Lợi ích của đề tài Đối với bạn đọc, sinh viên: Đề tài nghiên cứu nhằm mang lại cho người đọc một cái nhìn tổng quát về tình hình biến động của TTCK Việt Nam thời gian qua, nắm rõ các ki
Trang 1I Lý do chọn đề tài:
1 Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm
2007 đến năm 2010 đã có những biến động mạnh và khó lường, những điều được phản ánh khá rõ ràng ở VN-Index Trong năm 2007, thị trường tăng trưởng trái với quy luật và không đáp ứng kì vọng của các nhà đầu tư với mốc cao nhất đạt được
ở VN-Index là 1170,67 điểm vào ngày 12/03 Đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng năm 2007, VN-Index đạt 921,07 điểm Năm 2008, dưới ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh và kéo theo sự sụt giảm đáng kể của chỉ số VN-Index VN-Index đóng cửa vào ngày 31/12/2008 là 315,62 điểm tức là giảm 73,04% và 855,05 điểm so với đỉnh của VN-Index (giá đóng cửa ngày 12/03/2007) giảm 65,73% so với đầu năm 2008 (921,07 điểm) Chưa dừng lại ở đó, thời điểm đóng cửa phiên giao dịch ngày 24/02/2009 chứng kiến chỉ số VN-Index đạt mức 235,5 điểm đạt mức đáy lịch sử Trong các năm sau
đó, thị trường biến động với những lần đảo chiều liên tục và biên độ dao động manh Với những thay đổi không mấy tốt đẹp và chứa đầy rủi ro của TTCK những năm gần đây đã tạo ra một tâm lí thận trọng, e dè của các nhà đầu tư chứng khoán Thêm vào đó, TTCK Việt Nam vẫn chưa có một công cụ quản trị rủi ro hiệu quả nào được sử dụng để bảo hiểm rủi ro khiến cho tâm lí nhà đầu tư đã thận trọng lại càng thận trọng hơn Trên thế giới, việc áp dụng các công cụ phái sinh để loại bỏ rủi ro đã được thực hiện từ khá lâu đời, hỗ trợ cho TTCK phát triển thuận lợi và bền vững
Trang 2“Ứng dụng hợp đồng giao sau vào thị trường chứng khoán Việt Nam” để có thể
chỉ ra mô hình, hướng đi và giải pháp trong tương lai cho TTCK Việt Nam
2 Lợi ích của đề tài
Đối với bạn đọc, sinh viên: Đề tài nghiên cứu nhằm mang lại cho người đọc một cái nhìn tổng quát về tình hình biến động của TTCK Việt Nam thời gian qua, nắm
rõ các kiến thức về công cụ phái sinh cách thức, điều kiện vận hành từ đó có được những nền tảng cơ bản cho học tập, nghiên cứu trong thời gian gần nhất; trang bị các kiến thức thực tế cho công việc để có thể áp dụng sau này
Đối với các nhà hoạch định vĩ mô: Thông qua bài nghiên cứu, nhóm đề xuất lên một công cụ phái sinh chứng khoán – hợp đồng giao sau có tính khả thi để áp dụng cho TTCK Việt Nam, qua đó, giúp cho nhà đầu tư có được một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả, một công cụ để đầu tư dựa trên chênh lệch giá Ở tầm
vĩ mô, giúp cho công tác hoạch định chính sách và dự báo thị trường của các cơ quan quản lí Nhà nước phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn, thời kỳ nhất định
II Mục tiêu nghiên cứu
Trang 3cách hiệu quả vào TTCK
Đề xuất mô hình và lộ trình thực hiện việc ứng dụng hợp đồng chứng khoán giao sau vào Việt Nam dự kiến diễn ra
III Câu hỏi nghiên cứu
1 Câu hỏi nghiên cứu tổng quát
Việc ứng dụng hợp đồng giao sau cho TTCK Việt Nam sẽ đem lại những thay đổi tích cực gì?
Việc ứng dụng hợp đồng giao sau vào TTCK Việt Nam có thực hiện được hay không và được thực hiện như thế nào?
2 Câu hỏi nghiên cứu chi tiết
Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi áp dụng hợp đồng giao sau vào TTCK là gì?
Những lợi ích và rủi ro của hợp đồng giao sau khi được ứng dụng vào TTCK là gì?
Từ thực tiễn của các TTCK thế giới, những bài học kinh nghiệm nào mà Việt Nam cần phải học hỏi khi ứng dụng hợp đồng giao sau?
Những điều kiện cần và đủ nào để Việt Nam ứng dụng hợp đồng giao sau một cách hiệu quả vào TTCK?
Mô hình và lộ trình thực hiện việc ứng dụng hợp đồng chứng khoán giao sau vào Việt Nam sẽ diễn ra như thế nào và trong bao lâu?
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Nguồn số liệu thu thập – Phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các lý luận về công cụ phái sinh, thị trường công cụ phái sinh, đặc biệt là hợp đồng chứng khoán giao sau
Nghiên cứu quá trình phát triển và biến động của TTCK từ đầu năm 2007 đến cuối năm 2011
Trang 4dụng hợp đồng chứng khoán giao sau, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho TTCK Việt Nam
2 Nguồn số liệu dự kiến
Thu thập các dự liệu thứ cấp từ các nguồn khác nhau: tạp chí, diễn đàn kinh tế, tài liệu nghiên cứu, tài liệu chuyên ngành, internet…
Khảo sát các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán Việt Nam để thu thập các dự liệu sơ cấp từ thực tế về mức độ hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu sử dụng hợp đồng giao sau…
3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như thông kê – mô tả, phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu và quan sát từ thực tiễn để khái quát, tổng hợp các bản chất của vấn đề cần nghiên cứu và rút ra một số kết luận và dữ liệu cần thiết
Sử dụng các phần mềm thống kê và hồi quy: EVIEW, SPSS, EXCEL…để phân tích số liệu, chạy mô hình Qua đó xem xét tính khả thi, mức tin cậy của
mô hình, rút ra những kết luận cuối cùng cho đề tài cần nghiên cứu
V Nội dung nghiên cứu
Ngoài các phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh
mục tài liệu tham khảo,…nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
CHƯƠNG 1: Tổng quan về công cụ phái sinh, hợp đồng giao sau, hợp đồng chứng khoán giao sau
CHƯƠNG 2: Thị trường chứng khoán Việt nam
CHƯƠNG 3: Cái nhìn tổng quát về việc áp dụng hợp đồng giao sau vào thị trường chứng khoán Việt Nam
CHƯƠNG 4: Đề xuất tiến trình áp dụng hợp đồng chứng khoán giao sau vào Việt Nam
Trang 5Thông qua việc nghiên cứu vấn đề này, nhóm chúng tôi có thể góp phần đưa ra một công cụ mới để áp dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam cùng với các giải pháp, lộ trình thực hiện của nó Bên cạnh đó, việc cung cấp các kiến thức, xây dựng các mô hình cơ bản trong thị trường chứng khoán giao sau sẽ giúp các nhà đầu tư nắm bắt và lựa chọn được những chiến lược đầu tư phù hợp với mình
VII Hướng phát triển của đề tài
Đề tài mang đến một hướng phát triển thực tế là ứng dụng được công cụ phái sinh – hợp đồng giao sau vào thị trường chứng khoán Việt Nam để hạn chế rủi
ro, bảo vệ nhà đầu tư trong điều kiện hiện nay và phù hợp với chủ trương của Chính phủ trong việc tái cơ cấu thị trường chứng khoán
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH, HỢP ĐỒNG GIAO
SAU, HỢP ĐỒNG CHỨNG KHOÁN GIAO SAU
1.1 Lý thuyết cơ bản về công cụ phái sinh, hợp đồng giao sau 1
1.2 Hợp đồng giao sau 2
1.2.1 Các thông số kỹ thuật 2
1.2.2 Cách thức giao dịch của hợp đồng giao sau 3
1.2.3 Ký quỹ (Margin) 4
1.2.4 Theo dõi, ghi nhận, điều chỉnh theo thị trường (marking to market) 6
1.2.5 Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán giao sau 6
1.3 Lợi ích của việc của sử dụng hợp đồng chứng khoán giao sau 8
1.4 Các sở giao dịch chứng khoán giao sau lớn trên thế giới 9
1.4.1 Sở giao dịch CME Group 10
1.4.2 Sở giao dịch Euronext.liffe 10
1.4.3 Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) 10
1.4.4 Sở giao dịch OneChicago 11
1.5 Các đặc điểm thực tiễn ở sở giao dịch chứng khoán OneChicago 11
1.5.1 Mô tả các thông số kỹ thuật của hợp đồng chứng khoán giao sau OneChicago 11
1.5.2 Trung tâm thanh toán bù trừ (OCC) 12
1.5.3 Tạm dừng giao dịch 13
1.5.4 Các lệnh thường dùng trong giao dịch chứng khoán giao sau 13
Trang 71.7 Rủi ro của việc giao dịch hợp đồng chứng khoán giao sau – Bài học kinh
nghiệm rút ra cho thị trường Việt Nam: 17
1.7.1 Rủi ro bị đánh bật khỏi thị trường 17
1.7.2 Rủi ro không đóng được vị thế trước khi hợp đồng đáo hạn 18
1.7.3 Rủi ro cơ sở hệ thống 18
1.7.4 Rủi ro định giá sai của chứng khoán trên thị trường cơ sở 18
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam – Những đặc điểm nổi bật của thị trường trong những năm qua 20
2.1.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của TTCK 21
2.1.2 Giai đoạn 2006- 2007: Giai đoạn phát triển bùng nổ của TTCK 21
2.1.3 Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh 23
2.1.4 Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 28
2.1.5 Năm 2010 - một năm thăng trầm của TTCK Việt Nam 29
2.1.6 Những diễn biến chính của thị trường chứng khoán năm 2011 31
2.2 Triển vọng năm 2012 của TTCK Việt Nam 35
2.2.1 Tăng trưởng 35
2.2.2 Lạm phát 36
2.2.3 Thị trường chứng khoán 37
CHƯƠNG 3: CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ VIỆC ÁP DỤNG HỢP ĐỒNG GIAO SAU VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 3.1 Chủ trương và động thái của chính phủ về vấn đề phát triển TTCK 39
3.2 Áp dụng hợp đồng giao sau vào TTCK Việt Nam là việc làm cấp thiết 40
3.2.1 Vấn đề cấp thiết đến từ nền tảng vĩ mô 40
Trang 8Việt Nam 42
3.2.2.1 Khảo sát nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh, hợp đồng chứng khoán giao sau của các nhà đầu tư VN 42
3.2.2.2 Các kết luận rút ra 50
3.3 Các điều kiện cơ bản hình thành và xây dựng thị trường hợp đồng chứng khoán giao sau ở Việt Nam 50
3.3.1 Điều kiện thể chế luật pháp 50
3.3.2 Điều kiện kinh tế tài chính 51
3.3.3 Điều kiện vật chất kỹ thuật 52
3.3.4 Điều kiện về con người 52
3.4 Thuận lợi và khó khăn khi áp dụng hợp đồng chứng khoán giao sau vào Việt Nam 53
3.4.1 Thuận lợi của việc áp dụng hợp đồng giao sau CK vào Việt Nam 53
3.4.1.1 Nhu cầu về việc áp dụng TTCK phái sinh ở Việt Nam là có thực 53
3.4.1.2 Đặc điểm kinh tế của Việt Nam 54
3.4.1.3 Tiềm năng phát triển của TTCK Việt Nam 54
3.4.1.4 Sự ra đời của các hiệp hội 55
3.4.1.5 Sự quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam 55
3.4.1.6 Kinh nghiệm từ những TTCK khác trên thế giới 55
3.4.2 Thách thức của việc áp dụng hợp đồng giao sau CK vào Việt Nam 56
3.4.2.1 Hệ thống pháp luật, pháp lí chưa hoàn thiện cho hoạt động CK 56
3.4.2.2 Cơ sở vật chất còn nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật chất lượng cao của hợp đồng giao sau 57
3.4.2.3 Trình độ đầu tư cũng như mức độ chịu đựng rủi ro của các nhà đầu tư Việt Nam còn kém xa so với các nhà đầu tư nước ngoài 57
3.4.2.4 TTCK phái sinh là thị trường dễ bị thao túng 58
Trang 9KHOÁN GIAO SAU VÀO VIỆT NAM
4.1 Giải pháp xây dựng thị trường chứng khoán giao sau ở Việt Nam 60
4.1.1 Nâng cao quy mô, chất lượng hoạt động của TTCK Việt Nam 60
4.1.2 Tạo nhận thức về SPPS, đặc biệt là hợp đồng chứng khoán giao sau 61
4.1.3 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng vật chất, điều kiện kỹ thuật, nhân lực để có thể đáp ứng được yêu cầu của TTCK giao sau 61
4.1.3.1 Về cơ sở hạ tầng công nghệ 61
4.1.3.2 Về phương thức giao dịch 63
4.1.3.3 Về trình độ nhân lực 64
4.1.4 Hoàn thiện hành lang pháp lý và tạo thuận lợi cho TTCK Việt Nam 65
4.2 Lộ trình áp dụng Hợp đồng chứng khoán giao sau vào Việt Nam 65
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH, HỢP ĐỒNG GIAO SAU, HỢP ĐỒNG
CHỨNG KHOÁN GIAO SAU
1.1 Lý thuyết cơ bản về công cụ phái sinh, hợp đồng giao sau
Công cụ phái sinh chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn, đồng thời lợi ích kinh tế của các giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên Công cụ phái sinh gồm các công cụ giao dịch kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swaps), quyền chọn (Options) và giao sau (Futures) Thuật ngữ “Phái sinh” ở đây có nghĩa là được sinh ra theo những thứ đã có trước đây Công cụ phái sinh hiểu một cách đơn giản là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu…nhằm phân tán rủi ro và tạo lợi nhuận
Hợp đồng giao sau (futures contract) là một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp
lý giữa bên mua và bên bán nhằm trao đổi một tài sản cụ thể có chất lượng, khối lượng chuẩn hóa với giá thỏa thuận hôm nay (gọi là giá giao sau) nhưng lại giao hàng vào một thời điểm cụ thể trong tương lai, ngày giao hàng Các hợp đồng này được giao dịch thông qua thị trường giao dịch giao sau tại các trung tâm thanh toán bù trừ
Người bán hợp đồng giao sau ở thế “đoản vị” (short position) với lo ngại giá hàng hóa cơ sở sẽ giảm trong tương lai Ngược lại, người mua hợp đồng giao sau ở thế “trường vị” (long position) với kỳ vọng/dự đoán giá hàng hóa sẽ tăng Chính vì kỳ vọng/dự đoán ngược chiều nhau này mà nhu cầu giao dịch hợp đồng giao sau hình thành Hợp đồng giao sau có thể kết thúc trước thời hạn bằng cách, hai bên người mua/người bán đảo ngược vị thế của nhau trong hợp đồng, nghĩa là người mua sẽ thực hiện bán hợp đồng và người bán sẽ thực
Trang 12hiện mua hợp đồng với các đặc tính giống như hợp đồng mà họ tham gia ban đầu
Hợp đồng giao sau quy định rất chặt chẽ quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia Vào thời điểm đáo hạn, người bán bắt buộc phải giao hàng (người mua bắt buộc phải nhận hàng) đã ký kết Tuy nhiên, các bên có thể thanh lý hợp đồng trước thời hạn Người mua có thể bán lại hợp đồng cho bên thứ ba với kỳ vọng trong tương lai anh ta có thể mua được số hàng hóa đó trên thị trường với giá
rẻ hơn giá thỏa thuận trong hợp đồng Đương nhiên, quyền và nghĩa vụ( và cả rủi ro) của người mua đã được chuyển qua cho bên thứ ba và bên thứ ba lại có thể tiếp tục bán lại hợp đồng giao sau này
1.2 Hợp đồng giao sau
1.2.1 Các thông số kỹ thuật
Thông thường, tất cả các hợp đồng giao sau phải ghi rõ các chi tiết sau đây:
Đơn vị giao dịch / Kích thước hợp đồng(The unit of trading/Contract size ): cung cấp cho một định nghĩa chính xác số lượng (và chất lượng) của
tài sản cơ bản cũng như đơn vị giao dịch trong hợp đồng
Thời hạn giao hàng (Delivery months/day): Một số tháng được chỉ định
cho các hợp đồng hết hạn và một ngày nhất định trong tháng đó được chỉ định để giao hàng
Ngày giao dịch cuối cùng (The last trading day): là ngày cuối cùng hợp
đồng có thể được mua hoặc bán trước ngày giao hàng Nếu bạn giữ một hợp đồng tại lúc đóng cửa của ngày giao dịch cuối cùng, bạn sẽ phải nhận hàng, hoặc giao tài sản cơ bản của hợp đồng
Bước giá (Tick Size): là kích thước đánh dấu sự dao động tối thiểu mà giá
có thể thực hiện Theo đó, chúng ta sẽ có thêm định nghĩa về bước giá trị (tick value) là giá trị đánh dấu sự thay đổi trong giá trị của một hợp đồng do một sự thay đổi của bước giá
Trang 13 Thời gian giao dịch (Trading hours): quy định giờ trong ngày làm việc
khi thị trường mở giao dịch
Phương thức thanh toán (Settlement): cách thức thanh toán hợp đồng khi
hết hạn, có thể bằng tiền hoặc chứng khoán Người nắm giữ hợp đồng vào lúc kết thúc ngày giao dịch cuối cùng thì bắt buộc phải thanh toán (nếu ở vị thế mua) hoặc nhận thanh toán (nếu ở vị thế bán)
Ví dụ: Hợp đồng giao sau chỉ số FTSE 100
Thời gian giao dịch 08:00 - 17:30 (giờ London)
1.2.2 Cách thức giao dịch của hợp đồng giao sau
Hợp đồng giao sau luôn được giao dịch thông qua các trung tâm thanh toán bù trừ (clearing house) Các trung tâm này sẽ đóng vai trò như là một bên trung gian cho cả người bán và người mua.Nghĩa là, nếu bên A muốn mua một hợp đồng giao sau, anh ta có thể mua nó từ trung tâm TTBT; nếu bên B muốn bán một hợp đồng giao sau, anh ta cũng có thể bán nó cho trung tâm TTBT Trung tâm TTBT là một bên trong hợp đồng giao sau, nó luôn công bằng cho cả người bán và người mua theo những qui tắc đã được đặt ra
Hợp đồng giao sau được giao dịch liên tục trên sàn giao dịch Chính vì thế, nó tạo ra một thị trường hết sức sôi động mà ở đó các bên giao dịch chủ yếu để kiếm lời dựa trên chênh lệch giá Chỉ một phần nhỏ trong các giao dịch diễn ra
Trang 14việc giao hàng khi đáo hạn của các bên.Hợp đồng giao sau được tái thanh toán hằng ngày, được ấn định và ghi nhận trên thị trường nên các khoản lời lỗ được nhận biết hằng ngày
Ví dụ: Hợp đồng mua cổ phiếu Google
Vào ngày 01/05/2011, cổ phiếu Google được giao dịch trên thị trường với giá
$50/cổ phiếu Ông A mua một hợp đồng giao sau 100 cổ phiếu Google thời hạn 3 tháng với giá $60/cổ phiếu người bán là ông B Hợp đồng sẽ đáo hạn vào ngày 31/07/2011và được thanh toán bằng tiền mặt Trong khoảng thời gian này hợp đồng được chuyển nhượng tự do, liên tục trên thị trường Giả sử vào ngày 25/06, giá của một cổ phiếu Google là $55, lúc này ông C đang ở thế đoản vị (người bán) và ông D ở thế trường vị (người mua) của hợp đồng giao sau này Giá cổ phiếu Google ngày 26/06 là $52 Khi đó, ông C đã bị lỗ ($55-
$52)x100= $300 đồng thời ông D lãi $300 và ông C phải thanh toán $300 bằng tiền mặt cho ông D qua trung gian là trung tâm TTBT
Hợp đồng giao sau sẽ tiếp tục đã chuyển nhượng qua nhiều bên cho đến ngày đáo hạn 31/07, lúc này, những người cuối cùng nắm giữ hợp đồng này sẽ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Giả sử, ngày 31/07, giá
cổ phiếu Google là $80, bà G là người mua và ông H là người bán Như vậy,
bà G sẽ phải mua 100 cổ phiếu Google chỉ với giá $50/cổ phiếu (mức giá quy định trong hợp đồng) còn ông H phải giao 100 cổ phiếu Ngoài ra, ông H còn phải thanh toán cho bà G số tiền chênh lệch giá giữa ngày 31/07 và 30/07 Cho rằng, giá Google ngày 30/07 là $75/cổ phiếu thì số tiền mà ông H phải thanh toán là ($80-$75)x100=$500
1.2.3 Ký quỹ (Margin)
Thuật ngữ “margin” trong tài chính được hiểu là khoản tài sản thế chấp được người sở hữu công cụ tài chính gửi đi bù đắp một số hay toàn bộ rủi ro tín dụng cho các đối tác của họ (thường là các nhà môi giới hoặc bên giao dịch với họ) thường là 5%-20% giá trị hợp đồng Có hai loại ký quỹ liên quan đến hợp đồng
Trang 15giao sau đó là: ký quỹ ban đầu (initial margin) và ký quỹ duy trì (maintenance margin)
Người giao dịch cần có một khoản ký quỹ ban đầu (initial margin) tại tài khoản của họ được mở ở sở giao dịch giao sau Mỗi sở giao dịch giao sau sẽ đưa ra những yêu cầu ký quỹ ban đầu (initial margin) tối thiểu để có thể giao dịch ở
đó Khoản ký quỹ ban đầu này phụ thuộc vào mỗi sở giao dịch, mỗi loại hàng hóa,và giá giao sau của hàng hóa đó đang được giao dịch ở hiện tại và các dữ liệu trong quá khứ
Sau một thời gian giao dịch, nếu tiền gửi trong tài khoản giảm tới bằng hoặc dưới mức ký quỹ duy trì (maintenance margin) theo qui định (mức này tùy thuộc vào qui định của các sở giao dịch và loại hàng hóa giao dịch), thì phải chuyển thêm tiền vào tài khoản để đưa tiền trong tài khoản về mức ký quỹ ban đầu (initial margin)
Một ví dụ đơn giản: Giả sử mức ký quỹ ban đầu cần thiết để giao dịch một hợp đồng giao sau cụ thể nào đó là $2000 và mức ký quỹ duy trì yêu cầu là $1500 Sau một thời gian giao dịch với các khoản lỗ làm cho tiền trong tài khoản của bạn còn $1400 (một số tiền ít hơn mức ký quỹ duy trì yêu cầu), bạn sẽ nhận được một giấy gọi ký quỹ (margin call) với mức yêu cầu là $600 để khôi phục lại mức ký quỹ ban đầu là $2000 Một người giao dịch mà không thực hiện nhanh theo giấy gọi trong một khoản thời gian qui định sẽ bị thanh lý hay chấm đứt vị thế (giao hàng/tiền nếu là người bán hoặc giao tiền nếu là người mua)
Yêu cầu ký quỹ được miễn hoặc giảm trong một số trường hợp đó là cho người phòng hộ rủi ro (hedgers) là người có quyền sở hữu vật chất đối với những hàng hoá được bảo hiểm, hoặc những người mua bán chênh lệch giá (spread traders) là những người bù đắp những nguy cơ rủi ro để hợp đồng ở vị trí cân bằng
Trang 161.2.4 Theo dõi, ghi nhận, điều chỉnh theo thị trường (marking to market)
Mọi vị trí của người giao dịch giao sau đều được theo dõi và ghi nhận trên thị trường hằng ngày Nghĩa là,lãi hay lỗ sẽ được phản ánh hằng ngày vào tài khoản giao dịch của nhà đầu tư Việc nhận biết lãi và lỗ dựa vào giá thanh toán hằng ngày tại thời điểm đóng cửa của ngày giao dịch (giá giao sau lúc đóng cửa) Nếu giá tăng, người mua nhận được một khoản lời (người bán chịu lỗ tương ứng) và ngược lại Giao dịch giao sau là một trò chơi có tổng bằng 0, bất
cứ khi nào có một người lỗ thì đối tác của họ sẽ lời đúng bằng số đó (Futures trading is a zero-sum game-whatever one party loses, the counterparty gains) Trên cơ sở marking to market, người mua/người bán biết được ngay lập tức các khoản lời/lỗ của mình để điều chính chiến lược mua bán phù hợp
1.2.5 Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán giao sau
a Những nhà đầu cơ (speculators):
Là những người chấp nhận rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận cao từ sự giao động giá Họ có thể giữ thế trường vị (long position) hay đoản vị (short position) hay cả hai vị thế cho cùng một hàng hóa (spread position) Có thể chia ra làm 2 loại nhà đầu cơ:
Nhà đầu cơ vị thế (position traders): họ thường vào các vị thế và giữ chúng trong vài ngày, vài tuần, hay vài tháng.Họ thường sử dụng các phân tích kỹ thuật hay các dữ liệu kinh tế vĩ mô để dự đoán sự biến động giá và xu hướng giá cả trong tương lai, từ đó sẽ vào các vị thế thích hợp để tìm kiếm lợi nhuận
Nhà đầu cơ ngày (day traders): chỉ đầu cơ dựa vào sự biến động giá chỉ trong một ngày giao dịch Họ không bao giờ trở về nhà với một vị thế trong tay Giao dịch ngày thường tốn kém chi phí vì họ phải theo thông tin, biến động giá cả thường xuyên, và tốn các chi phí cho những giao dịch trong suốt một ngày, với mục đích kiếm được vài bước giá (tick size) lợi nhuận trong một giao dịch
Trang 17b Những người đầu cơ hưởng chênh lệch (Arbitrageurs):
Là những người tìm kiếm lợi nhuận bằng cách xem xét một loại hàng hóa nào
đó cùng những hàng hóa tương đương để bán hai giá khác nhau ở hai thị tường khác nhau Họ là những người dựa vào mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá giao sau, hay những biến động cung cầu nhất thời làm rối loạn giá để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao sau
Ví dụ: Giả sử rằng có một loại cổ phiếu được bán ở cả hai sở giao dịch chứng khoán NewYork và London với những số liệu về giá như sau:
Tại sở giao dịch NewYork: $172/cổ phiếu Tại sở giao dịch London: £100/cổ phiếu
Tỷ giá trao đổi: £1= $1,75 Khi đó, chiến lược của người kinh doanh chênh lệch giá sẽ là:
Mua 100 cổ phiếu ở NewYork Bán lượng cổ phiếu này ở London Chuyển đổi lợi nhuận vừa kiếm được từ pound sang đôla Khoản lợi nhuận mà người này kiếm được là:
100x($1,75x100-$172)=$300 Tuy nhiên, hoạt động Arbitrage này sẽ không kéo dài được lâu Bởi lẽ, khi arbitrageurs mua chứng khoán ở NewYork, quan hệ cung cầu sẽ làm cho giá đôla Mỹ tăng lên, cũng như vậy khi họ bán ở London, giá cổ phiếu ở London
sẽ giảm xuống Rất nhanh chóng, giá của hai đồng tiền này sẽ được điều chỉnh
để trở về một tỷ giá trao đổi thích hợp Hoạt động arbitrage kết thúc
c Những đối tượng trên sàn giao dịch
Những người giao dịch trên các sàn giao dịch có thể được phân loại theo mục tiêu và chức năng:
Những người giao dịch sàn (Floor traders) : là những thành viên giao dịch các hợp đồng giao sau ở các khu vực giao sau Họ tạo ra tính thanh khoản cho thị trường vì họ hoạt động như những nhà đầu cơ giao dịch rất ngắn hạn Họ muốn mua hợp đồng giao sau ở giá đã đặt và nhanh chóng bán lại ở một mức
Trang 18giá phù hợp Họ phải đăng ký với ủy ban giao dịch hàng hóa giao sau (CFTC)
để được hoạt động
Những nhà môi giới sàn (floor brokers) : giúp thi hành lệnh cho các bên, hoạt động gần giống như các công ty môi giới chứng khoán, bằng cách thu phí giao dịch (khoảng $1 hay $2 một hợp đồng).Họ cũng phải đăng ký với CFTC để được hoạt động
Một chủ thể nữa là những người giao dịch sàn mà hoạt động như cả một floor trader và một floor broker, thường được gọi là dual trading Họ thường thực hiện mua 2 hợp đồng trong một khoảng thời gian ngắn ở 2 mức giá khác nhau,
1 cho khách hàng và 1 cho chính anh ta Điều này gây ra những tranh cải về tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nên để được phép hoạt động, anh ta phải trải qua những thủ tục kiểm tra dài dòng và hệ thống kiểm soát nhằm hạn chế sự lạm dụng của anh ta
d Những đối tượng khác tham gia trên thị trường
Cộng tác viên: là những cá nhân làm việc cho người môi giới hay công ty môi giới bằng cách nhận lệnh và chấp nhận lệnh Công việc của họ gần giống những người môi giới chứng khoán
Các nhà tư vấn giao dịch (Commodity trading advisers-CTAs): phân tích thị trường giao sau, cung cấp thông tin, phát triển hệ thống giao dịch, đồng thời đưa ra các lời khuyên, tư vấn cho các nhà giao dịch
Ngoài ra còn có người môi giới giới thiệu, người huy động quỹ… Những người này cũng phải đăng kí với CFTC để được hoạt động
1.3 Lợi ích của việc của sử dụng hợp đồng chứng khoán giao sau
a Đối với những chủ thể giao dịch trên thị trường chứng khoán giao sau
Phòng ngừa rủi ro
Hợp đồng chứng khoán giao sau giúp người giao dịch bảo hiểm được rủi ro thông qua cố định trước mức giá trong hợp đồng Họ không cần phải lo lắng về biến động giá cả trong tương lai theo hướng bất lợi Đây là một lợi ích hết sức
Trang 19quan trọng trong thời kỳ nền kinh tế thế giới và trong nước có những bất ổn nghiêm trọng trong lĩnh vực tài chính Ngoài ra, với việc giao dịch giao sau thông qua sở giao dịch cũng như là trung tâm TTBT, các bên mua/bán cũng loại bỏ được rủi ro đối tác, khi đối tác phải tuân thủ và làm theo các quy định được đề ra
Tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu cơ, kinh doanh chênh lệch giá
Hợp đồng giao sau dịch chuyển rủi ro từ người không thích rủi ro sang người
ưu thích rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận Qua đó tạo ra một kênh đầu tư sôi động với lợi nhuận kiếm được cao hơn hình thức đầu tư chứng khoán thông thường Nhờ hợp đồng chứng khoán giao sau, nhà đầu tư có thể chọn cho mình một danh mục đầu tư với một chính lược hợp lí Ngoài ra, đây còn là một công cụ kinh doanh chênh lệch giá hiệu quả
b Đối với các cơ quan quản lí vĩ mô
Hợp đồng giao sau đem đến một công cụ thanh khoản cao cho thị trường khi tiền mặt nhanh chóng được chuyển thành các giấy tờ có giá; tạo ra một TTCK lành mạnh với nhiều tùy chọn phong phú, đa dạng Thông qua giao dịch hợp đồng giao sau, cơ quan quản lí có thể nắm bắt được tình hình biến động của TTCK quốc gia, để từ đó có những chính sách kịp thời hiệu quả nhằm kiểm soát các bất lợi, đem đến các lợi ích cho thị trường và những người tham gia, qua đó phần nào điều tiết được vĩ mô nền kinh tế
1.4 Các sở giao dịch chứng khoán giao sau lớn trên thế giới
Hợp đồng các công cụ tài chính đã được giới thiệu vào những năm 1970 bởi Chicago Mercantile Exchange (CME) và các công cụ này trở nên cực kỳ thành công và nhanh chóng vượt qua mặt hàng khác về khối lượng giao dịch và khả năng tiếp cận toàn cầu cho các thị trường Sự đổi mới này đã dẫn đến sự ra đời của nhiều sở giao dịch giao sau mới trên toàn thế giới, chẳng hạn như sở giao dịch giao sau quốc tế London Exchange vào năm 1982 (nay là Euronext.liffe), Deutsche Terminbörse (nay là Eurex) và Sở Giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) Ngày nay, có hơn 90 sở giao dịch hợp đồng giao sau và hợp đồng
Trang 20tùy chọn trên toàn thế giới Trong số đó có các sở giao dịch hợp đồng chứng khoán giao sau nổi bật sau:
1.4.1 Sở giao dịch CME Group
CME Group ra đời năm 1919 tại Mỹ (trước đây là CBOT và CME) giao dịch các loại hàng hóa như: tiền tệ, các công cụ tài chính khác nhau (bao gồm cả trái phiếu Mỹ), nông nghiệp (ngô, đậu nành, lúa mì, thịt gia súc…), năng lượng, kim loại (vàng, bạc), chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones…Năm 1982, CME cho ra đời một loại hợp đồng giao sau mà hiện nay rất phổ biến trên thị trường tài chính quốc tế, đó là hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán S&P 500
1.4.2 Sở giao dịch Euronext.liffe
London International Financial Futures và Options Exchange (Liffe) được thành lập vào năm 1982 Ban đầu Liffe tham gia vào thị trường ngoại hối và lãi suất Sau đó, Liffe đã phát triển đa dạng các công cụ tài chính (được gọi chung
là các chất dẫn xuất) bao gồm: Lãi suất ngắn hạn, trái phiếu, cổ phiếu, giao dịch hoán đổi, hàng hóa Tháng giêng năm 2002 việc mua lại Liffe của Euronext đã được hoàn thành Liffe tập trung vào các chất dẫn xuất lãi suất ngắn hạn, bổ sung chặt chẽ về chuyên môn trong một loạt các sản phẩm vốn chủ sở hữu của Euronext Các doanh nghiệp dẫn xuất của Euronext và Liffe đã được kết hợp là Euronext.liffe Euronext.liffe là tạo ra một thị trường duy nhất cho các chất dẫn xuất bằng cách đưa tất cả các sản phẩm dẫn xuất của nó với nhau trên một nền tảng thương mại điện tử, Liffe CONNECT Sản phẩm nổi tiếng của Euronext.liffe là hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán FTSE100
1.4.3 Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE)
Năm 1943, 11 sở giao dịch trên khắp Nhật Bản được sáp nhập với sở giao dịch chứng khoán Nhật Bản, tiền than của sở giao dịch chứng khoán Tokyo Sau chiến tranh, năm 1949, sở giao dịch chứng khoán Tokyo được mở cửa trở lại Hiện nay, sở giao dịch chứng khoán Tokyo là sở giao dịch chứng khoán lớn thứ hai thế giới tính về lượng tiền tệ, chỉ xếp sau sở giao dịch chứng khoán
Trang 21New York Hiện tại sở giao dịch này niêm yết 2271 công ty nội địa và 31 công
ty nước ngoài với tổng khối lượng vốn hóa thị trường hơn 4000 tỷ USD Sản phẩm nổi tiếng của TSE là chỉ số Nikke 225
Nikkei 225 là chỉ số TTCK của sở giao dịch chứng khoán Tokyo đây là chỉ số quan trọng nhất của TTCK châu Á Nó bao gồm 225 cổ phiếu Blue-chip đại diện cho các công ty ở Nhật, và là một chỉ số tính theo giá (đơn vị đồng Yên)
Chỉ số này gần giống chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones ở Mỹ
1.4.4 Sở giao dịch OneChicago
OneChicago là một trong những sở giao dịch điện tử trao đổi tài chính phát triển nhanh nhất trên thế giới cung cấp một thị trường trao đổi chứng khoán giao sau bao gồm cả chứng khoán giao sau đơn (Single stock futures - SSFs) với trên 550 loại khác nhau OneChicago được thành lập bởi hai sàn giao dịch nổi tiếng của Mỹ là CBOE và CME (nay là CME Group) Tất cả các đối tượng tham gia giao dịch tại OneChicago không cần là thành viên của sở giao dịch này One Chicago có công nghệ hiện đại, quy định chặt chẽ với số lượng sản phẩm đa dạng đáp ứng được hầu hết mọi yêu cầu của nhà đầu tư
Đề tài này chọn sở giao dịch OneChicago làm hình mẫu để tập trung nghiên cứu và áp dụng cho TTCK Việt Nam
1.5 Các đặc điểm thực tiễn ở sở giao dịch chứng khoán OneChicago
1.5.1 Mô tả các thông số kỹ thuật của hợp đồng chứng khoán giao sau OneChicago
Sàn giao dịch OneChicago nổi tiếng với sản phẩm phái sinh chứng khoán giao sau đơn (SSFs) đây là sản phẩm với nhiều ưu điểm như:
Cải thiện tài chính cho người sở hữu vốn bằng cách tham gia ở mức điểm chuẩn cạnh tranh
Những nghiệp vụ bán ngắn không có chi phí hoặc rủi ro
Tất cả các giao dịch được thực hiện thông qua OCC (Options Clearing Corporation) - trung tâm thanh toán bù trừ với độ tín nhiệm cao
Chi tiết đặc điểm kĩ thuận của SSF được trình bày trong bảng sau:
Trang 22Kích thước hợp đồng
$0.01x1000 cổ phiếu = $10.00 Thời gian giao dịch
Mức giá giới hạn hằng
Mức hợp đồng phải báo
Thời gian giao hàng
Ngày đáo hạn (Expiration Date)
Vào thứ sáu của tuần thứ ba trong tháng giao hàng Nếu ngày đó không phải là ngày làm việc thì lập tức tính qua ngày làm việc tiếp theo
Giao hàng (Settlement/Delivery)
Chứng khoán (hoặc tiền) được giao vào ngày làm việc thứ ba sau ngày đáo hạn hợp đồng (T+3) Mức ký quỹ yêu cầu
(Margin requirements)
Mức ký quỹ ban đầu và mức ký quỹ duy trì (bằng
tiền mặt) là 20% giá trị hợp đồng Thanh toán bù trừ
(Clearing and Settlement)
Được thực hiện thông qua trung tâm thanh toán bù
trừ OCC Luật lệ áp dụng
(Government regulator)
Tất cả giao dịch phải tuân thủ luật lệ của Ủy ban hợp đồng giao sau hàng hóa Mỹ (CFTC) và Ủy ban
chứng khoán Mỹ (SEC)
1.5.2 Trung tâm thanh toán bù trừ (OCC)
Mọi hợp đồng giao dịch tại OneChicago đều thông qua OCC Các giao dịch được thực hiện bởi các công ty môi giới thành viên của OneChicago thông qua các tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của chính họ ( luật chưa cho phép khách hàng trực tiếp giao dịch) OCC thực hiện các chức năng chính sau:
Đảm bảo hiệu suất hoạt động mua bán của hai bên mua bán qua đó loại
bỏ rủi ro đối tác (counterparty risk)
So khớp giá giao dịch, khớp lệnh
Thanh toán cho bên mua/bên bán
Điều tiết hoạt động ở OneChicago
Trang 23Hàng ngày, OCC thực hiện so khớp dữ liệu được gửi từ các công ty môi giới thành viên Nếu dữ liệu không phù hợp hoặc không khớp lệnh thì sẽ được trả ngược về cho các thành viên xử lí Còn nếu dữ liệu phù hợp, OCC sẽ thực hiện giao dịch Dĩ nhiên, các nghiệp vụ này sẽ được thực hiện thông qua một hệ thống điện tử hiện đại và tự động OCC giúp những người giao dịch trên thị trường một cách hiệu quả mà không cần quan tâm mình đang giao dịch với ai
1.5.3 Tạm dừng giao dịch
Trong một số tình huống đặc biệt, sở giao dịch OneChicago có thể cho tạm dừng giao dịch Chẳng hạn, khi giá trên TTCK niêm yết giảm trong một thời gian quá dài, mất thanh khoản hoặc phát hiện hành vi gian lận thao túng giá chứng khoán,…Ngoài ra, pháp luật Mỹ còn yêu cầu các sở giao dịch phải tạm ngưng giao dịch khi chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones giảm quá 20% trong một ngày Việc tạm ngừng này nhằm bảo vệ các bên giao dịch khỏi rủi ro
từ các biến động xấu nhưng mặt trái là nó khiến các nhà đầu tư không thể đóng lại vị thế khi thấy giá hợp đồng của mình biến động không theo mong đợi Hậu quả của việc tạm dừng giao dịch là rất lớn đối với tất cả chủ thể tham gia thị trường, chính vì vậy, việc tạm dừng chỉ diễn ra khi xét thực sự cần thiết
1.5.4 Các lệnh thường dùng trong giao dịch chứng khoán giao sau
OneChicago hỗ trợ cho các nhà giao dịch với rất nhiều loại lệnh để tương tác trên hệ thống điện tử hoàn toàn tự động của sở giao dịch Có hai hệ thống giao dịch điện tử (trading flatfom) trên OneChicago, đó là: GLOBEX và CBOEDirect Trong khi GLOBEX chỉ hỗ trợ một số lệnh nhất định thì CBOEDirect lại hỗ trợ đầy đủ tất cả các lệnh cho người giao dịch Trong thời gian giao dịch, nhà đầu tư có thể đặt hoặc hủy lệnh nhiều lần tùy theo mục đích
và nhận định của họ về biến động tình hình của TTCK cơ sở Bảng sau đây sẽ trình bày một cách đầy đủ các lệnh tại sở giao dịch OneChicago (YES-hệ thống hỗ trợ, NO-hệ thống không hỗ trợ)
Trang 24Loại lệnh GLOBEX CBOEDirect All or None
Lệnh mua hay bán tất cả số lƣợng SSF ghi trong
lệnh với mức giá giới hạn Nếu không thỏa mãn
sẽ tự hủy
Calendar spread
Một chiến lƣợc đòi hỏi phải mua hàng trong một
tháng chỉ định và đồng thời phải bán trong một
Fill and Kill (FAK) Order
Lệnh mua/bán một phần SSF ghi trong lệnh
Nếu không thỏa mãn sẽ tự hủy
Fill or Kill (FOK) Order
Lệnh mua/bán tất cả SSF ghi trong lệnh mà không quan tâm tới giá Nếu không thỏa mãn thì
tự hủy
Good 'Til Cancelled (GTC) Order
Đối với lệnh này, trừ khi đƣợc thực hiện, nó sẽ
tồn tại trên hệ thống cho đến khi lệnh thu hồi
hoặc đến ngày đáo hạn
Trang 25Immediate or Cancel (IOC) Order
Lệnh thị trường hoặc lệnh giới hạn, tự động hủy
trừ khi lệnh được thực hiện toàn bộ hay một phần trong vòng 5 giây sau khi hệ thống tiếp
Lệnh dừng mua/bán khi đã đạt được mức giá đã
định Lệnh này dùng để cắt lỗ khi mức giá bắt
đầu tăng/giảm
Stop Limit Order
Lệnh thị trường, là lệnh sẽ trở thành lệnh limit
order khi giá được định rõ (giá đặt) được đạt đến
và trở thành lệnh stop order khi tới mức đã định
Ở đây, chúng ta tập trung vào tìm hiểu 4 lệnh được sử dụng thông thường nhất
đó là: Market order, Limit order, Stop order và Stop Limit order theo ví dụ dưới đây:
Thị trường giao sau OneChicago
BID(giá chào mua): $103 OFFER(giá chào bán): $105
Lệnh Market order để bán sẽ được thực hiện tại mức giá tốt nhất có sẵn, tức là
$103 Lệnh Market order để mua sẽ được thực hiện tại mức giá tốt nhất có sẵn, tức là $105
Trang 26 Lệnh Limit order để bán ấn định mức giá $107, tức lệnh bán sẽ được thực hiện
ở mức giá $107 hoặc cao hơn, tương tự với lệnh mua ấn định ở mức giá $104
sẽ được thực hiện ở mức giá $104 hoặc thấp hơn
Một người giao dịch mua hợp đồng với giá $103 đặt lệnh Stop order ở mức giá
$108 nghĩa là khi giá offer tới mức $108, người này sẽ đóng vị thế của mình bằng cách bán hợp đồng vừa mua nhằm hạn chế lỗ
Lệnh Stop limit order kết hợp hai lệnh limit order và stop order Khi giao dịch mua ấn định mức giá ngừng là $108 và mức giá giới hạn là $104 nghĩa là khi tới mức $104 sẽ ngừng lệnh mua và khi tới $108 thì sẽ đóng vị thế mua
1.6 Quy trình giao dịch
Các giao thức giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán giao sau được mô hình hóa theo sơ đồ sau:
Quy trình giao dịch sẽ diễn ra như sau:
Thông qua môi giới, lệnh của người mua/bán được nhập vào hệ thống giao dịch (GLOBEX hoặc CBOEDirect)
Môi giới
của người
mua df
Môi giới của người bán df
Môi giới trên sàn của người môi giới của người mua df
SỞ GIAO DỊCH GIAO SAU
Môi giới trên sàn của người môi giới của người bán f
Công ty thanh
toán của người
môi giới của
người mua
Công ty thanh toán của người môi giới của người bán
Trung tâm thanh toán bù trừ
Trang 27 Hệ thống giao dịch tiến hành kiểm tra thông tin về lệnh và dữ liệu xem có phù hợp quy định hay không Nếu không phù hợp thì hệ thống sẽ trả lệnh
về, còn phù hợp sẽ tự động chuyển đến hệ thống so khớp lệnh của OneChicago, gọi tên là “OneChicago Match Engine” để xác định giá khớp
và khối lượng khớp
Giá thực hiện và khối lượng khớp sẽ được thông báo đến các nhà môi giới của người mua/bán Các đối tượng này ngay lập tức thông báo cho khách hàng của họ
Quá trình thanh toán bù trừ giữa trung tâm và các công ty thanh toán diễn
ra Căn cư vào giá thực hiện, trung tâm TTBT của OneChicago ghi tăng/giảm tương ứng vào tài khoản của khách hàng Nếu có những yêu cầu
về ký quỹ, trung tâm sẽ tương tác với công ty thanh toán để quá trình giao dịch của người giao dịch vẫn được đảm bảo
1.7 Rủi ro của việc giao dịch hợp đồng chứng khoán giao sau – Bài học kinh
nghiệm rút ra cho thị trường Việt Nam:
Tuy rằng vai trò chính của hợp đồng chứng khoán giao sau là phòng ngừa các rủi ro trong khi giao dịch, nhưng không có nghĩa hợp đồng chứng khoán không tiềm ẩn những rủi ro Phần này của bài nghiên cứu, chúng ra sẽ xem xét về các rủi ro mà hợp đồng chứng khoán giao sau có thể gặp phải
1.7.1 Rủi ro bị đánh bật khỏi thị trường:
Khi đã tham gia vào thị trường tài chính, bất kì là loại hình kinh doanh tài chính nào thì đều có những nhà đầu tư phán đoán sai lầm và có ít vốn Trong thị trường chứng khoán giao sau, với công cụ điều chỉnh theo thị trường (marking to market) các khoản lời/lỗ sẽ được điều chỉnh ngay lập tức cùng với mức ký quỹ yêu cầu (ở OneChicago là 20% giá trị hợp đồng) Với những kỳ vọng mong đợi không đúng với diễn biến của thị trường, các nhà đầu tư sẽ bị
lỗ, tình trạng này kéo dài sẽ bắt các nhà đầu tư đổ thêm nhiều tiền vào tài khoản ký gửi của mình cho đến một lúc sức chịu đựng tài chính không còn Nhà đầu tư hết vốn, công ty môi giới sẽ thanh lý hợp đồng trước hạn, đóng tài
Trang 28khoản khi đó nhà đầu tư phải rút lui khỏi thị trường Tại Việt Nam, các nhà đầu
tư không có nhiều kiến thức, đầu tư lướt sóng, bầy đàn; điều này có thể gây nhiều khó khăn cho việc hình thành một thị trường giao sau có chất lượng
1.7.2 Rủi ro không đóng được vị thế trước khi hợp đồng đáo hạn:
Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường hợp đồng chứng khoán giao sau chủ yếu là để kiếm lời thông qua việc mua/bán liên tục các hợp đồng Chỉ một số ít nhà đầu tư mua/bán hợp đồng đáo hạn để thực hiện các nghĩa vụ của mình Chính vì vậy, sẽ thật bi kịch nếu nhà đầu tư muốn thoát khỏi vị thế hiện tại của
họ nhưng không thể thoát ra được Điều này có thể gây ra một khoản lỗ và phát sinh các nghĩa vụ không mong muốn Rủi ro này có thể xảy ra khi:
Giao dịch bị tạm ngừng, chẳng hạn cơ quan chủ quản phát hiện trên thị trường có những giao dịch bất thường, có yếu tố gian lận, lũng đoạn Hoặc phát sinh những vấn đề nghiêm trọng đối với tổ chức phát hành chứng khoán (sản xuất bị đình trệ, báo cáo tài chính thiếu trung thực…)
Hệ thống của sở giao dịch, hoặc của trung tâm thanh toán bị lỗi, không thể
1.7.4 Rủi ro định giá sai của chứng khoán trên thị trường cơ sở
Với việc giá cả của chứng khoán cơ sở bị định giá sai, nhà đầu tư hợp đồng giao sau sẽ không có được cái nhìn chính xác nhất về thị trường Điều này làm cho những quyết định của nhà đầu tư không đúng đắn dẫn đến nguy cơ thua lỗ Rủi ro định giá sai có thể xảy ra trong những trường hợp sau:
Trang 29 Thị trường cơ sở và thị trường chứng khoán giao sau kém thanh khoản
Thị trường chứng khoán cơ sở bị đóng cửa, bị trục trắc kỹ thuật
Thị trường không phản ánh kịp thời, chính xác và liên tục các giao dịch xảy
ra Các báo cáo giao dịch trên thị trường cơ sở có thể không được công bố
do cơ quan chủ quản phát hiện có các thông tin sai lệch ảnh hưởng đến giá
cả trên thị trường
Kết luận chương 1:
Chương 1 đã cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát về các khái niệm, quy trình giao dịch, lợi ích cũng như rủi ro của hợp đồng giao sau trên sàn giao dịch Đi sâu hơn, chúng ta đã tìm hiểu khá kĩ về sở giao dịch chứng khoán giao sau OneChicago thông qua các thông số kỹ thuật và ví dụ cụ thể, qua đó hiểu rõ về vấn đề này dưới góc nhìn thực tế, đem lợi những kinh nghiệm quý báu Chương 1 cung cấp cho chúng ta một nền tảng ban đầu từ đó có thể nhìn nhận đúng hơn các vấn đề: thực trạng, thuận lợi, thách thức và điều kiện để áp dụng hợp đồng giao sau vào chứng khoán Việt Nam sẽ được trình bày ở các phần tiếp theo của bài nghiên cứu
Trang 30CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
2.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt
Nam – Những đặc điểm nổi bật của thị trường trong những năm qua
TTCK Việt Nam đã trải qua hơn 10 năm phát triển Với những biến động của thị trường trong những năm qua là những thay đổi thất thường cùng với sự sôi động của thị trường vào năm 2006-2007 Trong những năm gần đây thị trường đang có chiều hướng ngày càng đi xuống, với sự giảm điểm đáng kể ở hai chỉ số là VN-Index và HNX- Index
Trong giai đoạn này có một số yếu tố khách quan thuận lợi, tạo điều kiện cho TTCK phát triển Trong đó, đáng kể là số lượng cổ phiếu được phép mua của các
cổ phiếu blue-chip trên thị trường dành cho nhà đầu tư nước ngoài vẫn nhiều, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài mua vào , bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO củng như các hành lang pháp lí về chứng khoán và TTCK tạo tiền đề tốt cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư mạnh vào thị trường TTCK bị ảnh hưởng của những biến động tài chính thế giới, thị trường càng phụ thuộc nhiều vào các chuyển dịch của các đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, không ai có thể phủ nhận rằng TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực, ngày càng trở thành một kênh huy đông vốn hiệu quả cho nền kinh tế Nhưng TTCK Việt Nam đã mang lại một bài học đắt giá cho các nhà đầu tư, đầu tư chứng khoán hiện nay có rủi ro khá cao Một minh chứng rỏ nét chính là sự lên xuống thất thường của VN-Index nằm ngoài sự dự đoán của các chuyên gia
Trang 312.1.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của TTCK
Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE- Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh và SAM- Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Sacom) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít
trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tiến triển hơn khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo
ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau:
2.1.2 Giai đoạn 2006- 2007: Giai đoạn phát triển bùng nổ của TTCK
Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 TTCK Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Zimbabwe Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng thu hút các nhà đầu tư trong
và ngoài nước
Trang 32Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua TTCK Việt Nam non trẻ này đã có “màn
trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được với khối lượng vốn
hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm
Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn
giao dịch TP Hồ Chí Minh (HaSTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch Hà
Nội (HaSTC) tăng 152,4% TTCK Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5
lần so đầu năm Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm
22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt
khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị
trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc
tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường
Trang 33VN-Index đạt đỉnh 1.170,67 điểm HaSTC-Index chạm mốc 459,36 điểm
Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao
dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động
mạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VN-Index đạt 927,02 điểm,
HASTC-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 1 năm hoạt động VN-HASTC-Index đạt được
mức tăng trưởng là 23,3%; HASTC-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập
vào cuối năm 2006
2.1.3 Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam
khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh
Trang 35Năm 2008 là một năm đầy biến động của TTCK Việt Nam với xu thế chính không mấy khả quan Tính cả năm 2009, TTCK Việt Nam là thị trường sụt giảm mạnh nhất so với các thị trường trong khu vực với mức giảm khoảng 66% đối với VN-Index và 68% với HaSTC-Index Diễn biến của thị trường có thể chia làm ba giai đoạn chính
Giai đoạn 1: Từ tháng 1 tới tháng 6 - Thị trường giảm mạnh do tác động từ tác động của kinh tế vĩ mô
Khởi đầu năm tại mức điểm 921.07, VN-Index đã mất đi gần 60% giá trị và trở thành một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầu năm 2008
Trang 36Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đầu tư trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ nội tại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép giải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK
Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành bắt đầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
(1) UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch;
(2) SCIC (tập đoàn kinh doanh vốn nhà nước) tham gia mua vào cổ phiếu;
(3) NHTM được vận động ngừng giải chấp;
(4) Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ
Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn, và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác động tới tâm lý các nhà đầu tư
Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71 phiên VN-Index giảm điểm Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008 Sau 103 phiên giao dịch,VN-Index giảm mất 550.52 điểm- tương đương 59,77% Bình quân trong mỗi phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đương khoảng 482 tỷ đồng
Sự sụt giảm của TTCK và cùng với đó là sự hạ nhiệt của thị trường bất động sản
đã gây khó khăn cho các công ty có danh mục đầu tư vào các tài sản này Một số
ví dụ điển hình là SAM, REE và các công ty chứng khoán có danh mục đầu tư lớn Một phần khoản giảm giá danh mục đầu tư đã được phản ánh qua các khoản trích lập dự phòng và được thể hiện trên báo cáo tài chính Những thông tin này đã gây
ra những lo ngại cho các nhà đầu tư về kết quả hoạt động kinh doanh Điều này góp phần thúc đẩy thị trường rơi vào tình trạng ảm đạm trong 6 tháng đầu năm
2008
Trang 37Giai đoạn 2 : Giai đoạn thị trường phục hồi trong tháng 7 và tháng 8
Bước sang đầu quý III thị trường đã có bước phục hồi khá sớm và phản ánh trước những cải thiện của nền kinh tế vĩ mô Sau khi những thông tin tích cực xuất hiện, thị trường đã thực sự hồi phục với mức tăng khoảng 49% của chỉ số VN-Index và 82% cho HaSTC-Index tính từ đáy suy thoái giữa tháng 6 đến cuối tháng 8
Cùng với đà hồi phục lượng giao dịch của thị trường được cải thiện dần, khối lượng giao dịch tăng đều từ tháng 6 và đạt đĩnh trong tháng 8 với mức giao dịch
cổ phiếu và chứng chỉ quỹ bình quân mỗi phiên tại HOSE là khoảng 21,7 triệu cổ phiếu tương đương với trên 837 tỷ đồng, đây là lượng giao dịch ở mức rất cao tương đương với lượng giao dịch sôi động vào cuối năm 2007
Giai đoạn 3: từ tháng 9- tháng 12 thị trường trở lại chu kỳ giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Sau 2 tháng hồi phục kể từ tháng 9 thị trường đã bắt đầu xuất hiện những nguy cơ mới và có dấu hiệu quay lại với xu thế giảm Đặc biệt từ sau sự kiện ngân hàng đầu tư của Mỹ là Lehman Brothers nộp đơn xin bảo lãnh phá sản, và tiếp theo đó
là một loạt biến động lớn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động tiêu cực lên TTCK Việt Nam, khối lượng giao dịch giảm dần và cùng với đó là hiện tượng bán ra với quy mô khá lớn của khối đầu tư nước ngoài, đặc biệt là chuỗi bán ròng liên tiếp 18 phiên tại HOSE trong tháng 10
Trong giai đoạn cuối tháng 12 mặc dù thị trường đã sụt giảm một mặt bằng giá tư tương đối thấp nhưng với lượng cầu còn khá dè dặt, Vn-Index đã chưa thể hồi phục và tạo ra một giai đoạn đi ngang với khối lượng giao dịch thấp trong giai đoạn cuối năm Khối lượng giao dịch cổ phiếu và chứng chỉ quỹ tại HOSE chỉ còn
ở gần mức 11,8 triệu cổ phiếu tương đương với trên 305 tỷ đồng giá trị giao dịch Nếu như trong 6 tháng đầu năm thị trường liên tục sụt giảm do các yếu tố nội tại của nền kinh tế thì trong 4 tháng cuối năm , thị trường lại chủ yếu bị tác động của các yếu tố bên ngoài Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã gây ra nguy cơ đỗ vở hàng loạt và triển vọng của lợi nhuận không mấy khả quan đối với nhiều tổ chức tài
Trang 38chính lớn, khiến cho TTCK thế giới đồng loạt giảm mạnh TTCK Việt Nam củng chịu ảnh hưởng nặng nề do động thái rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng gián tiếp lên tâm lý các nhà đầu tư trong nước
2.1.4 Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009
Năm 2009 dù kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam cả hai chỉ số VN-Index và HNX-Index đã phục hồi mạnh trên 50%, số lượng công ty mới niêm yết tăng vọt trong đó nhiều doanh nghiệp lớn được niêm yết trên sàn Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chuyển thành sở giao dịch chứng khoán Thành lập thêm sản UpCoM cho những công ty đại chúng đăng ký giao dịch Các chỉ số chứng khoán bắt đầu đi lên vào cuối quý I năm 2009 cùng thời điểm khủng hoảng kinh tế chạm đáy và hồi phục Vn-Index chạm đáy 233,5 vào ngày 24/2 và đi lên trong gần một năm đạt đĩnh vào ngày 22/10 tại 624 điểm, tăng 165,5% TTCK suy yếu kể từ tháng 11, tính đến 15/12 VN-Index tăng 95% so với đầu năm khi đóng cửa tại 459,44 điểm Từ đáy
so với đỉnh HNX-Index (218 điểm ) tăng 150%
TTCK năm 2009 không chỉ ấn tượng với sự phục hồi nhanh mà gây bất ngờ với thanh khoản bùng nổ với nhiều kỷ lục liên tục bị phá vỡ Giá trị giao dịch đạt đỉnh trong tháng 10 với bình quân đạt 5.759 tỷ đồng / phiên Có nhiều yếu tố ảnh
Trang 39hưởng tới hiện tượng này như việc nhiều công ty vốn hóa lớn niêm yết, tạo thêm
hàng hóa cho thị trường, chính sách nới lỏng tiền tệ giúp tiền chảy vào chứng
khoán tăng khi kênh đầu tư này phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng, chứng khoán
trở thành kênh đầu tư quen thuộc hơn các năm trước
2.1.5 Năm 2010 - một năm thăng trầm của thị trường chứng khoán Việt Nam
Quy mô TTCK năm 2010 ghi nhận số lượng công ty niêm yết tăng lên 40% với
650 công ty Tuy nhiên vốn hóa thị trường lại có mức tăng không tương xứng do
sự sụt giảm của cả hia chỉ số, đặc biệt trên sàn HASTC
Trang 40Số lượng cổ phiếu nước ngoài tăng 45%, tương đương với % tăng của cổ phiếu niêm yết mới, đưa tỷ lệ sở hữu của khối ngoại trên thị trường lên 17,5% Trên sàn HOSE mặc dù khối lượng giao dịch tăng hơn 7% so với năm trước nhưng giá trị giao dịch lại giảm hơn 11% thể hiện rỏ một năm không mấy sôi động khi thị trường phải đối mặt với cung hàng lớn trong khi dòng tiền suy yếu , nhà đầu tư nước ngoài có một năm mua ròng kỷ lục hơn 16 ngàn tỷ gấp 4,6 lần so với năm
2009 và chỉ sau mức kỷ lục 22,9 ngàn tỷ năm 2007