Dẫn đếnnông dân thiếu việc làm ngày càng tăng, thực trạng trên nếu không được khắcphục sớm sẽ trở thành lực cản đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn; gi
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay, ở nước ta đại bộ phận người nghèo, người có thu nhập thấpđang sống ở nông thôn, với 70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp,hàng năm đóng góp 20% GDP toàn quốc[14] Nguồn lao động ở nông thônrất dồi dào nhưng tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp luôn xảy ra dothiếu việc làm và tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp Người nông dânhiện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công và thời vụ Đúng vụ sảnxuất nông nghiệp thì công việc của họ là thuần nông, ngoài thời vụ kể trênphần lớn là họ chuyển sang các lao động phổ thông khác như gia công thêmmột số mặt hàng thủ công truyền thống, buôn bán nhỏ - tham gia lưu thônghàng hoá từ nông thôn ra thành thị, tham gia vào các chợ lao động ở nhữngthành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc cũng có một sốtham gia vào thị trường xuất khẩu lao động, nhưng chưa nhiều và mức độ đápứng các yêu cầu của thị trường này chưa cao Do tính chất công việc phổthông, mang tính thời vụ nên thu nhập của họ không cao và không ổn định.Thực tế này tạo nên sự thiếu bền vững và tiềm ẩn những bất ổn về việc làmđối với lực lượng lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng Dẫn đếnnông dân thiếu việc làm ngày càng tăng, thực trạng trên nếu không được khắcphục sớm sẽ trở thành lực cản đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn; gia tăng các vấn đề kinh tế - xã hội…[4]
Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn, đa dạng các hoạtđộng tạo thu nhập góp phần làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn lànhững chính sách quan trọng trong chiến lược CNH-HĐH nông nghiệp nôngthôn nhằm làm giảm sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị trong tiếntrình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Do đó, đòi hỏi nhiều hơn nữanhững nghiên cứu về nông thôn để làm cơ sở cho việc hoạch định các chínhsách này Các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn rất đa dạng, nhưng mức thunhập vẫn còn thấp và còn phụ thuộc nhiều vào các hoạt động sản xuất nôngnghiệp Tuy nhiên, các hoạt động phi nông nghiệp cũng đống vai trò hết sứcquan trọng Vì vậy, nghiên cứu các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn là hếtsức cần thiết
Trang 2Có nhiều nghiên cứu về các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn nhưngthường đi theo các chương trình, dự án và thường mang tính chất vùng, khuvực rộng lớn Do đó, nghiên cứu sinh kế và thu nhập ở tầm vi mô sẽ chochúng ta cách nhìn chi tiết hơn ở từng vùng, từng khu vực cụ thể tương ứngvới các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của vùng đó Tìm hiểu các nguồnthu nhập ở nông thôn không chỉ phác họa nên bức tranh tổng thể về kinh tếnông thôn mà còn là cơ sở để vạch ra những chiến lược kinh tế xã hội chonông thôn trong hiện tại và tương lai.
Quảng Vinh nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung đều có nhữngđiểm tương đồng song cũng có nhiều nét khác biệt được quy định bởi tínhchất của điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của mỗi vùng Là một xã thuầnnông thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, sinh kế của người dânnơi đây chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, ngoài ra có các khoản thu nhập từcác hoạt động phi nông nghiệp như buôn bán, xây dựng, từ con em đi làm ăn
xa gửi về…
Trong những năm gần đây, do sức ép của sự gia tăng dân số kéo theo
sự tăng lên của đất thổ cư và sự giảm nhanh của đất sản xuất nông nghiệp.Thời tiết diễn biến thất thường tác động rủi ro trong sản xuất nông nghiệptăng lên Do đó, sự rủi ro trong sinh kế cũng ngày càng cao và rất nhiều vấn
đề khác đang nảy sinh trong đời sống kinh tế xã hội của người dân Vì vậy,nghiên cứu sinh kế của người dân xã Quảng Vinh sẽ cho chúng ta cách nhìntoàn diện hơn về bối cảnh sinh kế của người dân nơi đây, đồng thời tìm ranhững con đường phát triển mới cho vùng đất này
Trước những yêu cầu đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu các hoạt động tạo thu nhập của người dân xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Quảng Vinh, huyện QuảngĐiền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tìm hiểu các hoạt động tạo thu nhập và vai trò của các hoạt động đó đối vớisinh kế người dân xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tìm hiểu/ đánh giá các khó khăn, thuận lợi của người dân khi tham gia các
Trang 3PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong nghiên cứu sinh kế.
2.1.1 Cơ sở lý luận trong nghiên cứu sinh kế bền vững.
Cơ sở của sự phát triển phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững là dựatrên lịch sử của quá trình thay đổi những quan điểm về nghèo đói qua ba thập
kỷ Cụ thể là, các phương pháp tiếp cận tham gia trong công tác phát triển đãnêu bật được sự đa dạng trong những mục đích phát triển mà con ngườihướng tới và sự đa dạng mà con người cần thích nghi trong các chiến lượcsinh kế của mình để đạt được thành công Phân tích đói nghèo đã nhấn mạnhtầm quan trọng của các tài sản sinh kế, tức là vai trò của các loại vốn trongviệc quyết định đến hiện trạng đời sống Mặt khác việc coi trọng vai trò củakhung chính sách và thể chế, một vấn đề được quan tâm nhiều trong tư duyphát triển đầu thập kỷ 80, một yếu tố nổi trội của các phương pháp tiếp cậnquản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để hình thành nên cácphương pháp tiếp cận sinh kế sau này Tuy nhiên, trong phân tích sinh kếngoài việc chú trọng vai trò của thể chế và tiến trình nó còn tập trung vào việctìm hiểu và hỗ trợ mối liên kết của thể chế, tiến trình từ cấp vi mô tới cấp vĩ
mô, thay vì chỉ tập trung ở cấp địa phương.[3,2]
Các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững cũng bắt nguồn từ nhữnghạn chế về tính hiệu quả của những hoạt động can thiệp trong công tác pháttriển Sau khi tuyên bố cam kết về giảm nghèo, rất nhiều chính phủ và các nhàtài trợ đã ngay lập tức tập trung nỗ lực vào các nguồn lực và cơ sở vật chất(đất, nước, trạm y tế, công trình hạ tầng) hay tập trung vào những cơ cấu cungcấp dịch vụ (giáo dục, thú y, các tổ chức phi chính phủ) mà không tập trungvào bản thân con người cho nên hiệu quả phát triển rất thấp Vì thế cácphương pháp tiếp cận sinh kế bền vững đã hình thành và đặt con người chínhngay thời điểm đầu tiên của các họat động phát triển, thước đo của sự thànhcông ở đây là sinh kế của con người đã được củng cố bền vững Ở thời điểm
đó, người ta dự đoán rằng việc hướng trọng tâm vào người nghèo sẽ tạo ranhững thay đổi lớn lao cho sự thành công của các mục đích xóa nghèo.[3,2]
Theo DFID thì sinh kế có thể được mô tả là một tập hợp của việc sử
Trang 4bao gồm kỹ năng và khả năng (vốn con người) của một các nhân, đất đai, tiếtkiệm và trang thiết bị ( vốn tự nhiên, tài chính, vật chất), các nhóm hỗ trợchính thức hay các mạng lưới không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi hoạtđộng (vốn xã hội).[3,5]
Một sinh kế được coi là bền vững nếu như nó có khả năng liên tục duytrì hoặc nâng cao mức sống hiện tại và tương lai mà không gây tổn hại đến cơ
sở nguồn tài nguyên thiên nhiên Để làm được điều này nó cần có khả năngvượt qua và hồi phục những áp lực cũng như những cú sốc, ví dụ: thảm họathiên nhiên hay khủng hoảng kinh tế.[3,5]
Đa dạng hóa sinh kế là tiến trình mà các hộ gia đình xây dựng mộtdanh mục đa dạng các hoạt động, các loại vốn và chiến lược để duy trì sựsống và phát triển kinh tế [3,5] Ở nông thôn, sự đa dạng sinh kế này càngđược biểu hiện rõ rệt, thể hiện là thu nhập của người dân nông thôn rất đadạng từ nhiều nguồn của nhiều hoạt động khác nhau như nông nghiệp, cáchoạt động phi nông nghiêp,…
Phân tích sinh kế và bối cảnh sinh kế người ta dùng khung phân tíchsinh kế Các thành phần của khung phân tích sinh kế bao gồm: bối cảnh tổnthương , tài sản sinh kế, thể chế và chính sách, chiến lược sinh kế, kết quảsinh kế, mối quan hệ các thành phần trong khung
Bối cảnh tổn thương đề cập đến phạm vi người dân bị ảnh hưởng và bịlâm vào các loại sốc ( mùa màng thất thu, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, xung đột,lâm bệnh), xu hướng bao gồm cả xu hướng kinh tế xã hội và môi trường vàtính mùa vụ ( sự dao động bao gồm dao động về giá cả thi trường và việclàm,…) Bối cảnh tổn thương bao gồm các xu hướng, các cú sốc, tính mùa vụhay sự dao động và mối quan hệ giữa chúng Khi phân tích bối cảnh tổnthương cần phân loại các nhóm kinh tế xã hội khác nhau như hộ nghèo, trungbình, khá,…Vì các nhóm xã hội khác nhau thì sự tổn thương sẽ khác nhau
Tài sản sinh kế là một hợp phần chính trong khung phân tích sinh kếbền vững, đây là các loại tài sản sinh kế mà các loại hình sinh kế được xâydựng trên đó Các tài sản này được chia làm năm loại ( hay loại vốn), đó là:Vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội) Hay
Trang 5+Vốn con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cácnhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làmviệc để họ đạt được những kết quả sinh kế.
+Vốn xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ, các tổ chức xã hội và cácnhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đóđược những kết quả sinh kế
+Vốn tự nhiên: Là các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc của cộng đồng)
mà con người trông cậy vào
+Vốn tài chính: Là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồnthu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồngthu nhập tiền mặt như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấpcủa nhà nước
+Vốn vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sảncủa hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp nước vànăng lượng, nhà ở và các đồ dùng,dụng cụ trong gia đình, các công cụ máymóc phụ vụ sản xuất,…[3;15]
Hình 1: Ngũ giác sinh kế
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sửdụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sốngcũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ
Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể là:
Quyết định đầu tư vào loại nguồn lực vốn hay tài sản sinh kế;
Vốn con người
Vốn xã hội
Vốn tự nhiên
Vốn vật chất Vốn tài chính
Trang 6Qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi;
Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế;
Cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết đểkiếm sống;
Họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng
ở nhiều dạng khác nhau;
Họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để làm đượcnhững điều trên;…[3;27]
Kết quả sinh kế được khái niệm là những mục tiêu và ước nguyện đạt được
-đó là những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt
và lâu dài.[3;28]
Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynhhướng có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiếnlược để đảm bảo sinh kế của họ
Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ thuộcchủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khácnhau cần để đạt được những kết quả sinh kế khác nhau
Ví dụ: Thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính như:diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cốđịnh ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúamới Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thunhập của nông hộ Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnhhưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dư tương tự lúagạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn,thương mại và các hoạt động vận chuyển (Mellor, 1976) từ đó có thể đónggóp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn Sự phát triển tài nguyênnhân lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ, có thể góp phần làmtăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông
hộ gia tăng Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao độnggia đình thủ công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và cáchoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như:
Trang 7vào thu nhập thông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại
và qua việc gia tăng cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phinông nghiệp ở nông thôn Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiếp cận tíndụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập của nông hộ.[3;30]
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài.
Trong những năm gần đây, khu vực nông thôn có sự quan tâm mạnh
mẽ của Đảng, nhà nước và các ban ngành hữu quan, điều này được thể hiệntrong các chủ tương và chính sách của Đảng và nhà nước ta về nông nghiệp,nông thôn và nông dân, tuy nhiên vẫn tồn tại mâu thuẫn lớn nhất trong giaiđoạn hiện nay của phát triển là mục tiêu của nhà nước và nông dân khác nhau.Nhà nước coi khu vực nông nghiệp là một khu cực của nền kinh tế, phải tăngtrưởng thế nào để vừa đảm bảo được an ninh lương thực, vừa có sản phẩmthặng dư để đóng góp cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Còn nông dân sống trong xã hội nông thôn cần có đời sống ngày càng đượcnâng cao cùng với mức sống của đô thị hóa Trong xã hội nông thôn khôngchỉ có nông nghiệp mà còn có tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Những nghiêncứu gần đây về sinh kế nông thôn trên thế giới và nước ta cho thấy nông dân
có xu hướng đa dạng hóa sinh kế để tăng thu nhập và xu hướng theo các hoạtđộng phi nông nghiệp ngày càng cao Không phải giá trị tăng của nông nghiệpđều được quay trở về cho nông dân mà còn được phân phối cho khu vực phinông nghiệp Vì vậy, nông dân không chỉ sống từ nông nghiệp.[5;81]
Trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của đất nướcnói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng trong giai đoạn vừa qua, đã có nhữngbước tiến bộ vượt bậc về mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt làsau đổi mới 1986 GDP/ người không ngừng tăng lên qua các giai đoạn và cácnăm, trong đó thu nhập bình quân đầu người năm 2001 là 405 USD, tức xấp
xỉ 6.070.000 đồng/người nhưng đến năm 2008 là 1024 USD/ người, tức xấp
xỉ 17.000.000 đồng/người/năm.[7]
Tuy vậy trong tiến trình phát triển đó, về tổng thể đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể song vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập nảy sinh trong đờisống xã hội Đơn cử trong số đó vẫn còn tồn tại sự chênh lệch lớn về thu nhậpgiữa thành thị và nông thôn Trong đó, thành thị là khu vực tập trung sự tăng
Trang 8trưởng và tiến bộ xã hội về mọi mặt Trong khi đó, khu vực nông thôn mặc dù
có sự tăng trưởng về kinh tế và tiến bộ về nhiều mặt nhất là cơ sở vật chất, sự
đa dạng gia tăng về thu nhập từ nhiều hoạt động, nhưng so với thành thị đâyvẫn là bước tiến khiêm tốn Hiện nay, thu nhập nông thôn thấp hơn 2,06 lần
so với thành thị, đây là mức thu nhập chênh lệch khá lớn giữa hai khu vựcnày.[9]
Để phát triển nông thôn, đưa nông thôn tiến gần với thành thị, trongthời gian tới đòi hỏi cần nghiên cứu và đưa ra nhiều chủ trương chính sáchmới, đồng thời càn có thời gian phát triển khu vực nông thôn Tăng cường cácnghiên cứu về nông thôn, nhất là nghiên cứu sinh kế và thu nhập là việc làmcần thiết và quan trọng
2.2 Các nghiên cứu sinh kế trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Các nghiên cứu sinh kế trên thế giới
Nghiên cứu các hoạt động sinh kế trên thế giới diễn ra mạnh mẽ ởnhiều nước, nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu của các tổchức quốc tế chính thức và phi chính thức về sinh kế nông thôn, trong đó có
WB, FAO, UNDP, CARE Với những mục tiêu khác nhau mà có những côngtrình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế chủ yếu được thực hiện ở các nướcnghèo, các nước đang phát triển, nhất là các nước ở khu vực châu Phi
Các nghiên cứu về đời sống nông thôn và xóa đói giảm nghèo đượcthực hiện ở Uganda và Tanzania (năm 2005) cho thấy rằng, các hộ gia đìnhkhá thường sở hữu hơn 2-3 ha đất đai, hơn 5 con dê, 2 con bò và một căn nhàvới bức tường gạch; các hộ gia đình này đảm bảo được an toàn lương thựcquanh năm, đủ tài chính để thuê lao động, con cái được học hành đầy đủ, vàtham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp ( kinh doanh, xay xát, mở cửahàng, làm gạch, kinh doanh quầy ba) và sản xuất trang trại nhiều hơn Các hộtrung bình thì sở hữu ít hơn các loại tài sản này, hộ gia đình có xu hướng kinhdoanh, họ có thực phẩm hầu hết ở các năm và hộ tham gia ít hoặc không cócác hoạt động phi nông nghiệp Các hộ nghèo thuờng có ít hơn 0,5ha đất,không có hoặc có ít gia súc, luơng thực và thực phẩm phụ thuộc nhiều vàoviệc bán hàng hoặc lao đông làm thuê [10]
Trang 9Theo nghiên cứu của WB và truờng đại học Washington cho thấy dù đã
có những tiến bộ đáng kể trong sự đa dạng về thu nhập của các hộ gia đìnhnông thôn nhưng nông nghiệp vẫn là hoạt động chủ yếu của các hộ gia đìnhnông thôn ở các nuớc đang phát triển Đây là kết luận của một nghiên cứu dựatrên các kết quả ban đầu của dự án các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn,một dự án của FAO nghiên cứu cho thấy 84% các hộ gia đình ở nông thôntham gia vào các họt động nông nghiệp Tại một số nuớc, các số liệu thống kêcho thấy con số này còn cao hơn lên tới 99% Tuy nhiên nghiên cứu cũng đềcập rằng các hộ gia đình ở nông thôn thu đuợc một phần lớn thu nhập từ cáchoạt động phi nông nghiệp.[12]
2.2.2 Các nghiên cứu sinh kế ở Việt Nam
Theo những nghiên cứu gần đây, hơn 80% cư dân Việt Nam sống ởnông thôn, trong đó gần 70% lao động trong nông nghiệp với 77% hộ thuầnnông Năm 2005, năng suất lao động bình quân trong nông nghiệp chỉ bằng1/5 trong công nghiệp và dịch vụ (tính theo GDP bình quân đầu người), 90%
hộ đói, nghèo trong tổng số hộ đói nghèo của cả nước là nông dân Tình trạngthiếu việc làm ở nông thôn rất nghiêm trọng, có khoảng 7 triệu lao động chưa
có hoặc thiếu việc làm, mỗi năm lại bổ sung thêm 400.000 người đến tuổi laođộng.[4]
Do yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xâydựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị nhằm đáp ứng các nhucầu phát triển là một thực tế khách quan, tuy nhiên, quá trình trên cũng đã vàđang làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế, xã hội rất bức xúc ở các địa phương,nhất là ở những địa phương có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ranhanh chóng Trong đó vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồiđất được coi là vấn đề bức xúc nhất Đây cũng là thách thức lớn đối với chiếnlược phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng, phát triển đất nước nóichung Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 1990 đến năm
2003, diện tích đất bị thu hồi để phục vụ cho các mục đích sử dụng trên lêntới 697.410 ha, những năm sau đó, trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng
50 nghìn ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp Tính bình
Trang 10quân cứ 1 ha đất bị thu hồi sẽ làm cho 13 lao động nông nghiệp bị mất việc;riêng vùng đồng bằng sông Hồng là 15 người Trong 5 năm (2001-2004), sốngười bị mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu trên ở Hà Nội làgần 800.000 người; Hà Nam: 12.360 người; Hải Phòng: 13.274 người; HảiDương: 11.964 người; Bắc Ninh: 2.222 người; Tiền Giang: 1.459 người;Quảng Ninh: 997 người [2] v.v Theo tính toán của Trường Đại học Kinh tếquốc dân Hà Nội, giai đoạn từ 2006-2010, tổng diện tích đất nông nghiệp sẽ
bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia sẽ là 192.212 ha
và theo đó sẽ 2.498.756 lao động nông thôn mất việc
Trên thực tế, diện tích đất nông nghiệp chỉ có hơn 9 triệu ha, chiếmkhoảng 28% diện tích của cả nước, lực lượng lao động ở khu vực nông thônhiện có khoảng 33.971 ngàn người (chiếm 75,03% tổng lao động cả nước) vàsau mỗi năm lại tăng thêm khoảng 45 vạn người [1] Vì vậy, những lao độngnông thôn đã bị thu hồi đất có rất ít cơ hội được cấp lại đất để tiếp tục sinhsống bằng nghề cũ Do đó, hàng triệu người, chủ yếu là nông dân lâm vàocảnh không có hoặc thiếu việc làm, thu nhập giảm hoặc không có thu nhập.Điều đáng chú ý trong số những người bị mất việc nhóm người bị ảnh hưởngnhiều nhất ở độ tuổi từ 35 tuổi trở lên (chiếm khoảng 50%) - là nhóm ngườithường có trách nhiệm tạo thu nhập chính cho gia đình, và ở độ tuổi của họvấn đề học và chuyển đổi nghề mới không dễ dàng Đây là một bài toán khó,một thách thức lớn đối với phát triển.[4]
Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợcho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗtrợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủquan nên số lượng nông dân mất việc làm, thiếu việc làm vẫn chưa thể khắcphục triệt để Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),nền kinh tế nước ta phải chấp nhận một “sân chơi” bình đẳng trong quan hệkinh tế quốc tế - sẽ không có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ nộiđịa và nhập khẩu; phải mở cửa thị trường, bảo hộ hạn chế, dỡ bỏ hàng ràothuế quan và tiến tới sự minh bạch trong dự báo chính sách thương mại v.v Đây là những thách thức lớn đối với các ngành sản xuất và dịch vụ trong
Trang 11Công nghệ tiên tiến ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực nông nghiệp,quy mô sản xuất lớn và đại trà, tạo ra sức cạnh tranh khốc liệt làm cho các cơ
sở sản xuất trong nước trong đó có những hộ kinh doanh cá thể nhỏ, lẻ, manhmún hạn chế về trình độ công nghệ, phương pháp quản lý dễ dàng lâm vào thếyếu, bị phá sản hoặc thu hẹp sản xuất Quá trình này sẽ dẫn tới sự cạnh tranh
về cơ hội việc làm giữa lực lượng lao động mới, có trình độ chuyên môn kỹthuật cao hơn với lực lượng lao động không có chuyên môn và trình độ kỹthuật, tay nghề Một phần trong số đó trở thành lao động dư thừa do sự đàothải và nhu cầu của thị trường [4]
Thực tế hiện nay cho thấy, việc làm của người nông dân đang biếnchuyển theo các hướng: (I) việc làm thuần nông vẫn tiếp tục được duy trì theothời vụ, nhưng đang giảm dần về số lượng; (II) một số chuyển hẳn sang thựchiện mô hình kinh tế nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn (phát triển nông trại,phát triển các loại cây nông, công nghiệp hàng hoá), tuy nhiên số này còn rấtít; (III) một số khác chuyển sang tìm kiếm cơ hội việc làm phi nông nghiệpngoài thời vụ nông nghiệp hoặc chuyển hẳn sang ngành nghề khác thông quaviệc tham gia các chương trình đào tạo nghề; (IV) trở thành nguồn lực laođộng xuất khẩu của quốc gia.[4]
Người nông dân hiện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công vàthời vụ Đúng vụ sản xuất nông nghiệp thì công việc của họ là thuần nông,ngoài thời vụ kể trên phần lớn là họ chuyển sang các lao động phổ thông khácnhư gia công thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống (đối với nhữngvùng nông thôn có làng nghề), buôn bán nhỏ - tham gia lưu thông hàng hoá từnông thôn ra thành thị (bán buôn, bán lẻ các mặt hàng rau quả, lương thực,thực phẩm), tham gia vào các chợ lao động ở những thành phố lớn như: HàNội, Thành phố Hồ Chí Minh với các nghề phổ biến như: chuyên chở vật liệuxây dựng, giúp việc gia đình, chăm người ốm ở bệnh viện, phụ việc ở cáccông trình xây dựng và bất kể các công việc khuân vác, tạp vụ nào mà họđược thuê mướn, hoặc cũng có một số tham gia vào thị trường xuất khẩu laođộng, nhưng chưa nhiều và mức độ đáp ứng các yêu cầu của thị trường nàychưa cao Do tính chất công việc phổ thông, mang tính sự vụ nên thu nhậpcủa họ không cao và không ổn định Thực tế này tạo nên sự thiếu bền vững và
Trang 12tiềm ẩn những bất ổn về việc làm đối với lực lượng lao động nông thôn nóichung, nông dân nói riêng Nông dân thiếu việc làm ngày càng tăng về sốlượng mà chất lượng cũng chưa được cải thiện.
Thực trạng trên nếu không được khắc phục sớm sẽ trở thành lực cảnđối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; giatăng các vấn đề kinh tế - xã hội…[4]
Nghiên cứu của IPSARD trong khuôn khổ dự án “Hộ gia đình tiếp cận nguồnlực ở Việt Nam năm 2009” đã phác thảo nên một bức tranh toàn cảnh về cáchoạt động tạo thu nhập
Các số liệu cho thấy có sự biến chuyển trong cơ cấu lực lực lao độngtham gia làm việc ở nông thôn trong hai năm qua
- Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động gia vào các hoạt động tạo thu nhập
có - xu hướng giảm sau 2 năm (87% so với 89%)
- Tỷ lệ người tham gia vào nông nghiệp giảm 6%, tỷ lệ người tham giavào các công việc phi nông nghiệp giảm 4% so với năm 2006
- Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tham gia các công việc khai tháctài nguyên công cộng tăng từ 8% năm 06 lên 20% năm 08
- Nhóm giàu hơn có tỷ lệ người tham gia vào các công việc làm công
ăn lương cao hơn so với năm 2006
- Tỷ lệ người tham gia vào các hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp
cá thể giảm mạnh ở các nhóm hộ có thể một phần do nguyên nhân sự suygiảm kinh tế chung.[8]
Trang 13Bảng 1: Các hoạt động của nhóm trong độ tuổi lao động theo giới tính và
nhóm chi tiêu (%)
Danh
mục
Cólàmviệc
Hoạtđộngtao thunhập
Việclàmcôngănlương
Nôngnghiệp
Việcphinôngnghiệp
Khaithác tàinguyên
Việcnhà
Khai thác tài nguyên công cộng chủ yếu thấy ở các tỉnh miền núi phía bắc
Hà Tây có tỷ lệ người tham gia vào các hoạt động kinh doanh phi nôngnghiệp cao nhất
Trang 14Nghiên cứu về tầm quan trọng của các hoạt động thông qua thời gian phân bổlao động và thu nhập cho thấy:
- Thời gian cho hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng thờigian làm việc, tiếp theo là hoạt động làm công ăn lương và kinh doanh phinông nghiệp
- Năm 2008, hộ phân bổ nhiều thời gian hơn cho công việc làm công ănlương, và ít thời gian hơn cho kinh doanh phi nông nghiệp so với năm 2006
- Hộ giàu dành nhiều thời gian hơn cho việc làm công ăn lương và kinh doanhphi nông nghiệp nhưng lại ít thời gian hơn cho nông nghiệp so với hộ nghèo
- Tỷ lệ thu nhập từ nông nghiệp tăng khá trong năm 2008 so với năm 2006.[8]
Biểu đồ 1: Tỷ lệ thời gian phân bố cho các họat động theo tỉnh (%)
(Nguồn [8])Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm tại Nông trườngSông Hậu, huyện Ô Môn tỉnh cần thơ(2002) cho thấy thu nhập nông hộ chịuảnh hưởng của các yếu tố như : trình độ văn hóa chủ hộ, kinh nghiệm sảnxuất, số thành viên trong gia đình, lao động ngoài nông nghiệp và khả năngtiếp cận với vốn vay Ngoài ra, thu nhập của nông hộ còn bị tác động gián tiếp
Trang 15bởi các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và các chính sách đa canh, đadạng hóa sản xuất của nông trường thông qua các mô hình canh tác [6]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu tại xã Tân Long, huyệnMăng Thít tỉnh Vĩnh Long (2003) cho thấy yếu tố tổng thu nhập của hộ giađình có ảnh hưởng đến một số hoạt động kinh tế xã hội của nông hộ Bêncạnh đó, nghiên cứu đã khẳng định rằng trình độ học vấn là yếu tố quan trọngảnh hưởng mạnh và tích cực đến thu nhập của hộ gia đình, học vấn càng caothi thu nhập càng cao và thu nhập là một yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt độngkinh tế xã hội của hộ nông nghiệp [6 ]
Các hộ có chủ hộ là nam và nữ thì đóng góp mỗi ngành thu nhập khácnhau trong tổng thu nhập cũng khác nhau Ở các chủ hộ là nam có 46% mứctăng trưởng là từ ngành trồng trọt cao hơn chủ hộ là nữ chỉ chiếm 33%.[13]
Các dân tộc khác nhau mức thu nhập cũng khác nhau Đối với các hộdân tộc thiểu số nguồn tăng trưởng kinh tế do trồng trọt đóng góp chiếm tới74%, trong khi đó đối với các hộ người kinh nguồn này chỉ đóng góp cho tăngtrưởng là 26% Ngược lại đối với các hộ người kinh, kinh doanh góp tới 34%vào tăng trưởng thì hộ dân tộc, kinh doanh chỉ chiếm 13%.[13]
Theo William D Sunderlin và Huỳnh Thu Ba nghiên cứu về giảmnghèo và rừng ở Việt Nam cho thấy 3 mối quan hệ giữa giảm nghèo và ngànhrừng ở Việt Nam:
Thứ nhất là,những mối quan hệ nhân quả quan trọng giữa sự biến đổinông thôn và những thay đổi mạnh mẽ về độ che phụ rừng bởi hai yếu tố xuấthiện trên cùng vị trí địa lý và cùng thời gian
Thứ hai là, đời sống của những người nghèo ở các vùng sâu vùng xa ởnông thôn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hóa và dịch vụ môi trường từcác rừng tự nhiên
Thứ ba là, mặc dù vẫn phụ thuộc vào rừng, một số người dân nông thônvẫn có lợi ích từ việc mất rừng thông qua việc chuyển đổi đât rừng thành đấtnông nghiệp, khai thác và bán gỗ cũng như các sản phẩm từ rừng khác lấytiền làm vốn.[11]
Theo nghiên cứu của Ngân Hàng Thế Giới khu vực Đông Á và TháiBình Dương Vụ phát triển nông thôn và Tài nguyên tại Việt Nam(1998) cho
Trang 16thấy : sự khác nhau giữa các vùng về thị trường lao động Sự đóng góp củahai dạng hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn, từ kinh doanh và làm công
có vai trò quan trọng đối với thu nhập của hộ gia đình
Các hộ nông thôn có các nguồn thu nhập tương đối đa dạng Do diệntích trang trại nhỏ bé làm hạn chế thu nhập của hộ gia đình, đa dạng hóa sangcác hoạt động phi nông nghiệp tạo thêm nguồn việc làm và bổ sung thu nhậpcho nông hộ Thậm chí, ở những nơi chủ yếu làm nghề nông vẫn có một loạtcác hoạt động sản xuất đa dạng như từ trồng cây hàng năm đến cây lâu năm,chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Thu nhập phi nông nghiệp cũng đóng gópvai trò quan trọng Từ cuối những năm 90, các nguồn thu nhập đã đạt đượcmức cân bằng trong các hoạt động nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, sảnxuất lúa gạo/cây hàng năm đã giảm dần mặc dù thu nhập từ phi nông nghiệpcòn thấp hơn so với đồng bằng sông Cửu Long [10],[15]
Trang 17PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Người dân tham gia các hoạt động tạo thu nhập tại xã Quảng Vinh baogồm các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng đánh bắt thủy sản, vàcác hoạt động phi nông nghiệp khác
3.2 Nội dung nghiên cứu.
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh TT Huế.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp
+ Trồng trọt
+ Chăn nuôi
- Hoạt động nuôi trồng đánh bắt thủy sản
- Hoạt động phi nông nghiệp
3.2.2.2 Vai trò của các hoạt động tạo thu nhập đối với sinh kế của người dân.
- Mức thu nhập và sự đa dạng của các hoạt động tạo thu nhập
- Vai trò của các hoạt động tạo thu nhập đối với sinh kế của người dân
Trang 183.2.3 Khó khăn và thuận lợi của các hoạt động sản xuất, tạo thu nhập 3.2.3.1 Hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt
- Chăn nuôi
3.2.3.2 Hoạt động nuôi trồng đánh bắt thủy sản
3.2.3.3 Hoạt động phi nông nghiệp
3.3 Phạm vi nghiên cứu.
- Thời gian: Thực hiện nghiên cứu từ ngày 03/01/2011 đến 06/05/2011
- Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại 2 thôn: Phổ Lại, Sơn Tùngcủa xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Số lượng mẫu điều tra: Điều tra 30 hộ gia đình trong tổng số 2600 hộ giađình tại xã Quảng Vinh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu.
Điểm nghiên cứu được chọn tại 2 thôn Phổ Lại và Sơn Tùng là 2 thôn
có dân số đông nhất và có nhiều hoạt động tạo thu nhập khác nhau của xã
Quảng Vinh
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin.
- Thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo về tình hình kinh tế xã hộicủa xã năm 2010, và các tài liệu như sách, báo, internet
- Thu thập thông tin sơ cấp
Phỏng vấn người am hiểu gồm cán bộ khuyến nông xã, trưởng thônPhổ Lại, Sơn Tùng, phỏng vấn bán cấu trúc 30 hộ dân tại 2 thôn Phổ Lại vàSơn Tùng, và làm thảo luận nhóm để thu thập thông tin về các hoạt động tạothu nhập của người dân địa phương, vai trò của các hoạt động đó đối với đờisống của người dân, những thuận lợi và khó khăn của các hoạt động đó
Đi thực địa và quan sát điểm nghiên cứu nhằm hiểu biết tình hìnhchung
3.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu.
- Dùng phương pháp định tính và định lượng để tổng hợp thông tin
Trang 19PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Quảng Vinh.
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên.
Quảng Vinh là xã đồng bằng nằm về phía Tây của huyện Quảng Điền,
có tổng diện tích tự nhiên 1.976 ha, chiếm 12,12 % diện tích toàn huyện, vớitổng dân số 11086 người gồm 2.600 hộ thuộc 14 thôn
Thuộc vùng đồng bằng phía Tây, Quảng Vinh là một trong những xãtrọng điểm lúa của huyện Quảng Điền Nhìn chung địa hình của xã QuảngVinh mang đặc điểm chung của vùng canh tác lúa nước và hoa màu, đất đaimàu mỡ, bằng phẳng Hàng năm thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa,ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, đườnggiao thông nông thôn đi lại khó khăn vào mùa mưa
Theo số liệu thống kê, tính đến 01/01/2007 cho thấy, Quảng Vinh cótổng diện tích đất tự nhiên là 1.976,00 ha Trong đó đất nông nghiệp là1.019,61 ha chiếm 51,60% diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp là564,37 ha chiếm 28,56%, đất chưa sử dụng là 392,02 ha chiếm 19,84%
Đất đai của Quảng Vinh được hình thành gồm 2 nhóm đất chính là đấtphù sa và đất cát:
Nhóm đất phù sa được bồi tụ bởi con sông bồ, thành phần cơ giới chủyếu là thịt nhẹ, thịt trung bình Đây là loại đất phù sa có tầng đất mặt giàu hữu
cơ thích hợp cho sản xuất đất nông nghiệp đậc biệt là lúa, hoa màu, cây thựcphẩm…
Nhóm đất cát được phân bố tập trung chủ yếu ở vung cát, đất có thànhphần cơ giới thô, không có kết cấu, dung tích hấp thụ thấp, nghèo chất dinhdưỡng Loại đất này thích hợp cho trồng các cây công nghiệp ngắn ngày như:mía, lạc, đậu đỗ, cây ăn quả…Hiện nay, đất cát trên địa bàn xã đang được sửdụng để xây dựng trang trại nông lâm kết hợp, trồng rừng phòng hộ bảo vệvùng đất nội đồng, giữ nguồn nước ngọt
Bên cạnh đó, do điều kiện địa hình thấp trũng thường xuyên bị ngập lụt nênđất đai của xã có một phần nhỏ diện tích bị nhiễm phèn, gây khó khăn cho sảnxuất nông nghiệp, tuy nhiên đất bị nhiễm phèn chưa nặng, nên vẫn có thể cải
Trang 20tạo được để đưa vào sản xuất, đồng thời cần phải quan tâm hơn tới công tácthủy lợi để đất đai ngày càng được sử dụng có hiệu quả hơn.
Bảng 2 : Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp xã Quảng Vinh
Chỉ tiêu
Quy hoạch 2010Diện tích (ha) Cơ cấu
1.1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại 218,06 27,75
Trang 214.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội.
4.1.2.1 Dân số, lao động
Tổng dân số toàn xã là 11086 người với 2600 hộ gia đình và có 5910trong độ tuổi lao động Trong đó lao động nông nghiệp là 3901 lao động, laođộng dịch vụ là 621 lao động, lao động ngành nghề là 1243 lao động và laođộng khác là 145 lao động Như vậy, từ số liệu trên cho thấy nguồn lao độngcủa xã Quảng Vinh rất dồi dào Qua điều tra nghiên cứu cho thấy người dân ởđây rất cần cù chịu khó, họ có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp Tuynhiên, những năm gần đây do dân số tăng nhanh, thiếu diện tích đất nôngnghiệp nên một số lao động trẻ do thiếu việc làm đã rời quê hương để đi làm
ăn ở các tỉnh, thành phố khác Trong số 1243 lao động ngành nghề thì có 765lao động làm ngoài địa phương và chỉ có 478 lao động làm trong địa phương,
và số lao động đã được qua đào tạo là 35%
Bảng 3: Cơ cấu lao động của xã Quảng Vinh
( Nguồn: số liệu của xã Quảng Vinh năm 2010)
Trang 224.1.2.2 Cơ sở hạ tầng.
- Thực trạng cơ sở hạ tầng của xã hiện nay tương đối đầy đủ, trongtương lai để có thể phục vụ tốt hơn đời sống sinh hoạt của người dân cũngnhư việc phát triển sản xuất thì cần phải bảo vệ cải tạo, mở rộng, nâng cấp,hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có Yêu cầu phải bố trí đất để pháttriển mở rộng và làm mới một số tuyến đường phục vụ dân sinh, giao lưuhàng hóa Các công trình thủy lợi, giao thông, hệ thống kênh mương được xâydựng mới trong thời gian tới có yêu cầu rất lớn
- Thực hiện chính sách “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trên cơ sởđầu tư hỗ trợ củ cấp trên và huy động nội lực tai chỗ để xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế-xã hội và đã có nhiều chuyển biến tích cực , đưa đến những thayđổi sâu sắc trong bộ mặt nông thôn Năm năm qua đã xây dựng và đưa vào sửdụng các công trình như: đường cây si Sơn Tùng, đê Đông Lâm, trường Tiểuhọc số 1, trường Tiểu học số 2, các cụm mẫu giáo bán trú, nhà cộng đồng, cáccông trình giao thông nội đồng, cứng hóa kênh mương 3 HTX, có 11 kmđường liên thôn, 10,8 km đường xóm, 14,8 km kênh mương được bê tông;xây dựng mới 2 trạm bơm điện; có 19,8 km đường giao thông nội đồng đượcnâng cấp đổ cấp phối, nâng đầu tư đạt 106.6 tỷ đồng Đã tiến hành khởi côngxây dựng trung tâm thương mại, dịch vụ, dân cư xã, quy hoạch sử dụng đấtchi tiết, lập bản đồ địa chính Năm 2010 đã xây dựng các công trình như nhàcông vụ xã, cống đường trang trại, trạm bơm tại Roi, trạm bơm tại NamDương, cống và đường Đông Lâm nối Nguyễn Chí Thanh, đường bụi sứ thônLai Lâm, đường HTX Bắc Vinh, đường thôn Phổ Lại, đường WB2, trườngtiểu học số 2 Tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt 26,5 tỷ đồng, tăng 1,6 tỷ đồng
so với năm 2009, trong đó: Vốn ngân sách :16,3 tỷ đồng, nhân dân: 8,9 tỷđồng, vốn khác: 1,3 tỷ đồng
- Cơ cấu đầu tư: Đầu tư hạ tầng phát triển kinh tế: 3,1 tỷ đồng, văn hóa
xã hội: 1,5 tỷ đồng, y tế giáo dục: 1,4 tỷ đồng, dân sinh: 20,5 tỷ đồng
4.1.2.3 Sức khỏe.
+ Y tế: Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, tăngcường công tác tuyên truyền, làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh và