1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế

58 1,6K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tình Hình Thiệt Hại Do Lũ Lụt Và Giải Pháp Ứng Phó Của Người Dân Vùng Ven Biển Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại học Huế
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 497 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vấn đề này, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển Thừa Thiên Huế” nhằm để tìm hiểu thiệt h

Trang 1

Mục lục

Mục lục 1

PHẦN 1 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 4

PHẦN 2 5

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

2.1 Lũ lụt và sinh kế 5

2.1.1 Lũ lụt 5

2.1.2 Khái niệm sinh kế .6

2.1.3 Mối quan hệ giữa lũ lụt và sinh kế 6

2.1.3.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương 7

2.1.3.2 Các nguồn vốn sinh kế 8

2.1.3.3 Thể chế và chính sách 10

2.2 Khả năng sống chung với lũ cho người dân Miền Trung 11

2.3 Tình hình lũ lụt ở Thừa Thiên Huế .13

2.3.1 Đặc điểm lũ ở Thừa Thiên Huế .13

2.3.2 Tình hình thiệt hại do lũ năm 2009 tại Thừa Thiên Huế 15

PHẦN 3 17

NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Nội dung nghiên cứu 17

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã 17

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 17

3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội .17

3.1.2 Đặc điểm của nông hộ 17

3.1.3 Đặc điểm lũ lụt năm 2009 17

3.1.4 Thiệt hại của nông hộ do lụt năm 2009 17

3.1.4.1 Thiệt hại về tài sản, phương tiện sinh hoạt 17

3.1.4.2 Thiệt hại về sản xuất nông nghiệp 17

3.1.5 Thay đổi sinh kế trong nông nghiệp do lụt 17

3.1.6 Các giải pháp ứng phó và khắc phục của chính quyền địa phương 18

3.1.7 Các giải pháp ứng phó và khắc phục của nông hộ 18

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18

3.2.1.Đối tượng nghiên cứu 18

Đối tượng nghiên cứu là những nông hộ sống ven biển Thừa Thiên Huế 18

3.3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu 18

* Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua phỏng vấn sâu những người am hiểu thông tin trên địa bàn Thảo luận nhóm với nhóm người dân, kết hợp với điều tra nông hộ bằng bảng hỏi .19

PHẦN 4 20

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

Trang 2

4.1 Tình hình cơ bản của xã Phú Thanh 20

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 20

4.1.2 Điều kiên kinh tế - xã hội 22

24

4.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội các hộ khảo sát 25

4.2 Thiệt hại do lụt 2009 tại xã Phú Thanh 28

4.2.1 Thiệt hại do lụt 2009 trên địa bàn xã Phú Thanh 28

4.2.2.1 Thiệt hại về người 31

4.2.2.2 Thiệt hại về sản xuất 32

4.2.2.3 Thiệt hại về nhà cửa 35

4.2.2.4 Mất việc làm 36

4.2.3 Tỷ trọng giá trị các loại thiệt hại 37

4.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thiệt hại do lũ lụt ở xã Phú Thanh 38

4.3 Những giải pháp ứng phó của cộng đồng/nông hộ trước tình hình lũ lụt 39

4.3.1 Giải pháp đề phòng và ứng phó 39

4.3.2 Giải pháp khắc phục tổn thất và ổn định cuộc sống 42

4.3.3 Tổ chức phòng chống bão lụt và cứu trợ cho người dân bị thiệt hại do lụt năm 2009 tại xã Phú Thanh 44

4.3.3.1 Tổ chức phòng chống lụt bão 44

4.3.3.2 Tổ chức cứu trợ 44

4.4 Tác động của lụt 2009 đối với sinh kế các hộ khảo sát 45

4.4.1 Thay đổi thời vụ 45

4.4.3 Thay đổi về thu nhập 47

4.4.4 Thay đổi mức đầu tư sản xuất cho năm 2010 48

4.5 Đánh giá các giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt trên địa bàn 49

4.5.1 Giải pháp phi công trình 49

4.5.2 Giải pháp công trình 52

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Kiến nghị 54

54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 3

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo tổng kết của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, khoảng 10 nămtrở lại đây, Việt Nam đã chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu Bằng chứnghiện hữu là các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, lũ ống, lũquét… liên tục xảy ra, gia tăng về cường độ, quy mô và gây mức độ thiệt hại lớn

về tài sản và con người[7] Hiện nay, lũ lụt có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứkhu vực nào Hiện tượng En Nino và La Nina hoạt động mạnh hơn cả về tầnxuất, cường độ kéo theo nguy cơ về lũ lụt rất cao và khốc liệt hơn Trong tháng

11 và tháng 12/1999, hai đợt mưa lũ lớn nghiêm trọng đã xảy ra ở nhiềutỉnh miền Trung Đặc biệt đợt mưa lũ đầu tháng 11/1999 từ Quảng Bình đếnBình Định đã tạo ra hàng loạt kỷ lục về mưa và lũ chưa từng thấy trong nhiềuchục năm Trong đó, kỷ lục về lượng mưa trong 24 giờ ở Huế đạt tới 1.384 mmđược coi là lớn nhất trong lịch sử quan trắc khí tượng ở nước ta, chỉ đứng thứ haisau kỷ lục cùng loại trên thế giới là 1.870 mm ghi được vào năm 1952 ở đảoReunion thuộc Thái Bình Dương

Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng phải chịu chung cảnh với các Tỉnh Miền Trungtrước tác động của thiên tai, đặc biệt là lũ lụt Đã có 3 người chết, 7 người bịthương do bão số 9 Thống kê sơ bộ cũng cho biết toàn tỉnh có 72 nhà bị sập,

476 nhà bị tốc mái; hàng vạn hộ dân ngập trong nước; phần lớn diện tích hoamàu bị hư hại và ngập lụt; hàng ngàn cây xanh bị đổ gãy…Bờ biển xã HảiDương bị sạt lở sâu vào 30 m, dài 500m Quốc lộ 49 đoạn qua Diên Trường,Phú Dương, Phú Thanh, Thuỷ Bằng ngập sâu từ 0,4 đến 0,7m Đường Hồ ChíMinh bị sạt lở khoảng 1.290m3[6] Như vậy, thiên tai lũ lụt đang đồng hànhvới cuộc sống của người dân Thừa Thiên Huế Người dân đặc biệt là nôngdân chỉ còn cách đứng nhìn toàn bộ “kế sinh nhai” của mình bị lũ cuốn trôi,cuộc sống càng trở nên bấp bênh hơn Trước tình hình diễn biến và thiệt hạicủa lũ, các cấp chính quyền, cộng đồng đã có những chính sách cụ thể nhằmgiúp đỡ người dân khắc phục sau lũ nhưng đời sống và sản xuất vẫn còn gặpnhiều khó khăn Thực tế đặt ra là phải làm thế nào để giúp người dân tăng khảnăng “sống chung với lũ”, giảm thiểu tổn thất và tăng khả năng phục hồi sau

Trang 4

lũ Xuất phát từ vấn đề này, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển Thừa Thiên Huế” nhằm để tìm hiểu thiệt hại do lũ năm 2009 và những giải

pháp thực hiện để hạn chế ảnh hưởng của nó đến cuộc sống ngườidân Nghiên cứu trường hợp điển hình là xã Phú Thanh, huyện Phú Vang,Tỉnh Thừa Thiên Huế - là xã vùng bãi ngang ven biển còn gặp nhiều khó khăn

và chịu tác động mạnh của lũ lụt

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu tình hình lũ lụt và những thiệt hại do lũ lụt năm 2009 gây ratrên địa bàn

- Tìm hiểu, phân tích ảnh hưởng của lũ lụt đối với đời sống của nông hộ

- Đánh giá các giải pháp ứng phó và khắc phục thiệt hại do lũ lụt củanông hộ và chính quyền địa phương

Trang 5

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Lũ lụt và sinh kế

2.1.1 Lũ lụt

Lũ là hiện tượng nước sông dâng lên cao trong khỏang thời gian nhấtđịnh, sau đó giảm dần Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông, bờ đê, chảy vàovùng thấp trũng và gây ngập trên diện rộng thì được gọi là lụt[10]

Căn cứ vào thời gian xuất hiện lũ, người ta chia thành các loại lũ như sau:

Lũ tiểu mãn: là loại lũ do mưa lớn sinh ra trong khoảng thời tiết tiểu mãn

hàng năm Lũ tiểu nãm thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 6, và là nguồncung cấp lượng nước quan trọng cho các hoạt động đặc biệt là sản xuất nôngnghiệp trong thời kì nắng nóng Nhưng cũng có những năm lũ tiểu nãm lớnhơn lũ chính vụ nên gây thiệt hại đáng kể cho địa phương (như lũ tiểu nãmnăm 1989 ở Thừa Thiên Huế)

Lũ sớm: là lũ suất hiện sớm vào đầu mùa mưa lũ, ở Thừa Thiên Huế thường

vào tháng 8, 9

Lũ chính vụ: Là lũ xuất hiện vào giữa mùa mưa lũ, thường là những trận lũ

lớn nhất trong năm nên dễ gây ngập lụt, làm thiệt hại đáng kể về tính mạng vàtài sản Lũ chính vụ ở Thừa Thiên Huế thường xuất hiện vào tháng 10, 11

Lũ muộn: là lũ thường xảy ra vào cuối mùa mưa lũ, ở Thừa Thiên Huế là

tháng 12, có khi vào tháng 1 năm sau Lũ muộn thường gây thiệt hại chongười sản xuất nông nghiệp ở vụ Đông xuân

Căn cứ vào mực nước đỉnh lũ trung bình nhiều năm, người ta còn phân biệtthành các loại lũ:

Lũ nhỏ: là lũ có mực nước đỉnh lũ thấp hơn đỉnh lũ trung bình nhiều năm.

Lũ vừa: là lũ có mực nước đỉnh lũ xấp xỉ đỉnh lũ trung bình nhiều năm.

Lũ lớn: là lũ có mực nước đỉnh lũ lớn hơn đỉnh lũ trung bình nhiều năm.

Lũ đặc biệt lớn: là lũ đỉnh lũ cao hiếm thấy trong thời kì quan trắc và khảo

sát

Ngoài ra còn có các lọai lũ quét, lũ ống là loại lũ lớn có sức tàn phá lớn[3],[10]

Trang 6

2.1.2 Khái niệm sinh kế

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế tuỳ theo quan điểm và bốicảnh đưa ra định nghĩa

Theo DFID, sinh kế có thể được mô tả là một tập hợp của việc sử dụngcác nguồn lực thực hiện các hoạt động để sống Các nguồn lực bao gồm

kỹ năng và khả năng (vốn con người) của một cá nhân, đất đai, tiết kiệm vàtrang thiết bị (vốn tự nhiên, tài chính và vật chất), các nhóm hỗ trợ chính thứchay các mạng lưới không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi hoạt động (vốn xãhội)

Tóm lại, một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồntài nguyên, đất đai, đường sá) và các hoạt động cần có để kiếm sống [3] Đốivới người nông dân thì sinh kế của họ chính là việc sử dụng các nguồn lực đểsống Mà nguồn lực của người nông dân là lao động, các nguồn tài nguyên đấtđai, nước, cây trồng, vật nuôi, trang thiết bị mà họ mua sắm được cùng với sựgiúp đỡ của anh em, họ hàng và các mối quan hệ xã hội khác hỗ trợ họ trongviệc thực hiện các hoạt động sống

Có thể nói, cuộc sống của người nông dân phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt độngnông nghiệp nhờ trời Dù nền nông nghiệp có hiện đại đến mấy thì cũng bị tựnhiên chi phối Một thực tế là sự gia tăng các hiện tượng cực đoan đặc biệt là

lũ lụt như hiện nay thì sinh kế của người nông dân có bền vững hay không làmột điều không ai dám khẳng định

Sinh kế và thu nhập không đồng nghĩa nhưng có mối liên quan chặt chẽ:thành phần và mức độ thu nhập của cá nhân hoặc hộ là kết quả trực tiếp và đođếm được của tiến trình sinh kế; có thể hiểu rằng thu nhập bao gồm tiền mặt

và hiện vật còn sinh kế là các hoạt động tạo thu nhập, có sinh kế thì có thunhập và thu nhập để duy trì và phát triển sinh kế

2.1.3 Mối quan hệ giữa lũ lụt và sinh kế

Lũ lụt và sinh kế có mối quan hệ với mật thiết với nhau Để làm rõ mốiquan hệ này, ta có thể sử dụng công cụ mang tên “Khung sinh kế bềnvững” (SLF) của DFID là công cụ phân tích có hiệu quả nhất[3]

Trang 7

Các yếu tố tạo thành Khung sinh kế bền vững theo DFID:

2.1.3.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương.

Bối cảnh của sinh kế bền vững có thể được sử dụng để hiểu làm thế nàocác chiến lược sinh kế có thể gia tăng chất lượng sống của những cư dân nôngthôn trong các nước đang phát triển với đặc tính bền vững [3]

Khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môitrường đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản,vừa tích cực vừa tiêu cực, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tínhmùa vụ mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được

Hoàn cảnh dễ bị tổn thương được chia thành: xu hướng (xu hướng dân số,tài nguyên, kinh tế trong nước và trên thế giới, chính trị, kĩ thuật); chấn động hay

cú sốc (do thay đổi về tự nhiên, sức khoẻ con người, sức khoẻ cây trồng vật nuôi,thay đổi kinh tế), và tính thời vụ (giá cả, sức khoẻ, cơ hội việc làm)

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, nguy cơ gia tăng thiên tai,thảm hoạ trong đó có lũ lụt là điều không thể tránh khỏi Đối với các nướcnằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa như Việt Nam thì lũ lụt là một trongnhững hiện tượng thiên nhiên cực đoan có nguy cơ gia tăng nhiều nhất [10] Rủi ro thiên tai là khả năng rất dễ gặp nguy hiểm hoặc chịu thiệt hại vàmất mát khi thiên tai, thảm họa xảy ra Theo UNDP (2008), rủi ro thiên tai lànhững nguy hiểm bên ngoài mà con người khó kiểm soát được “Rủi ro tácđộng tới tất cả mọi người Cá nhân, gia đình và cộng đồng liên tục phải chịunhững rủi ro có thể đe doạ phúc lợi của họ Sức khoẻ kém, thất nghiệp, tộiphạm bạo lực, hoặc biến đổi bất thường trong các điều kiện thị trường, tất cả

về nguyên tắc đều có thể tác động tới tất cả mọi người Khí hậu tạo nên hàngloạt rủi ro khác nhau.” Hạn hán, lũ lụt, bão tố và các hiện tượng khác có thểlàm gián đoạn cuộc sống con người, dẫn tới mất thu nhập, tài sản và cơ hội.Rủi ro khí hậu không phân bố đồng đều mà phân tán khắp nơi [2]

Theo UNDP (2008), tính dễ bị tổn thương khác với rủi ro: “Tính dễ bịtổn thương thể hiện việc không có khả năng xử lí rủi ro mà buộc phải chấpnhận những lựa chọn làm giảm phúc lợi của con người về lâu dài”[2] Cónghĩa là, trong khi rủi ro là những yếu tố khách quan bên ngoài thì tính dễ bịtổn thương “thước đo khả năng xử lý những nguy hiểm ấy mà không phải

Trang 8

chịu thiệt hại lâu dài đối với những tài sản mà khó có thể có lại được Đại ý ởđây có thể nói gọn là “cảm giác bất an, cảm giác về những nguy hại trừutượng khiến con người lo lắng như là cái gì đó xấu có thể xảy ra và “gieo rắctàn phá” (Warren, 2006)

Như vậy, không phải đối với mọi đối tượng, rủi ro đều có thể biến đổithành tổn thương Điều kiện hình thành quá trình này đó là tình trạng pháttriển con người yếu kém ở mỗi địa phương Mức độ phụ thuộc của kinh tế vàonông nghiệp, thu nhập bình quân thấp, điều kiện sinh thái bất lợi, vị trí địa líthuộc khu vực nhiệt đới – nơi chịu nhiều hình thế thời tiết cực đoan…Chính

là những nhân tố chuyển đổi rủi ro thành tổn thương

2.1.3.2 Các nguồn vốn sinh kế

Lũ lụt là cú sốc về tự nhiên, là hoàn cảnh dễ gây tổn thương cho các loại tài sản sinh kế của con người: tài sản tự nhiên, vật chất, con người và xã hội, tài chính

Tài sản con người:

Khi nói tới nguồn lực này của người nông dân thì thường tập trung vào tìnhtình nhân khẩu; cơ cấu theo giới, số lao động của hộ, trình độ của lao độngnói riêng và của các thành viên trong gia đình nói chung và trình độ học vấncủa các thành viên trong gia đình Xét mối quan hệ của các yếu tố này vớicác họat động sinh kế và kết quả sinh kế của hộ Bao gồm kĩ năng, kiến thức,năng lực để lao động, và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổinhững chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình

Lũ lụt có thể gây tổn thương về sức khoẻ hay tính mạng, gián tiếp ảnh hưởngtới khả năng lao động của con người

Tài sản vật chất:

Tài sản vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và công cụ sản xuất hàng hóacần thiết để hỗ trợ sinh kế

Như vậy, việc tìm hiểu thiệt hại tài sản vật chất của nông hộ do lũ lụt

là xem xét các vật chất của hộ như: nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt, công cụ laođộng, cơ sở hạ tầng bị mất mát hay hư hại như thế nào trước tác động củalũ

Trang 9

Tài sản tài chính:

Con ngưới sử dụng vốn tài chính để phát huy có hiệu nguồn vốn khácnhư dùng tiền mua sắm các tiện nghi trong nhà, xây dựng nhà cửa, đầu tư sảnxuất Các hoạt động sống tạo thu nhập phụ thuộc vào mức đầu tư các yếu tốsản xuất chính như: diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giátrị của tài sản cố định ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và

áp dụng giống lúa mới

Xét về tài chính của hộ là xem xét lượng tiền mặt mà hộ thu nhận được

từ các hoạt động sinh kế; các chi tiêu, tích lũy của hộ trong một năm Và lũlụt có thể gây mất mát đến tiền mặt hay các loại giấy tờ, vật chất thay thế tiềnmặt như vàng, bạc, chứng từ, sổ tiết kiệm

Tài sản xã hội

Vốn xã hội, một nhân tố quan trọng của việc tiếp cận sinh kế, liên quanđến mạng lưới xã hội, những mối quan hệ và sự tin cậy sự gắn kết trongcộng đồng để phát triển kinh tế, giảm nghèo, dân chủ xã hội và ngay

cả vấn đề quản lý tài nguyên Theo những tài liệu này cho thấy, vốn xã hộiđược xây dựng giữa những cá nhân, trong cộng đồng và các cấp xã hội thôngqua các tổ chức chính thống và không chính thống để tạo ra những mối liênkết bền vững, mạng lưới và sự tin cậy lẫn nhau

Các cá nhân, tổ chức tham gia vào mối liên kết bao gồm các gia đình,những người xóm giềng, những người bạn thân và các tổ chức kinh doanh của

xã hội hiện tại… Liên kết xã hội liên quan đến nhiều hơn tính thống nhất củamạng lưới xã hội và nó dường như bao quanh mối liên kết xã hội yếu hơn sựgắn chặt vốn xã hội Tuy nhiên nó cung cấp cho cá nhân và các nhóm những

hỗ trợ lớn hơn để “ tiến bộ” khi họ theo đuổi một mục tiêu nào đó [3]

Lũ lụt có ảnh hưởng đến loại tài sản này nhưng vẫn khá hạn chế Thôngthường, lũ lụt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các loại tài sản vật chất từ đógián tiếp đến tài sản xã hội như: hư hại dây điện, điện thoại, đường xá, cầucống làm cản trở giao lưu trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau của con người

Tài sản tự nhiên:

Lũ lụt có thể gây hư hại hay làm giảm hoặc tăng chất lượng các loại tàisản tự nhiên như: bồi lấp đất đai thêm màu mỡ, rửa trôi, thau phèn

Trang 10

Lũ lụt là cú sốc tự nhiên Nhưng đối với khu vực Thừa Thiên Huế, lũ lụt vừa

là cú sốc tự nhiên vừa mang tính thời vụ Bởi vì lũ lụt là hiện tượng xảy rahàng năm, theo mùa Thông qua việc gây thiệt hại đến các loại tài sản sinh kế,

nó ảnh hưởng tới năng suất lao động và hiệu quả sản xuất Tuy nhiên mức độtổn thương của các loại tài sản đó lại phụ thuộc vào chính số lượng hay chấtlượng của chúng Với một hệ thống tài sản tốt, có tính cân bằng cao hay mộtsinh kế càng bền vững thì khả năng dễ bị tổn thương càng thấp Ví dụ: mộtngười có sức khoẻ, có khả năng bơi lội và được trú ẩn trong một ngôi nhàchắc chắn thì khả năng chết hay bị thương rất thấp, hay một hệ thống cơ sở hạtầng phòng chống lũ lụt như đê bao, cầu cống tốt thì càng giảm thiểu nhữngthiệt hại do lũ lụt gây ra Bên cạnh đó, thể chế và chính sách cũng là nhữngnhân tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoàn cảnh dễ bị tổn thương

2.1.3.3 Thể chế và chính sách

Thể chế chính sách bao gồm các chính sách, luật lệ, những hướng dẫncủa nhà nước, và phong tục của cộng đồng, các cơ quan, tổ chức và dịch vụcũng như tư nhân đều có những tác động lên tài san sinh kế và chiến lược sinh

kế của các hộ nông dân Đây là phần quan trọng của khung phân tích sinh kếbền vững vì nó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế,những chiến lược sinh kế, lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một

số hoạt động sinh kế nhất định Ngoài ra, đây còn là những yếu tố tác độnglên các mối quan hệ để đạt được những điều kiện sống tốt nhất [8]

2.1.3.4 Các chiến lược sinh kế

Trong tác phẩm của Ellis nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng trực tiếp đến sự liên kết giữa tài sản và việc lựa chọn hình thức sử dụng để theo đuổi các hoạt động đó mà có thể tạo ra được thu nhập cần thiết cho cuộc sống[3]

Như vậy khi xem xét về vấn đề chiến lược sinh kế của các nông hộ làtìm hiểu xem các cách thức người nông dân sử dụng các nguồn lực sinh kế đểtạo ra nguồn thu nhập phục vụ cho sự duy trì và phát triển đời sống

Trang 11

2.2 Khả năng sống chung với lũ cho người dân Miền Trung

Người dân Miền Trung chiếm 25% dân số cả nước, nhưng có đến70,1% trong số đó sống với mức dưới 200000đ/ngày Kinh tế còn phụ thuộcnhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là ngành nông, ngư nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo ởnhững vùng thường xuyên xảy ra thiên tai còn cao, còn tiềm ẩn các nguy cơtái nghèo [9].Tất cả những hạn chế trên đã hạn chế khả năng ứng phó củangười dân, đặc biệt là người nghèo trước những thảm hoạ do thiên tai nhưbão, lũ lụt, hạn hán…làm tăng nguy cơ rủi ro trước thảm hoạ thiên tai

Để giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, công tác PC & GNTT và việc lồngghép các yêu cầu của công tác này trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hộicần được coi trọng Đối với lũ lụt ở Miền Trung thì cần tăng cường hơn nữakhả năng “sống chung với lũ” cho người dân Bởi lũ lụt ở khu vực này xảy rathường xuyên và dài ngày, người dân buộc phải thích nghi với điều kiện khókhăn đó Khả năng “sống chung với lũ” là sự kết hợp các kỹ năng, biện pháp,kiến thức, nguồn lực và sức mạnh nội tại của cộng đồng nhằm duy trì đờisống, sinh kế ổn định trong điều kiện lũ lụt

Trong những năm qua, để tăng cường khả năng PC & GNTT cũng như khảnăng “sống chung với lũ” cho người dân trong cả nước nói chung và ở MiềnTrung nói riêng, chính phủ và các ban ngành đã có những chính sách, chươngtrình hỗ trợ hiệu quả

Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai

Ở Việt Nam, giải pháp công trình là ưu tiên số 1 Nó chủ yếu tập trungvào xây dựng hệ thống đê sông và đê biển Hệ thống đê này đã được xây dựng

từ hàng nghìn năm qua để bảo vệ mùa màng và tài sản của người dân trước sự

đe doạ của lũ lụt Ngày nay, hệ thống này đã phát triển lên tới xấp xỉ gần 5000

km đê sông, 3000 km đê biển và đê vùng cửa sông ở khắp nơi trên đất nước.Các cơ sở hạ tầng, cũng như nền nông nghiệp không thể tồn tại nếu không có

Trang 12

những con đê bảo vệ này Vì lý do nào đó mà các con đê này không ngănđược nước biển tràn vào hoặc bị vỡ thì ruộng đồng sẽ bị nước biển làm chonhiễm mặn và không thể gieo trồng được trong nhiều năm

Những hệ thống cảnh báo lũ có thể đóng vai trò quan trọng trong công tácgiảm nhẹ lũ lụt ở Việt Nam nhưng hiện nay các trang thiết bị đã lạc hậu hoặckhông đủ Những phương tiện nào còn tồn tại thì thường có độ tin cậy khôngcao và các bước phát đi cảnh báo thường không được sự hỗ trợ của các côngnghệ truyền thông hiện đại

Đối với sản xuất thì các biện pháp về thời vụ và giống cây trồng tỏ ra

có hiệu quả nhất Thời vụ các loại cây trồng, vật nuôi được người dân điềuchỉnh cho phù hợp với mùa vụ thiên tai khí hậu Ở miền Trung, lúa đượctrồng 2 vụ trên năm, vụ Hè Thu luôn phải thu hoạch trước tháng 10 hàng năm

để tránh lụt Ngoài ra, các hoạt động khác như trồng cây, gây rừng cũng gópphần bảo vệ người dân tránh được những trận lũ lớn do rừng bị chặt phá

Tổ chức cứu trợ

Tổ chức cứu trợ ở Việt Nam được các chuyên gia của UNDP đánh giá

là hoạt động hiệu quả nhất, luôn kịp thời đáp ứng nhu cầu của người dân.Ngay từ trước các đợt lụt, hệ thống ủy ban phòng chống lụt bão và tìm kiếmcứu nạn từ trung ương đến địa phương đã được thành lập Hiện nay hệ thốngnày đã về tận thôn, bản Nhiệm vụ chính là chỉ đạo, và thực hiện các công tácphòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn cho khu vực bị ảnh hưởng Nguồnhàng cứu trợ được chính phủ huy động từ nhiều nguồn: quốc gia, tổ chứcNGOs, các cá nhân tổ chức từ thiện

Các giải pháp phòng chống lũ lụt ở miền Trung

Phương châm phòng chống và giảm nhẹ thiên tai cho vùng đồng bằng

ven biển miền Trung và miền Đông Nam Bộ là "Né tránh và thích nghi" Giải

pháp phòng chống và giảm nhẹ thiên tai cơ bản là: chú trọng xây dựng quihoạch khu dân cư, khu công nghiệp, khu du lịch; quy hoạch, xây dựng côngtrình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, công trình hạ tầng giao thông, trong

đó chú trọng đảm bảo khả năng tiêu thoát lũ

Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và khả năng đối phó với thiên tai của mỗi người dân và cộng đồng Nâng cao

Trang 13

năng lực cứu hộ, cứu nạn cho các lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách

và lực lượng nhân dân địa phương

Hoàn thiện các chính sách, chế độ khuyến khích người dân tham gia phòngchống và giảm nhẹ thiên tai

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp và tận dụng được điều kiện tựnhiên trên đất liền, trên biển

Các giải pháp ngăn lũ, ngăn mặn, điều tiết nguồn nước bao gồm: thựchiện chương trình củng cố công trình đê điều, tận dụng và bảo tồn các cồn cát tựnhiên để ngăn nước sông, biển, ngăn mặn; xây dựng phát triển các hồ chứa, cáccông trình thủy lợi chống hạn, chống úng; xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, nạo vétluồng lạch, xây dựng các khu trú đậu tàu thuyền, nâng cấp và phát triển các trạmthông tin ven biển phục vụ cảnh báo bão, nước biển dâng, sóng thần

Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức

và khả năng đối phó với thiên tai của mỗi người dân và cộng đồng Nâng caonăng lực cứu hộ, cứu nạn cho các lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách

và lực lượng nhân dân địa phương

Hoàn thiện các chính sách, chế độ khuyến khích người dân tham gia phòngchống và giảm nhẹ thiên tai bão, lũ, hạn hán, dông, lốc [12],[10]

2.3 Tình hình lũ lụt ở Thừa Thiên Huế

Từ thuở dựng nước tới nay, dân tộc ta nói chung và nhân dân thừa thiênhuế nói riêng thường xuyên phải đối mặt với thiên tai lũ lụt Lũ lớn và đặcbiệt lớn gây ra những thiệt hại nặng nề về người và cửa cải như những trận lũnăm 1844, 1953, 1983, và 1999 ở Thừa Thiên Huế Chính vì vậy, cha ông ta

đã xếp lũ lụt là thiên tai nguy hiểm nhất trong bốn tai họa“Thủy, Hỏa, Đạo,Tặc”[14]

2.3.1 Đặc điểm lũ ở Thừa Thiên Huế

Các hình thể gây mưa lũ ở thừa thiên huế rất đa dạng, tuy nhiên có thểkhái quát thành 5 dạng sau đây:

Dạng 1: không khí lạnh kèm theo Front lạnh ảnh hưởng kết hợp địa hình Dạnghình thế này gây ra lũ nhỏ hoặc vừa, thường là lũ đơn( chiếm 9%)

Trang 14

Dạng 2: bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp Hình thế này thường xẩy ravào thời gian từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 35% số đợt lũ, thường gây ra lũ vừa

và lớn, đôi khi gây ra lũ đạc biệt lớn như đợt lũ từ 21-26/10/1996

Dạng 3: không khí lạnh kết hợp với hội tụ nhiệt đới ở vĩ độ từ 8- 150N Loạinày chiếm 31%, xuất hiện trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 11, thịnh hànhnhất vào tháng 10,11 và thường xuyên gây ra lũ lớn, đặc biệt lớn (như đợt lũtháng 11 năm 1995)

Dạng 4: không khí kết hợp với bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào từ tỉnhPhú Yên đến Bình Định, loại này chiếm 8%, xuất hiện vào tháng 10, 11,thường gây ra lũ vừa và lớn

Dạng 5: hai hình thế trên đây (3 và 4) nếu kết hợp với gió đông trên cao thìgây ra mưa trên cao cực kì lớn và có thể xẩy ra lũ lịch sử (như lũ tháng10/1983 và lũ đầu tháng 11/1999)

Sự tổ hợp 2, 3 thậm chí 4 hình thế thời tiết hoặc đồng thời kế tiếp nhau thì sẽgây ra đợt lũ cực kì ác liệt như trận lũ đầu tháng 11/1999 Trận lũ lịch sử này

có dạng lũ kép, biên độ lớn, lũ lên nhanh nhưng rút chậm do ảnh hưởng củatriều cường Thời gian lũ trên báo động III kéo dài trong nhiều ngày[14]

Lũ lụt ở Thừa thiên Huế mang các đặc điểm sau:

Số trận lũ: Theo số liệu quan trắc từ 1977-2006 trên sông Hương, trung bình

hàng năm có 3,5 trận lũ lớn hơn hoặc bằng mức báo động II, năm nhiều nhất

có 7 trận, năm ít nhất có 1 trận, trong đó có 36% lũ lớn và đặc biệt lớn Nhữngnăm có hiện tượng La Nina số đợt lũ và đỉnh lũ lớn hơn rõ rệt

Thời gian kéo dài: Phụ thuộc vào tình hình mưa và thuỷ triều, thời gian kéo

dài trung bình của một đợt lũ khoảng 3-5 ngày, dài nhất 6-7 ngày

Thời gian truyền lũ: trung bình 5-6 giờ với khoảng cách 51km từ thượng

nguồn (Thượng Nhật) đến hạ lưu (Kim Long)

Biên độ lũ, cường suất lũ: phụ thuộc vào lượng mưa và cường độ mưa và hình

dạng mặt cắt sông Biên độ lũ giao động troảng 3-5m, cường suất lũ lớn nhất

ở vùng núi khoảng 1-2m/h, ở vùng đồng bằng từ 0,5-1m/h

Lưu lượng lũ: Lưu lượng của trận lũ 1953 là 12.500m3/s và trận lũ đầu thángXI/1999 là 14.000m3/s Tổng lượng nước trên toàn bộ các sông đổ xuống hạ

Trang 15

lưu từ ngày 1-6/XI/1999 là khoảng 307 tỷ m3 làm 90% lãnh thổ vùng đồngbằng ngập sâu trong nước từ 1-4m[14]

Theo quy chế thông báo tình hình lũ ở các con sông chính của nước ta doChính Phủ ban hành, trên các con sông ở Thừa Thiên Huế được quy định ở bảng 1:

Bảng 1: Mực nước báo động trên các con sông ở Thừa Thiên Huế

Tên sông Trạm thủy

(Nguồn: Số liệu thống kê của sở khoa học, công nghệ và môi trường TTH)

Các mức báo động trên có ý nghĩa sau:

Mức báo động I: Ngập một số vùng ven sông

Mức báo động II: Mực nước dâng lên, ngập đường sá vùng thấp, cá bãi haomàu, nhà cử ven sông bị đe dọa, nhà cửa ngập sâu trên diện rộng

Mức báo động III: Nước ngập các trục đường giao thông chính từng đoạn,ngập các kho tàng biến bãi, trường học, nhà cửa, đe dọa tính mạng con người

2.3.2 Tình hình thiệt hại do lũ năm 2009 tại Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế được coi là "trung tâm" vùng lũ lụt miền Trung Theobáo cáo thống kê thiệt hại do lũ năm 2009 của UBND tỉnh, đã có 5 đợt lũ liêntiếp xẩy ra, trong đó có 4 đợt lũ lớn xẩy ra trên báo động III Chính vì vậy, lũlớn đã gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản của người dân Cụ thể:

Về người:

Trong cả 4 đợt lũ lớn như đã nói, toàn tỉnh đã có 36 người chết, chỉriêng cơn bão số 9 đã có 11 người chết Nguyên nhân chính gây tử vong là dothái độ bất cẩn, chủ quan của người dân khi tham gia phòng chống lụt bão.Ngoài ra, còn có 2 người mất tích và 56 người bị thương do lũ lụt

Về nhà ở:

Lũ đã làm sập và cuốn trôi 307 ngôi nhà, bị ngập 109164 ngôi nhà Cácđịa phương bị thiệt hại nhiều nhất là ở huyện Phú Vang, huyện Phú Lộc,huyện Phong Điền Ngoài ra, còn có 6765 ngôi nhà bị tốc mái

Trang 16

Về sản xuất:

Toàn tỉnh có 2650 ha diện tích lúa bị sập, ngã đổ; 3550 ha diện tích hoamàu các loại bị ngập, hư hại; 460 tấn thóc và giống các loại bị ngập và hư hỏng

Có hơn 3100 con lợn, trâu bò bị chết, 100000 con gia cầm bị chết Ngoài ra, mưa

lũ còn làm sập 1449 ao hồ nuôi trồng thủy sản, ước sạt lở 401000m3 đất, 56 lồngnuôi cá bị cuốn trôi; có 43 tàu thuyền, sà lan can bị chìm lật

Về cơ sở hạ tầng:

* Giao thông:

Hầu hết các tuyến đường trong toàn tỉnh đều bị ngập sâu Đặc biệt,100% tuyến đường liên thôn, liên xã bị ngập sâu trong nước lũ từ 0,5 đến 1mnước Riêng tuyến tỉnh lộ 49, 14… bị sạt lở hàng trăm đoạn với hàng ngàn m3

đất đá trụt lở trong mưa lũ gây ách tắc giao thông

* Các công trình thủy lợi:

Nhiều công trình thủy lợi bị hư hại nặng như; trên 76 công trình hồchứa, đập dâng nhỏ xây dựng tạm ở các xã miền núi bị sạt lở bồi lấp; trên 427

hệ thống đê bao, kênh mương nội đồng sạt lở và bồi lấp; trên 427 tuyến đêngăn mặn, đê song bị sạt lở, hư hỏng và xuống cấp; hệ thống đường cấp nướcsạch bị cuốn trôi và bồi lấp

* Điện lực:

Hơn 72% phụ tải toàn tỉnh bị mất Tổng thiệt hại thống kê được là 1210

tỷ đồng Trong đó, giao thông và cơ sở hạ tầng thiệt hại lớn nhất 860 tỷ đồng,chiếm gần 66% trong tổng thiệt hại Ngành nông nghiệp thiệt hại 46,7 tỷđồng Còn lại là thiệt hại các mảng dân sinh, y tế, xã hội

Trang 17

PHẦN 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: gần biển, sông, địa hình thấp trũng…

- Khí hậu: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm…

- Thiên tai: lũ lụt, hán hán

3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Dân cư địa phương

- Các ngành kinh tế

3.1.2 Đặc điểm của nông hộ

- Số nhân khẩu trong gia đình, số lao động, độ tuổi và trình độ lao động, sốngười phụ thuộc

- Loại nhà đang sử dụng, năm xây dựng, tình hình chất lượng nhà hiện nay

- Các loại vật dụng gia đình: ti vi, xe máy…

3.1.3 Đặc điểm lũ lụt năm 2009

- Số đợt lũ /năm, thời gian xảy ra, cường độ, diện ngập lụt

- Số liệu dự đoán về xu hướng các hiện tượng trong thời gian tới về cường độ,mức độ nghiêm trọng…

3.1.4 Thiệt hại của nông hộ do lụt năm 2009

3.1.4.1 Thiệt hại về tài sản, phương tiện sinh hoạt

- Tổng thiệt hại quy ra tiền

- Các loại tài sản bị mất, hư hỏng, giá trị các loại

- Tình trạng nhà sau lũ, mức độ thiệt hại nhà cửa

3.1.4.2 Thiệt hại về sản xuất nông nghiệp

- Số lượng cây trồng vật nuôi bị mất mát, hư hỏng

- Số diện tích lúa, hoa màu bị mất

- Giá trị các loại

- Các loại công cụ, máy móc bị thiệt hại do lũ

3.1.5 Thay đổi sinh kế trong nông nghiệp do lụt

- Các nguồn tạo thu nhập chính của hộ

Trang 18

- Các loại hình sản xuất nông nghiệp chính (cây trồng, vật nuôi…)

- Quy mô các loại, diện tích, số lượng

- Những thay đổi trong kỹ thuật, đầu tư cho các hoạt động nông nghiệp nhằmgiảm thiểu tổn thất trong nông nghiệp

3.1.6 Các giải pháp ứng phó và khắc phục của chính quyền địa phương

- Tình trạng các công trình, dịch vụ hỗ trợ địa phương trong phòng chống

thiên tai (đài cảnh báo, kẻng, nhà trú ẩn )

- Vai trò của chính quyền địa phương, các phòng chức năng liên quan đếnphòng chống thiên tai

3.1.7 Các giải pháp ứng phó và khắc phục của nông hộ

- Giải pháp phòng chống: củng cố nhà cửa; mua sắm thuyền bè; gửi tiết kiệm;mua bảo hiểm; di tản tài sản, người…

- Các giải pháp người dân lựa chọn trong trường hợp mưa lũ bất ngờ xảy ra;hay bất ngờ trầm trọng hơn ngoài dự đoán

- Những giải pháp của nông hộ nhằm khắc phục các khó khăn trong đời sống

và sản xuất sau lũ

- Giải pháp ưu tiên nhất được người dân sử dụng? Vì sao lại chọn giải pháp đó?

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những nông hộ sống ven biển Thừa Thiên Huế

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi nội dung: nghiên cứu các nội dung liên quan đến tình hình lũ lụt,

những thiệt hại và giải pháp ứng phó với lũ lụt của người dân vùng ven biển

* Phạm vi không gian: địa điểm được chọn nghiên cứu là xã Phú Thanh- một

xã nghèo, chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và chịu nhiều ảnhhưởng của lũ lụt

* Phạm vi thời gian: nghiên cứu tập trung vào 2 năm 2009, 2010

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp PRA sử dụng trong nghiên cứu này với các công cụ hổ trợ:

* Phỏng vấn sâu: cán bộ địa phương và người am hiểu về công tác ứng phó

và chiến lược sinh kế cho người dân trước lũ lụt

Trang 19

* Phỏng vấn hộ theo bảng phỏng vấn:

Chọn mẫu:

+ Dung lượng mẫu: 40 hộ

+ Phương pháp chọn mẫu: thu thập danh sách các hộ tại cán bộ thôn,chọn ngẫu nhiên 40 hộ

* Thảo luận nhóm: 1 buổi

Nhằm mục đích kiểm tra lại thông tin điều tra, và xây dựng các giải pháp đểgiảm nhẹ tác động của lũ lụt dựa vào cộng đồng

Có 10 người tham gia gồm: 3 người am hiểu, 1 đại diện của xã, và 6 người dân

3.3.2 Thu thập số liệu:

* Số liệu thứ cấp: thu thập các số liệu thống kê về kinh tế - xã hội, thiệt hại do

lũ lụt thông qua các báo cáo của xã

* Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua phỏng vấn sâu những người am

hiểu thông tin trên địa bàn Thảo luận nhóm với nhóm người dân, kết hợp với điều tra nông hộ bằng bảng hỏi

- Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu sau khi thu thập được nhập và xử lý bằng phần mền Excel

Trang 20

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Tình hình cơ bản của xã Phú Thanh

Xã Phú Thanh – huyện Phú Vang đựơc chọn làm điểm nghiên cứu là một xãbãi ngang ven biển còn gặp nhiều khó khăn Nhìn chung về điều kiện tự nhiênkinh tế xã hội của xã cũng có những nét đặc trưng riêng

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lí

Xã Phú Thanh là một xã có vị trí địa lí hơi đặc biệt Nó là một xã thuộcvùng bãi ngang ven biển nhưng lại nằm ở cuối hạ lưu sông Hương và gần vớiđầm phá Tam Giang – Cầu Hai Xã nằm cách thành phố Huế 10 km về phíaĐông

Xã Phú Thanh có phía Bắc giáp với sông Hương Phía Nam giáp với xã PhúDương Phía Đông giáp với thị Trấn Thuận An Phía Tây giáp với xã PhúMậu Như vậy, vị trí của xã nằm gọn trong vành đai nhiệt đới bán cầu và làkhu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Châu Á Với vị trí đặc biệt đó, xã vừachịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam chi phối Giómùa đông bắc bắt đầu vào tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió bình quân

từ 4-6m/s Gió kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây ra lũ lụt vàngập úng ở nhiều nơi

Đặc điểm địa hình

Xã có địa hình thấp trũng nhất huyện Phú Vang và không có đồi núi.Tuy nhiên địa hình của xã được chia thành hai vùng chính: hợp tác xã 1 vàhợp tác xã 2

Hợp tác xã 1 là vùng có địa hình cao hơn gồm hai thôn Hoà An và Lại Lộc,trong đó thôn Hoà An là thôn có địa hình cao nhất toàn xã Thường ít chịuảnh hưởng nhất của tác hại lũ lụt

Hợp tác xã 2 là vùng có địa hình thấp trũng hơn, gồm 3 thôn: Quy Lai, ThanhĐàm, Hải Trình Trong đó thôn Hải Trình là thôn thấp nhất trên địa bàn Đây

là vùng thấp trũng nên đất đai thường bị ngập úng và nhiễm mặn ảnh hưởngtới sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân

Điều kiện khí hậu - thuỷ văn

Trang 21

* Khí hậu:

Xã Phú Thanh cũng như các xã khác của huyện Phú Vang đềuchịu sự chi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnhhưởng của khí hậu đại dương Vì vậy những đặc trưng chủ yếu về khí hậuthời tiết của xã là: nhiệt độ cao đều trong năm (250C - 39,80C), tổng tích ônlớn (hầu hết >90000C), lượng mưa biến động theo mùa khá rõ rệt (mùa mưa

và mùa khô) và chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão Trên lý thuyết, so với cáctiểu vùng khác của huyện Phú Vang thì xã Phú Thanh nằm trong tiểu vùng cóđiều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp mang tính chất sản xuấthàng hoá cao, đặc biệt là phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, các loại câytrồng đòi hỏi về nhu cầu nước tưới lớn Cụ thể:

Về nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 250C; cao nhất vào các tháng 5,6,7 và 8với nhiệt độ tối cao tuyệt đối năm khoảng 40,10C; nhiệt độ thấp nhất vào cáctháng 12, tháng 1 và 2 năm sau với nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 10,20C

Về mưa, do địa hình đồng bằng ven biển nên có lượng mưa thấp, số ngày mưangắn hơn so với các vùng miền núi của tỉnh, lượng mưa trung bình nămkhoảng 2550mm

Thời tiết của xã chia thành 2 mùa rõ rệt Trong đó, mùa khô bắt đầu từ tháng

3 đến tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, riêng tháng 11 làtháng có lượng mưa nhiều nhất chiếm tới 30% lượng mưa cả năm Trong 4tháng này là thời gian mưa lũ chính vụ, ngoài ra, còn có xuất hiện lũ tiểu mãntrong khoảng tháng 5,6 Trận lũ này tuy không lớn nhưng cũng gây thiệt hạiđáng kể về sản xuất nông nghiệp

Về độ ẩm trung bình năm đạt 85% - 86%, cao nhất là 89% vào các tháng 9,

10, 11; thấp nhất năm là 76%

* Thuỷ văn: Đặc điểm thuỷ văn của xã Phú Thanh chịu ảnh hưởng của 2 consông: sông Hương và sông Phổ Lợi (hay còn gọi là đầm nậy) Sông Hươngchảy qua xã với chiều dài trên 4 km, lòng sông rộng và sâu, tốc độ dòng chảylớn Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong

xã, sông Hương cũng là một yếu tố góp phần gây nên hiện tượng ngập lụt cao

Về phương diện địa mạo, nhìn chung độ cao tuyệt đối, hướng nghiêngcủa bề mặt đồng bằng sông Hương có xu hướng giảm dần và nghiêng từ rìa

Trang 22

Tây Nam về Đông Bắc hoặc từ rìa Tây Bắc xuống Đông Nam, tức là trùnghợp hướng dòng chảy sông Hương và các sông suối khác Thật vậy, ở rìa TâyNam và Tây Bắc độ cao tuyệt đối tới 8-10m, nhưng đến nơi sông Hương đổvào phá Tam Giang, sông Đại Giang giao lưu với đầm Cầu Hai mặt đất khôngcao hơn 2-l,5m Song trên bình diện chung đó vẫn tồn tại một số nơi vượt caohoặc trũng thấp khác thường Trảng cát nội đồng Phú Vang với cây bụi lúpxúp phân bố kế cận đầm Thủy Tú vẫn có độ cao tuyệt đối 3-5m và cao hơnmặt đất đồng bằng trũng thấp kế cận 1-3m Các xã Phú Hồ, Phú Lương, ThủyLương, Thủy Tân, Phú Đa, Vinh Hà, Vinh Thái là những nơi trũng thấp lòngchảo và có độ cao mặt đất từ -1 đến -1,5m (dưới 0m).

Cũng giống như đồng bằng sông Bồ, địa hình đồng bằng sông Hương

bị biến đổi hàng năm và mạnh nhất tại các vùng ven sông Nguyên nhân cơ

bản gây ra những biến đổi mạnh mẽ đó cũng lại là quá trình xói lở - bồi lấp

của dòng chảy lũ ở vùng hạ lưu sông Hương kể từ ngã ba Tuần (Thủy Bằng,Hương Thọ) đến gần cửa sông (Phú Thanh, Quảng Thành)

Còn sông Phổ Lợi được hình thành từ lâu đời và thông với Phá Tam Giang

Về mùa khô nước thường bị nhiễm mặn Đầm này có diện tích rộng 27 ha nênrất thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản và sản xuất của người dân

Ngoài ra, xã còn chịu tác động của triều cường xâm nhập từ biển phíaThị Trấn Thuận An vào

4.1.2 Điều kiên kinh tế - xã hội.

Phú Thanh là một xã nhỏ của huyện Phú Vang, với diện tích tự nhiên là771,2 ha (chiếm 2,75% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện) Đây là xã nghèovùng bãi ngang ven biển, đời sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào nôngnghiệp

Trang 23

Bảng 2: Thông tin tự nhiên- kinh tế- xã hội xã Phú Thanh năm 2009

Phân theo ngành nghề

Phân theo loại hộ

(Nguồn: Thống kê của UBND xã Phú Thanh năm 2009)

Về nông nghiệp, xã Phú Thanh là một xã thuần nông độc canh cây lúa.Một năm có hai vụ lúa:Đông Xuân và Hè Thu Với Vụ Đông Xuân có khoảng

337 ha (đạt 60,5 tạ/ ha), Vụ Hè Thu có khoảng 295 ha( đạt 56,2 tạ/ ha) Lí dochính của việc diện tích của vụ hè thu lại thấp hơn vụ Đông Xuân là vì cókhoảng 42 ha không canh tác được, chỉ trồng được lúa một vụ địa phương vớinăng suất khoảng 40 tạ/ha Đặc điểm của giống lúa này là thích hợp với điềukiện đất ngập úng và bị nhiễm mặn Ngoài ra còn có các giống lúa nôngnghiệp được người dân sử dụng chủ yếu là Khang Dân, X21, C23, 4B và Nếp.Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt 3694 tấn, giảm 08 tấn so vớinăm 2008 Nguyên nhân chính là do điều kiện thời tiết không thuận lợi gâyngập úng 70ha (vụ Đông Xuân), 66,4 ha (vụ Hè Thu) và tình hình dịch rầynâu xẩy ra trên diện rộng làm giảm năng suất cây lúa Phần lớn rau màu của

xã là rau xanh (xà lách, mồng tơi, rau ngót, ớt…) được trồng quanh năm ởtrong vườn nhà nhằm phục vụ gia đình và số ít dùng để bán

Về chăn nuôi, các vật nuôi chủ yếu là lợn, trâu, bò, gà, vịt… So với năm

2008, thì năm 2009 trong chăn nuôi đã có những sự thay đổi nhất định Tranhthủ nguồn vốn của dự án hỗ trợ khắc phục đàn lợn nái sau dịch lở mồn long

Trang 24

móng với giá trị gần 30 triệu đồng, nhân dân góp vốn đã tăng thêm 65 con lợnnái hậu bị, đưa tổng đàn lợn nái hiện có hơn 120 con Tổng đàn trâu có 58con, tăng 6 con Tổng đàn lợn có 2200 con, giảm 700 con và tổng đàn gia cầm

có 18000 con giảm 1000 con Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi là do biếnđộng giá cả thị trường nên người chăn nuôi không có lãi Và thường xuyênphải chịu ảnh hưởng của các nạn dịch như dịch cúm gia cầm, lở mồm longmóng, dịch tai xanh

Về nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, ngành thủy sản của địa phương cònchậm phát triển Riêng nuôi trồng chỉ có 1,5 ao hồ dùng để nuôi cá các loại.Tuy nhiên do điều kiện thời tiết thay đổi thất thường, nguồn giống nuôi chưasạch bệnh, công tác cải tạo ao hồ không đảm bảo, môi trường nước ô nhiễmmặn nên nặng suất cá thu hoạch đạt 2,6 tấn đạt mức kế hoạch là 43,3% Nhìnchung mức độ khai thác thủy sản cao hơn hẳn so với nuôi trồng Phần lớnngười dân tiến hành khai thác trong môi trường tự nhiên như sông Hương, cácđầm nậy Với diện tích mặt nước khoảng 50ha, nhưng chỉ tranh thủ đầu tưđược 2000m2 để thực hiện mô hình chuôm, còn lại chủ yếu đánh bắt bằng thủcông như lưới, xay, nò sáo Tổng sản lượng tôm cá tự nhiên đánh bắt được đạtkhoảng 7 tấn

Về công nghiệp và dịch vụ cũng giữ vai trò quan trọng nhưng chưathực sự phát triển Chủ yếu là dịch vụ của 2 hợp tác xã kinh doanh dịch vụ cáthể như dịch vụ nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải

Về xã hội, số hộ nghèo và trung bình là 2 con số chiếm tỷ lệ cao nhất của

xã (hộ nghèo: 13,35%, hộ trung bình: 78,2%) Sinh kế của những hộ này đơngiản, chủ yếu là trồng lúa Hoạt động này tạo thu nhập cho nông hộ còn ở mứcthấp Vấn đề giải quyết việc làm cho người dân còn gặp nhiều khó khăn Phầnlớn thanh niên đang trong độ tuổi lao động đều thất nghiệp, chỉ ở nhà phụ giúpgia đình làm nông Và chỉ có 30% thanh niên đi làm ăn ở các tỉnh Phía Nam.Như vậy, xã Phú Thanh là một xã có điều kiện tự nhiên khó khăn bởi thời tiết,mức độ phụ thuộc vào ngành nông nghiệp nhờ trời cao, cơ cấu ngành nghềđơn giản, mức thu nhập của người dân thấp Do vậy, khả năng bị tổn thương

lũ là rất cao

Trang 25

4.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội các hộ khảo sát

Đề tài nghiên cứu chọn thôn Hải Trình làm điểm nghiên cứu điển hình.Đây là thôn có địa hình thấp trũng, biệt lập với các thôn khác và phải chịuthiệt hại nặng nề do lũ lụt Các hộ khảo sát thuộc vào 3 nhóm hộ chính: hộkhá, hộ trung bình và hộ nghèo Mỗi nhóm hộ có sự khác nhau về đặc điểmkinh tế xã hội Chính sự khác nhau này có ảnh hưởng đến mức độ thiệt hại do

lũ, cũng như khả năng phục hồi và ứng phó trước lũ Vì vậy, việc phân tíchđặc điểm kinh tế xã hội của từng nhóm hộ là cần thiết cho đề tài nghiên cứu

Bảng 3: Đặc điểm kinh tế- xã hội các hộ khảo sát năm 2009

Chỉ tiêu Đơn vị tính Hộ khá Hộ trung bình Hộ nghèo

và nhóm hộ thấp nhất là hộ khá (4,71 khẩu /hộ) Tuy vậy, số lao động/ hộ củanhóm hộ nghèo lại thấp nhất và nhóm hộ trung bình là cao nhất Điều nàychứng tỏ nhóm hộ nghèo có số người sống phụ thuộc, không tạo thu nhập chogia đình là cao nhất Và số nhân khẩu/ lao động của nhóm hộ khá là thấp nhất,chứng tỏ nhóm hộ này có số lao động/ khẩu tạo thu nhập cao nhất

Số nhân khẩu/ lao động quyết định đến nguồn thu và mức thu nhập của hộ rất lớn.Trên lí thuyết cho thấy rằng, ở những nhóm hộ nào mà có số nhân khẩu/ lao độngthấp thì thường đem lại mức thu nhập cho hộ cao hơn các nhóm hộ còn lại, ngượclại, nếu nhóm hộ nào có số nhân khẩu/ lao động cao thì thường đem lại mức thu

Trang 26

nhập cho hộ thấp Và đúng như vậy, trong các nhóm hộ khảo sát thì hộ khá là hộ có

số nhân khẩu/ lao động là thấp nhất và có mức thu nhập là cao nhất (54,25 triệuđồng /hộ /năm) và thấp nhất là nhóm hộ nghèo (14,27 triệu đồng /hộ /năm) Do vậy,nên nhóm hộ khá sẽ có bình quân thu nhập/ khẩu là cao nhất (11,51 triệu đồng/khẩu/năm) và thấp nhất là hộ nghèo (2,42 triệu đồng /khẩu/năm)

Đối với phương tiện phòng chống lũ lụt thì loại nhà đang sử dụng của các hộ dân

có ý nghĩa rất quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả của việc phòng chống nhàcửa Từ bảng trên ta thấy, nhóm hộ khá là nhóm hộ có nhà kiên cố cao nhất(100% số hộ khá), tiếp theo là hộ trung bình có 4 hộ (chiếm 19% số hộ trungbình), và hộ nghèo không có nhà kiên cố Hộ nghèo có số nhà tạm bợ cao nhất(chiếm 83% số hộ nghèo) Do đó nhóm hộ nghèo có khả năng phòng chống nhàcửa trước lũ thấp và dễ bị thiệt hại do lũ Còn nhóm hộ trung bình có số nhà bánkiên cố cao nhất (chiếm 81% số hộ trung bình)

Sinh kế của các nhóm hộ khảo sát đơn giản, kém đa dạng Họ sống chủ yếudựa vào nông nghiệp như trồng lúa, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và 1 số nghềkhác Đối với mỗi nhóm hộ thì mỗi hoạt động tạo thu nhập giữ một vai trònhất định trong toàn bộ sinh kế của hộ

Bảng 4: Nguồn thu quan trọng nhất của các hộ khảo sát năm 2009

Số lượng(hộ)

Tỷ lệ(%)

Số lượng(hộ)

Tỷ lệ(%)

Trang 27

hoạt động tạo thu nhập quan trọng của hầu hết các nhóm hộ là trồng lúa.Trong các nhóm hộ khảo sát, 100% hộ khá cho rằng trồng lúa là hoạt động cómức độ quan trọng nhất Trong khi đó, chỉ có 71,5% hộ trung bình cho trồnglúa là quan trọng nhất, tiếp đến là đánh bắt thủy sản, thợ nề và làm thuê Còn

ở hộ nghèo chỉ có 75% số hộ cho trồng lúa là quan trọng nhất Các nhóm hộcho nguồn thu là quan trọng nhất khi xem xét mức thu nhập, mức độ thườngxuyên, số lao động tham gia của nguồn thu Kết quả nghiên cứu được thể hiện

ở bảng 5

Bảng 5: Giá trị nguồn thu của các hộ khảo sát năm 2009

Sốlượng

Giá trị(1000đ)

Sốlượng

Giá trị(1000đ)

Sốlượng

Giá trị(1000đ)

hộ trung bình vẫn có một số trường hợp tham gia đấu đất để sản xuất do họ có

Trang 28

điều kiện tài chính và có nhu cầu mở rộng diện tích canh tác Còn đối với hộnghèo, mặc dù có thể có nguồn nhân lực để sản xuất nhưng do kinh tế eo hẹpnên họ có muốn mở rộng diện tích bằng cách đấu thầu đất canh tác cũngkhông được Nên diện tích đất canh tác của họ 95% là đất khoán.

Ở hộ khá, hoạt động xay xát cũng đưa lại mức thu nhập cao cho hộ(chiếm 19,8% tổng thu nhập) Những hộ có hoạt động xay xát thường kèmtheo hoạt động nuôi lợn để có thể tận dụng phế phụ phẩm được tạo ra Và thunhập tạo ra từ hoạt động nuôi lợn tạo ra cũng khá lớn

Ngoài trồng lúa ra, các hộ nghèo còn tham gia các ngành nghề như làmthuê, chằm nón, thợ nề và cũng nó đưa về nguồn thu không kém phần quantrọng Đây là những hoạt động mà không cần mức đầu tư về tiền bạc mà chỉcần bỏ sức lao động ra để kiếm thêm thu nhập Và các hoạt động như nuôilợn, gia cầm thường ở số lượng ít

Bên cạnh đó, hoạt động trồng lúa tạo thu nhập thường xuyên cho nông

hộ Năm nào cũng trồng và mỗi năm như vậy có 2 vụ: Đông Xuân và Hè Thu.Trên các vùng đất nhiễm mặn, thấp trũng chỉ cấy giống địa phương 1 vụ Hơnnữa, vào mùa cấy gặt thì tất cả các thành viên trong hộ đều tham gia, trừnhững người đi làm ăn xa

Như vậy, trồng lúa có thể coi là hoạt động sinh kế chính của người dânđịa phương Nhưng trồng lúa lại là hoạt động nhờ trời, mang tính phụ thuộcvào điều kiện tự nhiên cao Chúng dễ bị tác động, ảnh hưởng bởi điều kiệnbên ngoài như lũ lụt, hạn hán…

4.2 Thiệt hại do lụt 2009 tại xã Phú Thanh

4.2.1 Thiệt hại do lụt 2009 trên địa bàn xã Phú Thanh

Năm 2009, xã Phú Thanh là địa phương phải trực tiếp hứng chịu tácđộng của rất nhiều cơn lũ Theo báo cáo của xã, cả năm có 5 cơn lũ, trong đó

có 3 cơn lũ lớn và 2 cơn lũ nhỏ Nhưng thiệt hại của chúng để lại là rất lớn,ước tính tổng thiệt hại trong đợt lụt vừa rồi của xã đạt khoảng 4420 triệuđồng

Trang 29

Bảng 6: Các hạng mục kinh tế - xã hội - tự nhiên bị thiệt hại

- Đất đường bị cuốn trôi m3 25000

4 Công trình thủy lợi

(Nguồn: Thống kê của xã Phú Thanh năm 2009)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thiệt hại lớn nhất trong đợt lụt năm 2009 là

về sản xuất, chiếm đến 36,2% tổng thiệt hại Nguyên nhân chính là do nền sảnxuất nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa được sản xuất với diện tích lớn, khôngđược thu hoạch trước khi lũ lụt về nên bị ngâm dài ngày gây hư hỏng

Thiệt hại lớn thứ hai là về công trình thủy lợi, chiếm 22,0% tổng thiệthại Bao gồm hệ thống đê bao ngăn nặm Quy Lai -Tân Mỹ, đê bao nội đồng

và hệ thống kênh mương, trong đó có 10 km đê bao, kênh mương bị sạt lở,khoảng 60000 m3 đất đá, bê tông các loại bị hư hỏng, 12 cái cống bị hư hỏngnặng Các công trình thủy lợi này được xây dựng từ lâu và được ít tu bổ,

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Bằng, Phạm Phi Anh, Tài liệu tập huấn quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng, Dự án Sẵn Sàng Ứng Phó – Tăng cường năng lực phòng ngừa và thông tin cảnh báo sớm giảm nhẹ các ảnh hưởng do bão lũ tại Bình Định, 3/ 2008, http://www.ccfsc.org.vn/ndm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Văn Bằng, Phạm Phi Anh
Nhà XB: Dự án Sẵn Sàng Ứng Phó – Tăng cường năng lực phòng ngừa và thông tin cảnh báo sớm giảm nhẹ các ảnh hưởng do bão lũ tại Bình Định
Năm: 2008
[2]. TS. David Lempert, Nguyễn Văn Lễ, TS.Bạch Vân Sinh, Đánh giá năng lực thể chế về quản lí rủi ro ở việt Nam, 2008, http://www.ccfsc.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng lực thể chế về quản lí rủi ro ở việt Nam
Tác giả: TS. David Lempert, Nguyễn Văn Lễ, TS. Bạch Vân Sinh
Năm: 2008
[3]. T.S Nguyễn Văn Hải, Thời Tiết ở Nước Ta - Biến Động Và Những Thách Thức, Tạp chí khoa học và môi trường số 13.11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời Tiết ở Nước Ta - Biến Động Và Những TháchThức
[4]. Koos Neefjes, Môi Trường Và Sinh Kế - Các Chiến Lược Phát Triển Bền Vững. Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi Trường Và Sinh Kế - Các Chiến Lược Phát Triển BềnVững
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2003
[6]. Lê Thị Nam Thuận, Về sự thay đổi môi trường & nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai ,TC Thủy sản 2004/Số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự thay đổi môi trường & nguồn lợi thuỷ sản hệđầm phá Tam Giang-Cầu Hai
[7]. Th.s Nguyễn Thị Bích Thủy, Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với Đồng Bằng Sông Cửu Long và đồng bằng sông hồng, Tạp chí tài nguyên và môi trường kỳ 1- Tháng 5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối vớiĐồng Bằng Sông Cửu Long và đồng bằng sông hồng
[10]. Tổ chức CARE tại Việt Nam, Sổ tay phòng ngừa giảm nhẹ ảnh hưởng của lũ và bão cho cộng đồng, 2009, http://www.ccfsc.org.vn/ndm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng ngừa giảm nhẹ ảnh hưởng của lũ và bão cho cộng đồng
Tác giả: Tổ chức CARE tại Việt Nam
Năm: 2009
[11]. Tổng cục khí tượng thủy văn. Lịch sử KTTV Việt Nam, phần biên niên cổ đại, trung đại, cận đại. Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử KTTV Việt Nam
[12]. Văn phòng dự án trung ương – Bộ NN & PTNT, Tài liệu tập huấn hướng dẫn lập kế hoạch xã an toàn hơn, 2008, http://www.ccfsc.org.vn/ndm [13]. Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế, Thông báo khí tượng thủy văn 10/ 2009, 11/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn hướng dẫn lập kế hoạch xã an toàn hơn
Tác giả: Văn phòng dự án trung ương – Bộ NN & PTNT
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thông tin tự nhiên- kinh tế- xã hội xã Phú Thanh năm 2009 - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 2 Thông tin tự nhiên- kinh tế- xã hội xã Phú Thanh năm 2009 (Trang 23)
Bảng 4: Nguồn thu quan trọng nhất của các hộ khảo sát năm 2009 - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 4 Nguồn thu quan trọng nhất của các hộ khảo sát năm 2009 (Trang 26)
Bảng 5: Giá trị nguồn thu của các hộ khảo sát năm 2009 - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 5 Giá trị nguồn thu của các hộ khảo sát năm 2009 (Trang 27)
Bảng 6: Các hạng mục kinh tế - xã hội - tự nhiên bị thiệt hại - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 6 Các hạng mục kinh tế - xã hội - tự nhiên bị thiệt hại (Trang 29)
Bảng 7: Thiệt hại do lũ lụt ở các hộ khảo sát năm 2009 - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 7 Thiệt hại do lũ lụt ở các hộ khảo sát năm 2009 (Trang 31)
Bảng 8: Thực trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt sau khi lũ đi qua - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 8 Thực trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt sau khi lũ đi qua (Trang 32)
Bảng 13: Giải pháp phòng chống trước lụt năm 2009 của các hộ khảo sát. - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 13 Giải pháp phòng chống trước lụt năm 2009 của các hộ khảo sát (Trang 40)
Bảng 14: Tình trạng thiếu LTTP trong đợt lụt năm 2009 của các hộ khảo - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 14 Tình trạng thiếu LTTP trong đợt lụt năm 2009 của các hộ khảo (Trang 41)
Bảng 16: Hoạt động sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2008-2010 của các hộ - khảo sát tình hình thiệt hại do lũ lụt và giải pháp ứng phó của người dân vùng ven biển thừa thiên huế
Bảng 16 Hoạt động sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2008-2010 của các hộ (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w