Có được những thành tựu này là nhờ sự quan tâm của Đảng; Nhà Nước và mộtnhân tố quan trong góp phần không nhỏ trong việc phát triển nông nghiệp nước nhà đó là các tiến bộ khoa học kỹ thu
Trang 1Hiện nay, song song với sự phát triển của các ngành công nghiệp thì nôngnghiệp cũng có những bước tiến khá xa so với những thập kỉ trước Để có được sự thayđổi đó, khoa học công nghệ là yếu tố quyết định hàng đầu Thực tiễn cho thấy nhiềunước trên thế giới đã ứng dụng rất thành công những thành tựu của công nghệ sinh họcvào sản xuất nông nghiệp: ứng dụng của di truyền, đã tạo ra nhiều giống mới có năngsuất cao hơn, phẩm chất tốt hơn, khả năng chống chịu sâu bệnh cao hơn, mẫu mã đẹp,
đa dạng hơn và phù hợp với thị hiếu của con người Khoa học công nghệ đã hạn chế rấtnhiều sự phụ thuộc của nông nghiệp vào điều kiện bất lợi của môi trường: người ta cóthể trồng rau thủy canh trong môi trường không cần đất hay ở các nước ôn đới vào mùađông, người ta có thể trồng các loại rau, củ trong lồng kính khi không thể canh tácngoài đồng vì nhiệt độ quá thấp Có thể nói: khoa học công nghệ là yếu tố then chốtquyết định mọi thành công Nó đã khắc phục một phần yếu tố ảnh hưởng bất lợi đếnsản xuất nông nghiệp, mang lại giá trị thu nhập từ nông nghiệp ngày càng cao Và nôngnghiệp ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các nước trên thếgiới
Việt Nam là nước nông nghiệp, hơn 75% dân số ở nông thôn và khoảng 70%dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp chiếm khoảng 20%
tỉ trọng cơ cấu thu nhập từ các ngành kinh tế quốc dân
Đây là ngành kinh tế quan trong của đất nước vì nó đã đảm bảo được an ninhlương thực quốc gia Trong thời gian qua, nông nghiệp việt nam đã có những bước tiếnmạnh mẽ: Từ một nước phải nhập khẩu lúa gạo đến nay đã vươn lên đứng thứ 2 trên
Trang 2thế giới (sau Thái Lan) Không chỉ dừng lại ở đó ,Việt Nam còn nổi tiếng trên thế giới
về xuất khẩu tiêu, xuất khẩu café, hạt điều… Những hàng hóa nông sản này đã có uytín trên thị trường thế giới và được người tiêu dùng ưa chuộng từ nhiều năm nay Đây
là điều kiện tốt để nông nghiệp Việt Nam phát triển mạnh hơn trong xu thế hòa nhậpkinh tế toàn cầu hiện nay
Có được những thành tựu này là nhờ sự quan tâm của Đảng; Nhà Nước và mộtnhân tố quan trong góp phần không nhỏ trong việc phát triển nông nghiệp nước nhà đó
là các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất.Trong những thập kỉ qua, đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp: nghiên cứutạo các giống lúa lai, ngô lai, đậu tương… năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốtvới sâu bệnh… hay những nghiên cứu về áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất nôngnghiệp nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm của cây trồng, vậtnuôi…Những nghiên cứu đó đã được thử nghiệm và từng bước đưa vào ứng dụng ởnhiều vùng sản xuất trên cả nước
Để những tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân một cách có hiệu quả thìvai trò của người cán bộ chuyển giao là quan trọng Một trong những cách chuyển giaotiến bộ khoa học kỹ thuật có hiệu quả nhất đó là xây dựng các mô hình trình diễn.Trong những năm gần đây, có rất nhiều mô hình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất đã đựợc triển khai hầu hết các tỉnh và thành phố trên cả nước nhằm phục vụcho chiến lược ổn định và phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực cho quốcgia, phục vụ cho mục tiêu sản xuất hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu
Tuy nhiên không phải mô hình nào cũng phù hợp với điều kiện địa phương mà
có những mô hình thành công được nhân rộng và có những mô hình thất bại khôngđược ứng dụng rông rãi
Bình Định là một tỉnh nằm trong dải đất miền trung, dân cư phần lớn sống phụthuộc vào nông nghiệp nên đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn: nôngnghiệp của tỉnh vẫn còn kém phát triển so với nhiều vùng trên cả nước Hàng năm, tỉnhđược sự hỗ trợ lớn về phía nhà nước để phát triển nông nghiệp, ổn định đời sống ngườidân Trung tâm khuyến nông tỉnh đã và đang triển khai các mô hình trình diễn củaTrung ương và địa phương hầu hết trên địa bàn các huyện: Mô hình cánh đồng
Trang 350 triệu/ha/năm, mô hình đưa giống mới vào sản xuất, mô hình chăn nuôi công nghệcao, mô hình trồng rau sạch….
Phù Cát cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh Bình Định, với dân số chủyếu sống ở nông thôn (trên 85%) và sống phụ thuộc vào nông nghiệp rất lớn (trên80%), nhưng nông nghiệp Phù Cát vẫn còn lạc hậu, manh mún, nhỏ lẻ,… khả năng ứngdụng tiến bộ kỹ thuật của người dân vào sản xuất còn thấp Trong những năm qua đã
có rất nhiều mô hình đã triển khai thực hiện trên địa bàn huyện, do Trung tâm khuyếnnông, do Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật Duyên hải Nam Trung Bộ, và nhiều cơquan, tổ chức khác chủ quản Trong quá trình thực hiện không phải mô hình nào cũngđạt kết quả như mong đợi, có mô hình thành công, có mô hình thất bại, có mô hìnhnhân rộng nhanh, có mô hình nhân rộng chậm hoặc không nhân rộng được… Vì vậycần có những đánh giá hiệu quả các mô hình đã được áp dụng để rút ra nhưng bài họckinh nghiệm và những giải pháp để thực hiện mô hình tốt hơn
Xuất phát từ thực tế nói trên, được sự nhất trí của khoa KN&PTNT và sự giúp
đỡ của GVHD, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số môhình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cát – tỉnh Bình Định trong 3 năm2005-2007”
1.2 MỤC TIÊU
1 Đánh giá hiệu quả một số mô hình sản xuất nông nghiệp đã triển khai trên địa bànhuyện Phù Cát từ năm 2005-2007
2 Rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp để thực hiện mô hình tốt hơn
3 Khuyến cáo nhân rộng đối với những mô hình thành công
Trang 4PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT TIẾN BỘ TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
2.1.1 Chuyển giao kỹ thuật tiến bộ (KTTB) trong nông nghiệp và nông thôn
2.1.1.1 Các khái niệm
Có nhiều định nghĩa về chuyển giao TBKT
Theo Swanson và Cloor (1994) thì chuyển giao TBKT hay công nghệ là mộtquá trình tiếp diễn nhằm tiếp cận và thông tin có ích cho con người và từ đó giúp đỡ họtiếp thu những kiến thức, kỹ năng và quan điểm cần thiết để sử dụng có hiệu quả lượngthông tin hoặc công nghệ đó
Maunder (FAO,1973) thì cho rằng đó là một dịch vụ hay hệ thống nhằm thôngqua các thông các phương thức đào tạo, giúp đỡ những người công dân cải thiện cácphương pháp kỹ thuật canh tác, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, tăng mức sống vànâng cao trình độ giáo dục xã hội của cuộc sống nông thôn [2]
[1] Có một số quan điểm cho rằng: Chuyển giao TBKT và chuyển giao KTTB
là như nhau Nhưng theo Đỗ Kim Chung thì : Danh từ TBKT mang tính trừu tượng vàbao quát TBKT thể hiện những nét mới và “tiến bộ” của một yếu tố nào đó nhưngchưa thật đồng bộ, chưa thật khả thi ở thực tiễn sản xuất, nhất là bên ngoài cơ quannghiên cứu Theo ông, nếu nói chuyển giao một yếu tố TBKT là chưa chuẩn xác, vìchuyển giao TBKT tức là chuyển giao một yếu tố kỹ thuật nào đó chưa đồng bộ chưahoàn thiện, chưa kiểm định tính thích nghi về sinh thái, kinh tế và xã hội của yếu tố kỹthuật đó ở đồng ruộng của nông dân Do nhận thức chưa thật đầy đủ khái niệm này nênmột số địa phương đã không thành công trong chuyển giao kỹ thuật trong nông nghiệp.Cũng theo Đỗ Kim Chung thì chuyển giao KTTB là quá trình đưa các KTTB đã đượckhẳng định là đúng đắn trong thực tiễn và áp dụng trên diện rộng để đáp ứng nhu cầucủa sản xuất và đời sống con người (thông thường quá trình phát triển kỹ thuật và côngnghệ bao gồm các hoạt nghiên cứu, chuyển giao thử nghiệm và chuyển giao ở diệnrộng)
KTTB trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định là phù hợp và khảthi về sinh thái, kinh tế và xã hội trên đồng ruộng của nông dân, góp phần nâng cao
Trang 5hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển bền vững
về kinh tế xã hội và môi trường trong nông nghiệp và nông thôn Tính từ “tiến bộ” ởđay thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với kỹ thuật hiện có KTTB góp phần nângcao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cải thiện đời sống của nông dân và cưdân nông thôn KTTB mang tính tiến bộ và phải phù hợp với nhu cầu của địa bànchuyển giao Theo các tác giả Nguyễn Văn Thu và Bùi Mạnh Hải (2001) thì khả năngứng dụng và phổ cập của một tiến bộ kỹ thuật phụ thuộc vào “sức đẩy của công nghệ”
và “sức kéo theo nhu cầu” vì thế nên khi lựa chọn KTTB để chuyển giao không nhữngphải xem xét tính “tiến bộ” mà quan trọng hơn phải làm rõ được “nhu cầu” của địa bàn
sẽ tiếp thu công nghệ
2.1.1.2 Mục đích của chuyển giao KTTB
Công tác chuyển giao KTTB nhằm giúp nông dân có khả năng tự giải quyết cácvấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất để nâng cao đời sống vàdân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng thành côngKTTB bao gồm cả những kiến thức và kỹ năng về quản lý, thông tin và thị trường,cácchủ trương chính sách về nông nghiệp và nông thôn (FAO, 2001) Chuyển giao KTTBcòn phải giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng và tránh thiên tai, tiêu thụ sảnphẩm phát triển ngành nghề, xúc tiến thương mại, giúp nông dân phát triển khả năng tựquản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn (Bộ
NN và PTNT, 2002) Như vậy, mục đích của chuyển giao KTTB: Một là, Đẩy mạnhsản xuất hàng hóa một cách bền vững, góp phần xây dựng nông thôn theo hướng côngnghiệp hóa hiện đại hóa, dân chủ hóa và hợp tác hóa; Hai là, nâng cao thu nhập củanông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của họ, thựchiện xóa đói giảm nghèo; Ba là, nâng cao dân trí trong nông thôn; Bốn là, phát hiện cácvấn đề mới nảy sinh, thẩm định các kết quả nghiên cứu để hình thành chiến lượcnghiên cứu Công tác chuyển giao KTTB chỉ có thể có hiệu quả khi kết quả chuyểngiao được nông dân chấp nhận, tồn tại bền vững trong nông dân và cộng đồng, gópphần cải thiện cuộc sống của nông dân
2.1.1.3 Quan hệ giữa chuyển giao và nghiên cứu.
Nghiên cứu và chuyển giao KTTB trong nông nghiệp là nhiệm vụ cơ bản củacác cơ quan nghiên cứu và ứng dụng (Bộ NN&PTNT, 2000).Nghiên cứu là giải quyết
Trang 6các vấn đề khó khăn và nhu cầu do thực tiễn đặt ra và phục vụ thực tiễn Đối với nôngdân thì nghiên cứu chủ yếu là giải quyết các vấn đề khó khăn mà nông dân gặp phải vềkinh tế, xã hội, môi trường đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển bền vững Trongnông nghiệp, nghiên cứu và chuyển giao là 2 mặt của vấn đề phát triển nông nghiệp vànông thôn Nếu nghiên cứu mà không chuyển giao thì kết quả nghiên cứu sẽ không gópphần giải quyết các vấn đề thực tiễn, tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa lý luận vàthực tiễn Còn chuyển giao mà không gắn với công tác nghiên cứu thì chuyển giao sẽkhông có KTTB để đưa tới nông dân Chuyển giao giúp cho nghiên cứu tồn tại, trái lạinghiên cứu cũng giúp cho công tác chuyển giao tốt hơn.
2.1.1.4 Hệ thống chuyển giao KTTB trong nông nghiệp và nông thôn.
Hệ thống chuyển giao KTTB tới nông dân ở các nước phát triển và đang pháttriển bao gồm: Hệ thống khuyến nông nhà nước, các cơ quan nghiên cứu và đào tạo,các tổ chức đoàn thể xã hội (Hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh), các tổchức chính phủ và phi chính phủ, quốc tế và quan trọng là các tổ chức cộng đồng(HTX, họ tộc, các nhóm sở thích của nông dân)
Hệ thống khuyến nông nhà nước được các tổ chức từ Trung ương đến tỉnh,huyện, ở một số nơi tới cộng đồng Hầu hết ở các nước đang phát triển đều có Cụckhuyến nông từ Trung ương tới tỉnh, ở huyện hình thành các trạm khuyến nông đểchuyển giao KTTB xuống nông dân, cán bộ khuyến nông thực hiện chuyển giao KTTBtói nông dân
Các viện nghiên cứu thường xây dựng các trung tâm nghiên cứu – thực nghiệmvùng hay các tiểu vùng để khu vực hóa các KTTB sau đó hợp tác với nông dân để thựcnghiệm trước khi chuyển giao đại trà
Các tổ chức phát triển quốc tế và phi chính phủ thực hiện chuyển giao KTTBthông qua triển khai các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn Tùy theo quy mô
và phạm vi của dự án, các tổ chức phát triển này có thể tổ chức chuyển giao theo hệthống tổ chức của dự án theo các hợp phần khuyến nông, phát triển lâm nghiệp, nôngnghiệp riêng biệt Các cán bộ chuyển giao này thường được các chương trình dự án trảcông, thực hiện các hoạt động chuyển giao của chương trình
Trang 7Các tổ chức xã hội như Hội phụ nữ, hội nông dân, hội nghề nghiệp cũng thamgia vào chuyển giao Ngoài ra trong cộng đồng có những nông dân chuyển giao thamgia gọi là khuyến nông tự nguyện.
2.1.1.5 Các phương thức chuyển giao KTTB tới nông dân.
Phương thức chuyển giao là cách thức tiến hành chuyển giao KTTB tới nôngdân Phương thức chuyển giao KTTB bao gồm phương thức tiếp cận chuyển giao vàphương pháp chuyển giao
a, Các phương thức tiếp cận trong chuyển giao KTTB trong nông nghiệp
Theo Frank Ellis (1992), quá trình chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trên thế giới trảiqua các phương thức tiếp cận khác nhau: Chuyển giao công nghệ (TOT), Chuyển giaocông nghệ ứng dụng (ATT), Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp (FSR) Theo thời gian,các phương thức tiếp cận cần chuyển giao ngày một hoàn thiện Vào những năm cuốicủa thế kỷ 20, đã xuất hiện phương pháp tiếp cận mới trong chuyển giao “Nghiên cứu
có sự tham gia của nông dân” (FPR) (Daniel, 1997)
* Phương thức chuyển giao công nghệ TOT: Phương thức tiếp cận này rất phổ
biến trên thế giới trong nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp ở thập kỷ 50
và 60 của thế kỷ 20 (Frank Ellis, 1992) Theo phương thức này, được tạo ra và lantruyền các KTTB là một quá trình đường thẳng từ những viện nghiên cứu của các nướcgiàu sang nước nghèo, và từ các viện nghiên cứu của các nước nghèo tới trung tâmkhuyến nông và cuối cùng tới nông dân Tuy vậy, phương thức này vẫn còn khá ngự trịtrong chương trình nghiên cứu nông nghiệp các nước Theo phương thức tiếp cận này,người làm tốt công tác chuyển giao KTTB có những quan niệm: Một là, hiện đại là tốtnhất; hai là, công nghệ trong nông nghiệp có khả năng chuyển giao toàn cầu không cầntính đến các điều kiện sinh thái địa phương; ba là, nông dân ở những nước nghèo cònlạc hậu họ cần phải áp dụng một cách nhanh chóng các kỹ thuật để trở thành nông dânhiện đại (Paniel, 1997; Frank, 1992; Chamber, 1989) Những người áp dụng phươngthức này cho là luôn tồn tại kỹ thuật nông nghiệp phù hợp để nông dân ở các nướcnghèo chuyển giao và ứng dụng (Horton, 1984; Havertkort, 1988) Đây là cách nhìn sailầm Nông dân sản xuất nhỏ đã không tiếp thu được những công nghệ đó Trong nhữngđiều kiện đó, chỉ có thể nông dân giàu, sản xuất quy mô lớn có thể tiếp cận và được lợi
Trang 8từ phương thức chuyển giao này (Chamber và Ghidyal, 1985) Phương thức này nhìnnông dân là người nhận công nghệ một cách thụ động
* Phương thức chuyển giao công nghệ ứng dụng (ATT): Phương thức này còn
được gọi là mô hình chuyển giao công nghệ cải biên (Daniel, 1987) Phương thức nàykhác với TOT ở chỗ yêu cầu về tính địa phương của công nghệ được nhận diện, ứng xửcủa nông dân cũng được chú ý tới Trong chuyển giao công nghệ, người ta đã chú ý tớiđiều kiện địa phương, các ràng buộc về kinh tế và xã hội để nông dân tiếp thu côngnghệ mới Phương thức này khá phổ biến ở những thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ 20 Đặctrưng nhất của phương thức chuyển giao này là hệ thống đào tạo và gặp gỡ nông dân(Benor, Harision, Baxter, 1984; Frank, 1992; Daniel, 1997) Khuyến nông có vai tròlớn trong chuyển giao KTTB đến nông dân KTTB được đưa tới nông dân một cáchchủ động thông qua đào tạo tập huấn Nông dân sau khi được tập huấn thì làm theo.Cán bộ khuyến nông gặp gỡ nông dân để tư vấn cho họ các vấn đề cụ thể sau tập huấn.Nhờ đó, phương pháp này đã giúp nông dân giải quyết các vấn đề khác như đầu vào,phân bón và tín dụng Phương thức này phát huy tác dụng trong giai đoạn cách mạngxanh thập kỷ 70 (Frank, 1992) Tuy nhiên, những nông dân nghèo vẫn không đượchưởng các thành quả chuyển giao này Về lý thuyết, phương thức chuyển giao này đã
có sự tham gia của người dân Nhưng chỉ có những nông dân sản xuất với quy mô lớn
có sự tham gia Sự tham gia đó mang tính thụ động hơn là chủ động Cán bộ khuyếnnông khởi xướng công nghệ theo yêu cầu từ bên ngoài để nông dân làm theo
* Hệ thống nghiên cứu nông nghiệp (FSR): Đây là mẫu hình của nghiên cứu
và phát triển nông nghiệp trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20 tập trung giải quyết các vấn
đề của nông dân sản xuất nhỏ, nông dân nghèo bằng các cách: Một là, nhận thức rằngnông dân nghèo có kiến thức quý báu phải được kết hợp trong quá trình nghiên cứu;hai là, nghiên cứu kiến thức bản địa cũng là một bộ phận cấu thành của quá trình pháttriển công nghệ mới (Kassorla, 1977) Vì thế vào nửa thập kỷ 70 phương pháp tiếp cận
hệ thống nghiên cứu nông nghiệp được phát triển nhằm mang lợi cho nông dân nghèohay sản xuất nhỏ Tuy nhiên FSR không đạt được mục tiêu của nó do việc thực hiệnquá trình này bị hạn chế bởi nhiều lý do Nhược điểm của phương pháp tiếp cận này làkhông có sự liên hệ chặt chẽ giữa cán bộ nghiên cứu và nông dân Chính vì lẽ đó, ở các
Trang 9nước đang phát triển lại chuyển sang phương pháp tiếp cận mới Nghiên cứu có sự thamgia của nông dân.
* Nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (FPR): FPR còn được gọi nhiều
khái niệm khác nhau: Nông dân dựa vào nghiên cứu nông dân (farm back to farmerresearch) (Rhoabse và Booth, 1982) Nông dân là điểm đầu tiên và cuối cùng củanghiên cứu (Chambers and Ghidyal,1985) và Phát triển công nghệ có sự tham gia(Participatory Technology Development) (Tan, 1985) Đây là phương pháp tiếp cậntrong nghiên cứu xuất phát từ nông dân, do nông dân đặt kế hoạch và thực hiện trong
sự hợp tác giữa nông dân với cán bộ nghiên cứu (Daniel, 1997) FPR có các đặc điểm
cơ bản sau: Đặc trưng cơ bản của cách tiếp cận này là thu hút sự tham gia của nông dân
và phát triển công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và vật nuôi Nôngdân tham gia một cách tích cực trong toàn bô quá trình nghiên cứu Quá trình nghiêncứu này được tiến hành trên ruộng của nông dân Vai trò của người cán bộ nghiên cứulúc này là người khám phá, người bạn và người cố vấn của nông dân FPR được dựatrên các tiếp cận hệ thống, yêu cầu sự hợp tác đa ngành giữa nông dân và cán bộnghiên cứu và nó khuyến khích phương pháp sáng tạo linh hoạt
Trên đây là một trong những cách phân loại lịch sử của các cách tiếp cận trongcông tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Theo Lê Hưng Quốc (1998) thì trong công táckhuyến nông khuyến lâm có 3 cách tiếp cận chủ yếu: Cách tiếp cận theo mô hình
“chuyển giao”, Cách tiếp cận theo mô hình trình diễn, Cách tiếp cận theo khuyến nôngkhuyến lâm lan rộng Trong đó, cách tiếp cận theo mô hình “chuyển giao” là cách tiếpcận khá phổ biến trước đây Đây là một hình thức khuyến nông khuyến lâm mang hìnhthức một chiều, có nhiều nhược điểm ngay trong nhận thức đối với cán bộ khuyếnnông khuyến lâm và quá trình thực hiện khuyến nông khuyến lâm Đến những năm 70thì cách tiếp cận theo mô hình trình diễn, theo hướng lấy nông dân làm trung tâm rấtphát triển Theo cách tiếp cận này, vai trò của người dân được chú trọng từ việc xácđịnh nhu cầu, thực hiện, chấp nhận và phổ cập Quá trình này cho phép vị trí của nôngdân ngày càng cao trong quá trình khuyến nông khuyến lâm Theo thời gian, cácphương thức tiếp cận ngày càng có hiệu quả hơn, đến năm 1984 cách tiếp cận theokhuyến nông khuyến lâm lan rộng được bắt đầu áp dụng ở nhiều nước dựa trên cáchtiếp cận từ nông dân đến nông dân Từ năm 1995 chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt
Trang 10Nam-Thụy Điển đã thử nghiệm và áp dụng khuyến nông khuyến lâm lan rộng ở một sốtỉnh miền núi Phía Bắc dựa trên hình thức khuyến lâm từ người dân Theo cách tiếpcận này, vai trò của người dân, cộng đồng là trung tâm trong các hoạt động phổ cập,
mở rộng đặc biệt là khả năng tự quản lý và điều hành các hoạt động khuyến nôngkhuyến lâm của người dân và cộng đồng Phương pháp này đang góp phần khắc phụcnhững tồn tại chính hiện nay của hệ thống khuyến nông khuyến lâm của nhà nước làchưa có khả năng với tới được tất cả các thôn bản.[9]
Điểm lại lịch sử của công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật hơn nửa thế kỷ qua ởViệt Nam chúng ta thấy một số biện pháp tuần tự sau:
- Từ năm 1950, TBKT được cán bộ khuyến nông chuyển giao cho người nôngdân, đây là biện pháp kém hiệu quả…
- Từ năm 1970, các nhà đầu tư làm nhiệm vụ chuyển giao TBKT do có yêu cầu
về tiêu thụ sản phẩm mới, biện pháp này cũng có nhiều giới hạn
- Từ năm 1980, người nông dân cùng với cán bộ khuyến nông nêu vấn đề chocác nhà khoa học để giải quyết, kết quả của biện pháp này cũng có ít giải pháp phù hợpđược nêu ra từ các nhà khoa học
- Từ năm 1990, bắt đầu có sự gắn kết giữa các nhà nghiên cứu và cán bộ khuyếnnông và giải pháp này tỏ ra có tiến bộ hơn Từ cuối những năm 1990, bắt đầu có kếthợp chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông cùng với người nông dân
Có thể nói sự kết hợp này đã tạo thành mô hình chuyển giao TBKT có hiệu quả Giảipháp coi trọng sự tham dự của người dân đã làm giảm bớt khó khăn cho việc chuyểngiao TBKT [12]
[6] Theo Báo cáo chung về Khuyến nông khuyến lâm ở Việt Nam (1993-1997)của Cục khuyến nông khuyến lâm (Bộ NN&PTNT) thì cách tiếp cận khuyến nông cóthể tùy theo các tổ chức hoạt động khuyến nông, cụ thể như:
Hệ thống khuyến nông Nhà nước hoạt động chủ yếu theo các chương trìnhkhuyến nông đã được chính phủ phê duyệt nên chủ yếu tiếp cận theo các chương trìnhkhuyến nông Với cách tiếp cận này các chương trình khuyến nông nhà nước có vai tròquan trọng để hình thành nên các nền kinh tế sản xuất hàng hóa có định hướng Cáchtiếp cận này chủ yếu nhằm thỏa mãn dịch vụ đầu vào để hoàn thành các chương trìnhkhuyến nông hơn là thỏa mãn nhu cầu từ người dân Cho nên nó phát huy tác dụng rõ
Trang 11rệt nhất ở những vùng đồng bằng, vùng dân trí cao và thường thành công đối với cáccây nông nghiệp và vật nuôi Còn ở những vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ítngười và đối với cây lâm nghiệp dài ngày thì cách tiếp cận này còn có nhiều mặt hạnchế Ngoài ra các nông lâm trường hoặc các công ty sản xuất kinh doanh ngành hàngnhư cà phê, cao su, chè,… cũng áp dụng theo cách tiếp cận này.
Còn đối với các chương trình, dự án phát triển nông thôn có nguồn tài trợ nướcngoài thường sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân(PRA) trong hoạt động khuyến nông Cách tiếp cận này nhằm thỏa mãn nhu cầu từngười dân PRA được coi là công cụ lập kế hoạch phát triển có sự tham gia của ngườidân lần đầu tiên được áp dụng trong chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam-ThụyĐiển do SIDA tài trợ vào cuối năm 1991 Đây là chương trình sử dụng PRA một cách
hệ thống trên một địa bàn rộng trong một thời gian dài
Ngoài hai phương pháp tiếp cận trên, các hệ thống dịch vụ vật tư nông nghiệp
và các công ty sản xuất sản phẩm vật tư nông nghiệp hoạt động khuyến nông bằng cácbiện pháp hướng dẫn kỹ thuật sử dụng vật tư nông nghiệp có hiệu quả cho năng suấtcao Thực chất đây là một trong những hình thức quảng cáo bằng các cách như: Mở hộinghị khách hàng, xây dựng mô hình trình diễn… thông qua các tổ chức khuyến nôngnhà nước
Một cách tiếp cận khuyến nông rất hiệu quả nữa là tiếp cận đào tạo nông dântrên đồng ruộng (FFS) Cách tiếp cận này được áp dụng cho các chương trình IPM Từnăm 1992 chương trình IPM đã được triển khai ở Việt Nam Giải pháp cơ bản của IPM
là mở các lớp học trên đồng ruộng cho nông dân với cách học thông qua việc làm thực
tế Những nông dân đã được học qua lớp đào tạo lại trở thành giảng viên để truyền đạtnhững kiến thức được cho những nông dân khác trong cộng đồng tạo ra hình thái pháttriển hình cây mở rộng được kết quả Điểm mạnh của phương pháp IPM là nó khôngphụ thuộc vào việc phải có một tổ chức khuyến nông chính thức ở các thôn bản màthay vào đó nó chủ yếu dựa vào các nhóm nông dân tình nguyện, những người mongmuốn được gặp nhau định kì khi đến mùa vụ sản xuất để học về một kỹ thuật cụ thểnào đó Phương pháp của IPM mới đầu chỉ áp dụng cho cây lúa, sau này đã mở rộng ra
áp dụng cho cây rau, cây chè, đậu tương, nuôi… Trong dự án IFAT ở Hà Giang đangthiết kết sử dụng phương pháp này trong hoạt động khuyến nông toàn tỉnh
Trang 12b, Phương pháp chuyển giao kỹ thuật tiến bộ:[1]
Phương pháp chuyển giao KTTB trong nông nghiệp là cách thức chuyển giaothông tin về KTTB bao gồm cả kỹ thuật, tổ chức sản xuất, thị trường tới nông dân.Nhìn chung, có ba nhóm phương pháp chuyển giao: Một là, Phương pháp tiếp xúcnhóm (bao gồm Mô hình trình diễn, tập huấn, tham quan, hội nghị đầu bờ và họpnhóm); hai là, Phương pháp tiếp xúc cá nhân (bao gồm Thăm và gặp nông dân, tư vấn,điện thoại); ba là, Phương pháp truyền thông đại chúng (bao gồm các chương trình trênđài phát thanh, tivi, áp phích, quảng cáo,…)
Phương pháp tiếp xúc nhóm: Các cán bộ chuyển giao truyền thông tin về KTTB
qua nhóm nông dân, qua họp nhóm, trao đổi hội nghị đầu bờ, hội thảo, qua tập huấn,làm điểm trình diễn và tham quan Phương pháp này giúp nhiều nông dân nắm đượcphương pháp và thông tin, có hiệu quả hơn phương pháp cá nhân
Phương pháp tiếp xúc cá nhân là phương pháp cán bộ chuyển giao thăm và gặp
gỡ, tư vấn cho từng nông dân, trao đổi với nông dân qua thư và điện thoại Phươngpháp này giúp các cán bộ chuyển giao giải quyết các vấn đề cá biệt cao cho từng nôngdân, nên hiệu quả chuyển giao khá tốt Tuy nhiên, do thiếu cán bộ chuyển giao nênkhông thể tiếp xúc hết nông dân Một số cán bộ chuyển giao hay tiếp xúc với nông dângiàu có điều kiện thuận lợi nên dễ bỏ qua cho nông dân nghèo, ở vùng sâu vùng xa
Phương pháp thông tin đại chúng là phương pháp chuyển giao KTTB tới quảng
đại nông dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, tivi, video,tranh áp phích và quảng cáo Phương pháp này có ưu điểm là truyền thông tin tới sốlớn nông dân Nhưng phương pháp này không giải quyết các vấn đề mang tính cá biệtcủa nông dân Nông dân có điều kiện sản xuất rất khác nhau, ngay trên cùng một cánhđồng, thì ruộng có vị trí khác nhau cũng phải có những quyết định đồng ruộng khácnhau
2.1.2 Tình hình chuyển giao KTTB trong nông nghiệp ở một số nước và ở Việt Nam.[1]
2.1.2.1 Tình hình chuyển giao KTTB ở một số nước.
Chuyển giao KTTB là một nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển nôngnghiệp và nông thôn của các nước trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển(Chamber, 1990; Daniel, 1997; Niels, 1990) Công tác chuyển giao KTTB chủ yếu do
Trang 13các Cơ quan khuyến nông nhà nước, các Viện nghiên cứu nông nghiệp, các Tổ chứcphát triển và thành phần kinh tế tư nhân tiến hành Khoa học khuyến nông ra đời hơn
100 năm trước kia (1887) do Richard Muolton- một giảng viên của Đại học Cambridge
ở nước Anh khởi xướng Khuyến nông được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đếnđịa phương để giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn của chính họ Các nướcĐông Nam Châu Á, đều có Cục khuyến nông hay các tổ chức tương tự làm nhiệm vụkhuyến nông Trung Quốc không tổ chức thành Cục khuyến nông nhưng có Cục truyền
bá kỹ thuật nông nghiệp Hệ thống khuyến nông được tổ chức rộng khắp Phương pháp
cơ bản trong chuyển giao những năm những năm cuối thế kỷ 20 là Phương pháp nhóm(tập huấn có sự tham gia, mô hình trình diễn, tham quan, hội nghị đầu bờ), Phươngpháp cá nhân ( tập huấn và gặp gỡ, trao đổi và tư vấn) Các chính phủ của các nướcnhư Phi-lip-pin, Sin-ga-po, Ma-lay-sia, Thái Lan đều thực hiện chính sách trợ giá đầuvào cho nông dân thôn qua gắn với các chương trình chuyển giao KTTB Tuy nhiên,trong nhiều thập kỉ trợ giá, hiệu quả của các chương trình khuyến nông không cao.Hiện nay xu hướng chung là công tác chuyển giao KTTB được thực hiện dưới nhiềuhình thức phù hợp, giảm dần sự trợ cấp của chính phủ, tăng cường phát huy sự thamgia của người dân
2.1.2.2 Tình hình chuyển giao KTTB trong nông nghiệp ở Việt Nam
Việc chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trong nông nghiệp ở Việt Nam gắn liền với sựphát triển của nền nông nghiệp và được chia thành ba giai đoạn chủ yếu
Giai đoạn trước năm 1988, KTTB được chuyển giao chủ yếu qua các hợp tác xãnông nghiệp, theo hệ thống sản xuất kế hoạch hóa tập trung Trong giai đoạn này, cácquyết định sản xuất chủ yếu do HTX tiến hành, KTTB được chuyển giao từ cơ quannghiên cứu tới nông dân thông qua các bộ phận chức năng Phòng trồng trọt, Chăn nuôi,Thủy sản của UBND huyện Các cán bộ phòng nông nghiệp được phân công “tăngcường” xuống các địa phương để chỉ đạo, giúp các HTX ứng dụng các KTTB Đặctrưng cơ bản của giai đoạn này là xây dựng điểm chỉ đạo, gắn liền với tổ chức HTXnông nghiệp Mô hình này phục vụ nền kinh tế tập trung, chưa phát huy cao độ sự sángtạo và nguồn lực của địa phương, nhất là nông dân
Giai đoạn từ 1988 đến 1993 gắn liền với sự ra đời của Nghị quyết 10 BT/TWcủa ban bí thư Trung Ương Đảng về Cải tiến toàn diện công tác quản lý nền nông
Trang 14nghiệp Với nghị quyết 10, kinh tế hộ được hình thành và phát triển Công tác chuyểngiao KTTB ở giai đoạn giao thời từ phục vụ nền nông nghiệp kinh tế tập thể sang kinh
tế hộ KTTB vẫn được đưa về địa phương theo kênh cũ (Phòng nông nghiệp) Tuynhiên, ở nhiều địa phương, tính chất hoạt động của HTXNN đã thay đổi, nên công tácchuyển giao KTTB có sự lúng túng trong phương thức, cách làm và biện pháp chuyểngiao trong giai đoạn này
Giai đoạn từ 1993 đến nay với sự hình thành hệ thống khuyến nông nhà nước.Ngày 2/3/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông mởđầu việc hình thành hệ thống khuyến nông Việt Nam, đáp ứng yêu cầu mới của sự pháttriển nông nghiệp và nông thôn nước ta Theo quyết định 13/CP của Chính phủ, một hệthống khuyến nông nhà nước đã được thành lập từ Trung Ương tới 64 tỉnh và hầu hếtcác huyện trong cả nước (Lê Hưng Quốc, 2001) Lúc này, Phòng nông nghiệp ở cáchuyện chỉ làm chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp Mặc khác, do chuyển đổi
về chính sách nghiên cứu và chuyển giao, gắn kết giữa doanh nghiệp và nông dân, việcchuyển giao KTTB không những do cán bộ khuyến nông nhà nước tiến hành mà còn
do các viện nghiên cứu, các tổ chức phát triển và các doanh nghiệp tiến hành
Trong những năm qua công tác chuyển giao kỹ thuật được tiến hành ở khắp cáctỉnh thành trong cả nước với nhiều nội dung khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vàophổ biến áp dụng giống cây trồng và vật nuôi tiến bộ, phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nông nghiệp Trọng tâm là chuyển giao các KTTB về giống mới, ưu thế lai chonông dân Ngoài ra, một số nơi đã chuyển giao các KTTB về công nghệ sau thu hoạch,bảo quản nông sản phục vụ cho nông dân
Về phương pháp khuyến nông, hệ thống chuyển giao của chúng ta đã áp dụngkhá đủ các phương pháp bao gồm xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn, tham quan,hội nghị đầu bờ, biên soạn tài liệu phổ biến, phát trên vô tuyến truyền hình Tuy nhiên,phương pháp mô hình trình diễn và tập huấn vẫn là chính ( Lê Hưng Quốc, 2001; BộNN& PTNT, 2002) Có thể tóm tắt các mô hình khuyến nông chuyển giao thành cácdạng sau: Một là, Mô hình khuyến nông – nông dân là mô hình khuyến nông nhà nướcphối hợp với nông dân thực hiện chuyển giao; hai là, Mô hình doanh nghiệp- khuyếnnông-nông dân là mô hình chuyển giao có sự tham gia của doanh nghiệp; ba là, Môhình ngân hàng-khuyến nông-nông dân là mô hình chuyển giao có sự tham gia của
Trang 15ngân hàng trong hỗ trợ và quản lý vốn vay; bốn là, Mô hình 3+1 là mô hình gồmkhuyến nông, doanh nghiệp, ngân hàng cùng liên kết với nông dân để sản xuất ra hànghóa (Lê Hưng Quốc, 2002) Các mô hình trên được phát triển thành “liên kết 5 nhà” đểsản xuất hàng hóa (nhà khoa học và nhà khuyến nông chuyển giao KTTB cho nhànông, Nhà nông làm ra hàng hóa nông nghiệp, Nhà ngân hàng cung cấp vốn cho việcứng dụng KTTB vào sản xuất và Nhà nước hình thành khung chính sách cho chuyểngiao và sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa) (Đỗ Kim Chung, 2002).
Ở Việt Nam, công tác chuyển giao KTTB đã có đóng góp quan trọng trong việcxây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn nông dân sản xuất và áp dụng KTTB vào sảnxuất, từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đadạng và hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu, phát triển ngành nghề nông thôn mới, tăngthu nhập, xóa đói giảm nghèo Công tác chuyển giao KTTB trong thời gian qua đã đạtđược một số kết quả chủ yếu sau: Đã đáp ứng được nhu cầu chỉ đạo của Đảng và Nhànước, tạo được lòng tin và hưởng ứng của nông dân, đã thực hiện được chuyển giaoKTTB tới nông dân theo các chương trình khuyến nông có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnhvực giống cây trồng, vật nuôi có ưu thế lai, các KTTB được áp dụng thành công trongnông nghiệp Công tác chuyển giao KTTB góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng từ 4-4,5%, phát triển nông sản hàng hóa, đời sống nông dân được cải thiện đáng kể Khâuđột phá trong chuyển giao KTTB là đưa nhiều giống cây trồng, giống vật nuôi năngsuất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến như qui trìnhbón phân hợp lý, biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại (IPM), qui trình phòng và trịbệnh cho vật nuôi và áp dụng công nghệ sau thu hoạch (Nguyễn Văn Bộ, 2001)
2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH TRÌNH DIỄN [3] 2.2.1 Khái niệm về mô hình
Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mốiquan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình Cónhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng thco một điều kiện sinhthái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiệnsản xuất khác nhau
Trang 16Theo quan niệm của nhiều cơ quan chuyển giao, mô hình trình diễn kỹ thuật cần
có các đặc trưng sau:
- Là mẫu hình tối ưu cho một giải pháp sản xuất;
- Phải có tính đại diện cho vùng có điều kiện tương tự;
- Phải ứng dụng được các KTTB vào sản xuất;
- Phải có tính hiệu quả: về kinh tế, xã hội và môi trường
2.2.2 Sự cần thiết phải xây dựng các mô hình trình diễn
Để giúp cho người dân phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo, việc xâydựng các mô hình sản xuất là rất cần thiết vì các lý do sau đây:
- Thực tế đã khẳng định, muốn làm giàu trong sản xuất nông, lâm nghiệp thìkhông thể sản xuất theo kiểu quảng canh, tự cấp, tự túc mà phải áp dụng các kỹ thuậttiến bộ, thâm canh tăng năng suất và tiến đến sản xuất theo hướng hàng hóa
- Để đáp ứng yêu cầu của việc chuyển đổi phương thức canh tác nhằm phù hợpvới thực tế sản xuất Ví dụ, hiện nay khi diện tích bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp,việc duy trì số lượng đàn bò là rất khó khăn nếu vẫn thực hiện phương thức chăn thảtruyền thống như trước đây Do vậy, việc xây dựng các mô hình nuôi bò bán thâm canh
là cần thiết để hướng dẫn cho người dân chuyển đổi phương thức chăn nuôi nhằm thíchứng với tình hình mới của thực tiễn sản xuất để phát triển sản xuất chăn nuôi bò
- Đáp ứng các nhu cầu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiệnsinh thái để đem lại hiệu quả kinh tế hoặc luồn lách theo thời vụ nhằm né tránh thời tiếtkhắc nghiệt Ví dụ, các mô hình vườn đồi, mô hình trồng rau,… ở trung du và miềnnúi
- Nhằm tạo cho người dân ý thức về phát triển bền vững, nghĩa là phát triển kinh
tế phải quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi trường, không làm cạn kiệt nguồn tàinguyên thiên nhiên Ví dụ, mô hình chăn nuôi kết hợp với Bioga, mô hình vườn đồi,…
- Tạo ra những hình mẫu về sản xuất để tổ chức các chuyến tham quan học tập,các lớp tập huấn hay hội nghị đầu bờ nhằm chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ vào sảnxuất theo cách “nông dân tự chuyển giao cho nông dân”
- Để ứng dụng những kỹ thuật mới hoặc thuyết phục người dân trước khi phổbiến ra diện rộng Góp phần khẳng định tính khả thi của một phương án sản xuất để
Trang 17giai đoạn tiếp theo chỉ cần tiếp tục bổ sung chứ không phải mày mò thử nghiệm mà cóthể yên tâm, phát triển trên diện rộng khi có vốn đầu tư và có thị trường tiêu thụ sảnphẩm.
Nghiên cứu về phương pháp chuyển giao KTTB tại 13 tỉnh miền núi phía Bắccho thấy: Xây dựng mô hình trình diễn là phương pháp chủ đạo để chuyển giao các kỹthuật tiến bộ cho người dân (93,3% số cơ quan và dự án áp dụng) Đây là phương pháprất thành công, nhất là với đồng bào các dân tộc thiểu số Kết quả nghiên cứu cũng chothấy, hầu hết cán bộ và nông dân được phỏng vấn ở 13 tỉnh đều cho rằng: Mô hìnhtrình diễn là rất quan trọng vì: một là, nông dân chỉ làm theo khi họ thấy được kết quả;hai là, mô hình là nhằm để khẳng định tính phù hợp của KTTB tại địa phương
2.2.3 Một số nguyên tắc khi thực hiện mô hình trình diễn
- Phải đáp ứng các nhu cầu đích thực của nông dân và mang lại hiệu quả kinh tếcho họ
- Người dân cần xác định rõ trách nhiệm của mình khi tham gia các mô hình.Phải làm cho dân hiểu: làm mô hình là vì lợi ích của chính họ, không phải làm “cho”
dự án
- Khuyến khích sự tham gia của người dân càng nhiều càng tốt, đó chính là điềukiện để đảm bảo tính bền vững của mô hình
- Chỉ hỗ trợ, không “ban phát” làm thay dân
- Thông qua mô hình để xây dựng năng lực và chuyển giao kỹ thuật cho ngườidân
- Cần xác định qui mô phù hợp với khả năng đầu tư của dân để có thể thực hiệnthành công mô hình và nhân rộng mô hình sau này
- Kỹ thuật chuyển giao phải phù hợp với trình độ dân trí và các điều kiện thực
tế của địa phương
- Chú ý sự phát triển bền vững và khả năng để nhân rộng
Trang 182.3 TÌNH HÌNH XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỦA KHUYẾN NÔNG TRUNG ƯƠNG VÀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG (TỪ 1993-2004) [11]
Từ khi thành lập đến nay, hệ thống khuyến nông đã phát triển mạnh mẽ trênkhắp đất nước Hơn 10 năm hoạt động và trưởng thành, Khuyến nông Việt Nam đãđóng góp không nhỏ trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, nâng cao dântrí, trình độ kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân Hầu hết các giống cây, con mới trongsản xuất hiện nay chủ yếu là do kênh khuyến nông (Khuyến nông nhà nước và Khuyếnnông tự nguyện) chuyển giao và tham gia phát triển Có thể nói công tác chuyển giao làquan trọng để đưa những tiến bộ kỹ thuật đến người nông dân Một trong những hìnhthức được lựa chọn và thực tế đã mang lại hiệu quả cao nhất đó là chuyển giao cácTBKT thông qua xây dưng các mô hình trình diễn Đây là một hoạt động tổng hợpgồm nhiều hoạt động: tổ chức, tuyên truyền, tập huấn trước khi triển khai mô hình, hộinghị đầu bờ, tuyên truyền sau khi mô hình có hiệu quả
Sau đây là những mô hình khuyến nông đã được triển khai và thực hiện gắn vớicác chương trình khuyến nông Một số chương trình khuyến nông trọng điểm
2.3.1 Chương trình an ninh lương thực (ANLT) tại chỗ cho vùng sâu, vùng xa,
vùng dân tộc ít người thông qua các chương trình khuyến nông lúa lai, ngô lai và một
số cây trồng khác:
2.3.1.1 Chương trình khuyến nông đối với cây lúa:
Khuyến nông sản xuất hạt giống lúa lai F1 đã triển khai ở 26 tỉnh, thu hút trên88.200 hộ nông dân tham gia với tổng diện tích mô hình trên 8.000ha; khuyến nông lúalai thương phẩm đã triển khai ở 39 tỉnh với hơn 250.000 hộ nông dân tham gia trêntổng diện tích mô hình là: 2.258.355ha Kết quả chương trình đã góp phần phát triểnmạnh mẽ diện tích lúa lai từ vài hecta ở những năm đầu thập kỷ 90, đến nay diện tíchlên trên 600.000ha/năm, góp phần tăng sản lượng lương thực của cả nước, góp phầnquyết định giữ vững ANLT cho các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc nói riêng và cảnước nói chung Tham gia vào việc tự túc sản xuất hạt lúa lai F1 trong nước khoảng25% và khống chế giá nhập nội
Trang 192.3.1.2 Chương trình khuyến nông phát triển ngô lai
Chương trình đã triển khai hầu hết các tỉnh, nhiều nhất là vùng Trung du vàmiền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Với sự tham gia của hơn 9.000 hộnông dân trên 12.000 ha mô hình, góp phần tăng năng suất ngô từ 21.1 tạ/ha lên 32.2tạ/ha Giá thành sản xuất hạt giống trong nước chỉ bằng 50% so với giá giống nhập nội,góp phần tiết kiệm được 20 triệu USD nhập giống hàng năm
2.3.1.3 Chương trình khuyến nông chuyển đổi cơ cấu mùa vụ
Chương trình đã triển khai hầu khắp các tỉnh trong cả nước với tổng diện tích
mô hình 6.410ha Chương trình đã góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích, chuyển đổitrên 600.000 ha từ cây trồng kém hiệu quả, chế độ canh tác cũ sang cây trồng, chế độcanh tác mới hiệu quả cao, làm tăng thêm thu nhập trên mỗi ha từ 1.3 đến 5 lần, thậmchí có nơi trên 100 lần với giá trị tương đương từ 5 đến 200 triệu đồng Chương trìnhcòn góp phần né tránh thiên tai bất thuận cho cây trồng
2.3.1.4 Chương trình khuyến nông phát triển cây công nghiệp dài ngày ( café, chè, cao
su, tiêu điều,…)
Chương trình được triển khai trên nhiều tỉnh nhất là ở vùng Tây Nguyên vàTrung du miền núi phía Bắc thu hút trên 15.000 hộ nông dân tham gia trên tổng diệntích mô hình 10.013ha Kết quả đã góp phần mở rộng diện tích theo qui hoạch và cungcấp nguyên liệu cho cơ sở chế biến và tham gia xuất khẩu
Chương trình khuyến nông trồng trọt đã phát huy sáng tạo, năng động về sửdụng những giống cây lương thực mới chất lượng cao, những giống có ưu thế lai…phục vụ chiến lược phát triển sản xuất, đảm bảo ANLT quốc gia và nông sản hàng hóaxuất khẩu
2.3.2 Chương trình khuyến lâm [5]
2.3.2.1 Chương trình trồng tre lấy măng.
Chương trình đã triển khai ở 38 tỉnh thành trong cả nước, xây dựng nhiều môhình với trên 1.364ha gồm các loại: Bát Độ, Điền Trúc, Lục Trúc, Mạnh Tông…Năngsuất bình quân đạt 15-20 tấn măng tươi/ha Đa số hộ trồng tre có thu nhập từ sản xuấtgiống trong giai đoạn đầu
Trang 202.3.2.2 Chương trình trồng cây nguyên liệu giấy
Chương trình đã xây dựng nhiều mô hình với diện tích 10.628ha, mô hình gồmcác loại cây: Bạch đàn lai, keo lai tại vùng nguyên liệu các nhà máy giấy của Trungương và địa phương, 80% nông hộ vùng nguyên liệu giấy đã sử dụng giống mới (keolai, bạch đàn lai) Sử dụng giống mô hom để trồng rừng nguyên liệu góp phần tăngnăng suất trồng rừng từ 1,5-2 lần so với các loài cây cũ
2.3.3 Chương trình khuyến nông chăn nuôi [11]
Nhằm khuyến khích, hỗ trợ phát triển nhiều vật nuôi có giá trị kinh tế cao đặcbiệt một số chương trình khuyến nông trọng điểm về lợn, bò và gia cầm:
2.3.3.1 Chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc
Chương trình đã thu hút khoảng 13.000 hộ thuộc 40 tỉnh, thành tham gia vớitổng số lợn nuôi của chương trình là 32.786 con, chương trình đã gắn chăn nuôi vớixây dựng bổ khí sinh học để xử lý chất thải Kết quả số lứa đẻ của một lợn nái tăng từ1,7 lứa/năm lên 2 lứa/năm Số ngày cai sữa của lợn con giảm từ 60 ngày xuống 35-40ngày, tỷ lệ chết của lợn con giảm, số lợn cai sữa/nái/năm tăng từ 16 con lên 20 con, tỷ
lệ nạc tăng từ 35-36% lên 45-47% Chỉ tính riêng về số lợn con tăng lên trong chươngtrình, lợi nhuận thu được đã lên tới 30 tỷ đồng Chương trình khuyến nông chăn nuôilợn hướng nạc đã góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi trang trại theo hướng côngnghiệp hóa hiện đại hóa, tuy vậy vẫn còn một số tồn tại: số lượng con giống trong xâydựng còn tản mạn, chưa tập trung, cán bộ khuyến nông còn thiếu cả về số lượng vàchất lượng
2.3.3.2 Chương trình khuyến nông chăn nuôi cải tạo đàn bò
Chương trình đã thu hút trên 482.000 hộ nông dân tham gia ở gần 50 tỉnh,thành Kết quả đã đào tạo 700 dẫn tinh viên chính qui, trên 2000 dẫn tinh viên cấphuyện và 6.000 khuyến nông viên chăn nuôi thú y, huấn luyện kỹ thuật cho 51.400 lượt
hộ Các giống bò ngoại RedSindhi, Sahiwal, Brehman đã được lai với bò vàng ViệtNam làm tăng tỷ lệ bò lai cả nước từ 10 lên 25% để nâng khối lượng bò cái từ 170kglên 220-250kg, tỷ lệ thịt xẻ tăng từ 40% lên 47% Chương trình khuyến nông chăn nuôicải tạo đàn bò góp phần nâng cao tầm vóc đàn bò vàng Việt Nam làm cơ sở cho việc
Trang 21lại tạo tiếp theo hướng chuyên thịt hoặc sữa và giúp gần nửa triệu hộ chăn nuôi bò lai
có thu nhập tăng trên 1.000 tỷ đồng
2.3.3.3 Chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm
Chương trình đã triển khai trên toàn quốc và đã chuyển giao được trên 650.000gia cầm giống mới cho các hộ nông dân (gà Lương Phượng, Kabin, Sasso, JA-57,Lương Phượng lai gà Ri, BT1, BT2…các giống vịt, ngan Super M, ngan Pháp dòngR51, R71…) Chương trình đã giúp nâng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trọng của gia cầm;cung cấp con giống tại chỗ cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo thêm việc làm
và tăng thu nhập cho bà con nông dân Thực tế cho thấy nuôi 100 con gà, vịt, ngan…giống mới có thể thu lãi 0.3-0.5 triệu đồng thậm chí có những hộ lãi 0.9-1.0 triệu đồngsau 2-3 tháng chăn nuôi
Các chương trình chăn nuôi đã góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹthuật, đưa ngành chăn nuôi từ manh mún, nhỏ lẻ dần dần trở thành ngành sản xuấthàng hóa chính, tập trung, có hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh cao góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân, nhất là nôngdân ở các tỉnh khó khăn, tỉnh miền núi
Bên cạnh những chương trình, những mô hình ở Viêt Nam đã triển khai thựchiện thành công và nhân rộng tốt Còn không ít chương trình triển khai một cách ồ ạt,không kế hoạch đã làm thất thoát rất nhiều tiền của nhà nước và gây thiệt hại kinh tếcủa nông dân rất nhiều, chẳng hạn như các chương trình: mía đường, phát triển bò sữa,
mô hình nuôi tôm trên cát…
Theo nguồn từ báo điện tử Kinh tế nông thôn, số ra ngày thứ hai, 11/9/2006 đưatin: sau khi Chương trình phát triển bò sữa do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thônkhởi xướng, 33 tỉnh-thành phố “đua” nhau lập dự án, bò sữa đi vào nghị quyết củanhiều địa phương và được coi là con nuôi mũi nhọn trong cơ cấu của ngành chăn nuôi.Nhưng đến nay, đã có 20 tỉnh đang phải xem xét ngừng nuôi bò sữa, đẩy chương trìnhđứng trước nguy cơ phá sản Theo số liệu điều tra của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn) tháng 3/2006 tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, HàNam cho thấy, số lượng bò sữa giảm 25% và giảm 16% số hộ nuôi Giá một con bòsữa hậu bị trên thị trường chỉ còn 7-13 triệu đồng/con so với mức 20 triệu đồng/contrước đây Tỷ lệ bò sữa loại thải rất cao, nhiều hộ không giữ bê sữa để tăng đàn, thậm
Trang 22chí cả bò sữa mang thai cũng bị đưa vào lò mổ…Nhiều dự án phát triển bò sữa ở nhiềutỉnh đang “thoi thóp” ở giai đoạn cuối như ở tỉnh Sơn La: Người dân thành con nợ,doanh nghiệp đứng bên bờ phá sản, ngân hàng gánh những món nợ khổng lồ khó đòi.Chi phí cho dự án lên tới hàng chục tỷ đồng.
Ngoài Chương trình phát triển bò sữa, Chương trình mía đường ở Việt Namcũng gặp thất bại lớn khi triển khai một cách ồ ạt Sau khi chính sách phát triển ngànhmía đường được phát động, có hơn 40 nhà máy mới được thiết lập một cách vội vã từBắc chí Nam: từ Tuyên Quang, Thanh Hóa, Quảng Bình xuống tận Cam Ranh, SócTrăng, tạo nên một sự khủng hoảng thừa ngay từ đầu, có nhà máy xây dựng trước khi
có qui hoạch trồng mía, nghĩa là có nhà máy không có nguyên liệu để ép Do đó hàngloạt nhà máy phải đóng cữa và không còn khả năng để trả nợ và kỹ nghệ này hiện nay
đã bị phá sản hoàn toàn Nhiều hộ nông dân trong qui hoach vùng trồng mía cũng bịthiệt hại kinh tế đáng kể khi nhà máy bị phá sản, mía trồng không biết bán ở đâu và cho
ai Gây mất lòng tin trong nhân dân vào chủ trương, chính sách của nhà nước
Mô hình nuôi tôm trên cát cũng là một trong những mô hình cho hiệu quả kinh
tế rất cao trong những năm đầu, nhưng xét đến hậu quả lâu dài nó đã gây ảnh hưởngđến môi trường một cách nghiêm trọng Mô hình lần đầu tiên thực hiện thành công ởNinh Thuận với qui mô 0.5 ha (vào năm 1999), do thấy được hiệu quả kinh tế của môhình rất cao (doanh thu trên 1ha có thể đạt 400 triệu đồng/năm, lợi nhuận xấp xỉ 135triệu đồng) nên trong những năm gần đây có rất nhiều dự án lớn đầu tư vào các tỉnhmiền Trung để xây dựng ao nuôi tôm trên cát Nhưng mặt trái của phương thức nuôitôm trên cát ngày càng lộ dạng, gây tác hại lớn đến môi trường Đặc điểm của mô hìnhnày là sử dụng rất nhiều nước, đặc biệt là nước ngọt, đây là nguồn nước khan hiếm ởvùng cát nên chủ yếu là sử dụng biện pháp khoan nước ngầm Việc khai thác nướcngầm một cách ồ ạt như hiện nay đã làm phá vỡ mạch nước ngầm, hệ sinh thái vùngcát, tăng hiện tượng sụt lún địa tầng và xói mòn đất cát ven biển, gây sa mạc hóa cục
bộ, nhiễm mặn sâu vào tầng đất bên trong… đã quan sát thấy hiện tượng cây phi laophòng hộ ở Ninh Thuận đã bị chết khô do khai thác qua mức mạch nước ngầm để nuôitôm Mặc khác, lượng chất thải do nuôi tôm gây ra cũng rất lớn, ước tính mỗi năm 1hathải ra 8 tấn chất rắn: vỏ tôm, thức ăn thừa…và nhiều hóa chất xử lý ao nuôi Nhữngchất thải này đa số được thải trực tiếp ra bên ngoài, gây ô nhiễm môi trường xung
Trang 23quanh ao nuôi, làm cho dịch bệnh phát sinh nhiều, do đó chi phí đầu tư cho ao nuôitôm cứ tăng dần Thực tế, trong 3 năm trở lại đây đã ghi nhận hiện tượng các hộ nuôitôm ở các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ bị thất bại liên tiếp.
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO TBKT [10] 2.4.1 Ý nghĩa của đánh giá
Theo J Seepersad và T.H.Henderson, đánh giá là một hoạt động của chúng tahàng ngày, bởi vì chúng ta luôn luôn cần phát hiện chính giá trị hay kinh nghiệm củanhững vấn đề chúng ta làm Đánh giá hoạt động khuyến nông có thể được coi là mộtquá trình liên tục và có hệ thống đánh giá hoặc tiềm năng của chương trình khuyếnnông
Theo E.Grober và V.Hoffmann, đánh giá nhằm mục đích đưa ra được những chỉdẫn và những khả năng cải tiến hoạt động khuyến nông Nó so sánh tình trạng ban đầuvới tình trạng hiện nay, trong đó có đến mức nào, hoặc không có tác động của hoạtđộng khuyến nông
2.4.2 Chức năng của đánh giá
Có 4 chức năng sau:
a, Giúp đỡ cán bộ khuyến nông cải tiến công tác
b, Kiểm tra chương trình khuyến nông: Chỉ ra cho cơ quan khuyến nông nhữngkhó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện chương trình, phát hiện những nguyên nhân
và kiến nghị những biện pháp để cải tiến tình hình
c, Khuyến cáo những người làm kết hoạch làm khuyến nông: Xem xét lại nhữngquan điểm và giả thiết làm cơ sở cho việc thiết lập chương trình phát triển khuyếnnông, cho phép đưa ra những chủ trương và biện pháp mới thiết thực sát với sự diễnbiến của thực tiễn phát triển nông nghiệp và nông thôn
d, Khuyến cáo các cán bộ lãnh đạo về đường lối chính trị, lý giải những ảnhhưởng về kinh tế - xã hội, những khó khăn, vướng mắc của mọi chương trình phát triểnkhuyến nông trên bình diện chính trị, khả năng điều chỉnh chương trình khuyến nông,tiếp tục đầu tư thực hiện chương trình tiếp theo hay kết thúc chương trình
Trang 242.4.3 Những nguyên tắc cơ bản khi áp dụng các phương pháp đánh giá.
- Chính xác: Khi áp dụng những phương pháp đánh giá cần phải trắc nghiệm
chính xác những sự việc của nông dân đã làm, như thế kết quả mới phản ánh được thựctrạng của nông dân
- Tin cậy: Lựa chọn mẫu cho kỹ và đủ tin cậy có thể đủ tiêu biểu cho “nhóm
nông dân –mục tiêu” để đánh giá trong trường hợp cùng một sự việc xảy ra nhiều lầnkết quả đánh giá bắt buộc phải giống nhau
- Khách quan: Cần phải khách quan khi tiến hành công việc “đánh giá” và sưu
tập tài liệu, không thể vì tư tưởng thành tích, hoặc vì sự giải thích của người phụ trách
mà biến đổi kết quả của sự đánh giá
- Những thiết kế và phương pháp đánh giá phải thực dụng và cân nhắc kỹ càng
về nhân lực, tài lực và giá trị kết quả
- Đơn giản: Chỉ nên dùng biểu đồ và kỹ thuật đơn giản để dễ thống kê.
2.4.4 Một số phương pháp đánh giá
- Khảo sát kỹ thuật và kết quả trên thực địa rộng: Điều tra nghiên cứu trên diện
rộng kết quả của việc thực hiện chương trình, trình độ áp dụng kỹ thuật mới, phần trăm
số hộ thực hiện, vì sao có nhiều hộ chưa thực hiện? Rút ra nhận xét, kinh nghiệm?
- Khảo sát tỉ mỉ
- Phỏng vấn: Đối với nông dân cần phân loại 3 đối tượng phỏng vấn: nông dân
tiên tiến, nông dân chậm tiến, nông dân trung bình, đại diện các tổ chức quần chúng,đại diện các cấp bộ đảng và chính quyền Phỏng vấn về thực hiện mục tiêu và các biệnpháp của chương trình khuyến nông
- Trưng cầu ý kiến: Đối với toàn bộ chương trình, đối với từng loại phương pháp
khuyến nông Có thể trưng cầu ý kiến tại nhiều buổi họp phạm vi hẹp hoặc rộng, bằngcách lấy ý kiến hoặc bằng phát phiếu Trong những bản ghi trắc nghiệm, nên dùngnhững từ, cụm từ đơn giản như “có”, “không”, “không ý kiến” hay tự do “giải đáp” đẻtrả lời Khi dùng phương pháp này cần chú ý:
+ Nội dung thật đơn giản, nhưng cụ thể và khách quan
+ Từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu
+ Yêu cầu người trả lời, giải đáp đúng sự thật
+ Những thuật ngữ kỹ thuật cần được chú thích rõ
Trang 25PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những mô hình đã triển khai và thực hiện trên địa bàn huyện Phù Cát trong 3 năm từ 2005-2007
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp tiến hành nghiên cứu ở địa bàn huyện Phù Cát trongthời gian từ 31/1/2007 đến 10/04/2007
3.3 Nội dung nghiên cứu:
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phù Cát
3.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện từ 2003-2005
3.3.3 Tình hình thực hiện mô hình trên địa bàn tỉnh Bình Định từ 2001-20063.3.4 Tình hình thực hiện mô hình trên địa bàn huyện Phù Cát từ 2005-20073.3.5 Bài học kinh nghiệm và giải pháp
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của ngườidân(PRA) để thu thập thông tin:
Thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp từ Trung Tâm Khuyến nông tỉnh, Phòng Kinh
tế, Trạm Khuyến nông huyện
- Thu thập số liệu từ các báo cáo tổng kết đánh giá mô hình qua các năm;các báo cáo có liên quan đến tình hình sản xuất của các loại cây trồng ở địa phươngnghiên cứu, từ Niên giám thống kê huyện Phù Cát
Thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn cán bộ khuyến nông, người hướng dẫn xây dựng mô hình
- Phỏng vấn hộ: sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn người amhiểu thông tin ở thôn, xã, huyện
- Phỏng vấn 40 hộ trong đó có 14 hộ thực hiện mô hình và 26 hộ nhânrộng mô hình của huyện
Phân tích dữ liệu
Trang 26Xử lý dữ liệu trên phần mềm excel.
Dựa trên các số liệu đã xử lý, tiến hành phân tích
3.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu:
3.5.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phù Cát.
- Vị trí địa lý
- Thời tiết, khí hậu
- Nguồn nước
- Dân số, lao động
- Cơ sở hạ tầng: điện, giao thông, giáo dục, y tế, hệ thống thông tin liên lạc
- Cơ cấu thu nhập của các ngành sản xuất
3.5.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp từ 2003-2005
- Các loại giống cây trồng, vật nuôi chính
- Năng suất, sản lượng
- Qui mô sản xuất (diện tích, số con)
3.5.3 Tình hình thực hiện mô hình trên địa bàn tỉnh, huyện
Số mô hình đã triển khai trên địa bàn tỉnh, huyện
- Loại mô hình (tên mô hình)
- Qui mô
- Năm triển khai đến kết thúc
- Số hộ tham gia
- Kết quả
Các bước thực hiện mô hình trên địa bàn huyện
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả mô hình
+ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc áp dụng kỹ thuật mới của
mô hình so với kỹ thuật ở địa phương
Trang 27+ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khuyến nông
1 Nhận xét của người dân về mô hình
- Qui mô nhân rộng
+ Những vấn đề xã hội mô hình đã giải quyết
+ Chỉ tiêu đánh giá khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới của mô hình
- Loại kỹ thuật
- Số người học được kỹ thuật
- Số người áp dụng kỹ thuật vào sản xuất
Trang 28PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN PHÙ CÁT [4]
4.1.1 Điều kiện tự nhiên:
4.1.1.1 Vị trí địa lý:
Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Quy Nhơn 38 km về phía Bắc, có tọa độ địa
lý 108055’ – 1090151’6’’ kinh độ Đông và 13054’ – 14012’32” vĩ độ Bắc Phía Bắc giáphuyện Phù Mỹ, phía Nam giáp huyện An Nhơn và Tuy Phước, phía Tây giáp HuyệnTây Sơn và Vĩnh Thạnh, phía Đông giáp Biển Đông
4.1.1.2 Thời tiết khí hậu:
Phù Cát mang tính khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt: Mùakhô từ tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm Lượng mưatrung bình năm: 1.395mm; năm cao nhất 2.973mm; năm thấp nhất: 850mm Số ngàymưa trung bình 150 ngày/năm nhưng phân bố không đều, thường tập trung vào 3 tháng(9,10,11) Nhìn chung Phù Cát có nhiệt độ không khí cao, nhiệt độ trung bình là26,70C, tổng tích ôn là 97000C Thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi cho các loại câytrồng sinh trưởng phát triển
4.1.1.3 Điều kiện thủy văn:
Phù Cát có 2 con sông chính
- Sông La Tinh dài 45 km, diện tích lưu vực 80 km2, lưu lượng bình quân1,44m3/s, tổng dòng chảy trong năm 45,6triệu m2 Thượng nguồn có hồ Hội Sơn điềutiết nước cho các xã phí Bắc huyện
- Sông Đại Ân dài 28km, diện tích lưu vực 2233 km2, lưu lượng bình quân68,8m3/s, lưu lượng tháng khô kiệt 13,6m3/s Chủ yếu tưới cho các xã phía Nam huyện
- Chế độ thủy triều: Theo tại liệu cũ thì mực nước thấp nhất 0,29m, cao nhất1,5m Nhìn chung mực nước thủy triều tương đối ổn định, tuy nhiên vẫn gây nhiễmmặn 5 xã ven biển khoảng 500 đến 600 ha diện tích canh tác lúa
4.1.1.4 Địa hình, thổ nhưỡng:
a Địa hình:
Về địa hình Phù Cát khá phức tạp, vì trung tâm huyện có dãy núi Bà chia cắthuyện thành 4 tiểu vùng sinh thái:
Trang 29-Vùng đồng bằng phía Bắc: gồm các xã Cát Hanh, Cát Tài, Cát Minh nằm dọctheo sông La Tinh, đất đai tương đối bằng phẳng, có hệ thống thủy lợi Hội Sơn
-Vùng đồng bằng phía Nam: Gồm 6 xã nằm phía Nam dãy núi Bà theo hướngĐông-Tây Mùa mưa thường ngập úng 30-40 ngày, mực nước ngập từ 1,5-2m
-Vùng đồng bằng ven biển: gồm 3 xã tiếp giáp phía Đông Bắc núi Bà nên chiacắt thành nhiều thung lũng nhỏ
-Vùng khu vực trung tâm huyện và phía Tây: gồm 6 xã, có diện tích đất cát, đất
gò rộng lớn chiếm 2/3 diện tích tự nhiên trong vùng
Qua tìm hiểu và thu thập số liệu từ Niên giám thống kê huyện Phù Cát năm
2005 có thể đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện cụ thể qua bảng sau:
Bảng1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Phù Cát năm 2005
10031,4724,314,841,5630,590,180,226,83
[Nguồn: Niên giám thống kê Phù Cát, 2005]
Trang 30Theo số liệu thu thập được từ bảng trên chúng tôi thấy: Phù Cát có diện tích đấtđai tương đối rộng lớn 67854,8 ha và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau,nhưng phần lớn đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (31,47%) và lâm nghiệp(24,31) (chiếm tổng số 55,79% tổng diện tích đất tự nhiên).
Diện tích đất phi nông nghiệp gồm đất ở và đất chuyên dùng chỉ chiếm diệntích nhỏ 1059,65ha và 3286,62ha (chiếm 6,4% tổng diện tích đất tự nhiên)
Ngoài ra, vẫn còn một diện tích lớn đất đai chưa sử dụng: 20753,81 ha chiếm30,59% tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích này vẫn còn khả năng mở rộng 8932 haphục vụ cho sản xuất cho nông, lâm nghiệp Như vậy nếu biết khai thác tiềm năng đấtđai sẵn có, có thể mở rộng diện tích đất sản xuất phục vụ đời sống nhân dân
Theo bảng trên, ngoài diện tích đất dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp, ngườidân đây còn sản xuất diêm nghiệp (120 ha), nuôi trồng thủy sản (150 ha), tuy chỉ chiếmmột diện tích nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên 0.18% và 0.22% tổng diện tíchđất tự nhiên nhưng nó cũng mang lại nguồn thu đáng kể cho vùng, đặc biệt là các xãven biển
Tóm lại qua bảng tình hình sử dụng đất cho thấy huyện Phù Cát phần lớn đất đaiphục vụ cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp Vì vậy mà lao động ở đây phần lớncũng là lao động nông nghiệp Để thấy được cụ thể hơn điều này, chúng ta sẽ tìm hiểucặn kẽ hơn về tình dân số và và lao động của huyện
4.1.2.2 Tình hình dân số và lao động:
Để đánh giá được tình hình phát triển và hướng phát triển của một vùng cụ thể
có nhiều yếu tố cần được quan tâm, một trong những yếu tố cần được xem xét đó làdân số và lao động Tìm hiểu về dân số và lao động của một địa phương cho chúng tamột cái nhìn tổng quan về vùng; thấy được sự tương quan giữa dân số và lao động ởvùng đó Từ đó xem xét được mức độ phụ thuộc của dân số và lao động, nếu mức độphụ thuộc quá cao sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng tích lũy kinh tế, khả năng phát triểnkinh tế của vùng
Lao động là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, có lao động mới cóthể phân bổ vào các ngành kinh tế quốc dân, khai thác tiềm năng sẵn có địa phương và
Trang 31phục vụ vào mục đích sản xuất của từng ngành, tạo ra sản phẩm xã hội, có ý nghĩaquan trọng cho sự phát triển kinh tế của địa phương và của đất nước.
Qua tìm hiểu số liệu từ Niên giám thống kê của huyện Phù Cát (2005), tìnhhình dân số và lao động của huyện được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 2: Tình hình dân số và lao động huyện Phù Cát (2003-2005)
Năm
Chỉ tiêu
Số người(người)
Tỷ lệ(%)
Số người(người)
Tỷ lệ(%)
Số người(người)
Tỷ lệ(%)1.Tổng dân số
10051,6551,719,4380,57
194.053100.202100.33519.34380.992
10051,6451,719,2880,72
195.712100.708101.19320.11681.077
10051,4651,7119,8880,12
[Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phù Cát, 2005]
Dựa vào bảng 2 chúng tôi nhận thấy, dân số Phù Cát tăng dần qua các năm (năm
2004 tăng 1223 người so với năm 2003, năm 2005 tăng 659 người so với năm 2004)
Tỷ lệ dân số giữa nam và nữ có sự chênh lệch nhưng không đáng kể ( nữ chiếm51,46% tổng dân số năm 2005)
Cùng với sự gia tăng dân số thì lao động cũng tăng theo, tuy vậy, qua 3 năm từ2003-2005 thì tỷ lệ lao động vẫn luôn giữ ở mức ổn định chiếm 51,7% trong tổng dân
số huyện Như vậy nếu tính bình quân thì cứ một người lao động thì có một người ăntheo
Trong tổng số lao động thì đại đa số là lao động nông nghiệp (chiếm đến80,12% năm 2005 trong tổng số lao động) Còn lại là lao động phi nông nghiệp chiếmmột tỷ lệ nhỏ (19,88%)
Phù Cát với 17 xã và một thị trấn, dân số phần lớn sống ở nông thôn (trên 85%),
và sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp là rất lớn (trên 80% lao động nôngnghiệp) Mật độ dân số khoảng 288 người/km2,tuy vậy số lượng dân số và lao độngtrên địa bàn huyện phân bố không đều., vùng bán sơn địa khoảng 120 người/km2, đây
Trang 32là vùng thiếu lao động trong khi diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp rộng lớn chưađược khai thác.
Với diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp rộng lớn, với nguồn lao động dồi dào
và lại có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp từ lâu đời, nên đây là điều kiện thuận lợi
để huyện Phù Cát hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, phát triển theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Tuy nhiên, với dân số phụ thuộc vào nông nghiệp lớn như vậy lại gây áp lực lớnlên sản xuất nông nghiệp địa phương Vì vậy, việc chuyển dịch cơ cấu lao động giữacác ngành kinh tế đang là yêu cầu cấp thiết và cũng là thách thức lớn đặt ra hiện naycho địa phương
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng [4]
Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn đặc biệt là: điện, đường, trường, trạm,
hệ thống thủy lợi phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao đờisống dân cư Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng là một trong những giải pháp đểphát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Huyện Phù Cát có kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển khá rõ nét như xây dựngthủy lợi, điện, giao thông nông thôn, xây dựng trường học, trạm y tế…
* Giao thông:
Đến nay trên địa bàn huyện, hệ thống giao thông ngoài quốc lộ 1A và đường sắtBắc Nam (25km), 4 đoạn đường tỉnh lộ 633, 634, 635, 640 (dài 100km), có 326,8kmđường giao thông liên thôn, liên xã, 100% số xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm
xã
Từ nay đến năm 2010 phấn đấu xây dựng, trải nhựa các tuyến đường tỉnh lộ
633, 634, 635 và củng cố đảm bảo thông suốt tuyến 640 Từng bước duy tu nâng cấp,
mở rộng các tuyến đường tỉnh lộ khoảng 100km, hoạch định xong chỉ giới, xây dựngtoàn bộ mạng lưới, cấp phối và bê tông 50% các tuyến đường trung tâm thị trấn NgôMây Đẩy mạnh phát triển giao thông nông thôn theo phương châm: “Nhà nước vànhân dân cùng làm” Tập trung xây dựng, nâng cấp các tuyến đường liên xã (141km)
và liên thôn (254km) liên xóm trong từng xã, thị trấn Phấn đấu bê tông hóa 80%đường liên xã
Trang 33Trước mắt tập trung hoàn thành tuyến đường tỉnh lộ 640 và duy tu, sửa chữa,xây dựng nâng cấp các tuyến đường nối các vùng chuyên canh tập trung, các vùngtrọng điểm kinh tế bảo đảm lưu thông thông suốt từ trung tâm huyện đến các xã và cáccụm, vùng kinh tế.
* Thủy lợi:
Đã xây dựng 22 hồ chứa nước lớn nhỏ với dung tích tương đương 50 triệu m3 và
8 đập dâng phục vụ tưới cho gần 12.000ha, chiếm 63% diện tích canh tác được tướiqua hệ thống thủy nông
Trong những năm tới sẽ tập trung củng cố nâng cấp hệ thống hồ chứa, tràn xả
lũ, kênh mương của các hồ đập dâng xuống cấp, từng bước có kế hoạch bê tông hóakênh mương nội đồng, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho các loại cây trồng… Mở rộngxây dựng các trạm bơm nhỏ dọc sông La Tinh tưới cho đất màu trồng cây công nghiệpcác xã Cát Lâm, Cát Sơn, Cát Tài Hướng dẫn chế độ tưới tiêu hợp lý và khoa học đểtiết kiệm nước, tăng năng suất cây trồng Phấn đấu đến năm 2010 có 80% diện tíchcanh tác được tưới
* Hệ thống thông tin liên lạc:
Mạng lưới điện thoại đã phủ kín 18/18 xã, thị trấn, số máy thuê bao phát triểntương đối nhanh (năm 2005 có 0.8 máy/100 dân) Tiếp tục nâng cấp các bưu cục khuvực; xây dựng 100% điểm bưu điện văn hóa xã, thị trấn Phấn đấu đến năm 2010,ngành Bưu điện của huyện phát triển hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin cho tất cả cácngành kinh tế Đã đạt bình quân 4 máy điện thoại/100 dân
Trang 34* Y tế:
Huyện đã đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các trạm y tế xã, bệnh viện huyện.Trong những năm qua đã tiến hành khám và điều trị cho hàng ngàn lượt người, thựchiện tốt công tác tiêm phòng cho trẻ em, phụ nữ mang thai trên địa bàn huyện; gópphần vào công tác phòng và chữa bệnh ở tuyến y tế cơ sở
* Giáo dục:
Đến năm 2005, toàn huyện có 52 trường học tăng hơn 3 trường so với năm
2003, bao gồm: các trường tiểu học: có 30 trường (tăng hơn 1 trường so với năm2003); có 17 trường trung học cơ sở và 5 trường trung học (tăng hơn 2 trường so vớinăm 2003)
Trong những năm gần đây, huyện đã chú trọng đầu tư xây dựng, nâng cấp cáctrường học, phòng học, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con em trong huyện đến trườnghọc tập Phấn đấu đến năm 2010 phổ cập trung học cơ sở
4.1.2.4 Cơ cấu thu nhập của các ngành sản xuất
Theo nguồn số liệu thu thập được từ Niên giám thống kê huyện Phù Cát, giá trịsản xuất của các ngành kinh tế huyện Phù Cát qua các năm thể hiện qua bảng sau (giá
cố định năm 1994):
Trang 35Bảng3: Cơ cấu thu nhập của các ngành sản xuất huyện Phù Cát qua
Giá trị(tr.đ)
Tỷ lệ(%)
Giá trị(tr.đ)
Tỷ lệ(%)
Giá trị(tr.đ)
Tỷ lệ(%)
Tổng giá trị 477898,9 100 528605,3 100 554195,05 100 15,951.CN-TTCN 44270 9,26 58026 10,98 70173 12,66 58,51A.Khai thác mỏ 2870 6,48 3399 5,86 3155 4,5 9,93B.Chế biến 41400 93,52 54231 93,46 67018 95,5 61,88
2.Nông nghiệp 283081 59,23 312943 59,20 310275 55,99 9,61A.Trồng trọt 204745 72,33 225205 71,96 212440 68,47 3,76
B Chăn nuôi 73234 25,87 83088 26,55 91973 29,64 25,59
3 Lâm nghiệp 13771,9 2,89 12318 2,33 14797,2 2,67 7,45
4 Thủy sản 136776 28,62 145318,3 27,49 158949,85 28,68 16,21A.Khai thác TS 130636,5 95,51 137510,3 94,63 151238 95,15 15,77B.NTTS 4473 3,27 6725,5 4,63 6471,85 4,07 44,69C.Dịch vụ TS 1666,5 1,22 1082,5 0,74 1240 0,78 -25,93
Tr.đ: triệu đồng [Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phù Cát, 2005]
Dựa vào bảng trên chúng tôi thấy rằng: tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh
tế tăng dần qua 3 năm 2003-2005, tăng từ 477898,9 triệu đồng năm 2003 lên 528605,3triệu đồng năm 2004 và đến năm 2005 thì giá trị này đã đạt 554195,05 triệu đồng (tăng15,95% so với năm 2003) Có được kết quả này là nhờ sự tăng trưởng của tất cả cácngành kinh tế của huyện: Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, Nông nghiệp, Lâmnghiệp, Thủy sản Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong cơ cấu thu nhập giữa các ngànhkhông đều nhau và cũng khác nhau ngay trong cơ cấu thu nhập nội bộ từng ngành, cụthể:
Trang 36Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấuthu nhập giữa các ngành kinh tế huyện (chỉ chiếm 12,66% tổng giá trị thu nhập cácngành kinh tế, năm 2005), nhưng đây là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất Chỉ sau
3 năm từ 2003-2005 giá trị sản xuất của ngành tăng cao từ 44270 triệu đồng (năm2003) lên 70173 triệu đồng (năm 2005) (tăng 58,51%) Nhất là giá trị của ngành côngnghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh một cách đáng kể, tăng từ 41400triệu đồng (năm 2003) lên 67018 triệu đồng (năm 2005) (tăng 61,88%) (đây cũng làngành công nghiệp mũi nhọn của huyện, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành côngnghiệp: chiếm 95,5%, năm 2005) Điều này là phù hợp với điều kiện thực tế địaphương, một huyện sản xuất chính là nông nghiệp, nên ngành chế biến phát triểnkhông chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ cho nhân dân địa phương mà cònđáp ứng nhu cầu cho nhân dân quanh vùng
Ngành Thủy sản cũng là một trong số những ngành kinh tế trọng điểm củahuyện Phù Cát (chiếm 28,68% tổng giá trị của các ngành sản xuất, 2005) Trong 3 nămqua từ 2003-2005 giá trị của ngành Thủy sản tăng khá và đều qua các năm: tăng từ
136776 triệu đồng năm 2003 lên 145318,3 triệu đồng năm 2004 và đạt 158949,85 triệuđồng năm 2005 (tăng 16,21% so với năm 2003) Trong nội bộ ngành Thủy sản thì tỷtrọng của ngành khai thác Thủy sản chiếm tỷ lệ lớn (chiếm 95,17% năm 2005), ngànhNuôi trồng thủy sản tuy vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp nhưng tốc độ tăng trưởng của ngànhnày khá cao (tăng 44,69% năm 2005 so với năm 2003), mở ra một hướng phát triểnmới cho địa phương
Phù Cát là một huyện sản xuất nông nghiệp, vì vậy vai trò của nông nghiệp đốivới sự phát triển kinh tế của địa phương là rất quan trọng Giá trị của ngành sản xuấtnông nghiệp trong những năm qua luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thunhập từ các ngành kinh tế, chiếm 55,99% vào năm 2005 Từ năm 2003-2005, giá trị từsản xuất nông nghiệp có tăng nhưng tăng chậm và không ổn định, tăng từ 283081 triệuđồng năm 2003, lên 312943 triệu đồng năm 2004 nhưng đến năm 2005 thì giá trị nàygiảm xuống còn 310275 triệu đồng (năm 2005 tăng 9,61% so với năm 2003) Lý dochính là vì sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào yếu tố thời tiết là rất lớn, nên những giátrị thu nhập được từ sản xuất nông nghiệp cũng không thể ổn định được qua các năm.Trong nội bộ ngành nông nghiệp thì tỷ trọng của ngành trồng trọt chiếm tỷ lệ lớn nhất
Trang 37(chiếm 72,33% năm 2003) và có xu hướng giảm qua các năm (còn 68,45% năm 2005).Trong những năm qua nhờ thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Bình Định về chuyểnđổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tập trung đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi để tạo
ra sản phẩm hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, huyện Phù Cát
đã tập trung chỉ đạo phát triển ngành chăn nuôi ở qui mô hộ gia đình, có chính sách hỗtrợ về giống vật nuôi, hỗ trợ kinh phí lai tạo đàn bò, tiêm phòng gia súc, cho vay vốn
ưu đãi để phát triển bò lai, lợn hướng nạc, gia cầm… đối với hộ gia đình nên đã kíchthích được nông dân mở rộng qui mô sản xuất, phát triển ngành chăn nuôi Do đó,ngành chăn nuôi đã tăng trưởng khá cả về giá trị và sản lượng của đàn gia súc, gia cầmcác loại Giá trị của ngành chăn nuôi đã tăng lên đáng kể từ 73234 triệu đồng (năm2003) lên 91973 triệu đồng (năm 2005) (tăng 25,59%), đưa tỷ trọng giá trị ngành chănnuôi của huyện trong cơ cấu ngành nông nghiệp từ 25,87% năm 2003 lên 29,64% năm2005
Trong cơ cấu thu nhập các ngành kinh tế của huyện thì Lâm nghiệp là ngànhchiếm tỷ trọng thấp nhất (chỉ chiếm 2,67% trong tổng cơ cấu thu nhập, năm 2005).Trong những năm qua, giá trị sản xuất của ngành Lâm nghiệp có tăng nhưng tăng chậm
và cũng không ổn định: từ 13771,9 triệu đồng năm 2003 đến năm 2004 giá trị này đãgiảm còn 12318 triệu đồng và tiếp tục tăng đến 14797,2 triệu đồng vào năm 2005 (tăng7,45% so với năm 2003)
4.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHÙ CÁT TỪ NĂM 2003-2005 4.2.1 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính từ năm 2003-2005
Trong 3 năm gần đây, sản xuất các loại cây trồng chính của huyện có sự biếnđộng cả về diện tích, năng suất dẫn đến sản lượng các loại cây trồng cũng có sự biếnđộng đáng kể Theo nguồn số liệu thu thập được từ Niên giám thống kê huyện Phù Cát,tình hình sản xuất một số cây trồng chính từ năm 2003-2005 thể hiện cụ thể qua bảngsau:
Bảng 4: Tình hình sản xuất một số cây trồng chính huyện Phù Cát từ 2003-2005
Trang 39Dựa vào số liệu tổng hợp được từ bảng 4, chúng tôi nhận thấy: tình hình sảnxuất cây trồng của huyện Phù Cát tương đối đa dạng, gồm nhiều loại cây trồng khácnhau, trong đó có những cây trồng chính như: lúa, ngô, khoai lang, sắn, mía, lạc…
Trong số những cây trồng chính của huyện thì Lúa là cây lương thực chính đồngthời là cây chiếm diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn nhất (16241ha vào năm 2005),
kế đến là Lạc với diện tích 2088ha vào năm 2005 và Sắn (diện tích năm 2005 là 2076ha) và một số loại cây trồng khác như Ngô, Mía, Khoai lang chiếm diện tích nhỏ hơn
Nhìn chung, diện tích của các loại cây trồng có sự biến động lớn qua các năm,một số loại cây có xu hướng giảm diện tích như lúa, khoai lang, sắn, mía thay vào đó làdiện tích của ngô, lạc lại có xu hướng tăng Trong tổng số diện tích cây trồng có xuhướng giảm thì cây lúa là cây có diện tích giảm lớn nhất, năm 2003 diện tích sản xuấtlúa là 18400ha nhưng đến năm 2005 thì diện tích này còn 16241ha (đã giảm 2159ha),
kế đến là diện tích cây mía cũng giảm mạnh, giảm từ 946ha (năm 2003) xuống còn485.5ha (năm 2005) (giảm 460.5ha) Ngoài diện tích cây lúa và mía, diện tích của câysắn và khoai lang cũng giảm Năm 2005, diện tích cây sắn đã giảm 396ha so với năm
2003, cây khoai lang cũng giảm diện tích từ 144ha năm 2003 xuống còn 60ha năm
2005 (giảm 64ha) Trong khi đó, diện tích một số cây trồng khác như lạc và ngô lạiluôn tăng qua các năm từ 2003-2005 Diện tích cây lạc từ 1517.8ha năm 2003 tăng lên2088ha năm 2005 (tăng 570.2ha) Sau 3 năm diện tích của ngô cũng đã tăng hơn258ha Có sự thay đổi này là do trong những năm qua, huyện thực hiện chủ trươngchuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển một số diện tích lúa kém hiệu quả sang sản xuấtnhững cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn: lạc, ngô Tuy nhiên, nhận xét thấydiện tích của những cây trồng giảm lớn hơn nhiều so với diện tích tăng của một số câytrồng từ 2003-2005
Song song với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong 3 năm qua nhờ tăng diệntích nước tưới chủ động, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới về chọn giống,chế độ canh tác hợp lý nên năng suất của tất cả các loại cây trồng đều tăng (chỉ trừkhoai lang là vẫn giữ ổn định năng suất qua 3 năm liên tục) Trong số đó, năng suất câymía là tăng cao nhất: tăng từ 416 tạ/ha (năm 2003) lên 576.7 tạ/ha (tăng 160.7tạ/ha) sau
đó là các loại cây khác: Sắn tăng 50.6 tạ/ha; ngô tăng 6 tạ/ha; lạc tăng 3.4 tạ/ha; lúatăng 1.9 tạ/ha Mặc dù năng suất các loại cây trồng chính đều tăng nhưng lại không ổn