Riêng nước ta - một nước đang phát triển với khoảng hơn 70% dân số đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi chỉ chiếm 23% tổng giá trị sản ph
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hàng nghìn năm nay chăn nuôi vẫn được coi là ngành không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp, bởi vì ngành chăn nuôi đã cung cấp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao (thịt, trứng, sữa, ), cung cấp các sản phẩm khác cho công nghiệp chế biến và dược phẩm (lông, da, sừng, móng, nội tạng, ), cung cấp sức làm việc (thồ, cày, kéo, ), cung cấp phân bón cho trồng trọt, khí bioga để đun nấu tận dụng được các sản phẩm nông, công nghiệp mà con người không thể sử dụng được và cuối cùng nó góp phần tăng tỷ lệ xuất khẩu của nông nghiệp Do đo,ï hiện nay các nước phát triển, có nền nông nghiệp tiên tiến đều có giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi lớn trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Riêng nước ta - một nước đang phát triển với khoảng hơn 70% dân số đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi chỉ chiếm 23% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp năm 2004 và phấn đấu đến năm 2010 đưa tỷ lệ này lên 30% [1] Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách về khuyến khích phát triển nông nghiệp nói chung và phát triển chăn nuôi nói riêng như: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ghi rõ: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khuyến khích phát triển các trang trại chăn nuôi, quy hoạch phát triển giống vật nuôi phù hợp với từng vùng Đặc biệt sau Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông ngày 2/3/1993 thì hệ thống khuyến nông Việt Nam ra đời Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Việt Nam đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta nói chung Khuyến nông đã góp phần vào sự phát triển về số lượng cũng như chất lượng ngành chăn nuôi nói riêng, với những chương trình như: chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc, chương trình cải tạo đàn bò, chương trình bò sữa năng suất cao, các chương trình về gia cầm, đã góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật, đưa ngành chăn nuôi từ manh mún, nhỏ bé dần dần trở thành ngành sản xuất hàng hoá chính, tập trung có hiệu quả kinh tế, có tính cạnh tranh cao góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân
Trang 2Là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Bình, Quảng Ninh có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Huyện Quảng Ninh luôn chú trọng đến phát triển chăn nuôi Tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI nhiệm kỳ 2000-2005 nêu rõ: “Đẩy mạnh chăn nuôi và nâng cao chất lượng gia súc, gia cầm, tăng số lượng đàn trâu bò theo hướng sản xuất hàng hoá, phấn đấu đưa tỷ trọng chăn nuôi lên 35-40% trong nông nghiệp, khuyến khích mô hình chăn nuôi gia đình theo quy mô, số lượng lớn, trang trại” Ngoài ra, những hoạt của khuyến nông đã góp phần phát triển chăn nuôi của huyện như chương trình nạc hoá đàn lợn, mô hình lợn thâm canh đã góp phần đưa nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, giúp tăng thu nhập Tuy vậy, tình hình chăn nuôi của huyện vẫn còn những tồn tại như: chuyển dịch cơ cấu giống vật nuôi còn chậm, chưa mạnh dạn đầu tư sản xuất chăn nuôi, vai trò của khuyến nông trong chăn nuôi chưa được đẩy mạnh như: công tác nhân rộng mô hình chăn nuôi ít, việc tuyên truyền phổ biến, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào chăn nuôi còn kém hiệu quả Từ thực tế đó chúng tôi đã chọn đề tài “Đánh giá tình hình chăn nuôi và vai trò của công tác khuyến nông trong chăn nuôi tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2003-2005”.
1.2 Mục tiêu đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi và công tác khuyến nông trong chăn nuôi, từ đó đánh giá những khó khăn, thuận lợi và tìm ra các giải pháp hợp lý góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển và cải tiến hoạt động có hiệu quả của khuyến nông trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu điều kiện kinh tế xã hội của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi và vai trò của khuyến nông trong chăn nuôi.
- Đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại của chăn nuôi và khuyến nông trong chăn nuôi.
Trang 3- Kiến nghị các giải pháp về tổ chức, kỹ thuật và phương pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác khuyến nông, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi ở huyện Quảng Ninh trong thời gian tới
Trang 4PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Quan điểm về sinh kế bền vững của người nông dân
Theo nghiên cứu về quan điểm phát triển nông thôn hiện nay của DFID (2004) thì sinh kế bao gồm 3 yếu tố: Năng lực, tài sản (tài sản vật chất và tài sản xã hội) và các hoạt động Sự kết hợp của ba yếu tố này tạo nên đời sống của người dân hay của cộng đồng [2] Các quan niệm trước đây cho rằng sinh kế chỉ là vấn đề giải quyết việc làm hay thu nhập của người dân Điều này chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong phát triển hiện nay khi mà yếu tố phát triển ngày càng được xem xét đầy đủ hơn như năng lực của con người hay cộng đồng, các loại tài sản mà con người hay cộng đồng đó có và sự kết hợp giữa năng lực, tài sản vào các hoạt động cụ thể.
Sinh kế bền vững là khái niệm thường được nói đến hiện nay vì sự phát triển bền vững là yêu cầu của mọi cộng đồng và cá nhân Sinh kế bền vững là khả năng của con người hay cộng đồng đó để đối phó, khắc phục với những biến động bất thường, duy trì và phát huy năng lực, tài sản cho hôm nay và cho sự phát triển trong tương lai mà không làm suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên [3] Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) gắn liền với sự phát triển ổn định trong thời gian dài.
Các nguồn lực mà con người có chính là tài sản sinh kế Đây là những khối xây dựngchính tạo nên sinh kế của con người và chúng chia thành năm nhóm sau đây:
- Tài sản con người: Đó là sức khoẻ, kiến thức, kỹ năng Cụ thể tài sản con người liênquan đến khối lượng, chất lượng của lực lượng lao động Mà khả năng về lao động là rất đadạng, tuỳ thuộc vào quy mô hộ, số lao động, giới tính, giáo dục, kỹ năng, tình trạng sứckhoẻ và tiềm năng lao động Vì thế, trong sinh kế thì tài sản con người là yếu tố trọng yếu,quyết định khả năng của một cá nhân, một hộ gia đình hay một xã hội và đây là chủ thểtrong việc xây dựng và quản lý các tài sản khác (tự nhiên, tài chính, xã hội, vật chất)
- Tài sản tài chính: Đó là tiền và khả năng huy động tài chính Hay ta có thể hiểu tàisản tài chính bao gồm nguồn dự trữ tài chính và dòng tài chính Dự trữ tài chính: tiền mặt,tiền gửi ngân hàng, hoặc các tài sản khác như vật nuôi, đồ trang sức Các nguồn tài chínhcũng có thể có được qua các đơn vị hoạt động tín dụng Dòng tiền theo định kỳ cộng thêm
Trang 5những chế độ khác của nhà nước và tiền thân nhân gửi về Vốn tài chính là một loại tài sảnsinh kế mà người nghèo thường có ít nhất Thực tế do thiếu vốn tài chính nên đã làm chocác tài sản sinh kế khác trở nên rất là có giá trị đối với người nghèo.
- Tài sản xã hội: Đó là các mối quan hệ, bao gồm: các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họhàng, láng giềng; các cơ chế hợp tác trong sản xuất trên thị trường; những luật lệ, quy ướccủa thôn bản, các sự kiện, lễ hội và niềm tin xuất phát từ truyền thống, tôn giáo; những cơhội để tiếp cận thông tin Những mối quan hệ tin cậy, thúc đẩy sự hợp tác có thể mang lạisự giúp đỡ cho con người qua việc tạo ra những mạng lưới an toàn phi chính thức ví dụ: hỗtrợ trong thời kỳ khó khăn Vốn xã hội có thể có hiệu quả trong tăng cường quản lý cácnguồn lực chung (ví dụ như quản lý tài sản tự nhiên) và bảo dưỡng các công trình hạ tầng(ví dụ như vốn vật chất) Điều này cho thấy được vai trò quan trọng của vốn xã hội
- Tài sản vật chất: Bao gồm cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cơ bản cũng như các tàisản và công cụ sản xuất của hộ gia đình Một số nghiên cứu đã cho thấy việc thiếu cơ sở hạtầng cơ bản, nơi cư trú đảm bảo và hàng hóa tiêu dùng là vấn đề cốt lõi của nghèo đói Nếukhông có sự trợ giúp của công cụ và thiết bị sẽ không khai thác hết được tiềm năng sảnxuất của con người
- Tài sản tự nhiên: đất đai, nước, rừng, không khí, đa dạng sinh học, tài nguyênkhác những tài sản này bao gồm cả lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp Ví dụ: cây cho lợiích trực tiếp bằng các sản phẩm của nó nhưng đồng thời có thể cho những lợi ích gián tiếpthông qua các chu trình tạo chất dinh dưỡng, giữ trạng thái cân bằng sinh học
Đồng thời theo DFID thì năng lực, các hoạt động: đây chính là khả năng kết hợp, lựachọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các tài sản, để tạo nênđời sống Người dân kết hợp các tài sản sinh kế đó theo nhiều cách khác nhau để tạo ranhững kết quả sinh kế tích cực Nói chung, không có tài sản sinh kế nào có thể đơn lẻ mộtmình mà có đủ sức để tạo ra một sinh kế bền vững
Cuối cùng theo nghiên cứu DFID thì để phát triển nông thôn hiện nay chỉ có thể làsinh kế bền vững Một sinh kế bền vững có nghĩa là có khả năng đối phó và phục hồi từnhững biến động bất thường, duy trì và phát huy năng lực, tài sản cho hôm nay và chotương lai mà không làm suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên [3]
Từ đó chúng ta có thể hiểu vì sao việc phát triển nông thôn hiện nay vừa phát triểncon người, vừa phải phát triển kỹ thuật, thị trường các dịch vụ xã hội và môi trường
Trang 62.2 Tình hình phát triển của nông thôn Việt Nam
Nông thôn Việt Nam chiếm khoảng 75% của dân số cả nước (hơn 80 triệu người).Sau 20 năm đất nước đổi mới, nông thôn đã có nhiều bước tiến tích cực Nhiều tổ chứcquốc tế, nhiều quốc gia có uy tín đã khẳng định và ca ngợi thành tựu giải quyết vấn đềlương thực, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Có thể nói nông nghiệp, nông thôn trongnhững năm đổi mới đã thu được nhiều thành tựu:
- Giải quyết tương đối vững chắc vấn đề lương thực: Từ một nước nhập khẩu gạo,Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới Năm 2004 lượng gạo xuất khẩu ởmức 3,9 triệu tấn Không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng gạo xuất khẩu nước ta cũngcó xu hướng tăng dần, từ 105 USD/tấn năm 2001 lên đến 233 USD/tấn năm 2004 Lượngngoại tệ thu được từ xuất khẩu gạo cũng tăng năm 2004 thu trên 900 triệu USD [4]
- Cơ cấu nông nghiệp bước đầu có chuyển dịch Nhiều loại nông sản được sản xuấttheo vùng chuyên canh lớn, tỷ suất hàng hóa tăng nhanh như gạo, ca phê, cao su, chè, cây
ăn quả
Trong nông thôn, các ngành nghề phi nông nghiệp đã được khôi phục và phát triển,tạo việc làm cho hơn 10 triệu lao động, góp phần đưa tỷ lệ các hoạt động kinh tế phi nôngnghiệp lên 35% năm 2003 trong cơ cấu kinh tế nông thôn [5]
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, nhất là điện và thủy lợi được tăng cường Chỉ tính 10 nămgần đây, năng lực nước của các công trình thủy lợi tăng thêm 1,4 triệu ha Tỷ lệ số xã cóđường ô tô đến trung tâm xã lên đến 97% năm 2004
- Thu nhập bình quân của nông dân tăng nhanh Thu nhập bình quân của nhân khẩunông thôn từ 92.100đ/ tháng năm 1992 lên 295.000đ/tháng năm 1999 và 356.000đ/thángnăm 2002 Tỷ lệ trẻ em nông thôn dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng từ 51% năm 1993 giảm còn25% năm 2003 Số hộ nghèo ngày càng giảm xuống từ 29,1% năm 1993 xuống còn 13%năm 2003 [6]
Nhiều mô hình nông dân làm kinh tế giỏi, nhiều mô hình tốt về sự kết hợp công nông nghiệp Nền nông nghiệp chuyển dần sang cơ chế thị trường, tỷ lệ hàng hóa tăng.Nhiều loại nông sản của nước ta không chỉ đáp ứng cho thị trường trong nước mà cònchiếm thị phần đáng kể trên thị trường quốc tế
Trang 7-Những thành quả tích cực đó của nông thôn Việt Nam đã là nhân tố quan trọng hàngđầu trong việc đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội và chính trị ở nước ta.
Nhưng bên cạnh đó nền kinh tế nông thôn còn thể hiện nhiều hạn chế yếu kém củaphát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta:
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ còn lạc hậu, hầu hết các khâu canh tác nông nghiệpchủ yếu vẫn dùng sức người và sức kéo gia súc Năm 2000 máy kéo Việt Nam chỉ chiếm1/4 thị phần, động cơ điêzen Việt Nam chỉ chiếm 15%
- Khả năng cạnh tranh hàng hóa nông sản và hàng hóa sản xuất từ nông thôn rất hạnchế Tiêu thụ nông sản đang trở thành thách thức lớn đối với phát triển nông nghiệp nước
ta Giá nông sản giảm sút, trong khi đó hàng công nghiệp và dịch vụ tiếp tục tăng dẫn đếnbất lợi cho nông dân
Đến nay trừ một số nông sản đã có khả năng cạnh tranh cao như gạo, hồ tiêu, hạtđiều còn lại năng lực cạnh tranh của hầu hết nông sản nước ta đều thấp Những biểu hiệncủa thực trạng đó thể hiện ở năng suất thấp, chi phí cao ở trong sản xuất, chi phí ở khâu chếbiến và dịch vụ lưu thông ví dụ năng suất dứa của ta chỉ đạt bình quân 13 tấn/ha, củaThái Lan là 24,5 tấn/ha, trong khi mức bình quân của thế giới là 50 tấn/ha Giá thành củatrái cây Việt Nam cao hơn nhiều lần so với trái cây của Thái Lan: Việt Nam cao hơn 4 lần,xoài cao hơn 5 lần [7]- Chi phí khâu bảo quản, chế biến, dịch vụ vận tải của các nông sảnViệt Nam đều cao hơn so với nhiều nước trong khu vực làm cho khả năng cạnh tranh củahầu hết nông sản Việt Nam đều thấp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Hàng chục năm nay tỷ lệ giá trị ngành chăn nuôichỉ ở mức 20 - 22% tổng giá trị sản xuất của nông nghiệp Biểu hiện của chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chậm tiêu biểu nhất chính là tính chất độc canh cây lúa
- Nông thôn chiếm khoảng 70% lao động xã hội Dù có nhiều giải pháp tích cực tạoviệc làm nhưng tỷ lệ thiếu việc làm, thất nghiệp ở nông thôn vẫn rất cao: năm 2003, tỷ lệ sửdụng lao động của lao động nông thôn trong độ tuổi là 77,7% Nếu tính một lao động nôngthôn làm việc đủ 250 ngày trong 1 năm thì hiện nay có thể rút 8 - 9 triệu lao động khỏingành nông nghiệp mà không ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp Theo số liệu điềutra mức sống dân cư năm 2003 giá trị sản xuất do một lao động nông nghiệp tạo ra năm
2003 chỉ khoảng 6,3 triệu đồng, cùng thời gian, chỉ tiêu trên của công nghiệp là 38,8 triệuđồng, của thương mại - dịch vụ là 26 triệu đồng
Trang 8- Đời sống của nhân dân nói chung còn thấp kém, kết cấu hạ tầng còn lạc hậu Chênhlệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng và ngay trong từng vùng ngàycàng gia tăng Năm 1994 mức thu nhập bình quân của một nhân khẩu ở nông thôn là 1 thìthu nhập của nhân khẩu thành thị là 2,55 đến năm 1999 tăng lên 3,7 Riêng ở nông thôn,thu nhập của 20% nhóm cao nhất so với 20% nhóm thấp nhất năm 1994 chỉ 5,4 lần, đến
1999 gấp 6,3 lần Nếu so sánh 10% số hộ có thu nhập cao nhất so với 10% số hộ có thunhập thấp nhất ở nông thôn thì mức chênh lệch giai đoạn 2001 - 2002 là 9,4 lần [8]
- Tài nguyên giảm sút, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng ở nhiều địa phương.Trong 50 năm qua, cả nước mất hàng chục triệu ha rừng Độ che phủ rừng đến 1996 chỉcòn 28% Những năm gần đây, độ che phủ của rừng đã tăng lên nhưng chưa đạt yêu cầucần thiết Môi trường nước, môi trường đất, môi trường nông thôn nhiều nơi bị ô nhiễmnghiêm trọng
- Hiệu quả khai thác các nguồn lực còn thấp Trong những năm đổi mới hiệu quảkhai thác các nguồn lực trong nông nghiệp có nhiều tiến bộ Tuy vậy mức độ khai thác nếuđem so sánh với tiền năng thì vẫn còn ở mức thấp Ví dụ: lao động, đất đai, ngành nghềtruyền thống,
- Quyền làm chủ của cư dân nông thôn bị vi phạm nghiêm trọng ở một số nơi Nôngdân xuất hiện nhiều vấn đề xã hội gây bức xúc Trong những năm gần đây nhiều hiện tượngtiêu cực cũ ở nông thôn chưa được khắc phục, lại xuất hiện một số hiện tượng mới đe doạổn định chính trị xã hội ở nông thôn
Ở một số vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhất là ở Tây Nguyên, cácthế lực thù địch trong và ngoài nước tăng cường hoạt động, chống phá chế độ ta Ở nhữngnơi này tuy nhà nước đã tăng cường đầu tư vốn, cán bộ, có nhiều chính sách ưu tiên nhưng
do điểm xuất phát thấp, nhiều sai sót trong thực thi chính sách nên xuất hiện nhiều tiêu cựcxã hội Nỗi bật là trong lúc nhiều nông lâm trường Nhà nườc và cán bộ lao động địaphương bao chiếm đất cho thuê hưởng lợi thì nhiều hộ nông dân bản địa không có đất sảnxuất
Ở một số tỉnh đồng bằng giá đất, giá nhà tăng nhanh cùng với việc chuyển đất nôngnghiệp sang mục đích sản xuất khác Thực trạng đó đi liền với những sai sót của một số địaphương đang trở thành “điểm nóng” bức xúc ở nông thôn
Trang 9Như vậy nông thôn Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhấtđịnh, nhưng đi kèm nó là nhiều vấn đề bất ổn, tồn tại Vì vậy, hiện nay việc phát triển nôngnghiệp, nông thôn không chỉ là một khía cạnh về kinh tế - xã hội mà phải sự phát triển vềmọi mặt Hay đúng hơn là phát triển nông thôn Việt Nam phải theo hướng sinh kế bềnvững.
2.3 Vai trò chăn nuôi trong nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam
Chăn nuôi là một nghề có truyền thống từ lâu đời ở nước ta Cách đây hàng vạn nămcác giống gia súc, gia cầm được thuần hóa và nuôi dưỡng Qua các thời kỳ phát triển xã hội
ở nước ta, chăn nuôi cũng được phát triển nhanh chóng Trong những năm gần đây, chănnuôi có nhiều thay đổi, đặc biệt sau năm 1986 khoán sản phẩm cho người lao động và sauđổi mới kinh tế, nhiều cơ sở chăn nuôi tập trung như nông trường quốc doanh và các cơ sởsản xuất giống gia súc và gia cầm đã giải thể phát triển một hình thức kinh doanh sản xuấtmới phù hợp với nền kinh tế thị trường Hiện nay, có nhiều cơ sở chăn nuôi tư nhân đượchình thành và phát triển theo các mô hình chăn nuôi công nghiệp Ở khu vực phía Nam cónhiều cơ sở chăn nuôi liên doanh với nước ngoài, đặc biệt là cơ sở chế biến thức ăn gia súc.Đã góp phần làm thay đổi số lượng và chất lượng ngành chăn nuôi Đàn lợn đã tăng tỷ lệnạc từ 33.6% ở lợn nội lên 41,3% tỷ lệ nạc ở lợn lai Đối với lợn lai ba máu ngoại cho tỷ lệnạc lên đến 52 - 56% Đàn bò cũng được cải tạo tốt hơn từ năm 1992 có 3.193,8 ngàn controng đó có khoảng 12% bò lai Sind Hiện nay tỷ lệ bò lai chiếm trên 28% tổng đàn bò [9].Đàn gia cầm 3 năm nay do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nhưng cũng đạt được số lượnglớn đạt 22 triệu con năm 2005 Đặc biệt dù những năm qua tốc độ tăng trưởng của nôngnghiệp từ 3 - 4%/năm, nhưng ngành chăn nuôi luôn đạt tỷ lệ tăng trưởng 8 - 12%/năm.Năm 2005 tốc độ tăng trưởng của chăn nuôi là 11,6% Qua đó để có thể thấy ngànhchăn nuôi ngày càng lớn mạnh, người dân bắt đầu có ý thức đầu tư vào chăn nuôi và dầndần tạo thành ngành sản xuất hàng hóa quan trọng của nông nghiệp
Mặc dù vậy ngành chăn nuôi nước ta vẫn còn nhiều thách thức:
Đó là năng suất của ngành chăn nuôi thấp: tỷ lệ giá trị ngành chăn nuôi chiếm 23,4%(năm 2005) trong tổng giá trị sản xuất của nông nghiệp Người dân chỉ dành 15% thời gianlao động nông nghiệp cho chăn nuôi Hầu hết những cùng nông thôn đều sản xuất chănnuôi theo hướng nhỏ lẻ hộ gia đình
Trang 10Đó là giá thức ăn gia súc cao, chất lượng gia súc chưa được kiểm soát Chi phí thức
ăn trong giá thành chăn nuôi chiếm tỷ lệ hơn 2/3 Do vậy giá thức ăn cao đã ảnh hưởng, tácđộng bất lợi cho chăn nuôi nước ta trong những năm qua Nhìn chung thời gian gần đây giáthức ăn chăn nuôi giảm nhưng vẫn còn cao và chất lượng chưa kiểm soát được
Đó là thị trường tiêu thụ sản phẩm vẫn còn gặp nhiều khó khăn Sản phẩm chăn nuôicủa nước ta chủ yếu là tiêu thụ ở thị trường nội địa chiếm 96,4%, số lượng thịt xuất khẩucòn hạn chế 3,6% [10] Điều này do chất lượng sản phẩm kém, vệ sinh thực phẩm chưa đápứng được yêu cầu thị trường của các nước phát triển và giá thành sản phẩm chăn nuôi còncao Trong khi nhu cầu tiêu dùng của các nước phát triển ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt.Riêng đối với thị trường trong nước của các sản phẩm chăn nuôi lại không ổn định, thayđổi thường xuyên và bị ảnh hưởng của nhiều sản phẩm khác như tính mùa vụ Điều này đãdẫn đến một thị trường kém ổn định gây tâm lý không dám đầu tư chăn nuôi ở quy mô lớn.Đó là hệ thống giống vật nuôi chưa có hệ thống hoàn chỉnh Tình hình dịch bệnh vẫnlà mối đe doạ nghiêm trọng đến các loại vật nuôi Cụ thể là tình trạng dịch cúm gia cầmxảy ra từ năm 2003 đến nay
Như vậy ta có thể thấy thực trạng chăn nuôi Việt Nam còn rất nhiều điểm đáng lưutâm Nhưng theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì chúng ta sẽ phấn đấu để đưagiá trị sản xuất của ngành chăn nuôi lên 30% từng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp vàonăm 2010
2.4 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông trên thế giới.
Khuyến nông bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng khi mà khoa học bắt đầu ứng dụng lýthuyết vào thực tiễn sản xuất.Khởi đầu là thầy thuốc và nhà giáo người PhápRabelais(1493-1553), ông chủ trương gắn liền nhà trường với thực tiễn( hướng dẫn nôngdân một cách cặn kẽ về nhận biết các loại rau quả phục vụ cho cuộc sống) Năm 1806, ôngPhilip Emanel người Thụy Sĩ đã tự bỏ tiền ra xây dựng 2 trường Nông nghiệp thực hành tạiHofwyl và sau này nó ảnh hưởng rất lớn đối với nội dung, phương pháp đào tạo đối vớicán bọ nông nghiệp ở các nước Châu âu và Bắc Mỹ Năm 1723 tổ chức Hiệp Hội”tăngcường hiểu biết về nông nghiệp” đầu tiên được thành lập ở Pháp năm 1761, ở đức 1764 và
ở Nga 1765, Những hiệp hội này đã đặt nền móng cho việc hình thành và phát triểnKhuyến nông sau này
Trang 11Biểu hiện rõ nét về hoạt động mang tính chất Khuyến nông trong thời kỳ này làviệc thành lập Ủy ban Nông nghiệp của Hội đồng thành phố New York( Hoa Kỳ) năm
1843 Ủy ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các trường đại học Nông nghiệp vàcácViện Nghiên cứu Nông nghiệp thường xuyên xuống các cơ sở để hướng dẫn phổ biếnkhoa học kỹ thuật mới giúp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ở các vùng nông thôn
Danh từ ”Extension” có nghĩa là mỏ rộng, triển khai được sử dụng đầu tiên ở Anhnăm 1866 cùng với hệ thống giáo trình giảng dạy về nông nghiệp dược các trường đại họcCambridge và Oxford biên soạn theo hướng”mở rộng” đầu tiên Việc chính thức thành lậphoạt động khuyến nông ở Mỹ là kết hợp tổng hợp của các dạng” Extension+ Education”(triển khai + giáo dục)
Năm 1907 chính phủ Mỹ ra quyết định thông qua đạo luật về khuyến nông chophép sử dụng các nguồn tài trợ liên bang- tiểu bang và của địa phương vào các hoạt độngkhuyến nông Các nhà khoa học nông nghiệp Mỹ đều ủng hộ hoạt động này
Ở Châu Á khuyến nông cũng được hình thành từ sớm: Ấn Độ khuyến nông đuợchình thành năm 1960, Thái Lan 1967, Trung Quốc tuy đã có từ lâu nhưng mãi đến năm
1970 mới chính thức có tổ chức khuyến nông[11]
2.5 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông Việt Nam.
Có thể chia lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông Việt Nam thành 3 giaiđoạn sau:
- Thời kỳ xã hội nguyên thủy: Ở thời kỳ này khuyến nông là rất sơ đẳng chỉ là sựtruyền đạt kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, dự trữ thức ăn từ người này sang người khác
- Thời kỳ sản xuất kiểu truyền thống: Khuyến nông có những bước tiến mới, conngười đã có ý thức hơn trong việc tích lũy và phổ biến kinh nghiệm sản xuất Một sốphương pháp đơn giản trong chọn tạo giống cây theo các hướng sử dụng, một số biện phápgieo trồng, tích trữ hạt giống cũng được truyền từ người này sang người khác bằng các câu
ca dao, tục ngữ Đây có thể xem là thời kỳ nông dân truyền đạt cho nông dân đặc trưngnhất
Những người cầm đầu nhà nước cũng đã chú ý đến công tác khuyến nông: Từ thời nhàĐinh hàng năm Lê Hoàn đã tự mình xuống cày đường cày đầu tiên cho mỗi vụ sản xuất.Năm 1226 dưới thời nhà Trần lập ra các chức quan: Hà đê sứ, dồn điền sứ, khuyến nông sứ
Trang 12và quan chuyên chăm lo, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp Hay những côngtrình thủy lợi nhập điền của Nguyễn Công Trứ cũng là sự thực thi của công tác khuyếnnông.
Năm 1945 Hồ Chí Minh ra chỉ thị” phải làm tốt công tác khuyến nông” Sau cải cáchruộng đất các tổ đổi công, HTX ra đời đã hình thành các tổ kỹ thuật để chọn giống, bảo vệthực vật Các tổ kỹ thuật này thực chất là tổ khuyến nông Từ năm 1964 Bộ Nông Nghiệpchính thức cố chủ trương lập các đoàn chỉ đạo sản xuất, đưa các sinh viên mới tốt nghiệpxuống các cơ sở xây dựng mô hình, mở lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của HTX, nôngtrường
- Thời kỳ nông nghiệp hiện đại: Năm 1981 Ban bí thư TW đưa ra chỉ thị 100 ”khoánsản phảm cuối cùng đến nhóm và người lao động” Với chỉ thị này HTX lo khâu cày, bừa,thủy lợi, giống, phân bón Xã viên lo cấy, chăm sóc, thu hoạch và nộp sản phẩm Sau 6năm thực hiện sản xuất nông nghiệp vẫn kém phát triển, chỉ thị này bộc lộ một số hạn chế
Vì vậy, năm 1988 BCHTW Đảng khóa V đã ra nghị quyết 10: “Đổi mới kinh tế nôngnghiệp”, giao đất cho từng hộ nông dân tự chủ sản xuất kinh doanh, họ có quyền sử dụngvà tiêu thụ sản phẩm Đến thời điểm này, đối tượng phục vụ của các cơ quan quản lý kinhtế, kỹ thuật các Viện Trường chủ yếu là nông nghiệp.Trước tình hình đó các viện nghiêncứu, giảng dạy và phục vụ theo hướng phát triẻn kinh tế hộ Tổ chức khuyến nông đầu tiêncủa Việt Nam được thành lập là An Giang (năm 1988), sau đó là Bắc Thái năm 1991.Năm 1993 thành lập Cục khuyến nông, khuyến lâm, sau khi có nghị định86/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và cơ cấu tổ chức của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, ở TW- Trung tâmkhuyến nông quốc gia ra đời Ở địa phương, ngay từ khi có NĐ 13/CP ngày 2/3/1993 vàchính phủ về công tác khuyến nông, khuyến lâm cấp tỉnh có Trung tâm khuyến nông tỉnh,cấp huyện có trạm khuyến nông Gần đây cấp xã có khuyến nông viên, có câu lạc bộkhuyến nông, nhóm sở thích
Hiện nay, số huyện có trạm khuyến nông là 520 trong tông số 637 (chiếm 81%) Cấpxã có khuyến nông viên cơ sở với 7.434 người tại 10.502 xã sản xuất nông nghiệp chiếm70,7% Cấp thôn bản có 3.918 câu lạc bộ khuyến nông với 176.300 hội viên do nông dân tựnguyện
Trang 13Kể từ thành lập (1993) đến nay (2005) khuyến nông có thể tóm tắt những hoạt độngchính sau:
+ Hoạt động thông tin tuyên truyền: Nhiệm vụ của hoạt động này là giúp cho nôngdân về chủ trương, đường lối và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Nhànước, tuyên truyền khoa học, kỹ thuật, giá cả thị trường, xuất bản tài liệu, bản tin và cungcấp thông tin đến người sản xuất, tổ chức hội nghị, hội thảo, hội nghị, hội chợ, tham quanvà kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để triển khai hoạt động thông tin tuyêntruyền
Những tờ tin như thông tin khuyến nông Việt Nam, trang web của khuyến nông hayphối hợp với đài phát thanh trong các chương trình thời sự, nông nghiệp nông thôn, phốihợp với đài truyền hình làm các chương trình thời sự, phóng sự, chuyên đề như chươngtrình “Nông dân cần biết” sau đó chuyển thành “Bạn nhà nông”, chương trình “Cùng nôngdân bàn cách làm giàu”
Ngoài ra hoạt động thông tin tuyên truyền còn phối hợp các báo, tạp chí như: nôngnghiệp Việt Nam, nông thôn ngày nay Ở địa phương, có khoảng 80% tỉnh đã có chươngtrình chuyên đề khuyến nông trên các báo đài phát thanh và truyền hình địa phương
Trong hơn 10 năm qua hoạt động thông tin tuyên truyền đã tham gia đắc lực vào việcphổ biến đầy đủ cho nông dân những chính sách, chủ trương về phát triển nông nghiệpnông thôn, đóng góp không nhỏ vào hoạt động khuyến nông, góp phần phát triển sản xuất,nâng cao dân trí
+ Hoạt động tập huấn, bồi dưỡng và đào tạo: Nội dung hoạt động này là tập huấn,bồi dưỡng và dạy nghề cho nông dân, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho ngườihoạt động khuyến nông, xây dựng, biên soạn nội dung tài liệu giảng dạy nghiệp vụ khuyếnnông và kỹ thuật sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
Hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức khoa học cần thiết cho người dântrong quá trình sản xuất và kinh doanh, tăng cường nghiệp vụ cho người làm công táckhuyến nông
+ Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn chuyển giao khoa học công nghệ vào sảnxuất: Đây là một hoạt động tổng hợp gồm nhiều hoạt động: tổ chức, thông tin tập huấntrước khi triển khai mô hình, hội nghị đầu bờ tuyên truyền sau khi mô hình có kết quả
Trang 14Có thể điểm qua các mô hình thông qua các chương trình khuyến nông sau:
• Chương trình khuyến nông trồng trọt: Cụ thể như: Đối với cây ngô, cây lúa,chuyển đổi mùa vụ, phát triển cây công nghiệp dài ngày (Cà phê, chè, cao su ) đã pháthuy sáng tạo, năng động góp phần đảm bảo an toàn lương thực (ANLT) quốc gia và nôngsản hàng hóa xuất khẩu
• Chương trình khuyến nông chăn nuôi: Lợn hướng nạc, cải tạo đàn bò, bò sữanăng suất cao, gia cầm đã góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật, đưa ngànhcông nghiệp từ manh mún nhỏ lẻ dần dần trở thành sản xuất hàng hóa tập trung, có hiệuquả kinh tế
• Chương trình khuyến công (bao gồm chế biến, bảo quản nông sản, phát triểnngành nghề nông thôn) Được triển khai từ 1998, đến nay đã xây dựng được 162 mô hìnhvà mở được 105 lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân Chương trình góp phần làm giảm tổnthất sau thu hoạch đối với các loại nông sản, đổi mới tư duy của nông dân về công nghệ sauthu hoạch, xúc tiến thương mại và tăng thu nhập
• Tư vấn và dịch vụ khuyến nông: Đây là những vấn đề mới đối với khuyếnnông Việt Nam Thực tế một vài năm gần đây mới xuất hiện phương thực tư vấn - dịch vụtrong công tác khuyến nông và chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở một số tỉnh như: Thái Bình, Hà Nội (Ở phía Bắc) và An Giang, Tiền Giang, Đồng Nai, Bình Phước (Ở phía Nam)
2.7 Hoạt động khuyến nông trong chăn nuôi ở nước ta
Hoạt động khuyến nông trong chăn nuôi là một phần của hoạt động khuyến nông Vìvậy ở đây chỉ đề cập đến những chương trình khuyến nông chăn nuôi
Chương trình khuyến nông chăn nuôi đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc cảitiến, nâng cao năng suất, chất lượng giống vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi Dưới đây làmột số chương trình khuyến nông trọng điểm của chăn nuôi
+ Chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc Thu hút khoảng 13.000 hộthuộc 40 tỉnh, thành tham gia với tổng số lợn nuôi của công trình là 32.786 con (bao gồmlợn cái, lợn đực ngoại và lợn nái lai nhiều máu ngoại), chương trình này đã gắn chăn nuôivới xây dựng bể khí sinh học để xử lý chất thải Kết quả số lứa đẻ của 1 lợn nái tăng từ 1,8lứa/năm lên 2 lứa, số ngày cai sữa của lợn con giảm từ 60 ngày xuống 34-40 ngày, tỉ lệ nạc
Trang 15phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoa,ïtuy nhiên chương trình vẫn còn một số tồn đọng: chất lượng con giống còn thiếu so với nhucầu và chưa được coi trọng trong triển khai mô hình, mô hình xây dựng còn tảng mạng,thiếu tập trung.
+ Chương trình cải tạo đàn bò: Đã thu hút trên 482.000 hộ nông dân tham gia ở gần
50 tỉnh, thành Kết quả đã đào tạo được 700 dẫn tinh viên chính quy Trên 2.000 dẫn tinhviên cấp huyện và 6.000 khuyến nông viên chăn nuôi thú y, huấn luyện kỹ thuật cho51.400 lược hộ Các giống bò ngoại Red Sindhi, Sahiwal, Brahman đã được lai tạo với bòvàng Việt Nam làm tăng tỷ lệ bò lai cả nước từ 10 % lên 25%, để nâng khối lượng bò cái từ
170 kg lên 220-250 kg, tỷ lệ thịt xẻ tăng 40 lên 70% Chương trình khuyến nông chăn nuôicải tạo đàn bò đã góp phần nâng cao tầm vóc đàn bò vàng Việt Nam làm cơ sở cho việc laitạo theo hướng chuyên thịt hoặc là chuyên sữa và giúp gần nửa triệu hộ chăn nuôi bò lai cóthu nhập tăng trên 1 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên chương trình còn có một số tồn tại: thiếu đựcgiống đạt tiêu chuẩn chất lượng, việc áp dụng kỹ thuật dẫn tinh nhân tạo còn hạn chế dothiếu dẫn tinh viên giỏi hoặc do địa bàn phân tán
+ Chương trình bò sữa năng suất cao: Được triển khai trên 20 tỉnh và một số đơn vị.Kết quả năng suất sữa của bò trong mô hình cao hơn bò sữa đại trà từ 15-20% Hiệu quảcủa chương trình đã góp phần tăng đàn bò sữa Việt Nam Đến nay đã có gần 100.000 con,trong đó nhập khẩu trên 10.000 con, tổng sản lượng sữa đạt trên 140.000 tấn/năm Hìnhthành vùng chăn nuôi bò sữa tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Mộc Châu,Sơn La và nhiều tỉnh thành khác để cung cấp nguyên liệu cho các nhà chế biến sữa, từngbước hạn chế nhập nội Chương trình có một số hạn chế: hỗ trợ thấp, đầu tư dàn trải, cầntập trung khuyến khích phát triển bò sữa ở một số vùng có điều kiện phát triển
+ Chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm: Triển khai trên toàn quốc và chuyểngiao được trên 650.000 gia cầm, giống mới cho các hộ nông dân (gà Lương Phượng, Kabin,Sasso, JA -57, các giống vịt, ngan Super M, ngan Pháp dòng R51, R71, ) Qua thực tếcho thấy nuôi 100 con gà, vịt, ngan giống mới có thể thu lãi từ 0,3-0,5 triệu đồng sau 2-3tháng chăn nuôi thậm chí có lãi từ 0,9-1 triệu đồng Đây là một chương trình mang lại hiệuquả kinh tế cao, dễ đầu tư, vốn không lớn, quay vòng nhanh Về mặt xã hội các mô hình đãthực sự góp phần chuyển biến trong nhận thức nông dân từ chăn nuôi tự túc, tự cấp sangchăn nuôi hàng hóa, áp dụng các qui trình kỹ thuật
Trang 16+ Ngoài ra trung tâm khuyến nông quốc gia còn hướng dẫn các tỉnh thực hiện một sốchương trình khuyến nông chăn nuôi khác phù hợp với đặc thù và điều kiện của địa phươngnhư:
• Chương trình phát triển đàn ong nội
• Chương trình cải tạo đàn trâu nội, dê, cừu
• Chương trình khuyến nông thú y bảo vệ vật nuôi
Như vậy, trong thời gian qua hầu hết các chương trình khuyến nông chăn nuôi đã tậptrung vào việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới cho nông dân, góp phần nâng cao trìnhđộ dân trí, trình độ kỹ thuật, đưa nền chăn nuôi từ manh mún, nhỏ lẻ dần dần trở thành nềnchăn nuôi hàng hóa, tập trung có hiệu quả kinh tế và cạnh tranh cao Nhiều chương trìnhkhuyến nông đã thực hiện trên địa bàn rộng, đạt hiệu quả cao góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân nhất là nông dân ở các tỉnhkhó khăn, tỉnh miền núi
Hiệu quả đối với mô hình khuyến nông chăn nuôi vẫn còn một số hạn chế do thờigian xây dựng và thực hiện mô hình chưa phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của giống vậtnuôi Đội ngũ cán bộ khuyến nông chăn nuôi một số tỉnh thiếu và trình độ chuyên môn cònhạn chế Vấn đề đào tạo tập huấn cho nông dân chăn nuôi chưa đầy đủ Thông tin về thịtrường và làm cầu nối với các doanh nghiệp để giúp đỡ nông dân tiêu thụ sản phẩm cònyếu
Tóm lại, chương trình khuyến nông chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quảxã hội to lớn, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệpnông thôn, cải thiện đáng kể về đời sống nhân dân Khuyến nông chăn nuôi là giải phápquan trọng trong chiến lược phát triển chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới, góp phần đưangành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính
Trang 17PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG
PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện Quảng Ninh.
- Khuyến nông trong chăn nuôi của huyện Quảng Ninh.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Đề tài thực hiện tại huyện Quảng Ninh, nhưng trọng điểm tại hai xã: An Ninh và Trường Xuân.
- Về mặt thời gian: Đề tài thực hiện từ 02/01/2006- 06/05/2006.
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện và hai xã nghiên cứu.
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại huyện Quảng Ninh.
- Đánh giá vai trò của khuyến nông trong chăn nuôi tại huyện.
- Đề xuất các giải pháp cho phát triển chăn nuôi và hoạt động có hiệu quả của khuyến nông trong chăn nuôi của huyện.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu có sẵn, liên quan đến tình hình cơ bản, về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình chăn nuôi, công tác khuyến nông, khuyến nông trong chăn nuôi tại huyện và hai xã điều tra.
- Phương pháp chọn hai xã điều tra: Chúng tôi chọn hai xã điều tra có tình hình chăn nuôi đối lập nhau: Xã An Ninh chăn nuôi tương đối phát triển, xã Trường Xuân tương đối kém phát triển Bởi vì chúng tôi muốn tìm hiểu được sự khác nhau trong điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến chăn nuôi như thế nào và khuyến nông đã giúp được gì cho chăn nuôi tại hai xã đó.
Để chọn hai xã này chúng tôi phải tham khảo ý kiến của những cán bộ phòng kinh tế huyện và đồng thời qua khảo sát thực địa của chúng tôi trên toàn huyện.
Trang 18- Chọn mẫu điều tra theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên: Mỗi xã điều tra 45 hộ, tổng số mẫu điều tra tại hai xã là 90 hộ Trong 45 hộ ở mỗi xã, điều tra phân tầng theo:
15 hộ thuộc loại hộ khá.
15 hộ thuộc loại hộ trung bình.
15 hộ thuộc loại hộ nghèo.
Trong đó: 15 mẫu thuộc mỗi loại hộ được chọn ngẫu nhiên từ tổng số nằm trong loại hộ đó.
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Đó là phỏng vấn dựa vào bảng hỏi đã chuẩn
bị trước, người phỏng vấn sẽ phỏng vấn những nội dung trong bảng hỏi, đồng thời phát triển các cây hỏi phụ để bổ sung cho nội dung cần nghiên cứu.
- Phỏng vấn người am hiểu: Đó là phỏng vấn các cán bộ tại trạm khuyến nông, trưởng hội phụ nữ xã, trưởng hộ nông dân xã, người cao tuổi có
uy tín.
- Phỏng vấn sâu: Phương pháp này áp dụng cho khuyến nông cơ sở, các chủ mô hình chăn nuôi, trưởng trạm khuyến nông Quảng Ninh, những nông dân sản xuất giỏi.
- Phương pháp hồi cố: Được sử dụng trong quá trình nghiên cứu thông qua việc sử dụng các thủ thuật nhằm gợi nhớ, tái hiện lại những hoạt động đã diễn ra trước đó Ví dụ như: tình hình chăn nuôi năm 2005 tại hộ, cách thực hiện 1 mô hình trình diễn cỏ
- Phương pháp thực địa kết hợp với phương pháp quan sát: Sử dụng kết hợp cho ta cái nhìn tổng quan của địa phương điều tra từ đó giúp thu thập thông tin chính xác hơn và có nhìn nhận phù hợp hơn.
- Phân tích xử lý số liệu: Phương pháp thống kê là mô tả, thống kê so sánh và phân tích định tính đã được áp dụng để phân tích các thông tin, số liệu thu thập được.
Trang 19PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu.
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Bình có toạ độ địa lý: Vĩ độtừ 17004’ vĩ độ Bắc - 17026’ vĩ độ Bắc, kinh độ từ 106017’ kinh độ Đông đến 10608’ kinh độĐông
Phía Bắc giáp huyện Bố Trạch và thành phố Đồng Hới
Phía Nam giáp huyện Lệ Thuỷ
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Tổng diện tích đất tự nhiên trong địa giới hành chính là 119.089 ha và đực chia thành
14 xã và 1 thị trấn
4.1.1.2 Địa hình
Là một huyện nằm phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình nghiêng từ Tây sang Đông đã tạo cho huyện Quảng Ninh một địa hình tương đối phức tạp Đi từ tây sang Đông có thể thấy cấu trúc địa hình của huyện chia thành 4 dạng chủ yếu sau: núi, đồi, đồng bằng và vùng biển.
- Vùng rừng núi: Là sườn Đông của dãy Trường Sơn, bao gồm những dãy núi khe sâuchiếm 57% tổng diện tích tự nhiên Đây là vùng có nhiều đặc sản quý, hiếm về lâm sản và núiđá vôi phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện
- Vùng đồi: Đây là dạng địa hình chuyển tiếp giữa vùng rừng núi ở phía tây và vùng đồng bằng ở phía Đông chiếm 26,8% diện tích tự nhiên Phía Bắc sông Long Đại là địa hình đồi thấp, đồi bát úp Từ Nam sông Long Đại trở vào là địa hình thung lũng với hợp thuỷ nhỏ xen kẽ với đồi núi thấp và núi đá vôi Đây là một tiềm năng lớn cho khai thác và chế biến xi măng, đồng thời đây cũng là vùng rất thuận lợi cho phát triển vườn đồi, cây công nghiệp, cây
ăn quả và chăn nuôi gia súc.
Trang 20- Vùng đồng bằng: Chiếm 9,5% tổng diện tích tự nhiên, bị chia cắt khá lớn bởi phầnhạ lưu sông Kiến Giang và sông Đại Giang hợp với sông Nhật Lệ tạo ra ba tiểu vùng đồngbằng Vùng đồng bằng được các con sông cung cấp một lượng phù sa rất lớn vào mùa lũ lụtcho nên rất có điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện.
- Vùng đất cát ven sông: Đây là loại địa hình chạy dọc bờ biển với chiều dài 23kmchiếm 6,7% diện tích đất tự nhiên Hiện nay đây là nơi có điều kiện để phát triển thuỷ sản
Đồng thời nhìn vào bảng thì diện tích đất nông nghiệp của huyện là rất ít chỉ chiếm5,8% tổng diện tích tự nhiên Mà đời sống của người dân ở đây hầu hết phụ thuộc vào nôngnghiệp Vì vậy vấn đề đặt ra là phải sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất Ba năm qua diệntích đất trồng lúa giảm xuống thay vàp đó là đất trồng cây hàng năm tăng lên từ 855,26 hanăm 2003 lên 1704,53 ha năm2005 Đồng thời diện tích vườn tạp (đất nông nghiệp khác)đã giảm xuống rõ rệt từ 753,67 ha năm 2003 xuống còn 20,21 ha Đặc biệt năm 2005 có25,92 ha đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi, mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ 0,02% tổng diện tích đấttự nhiên nhưng báo hiệu cho sự đầu tư vào chăn nuôi của người dân Theo nhận định cácnăm tới diện tích đất này ngày càng tăng Đồng nghĩa với việc tăng sử dụng đất nôngnghiệp và lâm nghiệp thì diện tích đất chưa sử dụng thu hẹp lại Năm 2003 diện tích đấtchưa sử dụng là 59.947,89 ha chiếm50,34%, thì đến năm 2005 chỉ còn 6171,99 ha chiếm5,18%
Như vậy, có thể kết luận rằng trong vòng ba năm qua tình hình sử dụng đất củahuyện Quảng Ninh có nhiều bước tiến đáng kể: diện tích đất nông nghiệp sử dụng ngàycàng có hiệu quả hơn, đất chưa sử dụng ngay càng một thu hẹp thay vào đó là diện tíchrừng phòng hộ tăng lên
4.1.1.4 Khí hậu
Trang 21Huyện Quảng Ninh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền trung vớiđặc điểm nắng lắm, mưa nhiều, lũ lụt hạn hán thường xuyên xảy ra Nó đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến sản xuất cùng như đời sống của nhân dân trong toàn huyện.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,60C và đang ngày càng có xu hướng tăng lên Độẩm bình quân là 84% Khí hậu huyện Quảng Ninh nói riêng và của tỉnh Quảng Bình nóichung là nơi chuyển giao khí hậu của hai vùng Bắc Nam và phân hoá thành hai mùa rõ rệttrong năm
- Mùa mưa: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 9 trong năm kéo dài tới đầu tháng 3 nămsau Mưa tập trung chủ yếu vào những tháng 10,11,12 chiếm 80-85% tổng lượng mưa trongnăm, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 2.100 -2.200mm Hiện tượng mưa tập trungkết hợp với địa hình phức tạp và đôi khi có gió bão hoặc gió mùa đông bắc làm cho đất đai
bị xói mòn, rửa trôi, thoái hoá gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhândân Nhiệt độ trung bình trong mùa mưa là 18-200C, đặc biệt những lúc có gió mùa ĐôngBắc nhiệt độ có thể xuống dưới 150C, độ ẩm mùa mưa khá cao từ 85% đến 95%
- Mùa khô: bắt đầu từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 9 Mùa này thời tiết ở đây vô cùngkhắc nghiệt: nắng gắt nhiệt độ cao kết hợp với gió tây nam (gió Lào) rất khô và nóng đãgây không ít khó khăn cho việc sản xuất và các hoạt động kinh tế Nhiệt độ trung bình từ25-270C, cao nhất là 420C
Khí hậu huyện Quảng Ninh thể hiện nhiều đặc điểm phức tạp, khắc nghiệt, thườngxuyên tạo ra sự hạn hán kéo dài trong mùa khô, mùa mưa thì lũ lụt, gió bão cùng những đợtgió mùa đông bắc gây ra những đợt gió mùa đông Bắc gây ra những bất lợi cho sản xuấtvào đời sống của người dân Vì vậy trong sản xuất của huyện tính mùa vụ thể hiện rõ ràng
Trang 22- Sông Long Đại là một nhánh của con sông Kiến Giang tách nhánh đổ ra biển Đâylà một điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại và trao đổi hàng hoá bằng đường thuỷ củahuyện.
- Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Lệ Kỳ là một con sông ngắn, nội đồngchảy qua vùng trồng lúa của huyện Đồng thời trên địa bàn huyện còn có các hồ, đập chứanước với dung tích lớn như Hồ Cẩm Ly, đập ngăn mặn Mỹ Trung, hồ Điếu Gà có 12công trình hồ chứa lớn nhỏ với tổng dung tích nước là 46,3triệu m3 phục vụ tưới tiêu cho6.994,5ha 2 vụ lúa
4.1.1.6 Tài nguyên thiên nhiên
Nguồn tài nguyên thiên nhiên của huyện Quảng Ninh tương đối phong phú, đa dạngcả về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển
- Tài nguyên khoáng sản: Nguồn khoáng sản thiên nhiên của huyện chủ yếu là đá vôivới trữ lượng khá lớn 2.940 tấn tập trung chủ yếu ở xã Trường Xuân Ngoài ra còn có cácloại khoáng sản khác như mỏ quặng sắt, quặng Đôlômít ở Aïng Sơn ( Vạn Ninh), quặngPhôtphorít ở Trường Xuân, đá ốp lát, sét gạch ngói, cát sạn, với trữ lượng lớn Lợi thế đócho phép huyện Quảng Ninh phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng với quy môlớn
- Tài nguyên rừng: Với diện tích 99.722,07ha chiếm 83,74% diện tích tự nhiên vớinhiều loại động, thực vật phong phú ở tầng cao, có trữ lượng gỗ lớn với nhiều loại gỗ quýnhư lim, gụ, sến, táu, và nhiều loại lâm sản khác như song, mây, sẽ cung cấp nguyênvật liệu xây dựng, trang trí mỹ nghệ, cung cấp năng lượng, dược liệu cho huyện Tuynhiên do hậu quả chiến tranh và sự khai thác quá mức đã làm cạn kiệt tài nguyên rừng Vìvậy việc bảo vệ rừng và đảm bảo việc trồng rừng là cấp bách và quan trọng nhằm bảo tồntính đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ được môi trường sinh thái
- Tài nguyên biển: Huyện Quảng Ninh có bờ biển dài 23km, bằng phẳng tài nguyênsinh vật biển đa dạng và phong phú Vùng ven biển có diện tích bãi triều lớn là nơi phânphối của các loài cá, tôm, cua, mực, sò, ốc cho phép nhân dân trong vùng khai thác vàđánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước ngọt, nước lợ
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế của huyện
Trang 23Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 21 và kế hoạch phát triển kinh tếxã hội 5 năm (2001 - 2005) Mặc dù trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn nhưng dưới sựlãnh đạo của thường vụ huyện uỷ, ban chấp hành Đảng bộ huyện, sự quan tâm giúp đỡ củatỉnh đồng thời là sự nổ lực hết sức mình của nhân dân đã làm cho nền kinh tế - xã hộihuyện nhà có những bước phát triển mới, đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Cụ thể đến năm 2003 tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế tăng 7,8% Năm
2005 thì tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế là 8,5% Và điều đáng nói là cơ cấukinh tế của huyện có sự chuyển dịch đúng hướng đó là sự giảm dần tỷ trọng ngành nông -lâm thuỷ sản, sự tăng dần tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản vàthương mại - dịch vụ - du lịch Điều này phù hợp với đường lối, quan điểm phát triển kinhtế của huyện cũng như của nền nông thôn Việt Nam để tiến tới một nước công nghiệp hoá,hiện đại hoá dựa trên cơ sở phát triển khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo Tất cả đượcthể hiện trong bảng 2 dưới đây
4.1.2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
4.1.2.2.1 Thuỷ lợi
Hệ thống công trình thuỷ lợi phát triển nhưng vẫn chưa đủ sức cung cấp nước cho yêucầu sản xuất của toàn huyện Theo số liệu thống kế năm 2005 toàn huyện có 12 hồ chứalớn và nhỏ, 12 trạm bơm điện có khả năng để tưới cho 6.994,5ha 2 vụ lúa Nên tình trạngthiếu nước vào mùa khô vẫn cứ xảy ra trong những năm gần đây
4.1.2.2.2 Giao thông vận tải
Đến năm 2000 mạng lưới giao thông Quảng Ninh bước đầu đáp ứng được nhu cầu.Hệ thống đường bộ phát triển thành mạng lưới khắp trong huyện xuống tận các vùng và nốiliền với mạng lưới giao thông của cả nước, đảm bảo giao lưu thông suốt trong huyện, tỉnh
Trang 24và trên cả nước Toàn huyện có 15/15 xã có đường ô tô đến trung tâm xã Nhưng số đườngnhựa chỉ 4/15 xã Vì vậy trong năm tới để đảm bảo sự giao lưu thông suốt ngày càng tốthơn thì đòi hỏi số đường nhựa phải tăng lên ở các xã.
Ngoài ra Quảng Ninh còn có tuyến đường sắt và đường thuỷ cũng chiếm một vị trílớn trong việc vận chuyển hàng hoá
4.1.2.2.3 Thông tin liên lạc và năng lượng
Mạng lưới thông tin liên lạc phủ kín trên địa bàn huyện Toàn huyện có 15/15 xã, thịtrấn có điện quốc gia đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân Các phương tiệnnghe nhìn phát triển mạnh đến từng hộ gia đình, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá củanhân dân
4.1.2.2.4 Giáo dục đào tạo
Giáo dục đào tạo phát triển nhanh và toàn diện: 100% xã, thị trấn có trường tiểu học,có 15 trường trung học cơ sở rải đều trên 115 xã, có 3 trường phổ thông trung học được bốtrí ở các khu vực trung tâm, thuận tiện cho con em trong vùng Số giáo viên dạy giỏi và họcsinh đạt giải cao trong các kỳ thi ngày càng tăng Đến nay có 20 trường đạt chuẩn quốc giavới 14 trường xây dựng kiên cố, 23 trường học cao tầng Toàn bộ các xã, thị trấn đã côngnhận xoá mũ chữ, phổ cập tiểu học Như vậy ta có thể thấy sự nghiệp giáo dục đào tạo đượchuyện đặc biệt chú trọng và ngày càng có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên bên cạnh đógặp một số khó khăn như: trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ dạy học còn thiếu,
4.1.2.2.5 Y tế
Mạng lưới y tế phát triển đều khắp trên địa bàn huyện với đội ngũ y, bác sỹ có trìnhđộ và nhiệt tình với công việc Toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa nằm ở trung tâm với 70giường bệnh đủ sức làm nhiệm vụ của tuyến hổ trợ thứ 2, có 2 phòng khám khu vực có đủtrang thiết bị, 15/15 xã, thị trấn đều có trạm xá trong đó có 4 trạm đạt chuẩn quốc gia.4.1.2.2.6 Văn hoá
Trong những năm qua có những chuyển biến tích cực, phong trào xây dựng gia đìnhvăn hoá, làng văn hoá phát triển sâu rộng và được nhân dân tích cực ủng hộ tham gia Năm
2001 có 15 làng được công nhận là làng văn hoá cấp huyện và 6 làng văn hoá cấp tỉnh Đếnnăm 2005 tăng lên 34 làng văn hoá cấp huyện và 8 làng văn hoá cấp tỉnh Các hoạt động
Trang 25văn hoá - thể dục thể thao diễn ra sôi nổi với chất lượng nội dung được nâng cao, góp phầngìn giữ phát huy giá trị văn hoá, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
4.1.2.3 Dân số và lao động
4.1.2.3.1 Dân số
Tổng dân số Quảng Ninh đến hết năm 2005 có 91.985 người với mật độ dân số là77,2 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10,75‰ , năm 2005 tỷ suất sinh 16,62‰,giảm 0,47% so với năm 2004 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 17,58% Nguyên nhân chủ yếulà do chính quyền xã chưa quan tâm đúng mức, đội ngũ công tác viên dân số hoạt độngthiếu tích cực, hình thức kỷ luật chưa rõ ràng cụ thể và đặc biệt người dân chưa hiểu rõ hậuquả của việc tăng dân số quá mức
Nhìn chung dân số phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở Đồng Bằng và ven đườngquốc lộ 1A Mật độ dân số cao nhất ở thị trấn Quán Hàu 1.310 người/km2, thấp nhất ở xãTrường Sơn 5,1 người/km2
4.1.2.3.2 Lao động và việc làm
Quảng Ninh có nguồn lao động dồi dào, năm 2005 toàn huyện có 48.950 lao động,trong đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao chiếm 76,6% lao động phổ thông chiếmkhoảng 95% trong tổng số lao động
Điều đáng lưu ý là lực lượng lao động trẻ rất dồi dào, chiếm một tỷ lệ lớn song lại dưthừa cũng rất lớn và lãng phí nhất là lúc nông nhàn ở nông thôn Thời gian lao động trựctiếp chiếm 76% thời gian, số lao động không có việc làm chiếm tỷ lệ 4,3% Trong khi đósố lao động không có việc làm lại thường xuyên rơi vào những gia đình kinh tế chủ yếu dựavào nông nghiệp, nên đời sống người dân nông thôn ít được cải thiện Riêng năm 2005 giảiquyết việc làm cho 1.320 người có việc làm mới bằng hình thức cho vay phát triển kinh tếhộ Đây chỉ là một hướng đi nhỏ để giúp giải quyết nạn thất nghiệp Còn làm thế nào đểgiải quyết việc làm cho lao động nông thôn hiện nay? Đó là một vấn đề cấp thiết mang tínhthời sự nóng bỏng của các cấp, ngành và cả những người lao động
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.3.1 Thuận lợi
- Quảng Ninh là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Bình, có chung đường ranhgiới với thành phố Đồng Hới Trung tâm huyện cách tỉnh lỵ Quảng Bình 7km nên có điều
Trang 26kiện giao lưu học hỏi thành phố Đồng Hới từ đó giúp phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội.Đồng thời Quảng Ninh còn có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt đi qua,là nơi giao thoa các đặc thù giữa hai miền Nam - Bắc nên dễ dàng hoà nhập, tiếp thu nhữngtiến bộ về khoa học kỹ thuật của cả nước.
- Là huyện có lợi thế về tài nguyên vật liệu xây dựng như: đá vôi, đá sét xi măng, đáốp lát, cát sạn, gạch ngói, với trữ lượng lớn và nhiều điểm khai thác cho phép huyệnQuảng Ninh phát triển một ngành công nghiệp vật liệu xây dựng với quy mô lớn tạo thànhngành công nghiệp mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế huyện phát triển
- Quảng Ninh là mảnh đất lịch sử lâu đời với hai cộng đồng dân tộc sinh sống là dântộc Kinh và Vân Kiều, với nhiều nét đặc sắc về sinh hoạt, phong tục tập quán, đặc biệt làcó khả năng tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ là tiền đề lớn đểphát triển kinh tế - xã hội
- Cơ cấu kinh tế của huyện dịch chuyển theo xu hướng tăng dần tỷ trọng ngành côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ - du lịch, giảm dần tỷtrọng ngành nông - lâm - thuỷ sản, trong đó tăng chất lượng ngành nông - lâm - thuỷ sản vàtăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi so với trồng trọt trong nông nghiệp Nó thể hiện đúngđắn với đường lối, quan điểm phát triển kinh tế của huyện cũng như của cả nước để tiến tớimột bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Với những điều kiện thuận lợi như trên phần nào đã đưa tình hình chăn nuôi trên địabàn huyện đi vào bước phát triển mới và có cơ sở để tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoahọc mới vào chăn nuôi
4.1.3.2 Những hạn chế
* Về điều kiện tự nhiên
- Là huyện nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu khắc nghiệt đặc trưng bởi lắmnắng, mưa nhiều gây ra các hiện tượng lũ lụt, gió bão, nạn cát bay, cát nhảy, hạn hán đãgây ảnh hưởng không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp
- Địa hình phức tạp bị chia cắt bởi sông, suối, độ dốc lớn, đồi núi trọc nhiều, làm chănnuôi, trồng trọt bị manh mún, đất thoái hoá dần
Đây là những điều kiện hạn chế của tự nhiên đã gây không ít khó khăn cho các loại
Trang 27các loại bệnh tật và khan hiếm thức ăn Khi làm việc chăn nuôi của hầu hết nhân dân tronghuyện phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ.
* Về điều kiện kinh tế - xã hội
- Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, cơ sở vật chất còn nhỏ bé, trình độ sản xuất vàcông nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp Nền nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo nhưngchưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp
- Các mặt xã hội vẫn còn tồn tại nhiều: Tốc độ tăng dân số tuy có giảm nhưng còncao so với khả năng phát triển kinh tế Công tác giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng đủ so vớinhu cầu phát triển
Những hạn chế về kinh tế - xã hội trên đây ta có thể xem như “gọng kìm” làm kìmhãm phát triển chăn nuôi của huyện Người dân vẫn chưa thoát khỏi xem trồng trọt mới làthu nhập chính so với chăn nuôi Họ chưa dám đầu tư vào chăn nuôi Sự gia tăng dân số,cùng quy cách sản xuất nhỏ lẻ manh mún thực sự là vòng luẩn quẩn của người dân nôngthôn huyện Quảng Ninh, khi mà chưa có những chính sách đường lối thiết thực hơn
4.1.4 Điều kiện tự nhiên của các xã nghiên cứu
4.1.4.1 Vị trí địa lý
Xã An Ninh là một xã nằm ở phía Nam huyện Quảng Ninh Địa giới hành chính đượcbao bọc bởi:
- Phía Bắc giáp xã Xuân Ninh
- Phía Nam giáp xã Vạn Ninh
- Phía Đông giáp xã Tân Ninh
- Phía Tây giáp xã Trường Xuân
Xã Trường Xuân là một xã ở phía Tây Nam huyện Quảng Ninh Địa giới hành chínhđược bao bọc bởi:
- Phía Bắc giáp xã Hàm Ninh, Vĩnh Ninh
- Phía Nam giáp xã Ngân Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ
- Phía Đông giáp các xã: Hiền Ninh, Xuân Ninh, An Ninh, Vạn Ninh
- Phía Tây giáp xã Trường Sơn
Trang 284.1.4.2 Địa hình
Xã An Ninh là xã có địa hình bán sơn địa Phần phía Tây giáp xã Trường Xuân là đồinúi chiếm 1/3 diện tích xã Riêng phần đồng bằng chiếm 3/4 diện tích xã, chiếm diện tíchđồng lúa lớn của huyện Quảng Ninh với 1.068ha đất lúa
Xã Trường Xuân: Là một trong hai xã miền núi của huyện Quảng Ninh, chịu sự chiacắt mạnh bởi các đồi núi và sông suối nhỏ Do đó địa hình của xã bao gồm các gò đồi vàthung lũng nhỏ có đất đai tương đối màu mở thuận lợi cho phát triển cây ngắn ngày và dàingày Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến đi lại và cả công tác khuyến nông Đặc biệt tại xãTrường Xuân có một diện tích núi đá vôi photphorit cho khai thác với hàm lượng rất lớn.Đây là điều kiện cho xã Trường Xuân phát triển ngành công nghiệp khai thác đá
4.1.5 Điều kiện kinh tế xã hội của hai xã nghiên cứu
4.1.5.1 Thực trạng đời sống kinh tế của hai xã nghiên cứu
- An Ninh là một xã thuần nông lâu đời Đời sống của bà con trong xã chủ yếu dựavào sản xuất nông nghiệp Với trình độ canh tác lâu đời nên đời sống của bà con tương đốiđảm bảo Tuy nhiên chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong xã còn chậm Chỉ mới bắtđầu chuyển dịch mạnh từ năm 2003 đến nay Mức hưởng thụ văn hoá giáo dục, năng lựcquản lý đời sống kinh tế của dân đạt mức trung bình khá
- Trường Xuân là một xã miền núi, đồng bào dân tộc Vân Kiều chiếm 20,7% Hiệnnay đời sống của riêng bà con Vân Kiều còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, phương thứccanh tác còn lạc hậu Song bên cạnh đó số bà con dân tộc Kinh lên làm kinh tế mới lại lànhững con người mới tiên phong trong kỹ thuật mới, đời sống con người ngày càng khágiả Đó chính là hai mặt đối lập trong đời sống của người dân nơi đây Nhưng đồng thờichính nhờ những con người kinh tế mới mà bà con Vân Kiều học tập làm theo để đưa đời
Trang 294.1.5.2 Tình hình dân số và lao động
Dân số trên địa bàn xã An Ninh đến 31/12/2005 là 9.282 người và 2.089 hộ Số ngườitrong độ tuổi lao động là 4.915 người, số lao động được giải quyết việc làm là 3.282 ngườitrong đó xuất khẩu lao động là 13 người, chủ yếu là lao động nông nghiệp Năm 2005 tỷ lệsinh con thứ 3 là 25% Đây là một tỷ lệ cao, chứng tỏ rằng công tác dân số kế hoạch hoágia đình ở xã còn yếu, sự vận động, tuyên truyền tăng ý thức trong dân còn kém
Dân số đến cuối năm 2005 trên xã Trường Xuân là 2.771 người với 504 hộ Trong đóbà con Vân Kiều bao gồm 127 hộ với 715 nhân khẩu chiếm 25,8% dân số trong toàn xã.Tỷ lệ phát triển dân số là 18,8%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 29,78%, một tỷ lệ rất cao Vìthế trong thời gian tới cần tổ chức tuyên truyền, xử phạt sâu rộng hơn để giúp bà con tăngnhận thức về kế hoạch hoá gia đình Năm 2005 tổng số lao động trong toàn xã là 1.435người trong đó lao động nông nghiệp là 1.220 người, còn lại làm nghề khác Lao động hầuhết là lao động phổ thông chưa qua đào tạo đã hạn chế không nhỏ đến việc áp dụng khoahọc vào sản xuất
Nhìn chung hai xã điều tra điều còn có tỷ lệ lao động phổ thông cao, mặc dù xã AnNinh là xã đồng bằng thì tỉ lệ này có cao hơn Nhưng để đáp ứng yêu cầu sản xuất cần đòihỏi cao hơn nữa tỷ lệ lao động được đào tạo
đi bộ Chính hệ thống giao thông này đã cản trở rất lớn sự giao lưu, thông thương bên ngoàivới xã
* Hệ thống thuỷ lợi của hai xã điều tra dù đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng đủnhu cầu tưới cho diện tích gieo trồng trên địa bàn Nên vào mùa khô nóng vẫn xảy ra hiệntượng hạn hán cục bộ
Trang 30Từ những phân tích chung về hai xã trên, ta có thể nhận thấy rằng An Ninh và TrườngXuân là hai xã có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác hẳn nhau Một xã với địa hìnhđồng bằng Một xã với địa hình đồi núi, bao gồm cả dân tộc Vân Kiều và những người làmkinh tế mới - người Kinh cùng sinh sống Nên khi lấy hai xã làm địa bàn nghiên cứu cụ thểtrong đề tài này, chúng tôi nhằm muốn so sánh, đánh giá những điều kiện trên đã ảnhhưởng đến sự phát triển chăn nuôi của mỗi xã theo hướng nào? Có sự chuyển đổi ra sao?Và vì sao nó lại đạt được như vậy? Đó chính là những câu hỏi mà chúng tôi mong muốn sẽtìm được câu trả lời trong đề tài này.
4.2.Đánh giá tình hình chăn nuôi của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ 2003-2005
4.2.1 Tình hình chăn nuôi của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn từ 2003-2005
Để từng bước đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên cơ sở chung Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện về khuyến khích phát triển chăn nuôi Đàn gia súc, gia cầm của huyện đang dần có những chuyển biến theo hướng tích cực.
Trang 31( Nguồn: Phòng thống kê huyện Quảng Ninh)
Qua bảng thì ta có thể nhận thấy đàn trâu và dê vẫn luôn ở số lượng cầm chừng không có biến động lớn Đàn trâu 2003 là 4.177 con thì đến năm
2005 cũng chỉ tăng 67 con và tương tự đàn dê cũng chỉ tăng với số lượng rất ít 2003-2005 chỉ tăng được 57 con Điều này thực sự là điều dễ hiểu bởi vì: Đàn
dê có thị trường tiêu thụ nhưng với phương châm giao đất giao rừng cho người dân, đàn dê mất dần chỗ chăn thả Nếu trước đây những đàn dê được tự do thả rừng thì nay họ phải coi giữ chăn thả từ sáng đến tối Điều này đòi hỏi công chăm sóc lớn Vì thế đàn dê cũng chỉ phát triển cầm chừng Riêng đàn trâu thì tại bởi giá cả thị trường, cùng là đại gia súc nhưng đàn bò lại được giá cao hơn hẳn trâu và cho sức sinh sản nhanh hơn Đồng thời đàn bò hiện nay đã được lai Sind với những đàn bò có chất lượng tốt hơn và giá cả cao hơn Nên người dân chuyển hướng sang chăn nuôi bò là điều tất nhiên Số lượng bò năm 2005 tăng 513 con so với năm 2003 và điều đáng mừng cho sản xuất nông nghiệp huyện đó là: Dù số lượng trâu, bò tăng lên nhưng tổng đàn gia súc cày kéo giảm, chứng tỏ rằng việc sử dụng các máy móc vào sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển Riêng đàn lợn có sự tăng nhưng lại biến động thất thường do giá cả thị trường và người dân làm theo xu hướng mà không nắm rõ tình hình chung theo kiểu “họ làm mình làm” và thực sự đây cũng là tình trạng chung của nông dân Đàn gia cầm giảm mạnh do chịu ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm năm 2004 và 2005 nên người dân cũng không đầu tư vào gia cầm.
Phát triển về số lượng gia súc, gia cầm ba năm qua tuy không lớn, nhưng điều đángchú ý là sự chăn nuôi tập trung theo quy mô lớn ngày càng được người dân đầu tư pháttriển Trước đây các hộ dân thường chăn nuôi nhỏ lẻ theo kiểu “bỏ ống lấy phân”, mỗi hộ
Trang 32nuôi vài ba con lợn, 1-2 con trâu cùng vài con gà thả vườn, xem chăn nuôi là một ngànhphụ sau trồng trọt, thì nay số hộ chăn nuôi theo kiểu chuyên môn hóa ngày càng tăng Năm
2005, trên địa bàn huyện, số hộ nuôi 20 con lợn trở lên có 70 hộ, có 63 hộ nuôi từ 10 contrâu bò trở lên, có 4 trang trại nuôi lớn, nuôi với quy mô hàng trăm con lợn Chính nhữnghộ này đã thực sự trở thành hộ nông dân sản xuất hàng hoá lớn, góp phần đưa số lượng đàngia súc tăng trưởng đáng kể Đây chính là những hộ tiên phong trong công tác tuyên truyềnphát triển đàn gia súc theo hướng sản xuất hàng hoá cho người dân trong huyện Nhưngđồng thời đi kèm với việc phát triển số lượng thì cần phải chú ý đến khâu thị trường đểtránh tình trạng nhân dân sản xuất theo kiểu “họ làm mình làm” dẫn đến nguồn cung vượtquá cầu
- Về chuyển đổi cơ cấu giống
Giống gia súc, gia cầm trước đây chủ yếu là các giống địa phương có tầm vóc nhỏ,năng suất thấp Để cải tạo tầm vóc, nâng cao năng suất, trong những năm qua, Uỷ ban nhândân huyện đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp như: nhập nội các giống ngoại, lai giốngbằng thụ tinh nhân tạo, nhảy trực tiếp Vì vậy, chất lượng đàn gia súc, gia cầm đã được cảithiện đáng kể Nhiều hộ mạnh dạn đầu tư xây dựng chuồng trại đưa giống ngoại vào nuôi.Cụ thể:
+ Giống lợn: Hiện nay đàn lợn ngoại trên địa bàn huyện tính đến cuối năm 2005khoảng chiếm 60% đàn lợn Để có được như vậy là nhờ các hộ mạnh dạn tự mua giốngngoại sinh sản về nuôi còn thông qua các chương trình, mô hình đã đưa hơn 350 nái ngoạisinh sản vào nuôi trong các hộ gia đình nhằm tạo con giống tại chỗ Hiện nay, trên địa bànkể cả lợn ngoại do dân tự mua và thông qua các chương trình mô hình tổng đàn có khoảnggần 2500 lợn ngoại sinh sản
+ Cải tạo giống bò: Cải tạo đàn bò vàng địa phương với bò lai Sind bằng 2 phươngpháp thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp Trạm khuyến nông đã đưa 6 bò đực giống lai Sindcho nhảy trực tiếp với bò cái địa phương ở các xã: Trường Xuân: 03 con, Vạn Ninh: 01con, Vĩnh Ninh: 01 con, Hiền Ninh: 01 con Đồng thời cung ứng vật tư triển khai cho côngtác phối hợp giống bằng thụ tinh nhân tạo bò Kết quả đã phối giống cho 431 bò cái trongđó thụ tinh nhân tạo 275 con, nhảy trực tiếp 156 con Đến nay đàn bò lai Sind có chiếm4,46% tổng đàn
Trang 33+ Cải tạo giống dê: Trạm khuyến nông đã thực hiện mô hình đưa dê Bách Thảo đểlai với đàn dê địa phương ở các xã Vạn Ninh, Hàm Ninh, Vĩnh Ninh cho kết quả khả quan,con lai sinh trưởng phát triển nhanh vượt trội so với dê địa phương Nhưng hiện nay tỷ lệđàn dê lai còn rất thấp chiếm khoảng 8% tổng đàn.
+ Giống gia cầm: Trong những năm qua thông qua các mô hình một số giống giacầm mới đưa vào nuôi trong hộ gia đình như: ngan Pháp, gà Lương Phượng, vịt siêu thịtcho kết quả tốt Nhưng do dịch cúm gà mà người dân không đầu tư vào gia cầm nữa, nênlượng gia cầm mới trong dân hiện nay giảm
- Về công tác thú y và dịch bệnh
Để đảm bảo cho đàn gia súc, gia cầm phát triển thì công tác thú y luôn là điều kiện cơ bản Vì thế công tác thú y phòng trừ dịch bệnh tại huyện luôn được quan tâm, chỉ đạo hoạt động đúng chức năng của mình Nhờ thế trong ba năm qua việc tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm được triển khai khá đồng bộ Những dịch bệnh được tiêm phòng: Lở mồm long móng, tụ huyết trùng trâu bò, dịch tả lợn, dại chó và năm 2005 có thêm vacxin cúm gia cầm Hàng năm chia làm hai đợt Đông Xuân và Hè Thu, riêng dại chó thì một đợt ra tết.
Do nhân dân đã hiểu rõ tác dụng của việc tiêm phòng nên luôn đạt được trên 95% kế hoạch đề tra Riêng tiêm phòng dại chó thì trong cả ba năm luôn không đạt chỉ tiêu chỉ từ 80-86%, nguyên nhân là người dân chủ quan và tiêm lấy lệ chỉ 1/2 số con nhà mình có Từ đó có thể cho thấy rằng: trong việc tiêm phòng chó dại người dân vẫn chưa nhận thức hết sự nguy hiểm của chó dại, nhưng đồng thời cũng cho thấy công tác tuyên truyền giúp cho dân hiểu được tầm quan trọng của tiêm phòng chưa thực hiện tốt.
Chính nhờ việc tiêm phòng dịch bệnh ở gia súc, gia cầm thực hiện tốt nên trong 3 năm qua không có dịch bệnh lớn nào xảy ra Tình hình dịch bệnh
ba năm qua được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4: Tình hình dịch bệnh của huyện Quảng Ninh từ
2003-2005
ĐVT:Con
Trang 34Số ốm Số điều
trị lành Số ốm
Số điềutrị lành Số ốm
Số điềutrị lành
Điều đáng quan tâm là tình hình dịch bệnh thường xuyên xảy ra tại một số địa điểm, thể hiện ở bảng sau:
Bảng 5: Những nơi thường xảy ra dịch bệnh tại huyện Quảng
Ninh
Trang 351 Ký sinh trùng đường
máu
Vạn, An, Hiền,Vĩnh, Trường
2 Tụ huyết trùng Hải, Vo,î Trường Xuân 7, 8
4 Tụ huyết trùng lợn Rải rác khắp huyện 7,8,9
6 Newcatxơn Rải rác khắp huyện Quanh năm đặc biệt
mùa mưa rét( Nguồn: Trạm thú y huyện Quảng Ninh)
Nổi bật hơn cả là xã Trường Xuân, tập trung hầu hết tất cả các bệnh, qua thực tế điều tra, thì nguyên nhân chủ yếu là do chuồng trại chưa được đảm bảo đồng thời công tác tiêm phòng dù đã được đẩy mạnh trong những năm gần đây nhưng vẫn còn kém.
Có thể nhận thấy rằng công tác thú y và phòng trừ dịch bệnh đã được thực hiện trênđịa bàn huyện Nhưng sự thực hiện đó chỉ đi theo con số mà chưa đi sâu vào chất lượng,chưa giúp nhân dân hiểu hết ý nghĩa của công tác thú y
- Về giá trị sản xuất của chăn nuôi trong ngành nông nghiệp
Quảng Ninh là huyện mà đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp.Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 38,21% tổng giá trị các ngành sản xuất Năm
2005 giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp là 103.295 triệu đồng chiếm 60,25% tổng giátrị sản xuất của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp Riêng giá trị sản xuất của ngành chănnuoi trong nông nghiệp được thể hiên ở bảng sau:
Bảng 6: Gía trị sản xuất nông nghiệp huyện Quảng Ninh giai
đoạn
(2003 - 2005)( Theo giá cố định năm 1994)
(ĐVT: Triệu đồng) Năm
Ngành
Trang 36( Nguồn: Phòng thống kê huyện Quảng Ninh).
Nhìn vào bảng trên ta thấy dù so với mặt bằng chung của cả nước thì tỷ lệ chănnuôi là tương đối cao, cụ thể năm 2005 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi là 37,8% giátrị ngành nông nghiệp Nhưng nếu so sánh trong vòng ba năm của huyện thì chúng ta sẽthấy một kết quả đáng buồn: Năm 2003 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi là 39,6% giátrị sản xuất ngành nông nghiệp, năm 2004 là 38%, năm 2005 chỉ còn 37,8% Như vậy giátrị sản xuất của ngành chăn nuôi của huyện đã không tăng mà còn giảm nhẹ Ở đây có rấtnhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng theo chúng tôi nguyên nhân chủ yếu ở đây là: chínhsự chăn nuôi theo kiểu tự phát lại thêm nông dân không nắm rõ thị trường đã ảnh hưởngđến sự đầu tư bấp bênh vào chăn nuôi của các nông hộ, từ đó cũng ảnh hưởng đến giá trịsản xuất của ngành
Quảng Ninh là huyện mà đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp.Nhưng tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm Cụ thể giá trị sản xuất nônglâm, ngư nghiệp chiếm 40%/năm trong đó trồng trọt là 2,4%/năm và chăn nuôi là 8,5% Tacó thể thấy ngành chăn nuôi đã có sự tăng trưởng tương đối tốt,gấp 3,54 lần so với trồngtrọt Cụ thể năm 2005 tổng giá trị của toàn ngành nông nghiệp là 103.000 triệu đồng, trongđó chăn nuôi là 39.000 triệu đồng chiếm 37,86% giá trị ngành nông nghiệp Đời sống nhândân phụ thuộc vào nông nghiệp và mang tính thuần nông, xem trồng trọt là nguồn thu nhậpchính Dù những năm gần đây cách suy nghĩ của người dân đã khác, song sự dịch chuyểntrên thực tế vẫn còn rất chậm
Như vậy, tình hình chăn nuôi tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đang bắt đầu đi vào phát triển trong 3 năm gần đây Chính những người dân sản xuất trang trại với quy mô lớn dám đầu tư vào chăn nuôi là những tấm
Trang 37gương điển hình trong công tác chuyển đổi cơ cấu giống, cách sản xuất Chính họ là nguồn động lực để ngành chăn nuôi huyện ngày càng phát triển hơn nữa 4.2.2 Đánh giá tình hình chăn nuôi của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn từ 2003 - 2005
- Công tác chuyển đổi cơ cấu giống xảy ra nhanh mạnh trên đàn lợn Hiện nay có 17 đực ngoại và trên 60% lợn nái ngoại sinh sản Nó góp phần vào việc cải tạo tỷ lệ nạc trong thịt lợn và tăng trưởng nhanh giúp nâng cao thu nhập cho người nuôi lợn.
- Mạng lưới thú y rộng khắp trên toàn địa bàn huyện Với số cán bộ có chuyên môn và chịu trách nhiệm Nên trong vòng ba năm qua không có dịch bệnh lớn nào xảy ra Dịch cúm gia cầm cũng không xảy ra trên địa bàn huyện Mỗi xã đều có ban thú y xã với đội ngũ bác sỹ thú y, mỗi xã từ 7-9 người luôn nắm vững tình hình, chăn nuôi dịch bệnh của từng xã.
Trang 38- Cán bộ thú y có chuyên môn cao còn ít Hiện nay trên toàn huyện Quảng Ninh chỉ có 10 cán bộ thú y thực hiện được thụ tinh nhân tạo bò Điều này làm góp phần tỷ lệ bò lai trong toàn huyện thấp.
- Công tác vận động, tuyên truyền khoa học kỹ thuật mới còn hạn chế, hầu như không có Cụ thể như công tác lai Sind đàn bò đã có từ lâu từ năm
1996 nhưng mãi đến nay năm 2006 mới có treo bảng thụ tinh nhân tạo bò lai Sind tại nhà của cán bộ thụ tinh nhân tạo bò Và không hề có thông báo cho nhân dân hiểu được tác dụng, hiệu quả của bò lai Sind Làm cho dân chúng tưởng bò lai Sind ra thì không thích hợp với điều kiện thời tiết, thức ăn vùng Dẫn đến hạn chế về ý thức của nông dân về bò lai Sind.
4.2.3 Tình hình chăn nuôi tại 2 xã điều tra
4.2.3.1 Xã An Ninh
Trong đề tài nghiên cứu này tôi chọn xã An Ninh làm địa bàn có tình hình chăn nuôi tương đối phát triển so với mặt bằng chung của toàn huyện Quảng Ninh Để có thể nắm bắt được thông tin chăn nuôi tại xã trong vòng 3 năm qua ta phải xem xét trên từng phương diện vấn đề.
- Về cơ cấu số lượng đàn trên hộ.
Sự thay đổi về số lượng gia súc, gia cầm được thể hiện cụ thể ở bảng 7:
Bảng 7 Số lượng gia súc, gia cầm tại xã An Ninh
ĐVT: Con Vật nuôi
(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội hàng năm xã An Ninh)
Nhìn vào bảng số liệu trên thì số lượng trâu, bò, dê, gia cầm thực sự không có sự chuyển biến lớn, chỉ riêng đàn lợn có sự tăng lên rõ rệt về số lượng: Năm 2005 tăng 1.679 con so với 2004 Riêng đàn dê lại có xu hướng
Trang 39ngành chăn nuôi xã đang “Giậm chân tại chỗ” Nhưng qua quá trình điều tra thực địa mới thấy được sự chuyển biến rõ ràng, cụ thể ở bảng 8.
Bảng 8: Quy mô chăn nuôi của các nhóm hộ điều tra tại xã An Ninh
ĐVT: Con/hộüNhóm hộ
3,89,12
1,73,4
2005 toàn xã có 5 hộ nuôi từ 20 con lợn trở lên và 10 hộ có từ 10 con bò trở lên.
Trang 40Đây là sự chuyển biến mà theo chúng tôi là rất tích cực Người dân đã tìm ra điểm mạnh của từng họ gia đình mình từ đó phát triển đi theo thế mạnh đó Chính điều này sẽ dẫn đến nguyên nhân người dân sản xuất theo quy mô trang trại với quy mô và đầu tư lớn Khi phân tích những điều này để thấy rằng sự chuyển đổi về số lượng không chỉ là tổng số chung mà còn là sự chuyển đổi ở từng cá thể riêng biệt Tại sao trong dân lại có sự cải cách trong cách nhìn và hành động như vậy? Tôi đã tìm được câu trả lời chung đó là nhờ sự tiếp thu khoa học kỹ thuật của bà con từ hội phụ nữ, khuyến nông, giúp đỡ của thú y xã và điều quan trọng là chính những người đi đầu thành công tại xã nhà Từ đó mà nông dân học tập làm theo Ở đây chỉ xin nói đến sự ỗ trợ vay vốn từ hội phụ nữ, hội nông dân, cựu chiến binh và quỹ tín dụng nhân dân (còn những vấn đề thú y, khuyến nông đã đươûc đề cập cụ thể sau) Khi điều tra thu nhập thông tin tại nông hộ thì hầu hết các hộ có được sự phát triển như hôm nay đó là nhờ vào vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quảng Ninh thông qua hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh Và đặc biệt là 100% hộ nuôi quy mô lớn đều xuất phát từ hoạt động vay vốn của Ngân hàng chính sách và quỹ tín dụng nhân dân xã An Ninh Thế mới biết nguồn vốn đóng góp vai trò lớn như thế nào để phát triển trong dân Đó là những nét khái quát cho sự phát triển về số lượng của chăn nuôi tại từng hộ gia đình.
- Về chuyển đổi cơ cấu giống.
Cùng với sự phát triển số lượng thì chắc chắn sẽ có sự chuyển đổi về cơ cấu giống, chất lượng vật nuôi Cơ cấu giống vật nuôi tại xã An Ninh bao gồm cả sự đan xen lẫn lộn giữa cái cũ và cái mới Nhưng ờ đây tôi cũng chỉ xin nêu qua tình hình biến đổi cơ cấu giống ở những vật nuôi mà hiện nay đang có sự chuyển biến:
+ Đàn dê: Vẫn giữ nguyên những con dê cóc của địa phương vừa nhỏ vừa chậm lớn Lại thêm rừng đã chia về từng hộ nên việc chăn thả dê cũng gặp nhiều khó khăn, vì thế số lượng dê giảm