Những năm qua, với chính sách đổi mới và hội nhập của Đảng và Nhànước, khu vực kinh tế hợp tác, HTX đã có những bước phát triển, ngày càngxuất hiện nhiều HTX, liên hiệp HTX mạnh về kinh
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đườnglối chiến lược lâu dài của Đảng và nhà nước ta Trong đó phát triển kinh tếhợp tác là yêu cầu và xu thế phát triển tất yếu khách quan có tầm quan trọngđặc biệt để từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh
Đảng và nhà nước ta luôn luôn chăm lo phát triển kinh tế hợp tác và Hợptác xã Những năm qua, với chính sách đổi mới và hội nhập của Đảng và Nhànước, khu vực kinh tế hợp tác, HTX đã có những bước phát triển, ngày càngxuất hiện nhiều HTX, liên hiệp HTX mạnh về kinh tế - sản xuất, kinh doanh,dịch vụ có hiệu quả HTX đã thực hiện tốt vai trò "hợp tác" thúc đẩy kinh tế
hộ phát triển bằng việc thực hiện tốt cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho xãviên, như thủy lợi, quản lý và phân phối điện năng, cung ứng vật tư, khuyếnnông, làm đất, bảo vệ thực vật, tiêu thụ nông sản… Tuy vậy, việc phát triểnhợp tác xã nông nghiệp hiện nay ở nước ta nói chung và ở Thừa Thiên Huếnói riêng còn nhiều mặt hạn chế
Trước đây, đa số các HTX.NN thực hiện dịch vụ bơm tưới là chủ yếunhưng sau khi có đề án của UBND Tỉnh ra đời và chính sách miễn thủy lợiphí của CP, nhiều HTX đã mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ.Bên cạnh đó, với chủ trương các HTX phải tự hạch toán kinh tế của đơn vịmình cũng tạo điều kiện cho các HTX đa dạng hóa các loại hình cung cấpdịch vụ của mình
Trong những năm qua, tuy các HTX.NN đã mở rộng được nhiều dịch vụsản xuất nông nghiệp phục vụ nông dân nhưng một số hoạt động tổ chứckhông hiệu quả, nhiều HTX hoạt động thua lỗ phải giải tán, nông dân gặpnhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Theo báocáo của UBND xã Phong Sơn, toàn xã đang đã hình thành và phát được 6HTX.NN nhưng do còn gặp nhiều khó khăn trong việc điều hành và quản lý
Trang 2nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sự đa dạng hoạt động kinh doanh của cơchế thị trường, nhiều HTX còn đơn điệu các hoạt động sản xuất, kinh doanhdịch vụ của mình, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của của ngườidân trong sản xuất nông nghiệp Ở Phong Sơn nói riêng và toàn tỉnh ThừaThiên Huế nói chung, các HTX.NN hoạt động chủ yếu là cung cấp dịch vụđầu vào trong sản xuất nông nghiệp như thủy lợi, làm đất, bảo vệ thực vật, …
và trong cung cách phục vụ các hoạt động còn nhiều hạn chế
Trước tình hình đó, việc tiến hành tìm hiểu hiệu quả các hoạt động kinhdoanh, những khó khăn, trở ngại của các HTX.NN, tổng kết các hoạt động cóhiệu quả, xác định nhu cầu dịch vụ của người dân để mở rộng dịch vụ sảnxuất kinh doanh, tìm ra được mô hình HTX kinh doanh có hiệu quả để cácHTX khác noi theo là hết sức cần thiết
Vì nhưng lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác trên địa bàn xã Phong Sơn, Phong Điền, Thừa Thiên Huế”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX
- Tìm hiểu được lợi ích các HTX mang lại cho các xã viên khác gì so vớinhững người không tham gia HTX
- Xác định được mô hình HTX hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quảnhất trên địa bàn xã để có thể nhân rộng
- Những khó khăn và giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa các HTX
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trước đây, khi nghiên cứu lý luận chủ nghĩa MAC – LÊNIN về kinh tếHTX, GS.Lê Văn Tùng, GS.Lê Văn Sung phát hiện “C.MAC đã khẳng định:
“Dù sao thì điều chủ yếu cũng phải làm cho nông dân hiểu rằng chúng ta chỉ
có thể cứu vãn và bảo tồn được tài sản của họ bằng cách biến tài sản đó thànhtài sản hợp tác xã và thành những doanh nghiệp hợp tác xã Bởi vì chính nềnkinh tế cá thể, kết quả của sở hữu tư nhân, mới làm cho nông dân bị diệtvong Nếu họ muốn bảo tồn nền kinh tế cá thể, thì tất yếu họ sẽ bị đuổi rakhỏi cơ nghiệp của họ, còn phương thức sản xuất lỗi thời của họ sẽ nhườngchỗ cho nền kinh tế TBCN quy mô lớn…”.Theo C.MAC, mọi người nôngdân đều phải tham gia vào HTX và chúng ta có nhiệm vụ phải giúp họ nhận
rõ vai trò của HTX đối với nền sản xuất cá thể hiện có, hướng nền kinh tế sởhữu tư nhân thành nền kinh tế sở hữu tập thể”.[2]
“Trên cơ sở thừa hưởng những nghiên cứu, quan điểm của C.MAC, Lênin
đã biết vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước Nga lúc bấy
Trang 4giờ để chỉ rõ vai trò của HTX trong việc xóa bỏ sự nghèo khổ, khốn cùng củangười dân, Lênin chỉ rõ: “Lối làm ăn xưa, người nông dân làm việc ở nhàmình, trên mảnh đất nhỏ bé của mình, với gia súc, gà vịt của mình, …lối làm
ăn đó, chúng ta đã thấy bao nhiêu năm, hàng bao nhiêu thế kỷ rồi Dù ở Ngahay ở nơi nào khác, chúng ta đều biết rất rõ rằng cách làm đó chỉ đưa đến chonông dân sự ngu dốt, sự nghèo khổ, sự thống trị của người giàu đối với ngườinghèo, vì phân tán thì không thể giải quyết được những vấn đề đặt ra chonông nghiệp Do đó, nhiệm vụ hiện nay của chúng ta là phải chuyển sang lốicanh tác tập thể, sang kinh doanh tập thể trên quy mô lớn” Và đưa tầm quantrọng của HTX lên một tầm cao mới trong sự nghiệp phát triển đất nước lênCNXH Theo Lênin: “Chuyển từ chế độ hợp tác xã của những người sản xuấtnhỏ lên CNXH là chuyển từ tiểu sản xuất sang đại sản xuất Nghĩa là mộtbước quá độ phức tạp hơn, nhưng thiếu thành công, lại có thể bao gồm đượcnhững khối quần chúng nhân dân đông đảo hơn, nhổ được những gốc rể sâu
xã hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ tiền XHCN, thậm chí tiềnTBCN…chính sách hợp tác một khi thành công, sẽ góp phần làm cho nềnkinh tế nhỏ phát triển và tạo điều kiện cho kinh tế quá độ - trong một thời hạnkhông nhất định – lên đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp” [2]
“Tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo quan niệm của chủ nghĩa Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Hồ Chí Minh luôn xem HTX là conđường để đưa đất nước phát triển, đặc biệt là nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ,manh mún, lạc hậu của nước ta thời bấy giờ Hồ Chí Minh cũng khẳng định:
Mac-“Nước ta là một nước nông nghiệp, phát triển nền kinh tế nói chung phải lấyviệc nông nghiệp làm gốc, làm chính Nếu không phát triển nông nghiệp thìkhông có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyênliệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làmra” Phát triển nông nghiệp là phát triển công nghiệp và các ngành nghề khác,
mà muốn nông nghiệp phát triển thì trước hết phải để cho người dân nhận ra
rõ vai trò của HTX trong sự phát triển đó Theo Bác, đất nước ta chủ trương
“lấy dân làm gốc”, “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”, chính vì điều đó,mục tiêu quan trọng hàng đầu là “lo cho nhân dân cơm no áo ấm, từng bướcnâng cao đời sống cho nhân dân lao động, nông dân ta giàu thì nước ta giàu
Trang 5Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh Nông dân muốn giàu, nông nghiệpmuốn thịnh thì cần phải có hợp tác xã”[2] Vì thế phát triển HTX là một bướckhông thể thiếu trong quá trình phát triển của đất nước ta.
Từ những quan niệm về tầm quan trọng của HTX, trong lịch sử phát triểnkinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, sự phát triển của kinh tế HTX đã chứngminh được một chân lý: Kinh tế tập thể nói chung và hợp tác xã nói riêngkhông phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế
mà là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng trong giải quyết việc làm, đảm bảođời sống cho đông đảo người lao động, nhất là ở các nước đang phát triển, tạo
sự ổn định về chính trị xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triểncủa mỗi quốc gia Vì vậy, ở nhiều nước Chính phủ rất quan tâm và có chínhsách ưu đãi, nâng đỡ khu vực kinh tế tập thể, coi sự phát triển của kinh tế tậpthể nói chung và HTX nói riêng là một tất yếu khách quan của sự phát triển
2.1.2 Quan điểm của Đảng ta về sự phát triển HTX
Ở nước ta, phát triển kinh tế tập thể và HTX là nhu cầu thực tế kháchquan, đáp ứng của đòi hỏi của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, là tất yếu củanền kinh tế hàng hoá Xét cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, phát triển HTX xuấtphát từ chính nhu cầu phát triển của kinh tế hộ, là chỗ dựa vững chắc cho kinh
tế hộ, người lao động riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và pháttriển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Đảng ta đãkhẳng định qua nhiều kỳ đại hội phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng XHCN và Nghị quyết Đại hội IX ngày 22 tháng 4 năm 2001 đã chỉ rõ:
“Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật điều là bộ phận cấu thànhquan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dàihợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảngvững chắc của nền kinh tế quốc dân”[11]
Điều này có nghĩa là trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tập thể
mà nòng cốt là HTX, trong đó có HTX.NN cùng với kinh tế nhà nước giữ vịtrí là nền tảng của nền kinh tế quốc dân định hướng xã hội chủ nghĩa Đồngthời HTX.NN còn là nòng cốt trong hệ thống các hình thức kinh tế hợp tác
Trang 6trong nông nghiệp, thực hiện vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
xã hội ở nông thôn
2.1.3 Chính sách phát triển HTX ở nước ta
Kể từ khi HTX đầu tiên của nước ta được thành lập vào năm 1959 chođến nay Nhà nước Việt Nam đã có rất nhiều chủ trương chính sách chỉ đạo vàkhuyến khích phát triển kinh tế HTX
“Trước khi có luật HTX, trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tậptrung, bao cấp, việc tổ chức nông dân vào HTX.NN là một nhiệm vụ đặc biệtquan trọng để xây dựng nền nông nghiệp tập thể hóa, làm công cụ cho việcchỉ huy thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội Chính sách phát triển HTX.NNtrong thời kỳ này là: Tập thể hóa triệt để về ruộng đất và các tư liệu sản xuất
cơ bản khác; tổ chức lao động tập thể và thống nhất phân phối thu nhập trongHTX Mọi kế hoạch trong HTX đều phải tuân theo kế hoạch từ cấp trên đưaxuống HTX được coi là một tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của nhà nước.Trong giai đoạn này do các chính sách không phù hợp nên nền nông nghiệpcủa nước ta đã trì trệ kéo dài dẫn đến khủng hoảng kinh tế trong nước”[6]
Từ năm 1981 đến năm 1988, nước ta bắt đầu thi hành một số chính sáchmới, đặc biệt là Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban Bí Thư Trungương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhómlao động và người lao động”[8], chỉ thị đã bước đầu giải phóng một phần lựclượng sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn Nhưng đó chỉ là giải pháptình thế Nhìn chung, mô hình HTX.NN và nhiều chính sách của Nhà nướcchưa được sửa đổi cơ bản
“Đến năm 1988, chúng ta đã thực hiện đường lối đổi mới nhằm chuyểnnền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hànghóa theo cơ chế thị trường Hàng loạt các chính sách mới trong nông nghiệp
đã ban hành: NQ 10/NQ-TW, ngày 05/04/1988 của Bộ chính trị về đổi mới cơchế quản lý kinh tế nông nghiệp, NQ 16, ngày 15/7/1988 của Bộ chính trị vềđổi mới quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, và nhiều chính sách pháthuy các thành phần kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm phát huy môitrường pháp lý trong nông nghiệp như: Chính sách đất đai, thuế, cho hộ sảnxuất vay vốn để phát triển sản xuất, khuyến nông, khuyến khích làm giàu và
Trang 7“Xóa đói, giảm nghèo”,…Mặc dù hệ thống các chính sách trên tuy chưa hoànchỉnh, song đó là nhân tố chủ yếu tạo ra động lực để nông nghiệp tăng trưởng,phát triển trong một thời gian dài”[16]
“Để tạo hành lang pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả hơn,tháng 3/1996 Quốc hội thông qua Luật HTX và có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/1997
Sau khi có Luật HTX, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách đối với cácHTX: Nghị định của chính phủ số 15-CP ngày 21/2/1997: về chính sáchkhuyến khích phát triển HTX, gồm những chính sách: chính sách đất đai,chính sách thuế, chính sách tín dụng, đầu tư, chính sách đào tạo, thông tinkhoa học-công nghệ, chính sách xuất, nhập khẩu và liên doanh, liên kết kinh
tế, chính sách bảo hiểm xã hội; NĐ số 43 CP ngày 29/4/1997 ban hành Điều
lệ mẫu hợp tác xã nông nghiệp; Thông tư số 44/1999/TT-BTC ngày26/4/1999 của bộ tài chính hướng dẫn về ưu đãi đối với hợp tác xã,…Đếnnăm 2002, sau gần 5 năm thực hiện luật HTX, mặc dù kinh tế hợp tác mànòng cốt là HTX đã đạt được nhiều thành quả, đóng góp quan trọng vào quátrình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiềumặt hạn chế, yếu kém Vì vậy, để tiếp tục đưa kinh tế tập thể phát triển ngày18/3/2002 Ban chấp hành TW khóa IX đã ra Nghị quyết số 13-NQ/TW vềtiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Sau khi luậtHTX được sửa đổi năm 2003, hàng loạt các chính sách hỗ trợ phát triển HTXkhác được ban hành: NĐ số 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 của Chínhphủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hợp tác xã năm 2003; NĐ
số 77/2005/NĐ-CP ngày 09/6/2005 của Chính phủ về việc ban hành mẫuhướng dẫn xây dựng Điều lệ hợp tác xã; Chỉ thị số 24/2005/CT-TTg ngày28/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiệnNghị quyết Trung Ương 5 (Khóa IX) về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005của Chính phủ hướng dẫn về đăng ký kinh doanh hợp tác xã; Nghị định số88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ,khuyến khích phát triển hợp tác xã; Nghị định số 94/2005/NĐ-CP ngày15/7/2005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và hợp
Trang 8tác xã bị phá sản; Mới đây nhất là Thông tư số 02/2006/TT-BKH ngày13/02/2006 của Bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều tạiNghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ vềmột số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX”[12].
Còn theo tổ chức lao động Quốc Tế - ILO định nghĩa: “HTX là sự liên kết
của những người gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liênkết lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ
đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết nhữngkhó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cách sử dụng cácchức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và
tinh thần chung”[16]
Định nghĩa HTX theo luật HTX của Việt Nam năm 1996: “HTX là tổ
chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tựnguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huysức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệuquả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống,góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước”[3]
Định nghĩa Luật HTX sửa đổi năm 2003: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể,
do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên), có nhu cầu lợiích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này đểphát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúpnhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng caođời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đấtnước”[4]
“HTX.NN là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác trongnông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và
Trang 9nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh
tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống của các thành viên, tổ chức vàhoạt động theo nguyên tắc, luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân”[4]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở các nước trên thế giới
HTX nói chung, HTX.NN nói riêng đã ra đời và phát triển ở nhiềuquốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ và từng bước phát triển sang các quốc gia Châu Á.Chúng ta biết, vào cuối thế kỷ XIX, kinh tế thị trường TBCN đang bắt đầuphát triển ở một số nước Tây Âu, Bắc Mỹ Quá trình đô thị hóa và côngnghiệp hóa diễn ra ồ ạt, nông dân bị tước đoạt ruộng đất và bị vô sản hóa trởthành giai cấp công nhân làm thuê Những người sản xuất nhỏ bị dồn ép bởi
sự cạnh tranh “Cá lớn nuốt cá bé” của các tầng lớp tư bản Nông dân vànhững người lao động nhận ra ưu thế của mình là nếu như họ hợp tác vớinhau thông qua việc lập ra các HTX ở các lĩnh vực khác nhau
“Các loại hình HTX xuất hiện đầu tiên trên thế giới năm 1844 là HTXtiêu dùng ở Anh, năm 1849 là HTX tín dụng ở Đức, năm 1887 là HTX cungứng vật tư nông nghiệp ở Hà Lan và sau đó xuất hiện các loại hình HTX chếbiến và HTX tiêu thụ nông sản ở nhiều nước”[2]
“Ở Pháp, các HTX tiêu thụ đã bán 75% khối lượng thị trường ngũ cốctrong nước và xuất khẩu Ở Mỹ 3620 HTX tiêu thụ đã chiếm 90% thị trườngquả có múi, 70% sữa, 40% ngũ cốc và 7500 HTX thủy nông đã cung cấpnước cho 25% diện tích ruộng nước có tưới, 1275 HTX cải tiến giống bò sữa,
600 HTX sử dụng chung đồng cỏ và dịch vụ nông thôn, 900 HTX khí hóanông thôn, với 5,7 triệu xã viên Còn ở Hà Lan, HTX chế biến tiêu thụ nôngsản đã chiếm lĩnh 87% thị trường sữa, 94% thị trường bơ và 94% thị trườnghoa của nước này”[2]
“Ở Châu Á, đầu thế kỷ XX, HTX ra đời và phát triển ở nhiều nước ỞNhật Bản, các HTX.NN đã cung cấp cho nông dân xã viên 89% phân hóa học,75% thuốc trừ sâu, 54% thức ăn gia súc, 44% máy nông nghiệp và tiêu thụ95% thị trường lúa gạo, 25% thị trường rau, 16% thị trường thịt của Nhật”[7] “Ở các nước Liên Xô (cũ), Đông Âu, Trung Quốc, HTX ra đời vàphát triển mạnh từ những thập niên đầu thế kỷ XX Ở Liên Xô (cũ), từ sau
Trang 10Cách Mạng Tháng Mười năm 1917 đến năm 1928, có 65.000 HTX cung tiêuvới 37,5% hộ nông dân tham gia và 33.400 HTX dich vụ kỹ thuật dùng chungmáy nông nghiệp do nông dân tự nguyện tổ chức ra Còn ở các nước Đông Âutrước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, đều có mạng lưới HTX.NN Năm
1944, ở Bungary có 4114 HTX, trong đó có 3156 HTX nông thôn với 1,6triệu xã viên hoạt động ở các lĩnh vực như tín dụng, cung tiêu hoa hồng, rượunho, thuốc lá, củ cải đường, dâu tằm, thủy lợi, vận chuyển Ở Trung Quốc, từnăm 1949 – 1957 đã tổ chức được 740.000 HTX.NN theo mô hình tập thểhóa, tập hợp gần 120 triệu hộ nông dân vào làm ăn tập thể Năm 1992 ởTrung Quốc có 60.000 HTX tín dụng nông thôn, tổng doanh số mạng lướiHTX tín dụng là 119 tỷ nhân dân tệ, đáp ứng khoảng 60 – 70% nhu cầu tíndụng cho các hộ nông dân Tuy nhiên, ở Liên Xô (cũ) và một số nước XHCN,các mô hình HTX tập thể hóa hình thành trong nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung phụ thuộc vào nhà nước, khác với bản chất HTX của nền kinh tế thịtrường, đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã lâm vào khủng hoảng và tan rãhàng loạt nhường chỗ cho HTX kiểu mới ra đời phù hợp cơ chế thị trường vànguyện vọng của các nông, ngư dân”[2]
2.2.2 Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở Việt Nam
Ở Việt Nam, HTX chủ yếu là HTX.NN được bắt đầu xây dụng từ tháng8/1955, tức sau khi Nghị quyết TW lần thứ 14 (khóa II) ra đời, Nghị quyếtnày chủ trương xây dựng thí điểm các HTX từ năm 1955 đến nay, phong tràoHTX ở Việt Nam có thể chia ra làm 02 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Từ năm 1955 đến năm 1986:
- “Ở giai đoạn này, nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế tậpthể, mà nòng cốt là HTX, Nghị quyết TW lần thứ 14 (khóa II) tháng 11/1958Đảng ta xác định: Phong trào HTX ở nước ta mới xây dựng; vì vậy, phải đi từthấp đến cao, từ tổ vần công, đổi công đến HTX bậc thấp, rồi HTX bậc cao.Quan điểm này thể hiện rõ trong tư tưởng của Bác Hồ về hợp tác hóa nôngnghiệp và được đăng tải ở nhiều tác phẩm trong Hồ Chí Minh toàn tập”[6] “Trong hai thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ XX, phong trào xây dựng HTX ởmiền Bắc nước ta trở nên rầm rộ, đã đóp góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế
xã hội ở miền Bắc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng ở miền Nam
Trang 11Từ sau năm 1975, đất nước thống nhất, ở miền Nam bắt tay vào xây dựngHTX Trong thời kỳ này do quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất nên mô hình HTX chưa phát huy tác dụng,thậm chí làm cho sản xuất nông nghiệp chậm phát triển”[16].
Giai đoạn 2: Từ năm 1986 đến nay
- “Sau khi có nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ VI (1986) về việc đề rađường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sựquản lý của nhà nước theo định hướng XHCN; Nghị quyết 10/NQ- TW, ngày05/04/1988 của Bộ Chính Trị về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp;Nghị quyết 16, ngày 15/07/1988 của Bộ Chính Trị về đổi mới quản lý cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh; Hiến pháp năm 1992; Bộ Luật dân sự năm1995; luật HTX năm 1996; các điều lệ mẫu của các loại hình HTX năm 1997
và luật HTX sửa đổi năm 2003”[6]
“Đặc biệt từ khi luật HTX ban hành năm 1996 và có hiệu lực thi hành01/01/1997, phong trào HTX ở Việt Nam mới thực sự có thay đổi về chất màngười ta thường gọi là HTX kiểu mới Cùng với việc thực hiện chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo thực hiện Nghị Quyết Hộinghị Trung Ương 5(Khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệuquả kinh tế tập thể ra ngày 02/01/2008 Các HTX dịch vụ nông nghiệp đã cóchiều hướng phát triển đa ngành nghề, kinh doanh tổng hợp nhằm phục vụ tốthơn cho nhu cầu xã viên”[12]
Xu thế hợp tác, liên kết giữa các HTX với cơ quan nghiên cứu khoa học,các thành phần kinh tế khác tiếp tục được mở rộng Hoạt động sản xuất kinhdoanh của các HTX đã có nhiều chuyển biến đáng kể, phát triển và dần đi vào
ổn định Ở nhiều nơi HTX đóng vai trò đầu mối trong việc tham gia cácchương trình kinh tế - xã hội của Nhà nước, góp phần không nhỏ vào việc xoáđói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu vùng
xa Theo Hội nghị Ban Chấp Hành Liên minh HTX Việt Nam lần thứ 2, khoá
IV, ngày 06 – 01 – 2011, quá trình phát triển kinh tế HTX ở nước ta đạt đượcnhững kết quả cụ thể như sau:
- Tổ hợp tác: “tình đến năm 2010, cả nước đẽ thành lập được 360.000 tổhợp tác so với 2001 tăng 34,3%, gấp hơn 2,5 lần so với năm 1997 Với các tổ
Trang 12hợp tác trong các ngành và các lĩnh vực đã phản ánh nhu cầu hợp tác, hỗ trợlẫn nhau của người dân trong hoạt động sản xuất, đời sống Về mặt kinh tế,các tổ hợp tác đã thúc đẩy sản xuất trên địa bàn phát triển, tận dụng đượcnguồn lực (đất đai, nguyên liệu, vốn, lao động ) tại địa phương, góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho các
hộ thành viên, đồng thời tạo tiền đề cho cung cách làm ăn mới, hướng sảnxuất tới thị trường Về mặt xã hội, các tổ hợp tác là mô hình tự trợ giúp vàtương trợ lẫn nhau để cùng thoát khỏi đói nghèo và vươn lên đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu kinh tế, xã hội của mình, đề cao tinh thần tương thân,tương ái, vì cộng đồng”[10]
- Hợp tác xã: “Các HTX kiểu cũ đã chuyển đổi xong giải thể HTX hìnhthức, HTX mới thành lập ngày một tăng, dần đáp ứng nhu cầu sản xuất vàtiêu thụ nông sản của xã viên, hộ nông dân Tính đến 31/12/2010, cả nước có18.845 HTX (tăng 4% so với năm 2009), 55 liên hiệp HTX, trong đó có 8.907HTX dịch vụ nông nghiệp, 1.081 HTX thương mại dịch vụ, 1.101 HTX giaothông vận tải, 502 HTX thuỷ sản, 915 HTX xây dựng, 2.605 HTX côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, 1.054 quỹ tín dụng nhân dân, 1.849 HTX dịch
vụ điện nước, 154 HTX môi trường và 677 HTX thuộc các lĩnh vực khác.Năm 2010, có 711 HTX được thành lập mới, đồng thời có 275 HTX giải thể.Trong bối cảnh kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhưng số HTX thành lậpmới vẫn tăng so với năm 2008 và 2009 Số HTX thành lập mới có số vốn điều
lệ cao hơn, có định hướng sản xuất kinh doanh rõ ràng, tập hợp được đội ngũquản lý có năng lực, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực đang được khuyếnkhích như: HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp, HTX trồng cây ăn quả,rau sạch, HTX chăn nuôi, HTX môi trường… Số HTX còn lại đã tập trungkhắc phục khó khăn, kết nạp thêm xã viên, nâng cao vốn điều lệ, duy trì đạihội định kỳ, mở rộng thêm ngành nghề, nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cóđịnh hướng rõ ràng hơn Nhiều HTX đã duy trì tốt hoạt động, tăng cường đầu
tư, đổi mới phương thức huy động vốn, đổi mới công nghệ, cơ sở vật chất, tạothêm việc làm và nâng cao thu nhập cho xã viên, người lao động Hoạt độngcủa các liên hiệp HTX đã góp phần thúc đẩy các HTX triển, sản xuất, kinhdoanh hiệu quả hơn Số HTX thành lập mới, ngoài việc cung cấp một số dịch
Trang 13vụ cung cấp cho xã viên, phần lớn được tổ chức và hoạt động nhằm tiêu thụnông sản hiện đang là nhu cầu bức xúc của xã viên”[10]
2.2.3 Tình hình phát triển mô hình HTX ở Thừa Thiên Huế
“Sau hơn 7 năm thực hiện Luật HTX (2003-2010) và Đề án phát triểnkinh tế tập thể của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2010, HTX ở tỉnh ThừaThiên Huế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Tính đến năm 2010, toàn tỉnh
có 158 HTX nông nghiệp (giảm 4 HTX so với năm 2003), trong đó có 64 HTXxếp loại khá (chiếm 40,5%), 63 HTX xếp loại trung bình (chiếm 39,8%) và 31HTX xếp loại kém (chiếm 19,6%) Kết quả doanh thu của các HTX năm 2010đạt 174.001 triệu đồng, trong đó tổng lãi 10.525 triệu đồng với bình quân 1 HTXnông nghiệp lãi 72 triệu đồng Sự phát triển của các mô hình HTX đã thúc đẩycho sự phát triển kinh tế – xã hội của toàn tỉnh và bước đầu thể hiện được vai tròquan trọng của nó trong việc tiếp thu, hướng dẫn chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ngànhnghề, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các vùng nông thôn, miền núi góp phầnvào quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ta đangthực hiện Bên cạnh những kết quả đạt được HTX.NN vẫn còn mắc phải một sốkhó khăn như còn nặng về làm dịch vụ mà chưa chú trọng đúng mức cho đầu tưtrực tiếp vào phát triển sản xuất, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh về nôngsản, tạo vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật còn hạn chế, chưa thật sự tạo được mối quan hệ gắn kết về kinh tế giữaHTX.NN và các xã viên, năng lực của Ban chủ nhiệm HTX chưa đáng ứng vớitình hình, nhiệm vụ mới,…”[8]
Trang 14PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động kinh doanh của các HTX sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
xã Phong Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Hoạt động của HTX trong khoảng từ 2006 – 2010
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xã Phong Sơn, huyệnPhong Điền, Thừa Thiên Huế
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của vùng nghiên cứu:
+ Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
+ Đặc điểm về điều kiện kinh tế – xã hội
- Thực trạng hoạt động của HTX:
+ Quá trình thành lập của các HTX
+ Tình hình chung của các HTX:
Tình hình tham gia vào HTX của người dân
Bộ máy quản lý của HTX
Nguồn vốn hoạt động của HTX
+ Quy mô và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX:
- Hiệu quả của các hoạt động:
+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ
+ Các hoạt động khác
- Ảnh hưởng của cơ chế chính sách đến sự phát triển của các HTX
- Những khó khăn và thuận lợi của các HTX
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA (Participatory Rural
Appraisal)
- Thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
- Tiến hành điều tra toàn diện các HTX.NN trên địa bàn xã Phong Sơn
Trang 153.4.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp
- Báo cáo của huyện về tình hình phát triển hợp tác xã trên toàn huyện
- Báo cáo của xã về tình hình kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động cũngnhư đóng góp của các HTX trên địa bàn xã
- Báo cáo của các HTX về các hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quảđạt được của các hoạt động đó
Ngoài ra, các báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giảcông bố trên các sách báo, tạp chí chuyên ngành chăn nuôi, nông nghiệp, tàichính, Website, cũng được sử dụng làm nguồn tài liệu thứ cấp
3.4.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn người am hiểu:
+ Các bộ xã: Tìm hiểu sự đóng góp của các hợp tác xã đối với sự pháttriển của toàn xã, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xãhiện nay như thế nào và các định hướng cũng như chính sách hổ trợ của xãđối với việc phát triển mô hình hợp tác xã
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thu thập được tổng hợp mã hoá và xử lý bằng phần mềmEXCEL
- Các thông tin thu được từ điều tra được tổng hợp để phục vụ phân tíchcác số liệu
Trang 16PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm kinh tế – xã hội của xã Phong Sơn
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Phong Sơn là một trong ba xã miền núi của huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế Cách trung tâm thị trấn Phong Điền 16 km và thành phố Huế 30km
Xã nằm trên tuyến đường tỉnh lộ 11B Ranh giới giới hành chính của xã:
+ Phía Đông, Đông Nam giáp huyện Hương Trà
+ Phía Tây giáp xã Phong Xuân
+ Phía Nam giáp huyện A Lưới
+ Phía Bắc giáp xã Phong Xuân, Phong An
Tổng diện tích của toàn xã là 11.530 ha trong đó đất đồng bằng chỉchiếm 2/5 diện tích còn lại là đất đồi núi Với lợi thế là nằm ở thượng nguồncủa sông Bồ, Phong Sơn có điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp Cùng với
vị trí thuận lợi, xã cũng có tiềm năng và cơ hội lớn để trao đổi, giao lưu mọimặt về kinh tế, văn hóa, xã hội và định hướng phát triển trong tương lai
* Địa hình
Với địa hình lòng chảo, thường úng vào mùa mưa nên sản xuất chínhcủa người dân ở đây tập trung chủ yếu vào vụ Đông Xuân, còn vụ Hè Thu 1/4diện tích không thể tiến hành gieo trồng được Đặc biệt với 3/5 diện tích làđồi núi nhưng được phân chia rõ ràng giữa đất đồng bằng và đất đồi núi, vìthế xã Phong Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vùng gò đồi,nhất là trồng rừng
* Đất đai, thổ nhưỡng
Loại đất chủ yếu ở đây là đất cát pha, đất thịt, đất phù sa do sông Bồbồi đắp, đất đỏ, đất xám,… qũy đất này rất phù hợp cho người dân phát triểnnông nghiệp toàn diện theo hướng chuyên canh Hiện nay, bên cạnh quỹ đất
đã được sử dụng vào đúng mục đích thì còn một bộ phận đất do nhiều yếu tốnhu khí hậu, địa hình,… vẫn bỏ hoang gây lãng phí
Trang 17
* Khí hậu, thời tiết
- Nhiệt độ: Nhiệt độ biến động rõ rệt theo mùa Mùa khô chịu ảnhhưởng của gió Tây Nam khô nóng nhiệt độ cao ( 38 - 400C ) vào tháng 6, 7,mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc nên nhiệt độ khá thấp ( 9 -110C )vào tháng 1, 2 Nhiệt độ trung bình 250C
- Mưa: Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau chiếm 78%lượng mưa của cả năm Hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 10, 11,trung bình mỗi tháng có 20,7 – 21,6 ngày có mưa với lượng mưa trung bình580,6 - 795,6 mm/ tháng Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 Các tháng ít mưanhất là tháng 2, 3, 4 Lượng mưa trung bình trong các tháng này là 47,1 – 62,6mm/ tháng
- Lượng nước bốc hơi và độ ẩm không khí: Luợng bốc hơi nước trongnăm trung bình là 990mm Độ ẩm không khí bình quân cả năm đạt 83%, caonhất là tháng 11 đến tháng 2 năm sau, thời gian này độ ẩm đạt 85 – 88% [14]
4.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế – xã hội
* Dân số và lao động
Hiện nay, “toàn xã có 10.974 người với mật độ bình quân là 95,2
người/km2 so với mật độ bình quân của huyện là 92,42 người/km2 thì mật độdân số của xã Phong Sơn lại lớn hơn Năm 2010 vừa qua, xã Phong Sơn có7.285 người trong độ tuổi lao động chiếm 56.15% dân số của xã trong đó có70% lao động nông nghiệp, 16,2% lao động ngoại tỉnh và 13,8% lao động
ngành nghề khác”[14] Tuy lao động giữa các thôn phân bố tương đối đồng
đều nhưng đa số lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là nhữngngười đã có gia đình hoặc già cả còn một lượng lớn lao động trẻ tuổi tiếnhành đi làm ăn xa Điều này, tạo ra thuận lợi cũng như thách thức cho pháttriển kinh tế của xã Thuận lợi là những người lao động ngoại tỉnh đa số làmviệc trong các nhà máy, xí nghiệp nên đây là lực lượng chủ chốt để đưa nềnkinh tế của xã phát triển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, bên cạnh
đó cũng tồn tại nhiều thách thức cho nền sản xuất của xã Phong Sơn khi trongtương lai không còn tồn tại lao động nông nghiệp
Trang 18
* Hoạt động sản xuất của người dân
Xã Phong Sơn là một xã ở vùng gò đồi của huyện Phong Điền nên hoạtđộng nông nghiệp là hoạt động sản xuất chính của cư dân nơi đây Các hoạtđộng sản xuất chính là: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, cải tạo vườn tạp vàkinh tế trang trại tuy gặp nhiều khó khăn trong sản xuất do thời tiết, thịtrường,… nhưng các hoạt động cũng đã thu được những kết quả khá, một sốhoạt động đã vượt chỉ tiêu đề ra của xã, cụ thể như:
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng trong cả năm 1731,5 ha, trongđó: cây lúa 959,5 ha, tăng 79,5 ha so với cùng kỳ đạt 109% kế hoạch, năngsuất lúa bình quân 51 tạ/ha, giảm 2,3 tạ/ha so với cùng kỳ, đạt 90,1% kếhoạch; cây lạc: 380 ha, tăng 123ha so với cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch, năngsuất lạc 22 tạ/ha, đạt 100% kế hoạch; sắn công nghiệp 220ha, năng suất 25tấn/ha; đậu các loại 172 ha, năng suất 13,5 tạ/ha
- Chăn nuôi: tổng đàn trâu hiện có 792 con, giảm 408 con so với cùng
kỳ, đạt 53% kế hoạch; bò 154 con, tăng 39 con so với cùng kỳ, đạt 85,5% kếhoạch; đàn lợn có 3520 con, đạt 50,3%
- Lâm nghiệp: bảo vệ, chăm sóc và trồng mới 2.305,1 ha rừng Hiệnnay số rừng trồng đã bắt đầu cho khai thác tạo một nguồn thu nhập lớn, gópphần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn xã
- Cải tạo vườn tạp và kinh tế trang trại: Xã Phong Sơn là một xã gò đồinên ở đây có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vườn và trang trại Tínhđến nay, xã đã có 17 trang trại với diện tích hơn 40ha, hầu hết trang trại sảnxuất theo mô hình nông lâm kết hợp, bước đầu đã mang lại giá trị kinh tế caocho người dân
- Thủy sản: Mặc dù là một xã miền núi nhưng Phong Sơn cũng pháttriển hoạt động nuôi trồng thủy sản, với diện tích 25 ha, sản lượng cá thuhoạch khoảng 05 tấn, đạt 100% kế hoạch đề ra đã cho chúng ta nhận thấynuôi trồng thủy sản ở đây cũng phát triển, với lợi thế là thượng nguồn của consông Bồ, dự định trong tương lại hoạt động này sẽ phát triển và thu đượcnhiều thành quả hơn nữa
Bên cạnh những kết quả đạt được của lĩnh vực nông nghiệp, các lĩnhvực khác như công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại cũng phát triển
Trang 19Đặc biệt là lĩnh vực cung cấp dịch vụ nông nghiệp của các HTX rất phát triểnmạnh mẽ (chiếm 98%).
Trong năm vừa qua tổng thu ngân sách của nền kinh tế trong toàn xãước tính 2.298.426.000 đồng, đạt 156% kế hoạch.[15]
* Tình hình nghèo đói
Bên cạnh những thành quả đạt được của nền kinh tế, tình trạng nghèođói trên địa bàn xã diễn biến rất phức tạp Năm 2009 cả xã có 132 hộ nghèo(chiếm tỷ lệ 5,67%) giảm 207 hộ so với năm 2008, nhưng sang năm 2010 số
hộ thoát nghèo lại tái nghèo, tính đến cuối năm 2010, toàn xã có 312 hộnghèo ( chiếm tỷ lệ 12%) Vấn đề nghèo đói đang gây ra rất nhiều khó khăncho sự phát triển xã hội Vì thế cần có sự phối hợp của các cơ quan chínhquyền và toàn xã hội để tình trạng thoát nghèo rồi lại tái nghèo của người dânkhông còn diễn ra nữa
4.2 Khái quát thực trạng hoạt động của các HTX
4.2.1 Quá trình thành lập của các HTX
Nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh và khôi phục kinh tế – xã hội
của Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp trên tất cảcác mặt của đời sống xã hội Đặc biệt, đối với nền kinh tế, Nhà nước ta thihành chính sách tập thể hóa tư liệu sản xuất và phân phối sản phẩm theo laođộng Trên địa bàn xã Phong Sơn lúc đó cũng tiến hành thành lập 3 HTXchính là HTX Đông Sơn gồm các thôn: Cổ Bi, Phe Tư, Sơn Bồ; HTX TâySơn gồm các thôn: Hiền An, Công Thành, Thanh Tân, Sơn Quả; HTX BắcSơn bao gồm các thôn: Tứ Chánh, Phổ Lại Do quy định lúc bấy giờ nên mọingười dân đều phải tham gia vào HTX không phân biệt thành phần kinh tếhay tôn giáo Một hình thức tham gia vào HTX mà người dân cho rằng là “épbuộc” Đến năm 1988, HTX Nam Sơn ra đời tiến hành quản lý các thôn: Hiền
Sỹ và Đồng Dạ
Ngày 01/01/1997, Luật HTX ra đời làm tiền đề để phát triển mô hìnhkinh tế HTX kiểu mới việc xây dựng và hình thành HTX.NN theo luật thời gianđầu gặp rất nhiều khó khăn, cơ bản nhất vẫn là một bộ phận nông dân nhận thứccòn ngán ngại, dè dặt chưa thật sự ủng hộ, một số ít cán bộ chưa thật sự tintưởng với chủ trương của Đảng và Nhà nước về kinh tế hợp tác xã kiểu mới
Trang 20Trên cơ sở đó, được sự hỗ trợ tích cực của Sở NN&PTNT tỉnh ThừaThiên Huế và Hội Nông Dân Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế mà cụ thể làĐoàn cán bộ xây dựng HTX nông nghiệp của Tỉnh Sự chỉ đạo sâu sát củaBTV Huyện Ủy, UBND Huyện, BCĐ Huyện, UBND Xã Sự kết hợp chặt chẽgiữa các ngành, địa phương, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, vậnđộng làm cho thông suốt từ nội bộ ra tới quần chúng nhân dân, quán triệt luậtHTX, các Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ, đồng thời phân biệt rõ giữa HTX
cũ và mới, tính ưu việt của HTX.NN kiểu mới để nông dân tự nguyện, tự giáctham gia, các HTX trên địa bàn xã bắt đầu đổi tên thành HTX.NN
Đến năm 2003, khi Luật HTX được sửa đổi, tạo điều kiện thuận lợicho các HTX phát triển Để tiện cho việc quản lý và thực hiện các hoạt động,các HTX trên địa bàn xã đã tiến hành phân tách và thành lập các HTX mới
Từ HTX.NN Đông Sơn tách ra làm 2 HTX.NN là Phe Tư và Cổ Bi, từHTX.NN Bắc Sơn tách ra thành HTX.NN Phổ Lại và HTX.NN Tứ Chánh.Theo nguồn phỏng vấn người am hiểu của các HTX thì sau quá trình phântách HTX hoạt động có hiệu quả hơn và lợi ích mà HTX mang lại cho ngườidân cũng thể hiện rõ hơn
Tính đến năm 2011, toàn xã Phong Sơn đã có 6 HTX hoạt động tronglĩnh vực cung cấp dịch vụ nông nghiệp cho xã viên của mình Các HTX hoạtđộng dưới sự chỉ đạo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyệnPhong Điền Hàng năm các HTX phải tiến hành thanh quyết toán thu – chinộp lại cho phòng Nông Nghiệp Nếu HTX nào 3 năm liên tiếp kinh doanhkhông có lãi thì phòng Nông Nghiệp sẽ phối hợp với UBND xã tiến hành giảithể HTX đó
4.2.2 Tình hình chung của các HTX
4.2.2.1 Tình hình tham gia vào HTX của người dân
So với trước đây, người dân tham gia vào HTX là do bị ép buộc thì hiệnnay, hình thức tham gia vào HTX của người dân là tự nguyện Tuy tự nguyệnnhưng tiêu chí đạt ra của các HTX là ai có nhu cầu tham gia vào HTX thì giađình đó phải có sản xuất nông nghiệp không nhiều thì ít Theo nguồn phỏngvấn hộ tháng 03/2010, 100% số hộ có sản xuất nông nghiệp đều tham gia vàoHTX và 100% người cho rằng vì hiện nay HTX đang quản lý đất đai và
Trang 21nguồn nước để phục vụ cho sản xuất nên họ mới tham gia vào HTX Tuy hiệnnay, Nhà nước ta đang thực hiện Luật HTX, mọi người dân đều có quyền vào
và ra khỏi HTX một cách tự nguyện nhưng đối với các HTX.NN thì điều nàykhông thể thực hiện được vì nguồn nước và đất đai phục vụ cho sản xuất đềuđặt dưới sự quản lý của HTX thì dù người dân không muốn cũng phải thamgia vào HTX
Bảng 1: Số lượng xã viên của các HTX
năm 2006
Số xã viên năm 2010
Tỷ lệ ngườidân/xã viên
(Nguồn: báo cáo của các HTX qua các năm)
Nhìn chung, số lượng xã viên của các HTX đều không thay đổi từnăm 2006 đến nay, do đa số xã viên của HTX là những người trong độ tuổi từ35-60, họ là những người tham gia từ khi HTX thành lập cho đến bây giờ.Với 30 hộ là xã viên của các HTX mà tôi tiến hành khảo sát thì độ tuổi trungbình của những người trả lời phỏng vấn là 48, đây là độ tuổi gần về già, họchính là lực lượng chủ chốt tham gia sản xuất nông nghiệp Theo nhận nguồnđiều tra trong 30 hộ thì có 2 hộ (chiếm 6,7%) thời gian tới sẽ ra khỏi HTX dogia đình họ sẽ không tham gia vào sản xuất nông nghiệp nữa còn 93,3% số hộvẫn tham gia với lý do các hộ này vẫn sản xuất nông nghiệp mà HTX lại quản
lý các khâu đầu tiên của sản xuất nông nghiệp tại địa phương
Trang 22Biểu đồ 1: Tỷ lệ xã viên của các HTX/xã viên toàn xã
(Nguồn: báo cáo của các HTX năm 2010)
Qua biểu đồ ta thấy, tỷ lệ xã viên của HTX Tây Sơn trên toàn xã làlớn nhất chiếm 37,82%, đây là HTX có nguồn lực rất mạnh để tiến hành pháttriển sản xuất, với nguồn lao động lớn lại nằm gần trung tâm xã nhất nên ởđây có đủ điều kiện để tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ Còn HTXPhổ Lại là HTX mới thành lập chỉ quản lý một thôn lại nằm ở vùng hẻo lánh,
xa trung tâm xã nên số lượng xã viên của HTX cũng thấp nhất Tỷ lệ xã viêncủa các HTX cho ta thấy HTX nào quản lý càng lớn xã viên thì HTX đó cóđiều kiện thuận lợi trong việc phát triển sản xuất cũng như tạo thuận lợi trongviệc kinh doanh dịch vụ vì số lượng xã viên sử dụng dịch vụ HTX cung cấpcàng đông
4.2.2.2 Bộ máy quản lý của HTX
Tiếp tục thực hiện chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí Thư về tăngcường lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 5(Khóa IX) vềtiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, trọng tâm làkhu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đưa kinh tế tập thể cùng kinh tế Nhànước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Muốn
Trang 23thực hiện được điều đó thì ban quản lý của các HTX phải được xem là yếu tốhàng đầu thúc đẩy sự phát triển của HTX.
Ban quản lý của các HTX trên địa bàn xã Phong Sơn hiện nay hoạtđộng theo nhiều cách thức tổ chức khác nhau, cơ cấu bộ máy quản lý cũngkhông đồng nhất Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy một vấn đề đang diễn ra ở tất cảcác HTX đó là ban quản lý HTX đã làm việc từ ngày thành lập cho đến nay,nhiều vị trí không thay đổi, nếu có thay đổi thì thay đổi ví trí giữa các cán bộcho nhau chứ chưa thấy có trường hợp nào ban quản lý HTX được thay đổibằng những con người mới với những vị trí mới Thực trạng này xảy đến là
do trình độ văn hóa của người dân còn thấp, trong cộng đồng chỉ lựa ra đượcmột số người để đảm nhận vai trò đó, bên cạnh với khối lượng công việcnhiều nhưng lương thấp (BQ/năm là 5 triệu đồng), bởi thế không nhiều ngườicho rằng công việc làm trong ban quản lý không khác gì việc “ăn cơm nhàvác tù và hàng tổng” Chính vì điều đó nên cũng ít ai muốn gánh vác côngviệc của ban quản lý cả Không nâng cao năng lực quản lý lại không thay đổi
cơ cấu của ban quản lý nên việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanhdịch vụ của các HTX đang gặp rất nhiều khó khăn Cụ thể trình độ của banquản lý HTX được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Trình độ quản lý HTX NN của xã Phong Sơn
ĐVT: %
lượng
Trình độ học vấn Trình độ chuyên mônCấp I Cấp II Cấp III Sơ cấp Trung cấp ĐH,CĐ
(Nguồn: báo cáo của các HTX)
Với trình độ của ban quản lý HTX như trên, tỷ lệ cán bộ đã được đào tạochuyên môn chỉ chiếm 23,33% thì làm sao đáp ứng được nhu cầu phát triển
Trang 24ngày càng được nâng cao thì đòi hỏi bộ máy quản lý của HTX cũng phải nângcao trình độ chuyên môn như ban kế toán chỉ có 2 người có trình độ sơ cấp,trong khi Nhà nước ta quy định các HTX phải công khai minh bạch chứng từ
sổ sách kinh doanh cho xã viên biết trong các lần sơ kết, tổng kết hoạt độngkinh doanh Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ban quản lý các HTXtrong thời gian tới, Sở Nông nghiệp Thừa Thiên Huế phối hợp với PhòngNông Nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phong Điền đã và đang tiến hành
mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn cho các cán bộ HTX
Kết quả điều tra cũng cho thấy, ban quản lý HTX vẫn nhận được nhiều
ý kiến đánh giá khác nhau từ phía xã viên 13,33% người dân đánhs giá banquản lý có trình độ rất phù hợp và hoạt động tốt, 36,67% đánh giá không cótrình độ dẫn đến 30% số người được hỏi cho rằng ban quản lý hoạt độngkhông tốt, còn lại những người nhận xét trình độ phù hợp và hiệu quả hoạtđộng tạm chấp nhận được
Bảng 3: Đánh giá sự hoạt động ban quản lý HTX của xã viên
ĐVT: %Chỉ tiêu
số xã viên nhận định ban chủ nhiệm HTX hiện nay có trình độ và khả nănghoạt động tạm chấp nhận được do đây là những người trong cộng đồng được
Trang 25người dân tín nhiệm bầu chọn nên, họ có kinh nghiệm làm việc lâu năm vàcũng đã tổ chức được một số hoạt động làm lợi cho xã viên đồng thời tạo radoanh thu cho HTX.
Nhìn chung, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý HTX trong thời gianqua vẫn có nhiều tiến bộ, khả năng quản lý, kinh doanh , nhạy bén với thịtrường ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, bên cạnh những HTX mạnh dạn
mở rộng các dịch vụ, lĩnh vực hoạt động đem lại nhiều lợi ích cho xã viên, thìvẫn còn những HTX còn rụt rè, ngại khó, ngại va chạm trong kinh doanhtrong khi “ thương trường là chiến trường” Một trong những nguyên nhânchính dẫn đến hạn chế này là trình độ cán bộ còn chưa xứng tầm
4.2.2.3 Nguồn vốn hoạt động của HTX
Trong quá trình hoạt động, có rất nhiều yếu tố quyết định đến chấtlượng và hiệu quả hoạt động của HTX Trong đó, nguồn vốn là một yếu tốquan trọng không thể thiếu
* Nguồn vốn lưu động:
Theo báo cáo của các HTX, từ khi thành lập cho đến nay xã viên không
hề góp vốn vào hoạt động của HTX, nguồn vốn mà các HTX sử dụng để hoạtđộng hàng năm là do huy động từ trong xã viên nộp lệ phí dịch vụ Chỉ riêngHTX Phổ Lại và Phe Tư có vốn từ khi mới thành lập là do 2 HTX này tách ra
từ HTX hoạt động trước đó, nhưng nguồn vốn mà họ nhận được không phảibằng tiền mặt mà là số tiền nợ trong dân khi sử dụng dịch vụ
Hiện nay, tổng nguồn vốn các HTX trên địa bàn xã Phong Sơn sử dụng
để hoạt động là1.814,204 triệu đồng, bình quân/HTX là 302,367 triệu đồng.Nguồn vốn hoạt động đã thấp, phần lớn lượng vốn lại nằm trong dân nên hàngnăm tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh đều diễn ra ở các HTX Thiếuvốn là một hạn chế rất lớn đối với các HTX trong quá trình hoạt động, cụ thể
là không đủ vốn để tăng thêm hoặc mở rộng dịch vụ, trang bị thêm tư liệu sảnxuất, đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả khác, không
đủ điều kiện để quan tâm, giúp đỡ các hộ xã viên còn nghèo phát triển sảnxuất Hầu hết những người được hỏi về chính sách hổ trợ cho hộ nghèo trênđịa bàn HTX đều cho rằng do vấn đề thiều vốn nên không thực hiện được cácbiện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất cho những người nghèo Mặc dù
Trang 26nguồn vốn hoạt động hàng năm thiếu nhưng các HTX đều bị tồn đọng do mộtnguyên nhân sâu xa đó là xã viên sử dụng một số dịch vụ của HTX chưathanh toán nên phần lớn lượng vốn dành cho hoạt động năm sau của các HTXđều nợ trong dân Tình trạng đó 5 HTX là Cổ Bi, Nam Sơn, Tây Sơn, Phổ Lại
và Phe Tư đều diễn ra chỉ có HTX Tứ Chánh vốn nợ trong dân là rất ít do banquản lý của HTX áp dụng được một số biện pháp thu hồi vốn một cách cóhiểu quả như tịch thu lại ruộng đất nếu hộ xã viên nào chưa thanh toán nợmùa trước cho HTX Cụ thể tình hình nguồn vốn lưu động của các HTX trongnăm 2010 vừa qua được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4: Tài sản lưu động của các HTX
ĐVT: Nghìn đồng
lưu động
Vốn tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho Khoản khác
Thiếu vốn hoạt động các HTX không thể tiến hành vay của ngân hàng
do chưa có cơ chế chính sách hổ trợ vốn vay của Nhà nước nên một số HTXtiến hành vay của tư nhân bên ngoài như HTX Tây Sơn trong quá trình hoạtđộng năm 2010 vừa qua phải tiến hành vay của tư nhân 30 triệu đồng để sửachữa máy bơm bị hỏng
* Nguồn vốn cố định
Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến kết quảhoạt động của các HTX nữa là tài sản, tư liệu sản xuất của các HTX, có thểthống kê các loại tài sản, tư liệu của các HTX qua bảng số liệu sau:
Trang 27Bảng 5: Tài sản, tư liệu sản xuất thuộc sự quản lý HTX
Tài sản,tư
liệu
Trụsở
Trạmbơm
Máy cày,máy kéo
Máythổi
Loađài
Kênhmương(m)
Tổng giá trị tàisản cố định(1.000 đồng)
( Nguồn: Báo cáo quyết toán của các HTX năm 2010)
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy, tài sản cố định và tư liệu sản xuất cácHTX còn khiêm tốn Chỉ có 4/6 HTX có trụ sở riêng, 2 HTX còn lại không cótrụ sở Đây là một khó khăn rất cần Uỷ ban hỗ trợ giúp đỡ 100% HTX đều cótrạm bơm nước, hệ thống loa đài để phục vụ công tác tưới tiêu và tuyêntruyền, hướng dẫn người dân sản xuất có hiệu quả Tùy thuộc vào diện tíchcanh tác của các HTX mà hệ thống kênh mương của mỗi HTX chênh lệch rấtnhiều có HTX chỉ có vài trăm mét kênh mương như HTX Nam Sơn (670mét), có HTX kênh mương lại dài đến vài km như HTX Tây Sơn (5631 mét)
Đa số hệ thống kênh mương của các HTX đều được bê tông hóa nhờ cácchương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng sản xuất của Đảng và Nhà nước.Hiện nay, tất cả các HTX đều chưa sở hữu một loại tư liệu nào mà tự HTX bỏvốn ra mua, những tài sản mà các HTX đang quản lý và sử dụng đều đượcNhà nước cấp phát, nhờ quản lý Chưa có HTX nào mạnh dạn đầu tư muasắm trang thiết bị để phục vụ sản xuất kinh doanh của mình, ngay cả các loạimáy cày, làm đất, máy thổi đều phải hợp đồng với bên ngoài
Với tình hình đất nước ngày càng phát triển theo hướng công nghiệphóa và hiện đại hóa, các khu công nghiệp ngày càng mở rộng nhiều hơn, nó
đã thu hút một lượng lớn các lao động trẻ tuổi ở nông thôn đổ xô về thành thịhầu tìm kiếm một công việc ổn định và có cơ hội đổi đời Lao động tại nôngthôn giờ đây thiếu hụt một cách nghiêm trọng, nhất là vào những lúc cuối
Trang 28mùa vụ cần phải có một lực lượng nhân công đông đảo để thu hoạch, bảo đảmlịch xuống giống chung Biện pháp thuyết phục nhất hiện nay là sử dụng máymóc để thay thế sức người như máy đập lúa, máy gặt xếp dãy và nhất là máygặt đập liên hợp mi ni, máy cày làm đất Tuy nhiên qua khảo sát thì chưa cóHTX nào có các thiết bị, máy móc này Theo kết quả điều tra thì thời gian tớiđây các HTX vẫn chưa thể đầu tư thêm tài sản nếu không được sự hổ trợ vốnvay của Nhà Nước.
Theo nhận định của các xã viên được tiến hành khảo sát thì có đến90% xã viên cho rằng hợp tác xã đang thiếu vốn tiền mặt để mở rộng dịch vụkinh doanh và 96,7% cho rằng HTX đang thiếu về cơ sở hạ tầng, máy móc vàtrang thiết bị