1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị

69 392 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tiến Trình Cứu Trợ Bằng Tiền Mặt Hợp Lý Sau Thiên Tai Tại Xã Triệu Giang, Huyện Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị
Trường học Trường Đại học Quảng Trị
Chuyên ngành Quản lý thiên tai và phát triển cộng đồng
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Trị
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục tiêu nghiên cứu- Tìm hiểu mức độ thiệt hại và nhu cầu người dân sau lũ - Tìm hiểu thực trạng hoạt động cứu trợ khi thiên tai tại xã Triệu Giang - Xác định tiến trình cứu trợ hợp

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo WB (2007) Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới chịu ảnhhưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng [3] Thực tếnhiều năm qua cho thấy, tần suất bão, lụt ngày càng nhiều và mức độ gây hạingày càng tăng Bão, lụt không chỉ gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế của đấtnước, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của người dân, nhất là ngườinghèo [7]

Triệu Giang là một xã thấp trũng của tỉnh Quảng Trị Hầu như năm nàocũng chịu ảnh hưởng của lũ lụt, để lại hậu quả không nhỏ đến đời sống ngườidân, cụ thể là: thiệt hại tính mạng; gây ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng,làm nhà cửa bị sập, trôi, hư hại; hàng trăm hécta hoa màu của dân bị mấttrắng Để giúp người dân khắc phục hậu quả thiên tai Nhà nước, các tổ chứcquốc tế và tư nhân đã tích cực thực hiện các hoạt động cứu trợ Tuy nhiên,hoạt động cứu trợ hiện nay chủ yếu bằng hiện vật

Cứu trợ bằng hiện vật đã giúp người dân giải quyết những khó khăntrước mắt, nhưng cũng thể hiện nhiều bất cập Nhiều khi hàng cứu trợ khôngđáp ứng được nhu cầu của người dân Ngoài việc tốn nhiều chi phí cho vậnchuyển, bốc vác và trao hàng cứu trợ, cán bộ địa phương còn gặp nhiều khókhăn trong việc tổ chức cấp phát do sự khác nhau và đa dạng về chất lượng,mẫu mã, chủng loại hàng hoá, Hơn nữa, do công tác tổ chức cứu trợ khôngtốt nên đôi khi bên cho đã đưa cả những hàng không thể dùng được đến vùngthiên tai, do vậy đã làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp của hoạt động cứu trợ

So với cứu trợ hiện vật, cứu trợ bằng tiền mặt đáp ứng được nhu cầucủa người hưởng lợi, các hộ được giao quyền và sự lựa chọn trong việc sửdụng tiền và khắc phục một số hạn chế mà cứu trợ hiện vật gặp phải Tuynhiên cứu trợ bằng tiền mặt hiện là phương thức cứu trợ mới, ở Việt Namchưa có nhiều kinh nghiệm triển khai thực hiện và rất nhạy cảm nên việc tìm

ra một tiến trình cứu trợ phù hợp là rất cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế

đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng

tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị”.

Trang 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu mức độ thiệt hại và nhu cầu người dân sau lũ

- Tìm hiểu thực trạng hoạt động cứu trợ khi thiên tai tại xã Triệu Giang

- Xác định tiến trình cứu trợ hợp lý bằng tiền mặt để đề xuất với chính quyềncác cấp nhằm thực hiện hiệu quả các công tác cứu trợ khi có thiên tai xảy ra

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1 Những thiệt hại của người dân sau lũ là gì?

2 Sau lũ người dân có những nhu cầu nào ?

3 Thực trạng hoạt động cứu trợ ở địa phương sau thiên tai như thế nào?

4 Tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt trước đây có những bất cập gì?

5 Tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt như thế nào là hợp lý nhất?

1.4 Giả thuyết nghiên cứu

Tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý nhất nếu đảm bảo sự tham gia củangười dân và sự công khai minh bạch trong quá trình thực hiện

Trang 3

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Sơ lược về tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam

2.1.1.1 Khái niệm về biến đổi khí hậu

Theo báo cáo của IPCC năm 2007, biến đổi khí hậu được hiểu là mọithay đổi của khí hậu theo thời gian do sự thay đổi tự nhiên hoặc kết quả hoạtđộng của con người [12] Với định nghĩa này, nguyên nhân của biến đổi khíhậu là do chính bản thân của điều kiện tự nhiên, nội tại của nó hoặc là do bênngoài tác động vào

Tuy nhiên, Công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lại chorằng biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà nguyên nhân là sự tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp của con người dẫn đến thay đổi thành phần khíquyển toàn cầu và tạo ra thay đổi của biến thiên khí hậu tự nhiên được quansát qua thời gian [13] Ngoài ra, nghiên cứu của O'Brien và cộng sự: biến đổikhí hậu là hiện tượng tự nhiên nhưng cũng tăng tốc bởi các hoạt động của conngười [10] Hai định nghĩa này đều chỉ rõ biến đổi khí hậu là hiện tượng tựnhiên nhưng có sự góp mặt của con người

Còn nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm biến đổi khí hậu rõràng hơn đó là: biến đổi khí hậu là sự biến động giữa năm này và năm khácđược ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như:bão, lụt, hạn hán bất thường [11] Quan điểm ở đây về biến đổi khí hậu chính

là sự ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian

2.1.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trong những năm gần đây diễn biến thiên tai và thời tiết ở Việt Nam đã

có nhiều biểu hiện bất thường và phức tạp hơn, lũ lụt xảy ra ở miền Trung vàđồng bằng sông Cửu Long có xu thế tăng, nhiều nơi xảy ra lũ lớn lịch sử Lũquét xuất hiện ngày càng nhiều các tỉnh vùng núi phía Bắc, Đông Nam Bộ vàTây Nguyên Trung bình hàng năm có khoảng năm, sáu cơn bão và áp thấpnhiệt đới có ảnh hưởng đến Việt Nam Trong ba thập kỷ gần đây, số cơn bãoảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh hưởng có xu hướng tăng Bão cócường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn, quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển

Trang 4

dần về phía Nam với đường đi của bão phức tạp Mùa bão kéo dài hơn trướckia, có năm bão xuất hiện sớm vào các tháng đầu năm, kéo dài cho đến cuốinăm, khuynh hướng ngày càng có nhiều cơn bão ảnh hưởng đến Nam bộ [8].Một nghiên cứu mới đây của Trần Công Minh thuộc viện khí tượng họcSynốp cho thấy rõ các cơn bão và áp thấp nhiệt đới hình thành trên khu vựcNam và giữa biển Đông tăng rõ rệt.

Năm 2007 ở các tỉnh, thành phố duyên hải miền trung trong thời giangần hai tháng liên tiếp đã xảy ra 5 đến 6 đỉnh lũ nối tiếp nhau Cuối tháng 10đầu tháng 11 năm 2008 mưa lũ trên diện rộng đã gây ngập úng nghiêm trọngnhiều địa phương đồng bằng, trung du Bắc bộ Năm 2009, bên cạnh hàngchục trận dông lốc, mưa đá, lũ quét, lũ bùn đá,… đã có 10 cơn bão hoạt độngtrên biển Đông, đặc biệt là cơn bão số 9, một trong những cơn bão mạnh nhấttrong vòng 40 năm trở lại đây, đã tàn phá khốc liệt vào các tỉnh miền TrungViệt Nam, làm 162 người bị thiệt, 13 người mất tích và 616 người bị thương,Tổng số nhà cửa bị sập, trôi, hư hại lên tới gần 21,500 ngôi nhà, chưa kể hàngvạn hécta lúa và hoa màu của dân bị thiệt hại Đợt lũ kép 10/2010 cũng đã đãtàn phá nặng nề tại các tỉnh miền Trung Tại 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, QuảngBình có hơn 140 người chết và mất tích, hơn 300.000 nhà dân bị ngập chìmtrong lũ, nhiều công trình giao thông, công nghiệp bị phá hủy, hàng triệuhecta lúa và hoa màu bị mất trắng,… [3]

Đồng thời, tác giả Nguyễn Hữu Ninh cũng cảnh báo: Việt Nam có haithành phố ven biển lớn nhất là Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh nằmtrong danh sách 10 thành phố trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởibiến đổi khí hậu trong vòng 20-50 năm tới Như những trận triều cường lịch

sử ở thành phố Hồ Chí Minh cuối năm qua, chủ yếu là do ảnh hưởng củanước biển dâng và gia tăng nhiệt độ toàn cầu [8]

Ngoài ra, Các số liệu ghi nhận xu hướng tăng nhiệt độ ở cả 3 miền, vớimức tăng từ 0,5 đến 1°C trong vòng 1 thế kỷ qua Đi cùng với tăng nhiệt độ,lượng mưa trung bình hằng năm tăng không đáng kể, nhưng tần suất cũngnhư lượng mưa hằng tháng thay đổi Mùa mưa có lượng mưa tăng cao, mùakhô lượng mưa giảm đi dẫn tới các sự kiện thời tiết bất thường có xu hướng

Trang 5

tăng lên Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng 0,70C,mực nước biển dâng 20cm [2]

2.1.2 Con người và những rủi ro do thiên tai

Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn,

sự tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều khôngtốt, bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuậnthực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài

ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tácđộng xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Tóm lại, theoquan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu

tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy

ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đolường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thểmang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lạinhững lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thểtìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhậnnhững cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai [1]

Con người ngày càng hứng chịu nhiều rủi ro hơn do ảnh hưởng củabiến đổi khí hậu Sự thay đổi khí hậu mà đặc trưng nổi bật nhất là sự nóng lêntoàn cầu đưa đến những hiện tượng mới lạ như bão tố, các luồng gió nóng, tác động xấu đến cây trồng và con người Các nguồn nước cạn kiệt dẫn đếnthiếu nước dùng và tăng các bệnh truyền nhiễm, các thảm họa thiên nhiên nhưđộng đất, giông bão, lũ lụt có thể sẽ xảy ra ở nhiều nơi Nguyên nhân sâu xacủa những rủi ro này do sự phát triển không bền vững ở nhiều nước [1]

2.1.3 Các trường phái an sinh xã hội

2.1.3.1 Khái niệm an sinh xã hội

An sinh xã hội (ASXH ): Chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thànhviên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫnghụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thiên tai, thất nghiệp,

Trang 6

tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có[5].

Hệ thống ASXH được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trênthế giới Tuy nhiên, có thể thấy những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảohiểm xã hội, cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từquỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, sự bảo vệ do người sử dụng laođộng cung cấp, các dịch vụ liên quan đến ASXH [5]

2.1.3.2 Các trường phái an sinh xã hội

- Cứu trợ xã hội (CTXH):

CTXH là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội Theonghĩa thông thường, cứu trợ xã hội là chế độ đảm bảo xã hội đối với các thànhviên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắtcũng như lâu dài trong đời sống Việc đảm bảo này thông qua các hoạt độngcung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong mộtthời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng[9]

Đối tượng của CTXH có thể là gia đình, có thể là cá nhân Có nhữngtrường hợp cứu trợ được áp dụng để giải quyết khó khăn cho cả vùng gặp nạnhoặc cả một địa phương[9]

CTXH bao hàm hai nội dung: cứu tế và trợ giúp Cứu tế xã hội là sựgiúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết, "cấp cứu" ở mứctối cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không còn khả năng

tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình Còn trợ giúp xã hội

là sự giúp đỡ thêm bằng tiền hoặc các điều kiện và phương tiện sinh sốngthích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộcsống cho mình và gia đình, sớm hoà nhập với cộng đồng Công tác CTXH cóhai phương thức hoạt động chính: (i) CTXH thường xuyên là cứu trợ chonhững người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống, phải có sự giúp đỡthường xuyên, như người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, trẻ

em trong các gia đình quá túng thiếu hoặc dân cư ở những vùng nghèo đói, (ii)CTXH đột xuất, nhằm giúp đỡ cho những người không may bị thiên tai hoặcmất mùa mà cuộc sống bị đe dọa nếu không có sự trợ giúp của cộng đồng một

Trang 7

Trong lịch sử, hoạt động CTXH có mầm mống từ rất sớm trong xã hộiloài người; khi đó mới mang tính tự phát, Cùng với sự phát triển của tôngiáo, hoạt động CTXH cũng thay đổi, nhằm các mục đích từ thiện, nhânđạo, xuất hiện các trại tế bần, các nhà thương làm phúc, vv Đến giai đoạncách mạng công nghiệp, hoạt động CTXH trở nên rất cần thiết và đã có sự tổchức khá chặt chẽ Những người lao động và những người nghèo đã tập hợpnhau lại dưới các hình thức phường hội để giúp đỡ nhau trong cuộc sống,…Song song với các hoạt động cứu tế của nhà thờ Thiên Chúa giáo và các tổchức tôn giáo khác, các hoạt động cứu trợ từ thiện, nhân đạo của cá nhân vàcác tổ chức xã hội cũng phát triển nhanh Gần đây, các hoạt động CTXH đã

có sự tham gia chặt chẽ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ hoạtđộng CTXH chuyên nghiệp Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đã đưa CTXHvào nội dung của bảo đảm xã hội[9]

Ở Việt Nam, CTXH xuất phát từ truyền thống đạo đức lâu đời của dântộc Việt "lá lành đùm lá rách" và rất phong phú về hình thức Hiện nay,CTXH được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là một trong nhữngchính sách lớn của Nhà nước [9].

CTXH còn được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới

đỡ an sinh xã hội Vì vậy nó được coi là chế độ đảm bảo cộng đồng mang tínhnhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt [9].

Tuy nhiên, hoạt động cứu trợ không chỉ là của cá nhân, tổ chức bất kỳtrong xã hội mà trách nhiệm chính là của nhà nước Nhà nước có trách nhiệmcao nhất trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ xã hội, với tư cách là đạidiện của xã hội Các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội do nhà nước banhành, xây dựng là cơ sở quan trọng để các tổ chức, cơ quan, cá nhân tiến hànhcác hoạt động cứu trợ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng,minh bạch, đúng đắn và tính hợp pháp của cứu trợ xã hội.

- Bảo hiểm xã hội:

Là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập củangười lao động do mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ

sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo

Trang 8

an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội

ở mỗi nước [5]

2.2 Cơ sở thực tiễn

Hàng năm, khi có thông tin bão lụt hệ thống ủy ban phòng chống lụtbão và tìm kiếm cứu nạn từ trung ương đến địa phương được thành lập Hiệnnay hệ thống này đã về tận thôn, bản Nhiệm vụ chính là chỉ đạo, và thực hiệncác công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn cho khu vực bị ảnhhưởng [4]

Sau mỗi trận bão, lũ hàng đoàn phương tiện, cùng rất nhiều hàng hóa từkhắp các tỉnh, thành cả nước đổ về chia sẻ, hỗ trợ vùng thiên tai, giúp đồngbào ổn định chỗ ăn ở, sinh hoạt, phục hồi sản xuất Đó vốn là đạo lý của dântộc và cần được khuyến khích phát huy, nhưng vài năm gần đây công cuộcnày lại đang có khuynh hướng tự phát và trở thành nỗi ám ảnh cho chínhquyền các địa phương Bên cạnh hệ thống phân phối tiền, hàng của các cơquan chính trị xã hội nhà nước, khối lượng hàng hóa cứu trợ của các tổ chức

xã hội, tổ chức tôn giáo và người dân cả nước tự tổ chức quyên góp đến vớiđồng bào vùng bão lũ cũng vô cùng lớn [4]

Hiện nay, phần lớn các đoàn cứu trợ tự tổ chức, đều muốn tự đến nhữngđịa chỉ đã chọn từ trước và tận tay chuyển quà Sự trực tiếp như vậy đã có tácđộng tích cực về tình cảm với đồng bào trong cơn hoạn nạn, đồng thời vô tìnhcũng làm rối ren trong trật tự xã hội tại địa phương bị thiên tai và để lại nhữngmối bất hòa trong quan hệ láng giềng nơi tiếp nhận Điển hình như trong trận

lũ lụt kinh hoàng ở Phú Yên năm 2009, có những địa điểm của huyện Tuy

An, mỗi ngày tiếp đến hàng chục đoàn cứu trợ - nhất là ở những địa điểmđược báo chí phản ánh Trong khi đó, có những địa điểm xa hơn, cần thiếthơn thì lại không một đoàn nào tìm đến vì giao thông không thuận lợi, ít thờigian Thậm chí, có đoàn cứu trợ do không tìm được địa chỉ, đã lập trạm phânphối hàng hóa ngay giữa cánh đồng, ai nhận được bao nhiêu thì nhận [4].

Ở đợt lũ lịch sử xảy ra tháng 10/2010, nhiều tổ chức, cá nhân và tập thể

đã có mặt ngay vùng "rốn" lũ, mang theo tiền bạc, mì tôm, gạo, quần áo đểchia sẻ với người dân Oái oăm thay, khi mang quần, áo cũ đến với người dân,

Trang 9

tiếp tại địa phương Ai dùng vừa cỡ nào thì lấy cỡ đó Ông Cao Văn Hùng ở

xã Minh Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) thuộc gia đình thiệt hại nặng nề trongđợt lũ vừa qua Hay tin có đoàn cứu trợ về, ông cố chen chân để hy vọng nhậnđược cái quần, cái áo "chi viện" nào đó mặc vừa cơ thể ốm nhom sau lũ Vậynhưng thử đi thử lại chẳng có cái nào vừa cả, ông đành lắc đầu nói: "Cỡ toquá, chắc có Tây mới mặc được!" [6]

Xảy ra tình trạng nơi thừa, nơi thiếu:

Nhiều đoàn tổ chức mua, gom nhiều cơ số thuốc chữa bệnh đến cứu trợcho bà con Đoàn trước đến trao những loại thuốc chữa bệnh, làm sạch nước

và môi trường nhưng trao chưa xong thì đoàn sau đã tới Thuốc chồng lênthuốc nên nhiều đơn vị đã tự nhận thuốc về cho nhân dân, không thông quacán bộ y tế dự phòng cũng như cán bộ huyện nên xảy ra tình trạng nơi thừa,nơi thiếu Chuyện xảy ra ở xã Thượng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình), trong 2ngày có 2 đoàn cứu trợ đến khám chữa bệnh và mang 2 cơ số thuốc tặngUBND xã nhưng phía y tế dự phòng chưa nắm được Vậy là cán bộ y tế dựphòng huyện mang thuốc xuống cho xã nhưng đành chở quay về huyện vì cơ

số thuốc đã dư thừa [6]

Đối với bà con vùng thường xuyên ngập lũ, sự chia sẻ với họ, đôi khimột câu hỏi động viên là đủ Còn những thứ vật chất phục vụ cho sinh hoạtthì cũng tốt nhưng tất cả chỉ được một khoảng thời gian ngắn mà thôi Cònđiều quan trọng nhất đó là cách giúp họ có điều kiện phục hồi sản xuất đểđảm bảo cuộc sống lâu dài Hiện tại, những người dân vùng rốn lũ rất cầnđược sự giúp đỡ về cây giống, con giống để họ khôi phục sản xuất Mongrằng sự quan tâm của các tổ chức sẽ giúp đỡ người dân đứng dậy sau trận lũlịch sử này [6]

Người dân xin cứu trợ những thứ thiết thực:

Tại sân UBND xã Hưng Lam (Hưng Nguyên, Nghệ An), khi nhận quàcứu trợ, chị Phạm Thị Lý, ở xóm 6 đã khóc Chị cho biết, hiện chồng chị đãmất vì ung thư, mình chị gánh nặng 5 con thơ Cháu nhỏ nhất là Dư ThịThương, 10 tuổi, sau lũ đang bị ốm đang phải điều trị ở nhà Chị Lý bảo, mấyngày nay không có cái gì bồi bổ cho con Cái gì cũng thiếu nhưng điều chịcần nhất bây giờ lúa giống và phân bón cho mùa vụ sắp tới [6]

Trang 10

Ông Dư Xuân Định, ở xóm 7 Hưng Lam bày tỏ: “Được các nhà hảotâm giúp cái chi là quý cái nấy rồi nhưng mong cấp trên xem xét, thay vào mìtôm, nước mắm, thì hãy cứu trợ cây, con giống, phân bón Những nhà nào

bị hư hỏng, sập đổ được hỗ trợ xi măng, vật liệu thì quý biết mấy Bởi đó lànhững thứ người dân cần trong lâu dài” [6]

Đại diện cho nhiều hộ dân ở vùng lũ xóm 7, ông Dư Xuân Bằng, xómtrưởng cho biết: “Hiện tại, nhiều hộ dân muốn gieo trồng lại lúa, hoa màu vàcác cây ngắn ngày để cải thiện nhu cầu thực phẩm trước mắt cũng không thểkiếm đâu ra hạt giống để canh tác Cứu trợ có thể giúp tránh đói hiện thờinhưng không thể khiến người dân ấm no dài lâu” Ông Bằng ao ước: “Giánhư được các tổ chức, đơn vị cấp trên hỗ trợ cho dân vùng lũ một nhà ở cộngđồng thì hay biết mấy Khi lũ dâng thì có nhà cho người già, trẻ em tránh lũ,Chứ khi nước dâng lên nhanh, nan giải nhất là người già và trẻ em” [6]

Nhiều gia đình vùng lũ Hương Thủy (Hương Khê, Hà Tĩnh) cũngchung tâm sự: “Cứ mỗi lần thấy xe chở hàng cứu trợ miền Trung về tới tậnxóm trực tiếp trao những gói hàng cứu trợ đến tận tay người dân là dân mừnglắm Dù là một cái quần áo cũ, hay một gói mì tôm đến tận tay người dâncũng quý lắm rồi Nhưng xin các nhà hảo tâm hãy thương thì thương cho trọn.Mỗi lần về với dân xin hãy chia sẻ và thấu hiểu Vẫn biết “lụt thì lụt cả làng”nhưng có rất nhiều gia đình sau lũ nhà cửa bị cuốn trôi, đổ sập hoàn toàn Dânchúng tôi vẫn mong sẽ có những ngôi nhà của trái tim đồng bào cả nước dànhcho những gia đình bị thiệt hại vì lũ” [6]

Chị Nguyễn Thị Hằng - Phó Bí thư Đảng ủy xã Hương Thủy bộc bạch:

“Cam go nhất hiện nay là lo vấn đề giống vụ mới cho dân Sau lũ, người dânnơi đây cũng đang gặp nhiều khó khăn lắm, thú thật kể cả thức ăn cho trâu bòbây giờ cũng nan giải Rơm rạ hư, cỏ xanh thì ngập chết hết, người dân vùngngập lụt Hương Thủy giờ đang rất khó khăn trong việc chăn nuôi gia súc.Trước mắt, xã đang chỉ đạo tiến hành khẩn trương triển khai kế hoạch sảnxuất vụ đông xuân và chỉ đạo người dân trồng cỏ để chăn nuôi” [6]

Trang 11

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những hộ được nhận cứu trợtiền mặt sau thiên tai từ các chương trình dự án Ngoài ra, cán bộ lãnh đạo củađịa phương gồm cán bộ thôn, xã và cán bộ nằm trong ban cứu trợ cấp huyện,tỉnh cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài này

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: nghiên cứu này được thực hiện tại 5 thôn của xã TriệuGiang đó là: Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, Tả Kiên, Phú Áng, Phước Mỹ,Đây là những thôn thường xuyên được nhận cứu trợ hàng năm khi thiên tai

- Phạm vi thời gian: số liệu phục vụ cho nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấpqua các năm từ 2008-2010, và số liệu sơ cấp năm 2010

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Tình hình cơ bản của xã Triệu Giang

+ Điều kiện tự nhiên

+ Điều kiện kinh tế xã hội

- Thiệt hại và nhu cầu của người dân khi lũ

+ Thiệt hại của xã khi lũ

+ Nhu cầu người dân khi lũ

- Thực trạng hoạt động cứu trợ sau thiên tai ở Triệu Giang

+ Hoạt động cứu trợ sau thiên tai ở Triệu giang

+ Tình hình và kết quả sử dụng hàng cứu trợ của người dân

+ Các tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt của các tổ chức

+ Ưu nhược, điểm của các hình thức cứu trợ

-Xác định tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý

Trang 12

3.3 Phương pháp nghiên cứu

 Chọn điểm nghiên cứu

Điểm nghiên cứu được chọn là xã Triệu Giang - Triệu Phong - Quảng Trị,

đảm bảo các tiêu chí:

+ Mang tính đại diện cho hoạt động cứu trợ tại huyện Triệu Phong- Quảng Trị+ Là xã thường xuyên có thiên tai xảy ra

+ Xã thường xuyên nhận được cứu trợ, kể cả tiền mặt

+ Thuận lợi cho việc điều tra thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu

 Chọn mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên có định hướng đó là: các hộ đãnhận được cứu trợ bằng tiền mặt do Irish Aid, ECHO, nhà nước tài trợ cũngnhư một số tổ chức tư nhân khác tài trợ Số mẫu được chọn là 80 hộ ở 5 thônthường xảy ra thiên tai

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

 Thu thập số liệu thứ cấp:

Thu thập báo cáo kinh tế xã hội, các báo cáo liên quan đến việc cứu trợ,các báo cáo về tình hình thiên tai, về việc khắc phục thiệt hại sau lũ Báo cáocủa các dự án cứu trợ sau thiên tai tại xã Triệu Giang từ năm 2008-2010

 Thu thập số liệu sơ cấp:

+ Phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi:

Bảng hỏi được thiết kế mục đích nhằm thu thập các thông tin tại 80 hộ

đã chọn về các nội dung: số khẩu, lao động chính, ngành nghề, thu nhập, thiệthại do thiên tai của hộ, số lần hộ nhận được hỗ trợ, số tiền được nhận, lý do

hộ được nhận hỗ trợ, mục đích của việc sử dụng tiền cứu trợ và kết quả, ýkiến đánh giá của hộ về các hình thức cứu trợ, việc thực hiện cứu trợ bằngtiến mặt và tiến trình cứu trợ tiền mặt hợp lý nhất (xem chi tiết tai phụ lục 4)

Trang 13

+ Phỏng vấn người am hiểu:

Những người cung cấp thông tin nòng cốt gồm: thành viên ban cứu trợcấp thôn, xã; thành viên ban cứu trợ thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xãhội; thành viên ban cứu trợ Hội chữ thập đỏ cấp tỉnh, huyện, Nhằm thu thậpcác thông tin về việc phân phát hàng cứu trợ trong lũ, sau lũ, cơ quan phốihợp thực hiện, loại hình cứu trợ, tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt, các khókhăn khi thực hiện hoạt động cứu trợ

+ Thảo luận nhóm

- Nhóm cán bộ khoảng 8 người bao gồm: thành viên ban cứu trợ cấp xã,trưởng thôn của các thôn đã được nhận cứu trợ Mục đích tìm hiểu tiến trìnhcứu trợ trước đây, ưu ,nhược điểm của của các tiến trình cứu trợ, những khókhăn khi thực hiện các tiến trình cứu trợ đó, các tiêu chí để chọn hộ, các vấn

đề xảy ra khi phát tiền Công cụ đã được áp dụng trong thảo luận nhóm: phântích liệt kê, sắp xếp ưu tiên đã được sử dụng để thu thập các thông tin này

- Nhóm người dân khoảng 12 người trong đó có 6 hộ được nhận hỗ trợ từ dự

án Irish Aid, ECHO và nhà nước còn 6 hộ không được nhận hỗ trợ Mục đíchnhằm kiểm tra lại thông tin điều tra, lấy thông tin cấp cộng đồng về ưu nhượcđiểm của các hình thức cứu trợ, ý kiến đánh giá về cách thức thực hiện củacác dự án cứu trợ Công cụ thảo luận nhóm: liệt kê, sắp xếp ưu tiên sẽ được

sử dụng để thu thập các thông tin trên

Trang 14

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình cơ bản của xã Triệu Giang

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Triệu Giang là xã có địa bàn thấp trũng, với tọa độ địa lý

16047’34” vĩ độ Bắc 10709’2” kinh độ Tây, phía Bắc giáp với xã Triệu Thuận,phía Tây Bắc giáp với thành phố Đông Hà, phía Tây Nam và phía Nam giápvới xã Triệu Ái, bao quanh phía Đông là dòng sông Thạch Hãn

Vị trí của xã nằm gọn trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu và là khu vực chịuảnh hưởng gió mùa châu Á Nằm sát dòng sông Thạch Hãn, xã vừa chịu ảnhhưởng của gió mùa Đông Bắc vừa bị gió mùa Tây Nam chi phối Do vậy, đây

là nơi luân phiên tác động và tranh giành ảnh hưởng của các khối không khí cónguồn gốc khác nhau theo mùa Chính sự hội tụ của không khí lạnh từ phía Bắctràn xuống và không khí nóng ẩm từ phía Nam di chuyển lên đã gây ra mưalớn, dông trên khu vực này và hình thành những trận lũ lớn và lũ quét làmtrượt lở đất, xói lở bờ sông

Đặc điểm địa hình: Triệu Giang là xã thấp trũng, có địa hình bán sơn địa, nằm

dọc theo sông Thạch Hãn nên thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt Xãbao gồm 6 thôn: Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, Phú Áng, Phước Mỹ, Tả Kiên

và Tiền Kiên

Điều kiện khí hậu- thủy văn:

Khí hậu: Triệu Giang nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân thành

2 mùa rõ rệt, mùa hè khô nóng, mùa đông ẩm ướt Nhiệt độ trung bình hàngnăm khoảng 24-250C, nhưng có biên độ giao động rất lớn, tháng cao nhất đạt38-390C, tháng thấp nhất 12-130C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.500-2.700mm, cao hơn mức trung bình cả nước, nhưng nhìn chung phân bố khôngđều tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12 Do vậy, rất dễ xảy ra thiên tai,

lũ lụt

Thủy văn: đặc điểm thủy văn của xã triệu giang bị chi phối bởi con sông

Thạch Hãn Sông có chiều dài 155 km, bắt nguồn từ dãy núi TrườngSơn ở phía Tây tỉnh Quảng Trị và đổ ra biển Đông qua Cửa Việt Sông cólưu lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 130 m³/giây Từ khi công trình

Trang 15

Thạch Hãn mùa hè cạn trơ đáy, có thể lội bộ qua sông đoạn thị xã Quảng Trị

và nhiều đoạn khác; mùa lũ thì nước dâng cao ngập toàn bờ kênh Để giảiquyết tình trạng này năm, 2006 chính quyền sở tại cho xây dựng các điểmtràn trên bờ đập kênh để chia lũ dòng sông Nhưng lũ vẫn gây ảnh hưởng rấtlớn cho xã Triệu Giang về mùa mưa

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Triệu Giang

Tìm hiểu về điều kiện kinh tế của xã là cần thiết để có thể hiểu đượctiềm năng, thế mạnh cũng như khó khăn của địa bàn nghiên cứu Chúng tôi đãtìm hiểu điều kiện kinh tế- xã hội của xã ở một số chỉ tiêu khác nhau và kếtquả được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Triệu Giang, 2010

Diện tích đất phi nông nghiệp ( bao

Phân theo loại hộ

Trang 16

Kết quả ở bảng 1 cho thấy, xã Triệu Giang có nền kinh tế chủ yếu phụthuộc vào nông nghiệp Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 713,86 ha trongđó: diện tích đất nông nghiệp của xã là 291,6 ha chiếm 49,47%, tỷ lệ này khá cao

so với diện tích đất của xã; Diện tích đất phi nông nghiệp (bao gồm đất ở và đấtchuyên dùng) chiếm 40,85% còn lại là đất chưa sử dụng Có 354 hộ phi nôngnghiệp chiếm 33%, hộ chuyên nông có 719 hộ chiếm 67%, không có hộ nuôitrồng thủy sản, cho thấy cơ cấu ngành nghề của xã còn kém đa dạng Như vậy,kinh tế xã Triệu Giang có mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp khá cao, mà nôngnghiệp là ngành phụ thuộc cao vào điều kiện tự nhiên, nhất là thời tiết Khi cónhững hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra, các đối tượng cây trồng vật nuôirất dễ bị giảm năng suất dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế của người nông dân

Số liệu ở bảng 1 cũng cho thấy, xã có 1073 hộ với số nhân khẩu 4840,lực lượng lao động của xã khá dồi dào, số người trong độ tuổi lao động là

2290 người (chiếm 47,3% tổng số khẩu) Với lực lượng lao động dồi dào sẽ làđộng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, nhưng kéo theo đó là những

hệ quả cần được chú ý như: khó khăn cho chính quyền địa phương trong việcgiải quyết việc làm và đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân Theo chuẩnnghèo được điều chỉnh năm 2010, của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội(300.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 390.000

chiếm 25%, hộ trung bình có 625 hộ chiếm 58%, hộ nghèo có 180 hộ chiếm17%, cho thấy số hộ nghèo trong xã còn khá nhiều, các hộ này lại rất dễ bịảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt

Tóm lại, xã Triệu Giang là một xã có điều kiện tự nhiên gặp nhiều khókhăn bởi thời tiết Mức độ phụ thuộc của kinh tế vào nông nghiệp cao, cơ cấungành nghề kém đa dạng,… Do vậy người dân sống trong địa bàn xã rất dễ bịtổn thương bởi nguy cơ về thiên tai

Trang 17

4 . 1.2.2 Đặc điểm các hộ khảo sát

Đặc điểm chung của các hộ được khảo sát trong nghiên cứu này đượcđược thể hiện qua các chỉ tiêu về: tuổi chủ hộ, loại hộ, trình độ văn hóa củachủ hộ, số lao động, số nhân khẩu, thu nhập của hộ/năm, hiện trạng nhà ở, sốthuyền ghe Các đặc điểm này liên quan đến khả năng ứng phó, mức độ thiệthại và nguy cơ bị tác động bởi thiên tai của các hộ khảo sát (bảng 2)

Bảng 2: Thông tin chung của các hộ khảo sát

Nhà phải chuyển đi nơi khác

Trang 18

Hộ được nhận cứu trợ chủ yếu là hộ nghèo, có tới 98,75% là hộ nghèo,chỉ có rất ít hộ trung bình (1,25%), không có hộ khá Thực tế hộ nghèo là hộ

dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai và thường được ưu tiên về phúc lợi xã hội Sốkhẩu/hộ là không cao trung bình từ 3-4 khẩu/hộ, số lao động trung bình là 1lao động/hộ số người ăn theo nhiều nên đó là một trong những khó khăn lớncủa hộ trong xóa đói giảm nghèo Số khẩu trên lao động là 2,81 khẩu là khácao

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong 80 hộ khảo sát có tới 51 hộ cónhà tạm bợ chiếm 63,75% nguyên nhân là do hộ chủ yếu là già neo đơn, hộnghèo không có tiền để sửa sang lại nhà cửa, khi gặp lũ hoặc bão mạnh rất dễsụp đổ, tốc mái Không có nhà ở phải đi ở nhờ có 3 hộ chiếm 3,75% các hộnày đều là hộ già neo đơn, hiện tại trong 3 năm gần đây không có hộ nào phảichuyển nhà đi nơi khác để tránh rủi ro Số thuyền, ghe hiện có tại các hộkhảo sát chỉ có 1 cái là quá ít nên khả năng phòng tránh thiên tai của các hộ làrất thấp, gây khó khăn trong công tác di dời khi lũ dâng của chính quyền xã

và của chính các hộ

Tóm lại, trình độ văn hóa của chủ hộ là thấp, độ tuổi trung bình lại cao,với thu nhập chính từ nghề nông, mà số người ăn theo còn nhiều nên các hộrất khó thoát nghèo Trong khi đó số nhà tạm bợ còn nhiều và phương tiệnphòng tránh thiên tai, lũ lụt rất ít, lại ở vùng thấp trũng nên các hộ rất dễ bịảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt

4.2 Thiệt hại và nhu cầu của người dân khi thiên tai

4.2.1 Thiệt hại của xã khi thiên tai

4.2.1.1 Thiệt hại của toàn xã

Nghiên cứu về mức độ thiệt hại của xã là cần thiết để có thể hiểu đượcnhững tổn thất chung của xã sau thiên tai Đồng thời, là cơ sở để đánh giá nhucầu và xác định mức cứu trợ phù hợp Chúng tôi đã tìm hiểu tình hình thiệthại của xã sau thiên tai ở một số chỉ tiêu khác nhau và kết quả được thể hiện ởbảng 3

Trang 19

Bảng 3: Tình hình thiệt hại do lũ lụt của xã Triệu Giang qua các năm

4 Thiệt hại về người

5 Lương thực, lạc đậu, bị hỏng Tấn 25,6 244,87 67,8

6 Các công trình thủy lợi M 3 0 17633,5 10150,75

7 Các công trình giao thông

8 Điện lực

9 Thiệt hại nhà cửa

Trang 20

Số liệu ở bảng 3 cho thấy, xã Triệu Giang là một xã thường xuyên bịảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt Phạm vi ảnh hưởng là khá rộng, thiên tai khôngchỉ gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng nông thôn như: điện, hệ thống thủy lợi,đường, trường trạm mà còn ảnh hưởng lớn đến ngành nghề chính trên toàn xã.Trong 3 năm qua thì năm 2009 là có mức độ thiệt hại lớn nhất Năm 2008 lànăm chịu ảnh hưởng thiên tai ít nhất, những thiệt hại trong năm này chủ yếu

là thiệt hại trong trồng trọt chăn nuôi, các thiệt hại về dịch vụ, cơ sở hạ tầng làkhông nhiều

Năm 2009, do bão đổ bộ nhanh, nước lũ dâng cao, bờ đê sạt lỡ làm 24nhà bị sói lỡ móng, gió mạnh cộng nước cao làm 5 nhà bị sập, 5 nhà bị tốcmái, trên toàn xã có 982 nhà bị ngập lụt Gây thiệt hại không chỉ trong nhà mà

cả ngoài đồng, bão đã làm 244,87 tấn lương thực bị hư hỏng nặng, 93,9 hacây trồng nông nghiệp bị ngập úng, tổng diện tích đất bị sát lỡ lên tới 2000 m3

(bao gồm sạt lỡ đất ở, đất 2 bên bờ sông, đất canh tác) Ngoài ra, công trìnhgiao thông, cơ sở hạ tầng cũng bị thiệt hại nghiêm trọng (bảng 3)

Số liệu bảng 3 cũng cho thấy, năm 2010 mức độ thiệt hại là không lớn,tuy nhiên diện tích ngập lụt trên toàn xã là khá rộng, bị ngập tới 652,3 ha, làmhoa màu đang canh tác bị hỏng Thiệt hại về các công trình thủy lợi cũng

đập ngăn mặn), đường giao thông thôn bị hỏng tới 3500m, gây khó khăn choviệc đi lại ở một số điểm trong xã Năm 2010, không có nhà bị tốc mái ,bịsập, thời gian ngập lũ cũng ít hơn so với năm 2009, nhưng số nhà ngập lụtcũng khá nhiều lên tới 679 cái Trong năm này diện tích đất sạt lỡ lên tới

đoán của một số hộ sống ở đây chỉ trong vòng 3-4 năm nữa các hộ sống gần

bờ sông của thôn Trà Liên Đông sẽ mất đất ở

Thiệt hại về người trong cả 3 năm là không lớn, nặng nhất năm 2009 có

7 người bị thương Tuy nhiên, sau lũ thì hầu như trong gia đình nào cũng cóngười bị bệnh Mưa lũ kéo dài cũng làm cho các hộ buôn buôn bán, các hộlàm nghề phụ khác phải nghỉ việc, làm giảm thu nhập của các hộ

Trang 21

Tóm lại, xã Triệu Giang là xã thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiêntai Thiên tai không chỉ gây ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, nguồn thunhập của hộ mà còn làm hư hại cơ sở hạ tầng, các công trình đang xây dựngtrên toàn xã Tài nguyên đất tại xã rất dễ bị ảnh hưởng dù thiên tai ở mức độnhẹ vì xã ở địa bàn quá thấp trũng, lại có sông chảy qua địa phận Trongtương lai xã còn chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai nếu không có các biệnpháp ứng phó thích hợp Để tìm hiếu sâu hơn về tình hình thiệt hại của xãchúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tình hình thiệt hại của hộ nhằm đánh giátoàn diện về những tổn thất do thiên tai gây ra tại địa phương.

4.2.1.2 Thiệt hại của các hộ khảo sát

Xác định thiệt hại ở các hộ khảo sát là rất quan trọng vì đây là cơ sở đểđánh giá nhu cầu của hộ và xác định mức hỗ trợ, đồng thời phản ánh khả năngứng phó với thiên tai của các hộ Thiệt hại của các hộ được khảo sát trên 2tiêu chí chính: Thiệt hại về đời sống của hộ và thiệt hại trong sản xuất kinhdoanh dịch vụ của hộ

Các thiệt hại về đời sống của hộ

Triệu Giang là địa phương thường xảy ra lũ lụt ảnh hưởng rất lớn đếnđời sống của hộ Chúng tôi đã khảo sát tổn thất của hộ trên một số chỉ tiêunhư: lương thực hư hỏng do ngập nước, thiệt hại nhà cửa, đất ở và tình trạngsức khỏe của hộ sau lũ kết quả được trình bày ở bảng 4

Kết quả ở bảng 4 cho thấy, năm 2009 các hộ có mức độ thiệt hại lớnnhất, do có bão lớn kèm theo vỡ đê Trong năm này về nhà cửa có tới 8 hộ bịthiệt hại nặng (mức thiệt hại >50%), đa số là nhà bị tốc mái và xói móng Cótới 14 hộ bị thiệt hại lương thực thực phẩm (mức thiệt hại >50%) do nướcdâng, chảy mạnh gây ướt và trôi lương thực dự trữ Thiệt hại về người làkhông đáng kể, trung bình có 1-2 người trong gia đình mắc một số bệnh sau

lũ như: tiêu chảy, đau mắt đỏ, cảm cúm, các bệnh này thường kéo dài 1-2 tuầnsau lụt Kết quả này phù hợp với số liệu thu thập ở xã

Trang 22

Bảng 4: Tình hình thiệt hại về đời sống của hộ qua các năm

Thiệt hại trong sản xuất - kinh doanh, dịch vụ

Ngoài những tổn thất về đời sống, bão lụt còn gây nhiều thiệt hại cho

hộ trong sản xuất, kinh doanh Nhằm đánh giá đầy đủ về những thiệt hại của

hộ do bão lụt Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về những chỉ tiêu này và kếtquả được trình bày ở bảng 5

Trang 23

Bảng 5: Tình hình thiệt hại về sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của hộ

Trang 24

Kết quả ở bảng 5 cho thấy, thiệt hại trong sản xuất kinh, doanh là lớnhơn so với thiệt hại trong đời sống về cả mức độ và số hộ bị ảnh hưởng Nhìnchung, năm nào các hộ cũng bị thiệt hại, nhưng năm 2009 là năm có mức thiệthại lớn nhất

Năm 2008, là năm có mức thiệt hại thấp nhất, các thiệt hại trong nămnày tập trung vào đất đai, cây trồng, hoa màu là chính Về đất đai chỉ có 6 hộ

bị thiệt (mức thiệt hại >30%) Đối với cây trồng không có hộ nào ở mức thiệthại nặng (ở mức >50%), chỉ có 11 hộ thiệt hại (mức thiệt hại 10-30%) câytrồng đang canh tác Ngoài ra hoạt động chăn nuôi, buôn bán, các nghề phụkhác cũng bị ảnh hưởng nhưng rất thấp

Năm 2009, các thiệt hại chính là cây trồng, vật nuôi, đất nông nghiệpvới mức tổn thất cao ( >50%) với tỷ lệ số hộ lần lượt là 35; 42; 10 Nguyênnhân do lũ lớn nên cây trồng hoa màu bị ngập úng trên diện rộng, một số cây

ăn quả bị ngã đỗ do bão Các vật nuôi bị thiệt hại là do nước lũ cuốn trôi, tổnthất này kéo theo ô nhiễm môi trường nặng do xác vật nuôi bị trôi ngâm nướctrong nhiều ngày làm bốc mùi khó chịu Đất nông nghiệp trong năm này bịbồi lấp cát khá nặng trung bình bị lấp từ 40-50cm làm các hộ mất rất nhiềuthời gian để đưa cát ra khỏi ruộng, một số hộ còn phải thuê người để làm

Năm 2010, các thiệt hại chính của hộ trong sản xuất cũng tương tự năm

2009 với mức tổn thất đến >50% có số hộ tương ứng là 7; 8; 3 Còn các thiệthại khác và thiệt hại trong buôn bán dịch vụ có mức độ nhẹ đa số đều ở mức

<10% Như vậy các hoạt động sản xuất thường phụ thuộc vào điều kiện tựnhiên và dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai hơn là các hoạt động khác

Tóm lại, thiên tai lũ lụt đã gây ảnh hưởng lớn cho người dân cả trongsản xuất và đời sống Các thiệt hại trong sản xuất tập trung chủ yếu vào trồngtrọt, chăn nuôi, đất canh tác, buôn bán dịch vụ, các thiệt hại khác và có sựkhác biệt về mức độ thiệt hại giữa các năm Mức độ thiệt hại lớn nhất là chănnuôi, tiếp đó là trồng trọt và đến đất nông nghiệp Các hoạt động sản xuấtthường phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên vàdễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai hơncác hoạt động sản xuất khác Do đó việc xác định nhu cầu cứu trợ và mức hỗtrợ cần chú ý tới đặc điểm này

Trang 25

4.2.2 Nhu cầu người dân khi xảy ra thiên tai

Với mỗi thời điểm thì người dân có các nhu cầu khác nhau, thôngthường người dân có rất nhiều nhu cầu cùng một lúc các tổ chức không thểđáp ứng nổi, nên việc xác định các nhu cầu thiết yếu nhất là rất quan trọng,vừa đảm bảo cho việc hỗ trợ hiệu quả mà lại giúp đỡ được cho người dân

4.2.2.1 Nhu cầu người dân trong khi lũ

Nghiên cứu về nhu cầu của người dân trong lũ là rất cần thiết, nhằmđảm bảo cho công tác cứu trợ hiệu quả Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu nhucầu của người dân trên các chỉ tiêu khác nhau, kết quả được thể hiện ở biểu

đồ 1 và bảng 9 (phụ lục 3)

Biểu đồ 1: Nhu cầu của các hộ trong khi lũ (% số hộ điều tra, n=80 hộ) (Nguồn, phỏng vấn hộ,2011)

Số liệu ở biểu đồ 1 cho thấy, nhu cầu quan trọng nhất của hộ trong khi

lũ là hỗ trợ lương thực, chiếm tới 97,5% số hộ khảo sát Nhu cầu thiết yếu thứ

2 là chỗ trú ẩn có 16,25% số hộ khảo sát, trường hợp này thường rơi vào các

hộ có nhà cửa tạm bợ, ở vùng thấp trũng, gần bờ sông, trong lũ nhu cầu vềnước uống cũng khá cần thiết, thường là do các hộ không có dụng cụ chứanước dự trữ, hoặc chủ quan không chuẩn bị,

Trang 26

Ngoài ra các hộ còn cần một số nhu cầu khác như: Thông tin liên lạc,

áo phao, không có hộ nào cần hỗ trợ tiền, vì có tiền mà nước cao, bão lớnthì cũng không thể mua được Do đó, công tác cứu trợ khẩn cấp cần chú ý tới

3 nhu cầu thiết yếu này để tổ chức tốt công tác chuẩn bị, cứu nạn, cứu hộ, đáp ứng được các khó khăn mà người dân gặp phải khi có thiên tai

4.2.2.2 Nhu cầu người dân sau lũ

Sau lũ cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn, phát sinh nhiềunhu cầu cần giải quyết, bao gồm cả nhu cầu khôi phục đời sống và khôi phụcsản xuất Nhu cầu của hộ sau lũ được phân tích theo hai mốc thời gian là: nhucầu một tháng đầu sau lũ và nhu cầu sau lũ 1-3 tháng Kết quả nghiên cứuđược thể hiện qua biểu đồ 2 và bảng 10 (phụ lục 3)

Biểu đồ 2: Các nhu cầu của hộ sau lũ (% số hộ khảo sát, n=80 hộ) (Nguồn: phỏng vấn hộ, 2011)

Kết quả ở biểu đồ 2 cho thấy, một tháng đầu sau lũ người dân cần khôiphục đời sống, nhu cầu được ưu tiên hàng đầu là mua lương thực thực phẩm

có tới 62,5% số hộ điều tra Sau lũ đồ dùng sinh hoạt bị trôi và hư hỏng nêncác hộ cũng rất cần sắm sửa đồ dùng sinh hoạt cho gia đình Có 16,25% hộ lại

ưu tiên cho tu sửa lại nhà cửa Ngoài ra sau lũ một tháng đầu do nguồn nước

Trang 27

dùng bị ô nhiễm nên ở một số hộ cần nước dùng cho sinh hoạt (7,5% số hộđiều tra).

Từ 1-3 tháng sau lũ nhu cầu chủ yếu của các hộ là khôi phục sản xuất

do lúc này nước đã rút và lũ lụt thường xảy ra vào đầu vụ sản xuất Chính vìvậy, trong thời điểm đó mua giống cây trồng vật nuôi được là được ưu tiên,

có tới 60% số hộ cho rằng họ cần tiền để mua giống cây trồng vật nuôi đểkhôi phục lại sản xuất Việc nạo vét cát bị bồi lấp để có thể tiếp tục sản xuấtcũng được xem trọng, tập trung vào các hộ có ruộng bị bồi cát nặng và chủyếu cần vào 1-3 tháng sau lũ

Kết quả điều tra cũng cho thấy, sau lũ 1- 3 tháng đa số (98,75%) các hộkhảo sát đều cần có tiền để mua phân bón, giống cây trồng vật nuôi, lươngthực thực phẩm, tu sửa lại nhà cửa,… Nên cứu trợ sau lũ cần chú ý tới nhucầu thiết yếu này để đảm bảo hiệu quả cho công tác cứu trợ Tránh tình trạngcho mà không dùng hoặc sử dụng không đúng mục đích

Tóm lại, với mỗi thời điểm khác nhau khi xảy ra thiên tai người dân lại

có các nhu cầu khác nhau, trong lũ các hộ có nhu cầu ăn uống là chính, sau lũmột tháng đầu người dân có nhu cầu khôi phục lại đời sống, sau 1-3 tháng thìlại có nhu cầu khôi phục sản xuất Muốn đáp ứng các nhu cầu sau lũ thìphương án hiệu quả nhất là hỗ trợ tiền mặt cho hộ để họ tự quyết định

4.3 Thực trạng hoạt động cứu trợ ở xã Triệu Giang

4.3.1 Thực trạng hoạt động cứu trợ

4.3.1.1 Thực trạng hoạt động cứu trợ ở cấp xã

Tìm hiểu các hoạt động cứu trợ khi thiên tai xảy ra là rất cần thiết Vì

nó phản ánh được thực trạng các hoạt động cứu trợ, những hạn chế mà côngtác cứu trợ đang gặp phải Đồng thời đây cũng là cơ sở để các tổ chức cứu trợquyết định nên hỗ trợ hay không, nếu có theo hình thức nào là phù hợp

Hoạt động cứu trợ khi thiên tai có thể chia làm 2 loại chính Cứu trợtrong thiên tai, hàng cứu trợ 100% là hiện vật dành cho các đối tượng bị côlập do lũ lụt Cứu trợ sau thiên tai, cứu trợ loại này bao gồm cả tiền và hiệnvật nhằm giúp người dân ổn định lại cuộc sống sau lũ, đối tượng được cứu trợ

Trang 28

là tùy vào tiêu chí của từng tổ chức Tuy nhiên, có một đặc điểm chung trongcác tiêu chí đó là hộ hưởng lợi phải bị thiệt thiệt hại do thiên tai.

Bảng 6: Thực trạng hoạt động cứu trợ khi thiên tai tại Triệu Giang, qua các năm

Cứu trợsau lũ

Cứu trợtrong lũ

Cứu trợsau lũ

(Nguồn: Báo cáo thống kê UBND xã triệu giang, 2011)

Kết quả bảng 6 cho thấy, tại xã Triệu Giang hoạt động cứu trợ tập trungchủ yếu sau thiên tai, cứu trợ sau thiên tai nhiều về cả tiền và hiện vật lẫn sốđợt Các hiện vật cứu trợ cũng khá đa dạng, có loại dùng để ăn, nhưng cũng

có loại phục vụ cho sinh hoạt gia đình Năm 2009, các hoạt động cứu trợ lànhiều hơn năm 2010

Cứu trợ trong khi lũ còn rất hạn chế, đòi hỏi phải nhanh chóng và kịpthời Tuy nhiên tại địa phương lại thể hiện sự chậm trễ, năm 2009 là năm cóbão lớn nhưng chỉ có 70 thùng mì được phát trong khi lũ Năm 2010 có thônngập trên 1,2m như thôn Trà Liên Đông, nhưng lại không có sự cứu trợ nào.Điều này được giải thích do vùng này thuộc vùng nước chảy xiết thuyềnkhông thể vào được Thực tế là xã còn nhiều hạn chế trong công tác chuẩn bị.Mặt khác, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, trên toàn xã không có một cái ca nô nào

để cứu nạn cứu hộ khi cần thiết Toàn xã chỉ có một xuồng máy nhưng lạikhông đi qua được vùng nước chảy mạnh do đã quá cũ Để khắc phục tìnhtrạng này cuối năm 2010 xã đã được Ailen hỗ trợ cho 2 xuồng máy công suấtlớn Để đảm bảo tốt cho công tác cứu nạn cứu hộ khi có thiên tai

Trang 29

Kết quả ở bảng 6 cũng cho thấy, công tác cứu trợ hiện nay quá chồngchéo, với cứu trợ sau lũ chỉ riêng năm 2009 đã có tới 20 đợt cứu trợ bao gồm

cả tiền và hiện vật trong đó có 7 đợt hỗ trợ tiền mặt với tổng số tiền230.700.000 đồng, còn cứu trợ hiện vật có 13 đợt bao gồm các mặt hàng nhưgạo, mì tôm, vật dụng sinh hoạt, Năm 2010 có 7 đợt trong đó có 2 đợt cứutrợ bằng tiền, 5 đợt cứu trợ bằng hiện vật Cứu trợ chồng chéo đã gây khókhăn rất lớn cho công tác phân phát hàng và chọn hộ hưởng lợi, vì hàng cứutrợ tới từ nhiều kênh, các suất quà có giá trị khác nhau, tiêu chí chọn hộ lạitùy thuộc vào từng tổ chức Do đó, hoạt động cứu trợ cần phải xem xét lại ởkhâu tổ chức, cứu trợ nên thông qua một số kênh nhất định để tránh phiền hàcho địa phương

Thực tế cho thấy, nguồn cứu trợ trong thiên tai 100% là của các tổ chứctrong nước, từ các kênh: Hội chữ Thập đỏ, Sở Lao động - Thương binh và Xãhội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Còn nguồn cứu trợ sau thiên tai khá đadạng, có cả cứu trợ trong nước và nước ngoài, các cứu trợ từ nước ngoài tuy ítđợt nhưng số tiền và hiện vật được cứu trợ rất lớn Tuy nhiên, lại khá chậm vềmặt thời gian do phải trải qua nhiều thủ tục

Tóm lại, công tác cứu trợ nói chung có tồn tại rất lớn đó là chậm về mặtthời gian Nguyên nhân xuất phát từ khâu thủ tục hành chính và về phía ngườithực hiện Mặt khác là do sự yếu kém trong lập kế hoạch Cứu trợ sau lũ tuy

đa dạng về hình thức nhưng lại quá chồng chéo do cứu trợ thông qua nhiềukênh, gây ra khó khăn cho hoạt động cứu trợ Nguồn cứu trợ khi thiên taikhông chỉ được huy động từ các tổ chức trong nước mà còn của các tổ chứcquốc tế

4.3.1.2 Thực trạng hoạt động cứu trợ ở cấp hộ

Việc tìm hiểu hoạt động cứu trợ tại các hộ khảo sát là rất cần thiết, đểkiểm chứng thông tin đã thu thập tại cấp xã Đồng thời, tìm hiểu những bấtcập, khó khăn, thuận lợi của công tác cứu trợ hiện nay Chúng tôi đã tiến hànhnghiên cứu trên các chỉ tiêu về thời gian cứu trợ, thực trạng cứu trợ bằng tiền,cứu trợ bằng hiện vật, nguồn cứu trợ Kết quả nghiên cứu như sau:

Trang 30

- Thời điểm cứu trợ

Kết quả điều tra cho thấy, thời điểm cứu trợ phụ thuộc vào: nguồn cứutrợ, hình thức cứu trợ (tiền hay hiện vật), phương thức tổ chức tiến hành Thờiđiểm hộ được nhận cứu trợ được thể hiện ở biểu đồ 3 và bảng 11 (phụ lục 3)

Biểu đồ 3: Thời điểm được nhận cứu trợ của các hộ khảo sát ( số ngày sau

thiên tai, n=80 hộ) ( Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)

Biểu đồ 3 cho thấy, đối với hàng cứu trợ là hiện vật thời điểm nhận cứutrợ trong 3 năm qua là không khác nhau nhiều Còn cứu trợ tiền mặt có sựkhác biệt về thời gian cứu trợ giữa năm 2008 với năm 2009 và 2010

Đối với hàng cứu trợ là hiện vật trung bình khoảng 9-10 ngày là hộđược nhận được cứu trợ, sớm nhất 1-2 ngày thường là cứu trợ từ phía nhànước, muộn nhất là từ các tổ chức nước ngoài và các tổ chức đoàn thể từ tỉnhkhác Cứu trợ hiện vật còn chậm về mặt thời gian, một số đợt cứu trợ mì tôm,gạo mà phải sau một tháng người dân mới nhận được, vào thời điểm này hộlại cần tiền để đầu tư để khôi phục sản xuất hơn Do đó, cứu trợ sau thiên taiphải mang tính khẩn trương, kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân.Mặt khác, do cứu trợ chậm làm một số hộ nhầm tưởng hiện vật được hỗ trợ làdành cho hộ nghèo

Trang 31

Đối với cứu trợ bằng tiền mặt trong 3 năm, năm 2009 là chậm nhấttrung bình 51,8 ngày, nhanh nhất là sau một tuần, nhưng có đợt phải sau 90ngày tiền cứu trợ mới tới được tay người dân do phải trải qua nhiều khâu.Năm 2010 trung bình sau 50 ngày là người dân có thể nhận được cứu trợ, đâycũng là năm được các hộ đánh giá nhanh hơn những năm trước Năm 2008,khoảng 33,1 ngày người dân có thể nhận cứu trợ nhưng số tiền hỗ trợ thấp, số

hộ hưởng lợi ít

Tóm lại, cứu trợ bằng hiện vật nhanh hơn cứu trợ bằng tiền là do cứutrợ bằng tiền có quá nhiều thủ tục rờm rà Tuy nhiên cả 2 hình thức cứu trợnày hiện nay còn chậm về mặt thời gian Nguyên nhân không chỉ xuất phát từhình thức cứu trợ mà còn ở phương thức thực hiện của nhà tài trợ và các tổchức đoàn thể

- Cứu trợ bằng tiền

Thông qua công tác cứu trợ tiền mặt tại hộ thì có thể tìm hiểu rõ hơn vềmức cứu trợ, đối tượng được cứu trợ cũng như tình hình sử dụng và kết quả

sử dụng tiền cứu trợ ( biểu đồ 4 và bảng 12 ở phụ lục 3)

Biểu đồ 4: Tiền cứu trợ các hộ được nhận qua các năm (Nguồn: phỏng vấn hộ, 2011)

Kết quả ở biểu đồ 4 cho thấy, năm 2010 tất cả (80 hộ khảo sát) đềuđược nhận cứu trợ với tổng số tiền được nhận là 106.902.000 đồng, trung

Trang 32

bình mỗi hộ được nhận 1.336.280 đồng Năm 2009, có 63 hộ khảo sát đượcnhận, hộ được nhận nhiều nhất là 3 lần, ít nhất là 1 lần, tổng số tiền các hộđược nhận là 41.464.000 đồng, trung bình mỗi hộ được nhận 658.160 đồng.Năm 2008, có 44 hộ được nhận, tổng số tiền các hộ được nhận 7.440.000đồng, trung bình mỗi hộ được nhận 169.900 đồng

Kết quả khảo sát cho thấy, từ năm 2008-2010 hoạt động cứu trợ màngười dân nhận được là từ 4 nguồn chính: thứ nhất cứu trợ của nhà nước đượcphân theo 2 mức, hộ bị thiệt hại nặng (tốc mái, sụp nhà, sạt lở đất, xói móng)được nhận 5.000.000 đồng, hộ thiệt hại nhẹ (cũng tốc mái, sụp nhà xói móngnhưng mức độ nhẹ) được 3.000.000 đồng; thứ 2 cứu trợ từ ECHO, mức cứutrợ được phân theo khẩu, hộ 1 khẩu được nhận 300.000 đồng, hộ 2 khẩu đượcnhận 600.000 đồng, hộ ≤3 khẩu được nhận 1.000.000 đồng; thứ 3 cứu trợ từIrish Aid, hộ ≤3 khẩu được nhận 1.200.000 đồng, hộ >3 khẩu được nhận1.500.000 đồng; còn lại một số kênh cứu trợ lại trao thành suất mỗi suất từ100.000-200.000 đồng Như vậy với các tổ chức khác nhau thì có mức cứutrợ khác nhau

Như vậy, có sự khác biệt về mức cứu trợ giữa các tổ chức Với cứu trợcủa nhà nước, mức cứu trợ được chia theo thiệt hại của hộ còn các tổ chứcquốc tế lại chia theo khẩu Nguồn cứu trợ bằng tiền mặt tại các hộ chủ yếu từcác tổ chức quốc tế

- Cứu trợ bằng hiện vật

So với cứu trợ bằng tiền thì công tác cứu trợ bằng hiện vật rầm rộ hơn,các loại hàng hóa được cứu trợ đa dạng, từ nhiều kênh khác nhau như: hộiphật tử Senxanh, từ các kênh nhà nước, từ các tổ chức nước ngoài Kết quảphỏng vấn hộ tại địa bàn nghiên cứu về tình hình cứu trợ bằng hiện vật đượcthể hiện ở biểu đồ 5 và bảng 13 (phụ lục 3)

Trang 33

Biểu đồ 5: Các loại hiện vật được cứu trợ cho hộ (% số hộ khảo sát, n=80

hộ) (Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)

Kết quả ở biểu đồ 5 cho thấy, hoạt động cứu trợ khá đa phong phú đadạng Các hộ được nhận nhiều loại hàng hóa, vật dụng khác nhau, trong đómột số hàng chủ yếu là: lương thực thực phẩm, áo quần, vật dụng sinh hoạt,mùng mền, và các hiện vật khác (vật liệu làm nhà, thuốc chữa bệnh, giốngcây trồng vật nuôi,…) với tỷ lệ số hộ được nhận lần lượt là 100%; 41,25%;21,25%; 18,75%; 6,25% Như vậy, hiện vật mà hộ nhận được nhiều nhất làlương thực thực phẩm Nhưng có khi lũ qua một tuần rồi các hộ còn đượcnhận mì tôm, đây là một bất cập của công tác cứu trợ Trong hoàn cảnh ngườidân bị cô lập bởi nước lũ, không củi lửa, không lương thực, thì một gói mìvào đúng thời điểm ấy rất quý giá, nhưng mì lại được đưa quá chậm Ít nhất làcác hiện cật khác (giống cây trồng vật nuôi, vật liệu làm nhà,… ) theo xácđịnh nhu cầu giống cây trồng vật nuôi là một trong những nhu cầu quan trọng

mà hộ cần sau lũ lại được hỗ trợ rất ít

Kết quả ở biểu đồ 5 cũng cho thấy, các hiện vật được cứu trợ dùng để

ăn uống (lương thực, thực phẩm, thuốc), sinh hoạt (bình lọc nước, thùngđựng) là chính Trong khi đó sau bão, lụt hộ cũng cần khôi phục lại sản xuất

Tóm lại, các hiện vật được cứu trợ mang tính khôi phục đời sống hơn làkhôi phục sản xuất Tuy đa dạng, nhưng còn phải xem xét vấn đề thời điểm

Trang 34

hỗ trợ và nhu cầu của người dân Để rõ hơn về vai trò của từng loại hàng cứutrợ chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về tình hình sử dụng hàng được cứu trợ tạicác hộ khảo sát.

4.3.2 Tình hình sử dụng hàng cứu trợ của hộ

4.3.2.1 Tình hình sử dụng hàng cứu trợ là hiện vật

Tình hình sử dụng hàng cứu trợ của các hộ khảo sát trong nghiên cứunày sẽ được phân tích trên 2 khía cạnh: trên khía cạnh thực trạng sử dụng vớicác chỉ tiêu như sử dụng, không sử dụng, dự trữ Trên khía cạnh khả năng giảiquyết nhu cầu cho hộ của hiện vật được cứu trợ với các chỉ tiêu như giảiquyết nhu cầu hiện tại, giải quyết nhu cầu lâu dài, kết quả được thể hiện ởbiểu đồ 6 và bảng 14, 15 (phụ lục 3)

Biểu đồ 6: Thực trạng sử dụng hàng cứu trợ là hiện vật (n=80 hộ) (Nguồn, phỏng vấn hộ, 2011)

Kết quả ở biểu đồ 6 cho thấy, một số hiện vật cứu trợ chưa được sửdụng hiệu quả, nhất là đối với hàng cứu trợ là quần áo, có tới 94% hộ đượcnhận không sử dụng Nguyên nhân chính mà các hộ được nhận không sửdụng là áo quần rộng quá, không hợp với độ tuổi người mang Nên hỗ trợ áoquần chưa giải quyết được khó khăn cho người nhận, mặt khác lại gây lãng

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bích Thủy, Những rủi ro toàn cầu, 16/3/2007, http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Nhung_rui_ro_toan_cau/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những rủi ro toàn cầu
[2]. Nguyễn Quốc Định, Một số ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến Việt Nam, Viện Nghiên cứu Thổ nhưỡng - Nông nghiệp ZALF, CHLB Đức , 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ViệtNam
[3]. Trương Quang Học, Tác động của BĐKH tới VVB, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, VACNE, 2009, http://www.vfej.vn/vn/chi_tiet/20006/tac_dong_cua_bdkh_toi_vvb__tiep_theo_va_het_ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của BĐKH tới VVB
[4]. Nguyễn Trung Hiếu, Bão lũ và cứu trợ, Thứ Năm, 7.10.2010, http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Bao-lu-va-cuu-tro/15698 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bão lũ và cứu trợ
[5]. Nguyễn Tiền Hùng, Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội, Học Viện Tài chính - Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, http://vi.wikipedia.org/wiki/An-sinh-xa-hoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xãhội
[6]. Vĩnh Quý - Hồ Hà, Cứu trợ miền Trung sau lũ kép Đừng “cứu” quần áo, mì tôm nữa, 2010, http://bantinviet.vn/news/view/1841/Cuu-tro-mien-Trung-sau-lu-kep-Dung-cuu-quan-ao-mi-tom-nua--.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cứu trợ miền Trung sau lũ kép Đừng “cứu” quần áo,mì tôm nữa
[7]. Hoàng Mạnh Quân, Báo cáo đánh giá kết thúc dự án cứu trợ bằng tiền mặt không điều kiện, Trung tâm phát triển miền Trung, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết thúc dự án cứu trợ bằng tiềnmặt không điều kiện
[8]. P. Thanh, Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, 17/1/2008,http://vietbao,vn/Xa-hoi/Viet-Nam-bi-anh-huong-nang-ne-do-bien-doi-khi-hau/30214990/157/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu
[10]. O'Brien, G,, O'Keefe, P,, Rose, J, &amp; Wisner, B, Climate change and disaster management, Disasters 30(1), pp64-80, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change anddisaster management
[11]. ISDR, Climate change and disaster risk reduction, International strategy for disaster reduction, Geneva: United Nation International strategy for Disaster reduction, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change and disaster risk reduction, Internationalstrategy for disaster reduction
[12]. IPCC, Climate change 2007: Impacts, adaptations and vulnerability - Introduction Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, Cambridge, UK:Cambridge University Press, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change 2007: Impacts, adaptations and vulnerability -Introduction Contribution of Working Group II to the Fourth AssessmentReport of the Intergovernmental Panel on Climate Change, Cambridge
[13]. UNFCCC, Technologies for adaptation to climate change, Bonn, Germany: United Nations Framework Convention on Climate Change, ISBN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technologies for adaptation to climate change

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Triệu Giang, 2010 Các chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỉ lệ (%) - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Triệu Giang, 2010 Các chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỉ lệ (%) (Trang 15)
Bảng 2: Thông tin chung của các hộ khảo sát - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 2 Thông tin chung của các hộ khảo sát (Trang 17)
Bảng 3: Tình hình thiệt hại do lũ lụt của xã Triệu Giang qua các năm Thứ - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 3 Tình hình thiệt hại do lũ lụt của xã Triệu Giang qua các năm Thứ (Trang 19)
Bảng 4: Tình hình thiệt hại về đời sống của hộ qua các năm - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 4 Tình hình thiệt hại về đời sống của hộ qua các năm (Trang 22)
Bảng 5: Tình hình thiệt hại về sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của hộ n=80 hộ - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 5 Tình hình thiệt hại về sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của hộ n=80 hộ (Trang 23)
Bảng 6: Thực trạng hoạt động cứu trợ khi thiên tai tại Triệu Giang, qua các năm n=80 hộ - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 6 Thực trạng hoạt động cứu trợ khi thiên tai tại Triệu Giang, qua các năm n=80 hộ (Trang 28)
Sơ đồ 1: Tiến trình cứu trợ bằng tiền của một số tổ chức tại Triệu Giang - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Sơ đồ 1 Tiến trình cứu trợ bằng tiền của một số tổ chức tại Triệu Giang (Trang 39)
Bảng  8:    Mức độ hài lòng của người dân với dự án cứu trợ của Irish Aid Chỉ tiêu Các hộ được hỗ trợ Các hộ không được - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
ng 8: Mức độ hài lòng của người dân với dự án cứu trợ của Irish Aid Chỉ tiêu Các hộ được hỗ trợ Các hộ không được (Trang 46)
Bảng 9: Ý kiến đánh giá của người dân về các hình thức cứu trợ - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 9 Ý kiến đánh giá của người dân về các hình thức cứu trợ (Trang 47)
Hình 2: Thảo luận nhóm nông dân - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Hình 2 Thảo luận nhóm nông dân (Trang 60)
Hình 1: Thảo luận nhóm cán bộ - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Hình 1 Thảo luận nhóm cán bộ (Trang 60)
Bảng 9. Nhu cầu người dân trong lũ - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 9. Nhu cầu người dân trong lũ (Trang 61)
Bảng 12: Số tiền cứu trợ mà các hộ được nhận qua các năm - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 12 Số tiền cứu trợ mà các hộ được nhận qua các năm (Trang 62)
Bảng 16. Thực trạng sử dụng tiền cứu trợ của các hộ, năm 2010 - nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị
Bảng 16. Thực trạng sử dụng tiền cứu trợ của các hộ, năm 2010 (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w