1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế

69 1,2K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(Gà thịt) ở xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Huế
Chuyên ngành Kinh tế Chăn Nuôi
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 483,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: - Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt ở các nông hộ tại xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế - Đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi g

Trang 1

Ở Huế các phong tục như cúng, tổ chức tiệc, lễ cưới hỏi rất được xemtrọng, các món ăn được chế biến từ gà , vịt thường được mọi người thích và chọn

là món chính và sang trọng, giá cả của các món ăn này cũng rất cao Đó là lý do

vì sao việc nuôi gia cầm ngày càng phát triển

Từ năm 2003 trở lại đây, nạn dịch cúm gia cầm xuất hiện ở nước ta đã gâythiệt hại rất lớn cho những người nuôi gia cầm Số lượng gia cầm đã giảm mộtcách đáng kể từ 254,1triệu con (năm 2003) xuống còn 218,2triệu con (năm2004), tăng trưởng số lượng gia cầm từ 7,92% (trước khi bị dịch bệnh: 2001-2003) xuống còn 0,81% (sau khi bị dịch bệnh: 2004-2005) đồng thời số lượngngười tiêu thụ sản phẩm này cũng giảm dần.[7]

Nhưng kể từ đầu năm 2007, với các biện pháp phòng chống, xử lý của nhànước, của chính quyền địa phương đã một phần nào đó khắc phục tình trạng dịchcúm xảy ra Việc chăn nuôi gia cầm đã dần được khôi phục trở lại

Xã Thủy dương, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế là một xã màviệc chăn nuôi gia cầm đặc biệt là hoạt động nuôi gà công nghiệp theo hướng thịtđược đánh giá là có hiệu quả Chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng gà thịt cóthời gian nuôi ngắn (có thể rút ngắn từ 2-3 tháng), thời gian hoàn vốn nhanh dovậy ngành chăn nuôi này rất được phổ biến ở các hộ dân Trong năm 2007, đểđáp ứng các nhu cầu và góp phần tích cực trong việc đưa chăn nuôi gà công

Trang 2

nghiệp phát triển huyện Hương Thủy nói chung cũng như xã Thủy Dương nóiriêng đã có biện pháp khắc phục dịch bệnh đồng thời những những hộ tham gia

mô hình ở đây cũng đã có sự quan tâm trong việc chăm sóc, chú trọng đến vệsinh ăn uống trong quá trình nuôi

Tuy nhiên vấn đề lớn nhất là khả năng nhân rộng của mô hình còn thấp, thịtrường tiêu thụ còn hẹp, giá cả không ổn định Do đó việc đánh giá hiệu quả của

mô hình chăn nuôi gà công nghiệp từ đó tìm ra các giải pháp để phát triển phùhợp với nhu cầu của địa phương là rất cần thiết Xuất phát từ tình hình thực tế

đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: "Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi

gà công nghiệp(gà thịt) ở xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế"

1.2 Mục tiêu:

- Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt ở các nông

hộ tại xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi gà thịt của các nông hộ tại địaphương theo quy mô chăn nuôi và theo từng nhóm hộ

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi

- Đề xuất một số giải pháp để phát triển chăn nuôi phù hợp với hộ chăn nuôi

và địa phương của mô hình

1.3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

1) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nông hộ chăn nuôi gà thịt tại

xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế

2) Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 2/1/2007 đến ngày 5/5/2008

- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ tỉnh ThừaThiên Huế

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế

2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Sản xuất là một hoạt động có mục đích của con người, tác động lên các đốitượng thông qua công cụ lao động nhằm tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhucầu của bản thân và của xã hội

Từ thực tiễn ta thấy rằng mục đích cuối cùng của hoạt động này đó là sảnxuất phải đạt được hiệu quả,nó tác động lên bản thân mỗi cá nhân, mỗi doanhnghiệp, nhà nước Do vậy khái niệm về hiệu quả kinh tế nói rằng: Hiệu quả sảnxuất là điều kiện để tích lũy và tái đầu tư mở rộng, nó là động lực thúc đẩy việc

mở rộng sản xuất kinh doanh Hay nói cách khác nó là yếu tố sống còn của cácnhà sản xuất

Cho nên hiệu quả kinh tế là một vấn đề không những được bản thân nhàdoanh nghiệp quan tâm mà còn là vấn đề của toàn xã hội Hiệu quả kinh tế làmột phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, là thước đo trình độquản lý và trình độ tổ chức của doanh nghiệp

Các nhà sản xuất, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu cầuđặt ra là phải hoạt động có hiệu quả,có như vậy mới có cơ hội để thâm nhập vàothị trường,mới có điều kiện để tái sản xuất, tiếp cận được nhiều tiến bộ kỹ thuật

Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là phạm trù kháchquan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tiềnvốn) để đạt được các mục tiêu đã được xác định [3] Theo quan điểm này thìhoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế mà sự vận động và biến đổi

Trang 4

không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độbiến động khác nhau của chúng

Theo Farell (1957), Fchultz (1966), Rizzo (1979) và Ellí (1993) cho rằng:

"Hiệu quả kinh tế đựơc xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được và chiphí bỏ ra để đạt được kết quả"

Qua đó hiệu quả hoạt động của nhà sản xuất, của doanh nghiệp được đánhgiá thông qua một số chỉ tiêu hiệu quả nhất định Những chỉ tiêu hiệu quả nàyphụ thuộc chặt chẽ vào mục tiêu hoạt động của chủ thể hiệu quả Vì vậy khi phântích hiệu quả các phương án cần xác định rõ chiến lược phát triển cũng như mụctiêu của chủ thể trong từng giai đọan phát triển Cho đến nay các tác giả đều nhấttrí lợi nhuận làm tiêu chuẩn cơ bản để phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ tổng hòa giữa hai yếu tố hiện vật và giá trịtrong việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất Nói cách khác hiệu quả kinh tế làhiệu quả đạt được trong việc sử đụng hai yếu tố cơ bản trong sản xuất kinhdoanh Hai yếu tố đó là:

+ Yếu tố đầu vào: chi phí trung gian, lao động sống, khấu hao tài sản + Yếu tố đầu ra: sản lượng, giá trị sản phẩm, giá trị sản xuất, thu nhập, giátrị gia tăng, lợi nhuận

2.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế

Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối và tuyệtđối giữa lượng kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra Để đạt được cùng mộtkhối lượng sản phẩm người ta có thể bằng nhiều cách khác nhau song do sự mâuthuẫn giữa nhu cầu tăng lên của con người với sự hữu hạn của nguồn tài nguyên,nên khi đánh giá kết quả của một quá trình sản xuất kinh doanh cần phải xem xétkết quả đó được tạo ra như thế nào và mất bao nhiêu chi phí Việc đánh giá kếtquả của hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá sốlượng sản phẩm đạt được mà còn phải đánh giá chất lượng của hoạt động đó.Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh chính là đánh giá hiệuquả kinh tế trên phạm vi xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chiphí lao động xã hội Từ đó bản chất của hiệu quả kinh tế xã hội chính là hiệu quả

Trang 5

của lao động xã hội, thước đo của hiệu quả là sự tiết kiệm lao động xã hội và tiêuchuẩn của hiệu quả là tối đa hoá kết quả đạt được và tối thiểu hoá chi phí bỏ radựa trên các nguồn lực hiện có Vì vậy đánh giá các hiệu quả kinh tế cần phảixem xét đến các nguồn lực, và chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lực đạt được

cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố thì khi đó sản xuất mới đạt đuợc hiệuquả kinh tế

2.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh giữa kết quả sản xuất kinhdoanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Vì vậy để xác định hiệu quả kinh

- Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế: Theo nguyên tắc này, nhữngphương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được trên cơ sở các sốliệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu

Với quan điểm tổng quát thì các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế lựa chọn đểnghiên cứu chủ yếu được trình bày dưới các dạng sau:

- Dạng thuận (Tổng quát): Hiệu quả chi phí được xác định bởi tỷ số giữa kếtquả đạt được và chi phí bỏ ra

Trang 6

H = Q/C

H: Hiệu quả

Q: Lượng kết quả đạt được

C: Chi phí hoặc yếu tố đầu vào

- Dạng thuận (cận biên): Là tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả đối với phầntăng thêm của chi phí Nghĩa là tăng thêm một đơn vị chi phí sẽ làm tăng thêmbao nhiêu đơn vị kết quả thu được

Hb = Q / C

Hb :Hiệu quả cận biên

Q:Lượng kết quả tăng thêm

C:Chi phí hoặc các yếu tố đầu vào tăng thêm

- Dạng nghịch: Để tăng thêm một đơn vị kết quả thì cần tăng thêm bao nhiêuđơn vị chi phí

H = C/Q

hb =C/Q

Trong đó :

H:Hiệu quả

Q: Lượng kết quả đạt được

C: Chi phí hoặc các yếu tố đầu vào

Q: Lượng kết tăng thêm

C: Chi phí hoặc các yếu tố đầu vào tăng thêm

- Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa phần trăm tăng lên của kết quảthu được và phần trăm tăng lên của chi phí bỏ ra Nghĩa là nếu tăng thêm 1% chiphí sẽ tăng thêm bao nhiêu phần trăm kết quả đầu ra

Trang 7

Nếu hiệu quả kinh tế gắn liền với lợi nhuận thuần túy thì hiệu quả kinh tếchưa phản ánh được năng suất lao động xã hội, chưa thấy được sự khác nhau vềquy mô đầu tư, cũng như quy mô kết quả thu được trong các đơn vị sản xuất cókết quả và chi phí như nhau.

Nếu hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả và chi phí sản xuấtthì cũng chưa hoàn toàn đầy đủ vì kết quả là sự tác động của nhiều yếu tố: Tựnhiên, kinh tế, xã hội Các yếu tố đó cần được phản ánh ở hiệu quả kinh tế.Ngoài ra cơ cấu chi phí sẵn có khác nhau thì hiệu quả của các chi phí bổ sungcũng khác nhau

2.2 Ý nghĩa của việc chăn nuôi gia cầm.

Chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà công nghiệp nói riêng có ý nghĩarất lớn đến nền kinh tế nước ta hiện nay, đặc biệt rất phù hợp với điều kiện chănnuôi của người dân Sở dĩ chăn nuôi gia cầm có ý nghĩa lớn như vậy là vì ở giacầm có những đặc tính sinh học như sau:

- Vòng đời của gia cầm ngắn, tốc độ sinh sản và cho sản phẩm nhanh nêntạo được nguồn vốn quay vòng nhanh

- Giá trị dinh dưỡng trong thịt và trứng khá cao, chú trọng hơn là hàm lượngprotin rất cao (2quả trứng gà có giá trị dinh dưỡng tương đương 160g thịt bòhoặc 300g sữa tươi ) Mặt khác, các sản phẩm của gia cầm sử dụng làm đượcmột số mặt hàng mỹ nghệ khác

- Mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng thấp, đầu tư công lao động thấpdẫn đến giá thành trên đơn vị sản phẩm thấp, đem lại hiệu quả kinh tế cao, gópphần nâng cao thu nhập cho người sản xuất

- Tận dụng được công lao động trong thời gian nông nhàn và lao động phụcủa gia đình

2.3 Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới

Chăn nuôi gia cầm trong mấy chục năm trở lại đây đã trở thành nguồn sảnxuất theo kiểu công nghiệp với hiệu quả kinh tế cao.Chăn nuôi gia cầm thế giớiphát triển nhanh cả về đàn con, thịt trứng, chất lượng sản phẩm cũng được nânglên rõ rệt Nhiều phương thức chăn nuôi mới ra đời đã làm đa dạng phong phú

Trang 8

thêm phương thức, mục đích chăn nuôi Nhu cầu dinh dưõng và thưởng thức sảnphẩm gia cầm ngày càng cao, vì thế chăn nuôi gia cầm phát triển cả về số lượng,qui mô, tốc độ, giá trị Các khâu về giống, thuốc thú y, thức ăn, kỹ thuật đã đượccoi trọng và có những đầu tư thích đáng Vì vậy kết quả là sản xuất thịt, trứngtăng lên một cánh nhảy vọt

Chăn nuôi gia cầm phát triển kéo theo thương mại các sản phẩm gia cầmtrên thế giới cũng phát triển mạnh trong vòng 35 năm qua

Bảng 1 : Sản phẩm chăn nuôi của thế giới giai đoạn 1975-2005

(1000tấn)

Thịt lợn(1000tấn)

Thịt gia cầm(1000tấn)

Trứng gia cầm(1000quả)

(Nguồn: Tạp chí nông nghiệp - Bản tin chăn nuôi Việt Nam)

Số liệu bảng trên cho thấy: Sản lượng thịt và trứng gia cầm tăng nhanh hơnsản phẩm thịt bò và thịt lợn Năm 1970, sản lượng thịt gia cầm thế giới chỉ đạt15,1 triệu tấn, thịt lợn là 38,3 triệu tấn, thịt bò 60,4 triệu tấn, nhưng đến năm

2005, sản lượng của các loại thịt này tăng lên tương ứng là thịt bò đạt 60,437triệu tấn, thịt lợn đạt 102,523 triệu tấn, thịt gia cầm đạt 81,14 triệu tấn Sản lượngthịt gia cầm năm 1970 chỉ xấp xỉ 50% sản lượng thịt lợn và băng 25% sản lượngthịt bò nhưng đến năm 2005 sản lượng thịt gia cầm đã tăng cao hơn 25% so với

Trang 9

thịt bò và bằng 75% thịt lợn Qua đó cho thấy tốc độ tăng trưởng của thịt gia cầmtrong giai đoạn này tang 436,5% trong khi đó tốc độ tăng trưởng của thịt lợn là186,4% và thịt bò là 57,6% Trứng gia cầm tăng từ 19,5 triệu quả năm1970 lên59,2 triệu quả năm2005.

Trong các thịt gia cầm thì thịt gà chiếm 88,3% tổng lượng thịt gia cầm sau đógiảm xuống và ổn định ở mức 86%, phần còn lại là các loại thịt gia cầm như thịtvịt thịt ngang, thịt ngỗng.[9]

2.4 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà ở nước ta

2.4.1 Tình hình chăn nuôi gà ở nước ta trong những năm gần đây

Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm thế giới, trong nhữngnăm qua ngành chăn nuôi Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh Số lượngđàn gia súc gia cầm không ngừng tăng lên

Tốc độ tăng (%)

( Nguồn: Niên giám thống kê 2008)

Qua bảng số liệu trên cho thấy: Số lượng gà được nuôi tăng lên đáng kểtrong giai đoạn 2001-2003 Năm 2001 số lượng gà đạt được là 218,128 triệu conthì với tốc độ tăng 6,95% nên đến năm 2002 thì đạt 233,610 triệu con nên sảnphẩm chăn nuôi cũng tăng lên Sản lượng thịt năm 2001 đạt 322,6 ngàn tấnnhưng đến năm 2002 sản lượng tăng lên 362,3 ngàn tấn, với tốc độ tăng là 12,35

Trang 10

Tốc độ tăng của sản phẩm chăn nuôi nhanh hơn so với tốc độ tăng đàn gia súcgia cầm đã chứng tỏ chất lượng con giống phần nào đã được nâng cao.

Tuy vậy từ năm 2003 do nạn dịch cúm H5N1 tái phát trên diện rộng nên sốlượng gia cầm đã giảm rất nhiều Đến nay số lượng gia cầm từ 254,610 triệu con(năm 2003) xuống còn 218,153 triệu con (năm2004) Đây là giai đoạn nạn dịchlan truyền lớn làm tiêu hủy hàng trăm triệu con gia cầm và gây ra nhiều tổn thấtcho các hộ chăn nuôi gia cầm Do vậy tốc độ trong hai năm từ 2003-2004 khôngtăng mà giảm xuống một cách đáng kể Mặc dù từ đầu năm 2005 chủ trương chochăn nuôi trở lại nhưng do tâm lý lo sợ của người chăn nuôi lẫn người tiêu dùngnên chăn nuôi gia cầm chỉ đạt tăng trưởng là 1,876% về số lượng trong đó chănnuôi gà đạt 0,81% trong khi giai đoạn trước nạn dịch cúm tăng 7,6%

Từ tháng 1 đến tháng 4/2005 và từ tháng 10 đến tháng 12/2005 tiêu thụ sảnphẩm gia cầm gặp nhiều khó khăn nhất là từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 12 thịtrường gia cầm đóng băng do sai lệch thông tin không ăn thịt gia cầm Được sựchỉ đạo sát sao quyết liệt của chính phủ, nông nghiệp và phát triển nông và pháttriển nông thôn ban chỉ đạo quốc gia và phòng chống dịch cúm gia cầm đượckhống chế và thị trường thịt trứng gia cầm đã được khôi phục trở lại [2]

2.4.2 Những tồn tại trong chăn nuôi gia cầm ở nước ta

Mặc dù nước ta là một nước nông nghiệp nhưng ngành chăn nuôi nói chung

và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng nhìn chung vẫn chưa được phát triển Vìcác lý do sau:

- Năng suất chăn nuôi thấp

- Vẫn còn những vùng hoặc những tỉnh mà chăn nuôi không tập trung, cònphân tán, mang tính tự cấp, tự túc manh mún, chưa có sự đầu tư (60% ngườinông dân chăn nuôi gia cầm không quan tâm đến thị truờng, 30% người nôngdân có ý thức hơn nhưng không có lãi vì chất lượng giống thấp, kỹ thuật chưatốt, 10%chăn nuôi lớn, đang phát triển nhưng lại bị hạn chế bởi môi trường vàtính bền vững) [5]

- Thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật

Trang 11

- Giá đầu vào cao trong khi đó giá thịt không tăng mà ngược lại còn giảmxuống

Chính vì vậy sản phẩm hàng hóa của ngành chăn nuôi gia cầm chất lượngkhông cao, mức độ an toàn thực phẩm kém và không đáp ứng được nhu cầu ngàycàng tăng của xã hội

2.4.3 Các giải pháp và chính sách cơ bản hiện nay và trong thời gian tới ở nước ta [8]

2.4.3.1 Giải pháp về kỹ thuật

- Chuyển đổi về phương thức chăn nuôi:

Chuyển đổi mạnh mẽ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung,trang trại Dịch chuyển chăn nuôi hàng hóa lên các vùng trung du Chăn nuôinông hộ nhỏ lẻ tại các vùng trung du, miền núi phải nuôi trong hàng rào ngăncách, không chăn thả tự do, đảm bảo an toàn sinh học Giảm chăn nuôi nông hộnhỏ lẻ tại các vùng đông dân cư

- Ứng dụng các cộng nghệ tiên tiến vào chăn nuôi

Thực hiện chăn nuôi khép kín, ứng dụng các loại chuồng nuôi tiên tiến nhưchuồng kín, chuồng lồng, máng ăn, máng uống tự động Tăng cường sử dụngthức ăn công nghiệp vào chăn nuôi nông hộ để tăng năng suất, hiệu quả chănnuôi

- Đầu tư chọn tạo một số giống bản địa có phẩm chất thịt, trứng thơm ngon

+Tăng cường nâng cấp ngành thú y, nhất là cấp xã, xã hội hóa công tácthú y để huy động được nhiều người có chuyên môn tham gia tiêm phòng vàphòng chống dịch bệnh

Trang 12

2.4.3.2 Giải pháp về chính sách của nhà nứơc:

- Thực hiện hổ trợ vacxin tiêm phòng H5N1 trong vùng có dịch, ngoài vùngdịch bệnh người nuôi gia cầm nộp lệ phí

- Hổ trợ 100% kinh phí tiêu độc khử trùng cho các cơ sở chăn nuôi vùngdịch xảy ra

2.4.3.3 Giải pháp về thị trường:

- Kiểm tra giám sát chặt chẽ sản phẩm gia cầm lưu thông, không cho giacầm sống chưa tiêm H5N1 và sản phẩm gia cầm không có dấu kiểm dịch lưuthông

- Quy hoạch các chợ hoặc khu vực trong chợ được phép buôn bán gia cầmsống và sản phẩm gia cầm để dễ quản lý

- Kiểm tra chặt chẽ việc nhập lậu gia cầm qua biên giới, kiên quyết tiêu hủy,

xử lý nặng các trường hợp nhập khẩu gia cầm trái phép qua biên giới

2.5 Tình hình chăn nuôi gà ở Thừa Thiên Huế

Cũng như các vùng khác, các ngành khác như trồng lúa, nuôi lợn thì việcchăn nuôi gà ở tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có từ lâu Bên cạnh phương thức nuôitheo kiểu trang trại, tập trung như ở huyện Quảng Điền vẫn tồn tại hình thứcnuôi theo hộ gia đình quy mô nhỏ lẻ

Chăn nuôi gà khác với các ngành chăn nuôi khác như nuôi lợn, trâu, bò,lượng vốn đầu tư không lớn lắm, quy mô chăn nuôi của hộ tùy thuộc vào hoàncảnh của gia đình

Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh thuộc khu vực Bắc Miền Trung Ởđây điều kiện tự nhiên không thuận lợi, hàng năm phải gánh chịu những hậu quả

do lũ lụt và hạn hán gây ra Tuy nhiên đối với chăn nuôi gà thịt thì bị ảnh hưởng

ít hơn Vì vậy có thể coi chăn nuôi gà công nghiệp là một tiềm năng cho sự pháttriển chăn nuôi của tỉnh Thừa Thiên Huế Trong thời gian dịch cúm gia cầm táiphát thì Huế là một trong những tỉnh chưa thấy ổ dịch lớn Công tác kiểm soátdịch bệnh ở đây rất được chú trọng đến Các giống gia cầm được chuyển từ cáctỉnh khác đến đều được tiêu độc khử trùng ngăn ngừa dịch bệnh có thể xảy ra.Nhưng do dịch bệnh bùng phát nhanh chóng và gây nguy hiểm đến con người

Trang 13

nên trong những năm gần đây số lượng gia cầm giảm so với những năm trướcnạn dịch bệnh.

Bảng 3 : Tình hình chăn nuôi gia cầm ở tỉnh Thừa Thiên Huế

Năm Tổng đàn gà

(con)

Mức độbiến động(con)

Tốc độ tăng(%)

Tổngđàn gia cầm

Tỷ lệ(%)

( Nguồn: Niên giám thống kê 2006)

Qua bảng số liệu trên cho thấy: Tổng đàn gà chiếm tỷ lệ cao hơn so với cácloại gia cầm khác, và tỷ lệ đó tăng qua các năm cụ thể là năm 2002 thì tổng đàn

gà chiếm 55,64% thì đến năm 2005 thì chiếm 58,96% và năm 2006 thì đã chiếmđến 65,6% so với tổng đàn gia cầm, một lý do giải thích cho điều này là do trongthời gian này nạn dịch cúm đang bùng phát mà các loại gia cầm khác như ngan,ngỗng nuôi với hình thức thả rong thì nguy cơ nhiễm bệnh là rất cao gây ranhiều tổn thất cho các hộ chăn nuôi Hiện nay hình thức khá phổ biến đó là chănnuôi gà theo hứơng công nghiệp đặc biệt là gà thịt, hình thức này mặc dù tốnkém hơn nhưng có thể rút ngắn thời gian nuôi và giảm nguy cơ mắc dịch hơn vàtổn thất có thể được hạn chế, ngoài ra còn có các hình thức khác như nuôi theokiểu bán công nghiệp, nuôi gà công nghiệp theo kiểu chuồng lạnh

Mặc dù số lượng gà chiếm phần lớn hơn nhưng so với những năm gần đâythì số lượng biến động một cách đáng kể Số liệu bảng cho thấy từ năm 2002 sốlượng gà là 1.256.220 con thì đến năm 2003 với tốc độ tăng là 9%, số lượng lúcnày đạt được 1.363.260 con Nhưng sau khi dịch cúm gia cầm tái phát trên diện

Trang 14

rộng số lượng giảm đi 281.860 con và chỉ còn 1.081.400 (vào năm 2004) tốc độgiảm rất nhanh là 21%.

Nhìn chung kể từ năm 2003 trở lại đây, số lượng đàn gia cầm giảm đi rấtnhiều trong đó tổng đàn gà giảm 444.860 con với tỷ lệ gần bằng 32,63% so vớitổng số đàn gà năm 2003 Mặc dù Huế đến nay vẫn chưa tìm thấy "ổ dịch trầmtrọng" nhưng nạn dịch đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền chăn nuôi nước tanói chung cũng như làm giảm một phần thu nhập của các hộ chăn nuôi nói riêng

Trang 15

PHẦN III NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Thuỷ Dương, Huyện HươngThuỷ, tỉnh TTHuế

- Tình hình hoạt động chăn nuôi gà thịt tại nông hộ của xã Thuỷ Dương -Hiệu quả kinh tế của việc chăn nuôi gà thịt tại các nông hộ điều tra ởxãThuỷ Dương

- Các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảchăn nuôi gà thịt tại địa bàn nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ tỉnh TTHuế là xã được xem là pháttriển làm ăn có hiệu quả nhất ở huyện So với toàn huyện thì ngành nông nghiệp

ở đây khá phát triển, tỷ lệ hộ chăn nuôi gà công nghiệp khá cao so với các hộchăn nuôi khác, bên cạnh đó đã có sự đầu tư chi phí và chăm sóc chăn nuôi gàthịt với quy mô tương đối

Trang 16

Các công cụ của PRA được sử dụng trong quá trình nghiên cứu:

- Quan sát cá thể và tổng thể: Nhằm giúp thu thập số liệu một cách chínhxác hơn trong nghiên cứu định lượng nhất là đối với nghiên cứu điều tra về hiệuquả kinh tế của chăn nuôi gà công nghiệp tại nông hộ Đồng thời giúp ngườinghiên cứu có cái nhìn tổng quát về tình hình chăn nuôi gà công nghiệp hiện naycũng như những ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, chính sách

- Phỏng vấn sâu: Cán bộ khuyến nông, cán bộ thú y, các bộ xã về tình hìnhphát triển cũng như các rủi ro mà hộ chăn nuôi gặp phải trong quá trình chănnuôi

-Phỏng vấn bán cấu trúc bằng bảng hỏi: Chúng tôi đã tiến hành điều tra 35

hộ bằng bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn cho mục đích nghiên cứu

-Chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên có định hướng phù hợp với nội dung nghiêncứu: là những hộ tham gia chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt trong đó có15hộ khá, 15hộ trung bình, 5hộ nghèo, các hộ này phải là những hộ có chăn nuôi

gà thịt Từ mẫu chọn hộ này chúng tôi đã có được quy mô nông hộ điều tra đượcphân ra theo các mức so sánh sau: Quy mô từ 50 - 150con/lứa, từ 150-400con/lứa, và lớn hơn 400con/lứa

3.2.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

1) Cách tính toán các chỉ tiêu

- Giá trị sản xuất (GO)/lứa/hộ: Giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩmthu được trong một chu kỳ sản xuất

Công thức: GO = Tổng sản lượng * Đơn giá

Giá trị sản xuất chỉ tính cho những sản phẩm của quá trình lao động Cácsản phẩm không do quá trình lao động tạo ra thì không được tính vào quá trìnhsản xuất Sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ được lao động sáng tạo ra phải

là những sản phẩm hữu ích, được xã hội chấp nhận được sử dụng vào các nhucầu tiêu dùng cuối cùng Đối với các hộ chăn nuôi gà công nghiệp theo hướngthịt, giá trị sản xuất chính là việc thu lại tiền từ các hoạt động bán vật nuôi Cácngành chăn nuôi khác như nuôi lợn thì nông hộ còn thu được một lượng sảnphẩm phụ đáng kể như phân bón do vậy giá trị sản xuất bao gồm cả phần giá trị

Trang 17

này nhưng chăn nuôi gà thịt không tạo ra sản phẩm phụ nên giá trị sản xuất củanông hộ cả năm 2007 là:

GO = Trọng lượng những con bán * giá bán của chúng tại thời điểm bán

-Chi phí sản xuất trung gian (IC)/hộ/năm hay IC/hộ/lứa: là toàn bộ chi phívật chất và dịch vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sảnphẩm gồm có:

+Chi phí vật chất : là chi phí do hộ gia đình bỏ ra trong các hoạt động dịch vụnhư khấu hao chuồng trại,công cụ lao động, vật liệu

+Chi phí dịch vụ: là chi phí cần thanh toán cho các hoạt động dịch vụ như chiphí thú y, chi phí dịch vụ trả ngân hàng, tín dụng

- Thu nhập hỗn hợp (MI)/hộ/năm hay MI/hộ/lứa: Là phần thu nhập thuầnbao gồm cả công lao động của gia đình tham gia sản xuất

Công thức: MI = GO - IC

- Lợi nhuận kinh tế (EP)/hộ/năm/ hay EP/hộ/lứa: là phần lãi ròng trong thunhập trên cùng một vị

Công thức: EP = MI - chi phí lao động

- Hiệu quả sử dụng lao động: Là chỉ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả củaviệc sử dụng lao động trong gia đình, chỉ tiêu này được tính bằng tỷ số giữa hiệuquả chăn nuôi gà thịt của hộ và số lao động tham gia chăn nuôi gà thịt của hộ

- GO/IC: Tỷ số này cho biết một đồng chi phí trung gian tạo ra bao nhiêuđồng giá trị sản xuất

- MI/IC: Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí trung gian tạo được baonhiêu đồng thu nhập hỗn hợp

- EP/IC: Chỉ tiêu này cho biết nếu đầu tư một đơn vị chi phí sản xuất thì sẽthu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận

2) Phương pháp sử lý số liệu:

Sử lý số liệu bằng phần mềm Excel

Trang 18

Xã Thủy Dượng thuộc huyện Hương Thủy, cách trung tâm huyện 6km vềphía bắc, giáp ranh giới thành phố Huế.

Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.249,89ha, có 2.214hộ, với dân số là10.677 khẩu

Về vị trí: Phía Đông giáp xã Thủy Thanh

Phía Nam giáp xã Thủy Phương

Phía Tây giáp phường An Tây, xã Thủy Bằng

Phía Bắc giáp phường An Đông

Địa hình: Xã Thủy Dương gồm 2 vùng chính:

+Vùng đồng bằng địa hình tương đối bằng phẳng thuận tiện cho trồng trọt

+Vùng gò đồi ở phía tây của xã, phù hợp với việc trồng cây hàng năm và câylâm nghiệp

Xã có quốc lộ 1A và đường sắt bắc nam đi ngang qua đường liên xã ThủyDương, Thủy Thanh, đường tránh Huế ở phía tây nối liền giữa 3 xã ThủyDương, Thủy Phương, Thủy Bằng, thuận tiện cho việc đi lại và phát triển kinhtế

4.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu:

Thời tiết khí hậu cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trìnhsản xuất Thời tiết thuận lợi sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế Vì vậy vấn đề nghiêncứu các yếu tố này nhằm để so sánh hiệu quả qua các thời điểm nuôi, đồng thờigiúp cho người dân biết được đặc điểm thời tiết để có thể rút ra những kinhnghiệm trong quá trình nuôi

Trang 19

Xã Thủy Dương thuộc huyện Hương Thủy, tỉnh thừa thiên huế nên nhìnchung chịu ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết chung của tỉnh.

Khí hậu tương đối phức tạp Hàng năm chịu hai mùa mưa nắng rõ rệt Mùamưa kéo dài từ tháng 9 đến cuối tháng 2 năm sau và mùa nắng kéo dài từ tháng 3đến tháng 9 trong năm, có khi khí hậu thay đổi đột ngột, thất thường chịu ảnhhưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây nam nên thường kéo theo mưa vàlạnh ảnh hưởng đến quá trình chăn nuôi đặc biệt là nuôi gia cầm Đồng thời xãcòn chịu ảnh hưởng của gió lào kéo theo những cái nắng gay gắt

Nhiệt độ: Nhiệt độ ở đây thay đổi theo mùa Nhiệt độ trung bình từ 21,20 28,90 Nhiệt độ cao vào tháng 6,7 và giữa tháng 8 với nhiệt độ từ 37,40-38,10,tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12, 1, 2 với nhiệt độ từ 15,80 - 16,50 ảnhhưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của gà Do vậy các hộ chăn nuôi gia cầmthường gặp khó khăn vào những tháng này vì nhiệt độ quá cao hay quá thấp đềuảnh hưởng không tốt đến sự trao đổi nhiệt, khả năng sử dụng thức ăn sức đềkháng của gia cầm và có thể làm tăng tỷ lệ chết của gà Do đó đòi hỏi sự quantâm, chăm sóc của các hộ dân để nâng cao hiệu quả kinh tế, làm giảm tỷ lệ chết

-và tăng tỷ lệ sống của gia cầm

Ẩm độ: Ẩm độ dao động trong năm từ 75,1% - 92,5% Ẩm độ cao nhất vàocác tháng từ giữa tháng 10 đến tháng 2 năm sau Từ tháng 6 đến tháng 8 độ ẩmthấp từ 75,1% đến 78,7% Đây là yếu tố quan trọng, liên quan mật thiết với nhiệt

độ của môi trường Nhiệt độ không khí chuồng nuôi ảnh hưởng đến sự phát triểncủa gà, nhiệt độ cao (vào tháng 6, 7) trong khi đó ẩm độ thấp sẽ làm cho lớp độnchuồng khô, gây bụi sẽ làm cho gà viêm đường hô hấp, gà ngứa dễ ăn lông lẫnnhau Nếu nhiệt độ thấp, ẩm độ cao khả năng thoát hơi nước ở các dụng cụ chănnuôi kém, hơi nước đọng lại trên lớp độn chuồng tạo điều kiện cho nấm mốc vàmột số vi khuẩn phát triển gây bệnh cho gà Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng chăn nuôi của nông hộ

Lượng mưa: Vào các tháng 9,10, 11 thì lượng mưa tương đối nhiều(462,2mm - 854,4 mm) trong đó lượng mưa cao nhất vào tháng 11 đạt 854,4mm.Lượng mưa trung bình vào các tháng 2, 3, 4, 6,7 (từ 59,5mm-92,1mm) Tháng 3

Trang 20

có lượng mưa thấp nhất là 59,5mm Do xã có hệ thống thủy lợi nên thuận lợitrong hoạt động sản xuất.

Ngoài ra hàng năm tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung cũng như xã ThủyDương nói riêng thường chịu nhiều bão nên thường ảnh hưởng đến trồng trọtcũng như chăn nuôi Tuy nhiên ở đây không bị lũ lụt trái lại thường bị xói mònnên đất đai không được bồi đắp hàng năm, mà còn cằn cỗi gây khó khăn chohoạt động trồng trọt

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Thủy Dương năm 2007

Trong sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố không thể thiếu, nó đóng góp mộtphần quan trọng trong việc thành công hay thất bại của hoạt động sản xuất Việc

sử dụng đất đai một cách thích hợp sẽ đóng góp vào việc tạo thêm thu nhập củangười dân Đối với các hoạt động trồng trọt thì việc tìm hiểu nghiên cứu tínhchất của đất là rất quan trọng để từ đó nên bố trí loại cây trồng cho thích hợp.Diện tích đất nông nghiệp không những ảnh hưởng đến ngành trồng trọt mà nócòn ảnh hưởng đến chăn nuôi, diện tích đất lớn tạo nguồn thức ăn cho gia súclớn

Trang 21

Bảng 4: Cơ cấu sử dụng đất của xã năm 2007

(ha)

Cơ cấu(%)Tổng diện tích đất tự nhiên 1249,89 100,00

2.5 Đất sông suối và mặt nước tiêu dùng 34,74 2,78

( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thuỷ Dương )

Trang 22

Qua bảng cơ cấu sử dụng đất cho thấy: diện tích đất tự nhiên là 1249,89 ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 804,15ha chiếm 64,33% Các loại câytrồng chủ yếu ở đây là lúa, sắn và các cây rau màu khác Trong đất nông nghiệpthì lúa là cây trồng có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất là 260ha chiếm 73,12%diện tích đất nông nghiệp và chiếm 29,53% so với diện tích đất tự nhiên, trongkhi đó diện tích đất ở là 147,71ha chiếm 11,82% so với đất tự nhiên

Diện tích đất ở bao gồm nơi diễn ra hoạt động sống của người và một phầndành cho hoạt động chăn nuôi Chăn nuôi gà công nghiệp cũng là một trongnhững hoạt động chăn nuôi của xã, chiếm diện tích cũng không lớn lắm, diệntích tùy thuộc vào quy mô nuôi của từng hộ

Diện tích đất nuôi trồng thủy sản chỉ có 51,63ha chiếm 4,13% tổng diện tíchđất tự nhiên Định hướng trong thời gian tới là chuyển một phần diện tích trồnglúa sang trồng rau màu và nuôi trồng thủy sản

Ngoài ra ở xã còn phần diện tích chưa sử dụng có diện tích là 70,14%(chiếm 5,61%) Hiện nay tỉnh có kế hoạch là khuyến khích các nông hộ thànhlập các trang trại chăn nuôi với nhiều hình thức để góp phần vào phát triển kinh

tế hộ gia đình

4.1.2.2 Tình hình dân số và lao động

Con người cũng là một trong những nhân tố quyết định đến sự phát triểnkinh tế của địa phương Nhưng một khi dân số tăng trước sự phát triển kinh tếcủa xã hội thì đây là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là vấn đề việc làmcần được giải quyết Do vậy mà chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu tình hình dân số

và lao động ở xã Kết quả thể hiện ở bảng sau:

Số liệu bảng trên cho thấy: Tổng số hộ ở xã Thủy Dương tăng dần qua cácnăm Cụ thể là năm 2005 là 2198 hộ đến năm 2007 thì có 2289 hộ Nhưng trái lạithì số hộ thuộc lĩnh vực nông nghiệp giảm dần và thay vào đó thì các hộ thuộclĩnh vực phi nông nghiệp tăng lên một cách đáng kể Năm 2005 số hộ hoạt độngnông nghiệp là 1.217 hộ chiếm 55,37% đến năm 2006 thì giảm xuống còn 1198

hộ chiếm 53,55% và đến năm 2007 thì có 1190 hộ chiếm 51,99% Như vậy trong

Trang 23

2 năm 2005 - 2007 thì số hộ hoạt động nông nghiệp đã giảm 2,22% so với năm2005.

Không những thế số lao động nông nghiệp trong các hộ cũng giảm dần:Bình quân lao động /hộ của năm 2005 là 2,64 thì bình quân lao động nôngnghiệp /hộ có 1.78 lao động nhưng đến năm 2007 bình quân lao động /hộ là 2,61lao động thì bình quân lao động nông nghiệp /hộ có 1,66 lao động, nếu tính theotổng số lao động của toàn xã thì năm 2005 có 3916 lao động nông nghiệp chiếm67,51% thì đến năm 2007 còn lại 3797 lao động thuộc lĩnh vực nông nghiệp vàchiếm 63,67% tổng số lao động, trong đó tổng số lao động nữ nhiều hơn laođộng nam và một điểm đặc biệt đó là lao động nông nghiệp ở đây chủ yếu là laođộng nữ, nam giới chủ yếu làm các công việc phi nông nghiệp

Qua đó ta thấy số lao động hoạt động nông nghiệp giảm dần Nguyên nhândẫn đến số lao động nông nghiệp giảm là do hiện nay với việc sản xuất nôngnghiệp thì giá cả đầu tư vào quá cao mà thị trường đầu ra đang còn gặp nhiềukhó khăn và tình hình dịch bệnh cũng đang đe dọa các hộ chăn nuôi ở đây, điềunày đã ảnh hưởng đến tâm lý người dân nên các hộ đã dần dần chuyển sang cácngành nghề khác

Trang 24

bảng5

Trang 25

4.1.2.3 Cơ cấu doanh thu của xã

Do điều kiện địa hình cũng như điều kiện kinh tế của các hộ là khác nhaunên cơ cấu doanh thu của xã cũng từ các hoạt động khác nhau tạo nên

Bảng 6 : Cơ cấu doanh thu của xã

Đvt : triệu đồng Năm

Lĩnh vực

Doanhthu Tỷ lệ (%)

Doanhthu Tỷ lệ (%)

Doanhthu

Tỷ lệ(%)Trồng trọt 6.215,0 13,37 7.359,4 15,32 8.914,3 16,16Chăn nuôi 11.358,0 24,44 10.956,0 22,81 14.493,0 26,27Ngành nghề DV 12.324,6 26,52 11.871,2 24,72 13.143,7 23,82Các doanh thu khác 16.572,9 35,66 17.843,1 37,15 18.623,4 33,75Tổng 46.470,5 100,00 48.029,7 100,00 55.174,4 100,00

( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thuỷ Dương )

- Về trồng trọt: Xã Thủy Dương có gần 64% dân sống bằng nông nghiệp vớitổng diện tích đất nông nghiệp là 411,92ha Ở đây trồng chủ yếu 2 loại cây chính

là lúa và các cây rau màu khác trong đó lúa được trồng 2 vụ Ngoài ra ở xã còntrồng thêm một số loại cây trồng khác như sắn, trồng hoa Đối với việc trồng sắnthì ở xã có khoảng 50ha trồng sắn (chủ yếu sử dụng giống địa phương) do năngsuất thấp, chưa có đầu ra ổn định, và chưa có thị trường tiêu thụ sản phẩm nênchủ yếu người sản xuất tận dụng làm thức ăn cho lợn

Việc trồng hoa cũng phần nào đóng góp vào thu nhập của một số hộ dânnhưng không đáng kể do năng suất thấp, ở xã chỉ có 9 hộ trồng hoa, quy môkhông lớn lắm

Hợp tác xã ở xã Thủy Dương đã có những bước xây dựng các kế hoạch chủđộng tạo ra những giải pháp để giúp người nông dân cải thiện cuộc sống, ở xã

Trang 26

còn chú trọng đến việc khuyến khích người nông dân luân canh, xen canh tăng

hệ số sử dụng đất để tăng hiệu quả kinh tế như trồng xen lúa và ngô

Đầu năm 2007 ở xã đã chuyển đổi 20ha từ diện tích trồng lúa sang trồng raumàu và đưa giống rau sạch vào trồng Do vậy mà doanh thu của xã qua các năm

đã tăng: Năm 2006 doanh thu của xã đạt 7359,4 triệu đồng tăng 1,18 lần so vớinăm 2005 và năm 2007 thì doanh thu đạt 8914,3 triệu tăng1,21 lần so với năm2006

- Về chăn nuôi: Trong nông nghiệp chăn nuôi được xem là ngành phát triểnphát triển ở xã Ở xã chưa có diện tích giành để trồng cỏ phục vụ cho chăn nuôi,chủ yếu người chăn nuôi dựa vào đồng cỏ tự nhiên, phương thức chăn nuôi chủyếu là quảng canh Trong những năm vừa qua nguồn thu nhập từ chăn nuôi sovới các ngành khác như trồng trọt, thủy sản là lớn hơn Nhưng sau nạn dịch bệnhvừa qua như dịch cúm H5N1, mặc dù ở xã chưa có tình trạng dịch bệnh xảy ranhưng do quyết định là phải tiêu hủy hoàn toàn để dịch bệnh (H5N1) không lâylan ảnh hưởng đến con người nên đã làm hao tổn đến hộ chăn nuôi và bệnh lởmồm long móng ở lợn Đó là lý do ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chăn nuôi ởđây Do vậy mà thu nhập từ chăn nuôi trong thời gian này mặc dù tăng nhưngkhông đáng kể đó là năm 2007 đạt 1349,3triệu đồng tăng 1,09 lần so với năm2005

Công tác phòng ngừa dịch bệnh rất được chú trọng và được kiểm soátthường xuyên Xã thường tổ chức tiến hành công tác tiêm phòng dịch cúm vàtiêu độc khử trùng cho đàn gia cầm trên địa bàn toàn xã và tiêm phòng chốngdịch lở mồm long móng ở gia súc Vì vậy cho đến nay ở xã chưa có dịch bệnhxảy ra

Sau nạn dịch cúm H5N1 ở xã hầu như đã chuyển sang hình thức chăn nuôi

gà công nghiệp theo hướng gà thịt đây là hình thức mà cần lượng vốn đầu tưkhông lớn, thời gian nuôi ngắn (1tháng 15 ngày kể từ ngày bắt ở trại úm), các hộchăn nuôi chủ yếu ở xa khu dân cư nên dịch bệnh ít xảy ra Để người dân tiếp tụcnuôi một cách an toàn, không để dịch bệnh xảy ra xã đã hình thành trại úm gà từ

1 đến 14 ngày tuổi, sau đó mới cho các hộ dân mua về nuôi ngoài ra xã cấm

Trang 27

không cho người dân tự úm gà Trong quá trình này trại của hợp tác xã đã tiếnhành tiêm chủng đầy đủ vacxin theo đúng quy trình Sau đây là tình hình pháttriển vật nuôi của xã Thủy Dương trong những năm vừa qua:

Bảng 7: Tình hình phát triển vật nuôi của xã Thủy Dương trong các năm vừa qua

Năm

Vật nuôi

2007(con)

2005(con)

2006(con)Trâu, bò

Lợn

Gia cầm

+ Gà công nghiệp

2753.64152.57748.710

2554.18540.48230.971

2783.79647.60742.860

( Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thuỷ Dương )

Ở xã chưa có hình thức nuôi theo quy mô trang trại lớn, chỉ tồn tại theo quy

mô hộ gia đình nhỏ lẻ Số liệu bảng trên cho thấy tổng gia cầm hiện nay là52.577 con trong đó lượng gà công nghiệp (gà thịt) là 48.710con chiếm 92,65%tổng gia cầm và số lượng năm 2007 tăng 19,21% so với năm 2006

Mặc dù chất lượng thịt của chăn nuôi gà công nghiệp không được ngon bằng

gà thả vườn nhưng nguy cơ nhiễm bệnh ít xảy ra và vòng đời ngắn nên lượngvốn thu lại cũng nhanh Đó là lý do vì sao trong khi lượng gia cầm ở tỉnh giảm

mà số lượng gà thịt ở xã Thủy Dương tăng

Đối với các vật nuôi khác như trâu, bò: Qua bảng trên cho thấy số lượngbiến động qua 2 năm Năn 2007 thì ở xã có 275 con chiếm 3,8% so với cả huyệntrong đó trâu có 51con, bò có 224 con Mặc dù có sự hổ trợ của chương trìnhnông nghiệp và phát triển nông thôn cho 5 hộ nghèo nhưng nhìn chung khả năngtăng trọng của chúng rất chậm.Ở đây chủ yếu theo hình thức chăn nuôi quảngcanh, chưa có đồng cỏ cho chăn nuôi, chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên Bêncạnh đó do đầu vào lớn nên tỷ hộ nuôi ít

Đối với chăn nuôi lợn: Việc chăn nuôi lợn ở đây chủ yếu sử dụng thức ănsẵn có trong gia đình như cám, rau, sắn và một ít thức ăn công nghiệp khác Để

Trang 28

tăng khả năng tăng trọng của đàn lợn các hộ thường có công việc là nấu rượu tậndụng phần bống rượu cho ăn nhưng ở đây chúng tôi điều tra được biết hầu nhưkhông có hộ nào làm điều đó nên khả năng tăng trọng không được cao Mặckhác phần lớn các hộ chăn nuôi chủ yếu sống khá xa khu dân cư nên việc vậnchuyển thức ăn gặp nhiều khó khăn và địa hình phức tạp nên thường bị ép giákhi bán sản phẩm nên số lượng đàn lợn ở xã có giảm trong 2 năm 2005-2007, từ3.885 con (năm 2005) xuống còn 3.871 con(năm 2007) Ngoài ra dịch bệnh lởmồm long móng trong những năm qua mặc dù chưa xảy ra ở xã nhưng ảnhhưởng rất nhiều đến tâm lý của những người ở đây Theo ý kiến của bác TrầnThuận ở xã Thủy Dương cho biết : "Lý do mà chúng tôi không nuôi nhiều giasúc như mấy năm trước vì một phần do giá đầu vào cao chưa kể tiền thức ăn chỉmới nói đến giống thôi, nếu thuận lợi thì không nói gì nhưng nếu rủi ro có dịchbệnh xảy ra thì mất hết" Đó là nguyên nhân vì sao mà số lượng gia súc giảm qua

2 năm vừa qua

Ngoài các vật nuôi trên, hiện nay chim cút cũng đang được các hộ nuôitrong 3 năm vừa qua

Tổng giá trị từ chăn nuôi của xã tăng cụ thể là năm 2007 đạt 13.493 triệu sovới năm 2006 tăng 537.000đồng

Ở xã còn có hoạt động nuôi trồng thủy sản nhưng hoạt động này chỉ mới tồntại nên số hộ tham gia còn ít , ở xã còn được sự hổ trợ đầu tư tập huấn về nuôicác nước ngọt

- Ngành nghề dịch vụ: Ngoài các ngành trồng trọt, chăn nuôi , các ngành dịch

vụ cũng đang dần phát triển Các ngành phổ biến đó là buôn bán, các ngành nghềsửa chữa, gò hàn Nam giới tham gia vào ngành nghề chiếm tỷ lệ cao hơn Cácdịch vụ phục vụ cho ngành nông nghiệp rất đầy đủ Hiện nay sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn xã đã được trang bị một số máy móc cần thiết như: máy cày,máy tuốt lúa, máy bơm nước, máy xay gạo, xe công nông Với lượng máy móctrên thời gian lao động của các hộ dân có thể rút ngắn, và giúp người dân có thểtập trung vào các công việc khác Do vậy trong năm 2006 - 2007 vừa qua tổng

Trang 29

thu từ ngành dịch vụ tăng từ 11.871,2 triệu đồng (năm2006 ) lên 13.143,1triệuđồng (năm2007).

Bên cạnh đó các thu nhập khác của hộ dân ở đây như là làm thuê, làm mướnxảy ra chủ yếu ở các hộ nghèo, ít ruộng, ít chăn nuôi Trong đó thu nhập lớn nhấttập trung vào cán bộ công chức nhà nước

- Về lâm nghiệp:

Diện tích đất lâm nghiệp của xã là 340,6 ha trong đó 232ha chủ yếu trồngcây nhựa thông Diện tích rừng còn lại là của lâm trường Tiền Phong Nhìnchung lâm nghiệp chưa đóng góp vào thu nhập của xã nhưng đóng nột vai tròquan trọng trong vệc hạn chế xói mòn do địa hình của xã dốc, phức tạp Trongthời gian vừa qua, diện tích rừng trồng của xã đã giao khoán cho 76 hộ nhậnchăm sóc và bảo vệ, đến nay chưa khai thác được nhựa thông nên chưa có thunhập mà chỉ là lá phổi xanh của xã

Những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất của xã trongnhững năm qua:

- Nguyên nhân khách quan:

+ Do điều kiện thời tiết thất thường, địa hình phức tạp đã ảnh hưởng rất lớnđến tình hình sản xuất của xã

Địa hình trũng nên việc gieo cấy 2 vụ lúa đòi hỏi phải đầu tư thêm hệ thốngthủy lợi Đồng thời địa hình nằm ở khu vực bán sơn địa có độ dốc lớn nên khimưa bão xảy ra nên thường có hiện tượng xói mòn, ảnh hưởng đến việc muabán, đi lại của người dân ở đây

Do vậy trong những năm vừa qua hoạt động sản xuất nông nghiệp mặc dùtăng nhưng không nhiều

+ Trong thời gian qua 2 nạn dịch lớn xảy ra trong chăn nuôi đó là dịch cúmgia cầm và lở mồm long móng ngoài ra còn bị bệnh lợn tai xanh trên lợn đã tácđộng xấu ảnh hưởng đến công tác phát triển chăn nuôi Ngoài ra giá đầu vào tăngnhanh trong khi đó giá thịt lợn thì giảm và giá thịt gà không tăng ảnh hưởng đếncác hộ chăn nuôi và kéo theo thị trường tiêu thụ giảm mạnh

Trang 30

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Mặc dù công tác quản lý, điều hành của nhà nước cũng như của xã rất chặtchẽ, đã có sự quan tâm, chú trọng đối với các hoạt động sản xuất của người dânnhưng trong quá trình điều hành quản lý vẫn tồn tại nhiều hạn chế như công việc,nhiệm vụ được giao diễn ra chậm, chưa giải quyết kịp thời những vướng mắccủa người dân

+ Các chỉ thị hỗ trợ cho người dân chậm trễ, không đồng bộ nên hiệu quảkhông cao

+ Việc đầu tư nguồn lực từ các hộ dân cho nhiều hạn chế Trong chăn nuôichủ yếu là theo quy mô nhỏ lẻ, theo hộ gia đình chưa mang tính tập trung nênảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch bệnh, đồng thời làm ảnh hưởng đếnthị trường tiêu thụ sản phẩm

4.2 Tình hình hoạt động nuôi gà thịt tại nông hộ

4.2.1 Cơ cấu đàn gà công nghiệp tại nông hộ

Để đánh giá tình hình hoạt động chăn nuôi chăn nuôi của hộ thường dựa vào

cơ cấu đàn được nuôi tại nông hộ đó Đây là chỉ tiêu để giúp cho người chănnuôi định hướng được phải làm như thế nào để có thể phát triển ngành chănnuôi

Bảng 8: Tình hình chăn nuôi gà của các nhóm hộ

con/lứa Số lứa/năm

Tổngcon/năm/hộ

( Nguồn: Số liệu điều tra _ 2007)

Ở xã Thủy Dương qua điều tra số hộ nuôi gà thả vườn rất ít chỉ vài hộ và

số lượng không đáng kể chỉ 8 - 10con, các hộ chăn nuôi gà chủ yếu là chăn nuôi

gà công nghiệp trong đó 100% là gà thịt với lứa tuổi từ 15 đến 45 ngày tuổi Đốivới lứa tuổi từ 1 đến 15 ngày tuổi thì được úm ở trại gia cầm của hợp tác xã

Trang 31

Chính vì vậy mà số hộ nuôi cũng như quy mô nuôi tại một số hộ đặc biệt là các

hộ nghèo đã giảm do lợi nhuận giảm

Số liệu bảng trên cho thấy : Quy mô nuôi tại các nhóm hộ còn tương đối ít,giống gà chủ yếu là gà lương phượng được nhập từ công ty giống Lương Mỹ(Quảng Nam) và Liên Phương ở Hà Nội Ngoài ra xã ít nhập các loại giống khác

vì đây là giống thường được nuôi nên người dân biết được đặc điểm của loạigiống này Ở đây quy mô chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt , số lượnglớn chủ yếu tập trung vào các hộ khá trung bình khoảng 453,33con/lứa và số lứatrên năm nhiều nhất là 3,67lứa/năm, trong đó hộ nuôi với quy mô lớn nhất là650con/lứa So với toàn xã vào năm 2006 thì con số này đã giảm, lúc đó có hộnuôi với số lượng 900con/lứa Các hộ trung bình thì số lượng này vẫn không đổi

vì chăn nuôi gà công nghiệp vốn là ngành nghề của họ mặc dù lợi nhuận có giảm

đi từ 4000 - 5000đồng/con

Chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt mặc dù vốn đầu tư vào không lớnnhưng điều đó chỉ đối với hộ khá và một số hộ trung bình nhưng đối với hộnghèo thì đó là lượng vốn lớn, chỉ dùng thức ăn công nghiệp, ít được tận dụngthức ăn sẵn có trong gia đình Trước đây khi chưa có nạn dịch cúm gia cầm thìgia đình có thể tự úm gà lúc đó số lượng vốn mua giống vào ít hơn nhưng khidịch xảy ra thì địa phương bắt buộc không có hộ gia đình tự úm gà riêng lẻ màhợp tác xã úm gà tập trung sau 14 ngày tuổi thì các hộ mới được mua về nuôi.Điều này vừa làm giảm lợi nhuận vừa đòi hỏi số vốn bỏ ra nhiều hơn so với tự

úm gà là từ 4000 - 5000đồng/con nên quy mô hộ nghèo là rất ít trung bìnhkhoảng 70con/lứa trong đó hộ cao nhất thì nuôi 100con/lứa và thấp nhất là50con/lứa

Gà công nghiệp theo hướng gà thịt có thời gian nuôi ngắn, chu kỳ hoàn lạivốn nhanh, khả năng nhiễm bệnh ít nên số lứa/ năm của các nhóm hộ nhìn chungkhông có gì khác biệt nhau, số lứa/ năm trung bình là 3,6 lứa (đối với hộ nghèo)

và 3,67 lứa (đối với nhóm hộ khá và trung bình) Nhóm hộ khá nuôi với số lượngnhiều nên có sự đầu tư chi phí cao hơn nên khả năng tăng trưởng nhanh và trọnglượng lớn hơn (với số ngày nuôi trung bình là 43 ngày ), đối với hộ nghèo nuôi

Trang 32

với số lượng ít nên việc đầu tư chi phí cũng như thời gian có phần hạn chế nênảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng cũng như tỷ lệ sống giảm hơn so với hộkhá.

4.2.2 Quy mô chăn nuôi gà công nghiệp theo hướng gà thịt tại nông hộ điều tra.

Nhằm biết được số lượng bình quân của các hộ chan nuôi chúng tôi tiếnhành tìm hiểu quy mô các hộ chăn nuôi Quy mô này chúng tôi chia theo số con

Với quy mô không lớn như trên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ sảnphẩm Việc phát triển theo hình thức gia trại va trang trại thì việc tiêu thụ sảnphẩm ít gặp khó khăn hơn, đảm bảo hiệu quả kinh tế , hiệu quả xã hội và môitrường nhưng để phát triển tình hình chăn nuôi theo hướng này thì ngoài các yếu

tố điều kiện tự nhiên còn đòi hỏi các hộ phải bỏ ra lượng vốn lớn mà đây là yếu

tố trở ngại nhất đặc biệt đối với hộ nghèo và trung bình Ở xã xu hướng pháttriển theo hình thức này khó có thể thực hiện được

Trang 33

bảng quy mô

Trang 34

4.2.3 Các nguồn thức ăn cho đàn thịt tại nông hộ

Trong chăn nuôi nói chung đặc biệt gia cầm nói riêng thì ngoài yếu tố ditruyền là giống, thức ăn là nhân tố quan trọng không kém quyết định đến sựthành bại trong sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng phát triểncủa gia cầm và hiệu quả chăn nuôi Vì vậy trước khi chăn nuôi cần xác định rõmục đích chăn nuôi vì mỗi mục tiêu khác nhau thì nuôi dưỡng cũng có yêu cầukhác nhau

Để có căn cứ khoa học cho việc nuôi dưỡng gia cầm theo khẩu phần ta phảixác định nhu cầu cơ thể của chúng về các chất dinh dưỡng Để đạt được năngsuất cao nhất không chỉ phải cung cấp tới mức tối đa các thức ăn riêng lẻ mà cònphải có một tỷ lệ thích hợp nhất giữa thành phần các loại thức ăn trong khẩuphần Để biết được khả năng đầu tư về thức ăn của các nhóm hộ chúng tôi đãtiến hành điều tra các loại thức ăn được hộ chăn nuôi sử dụng cho chăn nuôi gàthịt như sau:

Bảng 10: Cơ cấu sử dụng các loại thức ăn

Bột bắp 57,00 59,00 66,00 66,00 57,63 58,632

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Cơ cấu sử dụng đất của xã năm 2007 - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Cơ cấu sử dụng đất của xã năm 2007 (Trang 21)
Bảng 6 : Cơ cấu doanh thu của xã - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 6 Cơ cấu doanh thu của xã (Trang 25)
Bảng 10: Cơ cấu sử dụng các loại thức ăn - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 10 Cơ cấu sử dụng các loại thức ăn (Trang 34)
Bảng 10: Tình hình thú y cho đàn gà thịt tại các nhóm nông hộ - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 10 Tình hình thú y cho đàn gà thịt tại các nhóm nông hộ (Trang 36)
Bảng 1: Phân tích hiệu quả kinh tế nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1 Phân tích hiệu quả kinh tế nuôi gà công nghiệp theo hướng thịt (Trang 67)
Bảng 2: Phân tích hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Phân tích hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa (Trang 68)
Bảng 3: Phân tích hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn thịt - đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi gà công nghiệp(gà thịt) ở xã thủy dương, huyện hương thủy, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3 Phân tích hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn thịt (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w