1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang

66 828 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã Vinh Phú, huyện Phú Vang
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Quản lý nguồn tài nguyên và môi trường
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 487 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính phủ phải hổ trợ vềmặt tài chính và hoạt động nghiên cứu để đảm bảo sáng kiến đồng quản lýđem lại cơ hội bình đẳng cho tất cả các bên.” Theo Sandersen và Koester,2000: Đồng quản lý

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 4

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

2.1 Các khái niệm và cơ sở lý luận 6

2.1.1 Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng 6

2.1.2 ĐQL tài nguyên thủy sản 11

2.1.3 Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và ĐQL 15

2.2 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tại Việt Nam 17

2.2.1 Nghiên cứu trong nước 17

2.2.2 Quản lí tài nguyên thủy sản ở hệ đầm phá Tam Giang 19

2.2.3 Xây dựng tổ chức ngư dân và trao quyền KT thủy sản 21

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Phạm vi nghiên cứu 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu 26

3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 26

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 27

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Đặc điểm cộng đồng thủy sản tại điểm nghiên cứu 28

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu và phân loại hộ của cộng đồng thủy sản 28

4.1.2 Hoạt động KT&NTTS tại các vùng đầm phá nghiên cứu 29

4.1.3 Đặc điểm các hộ khảo sát 32

4.2 Mô hình ĐQL thủy sản tại xã Vinh Phú 33

4.2.1 Thực trạng khai thác thủy sản và các vấn đề cần giải quyết 33

4.2.2 Điều kiện và nhu cầu xây dựng chi hội nghề cá ở Vinh Phú 34

4.2.3 Tiến trình xây dựng mô hình ĐQL thủy sản ở Vinh Phú 35

4.3 Nhận thức cộng đồng vể cải tiến quản lý tại xã Vinh Phú 38

4.3.1 Đánh giá thực trạng cải tiến quản lý tại điểm mô hình 38

4.3.2 Nhận thức cộng đồng về kết quả cải tiến quản lý tại Vinh Phú 42

4.4 Cải tiến kết quả sản xuất tại Vinh Phú 43

4.4.1 Kết quả kiểm soát cường lực khai thác tự nhiên 43

4.4.2 Thay đổi sản lượng và thu nhập của các hộ KT thủy sản tự nhiên .44

4.4.3 Cải tiến kết quả nuôi trồng thủy sản 46

4.5 Thu nhập và chi tiêu của hộ 48

4.5.1 Thay đổi thu nhập của hộ 48

Trang 2

4.5.2 Thay đổi chi tiêu của hộ 49

4.6 Nhận thức của người dân về cải tiến tài nguyên môi trường 50

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Khuyến nghị 52

Trang 3

Bảng 4: Thực trạng cải tiến quản lý tại xã Vinh Phú

Bảng 5: Nhận thức của hộ về thay đổi quản lý tài nguyên đầm phá giai đoạn

2006 - 2010 ở Vinh Phú

Bảng 6 Thay đổi số hộ, sản lượng và ngư cụ khai thác ở Vinh Phú

Bảng 7: Thay đổi sản lượng và thu nhập trong hoạt động KTTS cấp hộBảng 8 Cải tiến kết quả NTTS ở Vinh Phú

Bảng 9 Thay đổi các hoạt động tạo thu nhập cấp hộ

Bảng 10 Thay đổi chi tiêu cấp hộ

Nông nghiệp và phát triển nông thôn = NN&PTNT

Tài nguyên môi trường = TNMT

Quyết định = QĐ

Trang 4

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là vùng đầm phá lớn nhất khu vực ĐôngNam Á, với diện tích hơn 22.000 ha, chiếm 48,2 % tổng diện tích mặt nướccác đầm phá ven bờ Việt Nam, đi qua 5 huyện( Phong Điền, Quảng Điền,Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc) và 31 xã thị trấn của tỉnh Thừa Thiên Huế

Hệ đầm phá liên quan trực tiếp đến khoảng 30.000 trong tổng số 300.000 dâncủa 5 huyện, với 4.000 hộ và khoảng 8.000 lao động chuyên nghề KT vàNTTS trên đầm phá và đặc biệt một phần không nhỏ dân cư lấy mặt nước

đầm phá làm nơi cư trú[5 Đây hiện đang trở thành một trong những vùng

kinh tế trọng điểm của tỉnh

Hệ sinh thái động thực vật đầm phá rất giàu về thành phần loài, cung cấpdinh dưỡng cho các loại cỏ biển, thực vật phù du và tảo Vùng đầm phá còncung cấp bãi giống bãi đẻ bãi ươm và là nới kiếm ăn cho nhiều loài cá và thânmềm Với nguồn lợi TS vô cùng phong phú nơi đây được xem là bảo tàng

sinh học với sự đa dạng về nguồn gen cả về động vật và thực vật.[2]

Tài nguyên đầm phá là vô cùng phong phú nhưng bên cạnh đó thì áp lựcdân số lên tài nguyên ngày càng lớn, quan điểm “ điền tư ngư chung” củangười dân ở đây ảnh hưởng đến ý thức bảo vệ tài nguyên dẫn đến việc KTquá mức, KT thiếu quy hoạch, KT thiếu phương pháp và sử dụng những loạingư cụ mang tính hủy diệt cao như: rà điện, cào lươn, xiếc điện, lừ TrungQuốc…cộng thêm việc phát triển hoạt động NTTS diễn ra ồ ạt, thiếu quyhoạch gây ra dịch bệnh Những việc làm trên đã và đang làm suy giảm nguồnlợi TS và ô nhiểm môi trường đầm phá, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế lâudài của cộng đồng ngư dân ven phá

Từ đó đòi hỏi cấp thiết nhất lúc này là phải cải tiến cách thức quản lýnghề cá một cách đồng bộ, từ hệ thống kỹ thuật đánh bắt nuôi trồng, phươngpháp đánh bắt, quy hoạch tiểu vùng KT và NTTS, quy chế đánh bắt nhằm đạtđến mục đích các hoạt động, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế tạo thu nhậpcho người dân để giảm sức ép lên đầm phá

Nhưng thực tế các hoạt động KT và NTTS vẫn đang trong tình trạng

Trang 5

thiếu kiểm soát và cơ chế tiếp cận tự do, và cái chính là hoạt động quản lý tậptrung của Nhà Nước thông qua các đơn vị hành chính như xã, thôn, đội tỏ rakhông có hiệu quả vì chưa có cơ chế quản lý rỏ rang, các luật quy định trongquyền tiếp cận sử dụng mặt nước hiện tại chưa đủ mạnh để quản lý tốt.

Để khắc phục vấn đề đó UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa ra quyếtđịnh quan trọng nằm trong chính sách quản lý KTTS đầm phá là phát triển hệthống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng hay còn gọi là Đồng quản lý

ĐQL và quản lý dựa vào cộng đồng là cơ chế quản lý thể hiện sự phânquyền, sự tham gia của người dân trong quản lý tài nguyên Người sử dụngnguồn lợi và tổ chức cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong quản lý tàinguyên dung chung

Để hiểu rỏ hơn về vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã Vinh Phú, huyện Phú Vang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu tiến trình xây dựng đồng thuận trong quản lý thuỷ sản trênvùng đầm phá xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Tìm hiểu các hoạt động quản lý thuỷ sản của cơ chế đồng quản lý thựchiện trên vùng đầm phá xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đánh giá kết quả thực hiện đồng quản lý thuỷ sản trên vùng đầm phá

xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 6

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm và cơ sở lý luận

2.1.1 Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng

Ở Việt Nam, quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng đã được nhận thứcnhư một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên

“Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quátrình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giảipháp đã phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sửdụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi giađình và cộng đồng”

Thuật ngữ “dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà những người sửdụng tài nguyên cũng là người quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên đó.Hiện nay, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng đangđược xem như là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tàinguyên, hỗ trợ giải quyết tình trạng suy thoái tài nguyên Đã có không ítnhững mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng thành công ở Lào,Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc… Đây sẽ là những bài học quý báu choquá trình xây dựng các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên dựa vàocộng đồng ở Việt Nam

Như nhiều tài nguyên thiên nhiên, việc quản lý tài nguyên ven biển thôngqua các cơ quan trung ương đã bị thất bại trong việc hạn chế khai thác tàinguyên quá mức và những tác động huỷ diệt Cho nên nhiều quốc gia hiệnnay đang trở lại kiểm soát tài nguyên thiên nhiên ở cấp địa phương bởi vìnhững người phụ thuộc trực tiếp vào những nguồn tài nguyên thường lànhững người tận tâm, có ý thức và là những người bảo vệ có khả năng

Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là quá trình quản lý tàinguyên ven biển do những người phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đề

xướng[4].Vì vậy ngày càng có nhiều người sử dụng tài nguyên tham gia vào

quản lý nguồn tài nguyên ven biển và trách nhiệm quản lý mang tính chất địaphương Ý thức trách nhiệm, sự tuân thủ pháp luật do đó cũng tăng lên

Trang 7

Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là hoạt động nhằm địnhhướng các vấn đề thông qua kiểm soát quản lý tài nguyên mang tính địa

phương hơn[4] Khi quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trở nên tiến bộ

hơn nó sẽ giải quyết các vấn đề của cộng đồng ven biển một cách toàn diệnhơn Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một nỗ lực làm cho cộng đồng

“được kiểm soát hơn”

Trong tương lai kế sinh nhai bền vững không chỉ đơn thuần là “kế sinhnhai thay thế” mà nó còn bao gồm cả các khía cạnh văn hoá, xã hội và chínhtrị đang tác động một cách mạnh mẽ đến cuộc sống của con người Nếu muốncon người có trách nhiệm trong việc quản lý, thì lợi ích của họ phải rõ ràng,thực chất, công bằng, những mục đích thương mại là không thể chấp nhậnđược Việc đánh giá một cách toàn diện là thực sự cần thiết Hầu hết các hệsinh thái bị suy thoái vì nguyên nhân này hay nguyên nhân khác đều phảiđược hồi phục Kiểm soát việc sử dụng và lạm dụng tài nguyên sẽ mang lạinăng suất tiềm năng cho vùng ven biển và cộng đồng ven biển, với sự chămsóc và quan tâm thích đáng, có thể cải thiện được phúc lợi của chính cộngđồng ven biển trước mắt cũng như trong tương lai

Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diệnnhằm xác định những vấn đề mang tính chất nhiều mặt ảnh hưởng đến môitrường ven biển thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng

ven biển[4] Điều quan trọng là chiến dịch này tìm cách xác định vấn đề cốt

lõi của sự tiếp cận tài nguyên một cách tự do cùng với tất cả hậu quả bất công

và không hiệu quả, bằng cách tăng cường sự tiếp cận và kiểm soát của cộngđồng đối với nguồn tài nguyên của họ

Thuật ngữ “Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà những người sửdụng tài nguyên cũng phải là người quản lý hợp pháp đối với nguồn tàinguyên đó Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồntài nguyên thiên nhiên khác hoặc là có tính tập trung hoá cao hoặc là không

có sự tham gia của các cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyênđó

Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy những hệ thống quản lý tập trunghoá đã tỏ ra không hiệu quả trong việc quản lý nguồn tài nguyên theo cách

Trang 8

bền vững Do đó rất nhiều cộng đồng ven biển đã đánh mất ý thức “làm chủ”

và trách nhiệm đối với vùng ven biển của họ Thông qua những tiến trình đadạng của mình, quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng hy vọng sẽkhôi phục lại ý thức “làm chủ” và trách nhiệm này

Quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng cũng là một quá trình màqua đó những cộng đồng ven biển được tăng quyền lực về chính trị và kinh tế

để họ có thể đòi và giành được quyền kiểm soát quản lý và tiếp cận một cách

hợp pháp đối với nguồn tài nguyên ven biển của họ[4] Sự vận động nhằm

khởi xướng một vấn đề như thế tốt hơn hết phải được bắt đầu từ bản thâncộng đồng Tuy nhiên do yếu về quyền lực nên hầu hết các cộng đồng đềuthiếu khả năng tự khởi xướng quá trình thay đổi Chính điều này là một trongnhững nhân tố đã dẫn đến các tổ chức và cơ quan bên ngoài tham gia, làm chonhững quá trình liên quan đến Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng trở nên dễdàng hơn, kể cả việc tổ chức cộng đồng

- Những nguyên tắc của Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng

đồng[8][4].

+ Tăng quyền lực (trao quyền)

Ở những cộng đồng ven biển, tăng quyền lực là sự phát triển của sứcmạnh (quyền lực) thực hiện việc kiểm soát quản lý nguồn tài nguyên mà cáccộng đồng này phải phụ thuộc Việc này thường được thực hiện với những cơquan của chính phủ

Bằng việc tăng cường sự kiểm soát và tiếp cận của cộng đồng đối với tàinguyên ven biển sẽ tạo ra cơ hội tốt hơn cho tích luỹ lơị ích kinh tế địaphương Các tổ chức tại cộng đồng quản lý tốt tài nguyên cũng có thể đượccông nhận như những người cộng tác hợp pháp trong việc quản lý tài nguyênven biển Sự tăng quyền lực cũng có nghĩa là xây dựng nguồn nhân lực và khảnăng của cộng đồng để quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên của họ theocách bền vững

+ Sự công bằng

Nguyên tắc công bằng gắn liền với nguyên tắc tăng quyền lực Sự côngbằng có nghĩa là có sự bình đẳng giữa mọi người và mọi tầng lớp đối vớinhững cơ hội Tính công bằng chỉ có thể đạt được khi những người đánh cá

Trang 9

quy mô nhỏ cũng có quyền tiếp cận bình đẳng đối với những cơ hội tồn tại đểphát triển, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên ven biển Quản lý bảo tồn dựavào cộng đồng cũng đảm bảo tính công bằng giữa thế hệ hiện tại và tương laibằng cách tạo ra những cơ chế có thể bảo đảm cho việc bảo vệ và bảo tồnnguồn tài nguyên ven biển để sử dụng cho tương lai.

+ Tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững

Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng thúc đẩy những kỹ thuật và thựchành không chỉ để phù hợp với những nhu cầu về kinh tế, xã hội, văn hoá củacộng đồng mà còn là hợp lý về sinh thái Do đó những kỹ thuật phải thừanhận sức chịu đựng và tiếp thụ của nguồn tài nguyên và hệ sinh thái

Sự phát triển bền vững có nghĩa là phải cân nhắc, nghiên cứu trạng thái

và bản chất của môi trường tự nhiên trong khi theo đuổi phát triển kinh tế màkhông làm tổn hại đến phúc lợi của thế hệ tương lai

+ Tôn trọng những tri thức truyền thống/bản địa

Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng thừa nhận giá trị của tri thức và hiểubiết bản địa Nó khuyến khích việc chấp nhận và sử dụng những tri thứctruyền thống/bản địa trong những quá trình và hoạt động khác nhau của mình.+ Sự bình đẳng giới

Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng thừa nhận vai trò độc đáo và sự đónggóp của nam và nữ giới trong lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất Nó thúc đẩy

cơ hội bình đẳng của cả hai giới trong sự tham gia có ý nghĩa vào việc quản lýtài nguyên

- Các thành tố của quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng[4]

+ Cải thiện quyền hưởng dụng các nguồn tài nguyên

Cải thiện quyền hưởng dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên có nghĩa là đạtđược/bảo đảm tiếp cận và kiểm soát, quản lý đối với các nguồn tài nguyên

Nó còn được gọi là việc làm sáng tỏ quyền sử dụng hay quyền sở hữu cộngđồng Về mặt hành động thì nó có nghĩa là thể chế hoá việc tiếp cận và kiểmsoát quốc gia hay địa phương Điều này cũng có thể đạt được thông qua việc

tổ chức cộng đồng có hiệu quả và các chính sách phù hợp của nhà nước

+ Xây dựng nguồn nhân lực

Trang 10

Xây dựng nguồn nhân lực nghĩa là tăng quyền lực cho cộng đồng thôngqua giáo dục, đào tạo và xây dựng tổ chức Giáo dục bảo tồn hay giáo dụcmôi trường là phần quyết định của xây dựng nguồn nhân lực Nó giúp choviệc tạo dựng sự hiểu biết chung về những khía cạnh phức hợp và có liênquan với nhau của việc quản lý tài nguyên thiên nhiên Bằng cách nhấn mạnhnhững vấn đề địa phương, giáo dục môi trường có thể tạo dựng được nhậnthức và kỹ năng góp phần vào năng lực của cả cá nhân và cộng đồng nhằmảnh hưởng đến những thay đổi.

Những người đứng đầu cộng đồng tạo dựng lòng tin của họ thông quaviệc tích luỹ kiến thức và kỹ năng Nó cũng bao gồm việc xây dựng và đẩymạnh khả năng tổ chức của nhân dân (thí dụ đào tạo người đứng đầu của họ,

mở rộng thành viên, lập quỹ, kỹ năng cao, thiết lập hệ thống tổ chức, mạnglưới làm việc) Tất cả những nỗ lực trên đều nhằm đạt được sự độc lập và dựavào chính mình của các tổ chức tại cộng đồng cũng như toàn bộ cộng đồng.+ Bảo vệ môi trường

Những sinh cảnh ven biển hỗ trợ tài nguyên ven biển Một khi sinh cảnh bịsuy thoái hay huỷ hoại thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất củatài nguyên Bảo vệ môi trường tập trung vào sự phục hồi, cải thiện và bảo vệ cácsinh cảnh Ví dụ: Thiết lập các khu bảo tồn, phục hồi và trồng lại rừng

Bảo vệ môi trường phải bao hàm cả các hệ sinh thái điển hình khác nhau

vì chúng được liên kết với nhau từ đầu nguồn đến cửa sông Bảo vệ môitrường có liên quan chặt chẽ với những quy định và sự thực thi nghiêm ngặtluật môi trường nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi của một số hoạt độngdựa vào tài nguyên rừng

+ Phát triển sinh kế bền vững

An toàn lương thực là mối quan tâm hàng đầu của quản lý bảo tồn dựavào cộng đồng Phát triển sinh kế bền vững đóng vai trò quan trọng trong việcbảo đảm an toàn về kinh tế và lương thực cho cộng đồng Sinh kế là điểm chủchốt trong mối tương tác giữa con người và tài nguyên Kiểu tương tác nàyxác định việc sử dụng tài nguyên có bền vững hay không

Phát triển sinh kế bền vững có thể liên quan đến việc giới thiệu các sinh

kế thay thế, thúc đẩy những sinh kế hiện hữu, thay đổi hay cải thiện chúng và

Trang 11

chiến dịch chống những phương pháp mang tính huỷ diệt Thúc đẩy an toànlương thực cho hộ gia đình và làng xã là một khía cạnh quan trọng của thành

Trong Hội thảo của Uỷ Hội Nghề cá châu Á - Thái Bình Dương cũngthống nhất rằng: “Đồng quản lý nghề cá có thể được hiểu là phương pháptham gia, nơi mà Chính Phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẽtrách nhiệm và quyền hạn để quản lý Nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trongmột vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác”

Là một số hay toàn bộ trách nhiệm quản lý được chính thức chia sẻ giữacác cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức sử dụng nguồn lời cũng như vớinhững nhóm lợi ích liên đới.( Jentoft 1989)

Theo Jentoft và cộng sự (1998) đã cụ thể hoá thêm khi giải thích: “Đồngquản lý là quá trình phối hợp và hợp tác trong việc đưa ra các quyết định quản

lý giữa đại diện cả nhóm sử dụng nguồn lợi, Chính Phủ, tổ chức nghiên cứu.Theo nghĩa ai là người ra quyết định có hai thái cực: quyền lực Nhà nước vàquyền của ngư dân Hình thức quản lý trên – xuống, Nhà nuớc đưa ra nhữngquyết định đơn độc còn người dân thụ động thực hiện Ngược lại, đồng quản

lý tạo cho người sử dụng nguồn lợi có quyền hành, tổ chức và thực hiện hệthống quản lý của riêng họ”

Theo Sen và Nielsen (1996) định nghĩa: “Đồng quản lý là một sự sắpxếp có sự chia sẻ về mặt sức mạnh cũng như quyền lực nhằm quản lý nguồnlợi thuỷ sản giữa các nhóm người sử dụng nguồn lợi và chính quyền.”

Theo Mc Cay và Jensoft 1996: Đồng quản lý đòi hỏi :

Phải có sự phối hợp tất cả theo chiều ngang giữa các ngư dân và chiềudọc giữa những người sử dụng , các nhóm ngư dân và chính phủ

Phải được vận hành theo nguyên tắc dân chủ, công bằng xã hội nhưnguyên tắc đại diện của nhóm lợi ích có liên quan, minh bạch và chịu trách

Trang 12

nhiệm, nguyên tắc “ phân cấp”, tức quyền ra quyết định phải được đưa xuốngcấp hành chính nhất có thể (Theo Pomeroy và Berks 1997: “Đồng quản lý cónhững vấn đề cần làm sáng tỏ:

Những nhóm sủ dụng nguồn lợi và người có lợi ích liên đới sẽ là ai và họ

sẽ đại diên bằng cách nào?

Cơ chế đồng quản lý nên được thể chế hoá từ cấp độ nào: Địa phương,khu vưc hay cấp nhà nước?

Chế độ quyền tài sản nên được xác định như thế nào: tài sản nhà nước, tưnhân hay cộng đồng

Chức năng nào sẽ được thực thi bởi các tổ chức sử dụng nguồn lợi?

Liệu vai trò của quốc gia chỉ nên giới hạn trong việc “tạo ra môi trườngpháp lý nhằm uỷ thác một cách chính đáng quyền tổ chức và quyền thực thicác dàn xếp thể chế ở cấp độ địa phương”

Theo Hara 1998: “Nhà nước phải có trách nhiệm chung và giám sát tổngthể cách thức hoạt động của cơ chế đồng quản lý Chính phủ phải hổ trợ vềmặt tài chính và hoạt động nghiên cứu để đảm bảo sáng kiến đồng quản lýđem lại cơ hội bình đẳng cho tất cả các bên.”

Theo Sandersen và Koester,2000: Đồng quản lý đòi hỏi phải có” một

co chế dân chủ, linh hoạt để giải quyết thường xuyên những vấn đề liênquan đến nguồn lợi”

Theo Hà Xuân Thông 2001 “Đồng quản lý được hiểu như là cách thứcchia sẻ hoặc phân định quyền lực và trách nhiệm giữa chính quyền và nhữngngười sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý đối tượng nào đó như nguồn lợi cá,vùng rạn san hô, vùng nuôi thuỷ sản ao hồ chứa , một cánh rừng … Phạm vi

và cách thức chia sẻ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau các nướckhác nhau và các địa phương khác nhau , do những điều kiện và nền văn hoákhác nhau”

Theo Pomeroy và Viswanathan (2003) thì các bên liên quan trong đồngquản lý bao gồm các tổ chức phi chính phủ, nhóm người sử dụng nguồn lợi vàchính quyền Đồng quản lý bao gồm quyền tham gia trong việc đưa ra cácquyết định quan trọng quy định cách thức, khi nào, ở đâu, bao nhiêu và đốitượng nào được phép khai thác

Trang 13

Theo nhóm nghiên cứu đồng quản lý 2009: “Đồng quản lý trong nghànhthuỷ sản có thể hiểu như là phương thức quản lý, trong đó chính phủ vàngưoif sử dụng tiềm năng , nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyềnhạn để quản lý các hoạt động sản xuất thuỷ sản và nghề khác , bảo vệ môitrường và nguồn lợi thuỷ sản trong một vùng xác định , dựa trên sự hợp tácgiữa 2 bên với các bên liên quan khác.”

2.1.2.2 Các loại hình của ĐQL

Theo Sen và Nielsen, 1996 có các loại hình đồng quản lý sau:

Chỉ thị (Instructive): Ít chia sẻ thông tin giữa chính quyền và ngư dân.Kiểu đồng quản lý theo tính chỉ thị (instructive) này có rất ít sự trao đổi thôngtin giữa Chính quyền và ngư dân Hình thức đồng quản lý này khác so vớihình thức quản lý tập trung ở điểm rằng ở đây nó có cơ chế đối thoại với ngưdân, nhưng cuối cùng Chính quyền vẫn quyết định những kế hoạch quản lý vàchỉ thông báo cho ngư dân về những kế hoạch quản lý này

Tư vấn (Consultative): Tham khảo ý kiến giữa các bên đối tác, tuy nhiênNhà Nước lại đưa ra quyết định cuối cùng Hình thức đồng quản lý tư vấn(consultative) đòi hỏi Chính quyền phải tư vấn một cách tích cực cho cộngđồng, tuy nhiên Chính quyền vẫn giữ trách nhiệm chính trong việc đưa ranhững quyết định cuối cùng

Hợp tác (Cooperative): Chính quyền và ngư dân hợp tác với nhau với tưcách là những đối tác ngang nhau trong quá trình đưa ra quyết định Hìnhthức đồng quản lý hợp tác (cooperative): cả Chính quyền và người dân đều cósức mạnh ngang nhau trong quá trình đưa ra quyết định

Tham vấn (a dvisory ): Người dân tư vấn cho Chính quyền, và tìm kiếm

sự ủng hộ từ phía Chính quyền khi họ tự đưa ra quyết định của mình Đối vớihình thức tham vấn (advisory), ngư dân tham vấn cho Chính quyền trong việcđưa ra các quyết định Chính quyền lúc đó sẽ được yêu cầu đưa ra quyết định.Trao đổi thông tin (Informative): Chính quyền uỷ nhiệm thẩm quyền chocác cộng đồng ngư dân đưa ra những quyết định, và cộng đồng ngư dân chịutrách nhiệm thông báo cho Chính quyền những quyết định này Hình thức traođổi thông tin (informative) bao hàm Chính quyền uỷ nhiệm thẩm quyền chongư dân Trên thực tế, nó có thể không phải là một sự sắp xếp đồng quản lý

Trang 14

chính thức nhưng nó là hình thức truyền thống của quản lý thuỷ sản được Nhànước công nhận Hình thức đồng quản lý trao đổi thông tin có thể là sự uỷnhiệm thẩm quyền chính thức hoặc là thừa nhận tập quán truyền thống cũngnhư quyền lực truyền thống.

2.1.2.4 Sự tham gia của các bên liên quan

Hầu hết các mô hình thành lập, đều xuất phát trên cơ sở thực tiễn, bứcxúc quản lý, được đề xuất bởi ngư dân và có sự hỗ trợ của các dự án, các cơquan nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ Những mô hình hoạt động tốt

là những mô hình có sự đồng thuận cao, xuất phát từ nguyện vọng của ngưdân, và có sự tham gia chủ động, và hỗ trợ đắc lực từ phía chính quyền, nhất

là chính quyền cơ sở

Trong đó cụ thể là:

Vai trò của các ban ngành nhà nước: đóng vai trò quyết định trong đồngquản lý Ban hành các chỉ thị , quy chế, quy định, quyết định về việc quản lýnguồn lợi thủy sản đầm phá; chỉ đạo thực hiện và phân quyền theo từng cấp

độ để cùng quản lý nguồn tài nguyên chung [11]

Các tổ chức, cơ quan tài trợ: tập huấn nâng cao năng lực, nhận thức củangư dân trong mọi vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển sinh

kế cho ngư dân; hổ trợ cho người dân về phương tiện sản xuất cũng như vốn

để ổn định cuộc sống, giảm bớt gánh nặng lên đầm phá.[11]

Chi hội nghề cá tỉnh có vai trò trong việc xây dựng quy chế quản lý, ngưtrường, phân chia nguồn lợi thủy sản 1 cách hợp lý và hiệu quả mang tínhbên vững, đồng thời triển khai các hoạt động và cung cấp thông tin về nghềcho mọi ngư dân nắm bắt

Chi hội nghề cá của xã thì có vai trò thực hiện các công việc sau: tổ chứcphân bố khu vực khai thác theo đúng quy hoạch và quy định của nhà nước vànguyện vọng của ngư dân; quản lý ngư cụ khai thác trên đầm phá; tổ chứckiểm tra các đợt khai thác trên đầm phá nhằm phát hiện và xử lý kịp thờinhững vi phạm của ngư dân

Sự phối hợp giữa các bên liên quan tới công tác quản lý và sự tham giacủa người dân vào quá trình quản lý được tăng cường Do được nâng caonhận thức và có cơ chế quản lý/phối hợp quản lý tương đối rõ ràng nên trách

Trang 15

nhiệm đối với việc sử dụng nguồn lợi, trách nhiệm của các bên liên quantrong quá trình quản lý, khả năng tự quản của cộng đồng, ý thức bảo vệ môitrường của người dân được tăng cường, đồng thời sự tham gia của người dânvào quá trình quản lý ngày càng nhiều hơn và mô hình sẽ có hiệu quả hơn.

2.1.3 Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và ĐQL

Theo như chúng ta được biết việc quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng

đã thể hiện được rất nhiều lợi thế của nó so với những hình thức quản lý trướcđây, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp, còn về lỉnh vực thủy sản thì vẫn đangcòn trong giai đoạn phát triển

Chính việc tìm cách làm cho người dân tham gia tích cực hơn vào trongquy hoạch và triển khai quản lý nghề cá đã huy động được tính tự chủ, sự tựgiác và tinh thần trách nhiệm của người dân trong việc tự tạo ra sinh kế phục

vụ cho nhu cầu và bảo vệ nguồn lợi đó bền vững để có thể đảm bảo cuộc sốnglâu dài của chính họ

Trong quản lý dựa vào cộng đồng thì dựa trên nhu cầu thiết thực củangười dân địa phương, huy động sự tham gia tích cực của họ nên có thể tậndụng khả năng ,kiến thức của người dân bản địa để phục vụ lại lợi ích chochính họ, đồng thời qua đó cũng dễ dàng đề ra những chiến lược quản lýriêng phù hợp với điều kiên của từng cộng đồng từng vùng từng địa phương

Và trong đó thể hiện sự công bằng giữa tất cả mọi đối tượng tiếp cận đến tàinguyên dùng chung đó

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng còn có thể cho thấy được sự tiếtkiệm, bền vững hơn những hình thức quản lý tập trung và sự linh hoạt trongcách thức quản lý của nó

Tuy nhiên không phải cộng đồng nào cũng có thể áp dụng cách thứcquản lý đó

Hiện nay ngành thủy sản Việt Nam vẫn mang tính chất quy mô nhỏ,manh mún, đa dạng, rộng khắp trên diện tích gần 1 triệu km2 trong khi nguồnlực cho công tác quản lý và bảo vệ tiềm năng nguồn lợi thủy sản hạn chế cả

về nhân lực và vật lực; có 67 chiếc tàu kiểm ngư để kiểm tra khoảng 131.000

chiếc tàu trên toàn quốc[8] Lực lượng thanh tra viên và cán bộ các phòng,

ban không đủ số lượng để kiểm soát hết các hoạt động sử dụng, khai thác

Trang 16

tiềm năng nguồn lợi thủy sản và đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, antoàn vệ sinh chất lượng sản phẩm thủy sản cho các vùng nước có hoạt độngkhai thác, nuôi trồng, chế biến, kinh doanh thủy sản Bên cạnh đó, các trangthiết bị phục vụ việc kiểm tra, kiểm soát vừa thiếu, vừa yếu và khàng đủ kinhphí để triển khai hoạt động rộng khắp trên toàn quốc và ở tất cả các vùngnước.

Các quy định, chế tài cho công tác quản lý và bảo vệ tiềm năng nguồn lợithủy sản chưa đủ mạnh Luật định, quy định khai thác và bảo vệ nguồn lợithủy sản, đã ban hành nhưng việc thực thi chưa nghiêm

Chi phí để hệ thống các cơ quan chuyên ngành thực hiện chức năngquản lý, kiểm tra, kiểm soát là rất tốn kém

Chính vì thế việc quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tuy có nhiều ưuđiểm nhưng không hẳn tất cả các địa phương đều có thể tự mình thực hiệnthành công Cần có sự phối hợp năng động hơn, vừa sử dụng năng lực, độnglực của cộng đồng địa phương, vừa sử dụng năng lực của chính phủ quốc gia

để đưa ra các khung pháp lý và các hỗ trợ khác Sự phối hợp này có thể gọi làđồng quản lý, tức là Chính phủ và cộng đồng cũng chia sẽ quyền lợi Quản lýdựa vào cộng đồng chính là nhân tố trung tâm của đồng quản lý

Mô hình Đồng quản lý đã cho thấy những lợi ích rất lớn đối với ViệtNam là một cách tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên sao cho vừa duy trìquyền lực của nhà nước đồng thời tạo điều kiện cho các cộng đồng dân cưchủ động tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách cótrách nhiệm, đặc biệt các cộng đồng dân tộc và cộng đồng nghèo, cụ thể:

- Tạo điều kiện cho việc thực hiện pháp luật và chính sách nhà nước hiện

có bao gồm Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thủy sản, Luật đất đai, Luật

Đa dạng sinh học, và Chính sách “xã hội hóa lâm nghiệp” các văn bản phápluật khác, cũng như Chiến lược toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xóa đóigiảm nghèo, ngoài ra còn giúp Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ quốc tế nhưChương trình hành động đối với các Khu bảo tồn, Công ước về đa dạng sinhhọc và Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Trang 17

- Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì các chứcnăng, lợi ích và nguồn tài nguyên của các hệ sinh thái làm nền tảng cho sựphát triển bền vững kinh tế - xã hội và con người

- Tạo điều kiện để các địa phương thích ứng với những biến đổi toàn cầuđặc biệt biến đổi khí hậu

- Thúc đẩy việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và tạo sinh kế mộtcách bền vững

- Tăng cường công tác bảo tồn sự đa dạng về văn hóa và kiến thức bảnđịa trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Giúp cộng đồng nhận ra tiềm năng của mình một cách đầy đủ và có thểthực hiện các hoạt động đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên trong tương lai,đặc biệt là truyền cảm hứng cho thanh niên gìn giữ những giá trị

đó ở các vùng nông thôn

- Thúc đẩy công tác quản trị tốt ở các cấp khác nhau, đặc biệt tăngcường tính dân chủ ở địa phương, trao quyền chủ động hơn cho các cộngđồng yếm thế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và tạo ra sự minh bạch và

có trách nhiệm giải trình trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và các khubảo tồn

- Tạo cơ hội sinh kế cho cộng đồng dân cư thông qua việc tham gia quản

lý và sử dụng TNTN có trách nhiệm

- Đưa ra một số hình thức bồi thường cho cộng đồng địa phương khi bị

di dời và mất đi những quyền về phong tục tập quán khi thành lập khu bảotồn, để góp phần giải quyết một số xung đột liên quan

2.2 Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tại Việt Nam.

2.2.1 Nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu của một số tác giảchỉ ra rằng “quản lý nghề cá dựa vàocộng đồng” và thậm chí “đồng quản lý” không phải là khái niệm mới mẻ đốivới Việt Nam, có mới chăng chỉ là ở tên gọi mà thôi Khoảng 400 năm trướcnghề cá sông ở Việt Nam được giao cho các cộng đồng ngư dân đánh cá quản

lý và tự điều chỉnh phân chia quyền thả lưới ở từng quãng sông Dưới triềuđại nhà Nguyễn, nghề cá đầm phá ở Thừa Thiên Huế được Nhà nước giao cho

Trang 18

các làng quản lý theo thể thức lãnh trưng Tại miền Bắc Việt Nam, cácChuôm ở từng làng và các đầm ở trên cánh đông thường là nơi đánh cá chungcủa cả làng nhưng là của từng làng riêng biệt,

Từ khoảng 1995 trở lại nay, các nghiên cứu triển khai về quản lý thủysản dựa vào cộng đồng hoặc đồng quản lý đã bắt đầu trở lại

Một số kết quả đạt được của mô hình: Nhận thức và năng lực của cộngđồng từng bước được nâng cao; Thả phao và khai trương khu bảo tồn nguồnlợi xã Phù Long vào tháng 3/2003; Hội đồng quản lý khu bảo tồn nguồn lợivới 10 thành viên là các ngư dân và cán bộ địa phương được thành lập do Chủtịch UBND xã đứng đầu, bên cạnh đó đội tuần tra, kiểm soát với 6 thành viêncũng được lập ra với nhiệm vụ chính là tuần tra, phát hiện và ngăn chặn cáchoạt động khai thác bất hợp pháp trong phạm vi khu bảo tồn nguồn lợi;Nguồn lợi thủy sản có dấu hiệu bắt đầu phụ hồi; Bước đầu định hướng pháttriển các hoạt động khai thác thân thiện với môi trường

+ Khánh Hòa

Mô hình Bảo tồn biển Rạn Trào do địa phương quản lý ở thôn Xuân Tự,

xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, được phối hợp thực hiện bởi

Trang 19

Liên minh Sinh vật biển Quốc tế Việt Nam và UBND huyện Vạn Ninh từnăm 2001 đến 2004

Mục tiêu là quản lý và bảo tồn hệ sinh thái rạn san hô Rạn Trào, 27 hectamặt nước ven bờ tại xã Vạn Hưng, thông qua áp dụng đồng quản lý và quản

lý có sự tham gia cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, khai thác vànuôi trồng thủy sản bền vững Các mục tiêu khác như: Nâng cao năng lựcngười dân trong bảo vệ môi trường; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý,

sử dụng hợp lý nguồn lợi ven bờ; Xây dựng một mô hình quản lý vùng venbiển để phổ biến và áp dụng tại các vùng biển khác của Việt Nam

Các kết quả đạt được là: Sự liên hệ khắng khít giữa chính quyền, BanQuản lý Dự án và người dân; Ban quản lý Dự án được UBND huyện thànhlập; “Nhóm hạt nhân” do UBND xã Vạn Hưng thành lập trên cơ sở được cộngđồng bầu chọn, gồm 8 người dân và 1 chiến sỹ biên phòng; Tháng 3/2002,Khu Bảo tồn chính thức ra đời với việc xác định các cột mốc ranh giới, bảovệ; Nguồn lợi thủy sản bước đầu có dấu hiệu phục hồi

2.2.2 Quản lí tài nguyên thủy sản ở hệ đầm phá Tam Giang

Ở nước ta việc quản lý tài nguyên mặt nước, đặc biệt là tài nguyên đầmphá chủ yếu do Nhà Nước giữ vai trò trung tâm, bên cạnh đó là hoạt độngquản lý của cộng đồng thông qua hương ước, quy ước truyền thống Các cơquan Nhà Nước thường cho rằng các cộng đồng ngư dân khó có thể tự quản

lý nguồn lợi thuỷ sản để đảm bảo nhu cầu của họ và do vậy Nhà Nước phảinâng cao trách nhiệm, vai trò trong quản lý các nguồn tài nguyên này(Pomeroy, 1994 và Ahmed, et al 2004 )

Trên thực tế hoạt động quản lý tập trung của Nhà Nước tỏ ra không cóhiệu quả Bởi với cơ chế quản lý tập trung Nhà Nước chưa có cơ chế quản lý

rõ ràng, các luật, quy định trong tiếp cận sử dụng mặt nước hiện tại chưa đủmạnh để quản lý tốt Ở hầu hết các cộng đồng hưởng lợi từ những tài nguyênnày ở những mức độ nhất định đã hình thành những cơ chế riêng của họ Cáchình thức quản lý rất đa dạng thể hiện qua hương ước quy định của cộngđồng, những quy định, hương ước này hình thành dựa trên tập tục, văn hoá,của cộng đồng Chẳng hạn các quy định về vị trí đặt Nò sáo, Đáy hoặc phânvùng mặt nước lấy rau câu…ở phá Tam Giang chủ yếu do các ngư dân sống

Trang 20

gần phá tự quy định với nhau Tuy nhiên, những hình thức quản lý này chỉnhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng mặt nước, hạn chế xung đột xảy ragiữa những người hưởng lợi và thường không đủ hiệu lực để quản lý vấn đề

khai thác quá mức tài nguyên.[6]

Các hình thức quản lý của cộng đồng có thể thông qua các tổ chức cộngđồng tuỳ theo từng giai đọan khác nhau như Vạn, hợp tác xã, tập đoàn ngưnghiệp Vạn chài đã thành công trong hỗ trợ nhà nước Phong kiến, chínhquyền thuộc Pháp và Chính quyền Sài Gòn cũ (thu thuế): các dẫn liệu lịch sửcho thấy, về khía cạnh quản lý thủy sản, nhà nước phong kiến đã rất khônkhéo trong sử dụng Vạn chài, đã biết lợi dụng “Vạn chài” như là một hạt nhân

để quản lý - thậm chí có lúc công nhận như là một đơn vị hành chính cơ sởnhư việc thành lập tổng “Võng Nhi” dưới thời vua Tự Đức (1848 - 1883) baogồm 13 làng - vạn, hoàn toàn không có đất (Nguyễn Quang Trung Tiến,1995) Thông qua Vạn chài, nhà nước phong kiến đã thành công trong việcquản lý ngư dân, thu thuế, tự thỏa hiệp đánh bắt, giải quyết mâu thuẫnv.v với chi phí thấp và linh hoạt

Vào thời kỳ tập thể hoá, các khu vực đầm phá được giao cho hợp tác xãquản lý Hằng năm các đội hay hợp tác xã ngư nghiệp, theo hướng dẫn của chínhquyền địa phương sắp xếp lại vị trí Nò sáo…( Trương Văn Tuyển, 1998)

Trước khi có chi hội Nghề cá, hoạt động quản lý tài nguyên đầm phá có

sự thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau

Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 1999, trong thời kỳ phong kiến triềuđình giao cho các Vạn chài quản lý những thủy vực, dựa trên các đơn vị nghềnghiệp và xác nhận quyền sử dụng tài nguyên thu thuế Vạn chài quản lý trêncác lĩnh vực: quản lý ngư dân (hành vi, ứng xử), quản lý sản xuất, quản lýcộng đồng và quản lý nguồn lợi thủy sản

Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 2005, chính quyền thuộc địa Pháp cũngnhư chế độ miền nam (Mỹ - Ngụy) trước năm 1975 hầu như bảo lưu phươngcách quản lý mặt nước đầm phá Thừa Thiên Huế từ thời phong kiến dựa vàocác vạn chài

Thời kỳ tập thể hóa (1975 – 1989) phong trào tập thể hóa toàn quốc lúcnày được thực thi trên đầm phá Ngư dân được tổ chức thành đội hoặc tập

Trang 21

đoàn ngư nghiệp (tương đương với hợp tác xã nông nghiệp) Các khu vựcđầm phá được giao cho các hợp tác xã quản lý.

Thời kỳ từ năm 1989 đến nay tài nguyên đầm phá do Nhà Nước quản

lý thông qua các đơn vị hành chính như thôn, đội

Có thể lấy ví dụ minh họa về hoạt động quản lý tài nguyên đầm phátrước khi có chi hội Nghề cá tại xã Vinh Phú

Thời kỳ trước 1975, những năm chưa giải phóng, hình thức quản lý tàinguyên đầm phá ở hai cộng đồng này tổ chức Vạn Tổ chức Vạn là tập hợpnhững thành viên làm ngư nghiêp Hình thức quản lý: Bao gồm trưởng vạn,phó vạn họ là những người đứng đầu, điều hành các công việc của Vạn, đượccác thành viên trong Vạn bầu lên một cách dân chủ Trưởng vạn và phó vạn lànhững người cũng làm nghề ngư có kinh nghiệm đánh bắt, còn khỏe mạnh,phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín đối với người dân

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, hình thức quản lý Vạn bị tan rã,sau một thời gian dài thì được sự chỉ đạo UBND xã thành lập ra Đội 16 ởVinh Phú Đội hiện nay có ba tổ, mỗi tổ ứng với một thôn của xã Mỗi tổ cómột tổ trưởng và tổ phó Những người đó được nhân dân tín nhiệm và bầu ra

2.2.3 Xây dựng tổ chức ngư dân và trao quyền KT thủy sản

2.2.3.1 Phát triển hệ thống hội Nghề cá Thừa Thiên Huế

Hội nghề cá Thừa Thiên Huế (HUEFIS) được thành lập năm 2003 là tổchức xã hội – nghề nghiệp HUEFIS là thành viên của Hội Nghề cá Việt Nam(VINAFIS) có phạm vi hoạt động trên toàn quốc

Đến cuối năm 2009, hội nghề cá tỉnh đã phát triển mạnh về tổ chức,mạnglưới, thành lập được 54 chi hội với khoảng 4.500 hội viên triển khai nhiềuhoạt động trong các lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng

và chế biến thủy sản

Với các loại hình vừa đánh bắt vừa nuôi trồng, hoặc đánh bắt hoặc nuôitrồng, các chi hội nghề cá tập hợp ngư dân ở nhiều quy mô: liên thôn trong

xã, trong thôn hoặc bộ phận ngư dân trong cùng một khu vực sản xuất Ngoài

ra còn có một chi hội phát triển cộng đồng nghề cá cũng được thành lập vớicác thành viên hoàn toàn tự do, là các nhà khoa học, quản lý… với sự hoạchđịnh chức năng lâu dài của chi hội đặc biệt này là sự giúp đỡ hỗ trợ kỹ thuật

Trang 22

các chi hội nghề cá cơ sở về mọi mặt Số lượng chủng loại các chi hội nghề cátrên địa bàn cấp xã rất đa dạng, phụ thuộ vào sự hoạch định của chính quyềnđịa phương để thuận lợi trong quản lí thủy sản về sau Tuy nhiên những tiêuchí quan trọng như: nghành nghề, hệ sinh thái quần cư Là những căn cứđược xem xét ưu tiên Một số chi hội được hoạch định trên cơ sở thôn làng,một số khác theo hệ thống tài nguyên: Nguồn lợi thủy sản cho khai thác tựnhiên; Đất, nước và khả năng chuyển tải môi trường cho nuôi trồng thủysản… Một vài chi hội nghề cá được thành lập trên cơ sở khu vực hệ sinh thái,các vùng nước trên cơ sở cấp xã Nhìn chung cơ sở dựa trên quy mô thôn làng

cá được sử dụng chủ yếu, chỉ một số chi hội nghề cá dựa trên quy mô cấp xãnhư: Vinh Phú, Phú Vang, Vinh Hiền, Phong Hải, Phong Điền

Một số các chi hội nghề cá được các dự án trong và ngoài nước hỗ trợthành lập hoạt động, một số khác thì chi hội nghề cá thành lập trên cơ sở chủđộng từ sáng kiến của ngư dân địa phương và chính quyền cấp cơ sở, do nhậnthức được việc có tổ chức ngư dân sẽ tốt hơn trong việc tổ chức sản xuất vàquản lý thuỷ sản: ngư trường, nguồn lợi, môi trường thuỷ sinh

Tổ chức hệ thống các hội nghề cá cơ sở ở Thừa Thiên Huế có điểm khácvới các hội nghề cá các tỉnh bạn là được công nhận chính thức là loại hình tổchức ngư dân được nhà nước sử dụng để phát triển hệ thống quản lý nghề cádựa vào cộng đồng thông qua văn bản quy phạm pháp luật Trong “Quy chếquản lý khai thác thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế” văn bản quy phạm phápluật do Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành 19/02/2005 thì chihội nghề cá cấp cơ sở có thể được cấp quyền đánh cá trong một thuỷ vực nhấtđịnh, có thể coi đây là “thẻ đỏ - quyền sử dụng đất” cho nghề cá Sở hữuquyền sử dụng ngư trường là động lực lớn lao để phát triển hệ thống tổ chứcngư dân vì ngư dân luôn mong muốn có quyền sử dụng lâu dài trong ngưtrường được nhà nước công nhận

Về mặt phương thức tổ chức, hoạt động của mỗi một chi hội nghề cá cơ

sở ở Thừa Thiên Huế hiện nay có những nét chung về sơ đồ tổ chức, các mốiliên hệ và chính quyền địa phương, với cơ quan chuyên môn thủy sản và tỉnhhội nghề cá, nhưng đều có đặc thù riêng trong từng tổ chức và cách hoạt động

Trang 23

của mình phụ thuộc vào hội viên ở cơ sở và chính quyền cấp xã, các mối liên

hệ với các cơ quan hỗ trợ bên ngoài cùng điều kiện tự nhiên sinh thái cơ sở

Các chi hội nghề cá ở Huế được thành lập nhằm đạt các mục đích sau [7][3]

Tập hợp những người sản xuất thủy sản trên địa bàn để hợp tác, hổ trợnhau phát triển kinh tế và quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đầm phá thôngqua việc nâng cao nhận thức về chính sách, pháp luật và cải tiến kỹ thuật pháttriển nghề cá.Nâng cao nhận thức cho các hội viên và phổ biến thông tin vềpháp luật về chính sách nghề cá và nuồi trồng thủy sản.Giúp các hội viên tiếpcận các nguồn hổ trợ kỷ thuật, dịch vụ xã hội và tín dụng phát triển nghềnghiệp.Làm cơ quan quản lý trong quyền hạn cho phép với quyền và nhiệm vụ

qy định trong luật pháp của Nhà nước, tỉnh và địa phương Thông qua đó thực

hiện các biện pháp quản lý nghề cá và nuôi trông thủy sản.[3]

2.2.3.2 Cơ sở pháp lý giao quyền quản lý mặt nước cho chi hội nghề cá

- Theo Luật Thủy sản ngày 26.11.2003, của Quốc hội Việt Nam với nội dung: Khoản 1 điều 5 “…Nhà nước có chính sách bảo đảm phát triển thủy sảnbền vững; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khaithác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản; bảo đảm tái tạo nguồn lợi thủy sản

và phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùngnước tự nhiên khác ”;

Khoản 3 điều 15 “…Tổ chức cho nhân dân địa phương thực hiện quyềngiám sát, phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trong vùngkhai thác thủy sản…”

Theo Quyết định số 131/2004/QĐ-TTg ngày 16.7.2004 về phê duyệtChương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010 của Thủtướng, với nội dung: “…Xây dựng các mô hình tổ chức quản lý vùng biển ven

bờ phù hợp với tập quán, truyền thống của ngư dân địa phương Đồng thờiphát huy và nâng cao vai trò của cộng đồng ngư dân trong hoạt động quản lý,bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản…”

Theo Nghị định số123/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 Về quản lý hoạtđộng khai thác thuỷ sản của tổ chức cá nhân Việt Nam trên các vùng biển củaChính Phủ về :

Trang 24

" Khoản 6 Điều 10 Trách nhiệm của Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn)

Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợcho ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp khai thác ven bờ sang các nghề khác;quản lý dựa vào cộng đồng đối với vùng biển ven bờ; nội dung pháp luật liênquan đến hoạt động khai thác thủy sản phục vụ công tác tuyên truyền, giáodục pháp luật ở địa phương"

Khoản 4 điều 12 Trách nhiệm của UBND các tỉnh: “…Phân cấp quản

lý tuyến bờ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; phát triển các mô hìnhquản lý có sự tham gia của cộng đồng đối với việc quản lý nguồn lợi thuỷsản ở tuyến bờ…”

Theo Chỉ thị số 03/2006/CT-BTS ngày 27.03.2006 Tăng cường quản lýkhai thác các họat động thủy sản trên các vùng biển Việt Nam của Bộ Thủysản ( nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT ), về Tăng cường quản lý khai thác cáchọat động thủy sản trên các vùng biển Việt Nam “….tổ chức lại quản lý vùngbiển ven bờ theo hình thức dựa vào cộng đồng, nghiên cứu xây dựng các môhình tổ chức phù hợp với từng vùng biển; đề xuất chính sách giao quyền chocộng đồng quản lý vùng biển ven bờ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ xemxét, phê duyệt ”

Theo Chỉ thị số 02/2007/CT-BTS ngày 15.06.2007 Tăng cường quản lýnghề cá nội địa của Bộ Thủy sản ( nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT ), vềTăng cường quản lý nghề cá nội địa: “….Quản lý nghề cá nội địa với sự thamgia của cộng đồng; phải gắn trách nhiệm cuả người dân trong việc khai thác,bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và bảo vệ môi trường Hướng dẫn người dân thànhlập Hợp tác xã, tổ nhóm, hội và giao phối hợp với chính quyền địa phươngquản lý việc khai thác, nuôi trồng thuỷ sản trên sông, hồ, đầm, phá…”

Theo Nghị định 57/2008/NĐ-CP quy định về quyền, nghĩa vụ của cộngđồng tham gia bảo vệ và phát triển khu bảo tồn biển trong đó có nội dung quyđịnh về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng tham gia quản lý nguồn lợi thủy sảncủa Chính phủ, về:

"Điều 4 Cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển Khu bảo tồn biển

Trang 25

1 Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư thamgia các hoạt động quản lý, bảo tồn và xây dựng, phát triển các Khu bảo tồnbiển theo quy định của pháp luật.

2 Các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư được tham gia:

a) Công tác truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ và bảotồn đa dạng sinh học; b) Quan trắc, tuần tra và bảo vệ Khu bảo tồn biển; c)Nghiên cứu khoa học và đào tạo trong Khu bảo tồn biển; d) Dịch vụ du lịch sinhthái trong các Khu bản tồn biển……."

- Theo Công văn số 1700 /BNN-KTBVNL ngày 16.06.2009 Về việcthực hiện Đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ của Bộ Nông nghiệp và PTNT,

về việc Thúc đẩy các hoạt động triển khai thực hiện mô hình đồng quản lýnghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam

Trang 26

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Cán bộ quản lý cấp xã, chi hội nghề cáccấp cớ sở( BCH chi hội, hội viên của chi hội) với các hoạt động liên quan đếnquản lý KT&NTTS, các hoạt động KT&NTTS của các hội viên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động ĐQL của chi hội nghề cáĐội 16 xã Vinh Phú huyện Phú Vang

Phạm vi thời gian: Thông tin được thu thập qua 3 năm từ 2008-2010

3.3 Nội dung nghiên cứu

Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu.Đặc điểm của hộ khai thácthủy sản ở xã Vinh Phú

Tiến trình xây dựng mô hình đồng quản lý ở xã Vinh Phú

Hoạt động của mô hình đồng quản lý ở xã

Tìm hiểu và đánh giá kết quả ban đầu của mô hình

Những thuận lợi và khó khăn của người dân trong quá trình xây dựng mô hình

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu

Điểm nghiên cứu

Điểm nghiên cứu được chọn là xã thuộc vùng ven phá Tam Giang Cầu Hai, là xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Đảm bảocác tiêu chí sau

-+ Là các xã có hoạt động khai thác thủy sản khá phát triển, đặc biệt đã có

mô hình đồng quản lý hoạt động có hiệu quả

+ Thuận lợi cho việc điều tra thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu

Chọn mẫu nghiên cứu

+ Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên có định hướng: Chọn các hộ

có hoạt động khai thác thủy sản, là thành viên trong mô hình trên địa bàn xã.+ Căn cứ điều kiện của vùng nghiên cứu số mẫu được chọn là: 45 hộ dân

Trang 27

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập thông tin thứ cấp:

Tình hình kinh tế xã hội của điểm nghiên cứu; hoạt động khai thác tựnhiên xã Vinh Phú; báo cáo tổng kết NTTS xã Vinh Phú qua các năm; báocáo hoạt động của chi hội qua các năm 2008-2010

- Phỏng vấn người am hiểu: Cán bộ địa phương và cán bộ chi hội nghềcá: chủ tịch, phó chủ tịch chi hội nghề cá, cán bộ phụ trách công tác TS tại địaphương, cán bộ dự án ĐQL tài nguyên Các thông tin phỏng vấn: thực trạngphát triển chi hội, quy hoạch tiểu vùng, quy chế quản lý, bảo vệ tài nguyên,kết quả quản lý

- Phỏng vấn nhóm khai thác cố định và nhóm khai thác di động:

Gồm những thành viên của 3 thôn Trừng Hà, Hà Bắc, Nghĩa Lập là hộiviên của chi hội nghề cá Đội 16 đang hoạt động KTTS trên vùng mặt nướcđầm phá do chi hội quản lý Thông tin thu thập: tình hình KT qua 3 năm2008-2010, tình hình thực hiện quy chế của chi hội, tác động của quy chếquản lý đến thay đổi hoạt động khai thác của các hộ

- Phỏng vấn nhóm NTTS: Những thành viên trong chi hội tham giaNTTS trên địa bàn của chi hội Các thông tin thu thập: tình hình NTTS qua 3năm 2008-2010, tình hình thực hiện quy chế NTTS, tác động của nuôi xenghép làm thay đổi hoạt động NTTS đến các thành viên của chi hội và ngườingoài chi hội, những vấn đề của hộ qua 3 năm 2008-2010

Trang 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm cộng đồng thủy sản tại điểm nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu và phân loại hộ của cộng đồng thủy sản

Vinh Phú là một xã vùng cát nằm về phía Đông của Huyện Phú Vang,cách trung tâm huyện lỵ 9 km; phía Tây giáp với xã Vinh Thái; phía Bắc giápvới xã Phú Đa; phía Đông giáp với phá Tam Giang; phía Nam giáp với xãVinh Hà Diện tích đất tự nhiên 744 ha, trong đó diện tích mặt nước là hơn

250 ha, 181 ha đất nông nghiệp.[10]

Vinh Phú với địa hình nằm dọc theo dòng sông thủy tú dài 7km, nên rấtthuận lợi cho việc NTTS nhằm tăng thu nhập kinh tế trên địa bàn của xã.Vinh Phú là cộng đồng ngư nghiệp mà sinh kế của người dân gắn chặtvới tài nguyên đầm phá Cộng đồng này mang những nét đặc trưng của cácthôn làng ven phá Tam Giang như: có số hộ ngư nghiệp lớn, cấu trúc dân sốtrẻ, tỷ lệ gia tăng dân số nhanh, có nguồn lao động dồi dào, trình độ văn hóathấp…những đặc điểm đó được thể hiện qua bảng 1

Như bảng cho thấy toàn xã có 923 hộ với 5111 nhâu khẩu, trong đó có

2119 lao động ở 6 thôn và đội 16 Đặc biệt đội 16 là đội chuyên đánh bắtthủy sản

Về cơ cấu phân loại hộ theo ngành nghề ta thấy: trong khi hoạt động sảnxuất chính của xã là sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề thì ở đội 16 thìhoạt động sinh kế chính của người dân là KT và NTTS, người dân ở đâykhông tham gia vào các ngành nghề dịch vụ của xã Những hộ tham gia vàohoạt động ngư nghiệp của xã tập trung chủ yếu ở đội 16

Đội 16 là một cộng đồng thuần ngư với tổng số là 91 hộ thì tất cả đềulàm ngư nghiệp, vì đây là cộng đồng dân thủy điện lên định cư của xã VinhPhú, cộng đồng nằm rải rác trên các thôn Trưng Hà, Hà Bắc, Nghĩa Lập…nhưng các hộ này đều nằm dưới sự quản lý của đội 16 Toàn thôn có 595nhân khẩu chiếm 11,64 % số khẩu trên toàn xã Toàn đội 16 có 382 ngườiđang trong độ tuổi lao động chiếm 13,8 tổng số lao động của toàn xã, vàchiếm 64% số khẩu của toàn xã Đặc biệt ở đây có 1 bộ phận chưa đến tuổi

Trang 29

lao động nhưng đã tham gia tạo nguồn thu cho gia đình, chủ yếu là di cư đếncác thành phố làm người giúp việc hoặc trông em cho các gia đình.

Bảng1 : Tình hình dân số và phân loại hộ của cộng đồng TS nghiên cứu

(Nguồn: số liệu thống kê của văn phòng UBND xã Vinh Phú)

(*) : Một hộ có thể tham gia nhiều hoạt động: Vừa NN vừa KT& NTTS

Nhìn chung cộng đồng xã Vinh Phú có cấu trúc dân số trẻ, lao độngtương đối dồi dào sẽ đáp ứng yêu cầu đặc thù nghề nghiệp trên đầm phá

So với toàn xã thì tỷ lệ hộ nghèo của đội 16 thấp hơn so với toàn xã 2,55

%, qua đó ta thấy được đội 16 có điều kiện phát triển kinh tế xã hội cao, đờisống người dân ổn định hơn trên địa bàn toàn xã

4.1.2 Hoạt động KT&NTTS tại các vùng đầm phá nghiên cứu

Cũng như các cộng đồng ven phá khác, hoạt động sản xuất thủy sản làhoạt động sinh kế chính của hộ tại cộng đồng Đội 16 Hoạt động sản xuấtthủy sản bao gồm nuôi trồng thủy sản và khai thác đánh bắt tự nhiên

Trang 30

Bảng 2: Hoạt động KT&NTTS đầm phá Vinh Phú

+ Thu nhập nuôi chuyên tôm Trđ/ha 15-20 15-20

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác nuôi trồng thủy sản năm 2010 của xã)

Thông qua bảng 2 tổng hợp các thông tin về hoạt động KT và NTTS ởtrên địa bàn xã Vinh Phú ta thấy được:

Với hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản của cộng đồng ngư Đội 16của Vinh Phú, hoạt động nuôi trồng thủy sản khá phong phú so với nhiềucộng đồng ven phá khác với nhiều hình thức bao gồm: nuôi chuyên tôm, nuôixen ghép, nuôi cá lồng với 11 hộ tham gia ao nuôi và 9 hộ nuôi cá lồng

Số hộ nuôi tôm trên địa bàn xã là 50 hộ, trong đó có 20 hộ nằm trong chihội với tổng diện tích 33,1 ha Trong đó nuôi xen ghép được ưa chuộng hơnvới diện tích 18 ha còn nuôi chuyên tôm chỉ 15,1 ha với năng suất bình quâncủa nuôi xen ghép là 4,4 tạ/ha cho thu nhập bình quân là 15-16 triệu/ha/năm,còn nuôi chuyên tôm có năng suất 3,1 tạ/ha cho thu nhập 15-20 triệu/ha/năm.Ngoài ra năm 2010 xã còn có hoạt động nuôi cá lồng với tổng số 39 lồng thảcác loại ca hồng, dìa, chẻm…

Trang 31

Trong năm 2010 toàn xã đã thả nuôi được 33,1/38 ha, tổng sản lượng29,1 tấn trong đó vụ chính 10,3 tấn vụ gối 11 tấn và cá lồng 7,8 tấn, đạt 63,3

% kế hoạch, giảm 14,8 tấn so với năm 2009, ước thu được 4,060 tỷ đồng Với hoạt động khai thác đánh bắt tự nhiên tất cả mọi người ko kể làngười trong chi hội hay ngoài chi hội đều có quyền được tham gia khai thácnguồn lợi thủy sản chung của xã, với 6 nghề bao gồm:chuôm, lưới, lừ, sáo,đáy, rớ giàn trên tổng diện tích 231,1 ha

Tại đây nghề truyền thống của ngư dân là nghề chuôm và rớ giàn, đặcbiệt là nghề chuôm có tỷ lệ hộ tham gia khá đông 33 hộ Trong khi đó sáo, rớgiàn chi có 3 hộ tham gia trong mỗi nghề Nghề sáo và chuôm ở xã Vinh Phú

có thời gian KT diễn ra quanh năm, nhưng nghề sáo khai thác theo ngày cònnghề chuôm thì theo vụ, bình quân 3 tháng/vụ

Nghề có nhiều hộ tham gia nhất là lưới với 80 hộ , rồi đến nghề lừ là 60

hộ tham gia Những hộ tham gia vào làm 2 nghề này vừa là những ngườitrong chi hội nghề cá Đội 16 vừa là những người dân khác trong xã ko thamgia chi hội Nghề lưới đã xuất hiện ở đây từ những năm 90, thời gian khaithác diễn ra từ 6-9 tháng, còn lại những tháng mùa lũ thì nghỉ làm, đối tượngkhai thác chính của nghề lưới là tôm đất, cá dìa, cá móm, cá sơn, cua mỗingày mổi hộ có thể thu được từ 2-3 kg và đóng góp vào một khoản thu nhậpbằng tiền từ 50.000- 70.000 đ/ hộ/ ngày Trong khi đó nghề lừ thì mới xuấthiện gần đây, khoảng từ năm 2006 nhưng số hộ tham gia cũng đã gia tăng khánhiều Lừ cũng như lưới được sử dụng như thời gian khai thác của lưới từ 6-9tháng Đối tượng khai thác chính của lừ là tôm, cua ghẹ, cá bóng…với sảnlượng khoảng 2-3,5 kg/ngày/hộ, mang lại cho các ngư hộ một khoản thu từ50.000-80.000 đ/ngày/hộ

Các nghề sáo, đáy ít được chú ý phát triển vì đây là những nghề khai thác cốđịnh đòi hỏi diện tích mặt nước lớn và mức độ đầu tư cao, trong khi nghề lưới

và lừ thì lại là những nghề khai thác di động ít tốn diện tích và mức độ đầu tưtương đối thấp

Trong năm 2010 sản lượng tôm và cá tự nhiên mà xã khai thác được là 41tấn, đạt 108% kế hoạch năm, tăng 5 tấn so với năm trước, ước thu 1,722 tỷ đồng

Trang 32

4.1.3 Đặc điểm các hộ khảo sát

Tôi tiến hành khảo sát 45 hộ thuộc đội 16, trong đó có 5 hộ chuyên nuôi trồng, 15 hộ chuyên khai thác đánh bắt tự nhiên và 25 hộ vừa khai thác vừa khai thác vừa nuôi trồng kết quả khảo sát đựơc thể hiện qua bảng 3.Theo kết quả khảo sát hộ tại cộng đồng đội 16 xã Vinh Phú cũng như các cộng đồng ven phá khác,cộng đồng ngư dân tại đây cps đặc trung về quy mô gia đình tương đối lớn, bình quân nhân khẩu/hộ là lớn hơn 6 khẩu và số lao động/hộ lớn hơn 3 lao động, qua đó ta có thể thấy được vùng này có nguồn lao động dồi dào và chủ yếu lao động của hộ tập trung vào làm ngư nghiệp Tuổi của chủ hộ chỉ ở mức 43,3 tuổi chứng cộng đồng này là một cộng đồng dân số trẻ.Trình độ văn hoá của nguời dân đựơc phỏng vấn tương đối thấp trung bình 3,3 lớp Điều này cũng dễ nhận thấy ở các cộng đồng ven phá khác Nguyên nhân là do: Đa số dân cư của đội 16 đều là dân trước đây sống thuỷ điện di dời lên Do phải di chuyển chổ ở nhiều nên điều kiện học hành bị gián đoạn ngoài ra còn do điều kiện kinh tế của các hộ này là tuơng đối khó khăn nên ko

có điều kiện đi học

Khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuấtcủa ngư dân ở đây cong hạn chế do trình độ văn hoá thấp thiếu hiểu biết, thiếukiến thức về xã hội ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các hoạt động kinh tế.Các loại tài sản phục vụ cho sản xuất thuỷ sản của hộ gồm nhiều loại như: đò máy, ghe và các loại ngư luới cụ được ngư dân ở đây đầu tư rất kỷ

Hoạt động sản xuất và thu nhập của các hộ được khảo sát tại cộng đồngđội 16 xã Vinh Phú là cả 45 hộ đều có mức thu nhập bình quân là 44,6 trđ/hộ/ năm Nhưng trong năm vừa qua có một số hộ do nuôi bị lỗ nên kéo theothu nhập cũng bị giảm sút hơn so với những năm trước

Trang 33

Bảng 3: Tình hình nhân khẩu, lao động và trang bị phương tiện

sản xuất của cộng đồng nghiên cứu

Nhân khẩu và lao động

Phương tiện sản xuất

4.2 Mô hình ĐQL thủy sản tại xã Vinh Phú.

4.2.1 Thực trạng khai thác thủy sản và các vấn đề cần giải quyết.

Vùng đầm phá Vinh Phú với diện tích 254,9 ha có hơn 150 hộ trong vàngoài xã tham gia sử dụng nguồn tài nguyên đầm phá đó với nhiều cách thứckhác nhau Số lượng hộ chuyên sống bằng nghề KTTS tăng mạnh tạo sức éplớn lên đầm phá Trong những năm qua với sự phát mạnh mẽ của các loại

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Hoạt động KT&NTTS đầm phá Vinh Phú - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 2 Hoạt động KT&NTTS đầm phá Vinh Phú (Trang 29)
Bảng 3: Tình hình nhân khẩu, lao động và trang bị phương tiện  sản xuất của cộng đồng nghiên cứu - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 3 Tình hình nhân khẩu, lao động và trang bị phương tiện sản xuất của cộng đồng nghiên cứu (Trang 32)
Bảng 4: Thực trạng cải tiến quản lý tại xã Vinh Phú - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 4 Thực trạng cải tiến quản lý tại xã Vinh Phú (Trang 38)
Bảng 5: Nhận thức của hộ về thay đổi quản lý tài nguyên đầm phá  giai đoạn 2006 - 2010 ở Vinh Phú. - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 5 Nhận thức của hộ về thay đổi quản lý tài nguyên đầm phá giai đoạn 2006 - 2010 ở Vinh Phú (Trang 41)
Bảng 6. Thay đổi số hộ, sản lượng và ngư cụ khai thác ở Vinh Phú - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 6. Thay đổi số hộ, sản lượng và ngư cụ khai thác ở Vinh Phú (Trang 42)
Bảng 9 Thay đổi các hoạt động tạo thu nhập cấp hộ - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 9 Thay đổi các hoạt động tạo thu nhập cấp hộ (Trang 47)
Bảng 10. Thay đổi chi tiêu cấp hộ - tìm hiểu mô hình đồng quản lý ở xã vinh phú, huyện phú vang
Bảng 10. Thay đổi chi tiêu cấp hộ (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w