1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào

56 944 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chuyển Giao Tiến Bộ Kỹ Thuật Trong Chăn Nuôi Lợn Thịt Cho Các Nông Hộ Ở Huyện Không Xê Đôn Tỉnh Salavăn - Lào
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chăn Nuôi
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 634,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc chuyển giao các tiến bộ kỹthuật vào lĩnh vực sản xuất này luôn được phía địa phương đặc biệt quan tâm.Nhằm nâng cao số lượng và chất lượng đàn lợn thịt, trong 10 năm trở lại

Trang 1

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết đề tài

Nền kinh tế Lào là nền kinh tế nhiều thành phần nhưng vẫn lấy phát triểnnông nghiệp làm cơ bản Trong phát triển nông nghiệp thì ngành chăn nuôi có vaitrò rất quan trọng, trong đó có nhiều tiến bộ kỹ thật nông nghiệp đã được chuyểngiao và nhân rộng góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của các sản phẩmtừng bước cải thiện tạo thu nhập và nâng cao mức sống của người nông dân

Chăn nuôi lợn thịt là hoạt động sản xuất quan trọng, có nhiều đóng góp vào thunhập của các nông hộ trên địa bàn huyện Do đó, việc chuyển giao các tiến bộ kỹthuật vào lĩnh vực sản xuất này luôn được phía địa phương đặc biệt quan tâm.Nhằm nâng cao số lượng và chất lượng đàn lợn thịt, trong 10 năm trở lại đây cáchoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi lợn thịt ở Không Xê Đôn đãdiễn ra mạnh mẽ với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị bao gồm cả chính thức

và phi chính thức Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao trong đó nổi bật làcác kỹ thuật về giống mới, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y phòng trị bệnh,…,nhưng nhìn chung khả năng áp dụng ở quy mô nông hộ còn nhiều hạn chế Thực tế,nhiều loại tiến bộ kỹ thuật sau khi chuyển giao hoặc không phát huy được hiệu quả,hoặc không được nông dân ứng dụng một cách rộng rãi và mang tính bền vững, gây

ra sự lãng phí về thời gian và tiền của từ phía người chuyển giao cũng như phíangười tiếp nhận Để thấy rõ hơn thực trạng và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế

trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ

ở huyện Không Xê Đôn tỉnh SaLaVăn - Lào”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Tìm hiểu thực trạng việc chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trongchăn nuôi lợn thịt ở các nông hộ trên địa bàn huyện Không Xê Đôn

 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao và áp dụng các tiến bộ

kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt ở các nông hộ

Trang 2

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

2.1.1.1 Khái niệm về tiến bộ kỹ thuật

Tiến bộ kỹ thuật (TBKT) là một danh từ mang tính chất trừu tượng bao quát

Nó thể hiện những nét mới và tiến bộ của một yếu tố kỹ thuật nào đó, góp phầnnâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cải thiện đời sống nông dân và

cư dân nông thôn [4]

TBKT chỉ mang tính chất tương đối vì khi chúng ta đặt nó ở một vùng này cóthể mới nhưng khi đặt nó ở địa phương khác có thể nó không còn là mới nữa.TBKT có thể là sản phẩm của cơ quan nghiên cứu và chuyển giao, cũng có thể làsản phẩm của cả quá trình tự đánh giá, tự lựa chọn và đổi mới của nông dân cho phùhợp hơn với nhu cầu của sản xuất và đời sống của chính bản thân họ

2.1.1.2 Khái niệm về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển giao TBKT, trong đó có một số địnhnghĩa có ý nghĩa gần với thực tế công tác chuyển giao TBKT ở nước ta của một sốtác giả sau:

Theo Swansas và Cloor (1940) thì chuyển giao TBKT hay công nghệ là mộtquá trình tiếp diễn nhằm tiếp cận và thông tin có ích cho con người và từ đó giúp đỡ

họ tiếp thu những kiến thức, kỹ năng và quan điểm cần thiết để sử dụng có hiệu quảlượng thông tin hoặc công nghệ đó

Theo Maunder (FAO, 1973) thì cho rằng: Chuyển giao TBKT đó là một dịch

vụ hay hệ thống nhằm thông qua các phương thức đào tạo, giúp đỡ người nông dâncải thiện các phương pháp, kỹ thuật canh tác, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập,tăng mức sống và nâng cao trình độ giáo dục xã hội của cuộc sống nông thôn [4]Tóm lại, chuyển giao TBKT đề cập đến một tiến trình, bằng tiến trình đónhững kỹ thuật cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai mà họ có thể hưởng lợihoặc cảm thấy họ có thể hưởng lợi từ những kỹ thuật đó [12]

2.1.1.3 Mục đích của chuyển giao TBKT

Trang 3

các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống

và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng thànhcông TBKT, bao gồm những kiến thức và kỹ năng quản lý, thông tin và thị trường,các chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông thôn [theo nguồn FAO, 2000].Chuyển giao TBKT còn giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng chốngthiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, tiếp xúc thương mại, giúp nôngdân phát triển khả năng tự quản lý điều hành và tổ chức hoạt động xã hội nông thônngày càng tốt hơn Như vậy, mục đích của chuyển giao TBKT là:

- Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền vững, góp phần xây dựng nôngthôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, dân chủ hoá và hợp tác hoá

- Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng đượccác nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xoá đói giảm nghèo

- Nâng cao dân trí trong nông thôn nhằm thực hiện các nhiệm vụ mục tiêutrước mắt và cả lâu dài của xã hội

2.1.2 Vai trò của chăn nuôi lợn đối với hộ nông dân.

2.1.2.1 Vài nét về hộ và kinh tế hộ

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về hộ, theo Liên Hợp Quốc “Hộ là nhữngcùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ’’ Tạicuộc hội thảo Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại ở Hà Lan năm 1980, các đạibiểu đã nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất

và tái sản xuất, đến tiêu dùng và các xã hội khác Như vậy hộ là một nhóm người cócùng huyết tộc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộctrong cùng một mái nhà, ăn chung và có chung một ngân quỹ” [8]

Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất tự cấp tự túc kết hợp với sản xuấthàng hoá nhỏ, chủ yếu dựa trên sức lao động và tư liệu sản xuất của hộ gia đình.Kinh tế hộ gia đình giữ vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùngcho các hộ nông dân ở miền xuôi cũng như ở miền núi [9]

Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế xã hội khá đặc biệt, trong cấu trúc nội tạngcủa các hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó, ởnông hộ có sự thống nhất chặt chẽ việc sở hữu, quản lý và sử dụng các yếu tố sảnxuất, có thống nhất giữa các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng, tiêu

Trang 4

dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, nông hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiềuchức năng và các đơn vị khác không có.

2.1.2.2 Vai trò của chăn nuôi lợn đối với nông hộ

Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở Lào Sự hình thànhsớm nghề nuôi lợn cùng với trồng lúa nước đã cho chúng ta khẳng định nghề nuôilợn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất của con người Chăn nuôilợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu không chỉ ở Lào mà cả nhiều nước trên thế giới.Một đặc điểm quan trọng mang tính ưu việt của chăn nuôi lợn là thời gian chăn thảngắn, sức tăng trưởng nhanh và chu kỳ tái sản xuất ngắn

Lợn là loài động vật ít tiêu tốn thức ăn so với tỷ lệ thể trọng và thức ăn có thểtận dụng từ nhiều nguồn phế, phụ phẩm trồng trọt, công nghiệp thực phẩm và phụphẩm sinh hoạt Chính vì vậy trong điều kiện nguồn thức ăn có ít, không ổn địnhvẫn có thể phát triển chăn nuôi lợn phân tán theo quy mô như từng hộ gia đình Đầu

tư cơ bản ban đầu cho chăn nuôi lợn ít, chi phí nuôi dưỡng trải đều suốt quá trìnhsản xuất, chu kỳ sản xuất ngắn nên chăn nuôi lợn có thể đầu tư phát triển trên mọiđiều kiện gia đình nông dân [10]

Đối với nhiều vùng nông thôn và nhất là trong xu thế phát triển nền nôngnghiệp hữu cơ sinh thái, chăn nuôi lợn còn góp phần tạo ra nguồn phân bón hữu cơquan trọng cho phát triển ngành trồng trọt, góp phần cải tạo đất, tận dụng đượcnguồn phân bón, giảm chi phí đầu tư trong trồng trọt của nông hộ [13] Một con lợnthịt trong một ngày đêm có thể thải 2,5-4 kg phân, ngoài ra còn có lượng nước tiểu

có chứa hàm lượng nitơ và phôtpho cao [14]

Nước Lào với đặc điểm là nước sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn đa

số mang tính chất thời vụ Do vậy lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn nhiều, “nướcLào có khoảng 1 triệu người thất nghiệp hoàn toàn hoặc tiềm tàng”, “ở những vùngruộng đất không nhiều, dân số đông, người dân chỉ sử dụng khoảng 65-70% thờigian lao động trong năm, còn lại 30-35% thời gian nhàn rỗi” [24] Vì vậy chăn nuôilợn là một biện pháp nhằm giải quyết việc làm cho nguồn lao động nhàn rỗi ở nôngthôn, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân, hạn chế sức ép gia tăng dân

số vào các thành phố lớn do người dân đi kiếm việc làm, từ đó tránh được các tệnạn có thể phát sinh, đảm bảo an ninh xã hội Thực tế ta cũng có thể thấy, hiện nay

Trang 5

điều này khẳng định chăn nuôi lợn vẫn là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộgia đình ở nông thôn Lào Đối với các nông dân nghèo thì nguồn thu từ chăn nuôilợn giúp họ trang trải các nhu cầu chi tiêu lớn vào những lúc cần thiết (giỗ chạp,cưới hỏi, ), còn đối với các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả thì có thể dùngnguồn thu từ chăn nuôi lợn để đầu tư cho con cái học hành, kinh doanh hoặc mởrộng quy mô sản xuất.

Ngoài những vai trò quan trọng nêu trên thì chăn nuôi lợn trong nông hộ cònmột vai trò đặc biệt quan trọng nữa là nó giúp tận dụng được nguồn phụ, phế phẩmnông nghiệp và công nghiệp chế biến “Đối với các nước nông nghiệp chậm pháttriển, sản lượng lương thực thấp thì người chăn nuôi sẽ tận dụng các phụ phế phẩmtrong nông nghiệp, tận dụng các loại thức ăn thừa trong gia đình như cơm, canhthừa ” [10]

Với ý nghĩa kinh tế trên, ngành chăn nuôi lợn ở Lào đã sớm phát triển ở khắpmọi vùng nông thôn với phương thức chăn nuôi gia đình là chủ yếu Phát triển chănnuôi lợn là hướng đi cơ bản trong lĩnh vực chăn nuôi của đại bộ phận hộ gia đìnhnông dân ở Lào

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

2.1.3.1 Điều kiện tự nhiên với việc chuyển giao và áp dụng tiến bộ kỹ thuật.

Điều kiện tự nhiên của một vùng nào đó chính là môi trường sống của nhữngngười dân ở vùng đó Môi trường sống có thể hình thành cho con người những thóiquen tập quán sinh hoạt phù hợp với môi trường đó Chính vì thế môi trường tự nhiênnày đã ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và ứng dụng các TBKT của người dân [12].Đời sống của người dân nông thôn có sự gắn bó chặt chẽ với môi trường tựnhiên, đó được ví như cái nôi nuôi sống họ từ đời này sang đời khác Đối với mộtvùng hay một khu vực địa lý nào đó, điều kiện tự nhiên càng thuận lợi thì kinh tếcủa vùng đó càng phát triển so với các vùng khác Sự thuận lợi ở đây không chỉ lànhững nguồn lợi về vật chất sẵn có mà còn được thể hiện rõ qua việc áp dụng cácloại TBKT trong sản xuất của người dân Có thể thấy rằng cùng một loại TBKTnhưng khi đưa đến những vùng khó khăn như vùng núi hay các vùng sâu, vùng xathì hiệu quả áp dụng của nó sẽ không cao bằng các vùng khác, nơi có điều kiện tựnhiên thuận lợi hơn Sản xuất nông nghiệp gắn liền với môi trường tự nhiên, do đóviệc chuyển giao các TBKT về cây trồng, vật nuôi cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt

Trang 6

các yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn nước,… Do đó để chuyển giao mộtTBKT đến người dân, những người làm công tác chuyển giao đều phải thử nghiệmsau đó mới có thể đưa vào áp dụng, cho nên không phải tất cả TBKT đều có thể đưađến cho người dân

Vị trí địa lý cũng là yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng không nhỏ đến việc chuyểngiao và áp dụng các TBKT của người dân Cách trở về địa lý đã làm giảm cơ hộitiếp cận các TBKT của người dân, đồng thời giảm khả năng áp dụng do thiếu thốncác nguồn lực đầu vào cho việc áp dụng của họ “Vùng có đường giao thông thuậnlợi thì cơ hội đầu tư về KHKT nhiều hơn, kịp thời và thường xuyên hơn” [2]

2.1.3.2 Phương pháp chuyển giao và những ảnh hưởng của nó trong công tác

chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

Phương pháp chuyển giao TBKT trong nông nghiệp là cách thức chuyển giaothông tin về TBKT bao gồm cả kỹ thuật, cách tổ chức sản xuất và thông tin thịtrường tới nông dân Nói cách khác, phương pháp chuyển giao là cách truyền bá cácthông tin về TBKT tới nông dân để nông dân áp dụng được thực hiện trên quy môrộng Nhìn chung có 3 phương pháp chuyển giao:

- Phương pháp tiếp xúc cá nhân: Là phương pháp cán bộ chuyển giao thăm gặp

gỡ và tư vấn cho từng nông dân, trao đổi với nông dân qua thư điện thoại Phươngpháp này giúp cán bộ chuyển giao giải quyết được các vấn đề mang tính chất cá biệtcho từng nông dân, nên hiệu quả chuyển giao khá tốt Tuy nhiên, việc chuyển giaonày chỉ dừng lại ở một số hộ nào đó do không đủ cán bộ để thực hiện chuyển giaomột cách đồng bộ trên địa bàn rộng lớn hoặc vì những lý do cá nhân mà chỉ một số

hộ được cán bộ quan tâm và chuyển giao

- Phương pháp thông tin đại chúng: Là phương pháp chuyển giao TBKT tớiquảng đại nông dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, tivi, ápphích, quảng cáo… phương pháp này có thể ưu điểm là truyền thông tin tới nhiềunông dân, tuy nhiên các hộ nông dân thường có các quyết định khác nhau nênkhông thể có một phương pháp chung cho đa số các hộ

- Phương pháp tiếp xúc nhóm: Các cán bộ chuyển giao truyền thông tin vềTBKT qua nhóm nông dân thông qua họp nhóm, trao đổi hội nghị đầu bờ, hội thảo,tập huấn, xây dựng điểm trình diễn và tham gia Bằng phương pháp này, cùng một

Trang 7

nhân có thể học hỏi, trao đổi nhiều kiến thức với nhau, giúp đỡ họ nắm được TBKT.Như vậy mỗi phương pháp trên đều có những ưu và nhược điểm riêng, ưuđiểm của phương pháp này có thể là nhược điểm của phương pháp khác Cácphương pháp đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển giao cũng như sự tiếp nhậnbền vững của người dân, do đó việc lựa chọn phương pháp thích hợp có ý nghĩaquyết định đến thành công của việc chuyển giao Trong nhiều trường hợp khôngnhất thiết phải dùng một phương pháp duy nhất mà tuỳ điều kiện cụ thể để linh hoạtlựa chọn và kết hợp các phương pháp sao cho hiệu quả nhất.

2.1.3.3 Vai trò của chính sách nhà nước đối với công tác chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật.

Chính sách nông nghiệp, nông thôn “là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phikinh tế liên quan đến nông nghiệp nông thôn và các ngành có liên quan đến nôngnghiệp, nông thôn nhằm tác động nông nghiệp, nông thôn theo một định hướng vớimục tiêu nhất định” [19]

Chính sách nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối sự pháttriển kinh tế đất nước, nó không chỉ là chính sách đơn thuần về nông nghiệp mà làcác chính sách, biện pháp tác động vào tất cả các lĩnh vực, các ngành có liên quanđến nông nghiệp, nông thôn Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước đặcbiệt là sau đổi mới (1986), ở Laò đã sử dụng một loạt các chính sách nông nghiệpbao gồm chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giá, các chính sách chuyểngiao khoa học kỹ thuật… Các chính sách này đã có tác động tích cực đến đời sốngnhân dân, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đất nước Các chínhsách về chuyển giao và áp dụng TBKT cũng có đóng góp không nhỏ vào việc cảitạo nền sản xuất, sản xuất nông nghiệp ở Lào Năm 1993 nghị định 13/CP ra đời,qua đó hệ thống khuyến nông được thành lập từ Trung ương đến địa phương Thôngqua hệ thống này các TBKT trong sản xuất nông nghiệp đã được đưa đến tận nhữngngười dân ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh nhất, từng bước cải tạo nền sảnxuất, góp phần nâng cao mức sống cho mọi người dân

Chuyển giao TBKT vào sản xuất là một quá trình, trong đó không chỉ bênchuyển giao mà bên tiếp nhận đều chịu ảnh hưởng của các chính sách Đối vớinhững người làm công tác chuyển giao là những người cán bộ khuyến nông thì họchịu tác động của các quy định thực hiện chuyển giao, còn đối với những người tiếp

Trang 8

nhận là nông dân thì các chính sách về hỗ trợ vay vốn, cơ sở vật chất; chính sách đấtđai,… có tác động đến việc áp dụng các TBKT của họ Có thể thấy rằng: “các chínhsách về chuyển giao TBKT không những giúp người dân tiếp cận được các TBKTtrong sản xuất nông thôn mà còn hỗ trợ điều kiện thuận lợi cho các hộ ở nông thôntăng cường phát triển sản xuất, giải quyết khó khăn, từng bước thoát khỏi nghèođói, làm cho tỷ lệ đói nghèo hàng năm được giảm xuống, bộ mặt nông thôn ở Lào

có nhiều đổi mới” [9]

2.1.3.4 Vấn đề bình đắng giới trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Lào nói riêng vấn đề bất bình đẳng giớivẫn đang còn tồn tại không chỉ trong việc tiếp nhận TBKT mà còn ở nhiều khíacạnh khác nhau của đời sống xã hội Sự bất bình đẳng đó thể hiện qua khả năng tiếpcận giáo dục và các nguồn lực, sự phân công lao động, quyền quyết định và hưởngthành quả lao động…

Về khả năng tiếp nhận các TBKT, theo tác giả Chi (1998): nữ nông dân ítđược hỗ trợ kỹ thuật từ các dịch vụ khuyến nông, đồng thời theo tác giả Saito(1992) thì kiến thức nông nghiệp chuyển giao từ người chồng sang người vợ không

có hiệu quả Thực tế thì điều này cũng dễ hiểu vì phụ nữ thường ít được học nênkhả năng lĩnh hội thông tin kém, đồng thời thông tin từ người chồng mang lại thiếu

độ chính xác do khả năng cũng như thái độ truyền đạt của họ kém hơn [16]

Theo bộ Nông nghiệp & PTNT (1998 và 1999) thì phụ nữ chỉ chiếm 25%trong tổng số người tham gia các chương trình tập huấn về chăn nuôi và 10% thamgia trong các chương trình tập huấn về trồng trọt trong khi họ là những người trựctiếp tham gia sản xuất trong các lĩnh vực này [18] Tác giả ông SyXăNă SySan cũngcho rằng: các dự án, khuyến nông thường mời chủ hộ tham gia tập huấn, do vậy cótới 80% nam giới tham gia tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, tồn tại hiện tượng “nữlàm nam học”, phụ nữ ít được tham quan các mô hình [15]

Từ đó cũng có thể thấy rằng hiện nay khả năng tiếp cận các TBKT của phụ nữvẫn còn rất hạn chế Vì vậy, việc phân tích yếu tố bình đẳng giới trong quá trìnhchuyển giao TBKT là rất quan trọng, đảm bảo cho công tác chuyển giao được thànhcông và bền vững

Trang 9

2.2 Cơ sở thực tiễn.

2.2.1 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt ở Không

Xê Đôn.

2.2.1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn qua các năm ở Không Xê Đôn.

Tính từ năm 2001 đến nay, sau khi Thủ tướng chính phủ ra quyết định số166/2001/QĐ-TTg về chính sách phát triển chăn nuôi lợn, ngành chăn nuôi lợn ởLào đã có sự phát triển khá rõ rệt Cụ thể:

- Tốc độ tăng đàn: Số lượng lợn liên tục tăng qua các năm, từ 21.7 triệu connăm 2001 lên 27.4 triệu con năm 2005, tăng trưởng bình quân 6.3%/năm Năm

2005, SaVanNaKhet có 7.4 triệu con tăng trưởng bình quân 10.0%/năm; tương ứngcác vùng: sông Cửu Long 3.83 triệu con, tăng 7.1%/năm; Tây Nguyên 1.59 triệucon, tăng 14.9%/năm; Đông Nam Bộ 2.62 triệu con, tăng 9.1%/năm; Bắc Trung Bộ3.88 triệu con, tăng 3.9%/năm, Nam Trung Bộ 2.24 triệu con, tăng 3.9%/năm Riêngvùng Tây Bắc có số lượng 1.25 triệu con, giảm 0.8%/năm Mười tỉnh có số đầu lợnlớn là Luong Pa Bang 1.36 triệu con; Xe Kong 1.32 triệu; At ta pu 1.24 triệu;SaLaVan 1.13 triệu; ChamPaSak 1.14 triệu; XayNha 0.93 triệu; Bolykhamxay 0.86triệu, Xieng Khuong 0.77 triệu; Kham Muon 0.66 triệu; SaVanNaKhet 0.64 triệu [1]

- Năng suất, sản lượng thịt: Khối lượng lợn xuất chuồng trung bình cả nước là63.1 kg/con Ước tính lợn ngoại xuất chuồng 6.18 triệu con với khối lượng bìnhquân là 82.5 kg/con, lợn lai nội ngoại 26.0 triệu con với khối lượng xuất chuồng60.4 kg/con; lợn nội xuất chuồng là 3.3 triệu con, khối lượng 39 kg/con Tỷ lệ nạclợn ngoại 54-58%, lợn lai nội ngoại là 42-52%; lợn nội 34-42% [3]

Sản lượng thịt lợn hơi năm 2001 là 1.51 triệu tấn, năm 2005 là 2.29 triệu tấntăng 10.1%/năm Thịt lợn luôn chiếm tỉ lệ cao, từ 76-77% trong tổng sản lượng thịtcác loại sản xuất trong nước Riêng năm 2004 và năm 2005, do ảnh hưởng của dịchcúm gia cầm, tỷ lệ thịt lợn tăng lên tương ứng 80.3 và 81.4% Bình quân thịt lợntiêu thụ 27.4 kg hơi/người/năm (Tương đương 18.9 kg thịt xẻ/người/năm 2005) [1]

2.2.1.2 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt ở huyển Không Xê Đôn.

1) Kỹ thuật về giống

Công tác giống là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong ngành chănnuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ở Lào hiện nay Trong những năm qua,

Trang 10

bằng chương trình nạc hoá đàn lợn nhiều giống lợn có năng suất và chất lượng cao

đã được đưa vào Lào như Yorkshire, Landrace, Doroc, Pietrain,… Các giống lợnnày đang được lai tạo và nhân giống rộng khắp trong cả nước

Đầu năm 2001, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 166/2001/QĐ-TTg vềchính sách phát triển chăn nuôi lợn Qua đó tính đến năm 2005, ngoài 4 dự án lớn

về phát triển giống lợn do trung ương đầu tư tại ba miền, đã có 15 tỉnh đầu tư dự ánphát triển chăn nuôi lợn hướng nạc với tổng số vốn hơn 179 tỷ đồng, nhờ vậy màtổng đàn lợn nái cũng như lợn thịt ngoại ngày càng phát triển [1]

Tháng 7/2005, Bộ Nông nghiệp và PTNT ra quyết định số 07/2005 về quản lý

và sử dụng lợn đực giống, đã góp phần vào việc quản lý con giống và lai tạo giống

có hiệu quả hơn Hiện nay chúng ta có 6 trạm kiểm tra năng suất lợn đực giống,cung cấp khoảng 2.000 đực giống hàng năm [20] Đây là cơ sở để các địa phươngsản xuất cũng như thực hiện các công thức lai tạo nhằm tạo ra các giống lợn phùhợp với điều kiện chăn nuôi và yêu cầu của thị trường

Nhằm thực hiện tốt công tác lai tạo giống, trong thời gian qua Nhà nước cũngnhư các địa phương có nhiều quan tâm và đầu tư cho sản xuất, nhân giống lợn bằngthụ tinh nhân tạo hơn Thông qua việc tập huấn các kỹ thuật về thụ tinh nhân tạo,hiện nay hầu hết các địa phương trong cả nước áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạotrong chăn nuôi lợn nái, góp phần tạo ra các con giống nuôi thịt thuần máu ngoạihơn, từng bước nâng cao chất lượng đàn lợn thịt trong cả nước

2) Kỹ thuật về chuồng trại

Hiện nay dường như các kỹ thuật tiên tiến nhất về chuồng trại đã được đưa vàonước Lào như hệ thống chuồng kín, chuồng lồng chủ động điều khiển nhiệt độ, độẩm… Tuy nhiên, loại kỹ thuật này chỉ có thể áp dụng ở các trang trại lớn do đòi hỏichi phí cao Ở khu vực nông hộ, các kỹ thuật về chuồng trại được chuyển giao chủyếu như xác định kích thước chuồng phù hợp với số lượng nuôi, cách bố trí hướngchuồng, làm sân chơi, kỹ thuật về xây dựng máng ăn hợp vệ sinh… Nhìn chung các

kỹ thuật về chuồng trại được chuyển giao và áp dụng ở quy mô nông hộ đang dầnđược cải tiến theo hướng giảm chi phí đầu tư, đồng thời đảm bảo được tính thuậntiện trong chăm sóc nuôi dưỡng đối với các hộ chăn nuôi lợn

3) Kỹ thuật về thức ăn và chăm sóc nuôi dưỡng

Trang 11

các kỹ thuật về chế biến thức ăn đã được chúng ta quan tâm, một mặt nhằm sử dụng

có hiệu quả nhất nguồn nguyên liệu sẳn có, là các phụ phẩm của ngành trồng trọt,mặt khác nhằm đảm bảo đủ yêu cầu về dinh dưỡng cho các giống lợn mới Ứng vớimỗi giống lợn, mỗi điều kiện chăn nuôi đều có các công thức phối hợp khẩu phần

ăn thích hợp, nhờ vậy mà ở khu vực nông thôn thay vì chỉ nuôi tận dụng như trướcđây thì hiện nay người nông dân đã biết thêm các kỹ thuật về phối hợp nhiều loạithức ăn nhằm đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho lợn phát triển nhanh hơn

Hiện nay thức ăn công nghiệp trong chăn nuôi lợn đã được người dân ứngdụng khá rộng rãi, đặc biệt là trong các trang trại và các gia trại lớn có áp dụng nuôilợn ngoại

Có thể nói rằng việc chuyển giao các kỹ thuật về giống mới đã dẫn đến yêucầu về chuyển giao một loạt các TBKT mới trong chăn nuôi lợn ở nước ta trong đóđặc biệt là các TBKT về thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng

4) Kỹ thuật về thú y, phòng trị bệnh

Thông qua tập huấn kỹ thuật, công tác thông tin truyền sâu rộng đã giúp ngườidần dần ý thức được tầm quan trọng của việc phòng dịch Hàng năm ở nước Lào tổchức hai đợt tiêm phòng dịch cho đàn lợn với các loại văcxin như: tụ huyết trùng,phó thương hàn, dịch tả và lở mồm long móng,…

Phòng trừ dịch bệnh tổng hợp là hướng cơ bản trong chuyển giao các TBKT

về thú y hiện nay ở nước Lào Do đó “Bố trí chuồng trại thích hợp, chăm sóc nuôidưỡng hợp lý giúp lợn sinh trưởng và phát triển nhanh, nâng cao khả năng khángbệnh đồng thời rút ngắn thời gian nuôi trong chăn nuôi lợn thịt ở các hộ gia đình”luôn được các cơ quan chuyển giao quan tâm đề cập [9]

2.2.2 Thực tiễn hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tại Không Xê Đôn.

Trong những năm qua trên địa bàn tỉnh SaLaVăn, Sở Nông nghiệp và pháttriển nông thôn, các sở ban ngành liên quan cùng các tổ chức phi chính phủ đã thựchiện nhiều hoạt động chuyển giao TBKT tới người nông dân

Quá trình chuyển giao TBKT tới người dân ở SaLaVăn gắn liền với công táckhuyến nông của tỉnh Trong những năm qua, Trung tâm Khuyến nông - KhuyếnLâm tỉnh là đơn vị có đóng góp nhiều nhất vào tiến trình đưa TBKT tới người dân

Từ năm 2002 đến nay, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến Lâm tỉnh đã thực hiện

174 mô hình khuyến nông với tổng kinh phí trên 09 tỷ đồng, hàng trăm lớp tập huấn

Trang 12

về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi đã được các Trạm khuyến nông các huyện tiếnhành nhằm đưa TBKT đến với nông dân [23].

Năm 2005, UBND tỉnh đã phê duyệt đề án phát triển chăn nuôi trên địa bàntoàn tỉnh giai đoạn từ 2005 - 2010 Qua đó năm 2007 vừa qua, tỉnh đã đầu tư 30triệu đồng cùng với 68 triệu đồng từ ngân sách nhà nước để thực hiện công tác đàotạo, tuyên truyền tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò, dê, lợn và gia cầm chonông dân trong tỉnh [21]

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có một số mô hình chăn nuôi lợn đang được xâydựng thí điểm và đưa vào nhân rộng như:

- Mô hình nuôi lợn sinh sản hướng nạc đảm bảo vệ sinh môi trường, tạiSaLaVăn,Không Xê Đôn, với hỗ trợ 169 lợn nái hậu bị, 16 bể Biogas và 50 chuồnglồng [17]

- Mô hình chăn nuôi lợn thịt thâm canh tại tất cả các huyện và thành phố ChamPha Sak, với tổng số 36 mô hình đã được xây dựng [22]

Các mô hình này đang được triển khai và từng bước được nhân rộng

Cùng với việc thực hiện các mô hình trình diễn, các đơn vị ban ngành tronglĩnh vực nông nghiệp đã lồng ghép các nguồn vốn, hợp tác với các dự án tại địaphương để tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng,góp phần từng bước nâng cao dân trí và kỹ năng sản xuất cho nông dân ở các địaphương, nhất là đồng bào các vùng còn khó khăn

Trang 13

Phần 3 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Không Xê Đôn.

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Không Xê Đôn nằm phía Bắc tỉnh SaLaVăn trên tọa độ địa lý

105036 - 105 041 độ kinh Đông, Phía Đông giáp VaPi và Lầu Ngam, phía Tâygiáp dãy núi và có miền giới với Thái Lan, phía Nam giáp huyện Xă Nă SômBun và cách Thành phố Chăm Pa Sắc 65 km, phía Bắc giáp huyện Na KhonPheng (SaLaVăn) Với đặc điểm vị trí địa lý này, huyện rất thuận lợi trong việcgiao lưu kinh tế, văn hoá, thương mại với các tỉnh và thành phố trong cả nước,cũng như các huyện khác trong tỉnh

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình của huyện phức tạp song phân bố trên 2 vùng sinh thái chính:

- Vùng đồng bằng (đất phù sa không được bồi đắp hàng năm và nội đồng):Phân bố quanh thị trấn NaKhonPheng với bán kính chừng 5-7 km về phía TâyNam của huyện

- Vùng miền núi: Phân bố dọc theo quốc lộ 13A, đoạn từ đèo Ngang đến sông

Xê Đôn

3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu

Không Xê Đôn là hgyện nằm trong khu vực nhiệt đới chịu ảnh hưởng của khíhậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam Bắc Do vị trí địa lý và đặc điểm của địa hìnhnên khí hậu của Không Xê Đôn có hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô), mang tínhchất nhiệt đới gió mùa Mùa mưa chịu ảnh hưởng của các đợt gió, mùa mưa bắt đầu

từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình trong các tháng này từ 19-250 Mùa khôchịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3hàng năm, nhiệt độ trung bình trong các tháng này khoảng từ 28-360 Với điều kiệnthời tiết có mùa khô kéo dài như trên đã gây ra rất nhiều khó khăn trong sản xuất vàsinh hoạt của người dân

Trang 14

3.1.1.4 Nguồn nước, thuỷ văn

Huyện Không Xê Đôn có sông Xê Đôn chảy qua trung tâm huyện, và một số

hồ đập lớn nhỏ nằm trong địa phận của huyện

Sông Xê Đôn bắt nguồn từ huyện VaPi chảy về Sông Cửu Long, Đông theohướng Tây Đông, diện tích lưu vực sông là 572 km2 với chiều dài 75 km Sông chảyqua huyện với chiều dài 15 km, là điều kiện thuận lợi phục vụ nguồn nước cho sảnxuất và sinh hoạt của người dân ở đây

Tuy nhiên, bên cạnh việc cung cấp nguồn nước dồi dào cho sản xuất và sinhhoạt thì hệ thống sông ngòi ở đây cũng mang lại không ít khó khăn cho ngườidân vào mùa mưa lũ, sản xuất nông nghiệp ở đây thường bị ảnh hưởng nghiêmtrọng vào những năm lũ lớn Thiệt hại không chỉ dừng lại sau lũ quét mà còn ảnhhưởng kéo dài đối với lĩnh vực chăn nuôi do dịch bệnh mang lại sau lũ Đây làkhó khăn lớn đối với chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng tại huyệnKhông Xê Đôn

3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội

3.1.2.1 Dân số và lao động

Việc tìm hiểu cơ cấu dân số và lao động giúp nắm bắt được tiềm năng và sựphân bố về nguồn nhân lực của địa phương trong các lĩnh vực sản xuất và địa bàndân cư Kết quả tìm hiểu về dân số và lao động của huyện thể hiện ở bảng 3.1

Số liệu ở bảng 3.1 cho thấy: Dân số của huyện tăng nhanh qua các năm, năm 2008toàn huyện có 204.594 người, trong đó nam giới chiếm 49,47%

Lực lượng lao động của huyện khá dồi dào, năm 2008 tổng số lao động củahuyện là 99.983 người (chiếm 48,9% trong tổng số dân) Lao động chủ yếu tậptrung ở khu vực nông thôn (chiếm 96,01%), trong đó lao động trong lĩnh vực nôngnghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (58,78%) và thấp nhất là trong lĩnh vực lâm nghiệp(0,05%), lao động trong 2 lĩnh vực này có xu hướng giảm dần qua các năm Riêngcác lĩnh vực khác như công nghiệp, thương mại, dịch vụ và trong các ngành nghềkhác thì lực lượng lao động tham gia vào các lĩnh vực này có xu hướng tăng dầnqua các năm, sở dĩ như vậy là vì giá trị mang lại từ các lĩnh vực này cao hơn so vớilĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp

Trang 15

Bảng 3.1: Cơ cấu dân số và lao động của huyện Không Xê Đôn 2006-2008.

TT Năm

Tỷ lệ %(2008)

(Nguồn: Số liệu thống kê của huyện năm 2008)

Lao động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tăng nhanh qua từng năm, điềunày đã thể hiện bước chuyển biến quan trọng trong việc thu hút ngày càng đông laođộng ra khỏi lĩnh vực sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả và có thu nhập thấp nhưhiện nay sang lĩnh vực thương mại và dịch vụ Tuy nhiên, khi nhìn lại tỷ lệ lao độngtrong các ngành nghề thì con số 6,29% của ngành dịch vụ vẫn còn quá khiêm tốn

3.1.2.2 Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế của huyện qua các năm (2006 - 2008)

Qua bảng 3.2 có thể thấy, cơ cấu nền kinh tế đang có sự chuyển dịch theohướng tích cực, đó là tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đang có xu hướng tăngqua các năm Tổng giá trị ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ năm 2008 chiếm71,60%, so với kết quả năm 2006 thì tỷ lệ này có chiều hướng giảm Tuy nhiên, đâykhông phải là sự chuyển biến xấu vì theo phòng Kinh tế huyện thì năm 2008 trên địabàn huyện đang có nhiều hạng mục xây dựng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến (kể

Trang 16

cả trong và ngoài quốc doanh) Do đó đã phần nào làm giảm khả năng đầu tư sảnxuất, dẫn đến giảm sản lượng cũng như giá trị sản xuất ra các mặt hàng công nghiệptrên địa bàn toàn huyện Trong những năm tới, khi những hạng mục xây dựng nàyhoàn tất và đưa vào sản xuất sẽ phần nào đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ngành côngnghiệp của huyện

Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế của huyện qua các năm

Đvt: triệu đồng

Năm

Tỷ lệ (%)(2008)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội của huyện qua các năm)

Trong lĩnh vực nông – lâm – thuỷ sản, tổng giá trị hàng năm tăng khá nhanh,bình quân đạt 13%/năm Tỷ trọng

ngành nông nghiệp so với các

ngành khác trong cơ cấu kinh tế

của huyện là 28,4%, đây là con số

còn khá cao Tuy nhiên, trên bình

diện chung của tỉnh SaLaVan cũng

như trong cả nước thì đây cũng là

Trang 17

3.1.2.3 Thu nhập đầu người

Thu nhập bình quân đầu người của huyện ở mức trung bình, bình quân khoảng392.000 đồng/người/tháng Ở vùng nông thôn thu nhập trên đầu người vẫn còn rấtthấp, số người có thu nhập từ 350.000 – 500.000 đồng/người/tháng trở lên chiếm tỷ

lệ còn ít Cũng chính vì vậy mà đến nay tỷ lệ nghèo trên toàn huyện (theo chuẩnmới) đang còn chiếm đến 27,4 % [24]

Nguồn thu chủ yếu của người dân nông thôn chủ yếu từ sản xuất nông nghiệpvới điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu là sử dụng trong gia đình, chưa thật sự trởthành nền sản xuất hàng hoá Vì vậy mà thu nhập bình quân đầu người không cao

và tăng chậm qua các năm

3.1.2.4 Tình hình sử dụng đất đai

Đất là loại tài nguyên quan trọng, nó vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượngsản xuất Tiềm năng cũng như hạn chế về nguồn tài nguyên đất có ảnh hưởng lớnđến đặc điểm nền kinh tế của địa phương và khả năng phát triển sản xuất của ngườidân Do đó việc tìm hiểu cơ cấu đất đai của huyện là cần thiết và kết quả được thểhiện qua bảng 3.3

Kết quả ở bảng 3.3 cho thấy: Cũng như ở các địa phương khác, đất nôngnghiệp (theo nghĩa rộng) chiếm phần lớn tổng diện tích đất tự nhiên ở Không XêĐôn (60,32%) Trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn (72,75% sovới tổng diện tích đất nông nghiệp) Thu nhập chính của người dân là từ sản xuấttrồng trọt, tuy nhiên đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 25,42%, trong đó chủ yếu

là đất trồng cây hàng năm (96,27% trong tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp)với các loại cây trồng phổ biến như lúa nước (chiếm 66,61% trong tổng số), ngô,khoai, sắn và một số rau màu khác

Điểm đặc biệt là diện tích đất chưa sử dụng ở Không Xê Đôn chiếm tỷ lệ khácao (22,74%) gồm đất bằng, đất đồi núi trọc Trong những năm qua huyện đã có cácchính sách cải tạo và sử dụng nhưng chỉ dừng lại ở mức tương đối do hạn hẹp vềkinh phí Nếu có vốn đầu tư và quy hoạch khai thác tốt, những diện tích đất này cóthể sử dụng vào mục đích chăn nuôi như mở các trang trại, trồng cây thức ăn chochăn nuôi trâu, bò, lợn…

Trang 18

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên

(Nguồn: Số liệu thống kê năm 2008 của phòng địa chính huyện Không Xê Đôn)

Trang 19

3.1.2.5 Tình hình sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi của huyện

- Diễn biến về diện tích năng suất và sản lượng một số cây lương thực và cây lấy củ được trồng trên địa bàn huyện.

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, hiện nay trên địa bàn huyệnKhông Xê Đôn cây lương thực và cây lấy cũ chủ yếu vẫn là lúa, ngô, khoai, sắn….Tình hình sản xuất các loại cây trồng này được thể hiện ở bảng 3.4

Bảng 3.4: Diện tích năng suất và sản lượng một số cây lương thực và cây lấy củ

của huyện năm 2008.

TT Loại cây trồng Diện tích (ha) N.suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

(Nguồn: Số liệu thống kê năm 2008 của phòng kinh tế huyện Không Xê Đôn)

Kết quả bảng 3.4 cho thấy: Lúa vẫn đang là cây trồng chủ đạo và không thểthay thế trên địa bàn huyện, năng suất suất lúa ở đây chỉ đạt mức trung bình 48,6 tạ/

ha Loại cây có diện tích gieo trồng sau lúa là khoai lang, cây khoai lang cũng đượcxem là thế mạnh của Không Xê Đôn nói chung và NaKhonPeng nói riêng Củ khoailang là nguyên liệu của sản phẩm khoai gieo khá nổi tiếng, ngoài ra hiện nay câykhoai lang có vai trò khá quan trọng đối với ngành sản xuất chăn nuôi, đặc biệt làchăn nuôi lợn

Cây sắn chiếm diện tích nhỏ, chủ yếu tập trung những vùng đồng bằng vàvùng núi như: Ta Oi, Tum Lan, Lau Ngam, … Trong những năm gần đây, diện tíchsắn ở Không Xê Đôn càng bị thu hẹp nhiều hơn do phần lớn diện tích ở đồng bằngtrước đây được sử dụng trồng sắn, thì nay họ chuyển sang trồng cây lâm nghiệp vớihiệu quả kinh tế cao hơn Diện tích sắn thu hẹp đã phần nào ảnh hưởng đến pháttriển chăn nuôi lợn ở đây, khi mà phương thức chăn nuôi của người dân địa phươngchủ yếu là chăn nuôi tận dụng

Ngô cũng không phải là cây trồng thế mạnh của địa phương, với diện tích gieotrồng là 630 ha nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi thì hiện nay cây ngô được trồngchủ yếu để ăn quả tươi mà ít có mục đích phục vụ cho chăn nuôi

Trang 20

- Tình hình chăn nuôi của huyện qua các năm

Hiện nay huyện Không Xê Đôn có 4 loại vật nuôi chính đó là trâu, bò, lợn vàgia cầm; ngoài ra còn có dê, thỏ và hươu nhưng cũng chỉ mới phát triển trong nhữngnăm gần đây và số lượng không đáng kể Diễn biến tình hình chăn nuôi của huyệnđược thể hiện ở bảng 3.5

Bảng 3.5: Số lượng đàn vật nuôi của huyện qua các năm

(Nguồn: Số liệu thống kê huyện Không Xê Đôn, 2008)

Kết quả bảng 3.5 cho thấy: Số lượng đàn vật nuôi của huyện tăng lên qua cácnăm Quy mô chăn nuôi của huyện ngày càng phát triển, nhất là chăn nuôi lợn vàchăn nuôi bò Trong những năm gần đây, huyện đã chú trọng hơn vào phát triển đàn

bò và đàn lợn, hiện nay thì trong tổng số 27.536 con bò thì bò lai Sind có khoảng3.100 con (50% máu ngoại) Đối với đàn lợn thì năm 2008 toàn huyện có 90.029con trong đó tỉ lệ lợn ngoại hoặc 50% máu ngoại trở lên hiện nay đã đạt 80% (tươngđương 55.000 con), tốc độ tăng đàn hàng năm đạt trên 2% Sự thay đổi trên là nhờcùng với chủ trương nạc hoá đàn lợn và cải tạo đàn bò, trong những năm qua trênđịa bàn huyện có nhiều chương trình, dự án cũng chú trọng đầu tư vào các lĩnh vựcchăn nuôi này như dự án ICCO, NAPA, DPPR, chương trình 135,… Cho đến nayphát triển chăn nuôi bò và lợn vẫn là hướng cơ bản trong chiến lược phát triểnngành chăn nuôi của huyện

Chăn nuôi gia cầm đang dần phát triển trở lại sau dịch cúm gia cầm vừa qua.Năm 2008 đạt 292.271 con, tăng hơn 50.000 con so với năm 2007, đây là dấu hiệumừng cho sự trở lại của chăn nuôi gia cầm của địa phương

Trang 21

3.2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các hộ chăn nuôi lợn thịt ở huyện Không Xê Đôn,tỉnh SaLaVan

- Thời gian nghiên cứu từ: 06/01/2010 – 09/05/2010

3.2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài có 2 nội dung lớn:

3.2.2.1 Nghiên cứu thực trạng chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ tại huyện.

- Các loại TBKT đã được chuyển giao

- Các cơ quan, đơn vị tham gia chuyển giao TBKT ở địa phương

- Các phương pháp chuyển giao mà các cơ quan đã áp dụng

- Tình hình chấp nhận và ứng dụng các TBKT đã được chuyển giao

- Mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao

- Những vấn đề còn hạn chế trong quá trình chuyển giao TBKT

- Những khó khăn của người dân khi áp dụng các TBKT

3.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ

- Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài

- Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Nguồn số liệu được thu thập thông qua các tài liệu, các báo cáo, niên giám thống

kê ở các Cơ quan thống kê, Phòng kinh tế, Trạm khuyến nông và các cơ quanchuyển giao

3.3.2 Thu thập và xử lý số liệu mới

3.3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

Tiêu chí chọn điểm nghiên cứu:

Trang 22

- Chọn 2 điểm là 2 thôn đại diện cho 2 vùng , Đồng bằng và vùng miền núi.

- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chăn nuôi lợn thịt

- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chuyển giao TBKT

Các điểm nghiên cứu cụ thể như sau:

- Vùng Đồng bằng: Thôn Không Noy

- Vùng miền núi: thôn tă ôi

Chọn hộ điều tra: Chọn ngẫu nhiên và có định hướng 30 mẫu điều tra với tiêuchuẩn:

- Hộ thuộc loại hộ trung bình

- Hộ đang chăn nuôi lợn thịt

- Hộ đã được chuyển giao về TBKT trong chăn nuôi lợn thịt

- Số lượng các hộ phải được phân bố đều trên 2 vùng sinh thái

3.3.2.2 Các phương pháp thu thập số liệu mới.

a) Phương pháp phỏng vấn hộ

Nguồn thông tin được thu thập thông qua bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc đãchuẩn bị trước

b) Phương pháp thảo luận nhóm

Tiến hành thảo luận nhóm trên 2 đối tượng là nhóm cán bộ và nhóm nông dânnồng cốt Các cuộc thảo luận diễn ra độc lập nhằm thu được nhiều thông tin và đảmbảo tính khách quan

3.3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được mã hoá và xử lý bằng máy vi tính thông qua phầnmềm Excel và SPSS version 15.0

Số liệu được xử lý bao gồm 3 nhóm cơ bản:

- Xử lý thống kê mô tả (Descriptive statistics)

- Kiểm định ý nghĩa thống kê (phân tích ANOVA một nhân tố): Nhằm tìm hiểu

sự khác nhau về giá trị trung bình giữa các yếu tố có ý nghĩa thống kê hay không

- Sử dụng hàm hồi quy tuyến tính (Regression - linaer): Nhằm xác định ảnhhưởng của một số yếu tố nội tại đến việc áp dụng TBKT của hộ

Trang 23

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Một số đặc điểm chính của hộ chăn nuôi lợn ở huyện Không Xê Đôn.

4.1.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất.Nguồn nhân lực được xem xét ở đây bao gồm: số nhân khẩu của hộ, số lao độngchính, tuổi và trình độ chủ hộ Đây là những chỉ tiêu so sánh theo chúng tôi sẽ cóảnh hưởng phần nào đến việc áp dụng các TBKT trong sản xuất của hộ giữa cácvùng sinh thái khác nhau (phân tích ở phần các yếu tố ảnh hưởng) Kết quả nghiêncứu về nguồn nhân lực của hộ thể hiện ở bảng 4.1

Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu về nguồn nhân lực của các hộ điều tra

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy: Số lao động chính, tuổi và trình độ chủ hộ không

có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái Số lao động bình quân/hộ khoảng 2 laođộng, trong đó hộ ở vùng đồng bằng có số lao động cao nhất (2.20 lao động) Độtuổi bình quân của các chủ hộ khoảng 45 tuổi, lớn nhất là các chủ hộ ở vùng Đồngbằng (gần 46 tuổi).Về trình độ, các chủ hộ ở cả hai vùng sinh thái đều có trình độ vănhoá khoảng hết lớp 7 và ít có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê giữa hai vùng này.Đối với chỉ tiêu về số nhân khẩu, hộ ở vùng miền núi có số nhân khẩu thấp hơn sovới hộ ở vùng đồng bằng

4.1.2 Nguồn thức ăn chăn nuôi lợn

Lợn là loài động vật dạ dày đơn có khả năng tiêu hoá rất nhiều loại thức ănkhác nhau, trong đó các sản phẩm trồng trọt như lúa, ngô, khoai, sắn là nguồn thức

Trang 24

ăn rất quan trọng trong chăn nuôi lợn gia đình Việc tìm hiểu diện tích và năng suấtcủa một số cây trồng chính của hộ nhằm đánh giá khả năng chủ động về nguồn thức

ăn cho chăn nuôi lợn của các hộ ở 3 vùng sinh thái khác nhau là cần thiết Chúng tôi

đã tìm hiểu về diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính của các hộ và kếtquả được thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2: Diện tích và năng suất một số cây trồng làm thức ăn chăn nuôi lợn.

(N=30 hộ)

Chỉ tiêu Đơn vị Vùng Trung du Vùng Đồng bằng Sig

-(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

Số liệu ở bảng 4.2 cho thấy: So sánh các loại cây trồng ở 2 vùng thì diện tíchngô và khoai của các hộ ít có sự biến động lớn, trong khi đó diện tích lúa và sắn có

sự khác biệt khá rõ giữa vùng miền núi Diện tích lúa vùng miền núi khá thấp, 3.75tạ/hộ, tuy nhiên do điều kiện đất đai thuận lợi hơn nên diện tích trồng sắn của các hộvùng miền núi hơn hẳn các hộ vùng Đồng bằng

Về năng suất, năng suất lúa và ngô của các hộ ở mức trung bình so với năngsuất chung của toàn tỉnh (bình quân năng suất lúa và ngô trên toàn tỉnh tương ứng là2.15 và 1.89 tạ/ha [21]) Trong khi đó năng suất sắn và khoai tương đối thấp, năngsuất sắn thấp hơn năng suất bình quân của tỉnh khoảng 2 tạ/ha, khoai khoảng 1.5 tạ/

ha

Trang 25

cao, điều này đã phần nào ảnh hưởng đến khả năng phát triển chăn nuôi lợn thịt củacác hộ ở đây.

4.1.3 Quy mô nuôi lợn thịt tại các hộ

Việc tìm hiểu quy mô chăn nuôi của các hộ nhằm nắm bắt được thực trạng vàkhả năng đầu tư của các hộ Chúng tôi đã nghiên cứu về chỉ tiêu này và kết quả thuđược thể hiện ở bảng 4.3 và biểu đồ 4.3

Bảng 4.3: Quy mô chăn nuôi lợn thịt tại các hộ điều tra.

(N=30 hộ)

Quy mô/năm

(con)

Tỷ lệ hộ nuôi (%)Vùng miền

15.14(7.14)

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

0 10

Biểu đồ 4.3: Quy mô chăn nuôi lợn của các hộ điều tra

Kết quả bảng 4.3 và biểu đồ 4.3 cho thấy: Quy mô nuôi hàng năm của các hộđiều tra phần lớn nằm vào khoảng từ 11-20 con (51.11% số hộ có cùng quy mô nuôinày), trong đó vùng đồng bằng chiếm tỷ lệ cao nhất (50%) Quy mô nuôi hàng năm

Trang 26

từ 1-10 con tập trung chủ yếu ở vùng miền núi (33.33%).Quy mô nuôi từ 21-30 con/

hộ ít có sự khác biệt giữa các vùng, trong đó vùng miền núi vẫn chiếm tỷ lệ cao.Riêng quy mô nuôi từ 31-40 con/năm thì nhìn chung thì tỷ lệ này vẫn còn thấp.Bình quân toàn vùng tỷ lệ này chỉ chiếm 3.33%, trong đó vùng Đồng bằng có tỷ lệcao nhất cũng chỉ 6.67%

4.2 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt tại huyện Không Xê Đôn.

4.2.1 Các cơ quan chuyển giao, nội dung và phương pháp chuyển giao

Chăn nuôi lợn là lĩnh vực mang lại thu nhập khá quan trọng cho người nôngdân cả nước nói chung và nông dân huyện Không Xê Đôn nói riêng Nhằm nângcao trình độ chăn nuôi lợn cho người dân, trong những năm trở lại đây trên địa bànhuyện các hoạt động chuyển giao TBKT đã được đẩy mạnh Các cơ quan đã vàđang chuyển giao cũng như các phương pháp và các TBKT trong chăn nuôi lợn thịt

đã được chuyển giao trong thời gian qua ở Không Xê Đôn được thể hiện ở bảng 4.4.Bảng 4.4 cho thấy: Trên địa bàn huyện Không Xê Đôn có 5 cơ quan, đơn vịchủ yếu tham gia vào hoạt động chuyển giao các TBKT trong chăn nuôi lợn thịt chonông dân, bao gồm: các dự án, Trạm khuyến nông huyện, Trung tâm giới thiệu việclàm và dạy nghề (GTVL & DN) tỉnh SaLaVăn, Trạm thú y huyện và các Công tythức ăn chăn nuôi lợn Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận nhóm chúng tôi nhậnthấy: ở mỗi khu vực sinh thái khác nhau thì có các cơ quan tham gia chuyển giaokhác nhau

Đối với vùng đồng bằng và miền núi: Cơ quan chuyển giao chủ yếu là các dự ánnhư: Dự án ICCO Hà Lan do Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung (CRD) làm

tư vấn, dự án Phân cấp giảm nghèo (DPPR) và Trạm khuyến nông huyện, bên cạnh

đó còn có Trung tâm GTVL & DN tỉnh và một số cơ quan khác nhưng mức độ ảnhhưởng của các cơ quan này không lớn, chỉ bó hẹp trong một số đối tượng nhất định.Riêng vùng Đồng bằng là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc chuyểngiao và áp dụng các TBKT, đồng thời là nơi tập trung phát triển chăn nuôi lợncủa huyện thì thành phần tham gia chuyển giao TBKT khá đa dạng hơn, trong

đó vai trò nỗi bật không chỉ là các dự án mà còn có các đơn vị như Trung tâmGTVL & DN tỉnh, Trạm khuyến nông huyện, Các cơ quan thú y, các Công ty

Trang 27

Bảng 4.4: Các cơ quan/đơn vị, nội dung và phương pháp chuyển giao tiến bộ

kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Không Xê Đôn.

- Kỹ thuật chọn giống theo công thức lai

- Kỹ thuật chọn giống theo cá thể

2 Kỹ thuật về thức ăn

- Kỹ thuật xác định tiêu chuẩn và khẩuphần ăn thích hợp, phối trộn các loại thức

ăn sẳn có tại địa phương

- Kỹ thuật chế biến một số loại thức ăn

- Kỹ thuật sử dụng thức ăn công nghiệp

3 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

- Kỹ thuật thiến lợn

- Tắm chải, vệ sinh chuồng trại

4 Kỹ thuật về chuồng trại

5 Kỹ thuật thú y

- Kỹ thuật tiêm phòng

- Kỹ thuật tẩy KST cho lợn

- Kỹ thuật điều trị một số bệnh thôngthường

1 Tập huấn

2 Hỗ trợ xây dựng

mô hình

3 Hướng dẫn kỹ thuật tại nhà

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)

Về loại TBKT được chuyển giao, kết quả bảng 4.4 cho thấy: Có khá nhiều cácTBKT trong chăn nuôi lợn thịt được các cơ quan, đơn vị ở đây quan tâm chuyểngiao Trong đó:

- Nhóm TBKT về giống gồm có: Kỹ thuật chọn giống theo cá thể, kỹ thuậtchọn giống theo công thức lai Nhóm kỹ thuật này nhằm giúp người dân nâng caođược các kiến thức về giống, biết được tầm quan trọng của khâu chọn giống trongchăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng, góp phần vào việc cải tạo chấtlượng đàn lợn thịt, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi

- Nhóm TBKT về thức ăn, bao gồm: Kỹ thuật xác định tiêu chuẩn và khẩu

Trang 28

phần ăn theo lứa tuổi, kỹ thuật chế biến một số loại thức ăn, kỹ thuật sử dụng một

số loại thức ăn bổ sung và kỹ thuật sử dụng thức ăn công nghiệp,… Đối với ngườinông dân ở đây với thói quen chăn nuôi lợn nhỏ lẻ, mang tính tận dụng thì nhómTBKT về thức ăn đã phần nào giúp họ tăng năng suất trong chăn nuôi lợn thịt và rútngắn được thời gian nuôi

- Nhóm TBKT về chuồng trại: Các cơ quan chuyển giao đã quan tâm vào việcđưa ra các mô hình và cách bố trí chuồng trại thích hợp, qua đó giúp nông dân thuậntiện hơn trong khâu chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý các tác động xấu của môitrường

- Nhóm TBKT về chăm sóc nuôi dưỡng: Bao gồm những kỹ thuật như vệ sinhchuồng trại, tắm chải, cho ăn đúng giờ, che ấm vào mùa đông, bổ sung nước uốngđầy đủ cho lợn,… Đây là những kỹ thuật khá đơn giản, tuy nhiên nó rất cần thiếttrong quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng, do

đó được hầu hết các cơ quan trên áp dụng chuyển giao

- Nhóm TBKT về thú y, bao gồm: Kỹ thuật tiêm phòng cho lợn, kỹ thuậtphòng và trị một số bệnh thông thường, kỹ thuật tẩy ký sinh trùng cho lợn nuôi thịt

Về phương pháp chuyển giao: Nhìn chung, có rất nhiều các phương pháp đãđược áp dụng trong quá trình chuyển giao TBKT chăn nuôi lợn thịt cho người dân ởđây Tuy nhiên với mỗi cơ quan, đơn vị khác nhau thì có các phương pháp chuyểngiao cũng khác nhau, trong đó phổ biến nhất là phương pháp tập huấn, xây dựng môhình và đi tham quan; các hình thức chuyển giao khác như hướng dẫn kỹ thuật tạinhà, đào tạo chứng chỉ, hình thành nhóm sở thích chỉ có một số ít các cơ quan đơn

vị áp dụng Theo kết quả thảo luận nhóm thì trong các cơ quan, đơn vị tham giachuyển giao TBKT trong chăn nuôi lợn thịt tại huyện Không Xê Đôn, dự án ICCO

là đơn vị đã áp dụng đồng bộ tất cả các phương pháp chuyển giao trên Riêngphương pháp đào tạo và cấp chứng chỉ có Trung tâm GTVL & DN tỉnh; các cơquan thú y huyện, tỉnh áp dụng (phương pháp này có thời gian chuyển giao là 3tháng, sau khi đào tạo có cấp chứng chỉ cho các học viên)

Có thể nói Không Xê Đôn là huyện có nhiều cơ quan, đơn vị tham gia chuyểngiao TBKT chăn nuôi lợn thịt cùng với các phương pháp chuyển giao khá đa dạng

là điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận tiến bộ kỹ thuật dễ dàng hơn

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Cơ cấu dân số và lao động của huyện Không Xê Đôn 2006-2008. - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 3.1 Cơ cấu dân số và lao động của huyện Không Xê Đôn 2006-2008 (Trang 15)
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế của huyện qua các năm - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế của huyện qua các năm (Trang 16)
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng đất của huyện . - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng đất của huyện (Trang 18)
Bảng 3 .5: Số lượng đàn vật nuôi của huyện qua các năm - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 3 5: Số lượng đàn vật nuôi của huyện qua các năm (Trang 20)
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu về nguồn nhân lực của các hộ điều tra - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu về nguồn nhân lực của các hộ điều tra (Trang 23)
Bảng 4.3: Quy mô chăn nuôi lợn thịt tại các hộ điều tra. - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.3 Quy mô chăn nuôi lợn thịt tại các hộ điều tra (Trang 25)
Bảng 4.4: Các cơ quan/đơn vị, nội dung và phương pháp chuyển giao tiến bộ - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.4 Các cơ quan/đơn vị, nội dung và phương pháp chuyển giao tiến bộ (Trang 27)
Bảng 4.5: Tình hình tiếp cận các loại  tiến bộ kỹ thuật của các hộ (N=30 hộ) - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.5 Tình hình tiếp cận các loại tiến bộ kỹ thuật của các hộ (N=30 hộ) (Trang 29)
Bảng 4.6: Các nguồn cung cấp thông tin về TBKT cho các  hộ (N=30 hộ) - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.6 Các nguồn cung cấp thông tin về TBKT cho các hộ (N=30 hộ) (Trang 30)
Bảng 4.7: Tỷ lệ hộ tiếp cận các phương pháp chuyển giao TBKT (N=30 hộ) - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.7 Tỷ lệ hộ tiếp cận các phương pháp chuyển giao TBKT (N=30 hộ) (Trang 32)
Bảng 4.9: Tình hình chấp nhận và ứng dụng của hộ đối với các TBKT đã được - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.9 Tình hình chấp nhận và ứng dụng của hộ đối với các TBKT đã được (Trang 36)
Bảng 4.10: Những hạn chế trong chuyển giao các TBKT về chăn nuôi lợn thịt cho nông hộ (N=30 hộ) - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.10 Những hạn chế trong chuyển giao các TBKT về chăn nuôi lợn thịt cho nông hộ (N=30 hộ) (Trang 38)
Bảng 4.12: Tình hình bán lợn thịt của các hộ (N=30 hộ) - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.12 Tình hình bán lợn thịt của các hộ (N=30 hộ) (Trang 44)
Bảng 4.15: Nhu cầu của người dân về chuyển giao TBKT trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay (N=30 hộ) - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.15 Nhu cầu của người dân về chuyển giao TBKT trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay (N=30 hộ) (Trang 51)
Bảng 4.16: Nhu cầu của các hộ về phát triển dịch vụ sản xuất chăn nuôi lợn - thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt cho các nông hộ ở huyện không xê đôn tỉnh salavăn - lào
Bảng 4.16 Nhu cầu của các hộ về phát triển dịch vụ sản xuất chăn nuôi lợn (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w