Bảng 2.1: Số lượng mô hình chăn nuôi bò ở Quảng Bình qua các năm 2002 – 2007 Bảng3.1: Một số yếu tố phản ánh đặc điểm khí hậu ở Quảng TrạchBảng3.2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Qu
Trang 21.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về nông hộ và kinh tế nông hộ
2.2 Vai trò của ngành chăn nuôi bò đối với nông hộ
2.2.1 Chăn nuôi bò cung cấp phân bón và sức kéo cho ngành trồng trọt
2.2.2 Chăn nuôi bò cung cấp thực phẩm cho nhu cầu sinh hoạt con người
2.2.3 Chăn nuôi bò sẽ tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho nông hộ
2.3 Những tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao trong chăn nuôi bò thịt ở ViệtNam trong thời gian qua
2.5.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên
2.5.2 Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế - xã hội
Phần 3: VÙNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 33.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
3.3.2 Thu thập số liệu mới
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò ở huyện QuảngTrạch tỉnh Quảng Bình
4.2 Các nguồn cung cấp thông tin tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi bò cho hộ
4.3 Các phương pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi bò cho hộ
4.4 Kết quả các TBKT đã được chuyển giao trong chăn nuôi bò của hộ
4.4.1 Đánh giá mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao
4.4.2 Tình hình chấp nhận và ứng dụng các TBKT đã được chuyển giao
4.4.3 Các hình thức quyết định áp dụng TBKT trong chăn nuôi bò thịt của hộ
4.5 Những khó khăn của hộ khi áp dụng kỹ thuật mới
4.6 Những hạn chế của bên chuyển giao
4.7 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đến áp dụng TBKT trong chăn nuôi bò thịt ởnông hộ
4.7.1 Ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên
4.7.2 Ảnh hưởng của yếu tố xã hội
4.7.3 Ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ
4.7.4 Ảnh hưởng của các điều kiện dịch vụ cho sản xuất
4.8 Ảnh hưởng của yếu tố nội tại đến áp dụng TBKT trong chăn nuôi bò thịt ởnông hộ
4.8.1 Ảnh hưởng nguồn nhân lực của hộ đến áp dụng TBKT
4.8.2 Ảnh hưởng nguồn tài nguyên của hộ đến áp dụng TBKT
4.8.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại khác đến việc áp dụng TBKT
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
5.1.1 Thực trạng chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật
5.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuyển giao và áp dụng TBKT
5.2 Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 4Bảng 2.1: Số lượng mô hình chăn nuôi bò ở Quảng Bình qua các năm 2002 – 2007 Bảng3.1: Một số yếu tố phản ánh đặc điểm khí hậu ở Quảng Trạch
Bảng3.2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Quảng Trạch
Bảng 3.3: Cơ cấu dân số và lao động của huyện Quảng Trạch 2005-2007
Bảng 3.4: Diện tích và năng xuất một số cây trồng trên địa bàn huyện
Bảng 3.5: Số lượng đàn vật nuôi của huyện qua các năm
Bảng 4.1: Tình hình chuyển giao TBKT về chăn nuôi bò ở huyện Quảng TrạchBảng 4.2: Các nguồn cung cấp thông tin về TBKT về chăn nuôi bò của hộ
Bảng 4.3: Phương pháp chuyễn giao TBKT trong chăn nuôi bò của hộ
Bảng 4.4: Mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao
Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ tiếp cận tình hình chấp nhận và ứng dụng các TBKT đã đượcchuyển giao
Bảng 4.6: Các hình thức quyết định áp dụng TBKT trong chăn nuôi bò của hộBảng 4.7: Những khó khăn của người dân khi áp dụng TBKT mới
Bảng 4.8: Những hạn chế chủ yếu trong chuyển giao TBKT cho hộ
Bảng 4.9: Nhu cầu của người dân về dịch vụ đầu vào nhằm áp dụng tốt hơn TBKTtrong chăn nuôi bò
Bảng 4.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các TBKT trong chăn nuôi bòthịt của hộ
Bảng 4.10: Một số chỉ tiêu chính về nguồn nhân lực của hộ
Bảng 4.11: Một số nguồn tài nguyên của hộ
Bảng 4.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các TBKT trong chăn nuôi bòthịt của hộ
Phần 1
Trang 5MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Quảng Trạch là một huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Bình có những điềukiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò như: Đất trồng cỏ, nguồn thức ăn tậndụng từ phế phụ phẩm của trồng trọt dồi dào, thời gian lao động nhàn rỗi của nôngdân còn nhiều, thị trường tiêu thụ sản phẩm từ chăn nuôi bò thịt đang rộng mở
Chăn nuôi bò là một nghề truyền thống đã có từ lâu đời của huyện, con bògắn liền với nông hộ, gắn liền với sự phát triển của ngành chăn nuôi Trước đây,chăn nuôi bò trong nông hộ mang tính quảng canh, nhỏ lẻ, người chăn nuôi tậndụng bãi chăn thả tự nhiên là chính, thiếu kinh nghiệm và kiến thức, chưa áp dụngtiến bộ kỷ thuật về giống, quy trình chăn nuôi nên hiệu quả đạt được còn thấp.Nhưng kể từ khi có các chương trình, dự án hổ trợ thì đã có nhiều hoạt động chuyểngiao tiến bộ kỷ thuật trong chăn nuôi bò được triển khai và đã thu được một số kếtquả nhất định Tuy nhiên, trên thực tế việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đã đượcchuyển giao đôi khi không mang tính bền vững, các tiến bộ kỷ thuật không đượcngười dân chấp nhận hoặc chấp nhận và ứng dụng ở phạm vi nhỏ lẽ; hoặc khi còn
dự án chuyển giao thì có kết quả và khi dự án kết thúc thì kỷ thuật chuyển giao đókhông còn tồn tại ở địa phương nữa Nó đã làm hao tốn không ít tiền của, sức laođộng và thời gian của các bên (cả bên chuyển giao và người tiếp nhận) Đây là vấn
đề lớn, song chưa có một nghiên cứu nào về thực trạng và xác định những yếu tố đãảnh hưởng đến những hạn chế trên
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt cho nông hộ ở Quảng Trạch, Quảng Bình ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 6Tiến hành đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được các mục đích sau:
- Tìm hiểu thực trạng của việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chănnuôi bò thịt cho nông hộ tại huyện Quảng Trạch
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng trong quá trình chuyển giao các TBKTtrong chăn nuôi bò thịt
- Làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm đề xuất giải pháp để nângcao hiệu quả của quá trình chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò thịt chonông hộ
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ chăn nuôi bò thịt ở huyện QuảngTrạch tỉnh Quảng Bình
- Thời gian nghiên cứu từ: 01/2008 – 5/2008
Phần 2
Trang 7TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về nông hộ và kinh tế nông hộ
Nông hộ là hình thức kinh tế cơ bản của nông nghiệp Tại cuộc hội thảo quốc
tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan 1980, các đại biểu nhất trí rằng: Hộ làmột đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng
và các hoạt động xã hội khác Với ý nghĩa đó hộ gia đình nông dân là tế bào kinh tế
xã hội, là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp [7]
Hộ nông dân có các đặc trưng sau: (i) Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ
sở, vừa là đơn vị sản suất, vừa là đơn vị tiêu dùng; (ii) Quan hệ giữa tiêu dùng vàsản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ cấp hoàn toàn đến sản xuất hànghoá hoàn toàn; (iii) Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vàocác hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến cho khó giới hạnthế nào là một hộ nông dân [7]
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế chủ yếu đóng vai trò quyết định đối với sảnxuất nông nghiệp và nông thôn, việc tham gia vào quá trình sản xuất nói lên kinh tế
hộ đã tỏ ra ưu thế hơn so với các hình thức tổ chức khác, chính vì vậy cho nên đếnnay chưa có hình thức nào có thể hay thế kinh tế hộ trong lĩnh vực nông nghiệp,nông thôn
Đặc trưng bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành viên trong nông hộ làmviệc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình.Mặt khác, kinh tế nông hộ nhìn chung là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cấp tự túchoặc sản xuất hàng hoá với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọngtrong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nóichung và nước ta nói riêng [7]
Sự phát triển của kinh tế hộ có ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định của
hộ có hay không đầu tư vào các công nghệ và mức công nghệ họ có thể tiếp nhậnđược do bởi người dân ra quyết định trên cơ sở cái họ có Như trong sản xuất nôngnghiệp muốn phát triển yếu tố không thể thiếu là đất đai, vốn, lao động… khó màthành công trong công tác chuyển giao một tiến bộ kỹ thuật nào đó nếu hộ nông dân
đó thiếu nguồn lực trên Và khi so sánh giữa hai nhóm hộ có điều kiện nguồn lực
Trang 8khác nhau thì hộ nào có nguồn lực tốt hơn sẽ có khả năng lĩnh hội cũng như quátrình chuyển giao thuận lợi hơn
2.2 Vai trò của ngành chăn nuôi bò đối với nông hộ
2.2.1 Chăn nuôi bò cung cấp phân bón và sức kéo cho ngành trồng trọt
Chăn nuôi và trồng trọt là hai ngành chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, giữachúng có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời và ảnh hưởng qua lại lẫnnhau.Trồng trọt kém, năng suất cây trồng thấp thì chăn nuôi cũng sút kém và ngượclại Phân bò là loại phân hữu cơ có khối lượng đáng kể, lượng phân thải ở bò 492.75kg/con/năm (phân khô) [4] Tổng lượng N,P,K thải ra/năm/đầu gia súc lớn 116kglượng phân hữu cơ này có tác dụng nâng cao độ phì nhiêu cho đất và cải tạo đất rấttốt, nâng cao năng suất cây trồng, giảm đầu tư trong sản xuất từ đó tăng hiệu quảkinh tế, tăng sức cạnh tranh và giảm ô nhiễm môi trường
Trong trào lưu công nghiệp hoá tiến nhanh theo các nước công nghiệp pháttriển thì đã có xu hướng lãng quên sức kéo của gia súc Nhưng hiện nay ở đất nước
ta sức kéo của trâu bò vẫn được coi trọng, nhất là ở những vùng nghèo và vùng cóđịa hình khó khăn cho cơ giới hoá Theo thống kê của Cục khuyến nông, Bộ Nôngnghiệp và phát triển nông thôn 2005 thì có 40% đàn trâu bò nước ta sư dụng vàomục đích cày kéo Ở các vùng xa những nơi mà đường sá chưa được cải tạo, việcchuyên chở hàng hoá chủ yếu vẫn dùng sức kéo của trâu bò[6]
Lợi thế của việc sử dụng sức kéo của trâu bò là có thể hoạt động ở bất cứ địabàn nào, và sử dụng tối đa nguồn thức ăn thiên nhiên tại chỗ và các phế phụ phẩmnông nghiệp, công nghiệp mà không cần sử dụng đến sự đầu tư chuyên gia kỹ thuậtnào[4]
2.2.2 Chăn nuôi bò cung cấp thực phẩm cho nhu cầu sinh hoạt con người
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao, thực phẩmđược chế biến từ thịt bò là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và rất quan trọngđối với đời sống con người Protein thịt bò có chứa đầy đủ các loại axit amin khôngthay thế “Tỷ lệ protein hoàn thiện/protein không hoàn thiện của thịt bò là 550” [13].Thịt bò có độ cảm quan thực phẩm cao ngoài ra nó còn chứa nhiều loại khoáng,vitamin và các chất bổ dưỡng cho cơ thể với 171 kcalo/kg thịt [4] Vì vậy thịt bò làloại thực phẩm càng được coi trọng trong bửa ăn hàng ngày
Trang 9Sữa bò là sản phẩn có giá trị dinh dưỡng cao, không chỉ thể hiện qua hàm lượngdinh dưỡng và tỷ lệ giữa chúng mà còn thể hiện qua đặc tính và các thành phần dinhdưỡng Sữa bò là loại thực phẩm quý đối với con người, đặc biệt là người già và trẻ
em, người lao động cực nhọc, đây là loại thực phẩm có tỷ lệ tiêu hoá cao 98%
2.2.3 Chăn nuôi bò sẽ tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho nông hộ
Chăn nuôi bò giúp nông dân có thêm thu nhập, cải thiện đời sống, thoát khỏinghèo đói Các nguồn thu từ chăn nuôi bò sẽ góp phần trang trải cho các nhu cầuhàng ngày, hay dành dụm chi tiêu trong những lúc cần thiết của nông dân nghèo,đối với các gia đình khá giả thì có thể dùng nguồn tiền này để kinh doanh sản xuất[13]
Ở nước ta hiện nay lao động nhiều, vấn đề giải quyết lao động dư thừa đượcĐảng và chính phủ rất quan tâm Nhiều tỉnh khu vực miền Trung có tốc độ tăng dân
số lớn do vậy dẫn đến áp lực về dân số ngày càng tăng, đất chật người đông, công
ăn việc làm càng khan hiếm Do vậy vai trò của chăn nuôi không chỉ giải quyết thunhập mà còn tạo công ăn việc làm [4]
2.3 Những tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao trong chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam trong thời gian qua
2.3.1 Khái niệm
2.3.1.1 Khái niệm về tiến bộ kỹ thuật
Tiến bộ kỹ thuật là một danh từ, thể hiện những nét mới và tiến bộ của mộtyếu tố kỹ thuật nào đó, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh
và cải thiện đời sống của nông dân và cư dân nông thôn [1]
2.3.1.2 Khái niệm về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Có nhiều định nghĩa về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật:
Theo Swansas và Cloor 1994 thì chuyển giao TBKT hay công nghệ là mộtquá trình tiếp diễn nhằm tiếp nhận thông tin có ích cho con người và từ đó giúp đỡ
họ tiếp thu những kiến thức, kỹ năng và quan điểm cần thiết để sử dụng có hiệu quảlượng thông tin hoặc công nghệ đó [1]
Maunder (Fao, 1973) thì cho rằng: “Đó là một dịch vụ hay hệ thống nhằmthông qua các phương thức đào tạo, giúp đỡ người nông dân cải thiện các phươngpháp, kỹ thuật canh tác, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, tăng mức sống và nângcao trình độ giáo dục xã hội của cuộc sống nông thôn [1]
Trang 10Tóm lại, chuyển giao TBKT đề cập đến một tiến trình, bằng tiến trình đó,những kỹ thuật được cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai có thể hưởng lợihoặc cảm thấy họ có thể hưởng lợi từ những kỹ thuật đó
2.3.1.3 Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Công tác chuyển giao TBKT nhằm giúp nông dân có khả năng tự giải quyếtcác vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống
và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng thànhcông tiến bộ kỹ thuật bao gồm cả những kiến thức và kỹ năng về quản lý, thông tin
và thị trường, các chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông thôn
Chuyển giao TBKT còn phải giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng vàchống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, xúc tiến thương mại, giúpnông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động xã hộinông thôn ngày càng tốt hơn
Như vậy: Mục đích của chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
- Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền vững, góp phần xây dựng nôngthôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá và hợp tác hoá
- Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứngđược các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xoá đói giảm nghèo
- Nâng cao dân trí trong nông thôn
- Phát hiện các vấn đề mới nảy sinh, thẩm định các kết quả nghiên cứu đểhình thành chiến lược nghiên cứu
2.3.2 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi bò cho nông hộ ở nước ta
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thông qua các chương trình quốc gia
về phát triển đàn bò theo hướng thịt như chương trình sind hoá đàn bò, Zebu hoáđàn bò Điển hình là các chương trình dự án ở cấp nhà nước và cấp bộ: VIE/86/008;ODA; KN 02- 08 giai đoạn 1995 - 2000; đề tài “Nghiên cứu nhân thuần và lai tạogiống bò hướng thịt chất lượng cao ở Việt Nam” giai đoạn 2006 - 2008 do việnChăn nuôi Quốc gia chủ trì Các nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi bò thịt đượctập trung vào các vấn đề: Giống, dinh dưỡng thức ăn, thú y…đã từng bước đưangành chăn nuôi bò thịt tăng lên về cả quy mô và chất lượng [9]
Trang 11Các tiến bộ kỹ thuật về giống: Lần đầu tiên dự án cải tạo đàn bò tiến hành từnăm 1995 - 1998, tiến hành trên 27 tỉnh và thành phố với 231 huyện cùng 472.000
hộ nông dân tham gia Dự án sử dụng 500 bò đực giống Kết quả đạt được là sảnxuất ra 350.000 con lai làm tăng thêm hơn 25.000 tấn thịt hơi Do giá bán của thịtrường của bò lai cao hơn bò nội là 1,5 - 2 lần nên tỷ lệ bò lai tăng từ 15 - 25% [17]
Đầu những năm 2000, một số giống bò chuyên thịt thuần chủng có chấtlượng cao như: Brahman, Drouth Master đã được nhập về với mục đích nuôi thuầnchủng và sản xuất con giống trong nước Các nghiên cứu về nuôi thích nghi và nhângiống thuần chủng các giống bò này đã và đang thực hiện tại một số tỉnh Bắc Bộ,miền Trung và Đông Nam Bộ [2];[8]
Chính nhờ sự tích cực chuyển giao công tác về giống mà tốc độ tăng đàn của
bò lai trong cả nước không ngừng tăng lên Thời kỳ 1995-1998 tốc độ tăng đàn bòlai là 3%, nhưng sang thời kỳ 1998-2005 tốc độ tăng đàn của bò lai đạt 5%, chínhnhờ tốc độ này mà hiện nay cả nước có tỷ lệ tổng đàn bò lai là 30% [5];[16]
Thức ăn và dinh dưỡng: Nước ta là một nước nông nghiệp với nhiều loại câytrồng cho nên có nguồn phế phụ phẩm phong phú Trong thời gian qua nhiều côngtrình nghiên cứu về chế biến, bảo quản và sử dụng nguồn phụ phẩm trồng trọt, nhưchế biến ủ rơm urê, ủ chua thức ăn, bánh dinh dưỡng, khẩu phần thức ăn bổ sung…[16] đã và đang được chuyển giao vào trong chăn nuôi bò trong cả nước, mang lạihiệu quả thiết thực cho người nông dân Cho đến thời điểm này, có nhiều hộ ở cácvùng đã thành công trong việc áp dụng các TBKT này như tỉnh Quảng Bình, QuảngNgãi…
Công tác thú y: Những năm trở lại đây công tác thú y được quan tâm hơn,hàng năm tổ chức tiêm phòng định kỳ với 2 vacxin phòng bệnh (Tụ huyết trùng và
Lở mồm long móng) trên tất cả các vùng của cả nước Bên cạnh đó lực lượng cán
bộ thú y không ngừng được đào tạo tay nghề, ngày càng tăng về số lượng và trình
độ chính vì vậy đã góp phần thoả mãn một phần nhu cầu sản xuất Tuy nhiên hiệnnay có nhiều vùng đang thiếu cán bộ thú y nhất là vùng Núi và dân tộc ít người [9]
2.4 Tình hình phát triển chăn nuôi và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi bò cho nông hộ ở Quảng Bình
Sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với nông dân tỉnh QuảngBình Nhằm khai thác thế mạnh UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố trong
Trang 12những năm qua đã liên tiếp chỉ đạo chương trình phát triển chăn nuôi với quyết tâmcao coi đây là giải pháp đột phá trong sản xuất nông nghiệp UBND tỉnh duy trì một
số chính sách hổ trợ nông dân phát triển sản xuất: Hổ trợ giống năng xuất, chấtlượng, TBKT, hổ trợ phát triển chăn nuôi bò lai Sind, trang trại chăn nuôi bò [18].Tổng đàn bò toàn tỉnh năm 2007 là 130.012 con tăng 5,6% so với cùng kỳ [20]
Các hoạt động của khuyến nông trong công tác chuyển giao TBKT như: In
ấn tờ rơi, tờ bướm hướng dẫn kỹ thuật, tạp huấn cho cán bộ khuyến nông, nông dân
về kỹ thuật chăn nuôi bò lai Xây dựng các mô hình trồng cỏ chăn nuôi bò thịt tậptrung, vỗ béo bò để làm mô hình nông dân tham quan từ đó mà nhân rộng ra toànhuyện Tăng cường mở các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân vùng chăn nuôi bò,ngoài ra thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền thanh, truyềnhình, báo chí giới thiệu mô hình chăn nuôi có hiệu quả, gương sản xuất giỏi, thamquan, tọa đàm, hội nghị chuyên đề từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, bổ ích
áp dụng vào sản xuất Tổ chức được điển hình chăn nuôi giỏi, thành lập hội chănnuôi, có lịch sinh hoạt, có nội dung quy chế cụ thể của hội [6]
Bảng 2.1: Số lượng mô hình chăn nuôi bò ở Quảng Bình qua các năm 2002
-2007, được thể hiện qua bảng sau:
Hoạt động Đvt
2002-2003
2004
2003-2005
2004-2006
2005-2007
(Nguồn: Báo cáo hợp phần thâm canh đa dạng NN tỉnh Quảng Bình, 2007)
Trong công tác thực hiện mô hình thì khuyến nông chăn nuôi đã thực hiện 57
mô hình vổ béo bò, 35 mô hình trồng cỏ Qua năm năm thực hiện mô hình vổ béo
bò, nhìn chung các mô hình qua các năm thực hiện đều đạt và vượt chỉ tiêu kinh tế,
kỹ thuật đề ra, lợi nhuận mang lại khá cao Các mô hình trồng cỏ với diện tích 35 ha
ở 7 huyện, thành phố năng xuất lứa đầu đạt bình quân 29,24 tấn/ha, lứa 2 đạt 44 tấn/
ha Đây cũng là mô hình được đánh giá cao giải quyết vấn đề khan hiếm thức ăntrong chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Quảng Bình hiện nay [15]
Trang 13Chương trình cải tạo đàn bò với tổng kinh phí 340 triệu đồng, đã có1855/2000 con bò cái đã được phối giống, trong đó đã có chửa 1630 con Sở nôngnghiệp đã hổ trợ thực hiện thụ tinh nhân tạo bò 3218 con, trong đó Quảng Trạch là
446 con [15]
Hổ trợ trồng cỏ chăn nuôi bò: Theo số liệu thống kê sơ bộ của các phòngkinh tế, diện tích đất trồng cỏ của 6 huyện trong năm 2007 trừ Minh Hóa đã đạt150,875 ha [20] Công ty Lệ Ninh đã hổ trợ nhân giống cỏ VA06 với quy mô 3 ha,
và đang triển khai thực hiện [6] Mở các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân, hướngdẫn kỹ thuật ủ rơm, ủ chua, ủ xanh thức ăn để các hộ nông dân tận dụng hết cácnguồn phế phụ phẩm tại chổ như rơm rạ, thân cây ngô, thân cây lạc làm thức ăn chotrâu bò
Công tác phòng chống dịch bệnh: Công tác thú y phòng chống dịch bệnh chođàn bò đã được các đơn vị quan tâm chỉ đạo thực hiện Tuyên truyền hướng dẫnnông dân xây dựng chuồng trại hợp lý, đảm bảo vệ sinh thú y, định kỳ phun thuốctiêu độc, khử trùng chuồng trại để ngăn ngừa không cho dịch bệnh xảy ra, lây lan.Thực hiện tốt công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinhthú y Từng bước quy hoạch xây dựng lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung [6]
2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò
2.5.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các cơ thể sống, các câytrồng, vật nuôi và thường xuyên chịu tác động của các nhân tố về điều kiện tựnhiên Vì thế một quá trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sẽ trực tiếp hay gián tiếpchịu tác động của các yếu tố đó [11]
Vị trí địa lý: Vị trí địa lý của một vùng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sống củangười dân ở vùng đó Những vùng có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi thì quá trìnhlao động, sản xuất, sinh hoạt sẽ tốt hơn Người dân có cơ hội để tiếp cận và áp dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật, trao đổi giao lưu với bên ngoài, khả năng phát triểnkinh tế sẽ tốt hơn so với những vùng có điều kiện không thuận lợi
Đất đai: Điều kiện đất đai sẽ chi phối và quyết định đến quá trình tổ chức sảnxuất của mổi nông hộ và hiệu quả sản xuất của nó Diện tích và độ phì nhiêu của đất
Trang 14là những yếu tố ảnh hưởng đến năng xuất và sản lượng của nguồn thức ăn của giasúc như: Cỏ tự nhiên, cỏ trồng, các phế phụ phẩm…
Khí hậu thời tiết: Khí hậu thời tiết không những ảnh hưởng trực tiếp đến cơthể gia súc mà còn tác động đến sự phát triển của cây cỏ trên đồng cỏ và các nguồnthức ăn xanh khác, nghĩa là tác động đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trongchăn nuôi bò Thời tiết khí hậu miền Trung khắc nghiệt nên đã ảnh hưởng lớn đếnchăn nuôi bò, nhất là vào mùa khô, nắng nóng kéo dài, cây cỏ không phát triểnđược, bò bị thiếu thức ăn nên tăng trọng kém
2.5.2 Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế - xã hội
2.5.2.1 Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế hộ đến sự tiếp nhận và ứng dụng các tiến bộ
kỹ thuật
Sự phát triển của yếu tố kinh tế hộ có ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết địnhcủa hộ có hay không đầu tư vào áp dụng các kỹ thuật công nghệ mới, việc áp dụngcác công nghệ mới thường dựa vào các nguồn lực của nông hộ Một khi các tiến bộ
kỹ thuật được chuyển giao đến hộ nông dân nếu như hộ đó có những điều kiện cầnthiết như vốn, nhân lực…thì hộ sẽ dể dàng tiếp nhận và ứng dụng các tiến bộ kỹthuật vào sản xuất
Vốn: Hoạt động chăn nuôi mà đặc biệt là hoạt động chăn nuôi bò cần có sựđầu tư về con giống, chuồng trại và các trang thiết bị lớn hơn so với chăn nuôi giasúc khác Hơn nữa hệ số quay vòng vốn và thời gian để có sản phẩm thường lại dàihơn các loại gia súc khác nên không phù hợp với tâm lý người dân nhất là ngườidân nghèo Các hộ này chăn nuôi chủ yếu dựa vào phế phụ phẩm nông nghiệp vàđồng cỏ nên hiệu quả kinh tế chưa cao [13]
Trình độ lao động: Trình độ văn hoá của một người nó bao gồm tổng thể cáckiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm… Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi ởmột số vùng có đạt được thành công hay không còn phụ thuộc rất lớn vào nhận thức
và khả năng thực hiện của cộng đồng dân cư đó Nên trình độ dân trí nó được xemnhư là điều kiện cần cho cộng đồng nông thôn khi tham gia vào các chương trìnhchuyển giao tiến bộ kỹ thuật, trình độ dân trí giúp họ biết mình cần phải làm gì vàlàm như thế nào khi tham gia vào các hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật củacác chương trình dự án
Trang 152.5.2.2 Ảnh hưởng của chính sách quy định của nhà nước đối với việc chuyển giaocác tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Chính sách nông nghiệp nông thôn “Là tổng thể các biên pháp kinh tế hoặcphi kinh tế có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và các ngành có liên quan đếnnông nghiệp nông thôn theo một định mức với một mục tiêu nhất định” [14] Chínhsánh nông nghiệp, nông thôn không chỉ là chính sách đơn thuần về nông nghiệp,nông thôn, mà là các chính sách, các biện pháp tác động vào tất cả các lĩnh vực cácngành có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
Các chính sách, quy định của nhà nước có vai trò rất quan trọng, nó có tácđộng thúc đẩy hay kìm hảm nền kinh tế của nước đó Trong những năm lại đây nhànước ta đã đưa ra nhiều chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhữngchính sách này đã thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp pháttriển, làm cho đời sống của người dân từng bước thay đổi Trong đó các chính sách
về chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật không những giúp nông dân tiếp cận đượccác tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp mà còn hổ trợ tạo điều kiện thuậnlợi cho các hộ ở nông thôn nhằm tăng cường phát triển sản xuất, giải quyết các khókhăn cho các hộ dân
2.5.2.3 Ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vàosản xuất
Thị trường là yếu tố quan trọng, có những lúc thị trường trở thành yếu tốquyết định sản xuất, điều chỉnh quy mô và tố độ sản xuất Khi thi trường phát triển,hàng hoá sản xuất ra bán giá cao, người sản xuất thu được nhiều lợi nhuận, khi đó
nó thúc đẩy phát triển với tốc độ cao, quy mô sản xuất được mở rộng và ngược lại[12] Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của ta phát triển còn chậm,chủ yếu là do sản xuất không gắn với thị trường và không xuất phát từ nhu cầu thịtrường để điều chỉnh sản xuất một cách thích ứng
Thị trường tiêu thụ bò có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong chăn nuôi
từ đó ảnh hưởng đến việc quy định đầu tư, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào chăn nuôi bò của mổi nông hộ Do đó để việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuậtđạt kết quả bền vững, các hộ áp dụng các kỹ thuật vào sản xuất một cách mạnh dạn
và hiệu quả thì đi đôi với việc chuyển giao cần tìm thị trường tiêu thụ cho người dân[12]
Trang 162.5.2.4 Ảnh hưởng của một số yếu tố khác
Ngoài các yếu tố trên thì sự quyết định áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sảnxuất còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như: Ảnh hưởng của yếu tố dân tộc,tôn giáo, tín ngưỡng, thể chế và chính sách của địa phương Ở một số nơi các yếu tốnày không còn phù hợp, thậm chí nó còn cản trở sự phát triển nói chung và quátrình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nói riêng Bên cạnh đấy sự tiếp cận các nguồnthông tin, phong tục tập quán chăn nuôi, tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đếnchăn nuôi và trở ngại cho việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi Vì thế,nghiên cứu đặc trưng văn hoá của mổi khu vực nhằm góp phần gìn giữ và phát huynhững yếu tố tích cực và hạn chế những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trìnhchuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Trang 17Phần 3 VÙNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Quảng Trạch là một huyện lớn nằm ở phái Bắc tỉnh Quảng Bình, nằm trải dài
từ toạ độ 17042’ đến 17059’ Vĩ Bắc và từ 1060 15’ đến 1060 34’ Kinh Đông, cóđường thiên lý Bắc - Nam đi qua suốt từ Đèo Ngang đến Sông Gianh dài gần 34km.Quảng Trạch có vị trí phía Bắc giáp với tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp với huyện BốTrạch, phía Tây giáp với huyện Tuyên Hoá và phía Đông giáp với Biển Đông[20]
Là huyện đồng bằng nhưng Quảng Trạch vẫn có rừng và biển, nhiều nơi rừng chạysát bờ biển Vùng đồng bằng tuy nhỏ nhưng có các hệ thống giao thông, sông ngòiđảm bảo thuận tiện cho quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá, thương mại với các tỉnh
và thành phố trong cả nước, cũng như các huyện khác trong tỉnh
* Đặc điểm địa hình, đất đai
Địa hình của huyện phức tạp song phân bố trên 3 vùng sinh thái chính:
- Vùng bán sơn địa: Phần lớn nằm ở phía Tây quốc lộ 1A
- Vùng đồng bằng: Phân bố quanh Thị trấn Ba Đồn với bán kính chừng 5-7
km về phía Tây Nam của huyện
- Vùng đất cát ven biển: Phân bố dọc theo quốc lộ 1A, đoạn từ đèo Ngangđến sông Gianh
Quảng Trạch có 3 hệ thống đất đai cơ bản được hình thành trên hệ thốngphong hoá: đất đồi núi chiếm 78,2%, đất phù sa chiếm 16,7%, đất cát ven biểnchiếm tỉ lệ 5,1% [18]
* Đặc điểm thời tiết, khí hậu
Quảng Trạch là một huyện nằm trong vùng khí hậu Duyên hải miền TrungViệt Nam, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc với haimùa tương đối rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió TâyNam (gió Lào) khô nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) trong các tháng này thường có ítmưa, nhiệt độ tương đối cao, nhiệt độ trung bình trong các tháng này khoảng từ 28-
300, còn về mùa mưa chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc (từ tháng 9 đếntháng 1 năm sau) nhiệt độ trung bình trong các tháng này từ 19-250 [18] Với điều
Trang 18kiện thời tiết có mùa khô kéo dài như trên đã gây nhiều khó khăn trong sản xuất vàsinh hoạt của người dân Vào mùa khô, người dân thường thiếu nước để phục vụcho sản xuất và sinh hoạt Phần lớn các cây trồng chính của bà con đều không đủnước tưới, kể cả các đồng cỏ cũng bị khô kiệt làm cho trâu bò thiếu thức ăn trầmtrọng.
Bảng3.1: Một số yếu tố phản ánh đặc điểm khí hậu ở Quảng Trạch
T0tb T0max T0min
Ngày mưa (ngày)
Lượng mưa (mm)
Trang 19thấp nguồn thức ăn khan hiếm, nên rất cầm phải chăm sóc, cung cấp nước tưới choviệc trồng cỏ trong khoảng thời gian này.
* Lượng mưa:
Quảng Trạch có tổng lượng mưa trung bình các năm dao động từ 2092,4 mm
và số ngày có mưa trung bình của các năm biến động từ 160 - 180 ngày Mùa mưabắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến tháng 1, kèm theo gió bão, lượng mưa cao nhấtđạt từ 558,5 mm/tháng và thường lớn nhất vào tháng 10-11, lượng mưa thấp nhấtvào tháng 5 đến tháng 8 Lượng mưa phân bố không đều, tập trung lớn nhất vàotháng 9 đến tháng 12, nên mùa mưa thường gây nên lũ lụt Vì vậy, việc trồng cây ởđây là vấn đề khó khăn, khắc phục được điều kiện khó khăn trên để mở rộng diệntích và năng xuất cây trồng là vấ đề rất thiết thực
* Chế độ gió:
Nhìn chung Quảng Trạch chịu tác động của hai hướng gió chính chi phốitrong năm Mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió Bắc và Đông Bắc nên mùa nàythường rét và ẩm ướt Mùa Hạ thịnh hành với gió Tây và Tây Nam khô nóng xuấthiện vào tháng 4 và kéo dài đến tháng 8, mạnh nhất vào tháng 6 và 7 do có ẩm độkhông khí thấp nên rất cần phải chăm sóc tưới nước cho cây trồng trong thời giannày
* Nguồn nước, thuỷ văn:
Huyện Quảng Trạch có Sông Gianh chảy qua trung tâm huyện và có các consông khác ven huyện như sông Loan ở phía Bắc Ngoài ra còn có một hệ thống suốinhỏ chằng chịt, có khả năng nuôi trồng thuỷ sản và xây dựng các đập hồ thuỷ lợi đểphục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
Ngoài ra còn có một số hồ đập lớn nhỏ nằm rải rác trên các địa phận củahuyện, hệ thống ao hồ này có tác dụng phục vụ thuỷ lợi, cung cấp nước sinh hoạt,nước tưới cho cây trồng như hồ Tiên Lang - xã Quảng Liên, hồ Bầu Sen, Bầu Mỹ -
xã Quảng Phương Bên cạnh đấy hệ thống sông hồ cũng gây không ít khó khăn chongười dân vào mùa mưa lũ, sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng, nhất là tình hìnhdịch bệnh chăn nuôi sau lũ
Trang 203.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Tình hình sử dụng đất đai:
Bảng3.2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Quảng Trạch
Các loại đất Diện tích đất (ha) Tỷ lệ (% )Tổng diện tích đất tự nhiên 61.226,00 100
(Nguồn: Số liệu thống kê của huyện năm 2007)
Số liệu ở bảng 3.2 cho thấy Quảng Trạch có tổng diện tích đất tự nhiên rấtlớn chừng 61.226 ha, nhưng diện tích đất sản xuất đất nông nghiệp rất ít chỉ có9.386,27 ha (chiếm 15,33%), trong đó đất trồng lúa hơn 6.00 ha, phần diện tích đấtnông nghiệp còn lại được dùng chủ yếu để trồng khoai và sắn để là thức ăn chochăn nuôi bò và lợn, và một phần nhỏ là trồng cây lâu năm
Tiếp đến là diện tích đất lâm nghiệp, có 26.868,73 ha (chiếm 43,88%), vớitrử lượng 648.000 m3 gỗ, trong đó có khoảng 11.174,95 ha rừng tái sinh hơn 10năm, có những khu rừng tái sinh như ở Quảng Lưu đã tạo một khu rừng tái sinhrộng lớn, có thảm thực vật phong phú, nhiều động vật hoang dã đã dược bảo tồn vàđang tái sinh nhanh chóng
Diện tích đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của huyện là rất hẹp, toàn huyệnchỉ có 611,53 ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 0,1% tổng diện tích tự nhiên.Đất ở là 10.242,48 ha (chiếm 16,73%), đất ở ở đây bao gồm đầt nhà ở và đất vườn,còn phần đất chuyên dùng ở huyện được dùng chủ yếu để xây dựng các công trìnhphúc lợi công cộng, và các xí nghiệp, nhà máy
Trang 21Điều đáng lưu ý là diện tích chưa sử dụng 13.923,55 ha (chiếm đến 24,37%),
gồm đất bằng, đất đồi trọc Nếu phần diện tích này được đưa vào khai thác và sửdụng, nó sẽ có tác dụng rất lớn cho việc thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển,đây là tiềm năng lớn để có thể mở rộng diện tích đất đồi, lập nên các trang trại chănnuôi như: nuôi dê, nuôi bò…
* Dân số và lao động
Qua điều tra số liệu thứ cấp, chúng tôi thu được số liệu ở bảng 3.3
Bảng 3.3: Cơ cấu dân số và lao động của huyện Quảng Trạch 2005-2007
Tỷ lệ %(2007)
Trang 22Số liệu ở bảng 3.3 cho thấy: Năm 2007 tổng dân số toàn huyện là 204.594người, mật độ dân số bình quân khoảng 325 người/km2 Dân số Quảng Trạch chủyếu tập trung ở khu vực nông thôn, chiếm tỷ lệ trên 90%, còn lại số ít sinh sống ởkhu vực thị trấn, thị tứ Chính vì sự phân bố dân cư và khu vực sinh sống như vậynên Quảng Trạch hoàn toàn có thể phát triển về thế mạnh nông nghiệp của mình.Đặc biệt là hướng phát triển chăn nuôi.
Về nguồn nhân lực, huyện Quảng trạch hiện có lực lượng lao động 99.983người, chiếm 48,9% dân số, điều đó cho thấy nguồn lao động của huyện tương đốidồi dào Nguồn nhân lực phân bố trong các ngành kinh tế như sau: Nông nghiệpchiếm 58,78%; Ngư nghiệp 8,62%; Lâm nghiệp 0,05%; Công nghiệp, xây dựng vàvận tải 18,57%; Thương mại dịch vụ 6,29%; Lao động khác7,23% Qua đó cho thấylượng rất lớn lao động nông nghiệp trong điều kiện các ngành nghề ở nông thônchưa được phát triển thì tất yếu sẽ dư thừa lượng lao động lúc nông nhàn Vì vậy,cần phải khai thác tiềm năng lao động ở đây bằng việc phát triển sản xuất chăn nuôi,
mở rộng nhiều mô hình chăn nuôi phù hợp, tăng thu nhập cho người lao động
* Tình hình sản xuất một số cây trồng chính được trồng trên địa bàn huyện
Bảng 3.4: Diện tích và năng xuất một số cây trồng trên địa bàn huyện
Cây trồng Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha)
(Nguồn: Số liệu thống kê của huyện năm 2007)
Số liệu ở bảng trên cho thấy trên địa bàn toàn huyện tập trung chủ yếu đốivới các đối tượng cây trồng như lúa, ngô, lạc, khoai lang Được sự chỉ đạo từ tỉnhđến cơ sở và những chính sách hổ trợ về giống, kỹ thuật để khuyến khích nhân dânsản xuất, bên cạnh đấy cán bộ kỹ thuật về tận cơ sở ngay từ đầu vụ nên công tác tậphuấn kỹ thuật được thực hiện trước khi sản xuất Trong đó lúa là cây trồng chủ đạo
và chiếm diện tích lớn nhất nhưng năng xuất vẫn đạt mức trung bình 48,6 tạ/ha, một
số cây trồng cho năng xuất khá cao như ngô, khoai lang Nhìn chung đất màu chủ
Trang 23động nước và nông dân biết cách bố trí thời vụ hợp lý nên cây trồng phát triển tốt vàcho năng xuất cao.
* Tình hình chăn nuôi của huyện qua các năm
Theo số liệu thông kê huyện, tổng đàn gia súc gia cầm của huyện qua cácnăm có sự biến động và được thể hiện qua bảng 3.5
Bảng 3.5: Số lượng đàn vật nuôi của huyện qua các năm
355.000
6,1
(Nguồn: số liệu thống kê của huyện năm 2007)
Số liệu ở bảng 3.5 cho thấy tốc độ phát triển chăn nuôi huyện Quảng Trạchtrong những năm qua có bước tăng trưởng khá Tổng đàn gia súc, gia cầm củahuyện liên tục tăng về số lựơng Đây chính là kết quả của các cấp uỷ chính quyềncũng như các ban ngành, các tổ chức hội, đoàn thể đã từng bước quan tâm, tạo điềukiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi Nhiều dự án như ICCO, NAPA, DPPR vàTTGVN tỉnh hoạt động trên địa bàn huyện đã góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triểnngành chăn nuôi Bên cạnh đó nhu cầu cũng như nhận thức về công tác phát triểnchăn nuôi của nhân dân ngày càng tăng, đặc biệt việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhưSind hoá đàn bò, nạc hoá đàn lợn nên chất lượng ngày càng tăng lên Hiện nay trongtổng số 27.536 con bò thì bò lai Sind có khoảng 3.100 con
Trang 24Để thực hiện chủ trương của Đảng bộ huyện khoá XXII về phát triển chănnuôi trong thời gian tới Huyện đã đẩy mạnh mạnh tập trung phát triển chăn nuôi,chú trọng phát triển gia súc gia cầm về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu vềthực phẩm và tăng nhanh sản phẩm hàng hoá Tiếp tục thực hiện nạc hoá đàn lợn,sind hoá đàn bò, khuyến khích nuôi dê, gà công nghiệp có giá trị kinh tế cao Chănnuôi phát triển là điều kiện rất tốt để góp phần phát triển kinh tế xã hôi của huyện,đây là hướng đi đúng đắn để tận dụng nguồn thức ăn phong phú ở huyện, đồng thờitránh được sự khắc nghiệt của thời tiết trong phát triển sản xuất nông nghiệp.
3.2 Nội dung nghiên cứu
a, Thực trạng chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt ởhuyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
- Các TBKT đã được chuyển giao trong chăn nuôi bò thịt ở huyện QuảngTrạch tỉnh Quảng Bình
- Các cơ quan tham gia chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò
- Phương pháp chuyển giao
- Kết quả của các TBKT đã được chuyển giao
- Những khó khăn của người dân khi áp dụng TBKT
- Những đề xuất của người dân về việc chuyển giao TBKT và dịch vụ đầuvào cho sản xuất chăn nuôi bò
b, Yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò thịt ở huyệnQuảng Trạch tỉnh Quảng Bình
- Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến công tác chuyển giao TBKTtrong chăn nuôi bò thịt
- Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến công tác chuyển giao TBKT trongchăn nuôi bò thịt
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 253.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu đã công bố về tình hình chuyển giao TBKT trong chănnuôi bò thịt ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình trong 5 năm qua (từ 2002đến 2007)
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, đất đai
- Thu thập cá số liệu về điều kiện kinh tế xã hội: Tình hình kinh tế củahuyện, các chính sách quy định, cơ sở hạ tầng
Nguồn số liệu được thu thập thông qua các tài liệu, các báo cáo, niên giámthống kê ở các cơ quan thống kê, phòng nông nghiệp, trung tâm Khuyến nông tỉnh
và trạm Khuyến nông huyện, các cơ quan chuyển giao
3.3.2 Thu thập số liệu mới
3.3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm: Việc chọn điểm dựa trên các tiêu chí sau:
- Quảng trạch có 3 vùng sinh thái (Đồng bằng, Trung du và Ven biển) Điểmnghiên cứu ở mổi vùng sinh thái phải thể hiện được tính đại diện cho vùngsinh thái đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chăn nuôi bò thịt
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bòthịt cho nông hộ
Theo tiêu chuẩn trên tôi đã chọn các xã nghiên cứu như sau:
- Vùng đồng bằng: Xã Quảng Phương và xã Quảng Thanh
- Vùng trung du: Xã Quảng Thạch và xã Quảng Lưu
- Vùng ven biển: Xã Quảng Phú và xã Quảng Xuân
Trên đây là những xã có đặc điểm về điều kiện tự nhiên và sản xuất chănnuôi bò thịt có thể đại diện cho vùng nghiên cứu và thoả mãn được các chỉ tiêu đề racho mục đích nghiên cứu
3.3.2.2 Thu thập số liệu mới
a, Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân(PRA: Paticipatory Rural Appraisal)
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân là một quátrình học hỏi lẩn nhau một cách linh hoạt giữa người dân địa phương và những
Trang 26người từ nơi khác đến (cán bộ khuyến nông, người làm công tác phát triển, cán bộnghiên cứu ) Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích huy động tối đa
sự tham gia của người dân trong quá trình nghiên cứu Từ đó vừa có thể thu thậpthông tin chính xác về cộng đồng vừa có thể tìm ra được những giải pháp thực sựkhả thi cho cộng đồng Ở phương pháp này tôi sử dụng một công cụ như: Thảo luậnnhóm, quan sát
Thảo luận nhóm: Chúng tôi đã tiến hành thảo luận theo hai nhóm đối tượngkhác nhau bao gồm nhóm cán bộ và nhóm nông dân nồng cốt trên cả ba vùng sinhthái Sở dĩ chọn thảo luận theo hai nhóm đối tượng là vì: Nhằm thu thập đánh giácủa các đối tượng khác nhau về thực trạng công tác chuyển giao TBKT trong chănnuôi bò trong thời gian qua tại địa bàn nghiên cứu, để có thể xem xét mối quan tâmcủa các đối tượng đó như thế nào về các TBKT trong chăn nuôi bò Mổi nhóm tối
đa từ 10-15 người/ nhóm, cụ thể như sau:
Nhóm cán bộ bao gồm: Phó chủ tịch xã, chủ tịch hộ phụ nữ, chủ tịch hộiNông dân, cán bộ thú y xã, cán bộ phụ trách nông nghiệp, các trưởng thôn (chỉ chọnnhững thôn có hộ điều tra) Đây là những người đại diện cho cán bộ địa phương
Nhóm nông dân nồng cốt: Đây là các hộ được chọn từ danh sách hộ điều travừa có hộ áp dụng thành công và thất bại các TBKT được chuyển giao Đây lànhững hộ am hiểu tình hình và nói lên các vấn đề mang tính đại diện cho địaphương
Quan sát: Quan sát thực địa có sự tham gia của người dân địa phương để cócái nhìn thật tổng quan về tình hình chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò ở vùngnghiên cứu
b, Phỏng vấn hộ
Chọn hộ: Việc chọn hộ nghiên cứu dựa vào các tiêu chí sau
- Hộ hiện tại phải có chăn nuôi bò thịt
- Hộ đã được chuyển giao TBKT về chăn nuôi bò thịt
- Các hộ phân bố đều trên khu vực nghiên cứu
Lập bảng hỏi: Chúng tôi đã xây dụng bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc phục
vụ cho đề tài Trong bảng câu hỏi dùng cả câu hỏi mở và cả câu hỏi đóng nhằmnhẳng định lại các TBKT, đồng thời đặt ra những câu hỏi tại sao nhằm thu thập ýkiến mới của các hộ để hiểu sâu hơn về vấn đề nghiên cứu
Trang 27Phỏng vấn hộ: chúng tôi tiến hành chọn loại hộ trung bình, vì đây là loại hộchiếm đa số và mang tính điển hình trong chăn nuôi bò thịt của huyện Phỏng vấn
90 hộ (mổi vùng sinh thái 30 hộ), các hộ được chọn phân bố đều trên địa bàn nghiêncứu Việc chọn hộ ở các vùng khác nhau là để nghiên cứu nhằm mục đích so sánh
Trang 28Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
Hiện nay mô hình chăn nuôi bò thịt trong nông hộ đang thu hút sự quan tâmcủa nhiều hộ gia đình nông dân trên toàn tỉnh Quảng Bình nói chung và trên toànhuyện Quảng Trạch nói riêng Những năm gần đây bằng những giải pháp cụ thể vàsát thực của nhà nước cũng như tỉnh, huyện cùng với cơ chế đầu tư hổ trợ của cácchương trình, dự án đã tác động mạnh mẽ, tích cực vào các khâu quan trọng của quátrình sản xuất chăn nuôi bò thịt Phòng kinh tế, trạm khuyến nông là cơ quan chuyênmôn được UBND huyện giao trực tiếp phối hợp các cơ quan liên quan ở Tỉnh, cáctrường Đại học, Viện nghiên cứu, UBND các xã, thị trấn hướng dẫn chỉ đạo thựchiện dự án Những hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã được hướng dẫn ở địabàn huyện Quảng Trạch trong thời gian qua được thể hiện ở bảng 4.1:
Qua bảng 4.1 cho thấy có nhiều cơ quan tham gia vào công tác chuyển giaotiến bộ kỹ thuật trên địa bàn huyện Từ các cơ quan của Nhà nước đến các tổ chứcPhi chính phủ cũng như các chương trình, dự án Bên cạnh đó, còn có sự hổ trợ đắclực của trường Đại học Nông Lâm Huế, Trung tâm phát triển nông thôn MiềnTrung Các cơ quan này đã thực hiện việc chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bòtrên địa bàn huyện và đã mang lại nhiều thành công
Kỷ thuật về giống: Các vùng nghiên cứu trên địa bàn huyện đã được các tổchức tuyên truyền, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới về kỹ thuật chăn nuôi bò Đàotạo đội ngủ dẫn tinh viên thụ tinh nhân tạo, hoạt động trực tiếp ở địa phương như ở
xã Quảng Xuân, Quảng Liên, Quảng Phương Bên cạnh đấy còn có nhiều hoạt độngcải tạo đàn bò địa phương tầm vóc bé, sức sản xuất kém như việc lai tạo các giống
bò ngoại thuần nhóm Zebu và áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo cho bò, nâng
Trang 29cao dần tỷ lệ máu ngoại trong cơ cấu đàn bò lai Đầu tư mua thêm bò đực giống laiSind chất lượng tốt lai tạo bằng phương pháp nhảy trực tiếp Để tăng nhanh tốc độcải tạo đàn bò, các cơ quan chuyển giao TBKT đã hỗ trợ cho nông dân tiến hànhthiến bò đực cóc ở một số xã có tỷ lệ bò cái cao, giúp quá trình lai tạo giống đượctốt hơn.
Kỹ thuật về thức ăn: Ngoài nguồn thức ăn tự nhiên và phế phụ phẩm trongtrồng trọt, các cơ quan chuyển giao đã khuyến khích và hổ trợ nông dân chuyển cácvùng đất hoang hoá, trồng cây màu kém hiệu quả sang trồng cỏ voi, cỏ Ghine,Pangon, cỏ lai Úc, cỏ họ đậu… nhằm giải quyết lượng thức ăn thô xanh cho đàn bò.Ngoài ra, còn hướng dẫn kỷ thuật ủ rơm, ủ chua, ủ xanh thức ăn để các hộ nông dântận dụng hết các nguồn phế phụ phẩm nông sản tại chổ như: rơm, thân cây ngô, thânlạc… làm thức ăn cho bò
Bảng 4.1: Tình hình chuyển giao TBKT về chăn nuôi bò ở huyện Quảng Trạch
Cơ quan tham gia chuyển
giao TBKT
Những kỹ thuật được chuyển giao Phương pháp
chuyển giao
Trang 30- Bổ sung nước, muối khoáng
4 Kỹ thuật về chuồng trại
5 Kỹ thuật về thú y
- Tập huấn
- Hướng dẫn kỷthuật tại nhà
- Xây dựng môhình
- Tham quan
- Hội nghị hộithảo đầu bờ
- Hình thànhnhóm sở thích
(Nguồn: Kết quả thảo luận nhóm, 2008)
Kỹ thuật về thú y: Thông qua các tổ chức, các chương trình, dự án, đã đàotạo mới và nâng cao nghiệp vụ cho đội ngủ cán bộ chăn nuôi thú y của các xã, cũngnhư các hộ nông dân Sau mỗi lần tập huấn tổ chức các hội thi cho các hộ nông dânnhằm để phục vụ tốt và có hiệu quả việc chăn nuôi bò của các hộ Hàng năm trêntoàn huyện tổ chức tiêm phòng định kỳ cho đàn bò với 2 loại vacxin phòng bệnh Tụhuyết trùng và Lở mồm long móng nhằm để phòng dịch bệnh xảy ra ở đàn bò
Kỹ thuật chuồng trại: Theo phương thức “đông che, hè thoáng” các cơ quanchuyển giao đã đưa ra các mẩu thiết kế chuồng trại chăn nuôi hợp lý và đã chuyểngiao cho người dân Cùng với quá trình này đã chuyển giao cách thức vệ sinhchuồng trại phòng bệnh hợp lý, giảm thời gian thả rông bò, bổ sung thêm khoáng vàcho uống nước tại chuồng, cung cấp đủ chất để bò nhanh lớn, mang lại hiệu quảkinh tế cho người dân
Việc chuyển giao các TBKT cho các hộ chăn nuôi bò được thực hiện thôngqua các phương pháp chuyển giao như: Tập huấn, hướng dẫn kỷ thuật tại nhà, tham
Trang 31quan, xây dựng mô hình Các cơ quan này đã kết hợp nhiều phương pháp trongquá trình chuyển giao, sau khi làm công tác chuyển giao đã có những hoạt động cụthể cung cấp vốn vay, hổ trợ con giống giúp cho các hộ chăn nuôi bò áp dụng vànhân rộng các tiến bộ kỷ thuật vào chăn nuôi Nhìn chung các cơ quan đã sử dụngnhiều phương pháp chuyển giao TBKT về chăn nuôi bò cho các nông hộ và bướcđầu đã có những kết quả nhất định
4.2 Các nguồn cung cấp thông tin tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi bò cho hộ
Cho đến nay có rất nhiều nguồn cung cấp thông tin về tiến bộ kỷ thuật trongchăn nuôi bò thịt để nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò Kết quả nghiên cứu vấn đề nàyđược trình bày ở bảng 4.2
Số liệu bảng 4.2 cho thấy: Trên địa bàn nghiên cứu có 9 nguồn cung cấpthông tin về chăn nuôi bò cho các hộ, nhưng khả năng tiếp cận các nguồn đó của hộ
ở các vùng sinh thái khác nhau là hoàn toàn khác nhau Các nguồn có tỉ lệ hộ tiếpcận rất cao như: Các dự án, phương tiện thông tin đại chúng, khuyến nông địaphương, tương ứng là: 82,22%; 81,11% và 70%, bởi trong những năm trở lại đâyĐảng và nhà nước ta rất quan tâm phát triển nông nghiệp nên hoạt động của khuyếnnông và các dự án tương đối mạnh nhất là vùng Trung du, vùng sâu, vùng xa.Nguồn cán bộ thôn xã có tỷ lệ hộ tiếp cận thấp (33,33%) và không khác biệt nhaulớn giữa các vùng sinh thái Kết quả điều tra cho thấy vai trò của cán bộ địa phươngtrong việc chuyển giao TBKT về chăn nuôi bò của các vùng sinh thái còn mờ nhạt,nguyên nhân là do không có nguồn kinh phí hoạt động
Bảng 4.2: Các nguồn cung cấp thông tin về TBKT về chăn nuôi bò của hộ, (n=90 hộ)
Đvt: % số hộ
bằng
Trungdu
Venbiển Chung
Trang 32(Nguồn: Số liệu điều tra, 2008)
Nếu như ở vùng Trung du có tỷ lệ hộ tiếp cận nguồn cung cấp thông tin kỷthuật mới từ các dự án (100%), các trường (70%) thì ngược lại các hộ ở vùng đồngbằng thường xuyên tiếp cận nguồn từ phương tiện thông tin đại chúng và hàng xóm
là nhiều nhất với tỷ lệ số hộ tiếp cận tương ứng là: 96,67%; 73,33% Điều này đượcgiải thích do các dự án hoạt động chủ yếu ở vùng Trung du, người dân vùng này
đa phần là những hộ có cuộc sống khó khăn, cho nên họ dể dàng trở thành nhómmục tiêu của các chương trình, dự án
Tóm lại trên địa bàn điều tra có rất nhiều nguồn cung cấp thông tin về tiến bộ
kỹ thuật cho các hộ Tuy nhiên, tỷ lệ hộ được tiếp cân các nguồn này theo các vùngsinh thái khác nhau Mỗi nguồn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đều có những ưunhược điểm riêng
Ngoài việc nghiên cứu các nguồn cung cấp thông tin về tiến bộ kỹ thuậttrong chăn nuôi bò của người dân, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nguồn màngười dân ưa thích nhằm tìm hiểu sâu sự đánh giá của người dân về việc này, để rút
ra những kinh nghiệm cho công tác chuyển giao Các nguồn cung cấp thông tin vềTBKT trong chăn nuôi bò được các người dân ưa thích là: Các dự án, phương tiệnthông tin đại chúng và Khuyến nông địa phương Trong đó, nguồn từ các dự ánđược các hộ xếp thứ tự ưu tiên cao nhất (47.78%) so với các nguồn còn lại, điều nàyđược giải thích vì các chương trình, dự án là những tổ chức chuyển giao không chỉgiúp đỡ về kỹ thuật mà còn hổ trợ về vốn vật tư để áp dụng TBKT Tuy nhiên dự ánchỉ hoạt động ở một giai đoạn nào đó rồi rút đi, không gắn bó với dân lâu dài, cho
Trang 33nên nếu như người dân không tận dụng cải thiện điều kiện sản xuất nâng cao nănglực thì khi các dự án rút đi, họ sẽ trở về phương thức sản xuất củ
4.3 Các phương pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi bò cho hộ.
Phương pháp chuyển giao đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc áp dụngcác TBKT của người dân Khi lựa chọn được phương pháp thích hợp không nhữnglàm cho các kỷ thuật được người dân tiếp thu dễ dàng mà còn khuyến khích các hộ
và Ven biển Bên cạnh đấy ở vùng Trung du không những có các chương trìnhchuyển giao, các chương trình khuyến nông mà còn có nhiều chương trình dự ánhoạt động Ngược lại vùng Đồng bằng và Ven biển có ít chương trình, dự án hoạtđộng nên cơ hội tiếp cận của các hộ này là ít hơn Các hộ ở vùng Trung du do khảnăng tiếp thu những TBKT chậm hơn, điều kiện khó khăn hơn so với các hộ vùngĐồng bằng và Ven biển nên việc chuyển giao phải được “thường xuyên” nhiều lần,thông qua nhiều phương pháp khác nhau Trong tất cả các phương pháp chuyểngiao, có một số phương pháp được sử dụng rất phổ biến như: Tập huấn, hội nghị,hội thảo đầu bờ, nhóm sở thích với tỷ lệ sô hộ tiếp cận tương ứng là: 96,67%;76,67% và 74,44%
Bảng 4.3: Phương pháp chuyễn giao TBKT trong chăn nuôi bò của hộ (n=90 hộ)
Đvt: % số hộStt Phương pháp chuyễn giao
Đồngbằng
Trungdu
Venbiển Chung
2 Hướng dẫn kỹ thuật tại nhà 36.67 76.67 53.33 55.56
Trang 344 Hội nghị, hội thảo đầu bờ 70.00 83.33 76.67 76.67
(Nguồn: Số liệu điều tra, 2008)
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hiện nay người dân ưa thích nhất với 3phương pháp chuyển giao, đó là: Tập huấn, tham quan và hoạt động nhóm sở thích
Do đó, trong thời gian tới nếu có hoạt động chuyển giao thì cần có sự điều chỉnh saocho phù hợp, đặc biệt là hoạt động tham quan Hoạt động này có tỷ lệ hộ tiếp cậncòn ít trong khi đó nhu cầu học hỏi, xem thực tế các nơi khác của người dân thì khácao
4.4 Kết quả các TBKT đã được chuyển giao trong chăn nuôi bò của hộ
4.4.1 Đánh giá mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao
Trong công tác chuyển giao một trong những ưu tiên hàng đầu đó là sự phùhợp của tiến bộ kỷ thuật với điều kiện thực tế của địa phương Nhằm tìm hiểu mức
độ phù hợp các kỷ thuật được chuyển giao đối với điều kiện các nông hộ nuôi bò,chúng tôi tiến hành điều tra về chỉ tiêu này, kết quả thu được thể hiện ở bảng 4.4
Bảng 4.4: Mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao (n=90 hộ)
Đvt: % số hộSTT
Trang 3512 Uống nước tại chuồng 100.00 96.67 93.33 96.67
13 Bổ xung muối khoáng 100.00 96.67 93.33 96.67
14 Kỷ thuật chuồng trại 93.33 93.33 96.67 94.44
(Nguồn: Số liệu điều tra, 2008)
Kết quả ở bảng 4.4 cho thấy, các nông hộ đánh giá khá cao về mức độ phùhợp của các tiến bộ kỷ thuật được chuyển giao cho hộ Trong đó tiến bộ kỹ thuật vềtrồng cỏ có tỷ lệ hộ đánh giá là phù hợp nhất (100%) Các tiến bộ kỷ thuật khác nhưphát hiện động dục, chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại cũng có trên (90%) hộ đánhgiá là phù hợp, vì đây là những kỷ thuật dể áp dụng đối với các hộ chăn nuôi bò.Các kỹ thuật về thú y như: Tẩy ký sinh trùng, bổ xung thuốc bổ có tỷ lệ hộ đánh giá
là phù hợp thấp hơn tương ứng là: 82,22% và 72,22%, nguyên nhân do các kỷ thuậtnày đòi hỏi trình độ và sự hiểu biết
Kết quả điều tra cũng cho thấy, các kỹ thuật như tảng liếm, bánh dinh dưỡng
có tỷ lệ hộ đánh giá mức độ phù hợ thấp nhất, tương ứng là 40% và 25.56% Vì đây
là những kỷ thuật khó làm, cán nguyên liệu (khoáng chất) không có sẵn ở đạiphương Hơn nữa một số ý kiến (trong thảo luận nhóm) cho rằng việc chế tạo tảngliếm và bánh dinh dưỡng mất nhiều thời gian và đôi khi không thành công (dokhông cứng thành bánh được)
Tóm lại, kết quả điều tra cho thấy, phần lớn các TBKT đã chuyển giao đềuđược đánh giá là phù hợp, do các hộ này đã nhận thức được tầm quan trọng của việc
áp dụng các TBKT trong cải tạo đàn bò địa phương Chỉ một vài TBKT được cho làkhông phù hợp, giải thích điều này là do nhận thức của người dân chưa cao và vìđiều kiện của các nông hộ khác nhau nên khả năng chấp nhận của họ cũng có sự
Trang 36khác nhau Do vậy, các cơ quan chuyển giao cần tìm hiểu rõ tình hình cụ thể của địaphương và nông hộ trước khi chuyển giao, thì mức độ thành công sẽ cao hơn.
4.4.2 Tình hình chấp nhận và ứng dụng các TBKT đã được chuyển giao.
Ngoài việc tìm hiểu mức độ phù hợp các kỹ thuật được chuyển giao, chúng tôi đãtiến hành điều tra tình hình chấp nhận và ứng dụng các TBKT đã được chuyển giaotrong chăn nuôi bò ở các nông hộ Kết quả được trình bày ở bảng 4.5
Kết quả thu được từ bảng 4.5 cho thấy, nhìn chung tỷ lệ hộ tiếp cận các kỷthuật được chuyển giao trong chăn nuôi bò trên địa bàn huyện khá cao Các kỷ thuậtnhư chọn bò cái, trồng cỏ, ủ rơm urê, chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại có tỷ lệ hộtiếp cận cao trên 90% Kết quả này phù hợp với thực tế vì các hộ ở vùng Trung du
có sự đầu tư lớn của các chương trình dự án trong khi đó ở vùng Đồng bằng và Venbiển khả năng tìm tòi, tự học hỏi thông qua phương tiện thông tin và hàng xóm lớnhơn, như đã trình bày ở trên (bảng 4.2) Kỷ thuật ủ chua thức ăn có tỷ lệ hộ tiếp cậnthấp nhất (33,33%), các hộ cho rằng kỷ thuật này còn mới lạ ở địa phương nên chưamạnh dạn áp dụng
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ hộ chấp nhận và ứng dụng cácTBKT đã được chuyển giao khá cao Trong đó kỷ thuật trồng cỏ có tỷ lệ hộ chấpnhận và ứng dụng cao nhất 95,56% Vì đây là những kỷ thuật dễ làm phù hợp vớiđiều kiện địa phương và giải quyết được vấn đề thiếu thức ăn cho bò, đây cũng làvấn đề bức xúc nhất hiện nay
Nhũng kỷ thuật đã được chuyển giao mà người dân không chấp nhận có tỷ lệthấp, trong đó kỷ thuật về trồng cỏ và tắm chải có tỷ lệ hộ không chấp nhận thấpnhất tương ứng là: 0% và 1,11% Điều đó cho thấy, trong quá trình chăn nuôi bò các
hộ đã nhận thức được tầm quan trọng của các TBKT nên khả năng học hỏi và ứngdụng của hộ rất cao
Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ tiếp cận tình hình chấp nhận và ứng dụng các TBKT đã được chuyển giao, (n=90 hộ)
CN vàƯD
CNkhôngƯD
KhôngCN
1 Cung cấp đực giống 83.33 43.33 33.33 6.67