Các tổ chức cộng đồng được thành lập để giải quyết mối quan hệ trong cộngđồng và giữa cộng đồng với các nhà nước và các bên liên quan khác trong các vấn đề cụthể như bảo vệ môi trường, c
Trang 1PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Khái niệm tổ chức cộng đồng 3
2.2 Rừng cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng 4
2.3 Cơ sở pháp lý về quản lý rừng cộng đồng 5
2.4 Sự tham gia trong quản lý rừng 6
2.4.1 Khái niệm về sự tham gia: 6
2.4.2 Đánh giá mức độ tham gia 6
2.4.3 Phân loại sự tham gia trong quá trình phát triển 7
2.5 Quản lý rừng cộng đồng trên thế giới và ở Việt Nam 8
2.5.1 Trên thế giới 8
2.5.2 Ở Việt Nam 10
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Đối tượng nghiên cứu 13
3.2 Nội dung nghiên cứu 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin: 13
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 15
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Đặc điểm của vùng nghiên cứu 16
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 16
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Thượng Long 17
4.2 Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng 21
4.2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tài nguyên rừng của thôn Ta Vác (thôn 5) 21
4.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5 25
4.2.3 Các bên liên quan chính đến tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5 28
4.3 Các hoạt động chủ yếu của tổ chức cộng đồng và sự tham gia của người dân 29
4.3.1 Xây dựng ban quản lý của tổ chức quản lý rừng cộng đồng 29
4.3.2 Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộng đồng 31
4.3.3 Tổ chức họp và sinh hoạt nhóm 31
4.3.4 Hoạt động tuần tra bảo vệ rừng 34
4.3.5 Hoạt động vệ sinh rừng 36
4.3.6 Hoạt động trồng rừng, xúc tiến tái sinh làm giàu rừng 38
4.3.7 Hoạt động phòng chống cháy rừng 40
4.3.8 Hoạt động xây dựng vườn ươm 42
4.4 Kết quả ban đầu của việc quản lý bảo vệ rừng của tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5 43
4.5 Các vấn đề tồn tại trong hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộng đồng 49
4.5.1 Cách thức tổ chức 49
4.5.2 Sự tham gia của người dân 50
4.5.3 Năng lực của cộng đồng 51
4.5.4 Văn hoá và phong tục tập quán: 51
4.5.5 Tài chính, các tài trợ bên ngoài 52
4.6 Các giải pháp phát triển tổ chức quản lý rừng cộng đồng 52
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
Trang 2PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang bị suy giảm nghiêm trọng; từ 14,3 triệu
ha năm 1945 xuống còn 8,2525 triệu ha năm 1995, độ che phủ rừng giảm từ 43% (1943)xuống còn 28% (1990) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Áp lực dân số tăngnhanh, nhất là di dân tự do đã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt; kết quả là đãbiến nhiều vùng rừng thành đất hoang cằn cỗi Chiến tranh kéo dài cũng là một nguyênnhân khiến diện tích rừng của nước ta suy giảm Bên cạnh đó, phải kể đến nguyên nhânkhai thác bừa bãi, thiếu ý thức của con người và sự yếu kém trong công tác quản lý củaNhà nước
Nước ta có hơn 50 dân tộc thiểu số, phần lớn sinh sống ở miền núi Đời sống của
họ phụ thuộc chủ yếu vào rừng Họ có vai trò quyết định trong việc quản lý tài nguyênrừng Họ là người khai thác các sản phẩm từ rừng đồng thời tạo ra các phương thức quản
lý rừng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của dân tộc họ Trongnhiều trường hợp, người dân địa phương được đánh giá cao hơn các tổ chức bên ngoàitrong việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng - là nguồn sống của chính họ (Arnold,1992).Vấn đề quản lý tài nguyên rừng ở cấp xã đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các cộngđồng dân cư sống gần rừng Người dân có nhu cầu lấy đất để sản xuất nông nghiệp, gỗcủi để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hằng ngày Đối với những diện tích rừng được giaokhoán để bảo vệ, người dân chỉ được hưởng sự hỗ trợ của nhà nước bằng tiền khoán bảo
vệ rừng còn việc khai thác các lâm sản từ rừng là rất hạn chế Nếu chỉ hỗ trợ tiền màkhông cho người dân hưởng lợi từ quản lý và sử dụng một cách bền vững thì đó chưaphải là phát triển bền vững
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã có từ lâu đời nhưng không phát triển do thiếu
sự quan tâm của Nhà nước Theo các quan niệm truyền thống của đồng bào thì chế độ sởhữu và quyền sử dụng đất đai, tài nguyên rừng trong thôn là sở hữu công đồng, của tất cảcác thành viên trong thôn bản, mọi thành viên trong cộng đồng đều được bình đẳng trongviệc khai thác sử dụng theo luật tục/quy ước của thôn do sự điều khiển của già làng,trưởng bản, người ngoài cộng đồng không được vi phạm
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng cộng đồng có cơ hội phát triển Sự ra đờicủa các chính sách liên quan chứng tỏ sự quan tâm của nhà nước đến lĩnh vực này Luậtđất đai 2003 và luật quản lý bảo vệ rừng 2004 đã thừa nhận cộng đồng dân cư thôn bản là
Trang 3một đối tượng giao và rừng Đây là cơ sở để cộng đồng dân cư thôn bản có quyền hưởnglợi từ phần rừng và đất rừng do chính họ quản lý và bảo vệ
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích là rừng núichiếm 64% (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế), là nơi sinh sống của cộng đồng cácdân tộc Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, trong những năm gần đây, diện tíchrừng trên địa bàn toàn huyện cũng bị suy giảm nghiêm trọng về cả số lượng lẫn chấtlượng Cùng với sự quan tâm của nhà nước, nhiều tổ chức cộng đồng trong quản lý rừngđược thành lập trên địa bàn toàn huyện Một câu hỏi đặt ra là các tổ chức này đã hìnhthành như thế nào? Họ hoat động ra sao? Và hiệu quả mà tổ chức này mang lại trong việcphát triển đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư nói chung và hiệu quả quản lýrừng nói riêng như thế nào? Việc đánh giá hoạt động của các tổ chức quản lý rừng cộngđồng và tìm ra các giải pháp thúc đẩy tổ chức cộng đồng phát triển là rất cần thiết Đó
chính là lý do chúng tôi chọn thực hiện đề tài “Đánh giá các hoạt động của tổ chức
quản lý rừng cộng đồng tại thôn 5, xã Thượng Long, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng dựa vàocộng đồng ở thôn 5, xã Thượng Long
- Mô tả các hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộng đồng và sự tham gia củangười dân
- Đánh giá những kết quả ban đầu của việc quản lý tài nguyên rừng của tổ chứcquản lý rừng cộng đồng
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vữngcủa tổ chức quản lý rừng cộng đồng
Trang 4PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm tổ chức cộng đồng
Tổ chức là một quá trình tham gia của cộng đồng để có được một sức mạnh haymột quyền lực nhất định Giáo lý về tổ chức cộng đồng của Alinsky cho rằng, quyền lựckhông chỉ có nghĩa là cái mà họ có mà còn là cái mà người khác cho rằng họ có Tổ chức
sẽ tạo ra sức mạnh và quyền lực và đến lược nó, sức mạnh, quyền lực này sẽ tạo ra sứcmạnh cho cộng đồng (Iddagola and Dale, 1997)[8]
Một tổ chức dựa vào cộng đồng là một tổ chức được hình thành và hoạt động của
nó có vai trò rất lớn đối với cộng đồng và người dân Theo Lê Quốc Dân (2004), tổ chứcdựa vào cộng đồng là một tổ chức mạng tính cộng đồng cao.[6] Để người dân tham giavào tổ chức, họ phải cảm nhận được rằng họ có thể làm điều gì đó để nâng cao chất lượngcuộc sống của chính họ Một khi người dân hiểu được ý tưởng rằng, tổ chức sẽ tạo nênsức mạnh và quyền lực cho họ thì điểm quan trọng tiếp theo là họ sẽ hành động để thựchiện ý tưởng này và hành động đó đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình hìnhthành tổ chức cộng đồng được ví như là ôxy dùng để thở (Fuglesang, Chandler, 1993) [8]
Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức nào về tổ chức dựa vào cộng đồngdưới góc độ nghiên cứu và góc độ quản lý nhà nước Nhưng nó được sử dụng rất phổbiến Nói chung, tổ chức cộng đồng lấy cộng đồng làm nền tảng và là đối tượng mục tiêucho hoạt động Tuy nhiên các hình thức dựa vào cộng đồng và cấu trúc của nó cũng rấtkhác nhau Các tổ chức cộng đồng được thành lập để giải quyết mối quan hệ trong cộngđồng và giữa cộng đồng với các nhà nước và các bên liên quan khác trong các vấn đề cụthể như bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, truyền thông, phát triển nôngthôn…
Các tổ chức cộng đồng có các thành viên là người dân có cùng lợi ích chung nào
đó, ví dụ như các tổ chức người sản xuất, các nhóm cùng nguồn lợi, các ban phát triểncủa làng Sự phát triển này dựa trên khái niệm về vốn, nhấn mạnh đến các vốn sinh kếkhác nhau của cộng đồng: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn cơ
sở hạ tầng Tổ chức dựa cộng đồng giải quyết can thiệp ở cấp cộng đồng và thường làhoạt động trong các lĩnh vực sinh kế và xã hội Chính vì thế tổ chức dựa vào cộng đồng lànhững tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức dựa vào niềm tin Các tổ chức cộng đồng có thể
Trang 5được thành lập theo sáng kiến của cá nhân hoặc chính quyền địa phương, các tổ chứcquốc tế hoặc các nhân tố bên ngoài.
Các tổ chức dựa vào cộng đồng hoạt động và liên kết hoạt động thông qua cácđiều lệ và những khía cạnh pháp lý được thừa nhận, gọi chung là thể chế Thể chế là mốiquan hệ và ràng buộc giữa các thành viên của một tổ chức và giữa tổ chức với các bênliên quan khác để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả và bền vững Một tổ chứccộng đồng có thể tồn tại và phát triển được khi mục tiêu của nó tương thích với mục tiêucủa cộng đồng và đáp ứng được nhu cầu của người dân Sự tương thích này giúp chongười dân xác định và nói lên được nhu cầu của họ, trên cơ sở đó tổ chức điều chỉnh quátrình ra quyết định và quá trình thực hiện quyết định của mình để đáp ứng tốt các nhu cầunày Điều này chỉ xảy ra khi các thành viên trong tổ chức được trao quyền và cộng đồngđược nâng cao năng lực [6]
2.2 Rừng cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng
Ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng được định nghĩa như sau:
- Thứ nhất là hình thức quản lý rừng của cộng đồng: đây là hình thức mà mọi thành viêncủa cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừngthuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộngđồng
- Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vào cộng đồng) Đây
là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quản lý, sử dụng, sởhữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sở hữu, sử dụng của các thành phần kinh tếkhác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, đến thu nhập hay các lợi íchkhác của cộng đồng (thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt…)
Hình thức này có thể chia thành hai đối tượng:
- Đối tượng thứ nhất, rừng của hộ, cá nhân là thành viên của cộng đồng Cộng đồng thamgia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tựnguyện (tạo nên sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạtđộng lâm nghiệp…)
- Đối tượng thứ hai, rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước(các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các lâm trường, các công ty lâm nghiệpnhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức cá nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt
Trang 6động lâm nghiệp với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởnglợi theo các cam kết trong hợp đồng [7]
được thể hiện rõ trong Luật đất đai (2003): "Cộng đồng thôn bản được công nhận là đối
tượng được giao đất" Tuy nhiên, theo Luật dân sự (1995) và Luật đất đai (2003), cộng
đồng dân cư thôn không thuộc phạm vi điều chỉnh của đối tượng giao đất rừng phòng hộ,đất rừng sản xuất và đất rừng đặc dụng
Mặc dù đã có Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ra ngày 12/11/2001 của Thủ tướngChính phủ về cơ chế hưởng lợi khi nhận giao đất giao rừng, kèm theo Thông tư 80/2003/TTLT-BTC/BNN & PTNT ra ngày 3/9/2003 hướng dẫn việc thực hiện Quyết định 178,song chính sách này chỉ áp dụng cho các đối tượng là các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình
mà chưa có những quy định cho đối tượng là cộng đồng tham gia quản lý rừng Như vậy,một trong những trở ngại lớn nhất cho việc phát triển quản lý rừng cộng đồng là chưa cómột cơ chế chính sách rõ ràng về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi của cộng đồng khi thamgia quản lý rừng tại địa phương
Để tạo cơ sở pháp lý cho các đối tượng tham gia quản lý tài nguyên rừng, Luật Bảo vệ
và Phát triển Rừng sửa đổi (2004) đã quy định rõ về quyền sử dụng rừng, quyền sở hữurừng và nghĩa vụ của các chủ rừng, đồng thời đã đề cao trách nhiệm của chủ rừng đối vớirừng đã được giao, được thuê rừng trồng thuộc quyền sở hữu của mình Đây chính làđộng lực thúc đẩy các chủ rừng yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, bảo vệ
và phát triển rừng Bên cạnh đó Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (2004) đã chính thứccông nhận vai trò, vị trí của cộng đồng dân cư thôn trong việc quản lý, bảo vệ và pháttriển rừng
Trang 72.4 Sự tham gia trong quản lý rừng
2.4.1 Khái niệm về sự tham gia:
Theo nghĩa chung nhất, sự tham gia là sự gắn kết một cách lâu dài, chủ động và cóvai trò ngày càng cao vào quá trình phát triển, từ việc xác định vấn đề đến việc lập kếhoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng đồng vàđảm bảo sự phân chia công bằng lợi ích của sự phát triển
Theo FAO, sự tham gia là quá trình mà qua đó người dân có thể nhận biết củachính mình và tham gia vào việc thiết kế, thực hiện, đánh giá các phương án phát triển tạiđịa phương
Sự tham gia là một quá trình cho phép người dân tự tổ chức để xác định nhu cầu
và cùng nhau thiết kế, tổ chức thực hiện, đánh giá các hoạt động và cùng nhau hưởng lợi
từ các hoạt động đó Các hoạt động được triển khai từ các nguồn lực mà người dân có thểtiếp cận được thông qua sự hỗ trợ của Chính phủ hoặc các cơ quan tổ chức khác nhau
Phát triển có sự tham gia là xây dựng hoạt động lấy người dân và cộng đồng làmtrung tâm, dựa vào dân và bắt đầu với người dân
Theo Setty, sự tham gia của người dân có nghĩa là họ cùng với các cơ quan pháttriển xây dựng chương trình hoạt động, lựa chọn ưu tiên, khởi xướng và thực hiện các dự
án bằng cách đóng góp những ý tưởng, mối quan tâm, vật liệu, tiền bạc, lao động và thờigian Phạm vi tham gia của người dân phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác nhau nhưtính chất của từng hoạt động, thời gian thực hiện các hoạt động, đặc điểm kỹ thuật củacác hoạt động, vị trí hoạt động, kinh phí hoạt động, sự khuyến khích của cơ quan pháttriển đối với loại hình tham gia ở các giai đoạn khác nhau, chất lượng và số lượng thamgia mà họ mong muốn từ người dân.[6]
2.4.2 Đánh giá mức độ tham gia
Đánh giá mức độ tham gia dựa vào các chỉ tiêu được chấp nhận hoặc chỉ tiêu phảnánh của sự tham gia Một số chỉ tiêu được sử dụng phổ biến bao gồm:
- Thời gian tham gia (Khi nào sự tham gia bắt đầu): Có thể thực hiện sự tham giavào bất kỳ giai đoạn nào của chu trình dự án
- Ai là người tham gia: Đó có phải là các quan chức địa phương, chỉ là nam giới,chỉ là những người có học vấn, những người sống gần vùng trung tâm của làng nhất, ai lànhững người tham gia? Những câu hỏi này gợi ra một điểm vô cùng quan trọng về tínhcông bằng của sự tham gia
Trang 8- Quy mô của sự tham gia: Số lượng người tham gia trong các hoạt động và các chỉ tiêuđịnh lượng về mặt thời gian, về sự đóng góp.
- Mức độ kiểm soát việc ra quyết định liên quan đến hoạt động cộng đồng/hộ gia đìnhhoặc cá nhân: Ai là người khởi xưởng dự án? Nhu cầu của ai đang được thỏa mãn? Ai sẽ
là người giám sát nguồn lực? Ai là người xem xét xu hướng phát triển của dự án? Nhữngcâu hỏi này xác định mức độ mà các thành viên trong cộng đồng có quyền kiểm soát hoặctăng quyền lực
2.4.3 Phân loại sự tham gia trong quá trình phát triển
Sự tham gia có thể được phân thành các cấp độ như sau:
1 Tham gia bị động: Mọi người tham gia được cho biết cái gì sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra.Chỉ là sự thông tin một cách đơn phương của cơ quan hành chính hoặc cơ quan quản lý
2 Tham gia bằng cách cung cấp thông tin: Mọi người tham gia bằng cách trả lời các mẫucâu hỏi do nhà nghiên cứu đưa ra, sử dụng các phiếu điều tra hoặc cách tiếp cận tương tự
3 Tham gia bằng cách tham vấn: Mọi người tham gia bằng cách tham vấn Những ngườibên ngoài lắng nghe các quan điểm và xác định vấn đề và giải pháp đồng thời sửa đổichúng theo phản ứng của mọi người
4 Tham gia do vật chất: Mọi người tham gia bằng cách cung cấp nguồn lực, ví dụ, laođộng để được cấp lương thực hoặc khuyến khích vật chất
5 Tham gia mang tính chất chức năng: Mọi người tham gia bằng cách xây dựng cácnhóm nhằm thỏa mãn mục tiêu dự án liên quan đến sự phát triển hoặc thức đẩy các tổchức những tổ chức xã hội được khởi xướng từ bên ngoài Những tổ chức này có khuynhhướng phụ thuộc vào người khởi xướng và hướng dẫn từ bên ngoài, song cũng có thể trởthành tự lập
6 Sự tham gia có tác động qua lại: Mọi người tham gia vào phân tích để xây dựng kếhoạch hành động và thiết lập nên các tổ chức mới ở địa phương hoặc củng cố các tổ chức
đã có từ trước Các nhóm này kiểm soát những quyết định của địa phương do đó mọingười sẽ có những đóng góp của riêng mình vào việc duy trì cơ cấu hoặc thực hành
7 Tự vận động: Mọi người tham gia bằng cách tự khởi xướng độc lập với các tổ chứcbên ngoài để thay đổi các hệ thống Họ hình thành các hợp đồng với các tổ chức bênngoài để có được nguồn lực và cố vấn kỹ thuật mà họ cần, nhưng vẫn duy trì sự kiểmsoát cách sử dụng tài nguyên [6]
Trang 92.5 Quản lý rừng cộng đồng trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1 Trên thế giới
Thống kê của FAO (1999) những năm cuối thế kỷ XX, cả thế giới trong 5 nămmất 56 triệu ha rừng, châu Phi và châu Á mỗi năm mất 3 đến 3,6 triệu ha, tỷ lệ mất rừnghằng năm đạt kỷ lục 0,6 – 0,7% trong khi cả thế giới là 0,3% Riêng châu Âu tăng được2,6 triệu ha [9]
Trước thực trạng đó đòi hỏi cấp thiết phải đưa ra được một phương thức quản lýrừng phù hợp Xu hướng quản lý rừng bền vững đòi hỏi có một phương thức hiệu quảnhất Nhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu, xem xét lựa chọn hình thức quản
lý dựa vào cộng đồng và coi đây là phương thức quản lý tốt nhất bởi lẽ cộng đồng dân cư
là những người sống gần rừng phụ thuộc nhiều vào rừng và có những ảnh hưởng lớn tácđộng đến rừng
Hình thức quản lý rừng cộng đồng không phải mới có mà nó đã xuất hiện từ rấtsớm dưới dạng quản lý tài nguyên rừng công cộng Trong những năm 1980, yêu cầu vềkiến thức đối với tài nguyên sở hữu công cộng (CPRM) và hành động tập thể đã tăngnhanh Các nhà nghiên cứu quốc tế và chuyên gia phát triển cảm thấy họ phải tổ chức lại
và trao đổi kiến thức và có cách nhìn sâu vào nội dung Năm 1985, có một hội nghị quốc
tế về CPRM họp tại Annapolis, Maryland dưới sự bảo trợ của Viện Hàn Lâm Quốc GiaHoa Kỳ Một thành quả của nó là sự hình thành một mạng lưới sở hữu tài nguyên côngcộng nhằm nghiên cứu và phổ cập thông tin về quản lý tài nguyên dựa trên cơ sở cộngđồng [5]
Ở Inđônêxia, trong những năm 1920 dưới sự cai trị của người Hà Lan, người ta đã
cố gắng đưa vào đất nước này những kế hoạch quản lý tài nguyên công cộng chính quytheo khuôn khổ hệ thống marga – đó là những pháp nhân địa phương đã được tạo lập tạimột vài nơi ở đảo Sumatra, chịu trách nhiệm về cả việc điều hành sử dụng đất
Trong những năm 1920 và đầu những năm 30, những ưu điểm của tổ chức địaphương về mặt quản lý một số rừng ở địa phương đã bị đưa ra bàn cãi trong cơ quan lâmnghiệp Inđônêxia Đã có những gợi ý là trách nhiệm quản lý rừng phải được chia sẻ giữa
có quan lâm nghiệp và các làng bản địa phương Theo đề nghị đó, cơ quan lâm nghiệp sẽquản lý và bảo vệ các đầu nguồn và các rừng cấm sản xuất gỗ thương nghiệp, còn cáccộng đồng địa phương dựa trên chỉ dẫn và cố vấn về mặt kỹ thuật của cán bộ lâm nghiệp
sẽ quản lý các khu rừng còn lại để phục vụ các nhu cầu địa phương [5]
Trang 10Tại Ấn Độ, trong những năm 1920, các nhà chức trách thuộc địa Ấn Độ đã thửđưa ra hệ thống quản lý rừng địa phương mới Tại bang Uttar Pradesh người ta đã thànhlập các “hội đồng rừng” địa phương đặc biệt nhằm tạo nên một lớp đệm giữa rừng củaNhà nước và dân làng địa phương Đã có những suy nghĩ là việc quản lý rừng địa phươngphải được thực hiện trên nguyên tắc được cộng đồng xây dựng và thỏa thuận Đến đầunhững năm 90 của thế kỷ XX, chính phủ ở nhiều bang của Ấn Độ cùng với sự hỗ trợ củacác nhà tài trợ trong và ngoài nước đã xúc tiến những kế hoạch xây dựng lâm nghiệp xãhội thông qua những kế hoạch quản lý rừng công cộng.
Ở Nêpan, năm 1978, chính phủ nước này đã ban hành chính sách lâm nghiệp cộngđồng mở rộng quyền quản lý các nguồn tài nguyên rừng nhằm đáp ứng nhu cầu của cộngđồng Tuy nhiên quá trình quản lý còn gặp nhiều bất cập do nhữn khác nhau về tập quáncủa người bản địa, các khu rừng lại phân tán không gắn với phân vùng hành chính nênchính sách lâm nghiệp cộng đồng lúc đó chưa phát huy được tác dụng Một hình thứcquản lý theo các nhóm sử dụng rừng, được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân vàđược nhà nước hỗ trợ ra đời Nhà nước giao toàn bộ các khu rừng cho các nhóm sử dụng,tăng quyền lực và ưu tiên đào tạo cho họ Các nhóm sử dụng rừng được hưởng tất cả cáckhoản thu nhập từ nguồn tài nguyên Vai trò của các tổ chức lâm nghiệp được thay đổi từchức năng quản lý, kiểm soát sang chức năng khuyến nông – khuyến lâm và hỗ trợ Vớihình thức quản lý mới rừng của các cộng đồng được bảo vệ tốt hơn
Ở Thái Lan, năm 1968, nước nà y đã thực hiện nhiều chương trình làng lâmnghiệp triển khai tại các vùng đất thoái hóa Từ năm 1981, chính phủ Thái Lan khuyếnkhích và mở rộng quyền quản lý rừng cho cộng đồng Nhà nước phát triển các dự án lànglâm nghiệp trên quy mô lớn, tại đó các hộ gia đình được giao đất thổ cư và đất canh tácnông lâm nghiệp Năm 1989, nhà nước đưa ra chính sách phát triển lâm nghiệp cộngđồng trong đó xác định pháp lý bảo vệ và quản lý đất lâm nghiệp cho các cộng đồng địaphương Chính nhờ đó, rừng được bảo vệ và quản lý tốt hơn [9]
Ở Philippin, từ sau năm 1971, chính phủ ban hành chính sách cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất cho các cá nhân và cộng đồng trong thời gian 25 năm và sau đó có thểgia hạn Nhà nước hình thành các vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên và vườnquốc gia, tai đó cộng đồng địa phương được phép tham gia quản lý nguồn tài nguyênthiên nhiên [9]
Theo Schuartzman (1989), tại Braxin, có một bộ phận người dân địa phương sốngphụ thuộc vào việc chích nhựa mũ cao su tự nhiên trong các khu rừng cấm khai thác lâu
Trang 11dài Các khu rừng cấm khai thác lâu dài là những khu vực có cây mà những người sửdụng chúng thường tới khai thác để lấy các sản phẩm như nhựa cao su, quả hạch, theomột phương thức nào đó đảm bảo sự phát triển bền vững Qua đó không những bảo tồn
mà có lúc còn mở rộng được các rừng nhiệt đới đó bằng cách giúp những người sử dụngbảo vệ chúng chống lại những người khác như các chủ trang trại chăn nuôi lớn và nhữngnông dân muốn phá rừng để mở rộng hoạt động của họ Những người chích mũ cao sucần có diện tích đủ lớn để hoạt động đã giúp họ đồng minh được với các tổ chức quốc tế
về môi trường, đang quan tâm đến bảo tồn rừng nhiệt đới
2.5.2 Ở Việt Nam
Nước ta có hơn 50 dân tộc thiểu số, phần lớn sinh sống ở miền núi, thôn, bản làđơn vị xã hội truyền thống, cơ bản trong nông thôn miền núi, có tính độc lập tương đốicao, là cộng đồng dân cư tự nhiên của các tộc người có mối quan hệ ràng buộc bởi cóchung các yếu tố như: chung nơi cư trú, cùng tôn giáo, tín ngưỡng, chung văn hoá, biểuhiện rõ nét trong ngôn ngữ và tập quán thống nhất của cộng đồng
Các dân tộc thiểu số thường có tập quán quản lý cộng đồng với đất đai và tàinguyên thiên nhiên trong địa phận của thôn buôn Trước đây với tập quán làm nương rẫyphổ biến thì tài nguyên quan trọng là đối với cộng đồng là rừng và đất rừng Theo cácquan niệm truyền thống của đồng bào thì chế độ sở hữu và quyền sử dụng đất, tài nguyênrừng trong thôn là sở hữu cộng đồng, của tất cả các thành viên trong thôn, mọi thành viêntrong thôn bản đều được bình đẳng trong việc khai thác sử dụng theo luật tục/quy ước củathôn, do sự điều khiển của già làng, trưởng bản, người ngoài cộng đồng không được viphạm
Chẳng hạn người Thái vùng Tây Bắc có tập quán phân loại rừng núi thành các khuvực nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống cộng đồng: rừng phòng hộ nằmtrên các khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác; rừng dành cho khai thác tre gỗ
để dựng nhà và các nhu cầu khác thì tuyệt đối không được phát nương làm rẫy, thường làvùng núi cao
Ở Tây Nguyên, người Ê Đê và Mnông có luật tục rất phong phú, điều chỉnh nhiềulĩnh vực: tổ chức và quản lý cộng đồng xã hội; ổn định trật tự an ninh và đảm bảo lợi íchcộng đồng; quan hệ dân sự quản lý sử dụng đất đai, bảo vệ sản xuất và môi trường Cũngnhư vậy, luật tục quy định của người Tà Ôi, Vân Kiều ở miền Trung, người Stiêng ởĐông Nam Bộ đều có quan niệm về đất đai, tài nguyên rừng là tài sản chung của tất cảcộng đồng không phải của riêng ai
Trang 12Để phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, Việt Nam đã bắt đầu cónhững nghiên cứu cũng như thực hiện các dự án hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp xã hội,lâm nghiệp cộng đồng trong các vùng khác nhau Nguyễn Hồng Quân (2000) đã phânloại cộng đồng ra làm 2 loại, cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản Theo tác giả kháiniệm cộng đồng sử dụng trong phương thức quản lý rừng cộng đồng ở nước ta là cộngđồng làng bản Ngoài ra, với sự nỗ lực của các dự án phát triển nông thôn ở Đăk Lăk(ETSP), ADB ở Gia Lai, khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được đề xuất bao
gồm các khía cạnh: a) Quyền sử dụng đất lâu dài sau giao đất giao rừng b) Đánh giá tài nguyên có sự tham gia để lập kế hoạch quản lý rừng c) Nâng cao năng lực kỹ thuật lâm
sinh ở các cấp cơ sở là nền tảng cho việc đảm bảo quản lý rừng dựa vào cộng đồng bềnvững (GFA, 2000)
Hội thảo quốc gia về rừng cộng đồng, tổ chức lần đầu tiên (6/2000), tại Hà Nội đã
khẳng định: "Quản lý rừng cộng đồng thích hợp với vùng sâu vùng xa, nơi đời sống, sinh
hoạt và sản xuất của người dân phụ thuộc nhiều vào rừng Quản lý rừng cộng đồng đã được thực hiện tốt ở nhiều cộng đồng có truyền thống quản lý rừng lâu đời, có sự tham gia tích cực của cộng đồng, có tổ chức cộng đồng rõ ràng, có hương ước nội bộ và người đứng đầu cộng đồng thường được các thành viên trong cộng đồng tôn trọng".
Để đánh giá tính phổ biến của rừng cộng đồng thôn bản có thể dùng hai chỉ tiêu: tỷ
lệ số xã có rừng cộng đồng trong tổng số xã và quy mô rừng cộng đồng thôn bản: tỷ lệrừng thôn bản chiếm trong tổng diện tích đất lâm nghiệp của thôn và hộ gia đình Theothống kê ban đầu của Cục Kiểm Lâm (tháng 6/2001), có 1.023 xã thuộc 146 huyện ở 24tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có rừng và đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý
và sử dụng, với diện tích khoảng 2.348.390 ha, chiếm 15,5% diện tích đất lâm nghiệp củatoàn quốc, trong đó nhà nước giao là 1.211.000 ha và 214.000 ha do cộng đồng thôn quản
lý theo truyền thống, trong đó rừng do cộngđồng dân cư thôn quản lý chiếm tuyệt đại bộphận của diện tích đó
Trên thực tế rừng cộng đồng hầu như không có sự đầu tư của nhà nước Cộngđồng tự tổ chức quản lý, bảo vệ và khai thác các lợi ích của rừng để trang trải các chi phícho bảo vệ rừng Thậm chí các thôn bản còn quy định hằng năm các thành viên phải đónggóp (tiền hoặc ngày công) cho việc bảo vệ rừng cộng đồng Họ quan niệm rừng cộngđồng là của chính họ,hộ gia đình được hưởng lợi ích từ rừng nên phải tự giác bảo vệ, nhất
là bảo vệ duy trì các rừng thiêng của thôn hay liên thôn Nhờ các luật tục trong quản lýrừng và tài nguyên còn lưu truyền cho đến nay, người dân có ý thức tự giác và tính tự
Trang 13quản cao trong bảo vệ, xây dựng rừng cộng đồng nên nhiều khu rừng cộng đồng đượcbảo vệ và phát triển tốt.
Thử nghiệm giao đất giao rừng và các nghiên cứu về chính sách, thể chế, tổ chức,tiếp cận để phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, các tỉnh đã tiến hànhgiao rừng tự nhiên gồm: Đăk Lăk; Thừa Thiên Huế; Sơn La;… Các khu rừng, đất lâmnghiệp được giao ở các tỉnh phía Bắc chủ yếu là đất trống, rừng non, trong khi đó ở TâyNguyên đã thử nghiệm giao cả các khu rừng tốt Từ thực tiễn giao đất giao rừng ỏ cáctỉnh cho thấy, tiến trình này đã được khởi động bắt đầu tích lũy kinh nghiệm, song hầuhết cũng mới giao đất giao rừng mà chưa có thử nghiệm cụ thể nào cho tiến trình pháttriển quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Trang 14PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu cách thức tổ chức, quản lý, vận hành của tổ chứcquản lý rừng cộng đồng và sự tham của người dân
Đề tài được thực hiện tại thôn 5 (Ta Vac) của xã Thượng Long, huyện Nam Đông,tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng
- Thời gian thành lập
- Điều kiện hình thành
- Tiến trình thành lập
- Chức năng nhiệm vụ của tổ chức cộng đồng
- Hệ thống quản lý, các bên liên quan
- Thành viên tham gia (theo thời gian)
3.2.2 Các hoạt động của tổ chức cộng đồng và sự tham gia của người dân
- Hoạt động xây dựng Ban quản lý của tổ chức
- Hoạt động xây dựng quy chế
- Hoạt động hội họp
- Hoạt động tuần tra bảo vệ rừng
- Hoạt động trồng rừng, xúc tiến tái sinh làm giàu rừng
- Hoạt động phòng chống cháy rừng
- Hoạt động vệ sinh rừng
- Hoạt động xây dựng vườn ươm
3.2.3 Những kết quả ban đầu của việc quản lý tài nguyên của tổ chức quản lý rừng cộngđồng
- Thực hiện các hoạt động quản lý
- Thay đổi tài nguyên rừng
- Tình trạng khai thác lâm sản trái phép
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin:
3.3.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp:
Trang 15- Thu thập các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của đại bàn nghiêncứu xã Thượng Long; thôn 5, xã Thượng Long.
- Văn bản, hồ sơ giao rừng, kế hoạch phát triển rừng, quy ước bảo vệ rừng của cộng đồngdân cư thôn 5, xã Thượng Long
- Các văn bản pháp luật liên quan đến việc giao đất giao rừng
- Đồng thời có tham khảo, kế thừa các thông tin liên quan đến quản lý rừng c ó sự thamgia của cộng đồng từ các website, những nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới
*Phương pháp: thu thập các báo cáo của xã, văn bản pháp luật, tại các phòng ban
có liên quan, sử dụng phiếu thu thập thông tin thứ cấp để thu thập thông tin từ Chủ tịch
xã, cán bộ phụ trách lâm nghiệp, trưởng thôn,
3.3.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp
a, Thảo luận nhóm: Trong thời gian thực tập chúng tôi đã thực hiện hai cuộc thảo luậnnhóm
- Cuộc thảo luận thứ nhất
+ Thành phần tham gia: Gồm trưởng thôn 5, 4 thành viên Ban quản lý rừng thôn, 1 cán
bộ lâm nghiệp xã, 1 đại diện đoàn thanh niên thôn, 1 hội phụ nữ thôn cùng nhóm sinhviên thực tập cùng địa bàn
+ Thông tin thu thập:
* Mô tả các hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộng đồng và sự tham gia củangười dân trong từng hoạt động
* Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộng đồng
* Các khó khăn và giải pháp đề xuất
- Cuộc thảo luận thứ hai
+ Thành phần tham gia: 8 người dân trong thôn, trong đó có 4 hộ không nghèo và 4 hộnghèo; thành phần có đủ nam, nữ, già, trẻ cùng nhóm sinh viên
+ Nội dung:
* Lý do tham gia vào tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn
* Mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động
* Nhu cầu hỗ trợ của hộ để tăng cường sự tham gia của hộ vào tổ chức quản lýrừng cộng đồng
b, Phỏng vấn hộ:
Trang 16- Do địa bàn nghiên cứu được lựa chọn thực hiện trên một thôn, số hộ ít nên đã tiến hànhphỏng vấn tất cả các hộ trong thôn, gồm 38 hộ trong đó có 22 hộ nghèo và 16 hộ khôngnghèo Phỏng vấn theo phương pháp bán cấu trúc, sử dụng câu hỏi đã thiết kế sẵn.
- Nội dung thông tin thu thập:
+ Mức độ quan trọng của lâm nghiệp đối với hộ
+ Sự tham gia của người dân vào các hoạt động của tổ chức quản lý rừng cộngđồng
+ Các khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình tham gia vào tổ chức
+ Nhu cầu hỗ trợ để họ tham gia tốt hơn các hoạt động quản lý bảo vệ rừng tốthơn
- Phỏng vấn sâu trưởng ban quản lý rừng thôn, nhóm trưởng nhóm xây dựng vườm ươm,
tổ trưởng hai tổ bảo vệ rừng để thu thập các thông tin liên quan đến sự tham gia củangười dân trong thôn
c, Quan sát các hoạt động của tổ chức cộng đồng như là tổ chức họp, triển khai các hoạtđộng quản lý rừng,
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan trong phần mềmExcel
Trang 17PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm của vùng nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
Xã Thượng Long nằm về phía Tây của huyện Nam Đông và cách thị trấn Khe Trekhoảng 16 km
Phạm vi ranh giới của xã Thượng Long:
- Phía Đông: giáp xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông
- Phía Tây: giáp xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông
- Phía Nam: giáp tỉnh Quảng Nam
- Phía Bắc: giáp xã Hương Hữu, huyện Nam Đông
+ Thời tiết khí hậu
Xã Thượng Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ
trung bình năm: 86% Mùa mưa thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 12 (chiếm trên85% tổng lượng mưa cả năm)
+ Địa hình, địa thế:
Địa hình xã Thượng Long tương đối phức tạp, các dãy núi cao nằm tập trung ở
dạng đồi bát úp, mức độ chia cắt địa hình cao
+ Thổ nhưỡng:
Loại đất chủ yếu của vùng là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nền đá phiến thạch sét.Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, hữu cơ trung bình Thích hợp trồngcác loài cây lâm nghiệp, cây công nghiệp
Hiện trạng sử dụng đất của xã Thượng Long được thể hiện qua bảng sau:
Trang 18Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Thượng Long
(Nguồn: Báo cáo phòng tài nguyên môi trường Nam Đông)
Từ số liệu ở bảng trên có thể nhận thấy, đất đai tại khu vực nghiên cứu đất lâmnghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, với 3623,6 ha chiếm 70,7% tổng diện tích đất tự nhiên.Trong đó, đất rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng thôn 5 quản lý bảo vệ từ năm 2006
là 60,2 ha Vì vậy, đây là tiềm năng để phát triển lâm nghiệp của thôn, tạo công ăn việclàm và thu nhập cho các hộ
Mặc dù đất nông nghiệp chỉ chiếm 7,32% diện tích đất tự nhiên nhưng đóng vai tròrất quan trọng đối với đời sống của bà con nơi đây vì nó giải quyết được nhu cầu lươngthực, thực phẩm trước mắt và tạo thu nhập cho các hộ gia đình từ ruộng lúa vườn cây
Xã còn một diện tích lớn chưa sử dụng (18,3%) Đây là tiềm năng phát triển lâmnghiệp, chăn nuôi của xã
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Thượng Long
4.1.2.1 Dân số, lao động, dân tộc:
Xã Thượng Long có 8 thôn và 1 xóm với hai dân tộc chính là Katu và Kinh Dântộc Katu chiếm 95,69% gồm 2.133 khẩu, dân tộc Kinh chiếm 4,31% gồm 96 khẩu Dân
cư phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở dọc đường tỉnh lộ 14B và một số thôngần trung tâm xã
Trang 19Bảng 2: Tình hình lao động, nhân khẩu của xã qua các năm
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã các năm)
Số hộ năm 2007 giảm so với năm 2006 là do một số hộ đã tiến hành nhập hộ trongkhi đó số nhân khẩu và số lao động tăng Năm 2008, số hộ tăng lên so với năm 2007trong khi số nhân khẩu và số lao động giảm mạnh, điều này được xem là một khó khăncủa địa phương trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế, nhất là trong xu thế phát triểnnhư hiện nay
Bảng số liệu trên còn cho thấy, số người phụ thuộc bình quân trên hộ vẫn ở mứccao; đang có xu hướng giảm dần qua các năm nhưng đây là vấn đề địa phương cần xemxét để đưa ra hướng đi phù hợp sao cho vừa đảm bảo phát triển kinh tế hộ vừa tận dụngđược nguồn lao động dự trữ
4.1.2.2 Các hoạt động sản xuất của người dân
- Ngành trồng trọt:
Tổng diện tích dất tự nhiên của xã chỉ 5.125ha Trong đó đất nông nghiệp là375,2ha (chiếm 7,32% tổng diện tích đất tự nhiên) Bình quân một hộ có 0,78ha đất nôngnghiệp trong đó bao gồm cả đất trồng cây hàng năm, đất vườn, đất trồng cây lâu năm, đất
có mặt nước nuôi trồng thủy sản Nếu tính đất trồng cây hàng năm thì bình quân 0,37hatrên một hộ gia đình Tổng diện tích lúa nước của xã ổn định 59,2ha, với năng suất50,2tạ/ha
Ngoài ra một số loại cây trồng khác cũng được bà con quan tâm như sắn côngnghiệp với năng suất 230tạ/ha, lúa rẫy năng suất 10 tạ/ha; Ngô lai năng suất 25 tạ/ha Các
Trang 20loài cây ăn quả như cam, chuối, cau đã được bà con trồng thử nghiệm nhưng năng suất vàsản lượng chưa cao do chưa nắm rõ kỹ thuật.
Cây cao su trên địa bàn xã đang phát triển tốt do được sự quan tâm của đặc biệtcủa bà con, hứa hẹn trong những năm tới đời sống của nông dân sẽ được cải thiện nhờvào thu hoạch mủ Cao su
Nhìn chung ngành trồng trọt của xã đã có những tiến bộ mới như sử dụng cácgiống lúa có năng suất cao, bón phân và đăc biệt là sự quan tâm của bà con trong việcthâm canh, chăm sóc và phòng ngừa sâu bệnh
- Lâm nghiệp:
Diện tích đất lâm nghiệp là 3623,6ha chiếm 70,70% diện tích đất tự nhiên của xã.Trong đó, diện tích rừng tự nhiên hiện có là 3259,3ha, rừng trồng có 364,3ha gồm cácloại cây như keo, cao su, quế Điều kiện đất đai ở đây phù hợp cho phát triển các loạicây này, song do việc chăm sóc quản lý chưa tốt dẫn đến tình trạng cây rừng phát triểnkém Mặt khác, trình trạng quản lý rừng như hiện nay đã phát sinh nhiều mâu thuẫn giữangười dân địa phương với công tác bảo vệ rừng của các lâm trường và nhà nước Do vậyhiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng không cao, không khai thác hết tiềm năng, thếmạnh của nghề rừng để tạo thu nhập bằng các hình thức khai thác sử dụng hợp lý tàinguyên rừng hiện có, phát triển vốn rừng, rừng trồng
Phương thức quản lý rừng tại địa phương: hiện nay tại xã đồng thời tồn tại baphương thức quản lý rừng khác nhau Đó là rừng do xã trực tiếp quản lý (chiếm 22,88%),rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đông quản lý (chiếm 74,84%) và rừng do cộngđồng dân cư thôn 5 quản lý chiếm 1,84%
từ nguyên liệu có sẵn tại địa phương Người dân hầu như chưa tiếp cận với công tác thú
y, hàng năm còn để xảy ra nhiều đợt dịch bệnh cho lợn, gà, đã làm cho người chăn nuôi
Trang 21thua lỗ Đây là vấn đề cần phải được khắc phục để đáp ứng yêu cầu phát triển nghề chănnuôi của người dân địa phương.
- Tiểu thủ công nghiệp:
Tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, chỉ có 2 cơ sở mộc gia dụng nhỏ, một số hộđang học làm nghề thêu rem Các ngành nghề truyến thống bị mai một, không còn duytrì
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
- Ở xã có xây dựng chợ nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá thấp nên chưa được
sử dụng hiệu quả Có 4 hộ buôn bán nhỏ và 1 cơ sở thu mua sắn nguyên liệu
- Cơ bản trên địa bàn xã giao thông tương đối tốt đảm bảo, các hệ thống đườngchính đã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá
- Hệ thống thuỷ lợi đã có sự đầu tư, toàn xã có 5 công trình thủy lợi: đập thủy lợi
Ca Rai (thôn 8) công suất thiết kế tưới cho 8ha, đập Ga Hôn (thôn 3+thôn 4) tưới cho12ha lúa nước, đập La Đang (thôn 1+thôn 2) gần 8ha lúa nước, đập A Mun tưới gần 1halúa nước và một đập mới xây dựng năm 2004 tưới cho 5ha lúa nước Các hệ thống kênhmương cũng đang được kiên cố hoá như: Kênh mương thôn 4, 8 đang được bê tông hoá.Nhìn chung hệ thống thuỷ lợi của xã đã đảm bảo cho việc cung cấp nước sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn
- Toàn xã có 100% thôn có điện (9/9 thôn) nhưng do có một số hộ chưa có điều
kiện kéo điện về nên chỉ có khoảng 85% hộ dùng điện thắp sáng
- Nước sinh hoạt của xã gồm 4hệ thống nước tự chảy, và nhiều giếng nước Hệ
thống nước sinh hoạt đang được nâng cấp, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng củanhân dân
4.1.2.4 Giáo dục y tế, văn hóa thể dục thể thao
Tổng số học sinh 762học sinh; Cấp tiểu học: 386 học sinh, trung học cơ sở: 228 học sinh,trung học phổ thông: 40 học sinh Đối với giáo dục mầm non tổng số cháu 148 cháu
-Y tế : xã có 1 trạm y tế, có 6 giường với số lượng bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ lý là 6người Đã phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và là nơi triễn khai cácchương trình y tế quốc gia như: chống sốt rét, cung cấp muối I ốt, tiêm chủng mở rộng,
Trang 22kế hoạch hóa gia đình Tuy nhiên, do hệ thống trang thiết bị nghèo nàn, trình độ của cán
bộ y tế còn hạn chế nên công tác khám chữa bệnh chỉ dừng lại ở các bệnh thông thường
- Công tác văn hoá thể dục thể thao đã được quan tâm, xã đã tổ chức nhiều giải thiđấu thể thao, hoạt động văn hoá văn nghệ Các nhà Làng được xây dựng, cùng các nétvăn hoá của dân tộc, toàn xã được phủ sóng truyền hình, có Bưu điện văn hoá xã Trongtương lai cần bảo vệ và sưu tầm các nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của địa phương
4.2 Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng
4.2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tài nguyên rừng của thôn Ta Vác (thôn 5)
Trước năm 1953, người dân Ka Tu sống rải rác trong xã và chưa được bố trí thànhcác cụm dân cư hay thôn/bản Họ tập trung ở các ven rừng và thung lũng, cuộc sống phóthác vào tài nguyên rừng, chỉ nhờ vào các sản phẩm từ săn bắn và hái lượm để sinh sống.Chính vì vậy, tại thời điểm này có tới 100% số hộ gia đình có cuộc sống phụ thuộc vàotài nguyên rừng
Thôn Ta Vác được thành lập vào năm 1973 với 100% đồng bào dân tộc Ka Tu Từsau khi thành lập, Nhà nước thực hiện các chính sách định cư định canh cho đồng bàodân tộc miền núi và hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi từ đó hình thức canh tác lúa nướcđược hình thành và bà con đã ít vào rừng hơn
Thôn Ta Vác hiện có 38 hộ với 187 khẩu Tổng số lao động là 76 người (chiếm40,86%) trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 90% Theo đánh giá phân loại hộ của
xã năm 2007, thôn Ta Vác có 22 hộ nghèo (chiếm 57,89%), 10 hộ trung bình (chiếm26,31%) và 6 hộ khá (chiếm 15,8%) Tỉ lệ hộ nghèo ở mức cao, số nhân khẩu phụ thuộcchiếm trên 50% là một thách thức của thôn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nângcao đời sống của người dân
Tổng diện tích rừng của thôn 5 là 140,17 ha trong đó có 60,2 ha rừng tự nhiên và79,97 ha rừng trồng Rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng thôn 5 quản lý từ năm
2006 Rừng trồng bao gồm hai loại cây là keo và cao su được phân về cho từng hộ trongthôn; trung bình mỗi hộ có 1,59 ha cao su và 0,52 ha keo Cơ cấu diện tích rừng của thôn
5 được thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 23Hình 1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích rừng của thôn 5
Cuộc sống của người dân dựa vào sản xuất nông nghiệp chủ yếu là canh tác ruộngnước và nương rẫy Giai đoạn gần đây, được sợ hỗ trợ của dự án như ADB, ICCO, ngườidân được biết nhiều hơn các kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản Bên cạnh
đó ở thôn còn có các nghề phụ như nấu rượu, đan lát… Thời gian rảnh rỗi các hộ gia đìnhtranh thủ vào rừng để kiếm củi và các lâm sản phụ khác phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày.Mức đóng góp của các ngành sản xuất vào thu nhập của hộ được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Mức độ đóng góp vào thu nhập của các ngành sản xuất ở hai nhóm hộ
43%
57%
Rừng tự nhiên Rừng trồng
Trang 24TT Nguồn thu nhập
Tỷ trọng đóng góp (%)Bình quân
chung
Nhóm hộnghèo
Nhóm hộ khôngnghèo
Độ tin cậy(significant)
Từ bảng số liệu trên cho thấy, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất trong các ngành
sản xuất Lâm nghiệp bao gồm trồng rừng, khai thác lâm sản… trong đó khai thác lâm
sản là hoạt động mang lại thu nhập cho hộ, còn diện tích rừng trồng chưa đến tuổi khai
thác do đó vẫn chưa có đóng góp vào thu nhập của hộ Kết quả kiểm định thống kê
(T-test) cho thấy rằng mức độ đóng góp từ lâm nghiệp vào thu nhập của nhóm hộ nghèo có
sự khác biệt so với nhóm hộ không nghèo Tỷ trọng thu nhập do ngành lâm nghiệp đóng
góp vào của nhóm hộ nghèo lớn hơn nhóm hộ không nghèo Chứng tỏ rằng nhóm hộ
nghèo phụ thuộc vào rừng nhiều hơn nhóm hộ không nghèo
Mức đóng góp lớn là thu nhập từ trồng trọt, chiếm 30,32% tổng thu nhập Mức
đóng góp của trồng trọt vào thu nhập ở nhóm họ nghèo thấp hơn nhóm hộ không nghèo
và kết quả kiểm định thống kê cho thấy sự khác biệt này là có ý nghĩa Điều này chứng tỏ
rằng nhóm hộ không nghèo có khả năng trồng trọt tốt hơn nhóm hộ nghèo, họ đã tiếp thu
tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như học hỏi kinh nghiệm từ người khác để ứng dụng vào
thực tế tốt hơn nhóm hộ nghèo
Với 94% diện tích là rừng nên đời sống của cộng đồng dân cư thôn 5 liên quan
mật thiết đến tài nguyên rừng trong đó có hoạt động khai thác lâm sản từ rừng Các loại
Trang 25lâm sản mà người dân khai thác sử dụng bao gồm: gỗ, lá nón, củi, đót, mây,… Người dânkhai thác gỗ để làm nhà, chuồng gia súc là chủ yếu, còn các loại khác được dùng để bánhoặc được sử dụng trực tiếp Các loại lâm sản được khai thác quanh năm, riêng chỉ có đót
là khai thác vào tháng 12 âm lịch Kết quả điều tra thu thập thông tin về mức độ đóng gópcủa việc khai thác sử dụng lâm sản vào thu nhập của hộ được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4: Mức độ khai thác sử dụng lâm sản giữa các nhóm hộ
Độ tincậy
Số hộkhaithác(hộ)
Thu nhậpnăm 2007(đồng)
Số hộkhaithác(hộ)
Thu nhậpnăm 2007(đồng)
Số hộkhaithác(hộ)
Mây là loại lâm sản có đóng góp lớn nhất vào thu nhập của hộ, chiếm đến 68,5%thu nhập từ lâm sản của hộ, tuy nhiên không thấy sự khác biệt về mức đóng góp của loạilâm sản này vào thu nhập của hai nhóm hộ
Trang 26Trong thu nhập từ các loại lâm sản, thu nhập từ đót của nhóm hộ nghèo lớn hơnnhóm hộ không nghèo và sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê.
Hoạt động khai thác lâm sản từ rừng cộng đồng diễn ra hằng ngày, ngoài nhữngngười làm cán bộ ra thì hầu như ai cũng vào rừng khai thác lâm sản cho dù mục đích sửdụng có khác nhau Đối tượng khai thác lâm sản cũng rất đa dạng, trẻ con có thể bắt cá,ếch ở các khe suối, phụ nữ lấy củi, đót về sử dụng hoặc bán, nam giới thì khai thácmây, lá nón
4.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5
Trong năm 2006, với sự hỗ trợ của dự án Hành Lang Xanh, huyện Nam Đôngcùng với Uỷ ban nhân dân xã Thượng Long đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất và giaođất lâm nghiệp cho cộng đồng quản lý
Nhóm CFM (Community Forestry Managerment) Nam Đông đã tiến hành họp với
Uỷ ban nhân dân xã Thượng Long để chọn thôn thực hiện hoạt động giao rừng Khi tiếnhành họp để chọn cộng đồng thực hiện giao rừng, thôn 5 đã được chọn vì đã thỏa mãnnhững tiêu chí sau: Thôn có 100% đồng bào dân tộc thiểu số, rừng tự nhiên trung bình cókhả năng phục hồi, ranh giới rõ ràng với các thôn khác, địa hình đi lại dễ dàng, tính cộngđồng cao, quy mô cộng đồng nhỏ
Xuất phát từ nguyện vọng của các hộ trong thôn Ta Vác về việc giao rừng tự nhiên
ổn định, lâu dài để quản lý và bảo vệ cùng với chính sách hưởng lợi thông qua Luật bảo
vệ rừng, đồng thời nhằm khắc phục những tồn tại trong chính sách khoán bảo vệ rừnghiện nay, Uỷ ban nhân dân xã Thượng Long đã có tờ trình gửi lên Ủy ban nhân dânhuyện về việc đề nghị phê duyệt phương án và quyết định giao rừng tự nhiên cho cộngđồng dân cư thôn Ta Vác Hình thức giao ổn định, lâu dài và có kèm theo chính sáchhưởng lợi của cộng đồng tham gia nhận rừng theo Quyết định 178/2001-TTg với thời hạngiao đến tháng 10 năm 2043 Phương án đã được UBND huyện thông qua, phòng Tàinguyên và môi trường xem xét, phê duyệt và ban hành quyết định giao rừng tự nhiên chocộng đồng thôn Ta Vác với diện tích là 60,2 ha thuộc tiểu khu 406, xã Thượng Long,Nam Đông
Nhóm CFM cùng với cán bộ phụ trách lâm nghiệp địa phương giúp đỡ, thúc đẩyngười dân xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng trong thời gian 5 năm, quy ước quản lýbảo vệ rừng đồng thời người dân tiến hành bầu chọn những người thực sự có đủ năng lựcvào Ban quản lý rừng thôn
Trang 27Hệ thống tổ chức của t ổ chức quản lý rừng cộng đồng bao gồm Ban quản lý có 4thành viên, 1 nhóm vườn ươm và 2 tổ bảo vệ rừng, mỗi nhóm tổ đều có nhóm trưởng/tổtrưởng Ban quản lý rừng thôn thông qua các kế hoạch hoạt động tác động đến tổ bảo vệrừng, nhóm vườn ươm, đôn đốc thực hiện các việc đã đề ra Quá trình thực hiện cí gìvướng mắc kịp thời báo cáo cho nhóm trưởng để có phương án giải quyết trước khi đưalên Ban quản lý rừng thôn Hai tổ bảo vệ rừng có sự liên hệ với nhau trong quá trình hoạtđộng để nắm được trong người dân ai đã tham gia ai chưa để có kế hoạch điều động,đồng thời quá trình thực hiện các công việc luôn có sự bàn giao kết quả, kết quả của tổthực hiện trước liên quan đến tổ thứ hai nên giữa hai tổ luôn có sự liên hệ Khác với tổbảo vệ rừng có liên quan đến người dân, nhóm vườn ươm là nhóm hoạt động độc lập,chịu tác động của Ban quản lý rừng thôn, người dân không tham gia vào haọt động nàytrừ những thành viênc của nhóm Sơ đồ hệ thống quản lý của tổ chức quản lý rừng cộngđồng như sau:
Ban Quản lý rừng thôn
Tổ bảo vệ
Rừng 1
Tổ bảo vệrừng 1
Tổ vườnươm
Người dân
Sơ đồ 1: Sơ đồ hệ thống tổ chức của tổ chức quản lý rừng cộng đồng
Cho đến nay, tổ chức quản lý rừng cộng đồng thôn 5 có 36 thành viên Các thànhviên tham gia ngay từ khi tổ chức mới thành lập Các thành viên tham gia vào tổ chứcquản lý rừng cộng đồng vì những động cơ khác nhau Kết quả điều tra về động cơ thamgia tổ chức, các lý do thể hiện qua bảng như sau:
Bảng 5: Lý do tham gia vào tổ chức quản lý rừng cộng đồng của người dân
TT Tỷ lệ hộ (%)
Các lý do
Bình quân
Nhóm
hộ
Nhóm
hộ
Trang 28chung nghèo
không nghèo
3
Góp phần xây dựng quỹ thôn để phát triển đời
(Nguồn: Thảo luận nhóm và phỏng vấn hộ, 2008)
Lý do quan trọng nhất là lý do (1) là thành viên cộng đồng thôn 5 có nghĩa là cùngchung sống trong cùng một cộng đồng, ai cũng tham gia đòi hỏi mình cũng phải thamgia Lý do chiếm 100% ý kiến khảo sát và bằng nhau ở cả hai nhóm hộ Người dân chorằng nếu không vào tổ chức cộng đồng thôn, họ có thể bị bỏ rơi trong các hoạt động khác
Có thể nói, đây là một động cơ vừa tích cực, vừa không tích cực Tích cực ở chỗ, tất cảmọi người dân đều ý thức được rằng bản thân họ phải tham gia vào tổ chức quản lý rừngcộng đồng vì đó là hoạt động của chính cộng đồng họ, trực tiếp ảnh hưởng đến đời sốngcủa họ Nhưng xét ở một góc độ nào đó, đây không phải là một động cơ tích cực vì nómang tính đối phó và tính a dua làm theo người khác
Lý do chiếm 100% ý kiến khảo sat tiếp theo là lý do (2) được là chủ rừng và khaithác lâm sản từ rừng Khi chưa có tổ chức cộng đồng, rừng ấy là của chung, bất kể ngườidân nào cũng có thể khai thác nhưng hậu quả của việc khai thác ấy lại tác động trục tiếpđến đời sống của người dân Khi có tổ chức cộng đồng trong quản lý rừng, người dân trởthành chủ thực sự của khu rừng đó, họ quyết định việc khai thác cái gì, ở đâu, trữ lượngbao nhiêu để đảm bảo cho cuộc sống của họ và của thế hệ tương lai 100% ý kiến khảosát lựa chọn lý do này và bằng nhau ở cả hai nhóm hộ Được làm chủ rừng là điều ai cũngmong muốn Đó cũng là mục đích của việc giao rừng cho cộng đồng
Lý do quan trọng tiếp theo là lý do (7) bảo vệ nguồn lợi cho thế hệ mai sau Nguồnlợi cần được đảm bảo cho thế hệ tương lai là tất cả nguồn tài nguyên rừng Đây là tiêu chí
có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ Nhóm hộ không nghèo chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm hộnghèo Điều này chứng tỏ rằng nhóm hộ không nghèo ý thức được trách nhiệm tham giavào tổ chức cộng đồng vì lợi ích lâu dài cao hơn nhóm hộ nghèo Cũng như ở tiêu chí (5)