1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế

40 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hoạt động khai thác thủy sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã Phú Thuận – huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Kinh tế biển và Đa dạng sinh kế
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 308 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lý do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã Phú Thuận – huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế”.. 1.

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đa dạng hoá sinh kế là đa dạng các hoạt động tạo thu nhập mà các hộgia đình xây dựng nên nhằm duy trì sự sống và phát triển kinh tế Đa dạnghoá sinh kế có thể nói là một chiến lược có vai trò hết sức quan trọng đối vớisinh kế của người dân Nó không chỉ tạo thêm cơ hội về việc làm, tăng thunhập và nâng cao đời sống của người dân, mà còn giải quyết được vấn đề dưthừa lao động nông thôn hiện nay, giảm đáng kể các tệ nạn xã hội…Đa dạnghoá sinh kế còn có ý nghĩa trong việc tận dụng tối đa nguồn lực của địaphương [2]

Phú Vang là huyện đồng bằng ven biển và đầm phá của tỉnh ThừaThiên Huế, là một huyện có tiềm năng lớn về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sảnvới bờ biển dài trên 35km, có cửa biển Thuận An và nhiều đầm phá như đầmSam, đầm Chuồn, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú nằm trong

hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích trên 6.800 ha mặt nước,

là tiềm năng lớn để phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Đây là thếmạnh, lợi thế so sánh để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Đặc biệt cảngbiển Thuận An là vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế, cótiềm năng lớn về kinh tế đang được khai thác và sử dụng [6]

Với nguồn lợi sẵn có như thế người dân nơi đây đã biết tận dụng khaithác một cách triệt để, nâng cao kinh tế và đời sống của mình Số lượng tàuthuyền ra khơi ngày càng nhiều lên Hiệu quả khai thác ngày càng tăng mạnh,biến chuyển qua nhiều năm Năm 2009, sản lượng khai thác thuỷ sản củahuyện đạt 16,611 tấn, tăng 5,13% so với năm 2008 Năm 2009, khai thácthuỷ sản biển đạt 16,6 tấn vượt 600 tấn so với kế hoạch đề ra Tuy nhiên, cùngvới những nguồn lợi đạt được còn tồn tại một số vấn đề bất cập đe doạ đếnsinh kế của các ngư dân đáng để chúng ta phải quan tâm Cùng với việc tăngtàu thuyền ra khơi thì việc tranh chấp nguồn lợi ngày càng gay gắt, việc sửdụng các hình thức khai thác mang tính hủy diệt như xung điện hay phát triển

Trang 2

nghề Lừ với nhiều kích cở khác nhau một cách ồ ạt, gây ô nhiễm môi trườngsống của các loài thuỷ sản đã làm suy giảm và cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản [6].

Là một xã ven biển Hầu hết người dân trong xã đều sống dựa vào nguồn lợisẵn có này và khai thác thuỷ sản biển có thể được xem là ngành nghề tạo thunhập chính của họ Nhưng khi xu hướng tiêu cực trên ngày càng biểu hiện rõrệt đe doạ đến sinh kế thì việc đa dạng hoá sinh kế là một giải pháp hợp lýtrong việc đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ ngư dân Nghiên cứu đa dạnghoá sinh kế của các ngư hộ tại xã phú thuận có ý nghĩa quan trọng trong việcđịnh ra các giải pháp để nâng cao năng suất các hoạt động sinh kế, tăng thunhập, đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ ngư dân sống dựa vào nguồn lợithuỷ sản biển

Với lý do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã Phú Thuận – huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu và đánh giá vai trò sinh kế của hoạt động khai thác thuỷ sản biểncủa các hộ ngư dân xã Phú Thuận

- Tìm hiểu đa dạng hoá sinh kế của cộng đồng ngư dân sống dựa vào khaithác thuỷ sản biển

- Tìm hiểu các hình thức hợp tác và vai trò tổ chức cộng đồng trong hoạtđộng khai thác thuỷ sản biển

- Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về quản lý thuỷ sản biển và ảnh hưởngcủa biến đổi khí hậu đối với sinh kế ngư dân

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh kế cộng đồng ngư dân ven biển

2.1.1 Cơ sở tài nguyên tại các vùng ven biển

- Các cửa sông:

Dọc theo bờ biển nước ta có tới 50 cửa sông đổ ra biển Vùng cửa sông lànơi có các hoạt động kinh tế phát triển mạnh mẽ như đánh bắt và chế biến hảisản, thương mại hàng hóa, giao thông, đô thị hóa Tuy nhiên, hiện nay pháttriển các vùng này chưa thực sự bền vững do thiếu quy hoạch hợp lý, có quánhiều cảng ở gần nhau (kể cả cảng cá và cảng thương mại) Mức độ ô nhiễmmôi trường tại các vùng này cũng khá lớn do tác động của ô nhiễm nguồnnước trên thượng nguồn và rác thải của các hoạt động sản xuất và dịch vụ[10]

- Tài nguyên đất đai:

Đất đai tại các khu vực ven biển thường dùng cho các hoạt động canh tác,nuôi trồng thủy sản, phát triển đô thị và công nghiệp Có hai nguồn tài nguyênđất đặc biệt cần được chú trọng trong sự phát triển vùng ven biển đó là: cácđụn cát và các khu vực đất ngập mặn thấp, chủ yếu là các vùng đất ngậpnước

Diện tích các vùng đất cát ven biển khoảng 100.000 ha Đây chủ yếu làvùng bãi ngang, có tiềm năng phát triển du lịch có các bãi cát đẹp, nước biểnsạch và dân cư thưa Các xã vùng bãi ngang chủ yếu còn là các xã nghèo, vìđiều kiện sản xuất nông nghiệp khó khăn, trong khi đó các ngành sản xuất vàdịch vụ chưa phát triển

Các vùng đầm lầy và đất ngập nước chủ yếu ở những khu vực có độ caothấp dọc theo các phá nước và dưới ảnh hưởng thủy triều dọc theo bờ biển,cửa sông Các khu vực đầm lầy chịu ảnh hưởng thủy triều cũng chiếm diệntích lớn (khoảng 1000.000 ha và chủ yếu tập trung ở các khu vực cửa sông và

Trang 4

- Tiềm năng du lịch:

Dọc miền ven biển có nhiều bãi biển đẹp, có nhiều di sản lịch sử văn hóa ởcác khu vực ven biển, khoảng 950 di sản có giá trị lịch sử văn hóa Mật độtrung bình các địa điểm di sản ở Việt Nam là 2,2 đơn vị/100km2, trong đó, cáckhu vực ven biển tỉnh Thái Bình và Hải Phòng là 20 đơn vị và ở Nam Định,Ninh Bình là 8 đơn vị Mặc dù di lịch ven biển đã được chú trọng và nhậnnhiều đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn, đặc biệt là những vấn đềliên quan đến tính nhạy cảm sinh thái của một số dự án đầu tư phát triển.[5]

- Tài nguyên biển:

Có nhiều tài nguyên thiên nhiên ở miền biển và ở khu vực ven biển như cá,

hệ thống sinh thái, rặng san hô, tài nguyên khoáng sản Ở biển và vùng venbiển nước ta có khoảng 2000 loài cá, trong đó có xấp xỉ 130 loài cá có giá trịkinh tế cao Ngành công nghiệp đánh bắt cá ven bờ đóng góp đáng kể chokinh tế địa phương và đem lại thu nhập cho phần lớn các hộ đánh bắt cá quy

mô nhỏ dọc miền ven biển và những người có đời sống phụ thuộc chủ yếuvào đánh bắt cá (làm đá, chế biến và buôn bán hải sản nhỏ…).[5]

2.1.2 Hoạt động sinh kế của các ngư dân vùng ven biển

Thông thường các cộng đồng ngư dân ven biển thường có nghề cá là nghềchủ đạo, Ở Việt Nam, tại các làng cá bãi ngang, hoạt động đánh cá của ngưdân thường có quy mô nhỏ Trong 411 làng cá ở Trung Bộ chẳng hạn, có tới

244 làng cá bãi ngang với những người ngư phủ nghèo khó và các con thuyền

bé nhỏ Tính điển hình có nhiều làng cá bãi ngang nhất là Thừa Thiên Huế,trong số 42 làng cá của tỉnh này có tới 30 làng cá bãi ngang và đầm phá [5]Các cộng đồng dân cư làm nghề cá bãi ngang thường phải kêt hợp với cáchoạt động khác như nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi lợn, làm muối, làm nôngnghiệp mới đủ sống Ở một số vùng vẫn còn tồn tại những gia đình đánh cánghèo khổ, cả gia đình sống trên những chiếc thuyền nhỏ bé ọp ẹp Đó lànhững người ngư dân thủy cư

Khác với nghề cá bãi ngang, nghề cá ở các tụ điểm hình thành ở cáccửa lạch sâu, bến bãi tốt, gần ngư trường đã tạo nên những sự phát triển tựnhiên truyền thống của nghề cá biển với sự tập trung nhiều tàu thuyền lớn, sốđông ngư dân và tiếp cận thuận tiện với nguồn cung cấp điện, nước, đường xá

Trang 5

giao thông, chợ búa Việc giao lưu buôn bán phát đạt và ngoài nghề cá cònphát triển mạnh các nghề thương mại, dịch vụ, đang hình thành dần các thị tứ,thị trấn Hoạt động kinh tế của các tụ điểm dân cư ven biển nghề cá ngày naymang tính hỗn hợp, tổng hợp và đa dạng Sản xuất nghề cá chuyên nghiệpthường gắn với các hoạt động dịch vụ nghề cá như đóng và sữa chữa tàuthuyền, sản xuất và cung cấp nước đá, các loại hình chế biến và thương mạithủy sản và vật tư phục vụ cho sản xuất thủy sản như cung cấp dầu nhớt, lướisợi, phụ tùng máy, dịch vụ đời sống như nhà hàng, quán cà phê giải khát, cáchiệu vàng, hiệu may, làm đầu, hàng bách hóa…

Do các tụ điểm nghề cá thường nằm trên các cửa sông, cửa lạch nơi cáctàu thuyền đánh cá lớn hơn có thể ra vào được nên ở những nơi này theo mùa

vụ trở thành nơi tụ hội các tàu thuyền nơi khác di chuyển đến đánh bắt cácngư trường gần đó Họ mang sản phẩm của họ vào đây bán, mua các vật tư vàvật phẩm tiêu dùng làm cho các hoạt động kinh tế kinh doanh và xã hội càngtrở nên sầm uất Phần lớn các cửa lạch lớn có nghề cá phát triển, nơi tập trungdân cư đều là những nơi dân cư tụ hội buôn bán sầm uất, nghề nghiệp năngđộng, dân cư có thu nhập cao

Tuy có đến 2/3 làng cá ở Việt Nam có kết hợp nghề khai thác cá vớinghề khác nhưng trong thực tế điều tra ngay ở các làng cá này sự kết hợp giữacác loại hình sinh kế chỉ mang tính hình thức vì lao động đánh cá dù có ít hơnlao động làm các nghề khác ở các làng ven biển họ cũng là nguồn đảm bảosinh kế chủ yếu của các hộ gia đình làm nghề cá Ở một số gia đình, vợ hoặccon những người đánh cá hoặc người già cả có làm thêm nông nghiệp, chănnuôi, làm muối… Tuy nhiên, cũng có những vùng ven biển lại xem nghề cá lànghề phụ của họ, chỉ hoạt động vào những tháng nông nhàn, hoặc một vài laođộng đi đánh cá, còn đại bộ phận thời gian họ canh tác ruộng đất

Các cộng đồng ven biển hiện nay đang chuyển đổi từng ngày, đang hòa dầnvào các cộng đồng dân cư hiện đại và ngay trong các gia đình của họ, trongcác cộng đồng của họ nghề nghiệp cũng được mở rộng, hòa quyện với nhautrong những thể thức phân công lao động mới đa dạng tạo cho họ nhiều khảnăng lao động để làm giàu Nghề nông, nghề nuôi trồng thủy sản, chế biếnthủy sản, làm công nghiệp và dịch vụ đang cùng nhau phát triển trong các

Trang 6

vùng ven biển để các vùng này tận dụng hết các lợi thế của mình phát triểncách tổng hợp, cùng cả nước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước [3]

2.1.3 Những yếu tố tác động đến sinh kế của người dân

- Yếu tố tự nhiên

Yếu tố tự nhiên bao gồm thời tiết khí hậu và các nguồn tài nguyên, yếu tốthời tiết khí hậu có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất và đời sốngcủa con người Nếu các yếu tố khí hậu thời tiết thuận lợi thì con người thuđược nhiều thành công trong sản xuất, chẳng hạn như trong nuôi trồng, khaithác thuỷ sản nếu khí hậu của vùng ôn hoà, không xẩy ra lũ lụt, hạn hán, triềucường hoặc các điều kiện bất lợi của thời tiết thì các ngành đó sẽ phát triển.Nếu các yếu tố khí hậu thời tiết biến đổi lớn thì gây ra nhiều khó khăn, thiệthại cho người dân như mất mùa, các hoạt động sản xuất không thực hiện được

và ảnh hưởng đến thu nhập cũng như cuộc sống của họ Đối với mỗi vùng cóđiều kiện tự nhiên, địa hình khác nhau thì sự ảnh hưởng của các yếu tố khíhậu là khác nhau [4] Các yếu tố thời tiết thường tác động đến hoạt động khaithác thuỷ sản và các hoạt động sinh kế khác của người dân bao gồm:

- Nhiệt độ:

Nhiệt độ là một trong những yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến đời sống vẩnxuất của người dân Ở Thừa Thiên Huế nhiệt độ thường cao vào mùa hè từtháng 5 đến tháng 7 dương lịch, vào những thời điểm này nhiệt độ có thể lênđến 40 - 410C và gây khó khăn cho hoạt động sản xuất và đời sống của ngườidân Nhiệt độ cao có thể dẫn đến thiếu nước trầm trọng trong snả xuất và sinhhoạt, vào mùa này một số ao nuôi trồng thuỷ sản thường khô cạn không thểnuôi trồng được, mặt khác thời tiết quá nắng nóng cũng phần nào hạn chế sứclao động của nguời dân, cản trở rất nhiều đến vấn đề đa dạng sinh kế Theongười dân thì khi nhiệt độ cao làm cho thời gian lao động của hộ giảm mất 1đến 2 giờ đồng hồ so với những thời điểm bình thường và điều này gây ảnhhưởng không nhỏ đến thu nhập của một số hoạt động sinh kế

Về mùa đông, nhiệt độ giảm xuống cũng gây ảnh hưỏng rất lớn đến đờisống và sản xuất, nhiệt độ thấp làm giảm quá trình sinh trưởng và phát triểncủa động vật thuỷ sản, chính vì vậy việc thu lãi nuôi trồng thuỷ sản trong mùa

Trang 7

này thường không cao, hiệu quả kinh tế thấp Do đặc điểm của mùa đôngngày ngắn đêm dài vì vậy thời gian lao động cũng giảm từ 2 – 3 giờ đồng hồ

so với các mùa khác, chính vì vậy thu nhập từ các hoạt động sinh kế cũnggiảm đi rất nhiều

- Mưa:

Mưa cũng là yêú tố mà theo người dân có ảnh hưởng đền hoạt động sinh kế

và đời sống của họ Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11âm lịch

và gây ra nhiều khó khăn, thiệt hại cho hộ, ảnh hưởng đến đa dạng sinh kế củangười dân như thợ nề, phị hồ, buôn bán phải ngừng lại

- Lũ lụt:

Là một trong yếu tố tác động rất lớn đến đời sống chung của cộng đồng venphá Trung bình mỗi năm người dân phải hứng chịu khoảng 5 – 7 trận lụt, bãolớn nhỏ Ở khu vực này hàng năm xẩy ra nhiều trận lũ tiểu mãn, ảnh hưởngnhiều đến hiệu quả kinh tế của người dân

Tóm lại, các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sinh kế vàđời sống sinh hoạt của người dân Nó vừa có tác động tích cực nhưng cũnggây ra những khó khăn cho hoạt động sinh kế hộ

2.2 Chủ trương chính sách quản lý TS và PT thủy sản

Nhu cầu tăng cường quá trình QLTHĐB ở các tỉnh ven bờ biển củaViệt Nam xuất hiện do những lý do hết sức thực tiển Trước hết, nó gắn liềnvới việc sử dụng tài nguyên nguồn lợi, với việc phòng ngừa, giảm thiểu táchại của thiên tai, với việc bảo vệ các quá trình và chức năng sinh thái của đới

bờ và tăng cuờng cơ chế quản lý đa ngành, đa mục tiêu với sự tham gia rộngrãi của cộng đồng dân cư Có thể nói, có 4 nguyên nhân cấp bách, có tính phổbiến hiện nay ở Việt Nam, bắt buộc chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa quátrình QLTHĐB

Sự mong muốn , khát vọng phát triển kinh tế biển, thực hiện chính sách

“xóa đói giảm nghèo” và đẩy mạnh những chính sách tăng cao lợi nhuận kinh

tế từ việc sử dụng khai thác biển và ven bờ như nghề cá, du lịch, hàng hải vàcảng; mong ước sử dụng có hiệu quả các nguồn lợi ở biển và ven bờ mà trướcđây chưa được khai thác mạnh mẽ như vận tải đường biển, dầu mỏ, khoángsản ở ngoài khơi hoặc nuôi biển ờ quy mô nhỏ… Điều đó được thấy rõ qua

Trang 8

chiến lược khai thác vịnh Vân Phong (Khánh Hoà), phát triển khu côngnghiệp Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai, đẩy mạnh khai thác dầu khí ởthềm lục địa phía nam Việt Nam Việt Nam đang phấn đấu để các nguồn lợi

từ biển có thể đóng góp trên 50% GDP hàng năm

Nhằm hạn chế, khắc phục những bất cập trong hệ thống quản lý hànhchính trì trệ, lạc hậu, đơn ngành, để giảm bớt các mâu thuẩn đang gia tăng gaygắt trong quá trình phát triển Hiện nay, Việt Nam đang gặp một số khó khăntrong việc xử lý hài hòa các mâu thuẫn khác nhau đang xẩy ra trong xã hội,trong đới ven bờ Ở Việt Nam, vùng biển hiện đang được tổ chức quản lý theocác ngành chức năng, theo lãnh thổ và quản lý tổng hợp Hiện có 13 đơn vị,

bộ ngành liên quan đến việc quản lý biển Quản lý biển theo chuyên ngành,theo truyền thống đã gặp rất nhiều khó khăn trong sự hợp tác, nhiệm vụchồng chéo, cấu trúc hệ thống quản lý chưa hòan chỉnh, phân tán, lãng phí vềtài chính, nhân lực, khó khăn thu hút cộng đồng tham gia và hiệu quả khôngcao

Cuối cùng là do chính sách hội nhập bắt buộc Việt Nam cũng phải chia

sẻ, gánh vác trách nhiệm trước những vấn đề sống còn và cùng giải quyếtnhững thách thức của nhân loại trên toàn cầu Thực hiện cam kết với cácchương trình phát triển quốc tế, Việt Nam đã tiến hành một loạt các hànhđộng cụ thể như chuẩn bị các kế hoạch sử dụng biển và vùng ven biển, đánhgiá tác động môi trường và triển khai các chương trình giám sát, lập kế hoạchphòng ngừa những tai biến thiên nhiên và tai biến do con người gây ra Bảotồn và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng Đề xuất những chính sách chỉ đạoquốc gia để duy trì đa dạng sinh học và năng suất của các loài và các hệ sinhthái biển ở Biển Đông Việt Nam cũng đã chú trọng đưa những kiến thức sinhthái và sự hiểu biết về các hệ thống giá trị xã hội và văn hóa truyền thống vàoquản lý đới bờ và đưa các cộng đồng địa phương cùng tham gia vào quá trìnhquản lý Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành gần 50 văn bản khung pháp

lý bảo vệ môi trường biển và phòng chống ô nhiễm biển [1]

Để giải quyết các vấn đề trên ngày 3/12/2003, Thủ tướng Chính phủban hành Quyết định số 257/2003/QĐ-TTg về việc hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ

Trang 9

sở hạ tầng thiết yếu và phát triển kinh tế các xã đặc biệt khó khăn vùng bãingang ven biển và hải đảo.

Thực hiện Quyết định nêu trên, ngày 14/5/2004, Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội đã có Quyết định số 683/2004/QĐ-LĐTBXH về ban hành tiêuchí xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, đồng thời hướngdẫn địa phương rà soát, đề xuất xã phù hợp với tiêu chí đã nêu để xem xét,tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở thực hiện chínhsách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các xã đặc biệt khó khăn bãi ngangven biển và hải đảo giai đoạn 2006- 2010

Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang đánh giá kết quả thựchiện Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các xã đặc biệt khó khăn ven biển, hảiđảo 2006 - 2010, đề xuất tiêu chí mới, hướng dẫn địa phương rà soát, đề xuất

để thực hiện giai đoạn 2011 - 2015

2.3 Hoạt động khai thác thủy sản biển ở Việt Nam

2.3.1 Tổng quan về nguồn lợi thủy sản Việt Nam

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của TháiBình Dương, có diện tích khoảng 3.448.000 km2, là một trong 6 biển lớn nhấtcủa thế giới, có vị trí quan trọng của cả khu vực và thế giới

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, vùng nội thủy và lãnh hải Biển việt nam cótính đa dạng sinh học (ĐDSH) khá cao, cũng là nơi phát sinh và phát tán củanhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ - Thái Bình Dương với chừng11.000 loài sinh vật đã được phát hiện như cá, mực, rùa, san hô, rong biển…Riêng cá có khoảng hơn 2000 loài, trong đó có gần 130 loài cá giá trị kinh tếcao và hàng trăm loài được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới

Tuy nguồn lợi hải sản Việt Nam đa loài nhưng lại phân bố theo mùa rõ ràng,sống phân tán với quy mô đàn nhỏ Nguồn lợi thủy sản nước ngọt và lợ chủyếu là cá, có khoảng hơn 700 loài

Cơ sở tài nguyên nói trên đã cung cấp cho vùng biển đặc quyền kinh tếcủa nước ta trữ lượng hải sản dao động trong khoảng 3,2 – 4,2 triệu tấn/nămvới khả năng khai thác bền vững 1,4 – 1,8 triệu tấn Chúng tập trung trong 15bãi cá lớn, trong đó 12 bải cá phân bố ở vùng ven bờ, và 3 bãi cá ở ngoài

Trang 10

khơi Đặc trưng nổi bật nhất ở vùng biển nước ta là quanh năm đều có cá đẻ,nhưng thường tập trung vào từng thời kỳ từ tháng 3 đến tháng 7, cá biển nước

ta thường phân đàn nhưng không lớn Đàn cá kích thước nhỏ chiếm 5 x 20cmchiếm 84%, còn đàn cá lớn cỡ 20 x 500m chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá.Ngoài ra, còn có các loài cá đại dương di cư vào vùng biển nước ta theo mùa

do “yếu tố đại dương” chiếm 50% diện tích biển Đông [9] [10]

2.3.2 Trữ lượng và khả năng khai thác thủy sản

Vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta trữ lượng hải sản dao độngtrong khoảng 3,2 – 4,2 triệu tấn/năm với khả năng khai thác bền vững 1,4 –1,8 triệu tấn, không kể trữ lượng cá đại dương di cư và sinh vật đáy vùngtriều Trong đó, cá nổi nhỏ có trưc lượng 1,74 triệu tấn, cá đáy 2,14 triệu tấn,

cá nổi đại dương 0,3 triệu tấn Nhưng khả năng khai thác đạt 0,69 triệu tấn,0,86 triệu tấn, 0,12 triệu tấn Chúng tập trung trong 15 bãi cá lớn, trong đó 12bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở ngoài khơi

Xét theo nhóm cá có sự khác nhau theo vùng địa lý Nhóm cá nổi nhỏ tậptrung nhiều ở khu vực biển miền Trung (chiếm 82,5%) và Vịnh Bắc Bộ(57,3%) [10]

2.3.3 Hiện trạng khai thác thủy sản

- Số lượng và công suất tàu thuyền khai thác thủy sản:

Theo thống kê từ năm 1990 – 2007 số lượng tàu thuyền lắp máy đánh bắthải sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với thời gian.Tổng số tàu đánh bắt có lắp máy ở nước ta tăng gấp 1,3 lần, với tốc độ tăngbình quân 1,53%/năm Nhưng tổng công suất tàu đánh bắt tăng gấp 6,4 lần vàđạt tốc độ tăng 10,87%/năm [9]

Như vậy, tốc độ tăng công suất tàu thuyền cao hơn gấp 10 lần so với tốc độtăng số lượng tàu Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nguồn lợi hải sản gần bờgiảm nhanh, từ sau khi chính phủ ban hành quyết định 393/ttg ngày 25/5/1997

về việc cho vay vốn tín dụng ưu đãi đóng tàu khai thác hải sản xa bờ, đã tạothành phong trào trong ngư dân đóng tàu công suất lớn ra khai thác xa bờ Do

đó, người dân có chiều hướng đóng thuyền có công suất lớn nhằm vươn rangư trường ngoài khơi, nhiều gia đình đã thực hiện việc cải hoán tàu thuyền

Trang 11

khai thác, từ thuyền có công suất thấp sang thuyền có công suất lớn hơn, khảnăng ra khơi xa hơn.

Trong tổng số tàu thuyền khai thác ở nước ta, tỷ lệ số tàu thuyền khai thác

xa bờ chiếm tỷ lệ không cao nhưng có xu hướng tăng dần theo thời gian.Tổng số lượng tàu khai thác xa bờ của nước ta trong năm 2000 có 9.766chiếc, chiếm 12%, đến năm 2007 đạt tới 21.130 chiếc, chiếm 22% tổng số tàuthuyền của cả nước, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu khaithác xa bờ lên 10,13%/năm [10]

- Sản lượng và năng suất khai thác:

Trong thập kỷ vừa qua, sản lượng và giá trị xuất khẩu thuỷ sản đã tăng lênkhông ngừng và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước hàng đầu trênthế giới về xuất khẩu thuỷ sản Năm 1990, tổng sản lượng thuỷ sản chỉkhoảng 1 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu 200 triệu đô la Đến năm 2003, sảnlượng thuỷ sản đã tăng gấp khoảng 2,5 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp

10 lần so với năm 1990

Năm 2010, thủy sản Việt đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận: Kếtthúc năm 2010, sản lượng khai thác thủy sản tháng 12/2010 ước đạt 255,8ngàn tấn, đưa sản lượng khai thác cả năm 2010 lên 2.450,8 ngàn tấn, bằng107,6% so với cùng kỳ năm 2009 và đạt 102,1% so với kế hoạch đề ra

2.3.4 Một số nguy cơ và thách thức của khai thác hải sản tại Việt Nam

Việt nam có bờ biển dài 3260 km, diện tích vùng đặc quyền kinh tếhơn 1 triệu km2, đây là các điều kiện tiềm năng để phát triển khai thác hải sản.Tuy nhiên, khai thác hải sản tại Việt nam đang đối mặt với một số nguy cơ vàthách thức sau đây:

Đầu tiên, đó là sự gia tăng quá nhanh và không có kiểm soát của khaithác hải sản trong những năm gần đây Cho đến năm 1990, khai thác hải sảnchỉ đóng một vai trò khiêm tốn với khoảng 260.000 ngư dân đánh bắt cá mưusinh và phục vụ cho tiêu thu nội địa, nhưng cho đến nay khai thác hải sản đãtrở thành một trong những lính vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cókhoảng 560.000 ngư dân trong tổng số 3.4 triệu nhân công trong ngành thuỷsản (chiếm khoảng 10% tổng số lao động trong cả nước) Cuờng lực khai thác

Trang 12

thuỷ sản tăng nhanh trong khi ngư trường khai thác chưa được mở rộng, làmmất cân đối giữa cường lực khai thác hải sản và nguồn lợi.

Thứ hai, nghề cá Việt nam có đặc điểm là quy mô nhỏ, đa nghề và sửdụng các các ngư cụ truyền thống do vậy rất khó khăn trong việc kiểm soátcường lực khai thác trên các vùng biển Theo thống kê trong vùng biển ViệtNam đã xác định được khảng 2000 loài cá, trong đó có 130 loài cá có giá trịkinh tế Số lượng tàu thuyền đánh cá có công suất nhỏ hơn 84 HP chiếm hơn90% tổng số tàu thuyền đánh cá trong cả nước

Thứ ba, hầu hết các hoạt động khai thác hải sản diễn ra ở khu vực ven

bờ và cường lực khai thác (bao gồm cả số lượng tàu thuyền cũng như tổngcông suất) đang không ngừng tăng lên Hình 1 cho thấy số lượng tàu thuyềnmáy đã tăng gần gấp đôi với tổng công suất tăng gần gấp ba, tàu thuyền thủcông giảm một nửa trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2002

(Nguồn: Dữ liệu từ Bộ Thuỷ sản)

Biểu đồ 1: Tỷ lệ gia tăng số lượng và tàu thuyền khu vực ven bờ

giai đoạn 1990 - 2002

Trang 13

Thứ tư, do có thu nhập thấp từ nông nghiệp, nhiều nông dân đã thamgia khai thác hải sản và xem đây là phương kế sinh nhai cuối cùng dẫn đến sốlượng người tham gia khai thác ở khu vực ven bờ tăng lên làm cho sản lượngkhai thác trên một đơn vị cường lực giảm và nguồn lợi ngày càng cạn kiệt

Cuối cùng, vấn đề khai thác quá mức ở khu vực ven biển đã ngày càngtrở nên rõ ràng, chẳng hạn, ở khu vực Vịnh Bắc bộ sản lượng khai thác thực

tế đã vượt quá sản lượng bền vững tối đa (MSY) từ năm 1994 Nghề cá ven

bờ đã được ngư dân và Chính phủ nhìn nhận là đang trong tình trạng khai thácquá mức, Chính phủ đã và đang cố gắng giảm cường lực khai thác ở khu vựcven bờ Tuy nhiên, kết quả của các nỗ lực này chưa đạt được như mong muốn

do chưa có sự phối hợp và phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp chínhquyền, thiếu các thông tin khoa học căn bản cần thiết và sự hạn chế của cácnguồn vốn đầu tư

2.3.5 Tình hình phát triển ngành khai thác thuỷ sản ở thừa thiên huế

Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển nằm ở miền Trung Việt Nam, cótọa độ ở 16-16,8 Bắc và 107,8-108,2 Đông, nơi có thể coi là điểm giữa củabản đồ Việt Nam hình chữ S Thừa Thiên Huế có ưu thế về phát triển thuỷ sản

ở 3 vùng: vùng biển, vùng đầm phá và vùng nước ngọt Hệ thống đầm phánước lợ thuộc phá Tam Giang với chiều dài 70km, diện tích 22.000 ha là vùngđầm phá có diện tích lớn nhất Đông Nam Á, có khả năng nuôi trồng và đánhbắt nhiều loại thuỷ hải sản đặc biệt dành cho xuất khẩu Những yếu tố đó tạocho Thừa Thiên Huế có điều kiện xây dựng các mô hình khai thác tổng hợpkinh tế biển và được xem là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh

- Về sản lượng:

Vài năm trở lại đây, được sự hổ trợ của nhà nước, tạo điều kiện cho vay vốn

ưu đãi nên nhiều ngư dân có điều kiện đầu tư cải hoán, nâng công suất tàuthuyền nên thời gian bám biển dài ngày hơn Trang thiết bị cũng được chútrọng đầu tư hổ trợ cho việc khai thác nên việc khai thác diễn ra thuận lợi,mang lại hiệu quả kinh tế cao Bình quân, sau mỗi chuyến biển từ 20 - 23ngày, trừ mọi chi phí cho lãi ròng từ 70 - 90 triệu đồng

- Về ngư cụ:

Trang 14

Với tiềm năng thủy sản phong phú, từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ,hoạt động ở vùng gần bờ, khai thác hải sản đã chuyển dịch theo hướng trởthành một nghề cá cơ giới, tăng cường khai thác ở vùng biển xa bờ, hướngvào các đối tượng khai thác có giá trị cao hơn Để thực hiện tốt mục tiêu đó.Các ngư cụ khai thác dần được cải tiến và đầu tư quy mô lớn hơn như lướikéo, lưới rê, lưới vây ánh sáng.

Số lượng tàu khai thác biển trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế những nămqua không ngừng tăng lên, nhất là từ sau năm 1997 khi có Chủ trương pháttriển khai thác xa bờ, tỷ trọng tàu thuyền công suất lớn trên 90 CV tăng đáng

kể, từ 1.000 chiếc năm 2006 nay tăng lên 1.800 chiếc với công suất từ 90CVtrở lên

Trang 15

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống hoạt động khai thác thủy hải sản của các hộ ngư dân thôn An Dương – xã Phú Thuận

Vùng nghiên cứu: thôn An Dương – xã Phú Thuận, một xã ven biển của huyện Phú Vang, tỉnh TT Huế

Thời gian nghiên cứu: từ ngày 3/1/2010 – 20/5/2011

3.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu sự đa dạng hoá sinh kế của các cộng đồngtrong điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội hiện tại Cụ thể các nội dungnghiên cứu như sau:

- Tìm hiểu và đánh giá vai trò sinh kế của hoạt động khai thác thuỷ sản biển

- Tìm hiểu các hình thức hợp tác và vai trò của tổ chức cộng đồng tronghoạt động khai thác thuỷ sản biển

-Tìm hiểu các hoạt động sinh kế và đánh giá đa dạng hoá sinh kế của cộngđồng ngư dân sống dựa vào khai thác thuỷ sản biển

+ Thực trạng đa dạng sinh kế

+ Đánh giá đa dạng hoá sinh kế

- Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về quản lý thuỷ sản biển và ảnh hưởngcủa biển đổi khí hậu đến sinh kế ngư dân

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu

- Chọn điểm:

Xã được chọn là một xã ven biển Thuận An, đó là xã Phú Thuận – PhúVang – TT Huế, đảm bảo các chỉ tiêu:

- Có nghề khai thác thuỷ sản phát triển

- Thuận lợi cho việc điều tra thu thập thông tin dữ liệu

Trang 16

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp

- Thu thập các sách báo, tài liệu nghiên cứu, các báo cáo khoa học, tạp chí

và các thông tin tài liệu trên internet có liên quan đến đề tài và vùng nghiên cứu Phương pháp này chủ yếu sử dụng trong phần tổng quan tài liệu

- Thu thập các dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo, tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê và các báo cáo tổng kết tình hình hoạt động khai thác thuỷ sản của

3.3.3 Phương pháp xử lý thông tin

- Đối với thông tin định tính: các thông tin thu được từ phỏng vấn hộ và người am hiểu cùng với một số thông tin trong bảng hỏi bán cấu trúc sẽ được đưa ra phân tích, đánh giá

- Đối với các thông tin định lượng: Số liệu sau khi đã thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel

Trang 17

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng Nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện kinh tế xã hội xã Phú Thuận

Phú Thuận là một xã ven biển của huyện Phú Vang, phía bắc giáp vớiThuận An, phía nam giáp với xã Phú Hải Là xã ven biển có nền kinh tế pháttriển với nhiều hoạt động sinh kế đa dạng Trong năm qua nền kinh tế tiếp tụcduy trì tăng trưởng mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Năm 2010,ước tính giá trị các ngành kinh tế đạt 177 tỷ 540 triệu đồng (tăng 25 tỷ 186triệu đồng so với năm 2009) với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 16,5% ; cơ cấukinh tế chuyển dịch theo hướng Dịch vụ - Ngư nghiệp – Tiểu thủ côngnghiệp, đã đẩy mạnh tăng nhanh dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp

- Lĩnh vực dịch vụ - thương mại: đạt giá trị 75,759 tỷ đồng, tăng 23,6% sovới năm 2009

- Lĩnh vực Ngư – Nông – Lâm nghiệp: đạt giá trị 74,818 tỷ đồng, tăng10,4% so với năm 2009

- Lĩnh vực Tiểu thủ công nghiệp – ngành nghề nông thôn: đạt giá trị 26 tỷ

862 triệu đồng, tăng 20% so với năm 2009

Cụ thể một số lĩnh vực như sau:

Về KTTS biển :

Là một xã ven biển đầm phá nên sản xuất trên địa bàn chủ yếu là khai thácthủy sản và đây chính là ngành nghề đem lại thu nhập chính cho người laođộng Trong năm qua đã đẩy mạnh vận động ngư dân từ lưới cụ, trang thiết bịhiện đại, cải hoán tàu thuyền mở rộng ngư trường khai thác, bám biển dàingày, ứng dụng khoa học kỷ thuật hộ trợ sản xuất, năm 2010 sản lượng khaithác đạt 8003 tấn, ước tổng giá trị: 72 tỷ 27 triệu đồng, tăng 12 tỷ 282 triệuđồng so với năm 2009, đạt 100,03% kế hoạch Trong đó: khai thác biển đạt7.900 tấn, đầm phá 103 tấn Đến cuối năm 2010 trên địa bàn Xã có 56 tàuđánh bắt xa bờ (giảm 3 chiếc so với năm 2009), 08 chiếc gọ, 59 ghe máy, 92

Trang 18

xuồng nang với tổng công suất 6.166 CV, có 120 thuyền có động cơ khai thácđầm phá với công suất 2,119 CV.

Về NTTS đầm phá:

Nuôi trồng thủy sản có xu hướng thu hẹp do quy hoạch đất để thực hiệncác dự án định cư trên địa bàn Xã Mặc dù vậy, UBND xã đã phối hợp vớiphòng NN & PTNT huyện tổ chức hướng dẫn nông dân cải tạo ao hồ nuôixen ghép nhiều đối tượng, đảm bảo lịch thời vụ Tổng sản lượng thu cá thịtcác loại đạt 13,8 tấn, cua đạt 6,09 tấn, ước đạt giá trị 2 tỷ 17 triệu đồng

Phối hợp với Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tiến hành đăng kiểm chotàu hàng khai thác trên biển và tổ chức tập huấn cho 33 ngư dân khai thácđầm phá về vấn đề bảo vệ nguồn lợi thủy sản đầm phá Tiến hành chi trả thủylợi phí năm 2009 cho 116 hộ với tổng số tiền 89.985.000 đồng và chuẩn bị chitrả thủy lợi phí năm 2010 cho ngư dân

Về dịch vụ:

Xác định là một trong ngành nghề được ưu tiên phát triển trong cơ cấukinh tế nên cơ cấu ngành dịch vụ ở đây khá đa dạng Là vùng biển nên cácdịch vụ như du lịch biển, hay các dịch vụ hậu cần nghề cá rất được chú trọngđầu tư

Ngay từ đầu năm Xã đã triển khai kế hoạch phát triển dịch vụ du lịch,thương mại, tích cực hưởng ứng và tham gia các chương trình lễ hội Thuận

An biển gọi, vận động một số cơ sỡ chế biến nước mắm tham gia chươngtrình hôi chợ tại Thuận An Chú trọng kiểm tra việc niêm yết giá cả, cứu hộ,cứu nạn, vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự tại bải tắm, gắn với việcnâng cao chất lượng phục vụ các dịch vụ, qua đó đã thu hút rất đông du khách

về tham quan tắm biển so với những năm trước Lập quy hoạch và đề nghịHuyện quy hoạch phân lô trên các chợ trên địa bàn để đưa vào tổ chức hoạtđộng có nề nếp

Các dịch vụ phục vụ hậu cần nghề cá duy trì tốt như: các cơ sở sữachữa máy tàu, dịch vụ xăng dầu, gạo và các mặt hàng thiết yếu khác Dịch vụvận tải duy trì tốt, dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển, số máyđiện thoại bình quân đạt 29 máy/100 dân, có 9 cơ sở kinh doanh dịch vụinternet và hơn 100 hộ có internet tại nhà, 100% trường tiểu học, THCS, trạm

Trang 19

y tế, cơ quan UBND xã và 01 trường mầm non đã sử dụng internet ( còn 01trường mầm non chưa có )

Nhờ vậy, ngành dịch vụ trên địa bàn tiếp tục tăng trưởng khá nhất làdịch vụ thương mại đạt giá trị 68 tỷ 22 triệu đồng, dịch vụ du lịch đạt 3 tỷ 900triệu đồng, các dịch vụ xây dựng, nông ngư nghiệp, bưu chính viễn thông,dịch vụ giao thông vận tải đạt giá trị 3 tỷ 639 triệu đồng

Các dự án đầu tư du lịch trên địa bàn đang trong quá trình triển khai xâydựng, trong đó: dự án do nhà đầu tư người Pháp đã hoàn thành một số hạngmục công trình, riêng dự án của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển côngnghệ Việt Nam đã có quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết của UBNDTỉnh với tổng diện tích 665.303m2, hiện nay đang triển khai thi công, nhưng

do còn vướng chưa giải quyết dứt điểm việc hỗ trợ, đền bù giải phóng các hộ

có ao hồ để xây dựng khu định cư cho các hộ bị ảnh hưởng từ dự án nên việctriển khai còn khó khăn

Về sản xuất Nông – Lâm nghiệp:

- Lâm nghiệp: đã trồng 10.000 cây phân tấn tại các khu vực ven biển đầmphá nhằm góp phần chống sạt lỡ ven biển, tăng cường công tác kiểm tra chặtphá rừng, cháy rừng Nhờ vậy, đã hạn chế thấp nhất tình trạng chặt phá rừngtrên địa bàn

- Chăn nuôi: đã làm tốt công tác tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm ở giasúc, gia cầm, nhất là dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, dịch tai xanh ởLợn Tăng cường công tác tiêm phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, đã tiêmphòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, dịch tả, tụ huyết trùng lợn, bệnh dại chóvới 1.280 liều Nhờ vậy, đến nay xã chưa có dịch xẩy ra Hiện trên địa bàn Xã

có 487 con Lợn, trâu bò 52 con, gia cầm 950 con, ước đạt giá trị 1 tỷ 774 triệuđồng

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp – ngành nghề nông thôn:

Đạt giá trị 26 tỷ 862 triệu đồng, tăng 20,7% so với năm 2009 Sản xuâttiểu thủ công nghiệp trên địa bàn chủ yếu là các cơ sở và các hộ cá thể chếbiến nước mắm Vì thế, năm qua UBND xã đã tăng cường công tác vận độngcác hộ chế biến, đặc biệt là các cơ sở đã có thương hiệu, tích cực quảng bá sảnphẩm, đăng ký nhãn mác hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ Đồng thời,

Trang 20

phối hợp với các phòng ban chức năng Huyện triển khai các dự án khuyếncông Nhờ vậy sản lượng nước mắm đã đạt 1.511 triệu lít, đạt trên 108% kếhoạch năm 2010 ước đạt giá trị 22 tỷ 665 triệu đồng.

Các nghành nghề khác như: thợ nề, thợ mộc, sữa chữa xe môtô, may mặc, nước đá cũng được duy trì, góp phần phục vụ đời sống nhân dân, giá trị các ngành nghề đạt 4 tỷ 197 triệu đồng

4.1.2 Đặc điểm dân cư, lao động vùng nghiên cứu

Bảng 1: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Thuận năm 2010

(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo kinh tế- xã hội năm 2010)

Với tổng diện tích đất thổ cư là 39,05 ha, xã Phú Thuận được chia làm 2thôn nhỏ là thôn Hòa Duân và An Dương Sự phân bố dân cư ở hai thôn kháđều nhau Hiện nay trên địa bàn xã có tổng số hộ là 1897 hộ với 8385 nhânkhẩu trong đó chỉ tính riêng thôn An Dương có tới 898 hộ với 3821 nhânkhẩu, chiếm 47,3% tổng số dân toàn xã

Tỷ lệ nam và nữ khá đồng đều trong thôn Tổng số nữ là 1926 ngườichiếm 50,4%, nam có 1895 người chiếm 49,6% Toàn thôn An Dương cótổng số 1975 lao động, trong đó có khoảng 600 lao động hoạt động trực tiếptrong lĩnh vực ngư nghiệp, 100% lao động tham gia trong lĩnh vực này là namgiới, phần đông đều đã có gia đình và là những người hoạt động lâu nămtrong lĩnh vực này Về vai trò của người phụ nữ tại thôn, theo điều tra có tới80% chỉ ở nhà và nội trợ, nuôi dạy con cái 20% buôn bán nhỏ lẻ các mặthàng như: hàng tạp hóa, trái cây và thủy sản, chế biến nước mắm, hàng tạp

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Tác An, Nguyễn Kỳ Phùng, Trần Bích Châu, Quản lý tổng hợp đới ven bờ biển ở Việt Nam: mô hình và triển vọng, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp đới ven bờ biển ở Việt Nam: mô hình và triển vọng
[2]. Phạm Thị Nhung, Bài giảng sinh kế, khoa Khuyến Nông và PTNT, Trường Đại học Nông Lâm huế, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh kế
[3]. Võ Đức Nghĩa, Bài giảng khuyến ngư , Trường Đại học Nông Lâm Huế, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng khuyến ngư
[4]. Lê Thông, Nguyễn Văn Phú - Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, nhà xuất bản đại học sư phạm, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản đại học sư phạm
[5]. UBND xã Phú Thuận. Báo cáo tổng kết nuôi trồng thuỷ sản và nhiệm vụ kế hoạch, các năm 2009, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nuôi trồng thuỷ sản và nhiệm vụkế hoạch
[6]. UBND xã Phú Thuận. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2009. Phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT – XH, QP – AN năm 2010, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2009. Phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT – XH, QP – AN năm 2010
[8]. Biến đổi khí hậu, 2007, http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach[9]. Hà Xuân Thông. Đặc điểm dân cư vùng ven biển.http://www.nhatrangbaympa.vnn.vn [10]. Dự án DANIDA Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach
[7]. Lê nguyên tường, trần mai kiên, trần quỳnh, 2007, Một số kết quả bước đấu trong nghiên cứu biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu ở lưu vực sông hương và huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Tình hình dân số và lao động của xã Phú Thuận năm 2010 - nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1 Tình hình dân số và lao động của xã Phú Thuận năm 2010 (Trang 20)
Bảng 3:   Tình hình hoạt động KT xa bờ của xã Phú Thuận - nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3 Tình hình hoạt động KT xa bờ của xã Phú Thuận (Trang 24)
Bảng 5:  Bảng giá các loại hải sản giai đoạn 2008 – 2010 - nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế
Bảng 5 Bảng giá các loại hải sản giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 26)
Bảng 4 cho ta thấy sản lượng của năm 2008 cao hơn so với năm 2010, tuy nhiên thu nhập của năm 2008 lại thấp hơn so với 2010 - nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 cho ta thấy sản lượng của năm 2008 cao hơn so với năm 2010, tuy nhiên thu nhập của năm 2008 lại thấp hơn so với 2010 (Trang 26)
Bảng 8: Bảng phân bố tiêu thụ các loại hải sản - nghiên cứu hoạt động khai thác thuỷ sản biển và đa dạng sinh kế của các hộ ngư dân xã phú thuận – huyện phú vang - tỉnh thừa thiên huế
Bảng 8 Bảng phân bố tiêu thụ các loại hải sản (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w