PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước doĐảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã c
Trang 1PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước doĐảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã cónhững bước chuyển biến tích cực, phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởngkhá, quan hệ sản xuất từng bước phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hòa nhập với nền kinh tế quốc
tế Cơ cấu của nền kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng côngnghiệp hóa và từng bước hiện đại hóa Trong cơ cấu kinh tế chung, xét cả vềgiá trị sản phẩm (GDP) và về lao động, tỷ trọng công nghiệp tiếp tục tăng lên,
tỷ trọng nông nghiệp giảm dần Tuy vậy cơ cấu ngành kinh tế trong nhữngnăm đổi mới vừa qua còn bộc lộ nhiều yếu kém, tốc độ tăng trưởng chưatương xứng với mức đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấungành nghề còn nhiều lúng túng, mang nặng tính tự phát và thiếu bền vững
Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, lao động nông nghiệp chuyển sang cácngành nghề khác còn rất khó khăn [8]
Xây dựng nông thôn mới là mục tiêu quốc gia đang được tiến hành trênphạm vi cả nước ta theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư ngày 05/8/2008 củaTrung ương, đi cùng với mục tiêu này là bộ tiêu chí quốc gia về xây dựngnông thôn mới với 19 tiêu chí, đây là cơ sở để kiểm tra, đánh giá công nhận
xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Trong đó có tiêu chí về cơ cấu lao động, tỷ
lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là35% Để đạt được tiêu chí thì việc thực hiện chuyển đổi ngành nghề đóng vaitrò quan trọng
Hòa Vang là huyện nông thôn duy nhất của thành phố Đà Nẵng, mới đâyhuyện đã chính thức triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới theo bộtiêu chí quốc gia, với mục tiêu xây dựng từ 7-8 xã đạt bộ tiêu chí này theotinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV (nhiệm kỳ 2010-2015) và xã Hòa Phong là xã được chọn thí điểm để thực hiện mục tiêu này.Cùng với sự phát triển của thành phố, huyện Hòa Vang cũng đang có bước
Trang 2chuyển biến đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Chỉ tính riêngnăm 2010, tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện tăng mạnh và đạt 630,8 tỉ đồng,bằng 1,6 lần so với năm 2009 Sự phát triển các ngành đi đúng định hướngchuyển dịch cơ cấu với tổng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 396 tỉđồng, tăng 15,7%; tổng giá trị sản xuất thương mại - dịch vụ đạt 221 tỉ đồng,tăng 16,6%; từ đó xác định tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế của huyện
là nông nghiệp 37%, công nghiệp 35,2%, dịch vụ 27,8% [2] Bên cạnh đó, thìtrong đời sống nông thôn ở Hòa Vang cũng đang tồn tại những vấn đề cầngiải quyết trong quá trình xây dựng nông thôn mới Đó là việc tổ chức sảnxuất để nâng cao đời sống, thu nhập của người nông dân; trong đó có cả việctạo cơ chế thu hút đầu tư về nông thôn và chuyển dịch cơ cấu lao động tạichỗ Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn vẫn phụ thuộc nhiều vào thànhphố chưa có chuyển biến mạnh ở trên địa bàn
Trong khi đó, xã Hòa Phong là một xã thuần nông, ít các ngành nghềtruyền thống, để đạt được tiêu chí về cơ cấu lao động xã Hòa Phong phải đẩynhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, theo hướngtăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, tạo việc làm thu hút nhiều lao động tại địaphương, điều này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ rất lớn của Nhà nước và các tổchức phi chính phủ Chuyển đổi ngành nghề là một nhiệm vụ trọng tâm và
khó khăn, xuất phát từ vấn đề đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề tại xã Hòa Phong - huyện Hòa Vang - TP Đà Nẵng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng chuyển đổi cơ cấu ngành nghề tại xã Hòa Phong
- Vai trò của chuyển đổi cơ cấu ngành nghề đến đời sống của người dân xãHòa Phong
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ cấungành nghề tại xã Hòa Phong
Trang 3PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Theo Trần Hồi Sinh, 2006, “Cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trùphản ánh cấu trúc bên trong của một hệ thống, là tập hợp những mối quan hệ
cơ bản tương đối giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó, trong một thờigian nhất định
Kinh tế nông thôn là một khái niệm dùng để thể hiện một tổng thể kinh
tế - xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn Nó bao gồm: nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp và cả công nghiệp, dịch vụ… trên địa bàn đó Khi nói tớikinh tế nông thôn, chúng ta thường liên tưởng tới một địa bàn mà ở đó hoạtđộng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Nhưng ngày nay, với sự phát triển củalực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội thì nông thôn không chỉ đơnthuần là khu vực chỉ có hoạt động chủ yếu là nông nghiệp, mà phát triển cảhoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Như vậy, cơ cấu kinh tế nông thôn là cấu trúc bên trong của kinh tế nông thôn Nó bao gồm các bộ phận cấu thành nên cơ cấu kinh tế nông thôn, các bộ phận đó có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo tỉ lệ nhất định về mặt số lượng, liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong điều kiện thời gian và không gian nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế nông thôn [4].
2.1.2 Cơ cấu ngành nghề
Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chứcnăng trong hệ thống phân công lao động xã hội Nó phản ánh một loại hoạtđộng nhất định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, được phân biệttheo tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, đặc tính của sản phẩm sảnxuất ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất Các ngành trong cơcấu kinh tế nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triểncủa phân công lao động xã hội Trong cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm cácngành sau:
Trang 4Ngành nông nghiệp: Bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâmnghiệp và thủy sản Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất có sớm nhất tồntại và phát triển như một ngành chủ yếu trong khu vực nông thôn Ngànhnông nghiệp phát triển gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất vàphân công lao động xã hội Từ sản xuất mang tính chất tự cung, tự cấp vớinhững ngành rộng, đến sản xuất hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao, tạo ranhiều sản phẩm cung cấp cho xã hội và từ đó phân ra các ngành hẹp hơn, chitiết hơn.
Ngành công nghiệp: Công nghiệp nông thôn bao gồm sản xuất vật liệuxây dựng, khai thác, dệt may, chế biến, thủ công nghiệp và ngành nghề truyềnthống Xu hướng của sự phát triển các ngành nghề công nghiệp nông thôn làngày càng phát triển nhanh và chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế nông thôn
Ngành dịch vụ: Bao gồm dịch vụ tài chính, dịch vụ thương mại, dịch vụ
kỹ thuật và dịch vụ đời sống Các ngành dịch vụ trong nông thôn ngày càngphát triển để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống trong nông thôn Tỉ trọngcủa ngành dịch vụ ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn là tập hợp các bộ phận, các ngành sản xuất và dịch vụ trong nông thôn – cấu thành tổng thể các ngành trong kinh tế nông thôn và mối tương quan tỉ lệ giữa các bộ phận cấu thành so với tổng thể [4]
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông thôn là một quátrình chuyển từ trạng thái cơ cấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp với sự phát triểncủa khoa học công nghệ, nhu cầu thị trường và sử dụng hiệu quả mọi yếu tốnguồn lực của đất nước Như vậy, thực chất chuyển dịch cơ cấu ngành là thựchiện phân công lại lao động giữa các ngành cho phù hợp với yêu cầu kháchquan Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành và nội bộ ngành trong cơ cấu kinh
tế nông thôn là phải hướng tới một cơ cấu ngành hợp lý, đa dạng Trong đó,cần phát triển các ngành chủ lực có nhiều lợi thế để đáp ứng yêu cầu trongnước và xuất khẩu Đồng thời, phải kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngành với cơcấu vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế
Trang 52.1.3 Cơ cấu lao động
Lao động bao giờ cũng là nguồn gốc của mọi của cải Lao động là hoạtđộng có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải để phục vụ
cho con người và xã hội Cơ cấu lao động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế tổng hợp, thể hiện tỷ lệ của từng bộ phận lao động nào đó chiếm trong tổng
số, hoặc thể hiện sự so sánh của bộ phận lao động này so với bộ phận lao động khác [7].
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế thể hiện tỷ lệ lực lượng lao độngtrong ba nhóm ngành lớn là nông – lâm – thủy sản, công nghiệp xây dựng,thương mại và dịch vụ và theo các phân ngành trong từng nhóm ngành Cơcấu lao động theo nhóm ngành kinh tế quốc dân có mối quan hệ chặt chẽ vàphản ảnh trình độ phát triển kinh tế - xã hội Sự biến đổi cơ cấu lao động theongành trong quan hệ với trình độ phát triển kinh tế - xã hội (thể hiện bằng chỉtiêu quy mô, tốc độ và cơ cấu GDP) diễn ra theo quy luật là: trình độ pháttriển kinh tế xã hội càng cao, GDP đầu người càng cao, kinh tế càng phát triển
và chất lượng nguồn nhân lực càng cao thì lao động làm việc trong khu vựcnông nghiệp càng giảm về tuyệt đối và tỷ trọng Việc chuyển lao động từ khuvực nông nghiệp có năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đòihỏi phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng suất lao động cao hơn, cótác động quyết định làm tăng nhanh năng suất lao động xã hội
Hiểu một cách đơn giản, chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi(tăng, giảm) của từng bộ phận trong tổng số lao động theo một không gian vàmột khoảng thời gian nào đó [1], [6] Chuyển dịch cơ cấu lao động là mộtkhái niệm nêu ra trong một không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi sốlượng và chất lượng lao động Đó chính là quá trình tổ chức và phân công lạilao động xã hội
2.2 Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động gắn liền và tác động qua lại với cơ cấu kinh tế Cơ cấulao động được chuyển dịch tuỳ theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, phục
vụ và đáp ứng cho chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Ngược lại, khi cơ cấu lao
Trang 6động được chuyển dịch thuận lợi, lại tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấukinh tế thuận lợi và đòi hỏi phải chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm nâng cao năng suất lao động, nângcao đời sống của người lao động thúc đẩy sản xuất phát triển Chuyển dịch cơcấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là giảm tỷ trọng laođộng nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp – xây dựng, thươngmại – dịch vụ sẽ tạo điều kiện tích lũy vốn để tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh
tế và chuyển dịch lao động đúng hướng, hiệu quả
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành là quá trình di chuyểnlao động từ ngành này sang ngành khác Chính sự di chuyển này đã tác độngmạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành Quá trình chuyển dịch cơcấu ngành nhanh hay chậm phụ thuộc vào tốc độ quá trình chuyển dịch cơ cấulao động Nếu tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động nhanh sẽ thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu ngành nhanh hơn và ngược lại
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và việc tăng lượng vốnđầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ Khi đó cầu lao động trong nôngnghiệp sẽ giảm do có áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nôngnghiệp, cầu lao động trong hai ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên Mộtvấn đề đặt ra là: Nếu quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra nhanhchóng, tức là khi có sự di chuyển nhanh về lao động từ ngành nông nghiệphoặc một bộ phận lao động khác trong lực lượng lao động sang ngành côngnghiệp và dịch vụ thì cầu về lao động của ngành công nghiệp và dịch vụ đượcđáp ứng, kết quả là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra nhanh Ngượclại, nếu cầu về lao động của ngành công nghiệp và dịch vụ không được đápứng thì quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành sẽ chậm lại [3]
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành vừa là hệ quả của quátrình chuyển dịch cơ cấu ngành vừa là yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình chuyểndịch cơ cấu ngành kinh tế
Trang 72.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam và Đà Nẵng
2.3.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Cơ cấu GDP
Để đánh giá nền kinh tế của một nước, người ta căn cứ vào cơ cấungành trong GDP Số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới (WB) chỉ rõ sựkhác nhau về cơ cấu ngành giữa các nhóm nước có trình độ phát triển kinh tếkhác nhau Các nước kinh tế phát triển thường có tỷ trọng dịch vụ rất lớn.Ngược lại, các nước đang phát triển có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nôngnghiệp thì phần đóng góp của dịch vụ trong cơ cấu GDP thường là thấp Xuthế chung khi chuyển từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tếphát triển là giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp cả trong cơ cấu lao động lẫntrong cơ cấu GDP, đồng thời tăng tương ứng trong cơ cấu GDP và lao độngcủa khu vực công nghiệp ở giai đoạn đầu và tăng cơ cấu lao động, cơ cấuGDP của khu vực dịch vụ ở giai đoạn sau
Trong nửa cuối thập kỷ 80 đã diễn ra quá trình giảm mạnh tỷ trọngcông nghiệp (ngành sử dụng nhiều vốn, ít lao động) và tăng tỷ trọng cácngành nông nghiệp (sử dụng ít vốn, nhiều lao động) thì trong nửa đầu thập kỷ
90 đã có một quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ đi kèm với giảm tỷ trọngnông nghiệp và bùng nổ khu vực dịch vụ Tiếp đến trong nửa cuối thập kỷ 90
và kéo dài đến nay, chúng ta thấy quá trình công nghiệp hóa được đẩy nhanhhơn trong khi tỷ trọng của cả hai khu vực nông nghiệp và dịch vụ đều giảmtương đối
Bảng 1: Cơ cấu GDP nước ta phân theo ngành kinh tế
Trang 8Tỷ trọng trong GDP của ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ38,1% năm 1990 xuống còn 20,6% năm 2008 Ngành công nghiệp – xây dựng
và thương mại – dịch vụ qua các năm có tỷ trọng tăng dần trong GDP cảnước, hai nhóm này có tỷ trọng lần lượt là 22,7% và 38,6% năm 1990 tănglên 41,6% và 38,7% trong tổng GDP cả nước, tăng tương ứng là 18,9% và0,1% Trong đó, tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp – xây dựng làtăng chủ yếu, ngành thương mại – dịch vụ tăng không đáng kể
Cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước tatheo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Số lao động trong các ngànhcông nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nôngnghiệp ngày càng giảm đi
Bảng 2: Cơ cấu lao động nước ta phân theo ngành kinh tế
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sựchuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3%năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến
Trang 9chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúcđẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêmcác hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nôngnghiệp thuần túy giảm dần Tỉ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nhiệp, ngưnghiệp) đã giảm 9,87%; tỉ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số
hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% sovới năm 2000
Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh tế tư nhân được phát triểnkhông hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề màpháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càngđược đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóatập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sứcsản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăngtrưởng và phát triển kinh tế
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xâydựng các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh chosản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thủy sản, hình thànhcác vùng sản xuất hàng hóa trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củatừng vùng Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, gópphần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọngsản xuất hàng hóa, hướng về xuất khẩu
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hộinhập vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỉ lệ xuất khẩu/GDP ngày càng tăng,nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001,
và đến năm 2005 là trên 50% Tổng kiêm ngạch xuất khẩu 5 năm 2001-2005
đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiếncho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm,gấp đôi năm 2000 Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao 40 tỉUSD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng 21,5%
so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỉ lệ xuất khẩu/GDP đạt khoảng 70%
Trang 10Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hảisản… đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Các hoạt động kinh tếđối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triểnchính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã cóbước phát triển tích cực, tăng nhanh từ năm 2004 đến nay.
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là mộttrong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả,thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp
để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách,vốn tích lũy, cán cân thanh toán quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định và pháttriển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững Các chương trình mục tiêu quốcgia về xóa đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho ngườinghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt Tỉ lệ hộ nghèo
đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn13,1% Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lênhạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước…
Những hạn chế, bất cập của chuyển dịch cơ cấu kinh tế: So với yêu cầuđặt ra, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chất lượng chưa cao.Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đạitrong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệnhìn chung, vẫn ở mức trung bình Công nghiệp chế biến, đặc biệt là nhữngngành công nghệ cao chưa phát triển Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liêntục trong những năm gần đây Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám
và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng, dịch vụ tư vấn chậmphát triển Tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch
vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt Một sốngành có tính chất động lực như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ,tính chất xã hội hóa còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước [5]
Trang 112.3.2 Tình hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở thành phố Đà Nẵng
Cơ cấu GDP
Khu vực nông nghiệp mặc dù giá trị đóng góp vào GDP toàn thànhphố vẫn tăng qua các năm xong tỷ trọng trong GDP của khu vực này có xuhướng giảm
Với vị trí là trung tâm kinh tế của miền Trung, ngành công nghiệp củathành phố Đà Nẵng luôn duy trì được nhịp độ phát triển, tốc độ tăng trưởngbình quân 20%/năm Thành phố đang phấn đấu trở thành một trong những địaphương đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của miềnTrung, trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 và nhanh chóng cùngnền kinh tế cả nước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới
Dịch vụ ngày càng chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, là yếu tốđóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng của thành phố Đà Nẵng nói riêngcũng như cả nước nói chung Chính sự gia tăng nhanh chóng của ngành dịch
vụ giúp thành phố trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn, giaodịch tài chính, tín dụng, giáo dục - đào tạo, y tế - cứu trợ xã hội khu vực NamTrung Bộ
Bảng 3: Cơ cấu GDP Đà Nẵng phân theo ngành kinh tế
Trang 12Kinh tế thành phố Đà Nẵng đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cựcphù hợp với xu thế phát triển chung của cả nước Cơ cấu kinh tế hiện tại đãthể hiện được xu hướng phát triển của thành phố trong tiến trình hội nhậpđồng thời phù hợp với tiến trình tự nhiên cũng như xã hội, khai thác hiệu quảcác nguồn lực sẵn có và với cơ cấu đó thành phố đã đạt được nhiều thành tựuđáng kế về kinh tế - xã hội.
Cơ cấu lao động
Bảng 4: Cơ cấu lao động Đà Nẵng phân theo ngành kinh tế
(Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2001 - 2008)
Cơ cấu lao động của thành phố đã có sự chuyển dịch phù hợp với xuhướng chuyển dịch chung của cơ cấu ngành kinh tế tức là tăng tỷ trọng laođộng trong các ngành dịch vụ và công nghiệp - xây dựng, giảm tương đối tỷtrọng lao động trong ngành nông - lâm - thủy sản
Cơ cấu vốn đầu tư
Trong 10 năm qua tổng vốn đầu tư của thành phố tăng liên tục qua cácnăm Cơ cấu vốn đầu tư thành phố chuyển dịch theo hướng tích cưc, chủ yếuđầu tư vào khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, trong đó dịch vụ vẫnchiếm ưu thế hơn Điều này cũng phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố và xu thế hộinhập kinh tế
Trang 13Bảng 5: Vốn đầu tư của Đà Nẵng vào các ngành kinh tế
Năm
Tổng vốn
đầu tư
Nông lâm thủy sản
(Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 2001 - 2008)
Nguồn vốn đầu tư của thành phố tập trung vào phát triển thương mại dịch vụ và công nghiệp xây dựng Tỷ trọng đầu tư cho ngành nông - lâm -ngư giảm dần qua các năm, năm 2004 là 1,71% thì đến năm 2008 chỉ còn0,22% Đồng thời, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăngdần Trong đó tỷ trọng ngành thương mai – dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất83,26% năm 2008
-Độ mở của cơ cấu kinh tế: Kể từ sau năm 1986, nước ta đã mở cửa giaolưu buôn bán với nước ngoài Hiện nay, Đà Nẵng có quan hệ ngoại giao vớigần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong cơ cấu nhóm hàng xuấtkhẩu, quy mô nhóm hàng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiểm tỷ lệ lớnnhưng không ổn định, nhóm hàng nông - lâm - thủy sản đang có xu hướnggiảm, nguyên nhân này là do các doanh nghiệp chưa chủ động được nguồnhàng, một số mặt hàng chưa thực sự tạo lập được thương hiệu trên trườngquốc tế, thêm vào đó các công ty xuất nhập khẩu chưa thực sự chủ động trongquan hệ với nhà cung cấp Một số mặt hàng xuất khẩu tăng khá, nhất là cácmặt hàng chủ lực: hải sản đông lạnh, giày da… Trong đó, mặt hàng thủy sảnmặc dù sản lượng liên tục tăng nhưng do quy trình chế biến, nuôi trồng chưa
Trang 14đáp ứng quy chuẩn của thị trường khó tính như Mỹ, EU do đó sản lượng xuấtkhẩu mặt hàng này không thực sự ổn định.
Sau 13 năm phát triển nhanh, đa dạng, chú trọng thu hút các nguồn lựcđầu tư trong và ngoài nước, năm 2010 thế và lực của thành phố Đà Nẵng đã ởtầm cao hơn và phát triển theo hướng bền vững, đó là coi trọng an sinh - xãhội và môi trường Cho đến nay, cơ cấu kinh tế của thành phố đã chuyển dịch
và được xác định là dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì cơ cấu kinh tế thành phố cũngcòn tồn tại không ít những hạn chế: Cơ cấu ngành vẫn còn chứa đựng nhiềuyếu tố chưa hợp lý, trình độ sản xuất và năng suất lao động đã được cải thiệnnhưng văn còn lạc hậu, công tác quản lý của Nhà nước đối với các doanhnghiệp còn chồng chéo và chưa đồng bộ, hiệu quả sử dụng vốn của các ngànhchưa cao
Trang 15PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Hòa Phong
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai và tình hình sử dụng đấtđai của xã
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình dân số, lao động, loại hộ và cơ cấu ngành nghề, cơ sở hạ tầngcủa xã
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ điều tra
3.1.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành nghề của xã Hòa Phong
Tiến trình chuyển dịch cơ cấu các ngành nghề
Các cơ chế chính sách để chuyển dịch cơ cấu ngành nghề
Bài học kinh nghiệm/tồn tại
3.1.4 Những ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu ngành nghề đến đời sống của người dân xã Hòa Phong
Ảnh hưởng của chuyển đổi ngành nghề đến nguồn vốn tự nhiên
Ảnh hưởng của chuyển đổi ngành nghề đến nguồn vốn tài chính
3.1.5 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề tại xã Hòa Phong
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm
Nghiên cứu được thực hiện ở xã Hòa Phong – huyện Hòa Vang – TP
Đà Nẵng Việc chọn điểm nghiên cứu dựa trên các tiêu chí: (1) Xã thí điểm
thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 – 2015, (2) Xã có thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, (3)
Thuận lợi cho việc điều tra, thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu
Trang 163.2.2 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được
thu thập từ: các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã năm 2008, 2009,2010; các báo cáo thống kê của xã qua các năm gần đây, quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội Huyện đến năm 2020, các chính sách về chuyển đổi
cơ cấu ngành nghề và từ các báo cáo khoa học, kết quả nghiên cứu của các tácgiả đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, internet… Việc thu thập nhữngthông tin này nhằm tìm hiểu quá trình chuyển đổi ngành nghề trong nước vàtại địa phương, nắm được các khái niệm cơ bản và các vấn đề có liên quanđến chuyển đổi ngành nghề
- Thảo luận nhóm: Nghiên cứu tiến hành thảo luận nhóm với 2 nhóm
đối tượng khác nhau: (1) Thảo luận nhóm với cán bộ xã: phó chủ tịch xã phụtrách kinh tế - xã hội, cán bộ phụ trách lao động thương binh xã hội, chủ tịchhội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận nhằm tìm hiểu quá trìnhchuyển đổi ngành nghề tại địa phương cũng như những khó khăn và thuận lợitrong quá trình chuyển đổi (2) Thảo luận nhóm người dân: tiến hành thảoluận hai lần, bao gồm những người có thực hiện chuyển đổi ngành nghề nhằmtìm hiểu những thay đổi trong đời sống của người dân khi chuyển đổi ngànhnghề, những thuận lợi, khó khăn khi chuyển đổi và những ý kiến, chia sẻ củangười dân
- Phỏng vấn người am hiểu: Bí thư Đảng ủy, chủ tịch xã, phó chủ tịch
xã phụ trách kinh tế - xã hội, cán bộ phòng nông nghiệp, trưởng thôn nhằmtìm hiểu quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, những thuận lợi và khókhăn trong quá trình thực hiện chuyển đổi ngành nghề
- Phỏng vấn hộ: Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 30 hộ Các hộ nàyđược chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có định hướng Hộ đượcchọn là hộ có đầy đủ các tiêu chí sau: (1) Hộ có thực hiện chuyển đổi ngànhnghề, (2) Hộ chuyển đổi ngành nghề ngay tại địa phương Việc phỏng vấn hộnhằm có cái nhìn toàn diện về quá trình chuyển đổi ngành nghề tại địaphương và những thay đổi trong đời sống của người dân khi chuyển đổingành nghề Thông tin thu thập là các thông tin cơ bản về hộ điều tra: tuổi,
Trang 17trình độ học vấn, nhân khẩu, lao động, tình hình sử dụng đất của hộ; thông tin
về thu nhập, chi tiêu của hộ và những thuận lợi, khó khăn trong quá trìnhchuyển đổi ngành nghề
3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu định lượng được mã hóa, nhập và xử lý thống kêbằng các phép tính trên phần mềm Excel Thông tin định tính đơn giản hóacác đoạn văn trong dữ liệu ghi chép được và các báo cáo, phân tích theo chủ
đề và nội dung
Trang 18PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Hòa Phong
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Hòa Phong Hòa Phong là xã trung tâm hành chính của huyện HòaVang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 13 km về hướng Nam Hòa Phong có
vị trí tương đối thuận lợi là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hóa xã hội giữa các xãtrên địa bàn và các địa phương khác, có đường Quốc lộ 14B và tuyến đườngĐT604 đi qua, có sông Túy Loan cùng khu phố chợ Túy Loan rất phát triển
Hình 1: Vị trí điểm nghiên cứu
Hòa Phong
Đà Nẵng
Trang 19Hòa Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, có 2 mùa: mùamưa và mùa nắng rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 1năm sau và mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 9 Nhiệt độ trung bình hằng năm là25,5oC, độ ẩm tương đối trung bình là 82%, lượng mưa bình quân hằng năm
là 2.500 mm Tuy nhiên, do lượng mưa thường tập trung từ tháng 10 đếntháng 12, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm, nên thường gây lũ lụt, ngậpúng Do nằm trong khu vực miền Trung nên Hòa Phong cũng chịu ảnh hưởngcủa bão, trung bình hằng năm khu vực miền Trung có khoảng 2 - 6 cơn bão
Bảng 6: Tình hình sử dụng đất của xã Hòa Phong giai đoạn 2008 - 2010
Loại đất
Diện tích (ha)
Tỉ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỉ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỉ lệ (%)
Đất nông nghiệp 1.041 56,18 1.038 56,02 1.034 55,80
Đất phi nông nghiệp 705 38,05 720 38,86 732 39,50
(Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Hòa Phong giai đoạn 2008 – 2010)
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1853 ha Trong những năm gầnđây, cùng với việc đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển cơ sở
hạ tầng quỹ đất của địa phương có sự thay đổi đáng kể Đất sản xuất nôngnghiệp giảm dần, đất phi nông nghiệp tăng lên Cụ thể: đất nông nghiệp năm
2008 là 1.041 ha thì đến năm 2010 còn 1.034 ha giảm 7 ha, phần lớn diện tíchđất này phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch xây dựng các cơ sởsản xuất phi nông nghiệp Đất phi nông nghiệp tăng từ 705 ha năm 2008 lên
732 ha năm 2010 cho thấy đã có sự đầu tư đáng kể cho phát triển sản xuất phinông nghiệp Để phục vụ cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa,phục vụ đô thị xã đang thực hiện cơ chế dồn điền đổi thửa nhằm thuận lợi choviệc đầu tư, áp dụng cơ giới hóa cũng như việc áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất
Trang 204.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Hòa Phong có tổng số 3.804 hộ Trong đó có 548 hộ nghèo chiếm14,41% tổng số hộ của xã Số hộ nghèo của xã có giảm qua các năm nhưnggiảm với tốc độ chậm, năm 2008 số hộ nghèo của xã là 557 hộ chiểm tỷ lệ15,09% đến năm 2010 là 14,41% giảm 0,68% Đa số các hộ nghèo là các hộkhông có chồng, tàn tật, mất sức lao động, hoàn cảnh khó khăn Các hộ nàyđược sự quan tâm của chính quyền địa phương hỗ trợ đào tạo nghề, cho vayvốn với lãi suất ưu đãi để phát triển kinh tế, trợ cấp hàng tháng, và nhiều chế
độ ưu đãi khác
Bảng 7: Đặc điểm dân số và cơ cấu lao động của xã giai đoạn 2008 – 2010
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
-Số lao động NN 3.754 50,76 3.746 50,21 3.700 49,60
Số lao động TTCN 1.830 24,74 1.866 25,01 1.900 25,47
Số lao động TM - DV 1.812 24,50 1.849 24,78 1.860 24,93
(Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Hòa Phong giai đoạn 2008 – 2010)
Qua bảng 7 cho thấy, lao động của xã chuyển dịch theo hướng giảmlao động trong lĩnh vực nông nghiệp và tăng lao động phi nông nghiệp.Tuy nhiên, lao động nông nghiệp của xã tuy có giảm qua các năm nhưngvẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, cụ thể: lao động nông nghiệp chiếm 49,60%, laođộng tiểu thủ công nghiệp chiếm 25,47%, lao động thương mại - dịch vụchiếm 24,93%
Toàn xã có 1.134 người có trình độ: Trung cấp 429 người, cao đẳng
260 người, đại học là 439 người, trên đại học là 6 người Tỉ lệ lao động cótrình độ đại học, cao dẳng, trung cấp chiếm trong nguồn lao động còn thấp
Trang 21Phần lớn có trình độ sơ cấp, lao động phổ thông tham gia trực tiếp lao động.Những lao động có tay nghề khá vững vàng, có kinh nghiệm quản lý, laođộng kỹ thuật khoảng 200 lao động Số lao động còn lại tuổi đời lớn khó khăntrong việc đào tạo và tiếp thu kiến thức Số lao động không có việc làm ổnđịnh chiếm khoảng 2% nguồn lao động trong xã Trong 5 năm 2005 - 2009,
xã đã tập trung đào tạo nghề, toàn xã có 750 lao động ngắn hạn học nghề tạihuyện tạo cơ hội có việc làm nhằm tăng thu nhập bình quân đầu người chonhân dân
Hòa Phong là xã nằm ở vị trí trung tâm của huyện Hòa Vang, trung tâmhành chính huyện đóng tại địa bàn xã, được thành phố và huyện đầu tư vốnxây dựng nhiều công trình trọng điểm đã tạo cho Hòa Phong một diện mạomới.Cơ sở hạ tầng phát triển, hệ thống đường xá, giao thông cơ bản được bêtông hóa (rãi nhựa, bê tông) thuận lợi cho việc đi lại sinh hoạt, sản xuất và đờisống dân sinh Mạng lưới điện được nâng cấp theo chương trình đầu tư củaNhà nước, phủ kín trên địa bàn toàn xã, 100% hộ dùng điện sinh hoạt và sảnxuất Hòa Phong có đường Quốc lộ 14B và tuyến đường ĐT604 đi qua, cósông Túy Loan cùng khu phố chợ Túy Loan, đó là điều kiện rất thuận lợitrong phát triển kinh tế xã hội của xã
Hệ thống thông tin văn hóa: Các trang thiết bị truyền thông đã đượcđầu tư khá đầy đủ và đồng bộ Hàng ngày, ban truyền thanh của xã tổ chứcđưa tin về đến tận các hộ dân qua hệ thống loa truyền thanh Vì vậy, ngườidân có điều kiện nhận các thông tin về văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, thịtrường nhanh chóng và thuận lợi
4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ điều tra
Tổng số có 30 hộ điều tra, đây là các hộ có thực hiện chuyển đổi sangcác hoạt động sinh kế trong lĩnh vực phi nông nghiệp Bình quân lao độngnông nghiệp là 0,6 lao động/hộ, bình quân lao động phi nông nghiệp là 1,63lao động/hộ Qua thông tin cho thấy lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ caohơn, đã có sự chuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp
Bảng 8: Đặc điểm nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
Trang 22Số nhân khẩu bình quân trên hộ là 4,3 khẩu/hộ Trong khi đó bình quân
số lao động trên hộ là 2,23 lao động, tỷ lệ giữa người lao động và không laođộng của hộ gần xấp xỉ nhau
4.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế của xã Hòa Phong
4.3.1 Tiến trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế
Từ ngày 05 tháng 08 năm 2005 khi một phần huyện Hòa Vang chiatách thành quận Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang, trung tâm hành chính huyệnHòa Vang đóng tại địa bàn xã Hòa Phong, được thành phố và huyện đầu tưvốn xây dựng nhiều công trình trọng điểm đã tạo cho Hòa Phong một diệnmạo mới Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của xã Hòa Phongchuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tương đối tỷ trọnghai ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ
Toàn xã có 11 doanh nghiệp, công ty TNHH, 15 trại cưa gỗ, 5 bến cát 5 cơ sởsản xuất gạch thủ công, gạch Tuynen và các trang trại chăn nuôi Hầu hết các
cơ sở này đã đi vào khai thác tối đa các nguồn lực tạo ra nhiều sản phẩm cógiá thành hợp lý, tạo điều kiện cạnh tranh trên thị trường
Trang 23ĐVT: Tỷ đồng
ĐVT: tỉ đồng
(Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Hòa Phong giai đoạn 2008 - 2010)
Biểu đồ 1: Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế xã Hòa Phong giai đoạn
2008 – 2010
Tổng giá trị sản xuất của xã qua các năm có sự tăng trưởng Giá trị sảnxuất ngành nông nghiệp năm 2010 đạt 49 tỷ đồng, tăng hơn 5 tỷ đồng so vớinăm 2008 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vàthương mại - dịch vụ tăng đáng kể, tăng tương ứng 18 tỷ đồng và 21 tỷ đồng
so với năm 2008 Qua biểu đồ cho thấy giá trị sản xuất của các ngành đềutăng qua các năm Trong đó giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp tăngchậm Diện tích sản xuất nông nghiệp giảm qua các năm nhưng giá trị sảnxuất ngành nông nghiệp vẫn tăng đó là nhờ xã tập trung sản xuất, đẩy mạnhchuyển dịch cây trồng, con vật nuôi, chuyển giao các ứng dụng kỹ thuật, tăngnăng suất cây trồng, đảm bảo nhu cầu lương thực cho nhân dân Trong nhữngnăm gần đây, xã đã đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cây trồng theo hướng sảnxuất hàng hóa phục vụ đô thị Năm 2010 diện tích đất lúa giảm 50 ha, diệntích các loại cây rau màu thực phẩm, cây công nghiệp tăng 38 ha so với năm
2007 Về chăn nuôi: Tuy có ảnh hưởng dịch cúm gia cầm, tai xanh, lở mồmlong móng nhưng nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, góp phần bảo vệ tốt tổngđàn gia súc, gia cầm tăng đáng kể Toàn xã hình thành 3 trang trại nuôi heo,nuôi thỏ kết hợp nuôi heo, nuôi cá và nhiều hộ gia đình nuôi ếch, nuôi dê,
58 55