1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế

97 659 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Đào tạo và nghiên cứu về chăn nuôi bò
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 486 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra hiện nay là xác định cho được mộtphương thức chăn nuôi hợp lý, để phát triển ngành chănnuôi bò của địa phương, giải quyết công ăn việc làm, nângcao thu nhập cho các nông hộ

Trang 1

Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị, sảnxuất nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi bò nói riêngchủ yếu được tiến hành ở phạm vi nông hộ Tuy nhiênviệc chăn nuôi bò ở Thừa Thiên Huế những năm qua chothấy, ngành sản xuất này thiếu ổn định và phát triểnchưa tương xứng với tiềm năng của vùng Phương thứcchăn nuôi truyền thống lạc hậu, chậm đổi mới Chấtlượng con giống thấp, quy mô nuôi nhỏ và tự phát là

Trang 2

chính, thiếu một định hướng lâu dài cho phát triển Chính

vì vậy nuôi bò thịt của các nông hộ tại đây đạt hiệu quảchưa cao

Vấn đề đặt ra hiện nay là xác định cho được mộtphương thức chăn nuôi hợp lý, để phát triển ngành chănnuôi bò của địa phương, giải quyết công ăn việc làm, nângcao thu nhập cho các nông hộ đồng thời góp phần vàothực hiện xóa đói giảm nghèo tại các vùng có điều kiệnkhó khăn, đặc biệt là đối với khu vực tập trung nhiềuđồng bào người dân tộc

Tuy nhiên cho đến nay, tại tỉnh Thừa Thiên Huế chưa cómột nghiên cứu nào để đánh giá hiệu quả kinh tế của cácphương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ, do vậy cũng chưacó một cơ sở chắc chắn để đề xuất và khuyến khíchngười dân chăn nuôi theo phương thức nào là mang lại lợinhuận cao nhất Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi đã

tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái Trung

du và miền Núi tỉnh Thừa Thiên Huế”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tiến hành đề tài này chúng tôi nhằm đạt được cácmục đích sau đây:

1) Đánh giá thực trạng tình hình phát triển ngành chănnuôi bò thịt tại Thừa Thiên Huế

2) Xác định kết quả và hiệu quả kinh tế của các phươngthức chăn nuôi bò thịt và những nhân tố ảnh hưởng đếnkết quả và hiệu quả của các phương thức này

3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caohiệu quả và phát triển phương thức chăn nuôi thích hợp chongành bò thịt ở nông hộ tại Thừa Thiên Huế

Trang 3

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ nông dânchăn nuôi bò thịt tại hai vùng sinh thái Trung du và miền Núicủa tỉnh Thừa Thiên Huế

2) Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Từ 2/1 đến ngày 30/4/2006

- Phạm vi về không gian: Địa điểm nghiên cứu đượcthực hiện trên hai tiểu vùng sinh thái là Trung du và miềnNúi ở tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 4

Phần 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ VÀ HIỆU QUẢKINH TẾ

2.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của hiệu quả

Hiệu quả là một thuật ngữ dùng để chỉ các mối quanhệ giữa kết quả thực hiện với các mục tiêu hoạt độngcủa chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đótrong những điều kiện nhất định Hay nói cách khác hiệuquả chính là kết quả mà chủ thể nhận được theo hướngmục tiêu của mình [12]

Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựachọn các phương án hành động

Hiệu quả được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau màhình thành nên các khái niệm khác nhau như: Hiệu quả kinhtế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, ngoài ra còncó hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp [12]

2.1.2 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được hiểu đơn giản là một phạm trùkinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, là thước

đo trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh của các doanhnghiệp Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau vềhiệu quả kinh tế Theo tác giả Nguyễn Tiến Mạnh thì:

“Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quanphản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt đượcmục tiêu đã xác định” [12] Còn tác giả Ngô Đình Giao lạicho rằng: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của

Trang 5

mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước” [7].

Về mặt khái quát có thể hiểu rằng: Hiệu quả kinh tếlà một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự pháttriển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác cácnguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quátrình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra [12]

Hiện nay bất kỳ nền kinh tế nào cũng được phát triểntheo hai chiều:

- Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọinguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung thêm laođộng và kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xâydựng thêm nhiều xí nghiệp, tạo ra nhiều mặt hàng mới,

- Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cáchmạng khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiếnnhanh lên hiện đại hóa, tăng cường chuyên môn hóa, nâng caocường độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượngsản phẩm và dịch vụ Phát triển theo chiều sâu là nhằmnâng cao hiệu quả kinh tế, đây là phương hướng phát triểnphù hợp với xu thế phát triển bền vững của thế giới ngàynay

Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất laođộng xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặtcó quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắnliền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hộilà quy luật năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thờigian Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạtkết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạtkết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đâyđược hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chi phí để tạo ranguồn lực đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội [9]

Trang 6

Hiệu quả kinh tế còn biểu hiện mối quan hệ so sánhgiữa kết quả kinh tế đạt được với chi phí kinh tế bỏ rađể đạt được kết quả đó Quan hệ so sánh tuyệt đối chỉcó ý nghĩa trong một phạm vi rất hẹp.

Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp được đánhgiá thông qua một hoặc một số chỉ tiêu nhất định Vềphần mình, những chỉ tiêu hiệu quả này phụ thuộc chặtchẽ vào mục tiêu hoạt động của chủ thể hiệu quả Dovậy khi phân tích hiệu quả của các phương án cần làm rõchiến lược phát triển cũng như mục tiêu của mỗi chủ thểtrong từng giai đoạn phát triển

Những mục tiêu khác trong hoạt động doanh nghiệp màdoanh nghiệp quan tâm có liên quan đến lợi nhuận Vì vậylợi nhuận ổn định là một mục tiêu bao trùm nhất, tổngquát nhất Cho đến nay, các tác giả đều nhất trí dùng lợinhuận làm tiêu chuẩn cơ bản để phân tích hiệu quả sảnxuất kinh doanh Việc nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩarất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát triểnkinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung thể hiện ởchỗ:

- Tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có

- Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanhvào CNH - HĐH

- Phát triển kinh tế với tốc độ nhanh

- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người laođộng

2.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

Để xác định được hiệu quả kinh tế cần sử dụng cácchỉ tiêu về kinh tế như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng,năng xuất, số lượng hay nói cách khác hiệu quả kinh tế

Trang 7

được đo lường bằng các chỉ tiêu tương đối cường độ làquan hệ so sánh giữa đầu vào (chi phí kinh tế) và đầu ra(kết quả kinh tế).

Việc xác định hiệu quả kinh tế tuân theo các nguyên tắcsau:

- Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu vàtiêu chuẩn hiệu quả: Theo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệuquả được định ra trên cơ sở mục tiêu

Phân tích hiệu quả của một phương án nào đó luôn luôndựa trên phân tích các mục tiêu cần đạt được Phương áncó hiệu quả nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việcthực hiện các mục tiêu đặt ra với chi phí là thấp nhất

- Nguyên tắc về sự thống nhất các lợi ích:Theo nguyên tắc này một phương án được xem là có hiệuquả nhất khi nó kết hợp trong đó các loại lợi ích

- Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học:Để đánh giá được hiệu quả các phương án cần phải dựatrên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hóa được vàkhông lượng hoá được, tức là phải kết hợp phân tích địnhlượng hiệu quả và phân tích định tính Không thể thay thếphân tích định lượng bằng phân tích định tính khi phân tíchđịnh lượng chưa đủ đảm bảo tính chính xác, chưa cho phépphản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà chủthể quan tâm

Nguyên tắc này cũng đòi hỏi những căn cứ tính toánhiệu quả phải được xác định chính xác, tránh chủ quan tùytiện

- Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế:Theo nguyên tắc này những phương pháp tính toán hiệu quảvà hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệuthông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu

Trang 8

Với quan điểm tổng quát thì các chỉ tiêu về hiệu quảkinh tế lựa chọn để nghiên cứu chủ yếu được trình bàydưới một số dạng cơ bản sau đây:

- Dạng thuận: H = Q/C (1)

Trong đó:

H là hiệu quả

Q là lượng kết quả đạt được

C là chi phí hoặc các yếu tố đầu vào

Công thức (1) nói lên: 1 đơn vị chi phí sẽ tạo ra đượcbao nhiêu đơn vị kết quả

- Dạng nghịch: h = C/Q (2)

Trong đó:

h là hiệu quả

Q là lượng kết quả đạt được

C là chi phí hoặc các yếu tố đầu vào

Công thức (2) nói lên: Để đạt được 1 đơn vị kết quả thìcần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị chi phí

Hai loại chỉ tiêu này có ý nghĩa khác nhau nhưng có liênhệ mật thiết với nhau cùng được dùng để phản ánh hiệuquả kinh tế Các chỉ tiêu trên gọi là các chỉ tiêu toàn phần.Ngoài các chỉ tiêu toàn phần trên còn có các chỉ tiêu cậnbiên như sau:

- Dạng thuận: Hb = Q/C (3)

Trong đó:

Hb là hiệu quả cận biên

Q là lượng tăng hoặc giảm thêm của kết quả

C là lượng tăng hoặc giảm thêm của chi phí

Trang 9

Công thức (3) thể hiện: Cứ tăng thêm một đơn vị chiphí sẽ tăng thêm bao nhiêu đơn vị kết quả.

- Dạng nghịch: hb = C/Q (4)

Trong đó:

hb là hiệu qủa cận biên

Q là lượng tăng hoặc giảm của kết quả

C là lượng tăng hoặc giảm của chi phí

Công thức (4) thể hiện: Để tăng thêm 1 đơn vị kết quảthì cần đầu tư thêm bao nhiêu đơn vị chi phí

Các chỉ tiêu này rất quan trọng trong việc đánh giá, phântích hiệu quả kinh tế, bởi vì nguyên lý cận biên là phần lýthuyết cốt lõi trong kinh tế học hiện đại Nó là cơ sở đểđịnh giá các yếu tố đầu vào cho việc phân phối sản phẩmvà thu nhập

2.1.4 Hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò lấy thịt

- Hiệu quả kinh tế chăn nuôi nói chung:

Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào nóichung và chăn nuôi nói riêng đều có mục đích chủ yếu làkinh tế Tuy vậy, kết quả kinh tế không phải là cái đích duynhất mà các hoạt động sản xuất kinh doanh mong đạtđược, mà bên cạnh đó, các hoạt động này còn tạo ranhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế xã hội củacon người như: Cải thiện chất lượng sống và việc làm,nâng cao đời sống về mặt tinh thần và văn hóa cho nhândân, cải tạo môi trường môi sinh, Tóm lại là đạt đượchiệu quả về cả xã hội về môi trường Tuy nhiên trongphạm vi đề tài này chỉ quan tâm đến khía cạnh hiệu quảkinh tế của ngành chăn nuôi nói chung và ngành nuôi bò thịtnói riêng

Trang 10

Hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi được xem là mộtphạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các nguồnlực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trìnhsản xuất chăn nuôi nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.Hiệu quả kinh tế của chăn nuôi còn biểu hiện mối quan hệ

so sánh giữa kết quả kinh tế thu được từ việc thực hiệnhoạt động sản xuất chăn nuôi và chi phí kinh tế đầu tư đểđạt được kết quả đó trong suốt quá trình sản xuất

Từ đó ta có thể hiểu rằng hoạt động sản xuất củangành chăn nuôi nói chung có thể mang lại hiệu quả cho xãhội nhưng cũng có thể ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tếcủa một vài cá nhân hay các đơn vị kinh doanh khác Ví dụ,phát triển chăn nuôi bò thịt có thể mang lại hiệu quả caocho người nuôi bò nhưng lại ảnh hưởng đến việc đầu tưcho các ngành chăn nuôi khác, hay ảnh hưởng trực tiếp đếnsản xuất của ngành trồng trọt (ví dụ như trong chăn nuôibò thả rông),

- Hiệu quả kinh tế của các phương thức nuôi bòthịt

Căn cứ vào các khái niệm về hiệu quả kinh tế nóichung và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi nói riêng, cóthể hiểu về hiệu quả kinh tế các phương thức nuôi bò thịtnhư sau:

Hiệu quả kinh tế các phương thức nuôi bò thịt là mộtphạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác các nguồnlực đầu vào (trình độ chi phí) và sử dụng các nguồn lựcđó phục vụ chăn nuôi nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.Bản thân của hiệu quả kinh tế đã là một phạm trù kinhtế hết sức phức tạp, được thể hiện rất đa dạng vàphong phú Hiệu quả kinh tế của các phương thức nuôi bò

Trang 11

thịt chỉ là một bộ phận của hiệu quả kinh tế nói chung vàhiệu quả kinh tế của ngành sản xuất chăn nuôi nói riêng.

2.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI BÒ ĐỐI VỚI NÔNG HỘ

2.2.1 Khái niệm về nông hộ và vai trò của nền kinh tế nông hộ

2.2.1.1 Khái niệm nông hộ

Để hiểu được vai trò kinh tế nông hộ trong tổng thểchung của nền kinh tế trước hết phải tìm hiểu rõ kháiniệm nông hộ Trong những năm gần đây có rất nhiềunghiên cứu về hộ của cả các chuyên gia trong nước vànước ngoài, quan niệm đa số cho rằng: “Hộ là nhữngngười sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cócùng một ngân quỹ" [10] Bên cạnh đó cũng có quan niệmcho rằng: “Hộ là tập hợp những người cùng chung huyếtthống, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sángtạo ra vật chất để bảo tồn chính họ và cộng đồng” [12].Quan điểm này đã nhấn mạnh tính huyết thống, nhữngngười trong hộ vừa có chung huyết thống, vừa có quan hệkinh tế với nhau để sản xuất ra vật phẩm bảo tồn cuộcsống cá nhân và cộng đồng Trong cộng đồng cư dân nôngthôn thì nông hộ được nhắc tới đó là một đơn vị kinh tếxã hội độc lập, có hoạt động sinh kế chủ yếu bằngnghề nông nghiệp Qua nhiều tìm hiểu khác nhau người tađã khái quát được các đặc trưng về hộ như sau:

Thứ nhất vế đất đai: Người nông dân sản xuất nông

nghiệp là chính nên đất đai luôn gắn liền với họ Đây làđặc điểm chính để phân biệt rõ hộ nông dân với nhữngngười lao động khác Ruộng đất chính là nguồn gốc haynền tảng bảo đảm cuộc sống về lâu dài cho mỗi hộ gia

Trang 12

đình, là yếu tố thể hiện vị trí xã hội của mỗi gia đìnhtrong phạm vi làng xã hay cộng đồng dân cư nông thôn.

Thứ hai là lao động: Lao động gia đình được coi là một

đặc tính nổi bật của người nông dân Nguồn lao động từnông dân là rất dồi dào Lao động trong cộng đồng nôngthôn mang tính chất thời vụ là đa số nên kéo theo tìnhtrạng thiếu việc làm xảy ra Do vậy phát triển các hoạtđộng sản xuất ngay tại địa phương để giải quyết công ănviệc làm trong thời gian nông nhàn là phương pháp góp phầntăng thêm thu nhập, phát triển kinh tế hộ gia đình

Thứ ba là tiền vốn và sự tiêu dùng: Trong nông hộ

không có sự phân biệt giữa lợi nhuận từ doanh thu vớitiền công lao động của gia đình Đây là bản chất hai mặtcủa sản xuất và tiêu dùng trong các hộ gia đình Người laođộng làm những công việc của gia đình mình chứ khôngphải kinh doanh thuần túy, phân biệt hoàn toàn với các đơn

vị kinh doanh khác

Thứ tư là tái sản xuất nhỏ lẻ và manh mún: Sản xuất

nông nghiệp của đại đa số các hộ nông dân ở nước ta nóichung cũng như ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng thường làsản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa mang tính chất hàng hóamà chỉ tiến hành ở quy mô cấp nông hộ Nguyên nhân chínhcủa tình trạng này là do nguồn vốn của hộ còn hạn hẹp,chưa đủ để đầu tư cho sản xuất ở quy mô lớn Một phần

vì chính sách ruộng đất chưa tập trung Thị trường tiêuthụ nông sản phẩm chưa ổn định

Thứ năm, hộ là một đơn vị kinh tế độc lập tự chủ:

Trong giai đoạn hiện nay, hộ có quyền tự chủ trong tất cảcác quyết định về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh củamình Từ sở hữu về tư liệu sản xuất, sử dụng đất chođến các quyền tự quyết do những người có uy tín hayquyền lực tối cao trong gia đình

Trang 13

Từ những vấn đề đã nêu ở trên cho thấy hộ nông dânlà một đơn vị kinh tế xã hội, có chung một cơ sở kinh tế,là người sản xuất ra nông sản phẩm cũng là người tiêu thụsản phẩm của chính mình làm ra Cần phải lắm rõ đượccác đặc trưng của nông hộ để vận dụng thành công vàoviệc phát triển kinh tế gia đình nói chung cũng như pháttriển ngành chăn nuôi bò thịt nói riêng trong hộ nông dânhiện nay.

2.2.1.2 Vai trò của ngành kinh tế hộ nông dân

Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị, hộ nông dânđược coi là một đơn vị kinh tế tự chủ, có vai trò quantrọng trong nền sản xuất nông nghiệp nông thôn, nó đượcthể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

- Trước hết hộ nông dân là đơn vị then chốttham gia vào quá trình sản xuất, cung cấp các sản phẩmthiết yếu cho người tiêu dùng nhất là lương thực và thựcphẩm Khâu nối liền hai quá trình sản xuất và tiêu dùng

- Vai trò của hộ nông dân còn được khẳng địnhmạnh mẽ hơn trong giai đoạn đất nước trên đà tiến lên CNH

- HĐH ở chỗ nó tạo ra nguồn nguyên liệu cho các ngành sảnxuất phi nông nghiệp như công nghiệp chế biến phục vụxuất khẩu nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của đờisống xã hội

- Hộ nông dân là đơn vị độc nhất duy trì nguồnlực lao động, nguồn vốn, đất đai đảm bảo cho phát triểnnền kinh tế nông nghiệp nông thôn

- Vai trò kinh tế của hộ không chỉ thể hiệntrong nông nghiệp mà còn là thị trường rộng lớn của cácngành kinh tế khác, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, làm đadạng hóa các sản phẩm phi nông nghiệp

- Việc phát triển kinh tế nông hộ làm cho cácmặt xã hội và chính trị ở nông thôn thêm ổn định, giảm

Trang 14

sức ép dân số tới các đô thị lớn, tệ nạn xã hội không có

cơ hội nảy sinh Trong xu thế hướng tới xây dựng nền kinhtế toàn cầu bền vững hiện nay thì kinh tế nông hộ cómột ý nghĩa to lớn và đóng góp vai trò quan trọng vào nềnkinh tế chung của cả nước

Tóm lại kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế đặcbiệt, có khả năng tồn tại độc lập qua mọi hình thái xãhội Kinh tế nông hộ giữ một vai trò hết sức to lớn trongviệc phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn Là yếu tốthen chốt trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệpnông thôn theo hướng CNH - HĐH cuả nước ta hiện nay

2.2.2 Vai trò của ngành chăn nuôi bò đối với nông hộ

Ngành chăn nuôi bò đang đóng một vai trò hết sức quantrọng đặc biệt là đối với hộ nông dân hiện nay được thểhiện ở các điểm sau:

- Cung cấp thịt: Thịt bò là một loại thực phẩmcao cấp đang dần trở lên thông dụng trong các bữa ăn củacon người ngày nay Trước xu thế chất lượng cuộc sốngđang dần dần được nâng cao thì thịt bò đang là nhu cầuthiết yếu, bởi nó không chỉ chứa nhiều thành phần dinhdưỡng cao như hàm lượng protein, các axit amin, vitamin cầnthiết cho cơ thể con người mà nó còn có giá trị cảm quancao được thị trường tiêu dùng ưa chuộng như màu sắc củathịt, hương thơm, độ mềm, vị ngọt Qua nghiên cứu người

ta đã xác định được thành phần dinh dưỡng và hàm lượngvitamin trong thịt bò và một số vật nuôi khác thể hiện quabảng 2.1

Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng và hàm lượng vitamin

trong thịt bò và một số vật nuôi khácLoa

Vitamin (mg %)

Trang 15

n 42,5 60,9 21,5 16,5 1,10 268 0 3,8 0,09 2,0Gà 72,

5 69,2 7,5 22,4 0,9 162 94 0,15 0,16 8,1Nguồn: [21]

- Chăn nuôi bò cung cấp phân bón và sức kéo chongành trồng trọt: Đây là hai sản phẩm phụ thu được từchăn nuôi bò cần thiết trong sản xuất nông nghiệp Hàngnăm bò cung cấp một lượng phân bón khá lớn phục vụ chotrồng trọt là chủ yếu, đây là nguồn phân hữu cơ giá rẻ màlại rất có hiệu quả trong việc giúp cải tạo đất về lâu dài,giữ cho đất tơi xốp, tăng độ phì trước xu hướng đất ngàycàng có nguy cơ bị chai hóa, bạc màu do bón quá nhiều phânhóa học trên đồng ruộng Hơn thế nữa, việc dùng phânhữu cơ bón cho đồng ruộng đang rất được khuyến khíchhiện nay để đảm bảo xu thế phát triển nông nghiệp bềnvững, bảo vệ tài nguyên đất Việc tận dụng nguồn phânbò đã giải quyết một phần chi phí đáng kể về phân bóncho nông hộ trong sản xuất trồng trọt

- Ngoài phân bón, bò còn cung cấp sức kéo đểchuyên chở đồ đạc, hàng hóa và cày bừa đất Từ xưa, khimáy móc còn chưa phát triển thì nuôi bò để lấy sức càykéo là mục đích chăn nuôi đầu tiên của người nông dân.Hiện nay cũng vậy, đối với một số vùng sản xuất nôngnghiệp thì trâu bò vẫn là phương tiện quan trọng giúpngười dân cày bừa đất, đặc biệt là với khu vực vùng sâuvùng xa khi điều kiện máy móc vẫn còn đắt đỏ thì việcchuyên trở hay cày kéo đều phải dùng đến trâu bò Do vậyviệc phát triển chăn nuôi trâu bò có ý nghĩa quan trọng trongnền sản xuất nông nghiệp nhất là trong ngành trồng trọt

Trang 16

- Chăn nuôi bò còn là một trong những ngành quantrọng giúp giải quyết công ăn việc làm, phát triển kinh tếnông hộ:

Đặc điểm của lao động nông thôn Việt Nam hiện nay đasố mang tính chất mùa vụ, chăn nuôi bò đã góp phần sửdụng hợp lý nguồn lao động nhàn rỗi để tăng thu nhập,nâng cao mức sống cho gia đình đồng thời đây cũng làhướng giải quyết vấn đề việc làm tại chỗ cho người dânnông thôn, hạn chế sức ép gia tăng dân số vào các thànhphố lớn do người dân đi kiếm việc làm, tránh được các tệnạn xã hội có thể phát sinh

Thực tế chăn nuôi bò nói chung hiện nay cho thấy sựlinh động của người nông dân đã biết kết hợp chăn nuôi vớinhiều mục đích khác nhau như nuôi bò lấy thịt, lấy sữa,sức kéo, phân bón làm tăng hiệu quả chăn nuôi của hộ lênrất nhiều và góp phần làm giảm chi phí đầu vào cho ngànhtrồng trọt Phát triển chăn nuôi bò phá vỡ thế độc canhcây lúa, giải quyết công ăn việc làm cho lao động gia đình,tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chấtlượng đời sống cho người dân nông thôn ngày nay

2.2.3 Đặc điểm của ngành chăn nuôi bò

Ngành chăn nuôi bò có từ rất lâu đời, bắt đầu đượcnuôi tại các hộ gia đình với mục đích đầu tiên là khai thácsức kéo Ở mỗi gia đình nông thôn thì trâu bò được xem làtài sản có giá trị nhất và ví như “đầu cơ nghiệp” Ngàynay khi cuộc sống hiện đại hơn, máy móc và cơ giới hóa đãthay thế dần sức kéo của trâu bò Người nuôi bò hướng ranhiều hình thức, không chỉ còn lấy sức kéo như trước màphát triển đàn bò lên nuôi lấy thịt, lấy sữa đặc biệt thịtbò đang là loại thực phẩm đắt tiền nhưng rất được ưachuộng trên thị trường Vì thế để phát triển ngành chănnuôi bò nhất là bò thịt thì cần phải có một thị trường tiêu

Trang 17

thụ ổn định để người nuôi an tâm phát triển ngành chănnuôi bò thịt với quy mô lớn hơn nữa.

Đặc điểm của ngành chăn nuôi bò trong nông thôn ngàynay theo các phương thức truyền thống là chủ yếu, chăndắt và tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp của gia đình.Bò là loại gia súc nhai lại, khẩu phần ăn hàng ngày baogồm phần lớn là cỏ sau đó đến các loại phụ phẩm khác.Đây là những loại thức ăn rẻ tiền, ở nông thôn không cầnmất tiền mua, người dân chỉ phải bỏ công chăn bò là chính.Hơn thế nữa, việc chăn bò có thể huy động được mọinguồn lực lao động của gia đình, từ người già đến trẻ conđều có thể tham gia chăn bò được Mặc dù vậy, nhưngthực tế đặt ra đối với phương thức chăn nuôi bò hiện nay

ở nông thôn vẫn mang tính chất lạc hậu, truyền thống,phần lớn chưa tiếp cận và áp dụng các tiến bộ kỹ thuậtvào chăn nuôi để tăng hiệu quả kinh tế lên, do vậy mà lợinhuận của phương thức nuôi truyền thống không nhữngthấp mà chất lượng thịt và tỷ lệ thịt xẻ chưa cao Mộtyếu tố quan trọng nữa ảnh hưởng đến việc người dânvẫn duy trì phương thức này đó là do nguồn vốn của giađình vẫn còn hạn hẹp, do vậy hình thức chăn nuôi gia đìnhvẫn là chủ yếu và phù hợp với điều kiện hiện nay củacác hộ nông dân nước ta

Dạ dày của bò có bốn túi, nhờ đặc điểm của bộ máytiêu hóa là chủ yếu tiêu thụ chất xơ (dạ cỏ to nhất, chiếm2/3 dung tích dạ dày) nên nó có khả năng ăn tất cả các loạithức ăn thô xơ như rơm lúa, cỏ, thân ngô, lạc, khoai lànhững loại sản phẩm hầu như không có giá trị kinh tếhàng hóa đối với con người, chính vì vậy mà phát triểnchăn nuôi bò hoàn toàn không cạnh tranh lương thực với conngười và các loại động vật khác Ta có thể chăn nuôi bòtốt và phát triển ngành này tốt hơn nữa nếu biết tậndụng khai thác hợp lý các nguồn phụ phẩm nông nghiệp

Trang 18

trong vùng, kết hợp quan tâm đầu tư đúng mức về laođộng cho chăn nuôi bò thì sẽ đảm bảo cho ngành phát triểnbền vững về lâu dài trong tương lai.

Ngoài ra chăn nuôi bò có ý nghĩa về mặt môi trường,việc tận dụng phế phẩm làm thức ăn nuôi bò vừa có lợivề kinh tế vừa chống sự thối giữa gây ô nhiễm, nhất làlượng rơm lúa đốt tại ruộng tăng lên nếu không tận dụngđể nuôi bò sẽ thải vào bầu khí quyền lượng khí CO2

khổng lồ góp phần hủy hoại tầng ôzôn của trái đất [15]

2.2.4 Khái quát tình hình phát triển ngành chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam.

Nước ta với 3/4 diện tích là đồi núi, lúa là cây trồngchủ yếu hàng năm thường cho hai vụ, rơm lúa chắc chắn làkhông thể thiếu bởi ngay bây giờ nhiều nơi (đặc biệt làmiền Trung) vẫn còn tập quán đốt rơm ngay trên ruộng vàrơm khô vẫn được dùng để đun nấu ở nhiều vùng đồngbằng Cỏ tự nhiên nước ta có chất lượng thấp vì chịumột mùa khô, không được tưới lại thêm thiếu phân, thiếucả sự quản lý (chăn thả bừa bãi) dẫn đến xói mòn đất.Cỏ trồng chưa phát triển, mới chỉ bắt đầu ở các vùng nuôibò sữa, thế nhưng nước ta có nhiều loại hoa màu, lượngphụ phẩm lớn quanh năm, đặc biệt cây mía đang được Nhànước chú ý mở rộng diện tích Phụ phẩm của mía (rỉmật, ngọn mía, bã mía ) là nguồn thức ăn quý giá nhấtvà mía lại thường được thu hoạch vào mùa khô lúc thiếucỏ tươi Số lượng đàn bò lớn, tuy chất lượng còn thấpnhưng đang được cải tạo tích cực nhờ sự quan tâm và chỉđạo của Nhà nước Chắc chắn ta phải nghĩ ngay đến việcnuôi bò thịt dựa trên thức ăn thô là phụ phẩm nông nghiệpvà trồng cỏ là cây thức ăn chủ yếu cộng với chế độ đầu

tư chăm sóc thích hợp

Trang 19

Còn có những yếu tố sâu xa làm ta phải chú ý khi chọnhệ thống nuôi Nước ta đất chật người đông (82.032,3nghìn người năm 2004), tỷ lệ gia tăng dân số cao (1,40%), vìvậy mức độ an toàn lương thực chưa thực sự dượcđảm bảo Cần phải chọn hệ thống chăn nuôi gia súc nhưđã nói để tận dụng hết nguồn thức ăn địa phương cósẵn, đồng thời góp phần xây dựng hệ thống nông nghiệpbền vững [11].

2.2.4.1 Số lượng và sự biến động của đàn bò trongnước những năm gần đây

- Trước tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng vớisự đầu tư quan tâm của Nhà nước vào ngành chăn nuôi nóichung và ngành chăn nuôi bò nói riêng, những năm qua ViệtNam vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng của đàn bò kháđồng đều, số lượng bò thống kê được từ năm 1998 -

2004 được thể hiện ở bảng 2.2

Số liệu từ bảng 2.2 cho thấy: Tính đến thời điểm

2004, Bắc Trung Bộ là khu vực có số lượng đàn bò lớnnhất nước chiếm 20,18%, sau đó là Duyên Hải Miền Trungchiếm 18,7% Đây là hai khu vực có đặc điểm thời tiết khíhậu gặp nhiều khó khăn nhất cũng như mức sống củangười dân chưa cao Khu vực Tây Bắc điều kiện đồi núinhiều, diện tích đất rộng có nhiều tiềm năng để pháttriển chăn nuôi bò nhưng đàn bò chỉ chiếm 4,27% thấp nhấttrong cả nước

Bảng 2.2: Số lượng và sự phân bố của đàn bò ở

các vùng kinh tế nước ta

ĐBS

H ĐBB TB BTB DHMT TN ĐNB SCLĐB

1998 456,

8 476,0 150,1 872 925 521,6 421,5 164,3 3.987,3 0.0

Trang 20

Đông Nam Bộ: ĐNB.

Đồng Bằng sông Cửu Long: ĐBSCL

- Tốc độ tăng trưởng đàn bò trong cả nước từnăm 1998 đến năm 2004 khá đồng đều Tuy nhiên giai đoạn

2000 - 2001 đàn bò nước ta không tăng mà còn giảm đi 5,5%,nguyên nhân có lẽ chủ yếu do diện tích đất chăn thả ngàycàng hẹp, các chính sách của nhà nước về giao đất khoánrừng đã làm ảnh hưởng lớn đến số lượng đàn bò cảnước Bên cạnh đó phương thức chăn nuôi chậm đổi mới,chăn thả hoặc thả rông (ở miền Núi) vẫn phổ biến, phụthuộc chặt chẽ vào cỏ tự nhiên dẫn đến tình trạng thụđộng không kịp thích nghi với xu thế phát triển hiện tại, dovậy số lượng bò nước ta bị giảm đi Từ 2002 - 2004, đànbò tiếp tục phát triển bình thường trở lại, tốc độ tăngtrưởng đều đặn, đạt tới 11,7% của năm 2004 so với năm

2003 Điều này có thể lý giải cho sự phát triển của ngànhnuôi bò đã dần dần thích nghi với xu hướng chuyển sang

Trang 21

phương thức chăn nuôi mới, không còn phụ thuộc hoàn toànvào đồng cỏ tự nhiên như trước nữa mà đòi hỏi ngườinông dân phải có cách chăn nuôi đầu tư nhiều hơn so với nuôitận dụng để phù hợp với thực tế hiện nay Đây cũng là

xu thế chung của không chỉ ngành chăn nuôi bò Việt Nam màcòn là của toàn thế giới, nhằm đảm bảo phát triển bềnvững về mọi mặt cho các ngành sản xuất kinh tế

- Hàng năm sản lượng thịt bò nước ta mới chỉdừng lại ở mức cung cấp cho thị trường tiêu dùng nội địamà vẫn chưa đủ đáp ứng được nhu cầu về chất lượngcho những nơi như nhà hàng khách sạn và người tiêu dùngcó thu nhập cao Thịt bò vẫn phải nhập về từ các nướcAustralia, Achentina lên tới hàng trăm tấn và với giá rất caotừ 12 - 15 USD/1kg, tiêu tốn khoảng 6 - 8 triệu USD/năm chonhập khẩu thịt bò từ nước ngoài [8]

Bảng 2.3: Sản lượng thịt bò qua các năm (1998 - 2004)

Sản lượng thịt bò

hơi (tấn) 79,0 88,5 93,82 97,78 102,4 107,5 119,2Tốc độ tăng sản

lượng hàng năm

(%)

12,0

3 6,01 4,22 4,78 4,96 10,83 Nguồn: [19]

Tính riêng năm 2004 nước ta sản xuất được 119,189nghìn tấn, tăng 10,83% so với năm 2003 Năm 1999 lượngthịt bò sản xuất tăng cao nhất đạt 12,03% Theo FAO (2003),mức tiêu thụ thịt bò tính bình quân/đầu người của ViệtNam mới chỉ đạt 1,3 kg/năm, trong khi đó thịt lợn là 17,28 kg/năm, thịt gà là 3,4 kg/năm [5]

Thị trường tiêu thụ thịt bò ở nước ta rất rộng lớn Dovậy, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành chăn nuôi bò lấy thịtđó là không chỉ chú trọng đến việc đẩy nhanh tốc độ pháttriển của đàn bò lớn về mặt quy mô mà còn phải tăng cả

Trang 22

về chất lượng, là điều rất quan trọng hiện nay khi đờisống tiêu dùng có yêu cầu ngày càng cao.

2.2.4.2 Cơ cấu giống bò ở Việt Nam hiện nay

- Bò nội (bò Vàng): Có nguồn gốc từ bò Bostaurus,chiếm khoảng 70 - 72% cơ cấu đàn bò nước ta hiện nay [18],[20] Giống bò này được nuôi chủ yếu để khai thác sứckéo từ rất lâu đời Bò Vàng Việt Nam nhỏ con, năng suấtthấp, khối lượng bò cái khi trưởng thành chỉ đạt 160 - 180kg/con, bò đực đạt 200- 250 kg/con, bê sơ sinh là 12- 14kg/con

- Số còn lại từ 28 - 30% là các giống bò lai Sind vànhòm bò lai Nhiệt đới Zêbu (bao gồm các loại bò như:Sahival, Tharparlcar, Ongol, Nelhor, Hariana, Brahaman ) Chươngtrình Quốc gia về cải tạo đàn bò Vàng do Bộ NN & PTNTphối hợp cùng Ngân hàng Thế giới (từ 1995 - 1998) đã đưatỷ lệ bò lai của Việt Nam từ 12% lên tới 25% sau khi kếtthúc dự án Đây là một bước phát triển quan trọng đểnâng cao chất lượng thịt cho đàn bò, cải tạo dần giống bòVàng chất lượng thấp, làm tăng khả năng tăng trọng vàtầm vóc của bò nội trước kia lên rất nhiều, bò cái ở giaiđoạn trưởng thành đạt 210 - 250 kg/con, bò đực từ 250-

300 kg/con [6], [18]

Ngoài ra, còn có một nhóm bò Lai nhập từ Hà Lanđược chăn nuôi theo hướng lấy sữa, nuôi tập trung ở cácvùng như Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (Hà Tây), Lâm Đồng, HàNội và thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay, nhằm tăng cường cho công tác cải tạo đàn bò,nước ta đã nhập nhiều giống bò cao sản từ nước ngoàivào với hy vọng sẽ tạo ra các thế hệ bò lai cho chấtlượng thịt cao, tăng năng suất chăn nuôi và hiệu quả kinh tếhơn hẳn giống bò nội

2.2.4.3 Nguồn thức ăn và phương thức chăn nuôi

Trang 23

Việt Nam là một nước kinh tế đang phát triển, ngànhsản xuất nông nghiệp chiếm hơn 70%, nguồn phế phụphẩm từ nông nghiệp rất dồi dào cùng với 3/4 diện tíchđất tự nhiên là đồi núi [5], do vậy mà chăn nuôi bò củanước ta theo hướng tận dụng là chính Những loại thức

ăn từ phụ phẩm và cỏ có hàm lượng chất xơ cao, ítprotein nên lượng ăn vào và tỷ lệ tiêu hóa thấp dẫn đếnnăng suất chăn nuôi trâu bò chưa cao, ở dưới mức tiềm năngcó thể khai thác được Diện tích đất có hạn trong khidiện tích bãi chăn thả không ngừng bị thu hẹp cùng với cácchính sách giao đất khoán rừng đã làm mất đi đa số diệntích đất trước kia dùng cho chăn nuôi bò bầy đàn theophương thức thả rông Tình trạng thiếu thức ăn nghiêmtrọng vào mùa khô vẫn xảy ra, một số nơi còn tập quánđốt rơm rạ ngay trên đồng ruộng vừa gây ô nhiễm môitrường, vừa gây lãng phí một lượng thức ăn lớn dùng chochăn nuôi bò, nhất là khi rơm lúa là nguồn thức ăn để dựtrữ quan trọng cho trâu bò Việc cần phải áp dụng mộthình thức chăn nuôi mới phù hợp để phát triển hệ thốngnuôi dưỡng đàn đại gia súc, nhất là đối với bò dựa trênphụ phẩm là một yêu cầu cần thiết để duy trì tốc độphát triển hiện nay cũng như trong tương lai cho ngành chănnuôi bò nước ta

Thực tế đặt ra đối với nguồn thức ăn từ phụ phẩmnông nghiệp cho bò đó là, dù có chế biến các loại thức ănnày theo nhiều hình thức khác nhau thì cũng không đáp ứngđủ nhu cầu dinh dưỡng cho trâu bò vì đó chỉ là chất xơ, cầnbổ sung thêm thức ăn tinh, protein và năng lượng cho gia súcthì mới có thể mong cải thiện nhanh được năng suất vàchất lượng nuôi

Ngành chăn nuôi bò ở nông hộ của nước ta đang tồn tạichủ yếu bốn phương thức sau:

Trang 24

1) Phương thức nuôi thả rông: Là phương thức nuôi đơn

giản, sơ khai nhất của người dân từ xưa tới nay Vớiphương thức chăn nuôi này phụ thuộc hoàn toàn vào lượngthức ăn có được trên bãi đất thả rông, chi phí đầu tư rất

ít, khấu hao chuồng trại hàng năm hầu như không có,người nuôi chỉ phải mất tiền giống, thường là giống bòvàng địa phương vì nó có thể thích nghi trong điều kiệnchăn nuôi này Bò được thả rông hoàn toàn trong rừng hoặccác bãi đất trống, ăn cỏ là chính Người chăn nuôi vài ngàymới lên thăm một lần Phương thức này thường phổ biến

ở các vùng Trung du và miền Núi, những nơi có diện tíchbãi chăn thả lớn Tuy nhiên từ khi Nhà nước có chính sáchgiao đất khoán rừng về cho nông hộ, các quy định cấm thảrông trâu bò được đưa ra, làm cho phương thức chăn nuôi nàykhông còn phù hợp nữa Nuôi thả rông do ít phải đầu tư nênrất có thể lợi nhuận mà nó mang lại cho người chăn nuôicao hơn các phương thức khác, nếu không gặp rủi ro

2) Phương thức nuôi chăn dắt hoàn toàn: Là hình thức

chăn nuôi bò có tiến bộ hơn so với thả rông, người nuôi bòđã đầu tư nhiều công lao động hơn cho việc đi chăn bò.Chuồng trại đa số được xây dựng bán kiên cố Đây làhình thức nuôi khá phổ biến ở đồng bằng và các vùng cóbãi chăn thả hẹp, quy mô nuôi nhỏ, thức ăn của bò chủ yếulà cỏ tự nhiên và một số phụ phẩm tận dụng của giađình Phương thức này thường ít đầu tư thêm thức ăn tinh,chăn nuôi phụ thuộc vào đồng cỏ tự nhiên và nguồn phụphẩm nông nghiệp

3) Phương thức nuôi chăn dắt có bổ sung thức ăn: Đây

là hình thức chăn nuôi truyền thống nhưng tiến bộ hơnnhiều so với hai phương thức trên Người chăn nuôi đã chútrọng đến việc đầu tư thêm thức ăn tại chuồng cho bòngoài việc đầu tư công chăn dắt hàng ngày Thức ăn bổsung thêm cho bò có thể là cỏ tự nhiên (đi cắt), rơm khô,

Trang 25

muối khoáng và một số loại thức ăn tinh rẻ tiền mà giađình tận dụng được như sắn củ, khoai lang So với haiphương thức trên thì kiểu chăn nuôi này được coi là có sựđầu tư tốt hơn trong ba phương thức chăn nuôi truyền thốngcủa nông hộ hiện nay, tuy vẫn có phần lệ thuộc vàonguồn thức ăn tự nhiên Với phương thức chăn nuôi này cóthể lợi nhuận không cao so với hai phương thức chăn nuôitrên, nhưng nó là yếu tố góp phần thay đổi và nâng caochất lượng thịt bò đồng thời giúp tăng trọng nhanh hơn, rútngắn thời gian nuôi thịt Phương thức nuôi chăn dắt có bổsung thức ăn hiện đang áp dụng khá phổ biến tại các nônghộ.

4) Phương thức nuôi bò bán thâm canh: Là phương thức

chăn nuôi được coi là tiến bộ nhất của người nông dânhiện nay Trước xu thế đồng bãi chăn thả ngày càng bị thuhẹp, nguồn thức ăn khan hiếm thì các phương thức chănnuôi truyền thống không còn phù hợp, nuôi bán thâm canhthay thế để duy trì và phát triển ngành chăn nuôi bò thịt.Nuôi bò theo phương thức này đòi hỏi phải áp dụng các tiếnbộ kỹ thuật như giống lai, thức ăn, chế độ chăm sóc đảmbảo, Phương thức nuôi này đang được nhà nước và cácđịa phương hết sức khuyến khích, vì nuôi theo phương thứcnày không những góp phần cải tạo đàn bò nội, nâng caochất lượng giống mà còn làm tăng cao hiệu quả kinh tếchăn nuôi, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng và sốlượng thịt, hướng ra sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầungày càng cao của thị trường tiêu dùng Tuy nhiên muốnchăn nuôi bò thịt theo phương thức này đòi hỏi người chănnuôi phải có vốn đầu tư, cơ sở vật chất đảm bảo, hiểubiết về các tiến bộ kỹ thuật để áp dụng vào sản xuấtchăn nuôi tại hộ mình, có ý chí làm giầu

Ngoài bốn phương thức chăn nuôi chủ yếu trên, còn cónhững hình thức chăn nuôi theo kiểu công nghiệp được đầu

Trang 26

tư thâm canh cao Tuy nhiên hình thức này rất ít, chủ yếu ởcác cơ sở thí nghiệm, những trang trại chăn nuôi với quy môlớn.

2.2.5 Các vấn đề quan tâm và tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt

2.2.5.1 Các vấn đề quan tâm trong phát triển chăn nuôi bòthịt của nước ta giai đoạn hiện nay

Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành nôngnghiệp nói chung, ngành chăn nuôi bò cũng đã đạt đượcnhững tiến bộ nhất định, vượt xa hơn rất nhiều so vớinhững năm trước kia khi chưa thực hiện chương trình Quốcgia về cải tạo đàn bò Tuy nhiên bên cạnh những thành quảấy, ngành chăn nuôi bò thịt của Việt Nam vẫn gặp phảinhững khó khăn và hạn chế cần tiếp tục được quan tâmkhắc phục

Tập quán chăn nuôi của người dân vẫn còn lạc hậu,quy mô nhỏ lẻ, thông thường mỗi nông hộ (nhất là ở đồngbằng) chỉ nuôi khoảng 1 - 2 con, trong đó nuôi với nhiều mụcđích khác nhau chủ yếu là vừa lấy sức kéo vừa lấy thịt.Người nông dân chưa nghĩ nhiều đến việc mở rộng quy mô,hướng chăn nuôi theo sản xuất hàng hóa mà chỉ nhằm tậndụng lượng phụ phẩm sẵn có Chất lượng giống bòVàng Việt Nam thấp, tuy có ưu điểm về khả năng sinh sảntốt, nuôi được trong điều kiện thức ăn kham khổ và chốngchịu tốt với các bệnh ký sinh trùng đường máu nhưngnhược điểm lớn nhất là tầm vóc nhỏ bé, bình quân bòtrưởng thành chỉ đạt 160 - 170 kg/con, tỷ lệ thịt xẻ đạtđược khoảng 30% [14], trong khi đó đối với mức độ tiêudùng trong nước cao như hiện nay thì hoàn toàn không đủkhả năng để đáp ứng Bên cạnh đó các tiến bộ về khoahọc kỹ thuật nhằm phục vụ phát triển chăn nuôi bò vẫnchưa thực sự tiếp cận nhiều đến người dân như thú y,

Trang 27

các tiến bộ về con giống, các kỹ thuật về thức ăn, chếđộ dinh dưỡng cho bò Một điều quan trọng nữa đó làthiếu vốn sản xuất Các hộ gia đình đa số không đủ vốnđầu tư mở rộng quy mô chăn nuôi bò Mặc dù các kênh tíndụng hiện nay phục vụ người dân khá chu đáo và cho vayvốn lãi xuất ưu đãi nhưng họ vẫn không dám mạnh dạnvay vì năng lực hạn chế, chưa hoạch định cho mình mộthướng làm ăn rõ ràng, rất sợ rủi ro và bên cạnh đó là thịtrường tiêu thụ không ổn định

2.2.5.2 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh tếchăn nuôi bò thịt

Từ những khó khăn trên, Nhà nước đã rất chú trọngđến việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp giúp pháttriển ngành chăn nuôi bò thịt Từ những năm 1920, giốngbò Red Sindhi (thường gọi là bò Sind) theo chân người nướcngoài du nhập vào Việt Nam, được nuôi ở các đồn điền, cómàu nâu cánh gián, tầm vóc to, yếm dài nên người dân rất

ưa thích Một số nơi thấy xuất hiện bò Ongole Việc laitạo giữa bò Sind với bò vàng Việt Nam tự xuất hiệnnhưng mới chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ Đến năm 1960,

1970 ta mới tiến hành theo dõi có hệ thống các thí nghiệmtrên đàn bò Sind, kết quả mang lại rất khả quan và tạotiền đề cho các phong trào lai giống bò nội với giống Sindhay giống Zêbu khác Khối lượng bò lai tăng 30 - 35%, khảnăng cho thịt tăng 5 - 8% và sức kéo tăng 1,2 lần Việcnghiên cứu cải tiến bò Vàng Việt Nam đã mang lại hiệuquả kinh tế và xã hội rất lớn [14] Trong điều kiện hiệnnay, việc nâng cao năng suất bò thịt nhằm mục đích tănghiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi đi theo ba hướng:

1) Lai kinh tế giữa bò lai Zêbu với bò đực hướng thịt

ôn đới: Công tác “Zêbu hóa” bước đầu giải quyết được sức

kéo và tạo đàn nền cho việc lai tạo tiếp Bò lai Zêbu mớichỉ tăng khối lượng thịt xẻ khoảng 5% so với bò nội Trên

Trang 28

cơ sở đàn cái nền lai Zêbu tiến hành lai kinh tế với bò thịtchuyên dụng nhằm tăng khối lượng thịt Qua nghiên cứunhiều tổ hợp lai giữa bò cái lai Sind với bò đực các giốngZêbu (đối chứng) ở một số trại trong điều kiện chăn thảbình thường và nuôi với điều kiện bổ sung thức ăn thuđược kết quả như sau: Bò lai có máu ngoại chuyên thịtthể hiện ưu thế lai rõ rệt và có khối lượng cao hơn cặplai đối chứng lên tới 48,7 - 61,5 kg/con trong cùng lứa tuổi Việc so sánh các con lai trong điều kiện nuôi dưỡng đại tràđược tiến hành có hiệu quả [14].

2) Vỗ béo bò lai Zêbu từ 21 - 24 tháng tuổi: Các thí

nghiệm tiến hành mang lại kết quả: Bổ sung 1,4 kg thức

ăn tinh hỗn hợp/con/ngày với năng lượng 2800Kcal và 10%protein thô/kg thức ăn tinh giúp tăng trọng khá (đạt397g/ngày) Một thí nghiệm khác nuôi trong điều kiện đạitrà chỉ bổ sung 10kg cỏ tươi vào ban đêm sẽ cho tăng trọng300/kg so với đối chứng là 150g/ngày Việc bổ sung thức

ăn tinh cần tính toán kỹ để mang lại hiệu quả cao và cólợi nhất cho người chăn nuôi [14]

3) Nuôi bê đực hướng sữa để lấy thịt: Hầu hết các

nước trên thế giới khai thác thịt bò từ đàn bò sinh sảnhướng thịt, tuy nhiên ở nhiều nước châu Âu việc sản xuấtthịt bò từ các con bê hướng sữa được chấp nhận và pháttriển Lượng thịt có từ nguồn gốc bê hướng sữa chiếmgần 40% tổng lượng thịt bò ở Anh Ở nhiều nước việcnuôi bê đực hướng sữa là phổ biến vì chúng tăng trọngnhanh và có hiệu quả kinh tế cao Theo kết quả thí nghiệmcủa Viện Chăn nuôi Quốc gia khảo sát nuôi bê đực 3/4 máuHolstein trên cơ sở nuôi với lượng sữa thấp 200kg trong 60ngày và thức ăn hỗn hợp có hàm lượng đạm từ 15 - 17%nhận thấy bê đực phát triển tốt, 3 tháng cuối vỗ béo

tăng khối lượng hơi được 47,2kg Hiện tổng đàn bò sữa

của nước ta còn ít nên lượng bê đực lai chưa nhiều Trong

Trang 29

tương lai, cùng với sự phát triển của đàn bò sữa, bê laiđực sẽ đóng góp đáng kể vào công nghiệp sản xuất bòthịt và cung cấp một tỷ lệ nhất định thịt bò cho nhu cầuxã hội [14].

Tóm lại qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều biện phápkhác nhau có thể ứng dụng nhằm nâng cao khả năng chothịt của bò Đây cũng là những ứng dụng cần thiết đểnâng cao chất lượng sản phẩm thịt bò trong nước, đáp ứngsố lượng thịt bò chất lượng cao phục vụ nhà hàng kháchsạn và nhu cầu tiêu dùng chung của xã hội ngày càng cao

Trang 30

Phần 3

ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểmcủa khu vực Bắc Miền Trung Nằm trong tọa độ địa lý từ

16 - 16,80 vĩ Bắc và 107,8 - 108,20 kinh Đông Phía Bắc giáptỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Tâygiáp nước CHND Lào, phía Đông giáp biển Đông

Diện tích đất tự nhiên là 5.053,99 km2, dân số trungbình năm 2004 là 1.119.816 người Mật độ dân số là 222người/km2 Về tổ chức hành chính bao gồm 8 huyện vàthành phố Huế với 122 xã, 28 phường, thị trấn [3] ThừaThiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên BắcNam, trục hành lang Đông Tây nối giữa Thái Lan, Lào,Myanmar và Việt Nam theo đường 49 và qua cửa khẩu HồngVân thuộc huyện Alưới Tỉnh còn là trung tâm văn hóa, dulịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của cả nước vàlà điểm phát triển kinh tế quan trọng của vùng kinh tếtrọng điểm miền Trung

Thừa Thiên Huế có chiều dài bờ biển là 128 km, cócảng nước sâu Chân Mây (khánh thành năm 2003), cảng biểnThuận An và cảng hàng không Quốc gia Phú Bài nằm dọctheo quốc lộ 1A, tuyến đường sắt xuyên Việt chạy dọctheo tỉnh và 81 km biên giới với Lào [16] Với điều kiện vị tríđịa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát

Trang 31

triển sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu kinh tế, xã hộivới các tỉnh thành trong cả nước và quốc tế

3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết

Thừa Thiên Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùamang tính chất chuyển tiếp từ Á xích đới lên đới chí tuyếngió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp

Trang 33

giữa miền Bắc và miền Nam nước ta, nhiệt độ trung bìnhvà độ ẩm tương đối là 250C và 87% so với cả nước [4].Diễn biến khí hậu thời tiết của tỉnh vào các tháng trongnăm được thể hiện ở bảng 3.1.

- Mùa mưa trùng với mùa Đông: Do nằm trongđới khí hậu nhiệt đới gió mùa kết hợp với chế độ mưatheo mùa đã tạo cho Thừa Thiên Huế một mùa Đông đặcthù vừa lạnh vừa ẩm ướt Mùa mưa cũng trùng với mùabão lớn từ tháng 8 đến tháng 11 (chiếm 78,34% lượng mưacả năm), lượng mưa trung bình cao nhất năm 2004 rơi vàotháng 11 tới 1526,6 mm Do lượng mưa tập trung nhiều vềmột vài tháng nên thường gây ra lũ lụt và ngập úng nghiêmtrọng Mùa mưa ẩm độ thường cao, lên tới 90 - 92%

- Mùa khô: Kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7.Thời gian này lượng mưa thấp nhất trong năm (chiếm 3,1%)lượng mưa cả năm, lượng nước bốc hơi lớn, thường xuyên

bị hạn hán do nhiệt độ cao (nhất là vào tháng 5, 6,7 lên tới38,50C), ẩm độ thấp (80% vào tháng 6) Do Thừa Thiên Huếgiáp với biển nên vào mùa khô thường bị nước mặn đedọa

Sự thất thường của khí hậu thời tiết là một trongnhững khó khăn cho các ngành sản xuất kinh tế của tỉnh nóichung và của ngành chăn nuôi bò nói riêng, nhất là vào thờiđiểm lũ lụt và khô hạn đã gây thiếu nghiêm trọng nguồnthức ăn cho bò Đây là một trong những nguyên nhân quantrọng dẫn đến xu hướng đàn bò của tỉnh tăng chậm Từnhững điều kiện bất lợi mà thời tiết mang lại, cần thiếtphải xây dựng các công trình thủy lợi, trồng rừng đầunguồn để giữ nước, chống lũ lụt, xói mòn đất, chốngnhiễm mặn đất vào mùa khô đồng thời lựa chọn cácngành nghề mũi nhọn phù hợp, bố trí cơ cấu mùa vụ, câytrồng vật nuôi hợp lý để duy trì sự phát triển kinh tế xã

Trang 34

hội của tỉnh mà vẫn đạt cả ba hiệu quả về kinh tế, xãhội và môi trường.

3.1.1.3 Một số đặc điểm về địa hình của hai tiểuvùng nghiên cứu

- Vùng Núi: Phía Tây là một đoạn của dãy Trường Sơn

đi qua địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế, vùng này bao gồmnhững dãy núi cao liên tiếp khoảng từ 500 - 1000m, trong đócó những đỉnh núi cao như Động Pho (1.436m, nằm sát biêngiới), Động Ngại (1.774m), nằm sâu vào trong lãnh thổnước ta Thung lũng Alưới nằm gọn trong vùng này với độcao trên 500m và có chế độ khí hậu Tây Trường Sơn khácvới đại bộ phận của tỉnh ở Đông Trường Sơn Ở phía Nam,dãy Bạch Mã xuất phát từ dãy Trường Sơn đâm ra biển vớinhững đỉnh cao trên 1000m như Động Ruy (1.220m), Bạch Mã(1.444m), Núi Mang (1.780m), núi Atine (1.318m) Trong vùngnúi phía Nam có thung lũng Nam Đông với độ cao khoảng150m, vùng Núi có độ dốc bình quân 350, nhiều nơi có địahình hiểm trở [16]

- Vùng Trung du gò đồi: Là vùng tiếp giáp giữa vùngNúi và vùng Đồng bằng Vùng này bao gồm những dãyđồi lượn sóng, bát úp, độ cao từ 300m trở xuống, độ dốcbình quân từ 150 - 250, đây là vùng có nhiều đồi trọc, phầncòn lại chủ yếu là đất rừng [16]

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai

Tình hình sử dụng đất của tỉnh Thừa Thiên Huế trongnăm 2004 được thể hiện qua bảng 3.2

Bảng 3.2: Quy mô, cơ cấu đất đai tỉnh Thừa Thiên Huế (năm 2004)

St

t Các loại đất Diện tích(ha) Cơ cấu (%)Tổng diện tích đất tự

Trang 36

địa bàn tiềm năng cho việc phân bố các cơ sở công nghiệpmới

3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động

Thừa Thiên Huế bao gồm nhiều dân tộc chung sốngtrong cộng đồng Dân số trung bình năm 2004 là 1.119.816người, với 549.108 nam (chiếm 49,03%) và 570.780 nữ(chiếm 50,94%) Dân số thành thị chiếm 31,25% so với nôngthôn là 68,75% Tình hình dân số và lao động của tỉnh đượcthể hiện qua bảng 3.3

Bảng 3.3: Tình hình dân số và lao động của tỉnh ThừaThiên Huế và một số huyện Trung du, miền Núi (2004)

tỉnh ĐôngNam Alưới PhongĐiền

Trang 37

Núi Nguồn lao động năm 2004 là 701.128 người, chiếm62,1% dân số toàn tỉnh Chất lượng lao động nguồn laođộng còn thấp, số lao động không có trình độ chuyên mônchiếm tỷ lệ khá cao khoảng 73% tổng số lao động tỉnh [3].Tỷ lệ gia tự nhiên cao, cả tỉnh là 1,36%, hai huyện miềnNúi Nam Đông và Alưới là 1,5 và 1,49%, Phong Điền là 1.33%.Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm giáo dục vàđào tạo có quy mô lớn nhất của nước ta, với 9 trường đạihọc và cao đẳng, 5 trường trung học chuyên nghiệp, 11trung tâm nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội Hàngnăm các trường đại học của tỉnh thu nhận hơn 4000 sinhviên trong cả nước, với đủ các ngành nghề đào tạo [3] Đâylà một thuận lợi lớn của tỉnh trong việc nâng cao chấtlượng nguồn lao động trong thời gian tới.

3.1.2.3 Tình hình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

1) Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Diện tích cây lương thực của Thừa Thiên Huế năm 2004được mở rộng ra tới 64.221 ha, trong đó diện tích đất lúahai vụ là 51316 ha (chiếm 79,9%) Đất lúa tập trung chủyếu ở vùng đồng bằng, vùng Trung du và miền Núi chỉchiếm một phần diện tích nhỏ đất lúa một vụ còn lại đasố trồng các loại cây lương thực khác như sắn, ngô,khoai Do điều kiện địa hình khu vực Trung du và miềnNúi cao, không chủ động được nước tưới mà chỉ dựa vàonước trời nên rất bất lợi cho việc sản xuất các cây nôngnghiệp Diện tích và năng suất một số loại cây trồngchính được thể hiện ở bảng 3.4

Bảng 3.4: Tình hình sản xuất một số cây nông nghiệp

chính của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2004

đậuDiện

Trang 38

Sản

lượng Tấn/năm 246.490 4.226 22.644 68.406 41.097Nguồn: [3]

Theo nguồn thống kê, sản lượng lương thực có hạtước tính đạt 250.737 tấn, trong đó thóc là 246.490 tấn.Bình quân lương thực đầu người là 223,9 kg/năm trong đóthóc là 220,1 kg/năm Thừa Thiên Huế là một khu vực địalý không được thiên nhiên ưu đãi về mặt khí hậu thời tiếtđã gây cản trở rất nhiều đến ngành sản xuất nông nghiệpđặc biệt là ngành trồng trọt So với cả nước, bình quânlương thực đầu người của tỉnh Thừa Thiên Huế còn thấphơn rất nhiều là 255,5 kg/năm (lương thực bình quân đầungười cả nước năm 2004 là 479,4 kg) [19], một số nơi thuộcvùng núi, nhất là khu vực người dân tộc sinh sống tìnhtrạng thiếu lương thực diễn ra phổ biến Tuy vậy, sựphát triển của khoa học kỹ thuật cũng đang tác độngmạnh mẽ đến nền sản xuất nông nghiệp, nâng cao trìnhđộ thâm canh của con người và làm tăng năng suất câytrồng cao hơn những năm trước rất nhiều Cụ thể so vớinăm 2003 năng suất lúa chỉ đạt 45,6 tạ/ha, năm 2004 đã tănglên 48 tạ/ha, năng suất sắn cũng tăng từ 103,1 tạ/ha lên 115tạ/ha năm 2004, còn ngô tăng từ 29,1 tạ/ha đến 30,6 tạ/ha[3]

Bên cạnh việc tăng năng suất các loại cây trồng, diệntích các loại cây này cũng được mở rộng nhờ tận dụngdiện tích đất chưa sử dụng để đưa vào canh tác Đối vớingành chăn nuôi bò, các phụ phẩm từ cây trồng là nguồnthức ăn rất dồi dào và quan trọng trong việc làm thức ăndự trữ về mùa mưa rét, khi nguồn cỏ tự nhiên bị thiếu.Ngoài ra còn có các loại cây công nghiệp ngắn ngày nhưlạc với 4675 ha, mía 212 ha, đều là những cây mang lạinguồn phụ phẩm đáng kể phục vụ chăn nuôi bò

Trang 39

2) Chăn nuôi

Trong những năm qua, do qúa trình chuyển dịch cơ cấukinh tế, ngành chăn nuôi Thừa Thiên Huế phát triển ngàycàng hoàn thiện hơn, hình thức chăn nuôi vẫn chủ yếu trongphạm vi nông hộ là chính và hình thức này đang rất pháttriển khi trình độ của người dân ngày càng được nâng cao Năm 2004, thu nhập từ riêng ngành chăn nuôi đạt 232.322triệu đồng chiếm 26,71 % trong tổng thu nhập của ngànhnông nghiệp Cùng với việc quan tâm đầu tư cho ngành chănnuôi của nhà nước, Thừa Thiên Huế đã có những chính sáchnhằm phát triển nâng cao hơn nữa hiệu quả chăn nuôi chotỉnh nhà, triển khai các chương trình “nạc hóa đàn lợn”,

“cải tạo đàn bò” nâng cao chất lượng giống các loại vậtnuôi, giúp người chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Cơsở hạ tầng và hệ thống các dịch vụ phục vụ cho ngànhchăn nuôi thú y cũng được chú trọng đầu tư xây dựng kịpthời Mạng lưới khuyến nông tỉnh hoạt động có hiệu quả,các cán bộ được bồi dưỡng kiến thức và nâng cao trìnhđộ tay nghề Bên cạnh đó tỉnh còn có lợi thế có nhiềudự án phát triển nông thôn và trường Đại học Nôngnghiệp đóng góp vai trò quan trọng trong việc cải tạo chấtlượng giống vật nuôi và giúp người dân tiếp cận vớinhững tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi Tình hình pháttriển đàn gia súc, gia cầm trong những năm gần đây đượcthể hiện qua bảng 3.5

Tình hình sản xuất từng loại vật nuôi của tỉnh có thểđược khái quát như sau:

a) Tình hình phát triển chăn nuôi trâu bò:

Kết quả thống kê bảng 3.5 cho thấy, từ năm 2000 đến

2004 số lượng đàn trâu bò có nhiều biến động Đáng chú

ý nhất là giai đoạn 2000 - 2001, tốc độ đàn trâu bò giảmnhanh: 16,1%, từ 54.257 con trâu bò giảm còn 45.546 con Sau

Trang 40

đó tốc độ tăng chậm trở lại từ năm 2002 tới nay Nguyênnhân chủ yếu dẫn đến số lượng đàn trâu bò bị giảm là dodiện tích đất chăn thả ngày càng bị thu hẹp nhanh, cùngvới sự bất lợi về khí hậu thời tiết của tỉnh, một năm cóhai giai đoạn gây thiếu nghiêm trọng nguồn thức ăn tựnhiên đó là mùa mưa lũ và mùa nắng hạn Mùa mưa thờitiết vừa lạnh vừa ẩm ướt dễ làm bò bị bệnh và khôngchịu được rét, nên có năm bị chết hàng loạt Aính hưởngcủa thị trường tiêu thụ không ổn định cũng là một nguyênnhân quan trọng khiến người dân đang nuôi không muốn mởrộng quy mô hoặc ngừng nuôi bò vì sợ khó tiêu thụ sảnphẩm.

Bảng 3.5: Tình hình phát triển của đàn gia súc, gia

cầm tại Thừa Thiên Huế

(từ 2000 - 2004)ST

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6]. Dự án “Cải tiến nâng cao chất lượng giống bò Việt Nam” , Hợp phần nhân giống và quản lý giống bò thịt giai đoạn 2006 - 2010, Viện Chăn nuôi, Bộ Nông Nghiệp & PTNT, Hà Nội, T8/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến nâng cao chất lượng giống bò Việt Nam
[1]. Lê Văn An, Phương pháp nghiên cứu Nông thôn , Trường ĐH Nông Lâm Huế, 2005 Khác
[2]. Chi cục Thú y Thừa Thiên Huế, Báo cáo tình hình công tác thú y năm 2004 , Huế, 2005 Khác
[3]. Cục Thống kê Thừa Thiên Huế, Niên giám thống kê năm 2004 , Huế, 2005 Khác
[4]. Đài Khí tượng Thủy văn Thừa Thiên Huế, Báo cáo của trạm khí tượng Thừa Thiên Huế năm 2004, Huế, 2005 Khác
[5]. Lê Đăng Đảnh, Một số nét về sự phát triển đàn bò hướng thịt Việt Nam , Báo cáo hội thảo chuyên đề công nghệ chăn nuôi bò thịt, Đà Nẵng, T8/2000 Khác
[8]. Hồ Mộng Hải, Sự phát triển đàn bò thịt ở Việt Nam và một số định hướng phát triển của Bộ Nông Nghiệp & PTNT , Báo cáo hội thảo chuyên đề công nghệ chăn nuôi bò thịt, Đà Nẵng, T8/2000 Khác
[9]. Hoàng Hữu Hòa, Phân tích số liệu thống kê , Huế, 2001, 39 -57 Khác
[10]. Nguyễn Cảnh Khâm, Nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân ở các vùng sinh thái nước ta , Kết quả nghiên cứu khoa học 1986 -1996, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1997, 202 - 207 Khác
[11]. Lê Viết Ly (chủ biên), Nuôi bò thịt và những kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt Nam , Viện Chăn nuôi Quốc gia, NXB NN, Hà Nội, 1995 Khác
[12]. Nguyễn Tiến Mạnh, Hiệu quả kinh tế ứng dụng kỹ thuật tiến vào sản xuất cây lương thực và thực phẩm , NXB NN, Haỡ Nọỹi, 1995 Khác
[14]. Đỗ Hữu Phương, Nâng cao năng suất và chất lượng của đàn bò thịt trong nước , Tạp chí Khuyến Nông Việt Nam, số 1, 2002 Khác
[15]. Hoàng Mạnh Quân, Một số giải pháp kinh tế, kỹ thuật chủ yếu phát triển chăn nuôi bò ở hộ nông dân tỉnh Quảng Bình , Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Nông Nghiệp I, Hà Nội, 2001 Khác
[16]. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tổng hợp rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2002 , Huế, 2002 Khác
[17]. Đặng Trần Tính, Tiểu dự án khuyến nông chăn nuôi phục vụ chương trình cải tảo âaìn boì , Tạp chí Chăn Nuôi, số 2 (29), 2000, 8 - 11 Khác
[18]. Nguyễn Văn Thưởng, Kỹ thuật chăn nuôi bò sữa - thịt ở gia đình , NXB NN, Hà Nọỹi 1999, 41 - 53 Khác
[19]. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê Việt Nam năm 2004 , NXB TK, Hà Nọỹi, 2005 Khác
[20]. Nguyễn Đăng Vang, Tình hình phát triển chăn nuôi Việt Nam, triển vọng và thách thức trong thời gian tới (đến năm 2010) , báo cáo của viện chăn nuôi, Haỡ Nọỹi, T10/2002 Khác
[21]. John Wiley & Sons, Reef cattle, University of Illinois, New York, Toronto Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2:  Số lượng và sự phân bố của đàn bò ở các vùng kinh tế nước   ta - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.2 Số lượng và sự phân bố của đàn bò ở các vùng kinh tế nước ta (Trang 14)
Bảng 3.3:  Tình hình dân số và lao động của tỉnh Thừa Thiên Huế  và một số huyện Trung du, miền Núi (2004) - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của tỉnh Thừa Thiên Huế và một số huyện Trung du, miền Núi (2004) (Trang 27)
Bảng 3.5:  Tình hình phát triển của đàn gia súc, gia cầm tại Thừa   Thiên Huế - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.5 Tình hình phát triển của đàn gia súc, gia cầm tại Thừa Thiên Huế (Trang 30)
Bảng 3.6:  Một số thông tin cơ bản về các xã điều tra (2005) - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.6 Một số thông tin cơ bản về các xã điều tra (2005) (Trang 33)
Bảng 3.7:  Số lượng mẫu điều tra tại hai vùng sinh thái - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.7 Số lượng mẫu điều tra tại hai vùng sinh thái (Trang 37)
Bảng 4.1:  Số lượng và tốc độ phát triển của đàn bò tỉnh Thừa Thiên   Huế - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.1 Số lượng và tốc độ phát triển của đàn bò tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 40)
Bảng 4.2:  Diện tích một số loại cây trồng có phụ phẩm làm thức ăn   cho boì - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.2 Diện tích một số loại cây trồng có phụ phẩm làm thức ăn cho boì (Trang 42)
Bảng 4.4:  Quy mô nuôi bò thịt tại các nông hộ điều tra - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.4 Quy mô nuôi bò thịt tại các nông hộ điều tra (Trang 44)
Bảng 4.5:  Tình hình sử dụng các loại thức ăn cho bò của hộ                                                                                       Đvt: % (hộ điều tra) Loại thức ăn Vuỡng Nuùi (n = 41) Vuìng Trung du (n = 39) - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.5 Tình hình sử dụng các loại thức ăn cho bò của hộ Đvt: % (hộ điều tra) Loại thức ăn Vuỡng Nuùi (n = 41) Vuìng Trung du (n = 39) (Trang 46)
Bảng 4.6:  Tình hình chăm sóc và nuôi dưỡng bò tại các nông hộ                                                                                                                       Âvt:  % - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.6 Tình hình chăm sóc và nuôi dưỡng bò tại các nông hộ Âvt: % (Trang 47)
Bảng 4.7: Thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.7 Thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ (Trang 48)
Bảng 4.8: Tình hình về thị trường tiêu thụ bò tại các nông hộ điều tra                                                                                                    Âvt:  % - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.8 Tình hình về thị trường tiêu thụ bò tại các nông hộ điều tra Âvt: % (Trang 50)
Bảng 4.12:  Kết quả và hiệu quả chăn nuôi theo hai vùng sinh thái   (bỗnh quỏn/họỹ/nàm) - đánh giá hiệu quả kinh tế các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nông hộ tại hai vùng sinh thái trung du và miền núi tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.12 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi theo hai vùng sinh thái (bỗnh quỏn/họỹ/nàm) (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w