí trong vùng trung bình đạt 84%, trong mùa mưa độ

ẩm lên đến 90%

Ẩm độ trung bình của các tháng giao động từ 77,3% - 92,6% Từ tháng

10 năm trước đến tháng 2 năm sau, độ ẩm đạt cao nhất 90,4% - 92,6% Độ ẩmcao đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh gây hại, ảnhhưởng xấu tới quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng Vàocác tháng có độ ẩm cao này thì không thuận lợi để thu hoạch các sản phẩm cóhạt như lúa, đậu đỗ các loại Nếu thu hoạch về thì tỉ lệ sản phẩm bị hư hỏngcao, đồng thời sẽ không bảo quản được trong thời gian dài Nhưng đây lại làđiều kiện hết sức thuận lợi cho các giai đoạn như làm bông và phơi màu củacây lúa, và các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các loại cây trồng khác.Các tháng 6,7,8 có độ ẩm thấp nhất trong năm là 77,3% - 78,8% thuận lợi chogiai đoạn phân hóa mầm hoa và ra hoa

Điều kiện tự nhiên của xã như thế này thì việc sản xuất nông nghiệp gặpkhông ít khó khăn Do mùa mưa trùng với mùa có bão nên hay gây ra lũ lụt,ngập úng nhiều vùng trong xã Mùa khô kéo dài, lại chịu ảnh hưởng của gióTây khô nóng nên mực nước của các con sông xuống thấp làm khô cạn nguồnnước nên ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuât nông nghiệp Làm hạn chế khảnăng sinh trưởng và phát triển của cây trồng như lúa, lạc, rau màu

Trang 18

4.1.1.4 Tình hình sử dụng đất đai của xã

Đối với sản xuất nông nghiệp thì đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quantrọng và không có cái gì có thể thay thế được Nó vừa là đối tượng lao độngvừa là tư liệu sản xuất và có tính chất giới hạn theo bề mặt không gian Quy

mô và trình độ sử dụng nguồn lực này có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập từsản xuất nông nghiệp Cụ thể: Nếu một cá nhân, một hộ gia đình hay một tổchức nào mà có trình độ sử dụng đất cao đó là biết cải tạo đất trong quá trình

sử dụng như: Biết cung cấp chất dinh dưỡng cho đất, biết luân canh các loạicây trồng, biết bố trí các loại cây trồng có tính chất cải tạo đất (các cây họđậu)…thì tài nguyên đất sẽ không bị suy thoái đồng thời còn mang lại hiệuquả kinh tế cao Vì vậy việc tìm hiểu tình hình sử dụng đất đai là vô cùng cầnthiết, nó giúp chúng ta sử dụng hợp lí và có hiệu quả loại nguồn lực này Cụthể là nó giúp chúng ta bố trí được cơ cấu cây trồng cho hợp lí từ đó mà nângcao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Đất đai cũng sẽ bị biến đổi theo nhu cầu của thị trường chẳng hạn vấn đề

về nhu cầu về sắn, nguyên liệu giấy, sẽ tạo điều kiện cho vấn đề chuyển đổi mụcđích sử dụng đất như chuyển sang trồng sắn, trồng rừng, đào ao thả cá…

Cụ thể cho thấy rằng nhu cầu về sử dụng đất đai sẽ được thể hiện theobiến động diện tích sử dụng của năm 2000, năm 2005, năm 2010

Trang 19

Bảng 2: Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2010

(Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng đất đai của xã)

Qua bảng 2 ta thấy: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 3228 ha.Đất đai được quy hoạch và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: Đấtsản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, lâu năm, đất nuôi trồng thủysản ), đất thổ cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Cụ thể qua các nămnhư sau:

Năm 2010 tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã là 559,10 hachiếm 17,32 % giảm so với năm 2005 là 129,43 ha và năm 2000 là 120,07 ha

Trang 20

Điều này cho thấy rằng tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm nhưng vẫnchiếm ở mức cao trong nền kinh tế của xã.

Đất chuyên dùng năm 2010 của xã tăng so với năm 2000 là 214,28 ha

và so với năm 2005 là 167,37 ha Tổng diện tích đất chuyên dùng tính đếnnăm 2010 là 612,85 ha chiếm 18,99% so với tổng diện tích đất tự nhiên Điềunày cho thấy rằng đất thổ cư và đất chuyên dùng đang có xu hướng tăng lênnhanh theo thời gian Đất chuyên dùng tăng cũng cho thấy rằng công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ ngày càng phát triển

Đến năm 2010 diện tích đất chưa sử dụng trên toàn xã theo như quyhoạch thì sẽ không còn Tổng diện tích đất chưa sử dụng năm 2005 là 94,98

ha chiếm 2,94% trong đó diện tích đất bằng chưa sử dụng là 55,26ha chiếm1,7% diện tích toàn xã, được phân bổ ở Thượng An và Đông An Diện tíchđất đồi núi chưa sử dụng ở xã còn 39,72 ha chiếm 1,23% diện tích

Với chủ trương chung của Đảng bộ xã Phong An đến năm 2010 khôngcòn diện tích đất chưa sử dụng nên diện tích đất bằng sử dụng dùng để trồngsắn công nghiệp xen lạc nhằm cung cấp nguyên liệu cho nhà máy tinh bột sắn

và tăng thu nhập cho kinh tế hộ gia đình Diên tích đất đồi núi chưa sử dụng

sẽ tiến hành phủ xanh đất trống đồi núi trọc (35,72ha rừng trồng nguyên liệu)

và chuyển 4ha đất khai thác đá bị bỏ hoang sang làm nghĩa trang nhân dâncho các thôn vùng gò đồi

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Dân số và lao động đây là loại tài sản vô cùng quý giá và quan trọng,

nó quyết định đến việc phát triển kinh tế của địa phương Nó có thể làm chonền kinh tế của địa phương phát triển mạnh nhưng ngược lại thì nó có thể làmcản trở sự phát triển nền kinh tế của địa phương Khi mà việc làm và đời sốngcủa nhân dân được đảm bảo thì khi đó nó thể hiện mặt tích cực của nó Ngượclại khi mà nhân dân thiếu việc làm, không có thu nhập, đời sống không đảmbảo thì khi đó sẽ thể hiện mặt tiêu cực của nó như thường xảy ra các tệ nạn xãhội như trộm cắp, nghiện ngập Do đó mà muốn có một nền kinh tế phát triểnthì trước hết phải quan tâm đến việc làm và đời sống của nhân dân, nếu không

Trang 21

thì sẽ không bao giờ có sự phát triển Với ý nghĩa này tôi đã tìm hiểu cơ cấudân số và lao động của xã

Bảng 3: Tình hình dân số và lao động của xã Phong An

Năm 2009 Năm 2010 Số

lượng

Tỉ lệ ( %)

Số lựơng

Tỉ lệ ( %)

2 Bình quân lao động/hộ Lao động 2,29 2,27

3.Bình quân lao động nông

nghiệp/hộ

Lao động

(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã năm 2009, 2010 )

Qua bảng 3 trên ta thấy rằng: Hiện nay toàn xã có 2468 hộ tăng 80 hộ

so với năm 2009 Trong đó có 1910 hộ là tham gia sản xuất nông nghiệp, 558

hộ là hộ sản xuất phi nông nghiệp Trong khoảng thời gian hai năm, năm

2009 đến 2010 thì số hộ sản xuất nông nghiệp không thay đổi, còn số hộ phi

Trang 22

sản xuất nông nghiệp tăng lên 80 hộ Số nhân khẩu của xã năm 2010 là 12316người tăng 122 người so với năm 2009 Số nhân khẩu nam chiếm 62,19% ,còn số nhân khẩu nữ chỉ chiếm 37,81% Số nhân khẩu nam có xu hướng giảmdần, còn số nhân khẩu nữ có xu hướng tăng dần từ 37,76 % - 37,81 %

Tổng số lao động cũng có xu hướng tăng dần từ 5475 lao động tăng lên

5600 lao động Lao động nữ chiếm 48%, còn lao động nam chiếm 52%, đây

là một thuận lợi trong sản xuất nhất là trong sản xuất nông nghiệp cần nhữnglao động khỏe mạnh Lao động nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn hơn lao động phinông nghiệp và lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần, ngược lại thì laođộng phi sản xuất nông nghiệp có xu hướng tăng dần Lao động sản xuất nôngnghiệp từ 60,38 % xuống còn 60,18 % Lao động phi sản xuất nông nghiệp từ39,62% lên tới 39,82 % Bình quân mỗi hộ gia đình có 4,99 người, có 2,27lao động trong đó có 1,36 là lao động nông nghiệp Số nhân khẩu/hộ, số laođộng/hộ và số lao động nông nghiệp/hộ đều có xu hướng giảm dần trong hainăm 2009 và 2010 Năm 2009, trung bình mỗi hộ gia đình có 5,10 ngườinhưng đến năm 2010 thì giảm xuống còn 4,99 người Bình quân lao động/ hộnăm 2010 là 2,27 người trong khi năm 2009 là 2,29 người Lao động nôngnghiệp năm 2009 là 1,38 lao động, còn năm 2010 là 1,36 lao động, bởi vìnhiều lí do như: Xã hội ngày càng phát triển thì mỗi con người được học hànhđầy đủ hơn do đó mà tỉ lệ công dân đi học ngành, học nghề là lớn, hai nữa do

có nhiều khu công nghiệp ra đời, nó đã thu hút rất nhiều lao động, nhất là laođộng từ sản xuất nông nghiệp Điển hình có 50 lao động được đào tạo tạitrung tâm dạy nghề Phong Điền và đã hợp đồng lao động tại nhà máy SCAVIThừa Thiên Huế năm 2009 và 150 lao động năm 2010

4.1.2.2 Tình hình cơ bản về giao thông và thủy lợi

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình sản xuất Cơ sở hạ tầng nó biểu hiện cho sự phát triển củamột quốc gia, một vùng miền, một địa phương…Ở các quốc gia phát triển, cơ

sở hạ tầng và hệ thống giao thông, thủy lợi hiện đại đã góp phần đẩy nhanhquá trình sản xuất Ở vùng nông thôn và thành thị cũng có sự khác biệt về hệthống giao thông và cơ sở hạ tầng Đó là những minh chứng về vai trò của cơ

sở hạ tầng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 23

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp thì yếu tố giao thông và thủy lợiđóng vai trò then chốt, quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất Nếu hệthống giao thông đi lại thuận lợi thì quá trình vận chuyển, lưu thông hàng hóagiữa các nơi được diễn ra nhanh chóng và giúp giảm thiểu tỉ lệ hàng hóa bị hưhỏng trong quá trình vận chuyển Làm giảm bớt tổn thất cho người dân.Ngược lại, nếu giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn thì quá trình vậnchuyển, lưu thông hàng hóa sẽ diễn ra chậm chạp, gây hư hỏng đối với sảnphẩm Đặc biệt là đối với các sản phẩm dễ vỡ, dễ dập nát…Điều này sẽ gâytổn thất lớn về mặt tài chính cho người sản xuất.

Đối với sản xuất nông nghiệp thì nước cũng đóng vai trò hết sức quantrọng Ông cha ta từ xưa đã có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.Nước luôn là yếu tố đứng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp Trong mộtgiai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây trồng mà bị thiếu nước thì sẽ làmgiảm năng suất và chất lượng sản phẩm của cây trồng đó Ngược lại, nếutrong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, hệ thốngtưới tiêu nước luôn được đảm bảo thì năng suất của cây trồng cũng được tănglên và chất lượng sẽ được cải thiện rất nhiều

+ Giao thông:

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn xã nói chung chưa hoànchỉnh, đoạn đường tỉnh lộ 11B, đoạn đường quốc lộ 1A đi qua địa phận xã,đường WB2 Đồng Lâm đi Phong Xuân đã được trải nhựa Tuy nhiên cả 3 đoạnđường này qua địa phận xã tương đối ngắn Cụ thể: Tuyến tỉnh lộ chạy qua trênđịa bàn xã có chiều dài 3,3 km, tuyến WB2 đi Phong Xuân dài 3,9 km và quốc

lộ 1A dài 7,5 km Đây là những tuyến đường huyết mạch quan trọng đối vớiđịa phương vì nó góp phần thúc đẩy thương mại và dich vụ phát triển

xã, đồng thời có sự đóng góp từ nguồn ngân sách của huyện Phong Điền Năm

2010, tiếp tục tiến hành nâng cấp và kiên cố 2 km kênh mương và bê tông hóagiao thông nông thôn thêm 2km Tiến hành sỏi hóa 3 km vùng nội đồng

Trang 24

4.2 Đặc điểm hệ thống sản xuất của cộng đồng

Qua quá trình điều tra, tìm hiểu thực tế ở địa phương thì tôi nhận thấy ở

xã Phong An có cả hệ thống sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôitrồng thủy sản) và hệ thống sản xuất phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp,ngành nghề, buôn bán…) Các hệ thông này có sự khác nhau về quy mô, năngsuất và số hộ tham gia

Tỉ lệ (%)

Diện tích (ha)

Tỉ lệ (%) 1.Lúa nước

(Nguồn: Báo cáo kinh tế-xã hội của xã năm 2009,2010)

Qua bảng 4 ta thấy được: Tổng diện tích gieo trồng của năm 2009 và

2010 là có sự khác nhau Năm 2010 là 895,34 ha nhiều hơn năm 2009 là 15,16

ha do diện tích trồng lúa tăng lên và có sự chuyển đổi trong phương thức canhtác của các cây trồng cạn Diện tích trồng lúa tăng lên là do hệ thống thủy lợi

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bùi Huy Đáp, Cơ cấu nông nghiệp việt nam, NXB nông nghiệp, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu nông nghiệp việt nam
Nhà XB: NXB nông nghiệp
[2]. Lê Quốc Hưng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho vùng gò đồi tỉnh Hà Tây, luận án PTS khoa học nông nghiệp, viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho vùng gò đồi tỉnh Hà Tây
[3]. Nguyễn Thị Thanh, Bài giảng trồng trọt đại cương, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng trồng trọt đại cương
[4]. Nguyễn Duy Tính, nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông hồng và bắc trung bộ, NXB nông nghiệp Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông hồng và bắc trung bộ
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
[5]. Nguyễn Viết Tuân, Bài Giảng Hệ Thống Nông Nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài Giảng Hệ Thống Nông Nghiệp
[6]. Đào Thế Tuấn, cơ sở khoa học xác định cơ cấu cây trồng, NXB nông nghiệp, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơ sở khoa học xác định cơ cấu cây trồng
Nhà XB: NXB nông nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Số liệu thời tiết khí hậu trung bình từ năm 2000 đến năm 2010  của xã Phong An - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1 Số liệu thời tiết khí hậu trung bình từ năm 2000 đến năm 2010 của xã Phong An (Trang 16)
Bảng 2: Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã (Trang 19)
Bảng 3: Tình hình dân số và lao động của xã Phong An - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3 Tình hình dân số và lao động của xã Phong An (Trang 21)
Bảng 4: Hệ thống trồng trọt của xã Phong An - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Hệ thống trồng trọt của xã Phong An (Trang 24)
Bảng  5: Diện tích và tỉ lệ gieo trồng của một số giống lúa trồng tại địa phương năm 2009, 2010 - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
ng 5: Diện tích và tỉ lệ gieo trồng của một số giống lúa trồng tại địa phương năm 2009, 2010 (Trang 27)
Bảng 8 : Quy mô của các ngành nghề khác của xã - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 8 Quy mô của các ngành nghề khác của xã (Trang 33)
Bảng 10: Đặc điểm của các nhóm hộ thuần nông nghiệp - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 10 Đặc điểm của các nhóm hộ thuần nông nghiệp (Trang 35)
Bảng 11: Cơ cấu thu nhập thuần của hộ thuần - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 11 Cơ cấu thu nhập thuần của hộ thuần (Trang 36)
Bảng 12: Thông tin về nhóm hộ kiêm - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 12 Thông tin về nhóm hộ kiêm (Trang 38)
Bảng 13: Đặc điểm của các nhóm hộ kiêm - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 13 Đặc điểm của các nhóm hộ kiêm (Trang 38)
Bảng 14: Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ kiêm - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 14 Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ kiêm (Trang 40)
Bảng 15: Cơ cấu thu nhập của ngành nghề và dịch vụ - tìm hiểu sự đa dạng các hệ thống sản xuất của nông hộ ở vùng đồng bằng ( xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 15 Cơ cấu thu nhập của ngành nghề và dịch vụ (Trang 41)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w