Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, yếu tố có tác động lớn nhất đến các Ngân hàng thương mại Việt Nam là sự thay đổi cấu trúc thị trường với sự xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng nước
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH
TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH KINH DOANH ĐẾN RỦI RO CỦA
NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2Lời mở đầu 1
1 SỰ THAY ĐỔI TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔ HÌNH KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM 4
2 RỦI RO NGÂN HÀNG VÀ MÔ HÌNH KINH DOANH: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 10
2.1 Cấu trúc về vốn 12
2.2 Cấu trúc tài sản 13
2.3 Cấu trúc tài trợ 14
2.4 Cấu trúc thu nhập 17
2.5 Các biến kiểm soát 18
3 MÔ HÌNH VÀ SỐ LIỆU 19
3.1 Mô hình gốc 19
3.1.1 Biến đại diện rủi ro (biến phụ thuộc) 20
3.1.2 Biến đại diện mô hình kinh doanh trước khủng hoảng (biến độc lập) 20
3.1.2.1 Cấu trúc vốn 21
3.1.2.2 Cấu trúc tài sản 21
3.1.2.3 Cấu trúc nguồn tài trợ 22
3.1.2.4 Cấu trúc thu nhập 22
3.1.2.5 Khả năng quản lí 22
3.1.2.6 Những biến bổ sung 23
3.2 Mô hình áp dụng cho Việt Nam 23
3.2.1 Biến đại diên cho rủi ro ngân hàng (biến phụ thuộc) 23
3.2.2 Biến đại diện mô hình kinh doanh trước khủng hoảng (biến độc lập) 25
3.2.2.1 Cấu trúc vốn 25
3.2.2.2 Cấu trúc tài sản 25
3.2.2.3 Cấu trúc nguồn tài trợ 25
3.2.2.4 Cấu trúc thu nhập 26
Trang 34 KẾT QUẢ 26
4.1 Cấu trúc vốn 27
4.2 Cấu trúc tài sản 29
4.3 Cấu trúc tài trợ 31
4.4 Cấu trúc thu nhập 31
5 KẾT LUẬN 37
Trang 4CPI Chỉ số giá tiêu dùng
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
TTCK Thị trường chứng khoán
BCTC Báo cáo tài chính
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH - Trang Danh sách bảng
Bảng 1 kết quả hồi quy mô hình theo FEM - 27 Danh mục hình
Hình 4.1 Quá trình tăng vốn điều lệ của một số ngân hàng ở Việt Nam - 29 Hình 4.2 Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trên tổng doanh thu một số ngân hàng - 33 Hình 4.3 Thể hiện sự tăng trưởng tín dụng -M2-CPI trong giai đoạn 2002-2007 35 Hình 4.4 Cơ cấu hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán của một số ngân hàng tại Việt Nam - 36 DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các quy định trong hiệp ước Basel I, II và III
Phụ lục 2: Nguồn dữ liệu và định nghĩa các biến
Phụ lục 3: Bảng số liệu các biến độc lập trong mô hình của 21 ngân hàng
Phụ lục 4: Bảng số liệu biến phụ thuộc đo rủi ro của 21 ngân hàng
Phụ lục 5: Bảng kết quả hồi quy theo FEM
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hệ thống Ngân hàng thương mại nước ta đang trong quá trình đổi mới, hội nhập tài chính toàn cầu Cùng với những cơ hội lớn để phát triển, ngành ngân hàng đứng trước những rủi ro khó lường, đặc biệt về vấn đề tín dụng và thanh khoản, gây ra những ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế đất nước Do đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu tìm ra giải pháp giúp hạn chế rủi ro Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu ở Mỹ 2007-
2009 có thể xem là một cú sốc đo lường những rủi ro tiềm ẩn và sức chịu đựng của ngân hàng Việt Nam Vì vậy chuyên đề “ Tác động của mô hình kinh doanh đến rủi ro của ngân hàng ở Việt Nam” được nghiên cứu để xem xét tổng thể mô hình kinh doanh của ngân hàng, xác định xem những yếu tố nào thực sự ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng và chiều hướng tác động của nó Chúng tôi hy vọng bài nghiên cứu sẽ có ý nghĩa trong việc xác định cấu trúc vốn, tài sản, nguồn tài trợ và thu nhập của ngân hàng nhằm tăng sức mạnh tài chính, phản ứng tốt hơn với các cú sốc tài chính có thể gặp phải trong tương lai
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích sự tác động của các mô hình kinh doanh doanh khác nhau đến rủi ro của ngân hàng trong thời kì suy thoái
Xem xét và đánh giá mô hình kinh doanh này áp dụng tại Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: rủi ro của ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu: Hai mươi mốt ngân hàng thương mại Việt Nam thời kì 2005-2010
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu định lượng, kết hợp phân tích định tính, tham khảo kết quả của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới về vấn đề mô hình kinh doanh và rủi ro ngân hàng
Trang 6Sử dụng phương pháp hồi quy định lượng để kiểm tra mối quan hệ, liên quan của một
số yếu tố đến rủi ro ngân hàng
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: “TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH KINH DOANH ĐẾN RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM”
Giới thiệu chung về đề tài, bối cảnh, tình hình hiện tại của ngân hàng Việt Nam và mục tiêu nghiên cứu
5.1 Sự thay đổi trong hệ thống tài chính và những tác động của nó đến mô hình kinh doanh của các ngân hàng ở Việt Nam
Sự bãi bỏ dần các quy định và quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ của thị trường tài chính trong hai thập niên vừa qua đã tạo nên những thay đổi đến chóng mặt và hết sức phức tạp của ngành công nghiệp ngân hàng trên toàn thế giới, sự tự do hóa trong ngành ngân hàng ở hầu hết các quốc gia phát triển gắn liền với sự chấp nhận rủi ro Dưới tác động của làn sóng toàn cầu hóa của thị trường tài chính, việc nới lỏng chưa từng thấy các quy định nhằm mục đích giành được lợi nhuận cao do cạnh tranh đang ngày càng tăng Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, yếu tố có tác động lớn nhất đến các Ngân hàng thương mại Việt Nam là sự thay đổi cấu trúc thị trường với sự xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là với việc ra đời của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài càng làm gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các NHTM về công nghệ và sản phẩm dịch vụ Kể từ năm 2007, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã gặp phải hai vấn đề lớn gồm: (1) rủi ro về mặt thanh khoản và (2) rủi ro từ các hoạt động liên quan đến chứng khoán và bất động sản
Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng gia tăng do cung tiền được mở rộng với tốc
độ cao cộng với sự nở rộng quá nhanh của một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ mà phần đông là mới thành lập hay được nâng cấp lên từ các ngân hàng nông thôn Điều này đã tạo ra sự mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các ngân
Trang 7hàng Thêm vào đó, việc các ngân hàng thương mại tham gia quá tích cực vào các hoạt động kinh doanh chứng khoán và bất động sản như cho vay để kinh doanh cổ phiếu hay mua bán bất động sản cũng như một số nghiệp vụ khác của ngân hàng đã tạo ra những tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho hệ thống tài chính Bãi bỏ các quy tắc và đổi mới tài chính đã dẫn đến một sự thay đổi sâu sắc trong mô hình kinh doanh ngân hàng, thúc đẩy họ chấp nhận rủi ro Sự thay đổi này ảnh hưởng đến một vài đại lượng như: quy
mô, sự trông cậy vào doanh thu thu nhập ngoài lãi, quản lý doanh nghiệp, thực hiện tài trợ, tất cả các nhân tố này đều bị ảnh hưởng bởi kinh tế vĩ mô và môi trường cạnh tranh
Tóm lại, việc bãi bỏ hay chưa ban hành đủ các quy định về quản lí và giám sát, đi đôi với sự phát triển của hệ thống tài chính toàn cầu đã làm gia tăng sự cạnh tranh trên thị trường ngân hàng ở Việt Nam Nhưng thay đổi đó đã làm cho các NHTM ngày càng có khuynh hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn
5.2 Rủi ro ngân hàng và mô hình kinh doanh: Tổng quan lí thuyết
Đã có rất nhiều bài nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ của giữa mô hình kinh doanh của ngân hàng và rủi ro ngân hàng, tập trung đi sâu phân tích một số yếu tố tác động đến rủi ro của ngân hàng như cấu trúc vốn chủ sở hữu, thị trường tài chính, quy mô, tính thanh khoản, tín dụng, lãi suất, đa dạng hóa thu nhập Bài nghiên cứu này chúng tôi tiếp tục phát triển thêm nghiên cứu cho mô hình ở Việt Nam, dựa trên bài nghiên cứu gốc của các nhà nghiên cứu Yener Altunbas, Simone Manganelli và David Marques-Ibanez Chúng tôi thực hiện kiểm nghiệm hồi quy để đo lường rủi ro của các ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng (2008-2010) có liên hệ như thế nào đến vấn đề cấu trúc của các ngân hàng trong giai đoạn trước đó (2005-2007), chúng tôi đã chia các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng theo bốn bộ cấu trúc, cấu trúc về vốn, cấu trúc về tài sản, cấu trúc về nguồn tài trợ và cuối cùng là cấu trúc
về thu nhập Dữ liệu được quan sát ở hai giai đoạn khác nhau để tránh vấn đề nội sinh phát sinh trong từng giai đoạn
Trang 85.2.1 Cấu trúc về vốn
Về nguyên tắc, dự trữ vốn nhiều hơn sẽ giảm được rủi ro khi gặp sự cố, hấp thụ cú sốc
và tăng cường giám sát Tuy nhiên, sử dụng nhiều nợ cũng có thể làm giảm rủi ro do giảm chi phí đại diện của các nhà quản lý ngân hàng Riêng ở Việt Nam, theo thống kê
sơ bộ, năng lực tài chính của nhiều Ngân hàng thương mại hiện rất yếu Vốn tự có thấp cùng với nợ xấu gia tăng làm tăng dự phòng rủi ro tín dụng, gây ra khả năng mất vốn của các ngân hàng, do đó sự có mặt của yếu tố vốn tự có trong mô hình nghiên cứu là cần thiết
5.2.2 Cấu trúc tài sản
Quy mô có thể là một yếu tố quyết định rủi ro ngân hàng, ngân hàng lớn có khả năng
đa dạng hóa hoạt động giúp giảm rủi ro, nhưng các ngân hàng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tâm lý “quá lớn để thất bại” dẫn đến việc nới lỏng các quy định tín dụng gia tăng rủi ro
Chứng khoán hóa chuyển rủi ro của ngân hàng sang thị trường tài chính, quản lý và phân tán rủi ro Các ngân hàng nhỏ không thể loại bỏ biến động thông qua vốn hóa cổ phần hay cho vay đến các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, các ngân hàng nhỏ thực hiện các khoản cho vay với rủi ro tín dụng thấp hơn các ngân hàng lớn
5.2.3 Cấu trúc tài trợ
Có hai nguồn tài trợ chính, gồm tài trợ ngắn hạn từ thị trường và huy động vốn từ tiền gửi khách hàng Trong những năm gần đây sự nới lỏng trong giám sát và sự đổi mới tài chính là nhân tố dẫn đến sự phụ thuộc của ngân hàng vào thị trường tài chính thông qua phát hành các giấy tờ có giá ngắn hạn Các ngân hàng có cấu trúc thanh khoản yếu
và sử dụng nợ nhiều trước khủng hoảng thì có nguy cơ phá sản cao trong thời kỳ sau
đó Các nhà đầu tư trên thị trường tài chính mong đợi áp đặt kỷ luật thị trường Tuy nhiên, những vấn đề bất cân xứng thông tin về ngân hàng, tài trợ từ thị trường tài chính có thể vẫn có những mặt tiêu cực gây nên lỗ hổng thị trường, dẫn đến rủi ro cao
Trang 9hơn Nguồn tài trợ thứ hai đó là huy đông vốn từ tiền gửi khách hàng Nguồn này thì
ổn đinh hơn trong thời gian khủng hoảng do được đảm bảo bởi chính phủ Việc rút vốn trong nhiều trường hợp có thể dự đoán được ở mức độ tổng thể và tùy vào nhu cầu thanh khoản của người gửi tiền.Tuy nhiên, tiền gửi là một nguồn có chi phí chuyển đổi cao và phụ thuộc vào các dịch vụ giao dịch mà khách hàng nhận được từ ngân hàng Tiền gửi thường ít linh hoạt trong việc thích nghi với sự thay đổi của các nhu cầu tài chính, các cơ hội đầu tư Các nghiên cứu đa số đi đến kết luận ngân hàng được tài trợ bằng tiền gửi nhiều hơn gặp ít rủi ro hơn trong khủng hoảng
5.2.4 Cấu trúc thu nhập
Cùng với xu hướng bãi bỏ dần các hạn chế rào cản về chuẩn tín dụng, sự tăng lên của các tổ chức tín dụng đem lại một tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chóng mặt trong giai đoạn trước khủng hoảng
Trong quá khứ, hầu hết các cuộc khủng hoảng được tạo ra từ vấn đề tăng trưởng tín dụng quá mức trong những giai đoạn trước đó Toàn cầu hóa góp phần tạo ra một xu hướng tăng nhanh về sự cạnh tranh, các ngân hàng đã liên tục nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng của mình, mở rộng sang nhiều lĩnh vực kinh doanh khác ngoài lãi như môi giới, kinh doanh chứng khoán, các dịch vụ hưởng hoa hồng … để góp phần nâng cao nguồn thu nhập Đây chính là vấn đề cốt lõi trong cấu trúc nguồn thu nhập, liệu rằng việc đa dạng hóa nguồn thu nhập, mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác làm tăng doanh thu cho ngân hàng nhưng đằng sau nó có phải là một sự tốt đẹp, có thể làm giảm sự rủi
ro cho ngân hàng hay không, có giúp ngân hàng tạo được một doanh thu ổn định khi lâm vào khủng hoảng hay không Tuy nhiên, qua cuộc khủng hoảng 2008 người ta nhận thấy một điều rằng, khi lâm vào khủng hoảng, doanh thu của các ngân hàng xuất phát từ lãi và các khoản tương đương lãi có một sự sụt giảm, tuy nhiên, sự sụt giảm này đáng kể hơn rất nhiều ở các lĩnh vực ngoài lãi Do vậy việc đa dạng hóa lại dường như làm tăng thêm rủi ro cho các ngân hàng
Trang 105.2.5 Các biến kiểm soát khác
Ngoài các bộ biến về cấu trúc tài chính như trên chúng tôi cũng xét và cũng giới thiệu một vài yếu tố khác thuộc về khía cạnh quản trị và vĩ mô khác có thể ảnh hưởng đến rủi ro mà ngân hàng chịu trong cuộc khủng hoảng Các biến này có thể là sự gia tăng
và phát triển trong thị trường nhà ở và bất động sản, cạnh tranh, và quản lí doanh nghiệp
5.3 Mô hình và dữ liệu
5.3.1 Mô hình gốc
Chúng tôi đo lường rủi ro ngân hàng trong thời kì khủng hoảng dựa trên mô hình của Yener Altunbas, Simone Manganelli và David Marques-Ibanez Mục tiêu của tác giả là chỉ ra rằng các đặc điểm hoạt động kinh doanh trung và dài hạn thể hiện trong thời kỳ tiền khủng hoảng có liên quan một cách hệ thống đến rủi ro trong suốt thời gian khủng hoảng tài chính Tác giả đo lường rủi ro bằng sự hỗ trợ của chính phủ, sự liên quan đến rủi ro thị trường và sự nhờ cậy đến tính thanh khoản của ngân hàng trung ương của mỗi ngân hàng Biến đại diện mô hình kinh doanh trước khủng hoảng được hồi quy thành bốn nhóm chính, gồm: Cấu trúc vốn ngân hàng (i), cấu trúc tài sản (ii), cấu trúc nguồn tài trợ (iii) và cấu trúc thu nhập(iv)
5.3.2 Áp dụng cho Việt Nam
Mô hình mà chúng tôi sử dụng để đo lường rủi ro trong khủng hoảng cho các ngân hàng Việt Nam có sự khác biệt với mô hình gốc do các điều kiện khách quan về thể chế pháp luật, sự giới hạn về thông tin Chúng tôi sử dụng tỷ lệ trích lập dự phòng tín dụng trên nợ xấu để đo lường rủi ro của ngân hàng trong khủng hoảng giai đoạn 2008-
2010 Tỷ lệ này tăng cao cho thấy ngân hàng thương mại đang đánh giá rủi ro đang tăng cao hơn Về biến đại diện mô hình kinh doanh trước khủng hoảng(biến độc lập),
do những điều kiện khách quan ở Việt Nam chúng tôi đã loại những biến không phù hợp hoặc rất khó khăn để có dữ liệu như chứng khoán hóa, sự tài trợ ngắn hạn từ thị
Trang 11trường tài chính, các biến đo lường khả năng quản lý và kiểm soát của yếu tố ảnh hưởng của mỗi quốc gia (do chỉ đo riêng cho Việt Nam nên bỏ các biến về quốc gia) Các biến độc lập đại diện cho mô hình kinh doanh của ngân hàng trước khủng hoảng được chia làm bốn nhóm chính: Cấu trúc vốn (vốn điều lệ trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn điều lệ dưới mức chuẩn); cấu trúc tài sản (quy mô, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản ); cấu trúc nguồn tài trợ (tỷ lệ tiền gửi của khách hàng trên tổng tài sản); cấu trúc thu nhập (mức độ tăng trưởng tín dụng, mức độ đa dạng hóa nguồn thu nhập )
5.4 Kết quả
Sử dụng một mẫu gồm 21 NHTM ở Việt Nam làm đại diện, kết quả hồi quy cho thấy một kết luận rằng, những ngân hàng mà có quy mô lớn hơn, tỉ lệ cho vay trên tài sản cao hơn và thực hiện một sự đa dạng hóa trong nguồn thu nhập của mình cao hơn sẽ tác động gây ra một mức rủi ro cao hơn trong giai đoạn sau đó, song song với đó, nếu như một ngân hàng có một cơ sở nguồn tài trợ từ tiền gửi khách hàng vững mạnh, mặc
dù có một điểm yếu là nó quá cứng nhắc, gây khó khăn khi ngân hàng phát sinh nhu cầu tài chính, nhưng nó sẽ là một cơ sở chắc chắn, giúp cho ngân hàng có thể giảm thiểu được rủi ro trong giai đoạn sau đó Biến tăng trưởng tín dụng không có ý nghĩa trong mô hình có thể do những hạn chế về dữ liệu mẫu Trong bài chúng tôi cũng đi giải thích cho kết quả về mức độ ảnh hưởng của từng biến đến rủi ro ngân hàng
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Phát hiện của bài nghiên cứu đã đóng góp vào cuộc tranh luận hiện nay về quy chế đảm bảo an toàn sau cuộc khủng hoảng 2007-2009 Một quá trình bãi bỏ các quy định tài chính, đổi mới nhanh chóng cùng với việc sử dụng rộng rãi các công cụ tài chính đã làm thay đổi mô hình kinh doanh cũng như thúc đẩy ngân hàng đến những rủi ro mới Bài viết này cũng cho rằng các nhà quản lý cần gia tăng sự tham gia và hiểu biết của họ
về mô hình kinh doanh ngân hàng, cung cấp một cái nhìn tổng thể và đa dạng hơn, hoàn thiện hơn về tác động của mô hình kinh doanh đến rủi ro ngân hàng Phát hiện
Trang 12của chúng tôi cung cấp các lý do vững chắc cho việc giám sát chặt chẽ vấn đề cấu trúc vốn, tài sản, nguồn tài trợ và thu nhập của ngân hàng
7 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Do những hạn chế về dữ liệu chúng tôi không thể đo lường được đầy đủ các yếu tố trong mô hình kinh doanh của ngân hàng Hy vọng những bài nghiên cứu tiếp theo có thể có hướng nghiên cứu để tìm hiểu xem các yếu tố như sự tài trợ ngắn hạn từ thị trường tài chính, khả năng quản lý có ảnh hưởng thế nào đến rủi ro ngân hàng Cũng có thể đa dạng cách đo lường rủi ro bằng các biến đại diện như sự tài trợ của chính phủ, ngân hàng trung ương cũng như rủi ro từ tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng trên thị trường chứng khoán Khi đó, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn để xây dựng mô hình kinh doanh phù hợp với ngân hàng thương mại nước ta, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro phải đối mặt trong thời kì khó khăn của thị trường tài chính
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, trong một nền kinh tế hệ thống tài chính thực hiện một chức năng vô cùng quan trọng là chu chuyển vốn trong nền kinh tế làm cho nền kinh tế được vận hành hiệu quả Cốt lõi trong hệ thống ấy chính là các ngân hàng Do đó nếu chức năng này không được thực hiện tốt , hoạt động một cách khó khăn thì có thể kéo theo hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế gặp bất ổn, nguy cơ rủi ro toàn hệ thống Vì thế duy trì một hệ thống tài chính ổn định luôn là vấn đề cần quan tâm ở nhiều nước Đánh giá được tầm quan trọng ấy , các ngân hàng để tồn tại họ phải là những tổ chức đo lường
và đánh giá rủi ro tốt hơn các tổ chức khác Đặc biệt trong một thế giới trở nên phằng hơn, hội nhập tài chính ngày càng sâu rộng hơn làm cho ngân hàng phải thay đổi cơ cấu mạnh mẽ, đổi mới tài chính Chính sự thay đổi này lại cho thấy ngân hàng ngày càng phức tạp hơn lớn hơn đáng kể mang tính toàn cầu và phụ thuộc vào thị trường tài chính nhiều hơn Và vì thế họ cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn trong một thế giới ngày càng liên kết như thế này
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007- 2008 đã để lại nhiều hậu quả tiêu cực không chỉ cho hệ thống tài chính-ngân hàng mà cho cả nền kinh tế của nhiều nước Mà nguyên nhân xuất phát từ đâu thì ai cũng hiểu rõ Một hệ thống ngân hàng đã không đánh giá đúng mức rủi ro, không được xem xét mô hình kinh doanh một cách toàn diện kèm theo đó là sự thiếu kiểm soát khi ban hành các quy định của chính phủ Chính cuộc khủng hoảng đã cho thấy cụ thể nhất những rủi ro của ngân hàng kể từ khi nền kinh tế suy thoái mạnh Đã có rất nhiều bài nghiên cứu đi sâu phân tích với mục đích
có thể tìm ra được những nguyên nhân, những yếu tố tác động gây ra hậu quả ngoài sức tưởng tượng cho nền kinh tế như vậy Trong bài nghiên cứu này chúng tôi phân tích một vài yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, những yếu tố thuộc
về cơ sở, cấu trúc trong mô hình kinh doanh của các ngân hàng tác động, ảnh hưởng và
có liên hệ như thế nào đến việc tạo ra rủi ro cho ngân hàng đó, khi mà xảy ra những cú
Trang 14sốc trong nền kinh tế, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 vừa qua – một cuộc khủng hoảng đã được so sánh với cuộc đại suy thoái 1929-1933
Chúng tôi đã sử dụng lại mô hình mà ba nhà nghiên cứu Yener Altunbas, Simone Manganelli và David Marques-Ibnez trong bài nghiên cứu về “Bank risk during the financial crisis – Do business models matter ?” được đăng tải vào tháng 11 năm 2011 Trong mô hình này chúng tôi sử dụng mẫu gồm 21 ngân hàng thương mại lớn ở Việt Nam, với vốn điều lệ trên 3000 tỷ đồng tính đến 2010 ở Việt Nam, đại diện cho khoảng
40 ngân hàng ở Việt Nam Công cụ để đo mức độ rủi ro cho ngân hàng được đại diện bằng tỷ lệ dự phòng trên nợ xấu của các ngân hàng (căn cứ dựa trên những thước đo đánh giá rủi ro từ Basel III) sau mốc khủng hoảng xảy ra vào năm 2007 Chúng tôi đã
đi tìm mối liên hệ của biến đo rủi ro này ở giai đoạn sau năm 2007 với một chuỗi các biến trong các cấu trúc, mô hình kinh doanh của ngân hàng như cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, cấu trúc tài trợ và cấu trúc thu nhập của từng ngân hàng để tìm sợi dây liên hệ
đó
Bài nghiên cứu này có hai mục tiêu chính:
Thứ nhất, phân tích sự tác động của các mô hình kinh doanh doanh khác nhau đến rủi ro của ngân hang trong thời kì suy thoái
Thứ hai , xem xét và đánh giá mô hình kinh doanh này áp dụng tại Việt Nam Theo ba nhà nghiên cứu Yener Altunbas, Simone Manganelli và David Marques-Ibnez,
họ đo lường các rủi ro trong cuộc khủng hoảng theo 3 cách: Khả năng của một ngân hàng giải cứu, rủi ro hệ thống và mức nhờ cậy đến tính thanh khoản của ngân hàng trung ương Phương pháp tiếp cận đa dạng đã tác động mạnh mẽ đến kết quả của chúng tôi, bởi vì nó bao gồm tất cả các mức độ rủi ro khác nhau như đã mở rộng trong suốt cuộc khủng hoảng Tuy nhiên để áp dụng cho Việt nam chúng tôi đã tiếp cận theo hướng mới đánh giá rủi ro dưa trên tỷ lệ dự phòng/nợ xấu ( theo Basel III) Sau đó, chúng tôi xem xét các biến này liên quan như thế nào đến từng ngân hàng riêng lẻ
Trang 15trong thời gian trước khủng hoảng bằng một cơ sở dữ liệu được thu thập kĩ cho mục đích nghiên cứu này Chúng tôi chia những thông tin của mỗi ngân hàng thành bốn loại: vốn, tài sản , tài trợ và cơ cấu thu nhập Những thông tin này tóm tắt ngắn gọn và hiệu quả mô hình kinh doanh cơ bản của ngân hàng Do đó, chúng tôi sử dụng cuộc khủng hoảng như một phòng thí nghiệm Ở đó, những rủi ro mà không được thể hiện trên các chỉ số rủi ro của ngân hàng trước cuộc khủng hoảng được chỉ ra và dẫn đến sự phân tán của việc biểu hiện các rủi ro trước đó thay đổi trong mô hình kinh doanh ngân hàng Bài nghiên cứu cũng chỉ ra trong rủi ro ngân hàng nhạy cảm hơn với sự gia tăng
nợ vay, tiền gửi khách hàng và thị trường tài trợ, ứng với từng mức độ suy thoái Chính xác hơn, có một cơ sở lượng tiền gửi mạnh sẽ làm giảm sự suy kiệt của các ngân hàng
bị rủi ro lớn tương đối hiệu quả hơn so với các ngân hàng ít rủi ro Cuối cùng, một tỉ lệ cấp vốn thị trường cao hơn trong nguồn cung làm gia tăng sự cùng kiệt của các ngân hàng rủi ro cao trong khi nó không ảnh hưởng đến những tổ chức ít rủi ro
Phát hiện của bài nghiên cứu đã đóng góp vào cuộc tranh luận hiện này về quy chế đảm bảo an toàn Từ một tầm nhìn dài hạn đến cuộc khủng hoảng 2007-2008, là một quá trình bãi bỏ các quy định tài chính và đổi mới nhanh chóng với việc sử dụng rộng rãi các công cụ tài chính mới Những yếu tố này đã làm thay đổi mô hình kinh doanh cũng như thúc đẩy ngân hàng đến những rủi ro mới Thông qua Basel I, phần lớn tập trung hướng đến việc áp dụng chung mức vốn yêu cầu tối thiểu, liên quan đến bộc lộ rủi ro ngân hàng Tuy nhiên, theo những tiêu chuẩn của Basel II thì không yêu cầu một tiêu chuẩn chung tối thiểu của chi phí vốn, thay vào đó cho các tổ chức lớn và phức tạp
sử dụng mô hình đánh giá rủi ro nội bộ của riêng họ Kết quả được trình bày ở đây cho thấy sự phụ thuộc vào quy tắc, sự phụ thuộc mạnh mẽ hơn vào quy tắc thị trường cũng như các quy tắc tự đặt ra được nêu ra trong Basel II , góp phần vào sự gia tăng rủi ro của nhiều tổ chức trước khủng hoảng
Bài viết này cũng cho thấy các nhà quản lý cần gia tăng sự tham gia và hiểu biết của họ
về mô hình kinh doanh ngân hàng, các vấn đề không được kết hợp chặt chẽ rõ ràng
Trang 16trong Basel III Đặc biệt, các nhà quản lý cần xem xét các rủi ro dễ có trong thời gian thực, và tập trung vào các tác động tiềm năng của mô hình kinh doanh khác nhau trên rủi ro Phát hiện của chúng tôi cung cấp các lý do vững chắc cho việc giám sát chặt chẽ hơn sự gia tăng nhanh chóng trong định giá thị trường cổ phiếu của các ngân hàng, để xác định xem nó được lái theo sự cải thiện khả năng quản lý hay sự gia tăng việc tìm ra các rủi ro tiềm ẩn
1 SỰ THAY ĐỔI TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔ HÌNH KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Sự bãi bỏ dần các quy định và quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ của thị trường tài chính trong hai thập niên vừa qua đã tạo nên những thay đổi đến chóng mặt và hết sức phức tạp của ngành công nghiệp ngân hàng trên toàn thế giới (Ewa Miklaszewska và katarzyna Mikolajczyk)
Sự đổi mới đầu tiên đến từ sự bãi bỏ hệ thống tài chính ở phạm vi toàn cầu 25 năm qua, đã có một sự tự do hóa trong lĩnh vực ngành ngân hàng ở hầu hết các quốc gia phát triển-sự phát triển đó gắn liền với sự chấp nhận rủi ro Dưới tác động của làn sóng toàn cầu hóa của thị trường tài chính, việc bãi bỏ này nhằm mục đích dành được những lợi ích do sự cạnh tranh đang ngày càng tăng lên đáng kể Kết quả là đã có một sự nới lỏng chưa từng có trong các quy định ở các ngân hàng, sự nới lỏng này đã tạo ra sự phát triển mạnh trong cạnh tranh và hạ thấp giá trị của những khoản cho vay (Hellman, 2000) Ở Việt Nam, tiến trình tự do hóa tài chính kể từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986, tại thời điểm này đã có một sự nới lỏng rất đáng kể trong hệ thống tiền gửi va cho vay, các tổ chức kinh tế được huy động vốn hoàn toàn tự do mà không có bất kỳ một quy định nào về đảm bảo an toàn Hậu quả tất yếu là cả hệ thống sụp đổ do nó hoạt động theo kiểu tiền của người gửi sau được sử dụng để trả lãi cho người gửi tiền trước (mô hình tháp Ponzi) Đó là mốc đánh dấu về sự sụp đổ của hệ thống hợp tác xã tín dụng ở Việt Nam trong những năm đầu sau cải cách Bắt đầu từ
Trang 17đây, một số quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng đầu tiên được thể hiện trong các pháp lệnh về ngân hàng năm 1990 Một số quy định cơ bản đã
có nhưng còn khá thô sơ như “tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần
số vốn tự có và quỹ dự trữ” thay vì theo như quy định của hiệp ước Basel I được ban hành năm 1988 là quy định về số vốn tối thiểu phải đạt được Tuy nhiên những quy định không rõ ràng này đã thể hiện những mặt tiêu cực của nó ngay sau đó, nhất là sau cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997-1998
Bối cảnh đã thay đổi kể từ năm 2007, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam đã gặp phải hai vấn đề lớn gồm: (1) rủi ro về mặt thanh khoản và (2) rủi ro từ các hoạt động liên quan đến chứng khoán và bất động sản
Rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng gia tăng do cung tiền được mở rộng với tốc
độ cao cộng với sự nở rộng quá nhanh của một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ mà phần đông là mới thành lập hay được nân cấp lên từ các ngân hàng nông thôn Điều này đã tạo ra sự mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các ngân hàng
Những ngân hàng lớn có lợi thế về mặt huy động vốn do mạng lưới và quan hệ có sẵn, khi cung tiền được mở rộng họ đã huy động được rất nhiều tiền, nhưng khả năng cho vay chỉ ở một mức nào đó nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn Ngược lại các ngân hàng mới nâng cấp hay mới thành lập cần phải mở rộng hoạt động nên cần vốn Cung - cầu gặp nhau và hoạt động vay mượn trên thị trường liên ngân hàng là khá dễ dàng với lãi suất rất phải chăng
Kết quả là một số ngân hàng đã đi vay các tổ chức tín dụng khác (vay liên ngân hàng)
để cho vay lại khách hàng, trong khi về nguyên tắc vay liên ngân hàng với lãi suất rất thấp thường chỉ để bù đắp những thiếu hụt tạm thời về mặt thanh khoản hay yêu cầu dự trữ của ngân hàng nhà nước và nguồn vốn sử dụng để cấp tín dụng nên là vốn huy động trực tiếp
Trang 18Thêm vào đó, việc các ngân hàng thương mại tham gia quá tích cực vào các hoạt động kinh doanh chứng khoán và bất động sản như cho vay để kinh doanh cổ phiếu hay mua bán bất động sản cũng như một số nghiệp vụ khác của ngân hàng đầu đã tạo ra những tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho hệ thống tài chính
Sự thay đổi cấu trúc quan trọng tiếp theo là đổi mới tài chính Sự gia tăng mạnh việc sử dụng nguồn vốn trực tiếp có sẵn thông qua thị trường tài chính và hoạt động chứng khoán đã đóng góp một phần vào sự lan rộng của xu hướng đổi mới tăng cường kinh doanh rủi ro tín dụng giữa ngân hàng và thị trường tài chính Một ý nghĩa quan trọng của điều này là các ngân hàng trở nên tương thích với thị trường tài chính và gia tăng thị phần thu nhập ngoài lãi (non-interest) của họ như một tỷ lệ trong tổng doanh thu từ giao dịch của chính họ, hoạt động môi giới và đầu tư (Boot and Thakor, 2010)
Bãi bỏ các quy tắc và đổi mới tài chính đã dẫn đến một sự thay đổi sâu sắc trong mô hình kinh doanh ngân hàng, trong khi thúc đẩy họ chấp nhận rủi ro Sự thay đổi này ảnh hưởng đến một vài đại lượng như: quy mô, sự trông cậy vào doanh thu thu nhập ngoài lãi, quản lý doanh nghiệp, thực hiện tài trợ, tất cả các nhân tố này đều bị ảnh hưởng bởi kinh tế vĩ mô và môi trường cạnh tranh
Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, yếu tố có tác động lớn nhất đến các NHTM Việt Nam là sự thay đổi cấu trúc thị trường với sự xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là với việc ra đời của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, càng làm gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các NHTM về công nghệ và sản phẩm dịch
vụ
Về sản phẩm dịch vụ, cho đến nay, các NHTM trong nước tuy đã thực hiện được khoảng 300 nghiệp vụ kinh doanh khác nhau, nhưng hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính và chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập, thu từ những dịch vụ khác chỉ đạt trên 10%, nhiều mảng dịch vụ quan trọng còn bỏ trống và chưa được quan tâm khai thác Do khả năng hạn chế trong việc thu thập, khai thác và xử lý thông tin về thị
Trang 19trường và khách hàng, các NHTM Việt Nam thường cho vay với mức tín dụng hạn chế
và thiên về cho vay từng lần, từng dự án, dựa trên đơn đề nghị vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh, tài sản thế chấp, cầm cố, thủ tục giải ngân rất chặt chẽ với các loại giấy tờ nhiều đến mức không cần thiết, gây lãng phí và làm phiền lòng khách hàng, nhưng đáng buồn là tỉ lệ nợ xấu vẫn rất cao
Trong khi đó, sản phẩm và dịch vụ do các ngân hàng nước ngoài cung cấp rất đa dạng, các ngân hàng nước ngoài thường cho vay dựa trên các loại giấy tờ có giá, thương hiệu,
uy tín công ty, hoặc có sự bảo lãnh của công ty mẹ, khách hàng của các ngân hàng nước ngoài có độ an toàn cao hơn Các ngân hàng nước ngoài rất linh hoạt trong việc cung cấp sản phẩm và tiện ích ngân hàng như cho vay hạn mức, cho vay thấu chi, cho thuê tài chính, chiết khấu thương phiếu, tài trợ thương mại, hoạt động cho vay và thu
nợ được tiến hành dựa trên kết quả đánh giá tổng thể tình hình hoạt động của doanh nghiệp Các ngân hàng nước ngoài thường cho vay các dự án lớn với khoản tín dụng khá lớn, kế hoạch giải ngân được xem xét trước khi ký hợp đồng tín dụng Vì thế, hoạt động của ngân hàng nước ngoài có mức độ an toàn cao hơn, nên chi phí thấp hơn, góp phần đảm bảo thu nhập cho người lao động và thu hút lao động có trình độ từ các ngân hàng trong nước
Có thể nói, cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài để cùng tồn tại, hợp tác và phát triển hơn là triệt tiêu lẫn nhau như quan niệm của nhiều người Vấn đề quan trọng của các NHTM Việt Nam là phòng ngừa rủi ro trước sự tấn công của đầu cơ và các hoạt động tội phạm Với tỉ trọng khoảng 60% của thương mại quốc tế trong GDP toàn cầu, hoạt động đầu cơ hoàn toàn có cơ sở và đã được cảnh báo trong các báo cáo thống kê của các tổ chức tài chính quốc tế, cụ thể là đầu tư gián tiếp nước ngoài vào cổ phiếu và những hoạt động đầu cơ khác tại thị trường Việt Nam thời gian qua, ngay cả thị trường vàng và dầu lửa cũng đang phải hứng chịu sự chi phối của hoạt động đầu cơ quốc tế Tóm lại, việc bãi bỏ hay chưa ban hành đủ các quy định về quản lí và giám sát, đi đôi với sự phát triển của hệ thống tài chính toàn cầu đã làm gia tăng sự cạnh ttranh trên thị
Trang 20trường ngân hàng ở Việt Nam Nhưng thay đổi đó đã làm cho các NHTM ngày càng có khuynh hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn, những thay đổi đó tác động đến các NHTM
ở rất nhiều mặt, như là: về cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn tài trợ, cấu trúc thu nhập và một số yếu tố vĩ mô khác
Đi cùng với những chuyển biến đó là sự xuất hiện của các tiêu chuẩn về an toàn cho ngành ngân hàng của Basel Basel I ra đời vào năm 1988 và có hiệu lực từ 1992, với mục đích củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế; thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm làm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế Hiệp ước Basel I chỉ chú trọng vào tỉ lệ các nguồn vốn an toàn yêu cầu phải đạt được Đến Basel II, hiệp ước này ra đời nhằm nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lí rủi ro ở Basel II có một điểm mới với Basel I là nó bắt đầu chuyển dần từ cơ chế điều tiết dựa trên tỉ lệ, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình
Hầu hết các nhà quản lý ở Châu Á đều ủng hộ các mục tiêu chung của Basel II và tin tưởng rằng khuôn khổ này sẽ đưa ra những khích lệ hơn nữa để cải thiện công tác quản
lý rủi ro, cũng như các thay đổi khác nhằm bổ sung cho các mục tiêu giám sát của họ Việc tiếp cận Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí khá cao Đối với một nước
có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, trước
xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, việc áp dụng Basel II tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại (NHTM)
Trang 21Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, NHNN Việt Nam và các TCTD Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro của các NHTM tiến dần từng bước đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo đó, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel II được đặc biệt chú trọng, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian qua
Về phía cơ quan quản lý, mới đây, NHNN Việt Nam đã ban hành quy định mới về các
tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Thông tư số NHNN ngày 20/5/2010) và đang khẩn trương hoàn thiện để ban hành quy định mới về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Đây là bước tiến quan trọng trong việc từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel II tại Việt Nam
13/2010/TT-Về phía các tổ chức tín dụng Việt Nam, Basel II đã có ảnh hưởng lớn trong việc nâng cao năng lực quản trị điều hành, nhất là năng lực quản lý rủi ro Bên cạnh việc tuân thủ các quy định bắt buộc của NHNN, các TCTD cũng đang rất nỗ lực để hoàn thiện hơn nữa hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng mình cho phù hợp với điều kiện hoạt động
cụ thể của mỗi ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của Basel II
Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại
đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II Một số thiếu sót cơ bản của Basel II
là thiếu yêu cầu về phí vốn thanh khoản, quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng và bản chất có tính chu kỳ của nó
Sự bãi bỏ các quy định và toàn cầu hóa ở thị trường tài chính trong những thập niên hội nhập vừa qua ở Việt Nam đã tác động đến quy mô và độ phức tạp của các ngân hàng Trong giai đoạn trước khủng hoảng, đã xuất hiện việc tập trung vào hiệu quả ngân hàng, tăng nhanh độ mở rộng sang các thị trường mới và những nguồn lợi nhuận khác,
Trang 22và sự chấp nhận của những mô hình mới Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2007-2008 đã đem đến những góc nhìn nhận khác mà ngân hàng cần quan tâm chú ý trong vấn đề xây dựng cấu trúc kinh doanh của ngân hàng trong một xu thế đang biến đổi như hiện nay
2 RỦI RO NGÂN HÀNG VÀ MÔ HÌNH KINH DOANH: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Đã có rất nhiều bài nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ của giữa mô hình kinh doanh của ngân hàng và rủi ro ngân hàng Ross Levine (2008) chỉ ra được mối quan hệ giữa rủi ro ngân hàng và những quy định về vốn như , chính sách bảo hiểm tiền gửi và sự hạn chế hoạt động của ngân hàng phụ thuộc vào cấu trúc vốn chủ sở hữu của một ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra cùng quy định sẽ tác động khác nhau lên rủi
ro ngân hàng tùy thuộc vào cấu trúc quản trị của ngân hàng
Trước giai đoạn khủng hoảng các bài nghiên cứu đã tập trung đi sâu phân tích một số yếu tố tác động đến rủi ro của ngân hàng, cụ thể: Về vốn như là nghiên cứu của tác giả Elizabeth và Nickolaos (1990) đã phân tích mối quan hệ giữa rủi ro ngân hàng với cấu trúc vốn chủ sở hữu và cho rằng ngân hàng được kiểm soát bởi các cổ đông sẽ khuyến khích tạo ra rủi ro cao hơn những ngân hàng kiểm soát tốt vấn đề quản trị, điều này càng rõ rệt hơn trong thời kỳ bãi bỏ quy định, ngoài ra về vốn thì cũng có một số bài
nghiên cứu của Wheelock và Wilson (2000) Về cấu trúc tài sản thông qua hoạt động
cho vay thì có nghiên cứu của Leonardo Gambacorta và David Marques-Ibanez (2008) cho thấy bằng chứng từ kênh cho vay của ngân hàng qua rủi ro ngân hàng cho khu vực Châu Âu Bên cạnh đó họ cũng chỉ ra rằng cần quan tâm đến rủi ro ngân hàng được nhận thấy thông qua thị trường tài chính bên cạnh một số yếu tố khác như quy mô, tính thanh khoản, vốn hóa Một nghiên cứu khác của Victoria Ivashina Và David scharfstein 2008 cũng đã cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa sự gia tăng cho vay đối với số lượng lớn các người vay trong thời kỳ cao điểm của khủng hoảng với thời kỳ cao điểm của việc bùng nổ tín dụng và trong đó vay mượn để chi tiêu vốn và hoạt
Trang 23động, chiếm tỷ lệ không cao so với cho các hoạt động tái cấu trúc Điều này cũng chỉ ra chất lượng các khoản tín dụng làm gia tăng rủi ro trong thời kỳ khủng hoảng Demirguc-Kunt and Huizinga (2010) đã nghiên cứu về khía cạnh nguồn tài trợ và hai ông này nhận định có sự liên quan của hoạt động ngân hàng và tài trợ ngắn hạn đối với rủi ro ngân hàng và tỷ suất sinh lợi Bài nghiên cứu cũng tổng kết một vấn đề vô cùng quan trọng đó là cấu trúc tài trợ liên quan tới thu nhập ngoài lãi và nguồn tài trợ không phải là tiền gửi thì rất rủi ro Dennis Haenel và Jan Pieter (2010) cho rằng chứng khoán hóa các khoản tín dụng có liên quan tới sự gia tăng rủi ro của ngân hàng phát hành và một số nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ với thị trường tài chính như Boot và Thakor (2010); Keys (2008); Mian và Sufi (2009) Ngoài ra thì còn có một số vấn đề khác đã được nhắc đến trong các bài nghiên cứu khác như: hiệu quả trong hoạt động (Kwan và Eisenbeis, 1997), vấn đề quản trị (Laeven và Levine, 2009) đa dạng hóa (Stiroh, 2010), bên cạnh đó còn có sự ảnh hưởng của vấn đề chi phí đại diện của số lượng các cổ phần
mà các cổ đông nắm giữ cũng ảnh hưởng đến rủi ro ngân hàng (Masaru Konishi, Yukihiro Yasuda, 2002) Bên cạnh đó một số bài nghiên cứu đã tìm được một số liên
hệ giữa chính sách kinh tế vĩ mô tác động lên rủi ro của ngân hàng như: lãi suất ngắn hạn (Yener Altunbas, Leonardo Gambacorta và David Marques-Ibanez, 2010) bài này
đã chỉ ra rằng, lãi suất ngắn hạn trong một thời gian trước khủng hoảng cũng có tác động làm tăng rủi ro của ngân hàng, kết quả tương tự rằng một hệ thống giám sát và lãi suất quá thấp và quá lâu cũng làm gia tăng rủi ro cho ngân hàng (Angela Maddaloni và Jose-Luis Peydro, 2010)
Gần đây đã có một số bài nghiên cứu đi sâu phân tích tác động của vấn đề đa dạng hóa đến rủi ro ngân hàng, Martin Goetz (2012) đã chỉ ra mối liên hệ này khi ông tiến hành quan sát một mẫu lớn các ngân hàng ở Mỹ, rằng các ngân hàng sẽ ít chấp nhận rủi ro hơn nếu các đối thủ cạnh tranh có được sự đa dạng hóa hơn, nói cách khác là sự đa dạng hóa của ngân hàng cũng có tác động đến vấn đề chấp nhận rủi ro của các đối thủ cạnh tranh Về vốn thì Beltratti và Stulz (2011) cũng đã chỉ ra rằng những ngân hàng
Trang 24với vốn cấp một và tỉ lệ cho vay cao hơn sẽ cho thấy một sự vững vàng hơn khi lâm vào khủng hoảng
Bài nghiên cứu này chúng tôi tiếp tục phát triển thêm nghiên cứu cho mô hình ở Việt Nam, dựa trên bài nghiên cứu gốc của các nhà nghiên cứu Yener Altunbas, Simone Manganelli và David Marques-Ibanez Chúng tôi thực hiện kiểm nghiệm hồi quy để đo lường rủi ro của các ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng (2008-2010)
có liên hệ như thế nào đến vấn đề cấu trúc của các ngân hàng trong giai đoạn trước đó (2005-2007), chúng tôi đã cơ cấu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng theo bốn bộ cấu trúc, cấu trúc về vốn, cấu trúc về tài sản, cấu trúc về nguồn tài trợ và cuối cùng là cấu trúc về thu nhập Dữ liệu được quan sát ở hai giai đoạn khác nhau để tránh vấn đề nội sinh phát sinh trong từng giai đoạn
2.1 Cấu trúc về vốn
Theo lý thuyết, tùy thuộc trọng tâm cụ thể và mô hình chiến lược mà nhà quản trị hướng đến, các yêu cầu về cấu trúc vốn sẽ có những tác động khác nhau đến rủi ro của ngân hàng (Freixas and Rochet, 2008) Về nguyên tắc, dự trữ vốn nhiều hơn sẽ giảm được rủi ro khi gặp sự cố Việc ít sử dụng đòn bẩy (tăng vốn tự có) cũng làm giảm sự khuyến khích các cổ đông chấp nhận các dự án rủi ro quá mức do nó được tài trợ từ tiền của cổ đông Đặc biệt trong ngành ngân hàng-nơi rủi ro không được điều chỉnh đầy đủ, bảo hiểm tiền gửi tồn tại khuyến khích các cổ đông tối ưu hóa giá trị lựa chọn bằng cách tham gia vào các dự án rủi ro quá mức (Bhattacharya and Thakor, 1993) Các nghiên cứu gần đây về vốn ngân hàng cũng phân tích khả năng của việc chuyển dịch tài sản rủi ro cao liên quan đến rủi ro đạo đức Các nghiên cứu cho rằng có sử dụng nhiều vốn tự có hơn buộc các ngân hàng phải kiểm tra chuyên sâu hơn khách hàng đi vay và do đó rủi ro ngân hàng ít hơn (Coval and Thakor, 2005; Mehran and Thakor, 2011)
Trang 25Tuy nhiên, sử dụng nhiều vốn cũng có thể làm tăng rủi ro (sử dụng nợ làm giảm rủi ro
ở khía cạnh nào đó) Cụ thể hơn, tăng đòn bẩy làm giảm chi phí đại diện, giảm mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý, các chủ nợ tăng cường áp lực lên nhà quản lý buộc
họ phải làm việc có hiệu quả hơn, do đó giảm rủi ro từ các nhà quản lý (Jensen and Meckling, 1976; Calomiris and Kahn, 1991; Diamond and Rajan, 2001) Một mối quan
hệ tương quan thuận giữa vốn ngân hàng và rủi ro còn có thể xảy ra nếu nhà quản lý (hoặc thị trường) chấp nhận rủi ro cao hơn trong việc xây dựng nguồn vốn, hoặc đơn giản là nếu các ngân hàng có nhiều vốn đầu tư hơn thì khả năng có nhiều rủi ro hơn (Berger and Bouwman, 2010) Nhìn chung các tài liệu thực nghiệm có xu hướng hỗ trợ quan điểm cho rằng vốn ngân hàng tăng nhiều hơn thì sẽ đem lại chất lượng cao hơn cho cấu trúc ngân hàng trong thời kì khủng hoảng (Gambacorta and Mistrulli, 2004; Wheelock and Wilson, 2000; Demirguc-Kunt et al, 2010; Berger, and Bouwman, 2010)
Riêng ở Việt Nam, theo thống kê sơ bộ, năng lực tài chính của nhiều Ngân hàng thương mại hiện rất yếu Nếu so với vốn điều lệ bình quân của các Ngân hàng thương mại trong khu vực Đông Nam Á là khoảng 500 triệu USD, tương đương 10.450 tỉ đồng thì Việt Nam chỉ có 5 Ngân hàng có vốn điều lệ trên 10.000 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 11,9%
là quá thấp Đa số các ngân hàng chỉ cố gắng đạt được mức vốn tối thiểu pháp luật quy định Vốn tự có thấp cùng với nợ xấu gia tăng làm tăng dự phòng rủi ro tín dụng, gây
ra khả năng mất vốn của các ngân hàng Bên cạnh đó khi tăng vốn điều lệ, trong nội bộ
hệ thống Ngân hàng thương mại nước ta xuất hiện tình trạng sở hữu chéo, làm tăng tính rủi ro hệ thống của các Ngân hàng thương mại
2.2 Cấu trúc tài sản
Quy mô có thể là một yếu tố quyết định rủi ro ngân hàng (Huang et al, 2011; Drehmann and Tarashev, 2011; Tarashev et al., 2009) So sánh với những ngân hàng nhỏ hơn, những định chế lớn hơn có thể có những động cơ khác do vấn đề “too big to fail” hoặc những khả năng đa dạng hóa (Demigruc-Kunt và Huizinga, 2010)
Trang 26Một yếu tố quan trọng khác đó là chứng khoán hóa, cái làm cho những ngân hàng có thể trút gánh nặng những khoản nợ từ bên tài sản của bảng cân đối kế toán qua những nhà đầu tư trên thị trường tài chính Những năm trước khủng hoảng cũng là thời điểm trùng hợp với một sự phát triển nhanh chóng của nguồn tài trợ ngoại bảng bởi những ngân hàng được hỗ trợ bằng việc mở rộng khối lượng lớn của thị trường chứng khoán Điều này đã làm thay đổi những mô hình kinh doanh của ngân hàng một cách ấn tượng, làm thay đổi những động cơ chấp nhận những rủi ro mới (Shin, 2009; Marques-Ibanez and Scheicher, 2010) Chứng khoán hóa cho phép các ngân hàng chuyển đổi nhu cầu thanh khoản truyền thống thành chứng khoán thị trường Sự phát triển của chứng khoán hóa cuối cùng cho phép các ngân hàng trút bớt phần nào gánh nặng tín dụng, làm giảm những áp lực đầy tính quy định vào những yếu cầu vốn và làm gia tăng những khoản tài trợ mới đầy rủi ro hơn Theo nguyên tắc, ở các ngân hàng, việc chứng khoán hóa cho phép các ngân hàng quản trị và phân tán danh mục rủi ro tín dụng dễ dàng hơn, kể cả về phạm vi và lĩnh vực Cụ thể các ngân hàng đã linh hoạt hơn trong thị trường chứng khoán để hạ thấp rủi ro, gia tăng lợi nhuận và được vốn hóa tốt hơn (Cebenoyan and Strahan, 2004, and Wu et al, 2011) Tuy nhiên, những ngân hàng có thể đáp lại sự giảm ổn định trong rủi ro do chứng khoán hóa bởi sự chấp nhận những rủi ro mới, ví dụ, bằng việc nởi lỏng các tiêu chuẩn cho vay, gia tăng đòn bẩy (Mian and Suf, 2009; Keys et al, 2010; Nijskens and Wagners, 2011)
Về quy mô, Ryan Stever (2007) cho thấy rằng các ngân hàng nhỏ có nhiều rủi ro sẵn có trong danh mục cho vay của ngân hàng, bởi vì ngân hàng nhỏ không thể đa dạng hóa các rủi ro đặc trưng tốt như các ngân hàng lớn Các ngân hàng nhỏ không thể loại bỏ biến động thông qua vốn hóa cổ phần hay cho vay đến các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, các ngân hàng nhỏ thực hiện các khoản cho vay với rủi ro tín dụng thấp hơn các ngân hàng lớn
2.3 Cấu trúc tài trợ
Trang 27Sự phát triển trong hệ thống tài chính toàn cầu và những bãi bỏ trong các quy định mang tính giám sát trong ngành ngân hàng đã ảnh hưởng sâu sắc, làm thay đổi đến việc tài trợ vốn của các ngân hàng Ở khía cạnh này cũng đã có nhiều bài nghiên cứu đến,
cụ thể: Ben R.Craig và Valeriya Dinger (2009) đã chỉ ra mối quan hệ giữa việc huy động vốn bằng tiền gửi khách hàng, chi phí của nguồn tài trợ từ thị trường tài chính và rủi ro của ngân hàng, rằng các ngân hàng có nguồn vốn huy động bằng tiền gửi ít hơn thì có rủi ro cao hơn
Francisco Vazquez và Pablo Federico (2012) nghiên cứu về cấu trúc ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu 2008 cho thấy rằng các ngân hàng có cấu trúc thanh khoản yếu và sử dụng nợ nhiều trước khủng hoảng thì có nguy cơ phá sản cao trong thời kỳ sau đó Rocco Huang và Lev Ratnovski (2010) phân tích "mặt tối" của ngân hàng từ thị trường tài chính và giám sát các nguồn tài trợ không đầy đủ và không hiệu quả cho tính thanh khoản ngắn hạn Mô hình của tác giả cho thấy rằng các quỹ tài trợ
từ thị trường tài chính thực sự có thể có ích khi sử dụng trong các ngân hàng "truyền thống" mà chủ yếu là hoạt động cho vay Ngược lại, các quỹ này có thể tạo ra rủi ro đáng kể trong ngân hàng "hiện đại" nắm giữ chủ yếu là các tài sản dài hạn, nhưng có những thông tin về giá trị không chính xác Kim và các cộng sự (2003) cho rằng chi phí từ việc huy động nguồn tiền gửi tốn kém trong chi phí chuyển đổi và phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ khách hàng mà ngân hàng cung cấp phải tiện lợi để thu hút lượng tiền gửi
Rocco Huang và Lev Ratnovski (2008) nghiên cứu cho thấy nhiều ngân hàng thương mại ngày càng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính thay cho tiền gửi bán lẻ truyền thống Các nhà đầu tư trên thị trường tài chính mong đợi áp đặt kỷ luật thị trường Tuy nhiên, trong sự hiện diện của người gửi tiền tương đối thụ động và những bất cân xứng thông tin về ngân hàng, nguồn tài chính từ thị trường tài chính có thể vẫn có những mặt tiêu cực Tác giả cũng làm sáng tỏ cuộc khủng hoảng tín dụng gần đây, giải thích lý do tại sao tài trợ từ thị trường tài chính đa không đem lại một kỷ
Trang 28luậy thị trường, gây ra những lỗ hổng trên thị trường (Chari và jagannathan, 1988), Sự mong manh này phát sinh do các ngân hàng cung cấp thanh khoản bằng cách tài trợ với tiền gửi không kỳ hạn như là một phần tiền gửi cốt lõi (tiền gửi với những nguy cơ tạo
ra do ngân hàng để rút tiền bất ngờ có thể bị thúc đẩy bởi nhận thức tiêu cực của người gửi tiền về hoạt động của ngân hàng.)
Có hai nguồn tài trợ chính, gồm tài trợ ngắn hạn từ thị trường và huy động vốn từ tiền gửi khách hàng Trong những năm gần đây sự nới lỏng trong giám sát và sự đổi mới tài chính là nhân tố dẫn đến sự phụ thuộc của ngân hàng vào thị trường tài chính Có nghĩa là ngân hàng ngày càng huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng cách phát hành các giấy tờ có giá ngắn hạn
Nguồn tài trợ thứ hai đó là huy đông vốn từ tiền gửi khách hàng Nguồn này thì ổn đinh hơn trong thời gian khủng hoảng do được đảm bảo bởi chính phủ Việc rút vốn trong nhiều trường hợp có thể dự đoán được ở mức độ tổng thể và tùy vào nhu cầu thanh khoản của người gửi tiền Tuy nhiên, tiền gửi là một nguồn có chi phí chuyển đổi cao và phụ thuộc vào các dịch vụ giao dịch mà khách hàng nhận được từ ngân hàng Tiền gửi thường ít linh hoạt trong việc thích nghi với sự thay đổi của các nhu cầu tài chính, các cơ hội đầu tư
Theo các bài nghiên cứu trước đã chỉ ra những lợi ích rất lớn từ việc huy động vốn thông qua thị trường tài chính Ngân hàng có thể huy động một số lượng vốn rất lớn từ thị trường một cách nhanh chóng và tốn ít chi phí Bên cạnh đó, các nhà đầu tư trên thị trường tài chính có khuynh hướng thích có một kỷ luật thị trường Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng gần đây đã cho thấy mặt tối của tài trợ từ thị trường tài chính, chủ yếu là
do sự bất cân xứng thông tin trên thị trường và các thông tin gây nhiễu, gây xôn xao, các nhà tài chính trên thị trường tài chính đã nới lỏng giảm sát đã dẫn đến sự rút vốn đột ngột Thật vậy, cuộc khủng hoảng gần đây cho thấy các nguồn vốn trên thị trường phụ thuộc nhiều vào nhận thức của thị trường, nâng cao sự nghi ngờ về vai trò giám sát Các bằng chứng gần đây cho thấy, khi các nguồn vốn trên thị trường tài chính trở
Trang 29nên khan hiếm, tốn kém thì giá thị trường có xu hướng gia tăng đối các định chế tài trợ nhiều hơn thông qua tiền gửi của khách hàng
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với xu thế hội nhập toàn cầu, các ngân hàng thương maị Việt nam đang ngày càng đa dạng hóa trong hoạt động kinh doanh để gia tăng mức lợi nhuận tối đa Các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng, bên cạnh các hình thức huy động truyền thống bằng hình thức nhận tiền gửi từ khách hàng, với sự phát triển của thị trường tài chính, hình thức huy động vốn qua việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt là giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tài chính đang được nhiều ngân hàng thúc đẩy sử dụng do những lợi ích của nó mang lại Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua đã cho thấy những mặt tiêu cực trên thị trường tài chính, gây
ra những hệ lụy khó lường
2.4 Cấu trúc thu nhập
Cùng với xu hướng bãi bỏ dần các hạn chế rào cản về chuẩn tín dụng, và sự đổi mới đáng kể trong cấu trúc tài chính toàn cầu là sự mở rộng, nới lỏng về tín dụng, sự tăng lên của các tổ chức tín dụng, điều này đem lại một tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chóng mặt trong giai đoạn trước khủng hoảng
Trong quá khứ, hầu hết các cuộc khủng hoảng được tạo ra từ vấn đề tăng trưởng tín dụng quá mức trong những giai đoạn trước đó (Reinhart và Rogoff, 2009) Sự thay đổi trong vĩ mô và cấu trúc tài chính cũng góp phần làm tăng sự cạnh tranh từ đó làm thay đổi mức cho vay tín dụng, ở khía cạnh vi mô, cũng có một số ảnh hưởng nhất định, các ngân hàng luôn tìm cách tăng thu nhập của mình bằng cách tăng mức cho vay, mở rộng thị trường sang các lĩnh vực khác, nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng (Dell’ Ariccia và Marquez, 2006; Ruckes, 2004) Tốc dộ tăng trưởng cũng có thể là một nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân hàng (Laeven và Majnoni, 2003; Foos, 2010; Keeton, 1999) Toàn cầu hóa góp phần tạo ra một xu hướng tăng nhanh về sự cạnh tranh, các ngân hàng đã liên tục nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng của mình, mở rộng sang nhiều lĩnh
Trang 30vực kinh doanh khác ngoài lãi như môi giới, kinh doanh chứng khoán, các dịch vụ hưởng hoa hồng … để góp phần nâng cao nguồn thu nhập (Stiroh, 2010) Đây chính là vấn đề cốt lõi trong cấu trúc nguồn thu nhập, liệu rằng việc đa dạng hóa nguồn thu nhập, mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác làm tăng doanh thu cho ngân hàng nhưng đằng sau nó có phải là một sự tốt đẹp, có thể làm giảm sự rủi ro cho ngân hàng hay không,
có giúp ngân hàng tạo được một doanh thu ổn định khi lâm vào khủng hoảng hay không Tuy nhiên, qua cuộc khủng hoảng 2008 người ta nhận thấy một điều rằng, khi lâm vào khủng hoảng, doanh thu của các ngân hàng xuất phát từ lãi và các khoản tương đương lãi có một sự sụt giảm, tuy nhiên, sự sụt giảm này đáng kể hơn rất nhiều ở các lĩnh vực ngoài lãi
Trước đây, đã có một lối nghĩ thông thường rằng việc đa dạng hóa thu nhập bằng cách
mở rộng sang các lĩnh vực khác sẽ có thể làm giảm thiểu rủi ro ngân hàng và cải thiện nguồn thu, nhưng qua các các cuộc khủng hoảng gần đây đã chỉ ra rằng một sự quá mức trong đa dạng hóa có thể đem đến một mức rủi ro cao hơn và ảnh hưởng xấu đến nguồn thu Các bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu thì đi theo nhiều hướng, cụ thể có một sự pha trộn không rõ ràng từ việc đa dạng hóa nguồn thu nhập tác động lên rủi ro của ngân hàng (Stiroh, 2010) Nhưng đa số đều theo hướng việc mở rộng, đa dạng hóa như vậy không có làm giảm đi độ biến động rủi ro cho ngân hàng trong khủng hoảng, nói cách khác là đa dạng hóa không góp phần làm giảm rủi ro cho ngân hàng (DeYoung và Roland, 2001; Stiroh, 2004); cũng có một hướng kết quả khác là việc đa dạng hóa quá mức trong cấu trúc nguồn thu nhập sẽ tạo ra một mức rủi ro cao hơn khi lâm vào khủng hoảng (Sungho Choi và Jarrett Kotrozom, 2006)
2.5 Các biến kiểm soát khác
Ngoài các bộ biến về cấu trúc tài chính như trên chúng tôi cũng xét và cũng giới thiệu một vài yếu tố khác thuộc về khía cạnh quản trị và vĩ mô khác có thể ảnh hưởng đến rủi ro mà ngân hàng chịu trong cuộc khủng hoảng các biến này có thể là sự gia tăng và phát triển trong thị trường nhà ở và bất động sản, cạnh tranh, và quản lí doanh nghiệp
Trang 31Vai trò của các biến vĩ mô trong mối liên hệ đến rủi ro của ngân hàng có thể được thể hiện thông qua kì vọng về tài sản của những người cho vay và những người vay, ví dụ như việc giá nhà ở, bất động sản gia tăng sẽ làm gia tăng giá trị của tài sản thế chấp, và
từ đó sẽ có một động lực khiến cho ngân hàng mở rộng khả năng cho vay, làm gia tăng mức cho vay, đem đến một mức rủi ro cao hơn (Matsuyama, 2007)
Ở khía cạnh sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, khi toàn cầu hóa trở nên sâu rộng hơn, điều đó cũng đem lại một sự cạnh tranh gia tăng khốc liệt hơn cho các ngành ngân hàng, điều này cũng dẫn đến một sự chấp nhận rủi ro cao hơn để gia tăng khả năng cạnh tranh với nhau (Jimenez và Lopez, 2007)
Về vấn đề quản trị doanh nghiệp, điều này có liên quan đến vấn đề chi phí đại diện giữa người quản lí và các cổ đông-những người chủ của ngân hàng, sự bất đồng trong mục đích chung cũng có tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của các các ngân hàng Về nguyên tắc, những ngân hàng mà có quy mô số lượng cổ đông nắm giữ quyền
sở hữu ngân hàng nhiều thì sẽ càng có xu hướng chấp nhận rủi ro (Laeven và Levine, 2009) Những ngân hàng với một mức độ quyền sở hữu cao hơn trong ngân hàng thì sẽ
có xu hướng chấp nhận rủi ro ít hơn trước khủng hoảng (Erkens, 2009)
Trang 32hoảng có liên quan một cách hệ thống đến rủi ro trong suốt thời gian khủng hoảng tài chính
Nguồn dữ liệu của tác giả có hơn 1.100 ngân hàng niêm yết từ 16 quốc gia với mô hình sau:
3.1.1 Biến đại diện rủi ro (biến phụ thuộc)
Mục đích của bài phân tích là xác định các yếu tố chính nằm sau sự tích tụ rủi ro ngân hàng và tác động tiếp theo của nó trong cuộc khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, trong khủng hoảng, rủi ro của ngân hàng sẽ ngày càng lớn hơn và tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau Để đảm bảo rằng kết quả không phụ thuộc vào một định nghĩa cụ thể nào của rủi ro ngân hàng, tác giả sử dụng ba phương pháp thay thế để hiểu rõ những khía cạnh khác nhau, đó là sự hỗ trợ của chính phủ, sự liên quan đến rủi ro thị trường
và sự nhờ cậy đến tính thanh khoản của ngân hàng trung ương dựa trên việc thu thập thông tin liên quan đến giải cứu các ngân hàng thông qua bơm vốn, việc phát hành tín phiếu, hoặc các chương trình tài trợ khác của chính phủ, các dữ liệu hằng ngày trên thị trường chứng khoán, hoạt động tái cấp vốn chính hàng tuần và hoạt động tái cấp vốn dài hạn, với kỳ hạn thanh toán khác nhau, từ một tháng đến một năm của mỗi ngân hàng
3.1.2 Biến đại diện mô hình kinh doanh trước khủng hoảng (biến độc lập)
Tác giả xây dựng mô hình kinh doanh bằng cách sử dụng một tập dữ liệu hợp nhất báo cáo tài chính quý từ dữ liệu của Bloomberg cho giá trị của các biên độc lập Sau đó tác giả chọn và hồi quy theo mô hình kinh doanh cho mỗi ngân hàng khác nhau Mục tiêu
Trang 33của tác giả là xác định xem liệu một số mô hình kinh doanh hoạt động trong giai đoạn trước khủng hoảng có thể được liên quan với xuất hiện của rủi ro lớn hơn trong cuộc khủng hoảng Do đó, tác giả hồi quy chúng thành bốn nhóm chính, gồm: Cấu trúc vốn ngân hàng (i), cấu trúc tài sản (ii), cấu trúc nguồn tài trợ (iii) và cấu trúc thu nhập (iv)
3.1.2.1 Cấu trúc vốn
Tác giả ước tính vốn ngân hàng bằng cách sử dụng một tỷ lệ vốn trên tổng tài sản Tier I (eta) Mục tiêu ở đây là xác định rõ vốn cổ phần, chẳng hạn như vốn Tier I, có thật sự tác động hiểu quả đến khả năng tài chính của ngân hàng (Demirguc-Kunt et al., 2011) Như đã thảo luận, các tác động của vốn rủi ro của ngân hàng không
rõ ràng Nó có ý nghĩa tích cực nếu coi vốn tự có như một đại diện cho tiềm lực tài chính hấp thụ các cú sốc thanh khoản trong khủng hoảng, việc sử dụng phần lớn nguồn vốn cổ đông cũng giúp tăng cường việc giám sát hoạt động kinh doanh, làm giảm rủi ro ngân hàng
giám sát cùng với vấn đề quản lý trở nên phức tạp hơn làm tăng rủi ro (Stein, 1997)
Một biến thứ hai nắm bắt một khía cạnh khác nhau của cơ cấu tài sản là tỷ lệ các khoản vay trên tổng tài sản (loan_ta) Đó là một chỉ số giản lược liên quan đến các hoạt động cho vay truyền thống
Biến thứ ba là số lượng hoạt động chứng khoán hoá (abs) đại diện cho một khía cạnh khác quan trọng về việc làm thế nào mà các ngân hàng có thể quản lý cấu trúc tài