Hai là về mục đích tiến hành:Trong khi mục đích của điều tra hình sự là chứngminh tội phạm thì mục đích của thanh tra là những nội dung đã được quy định tạiĐiều 3 Luật thanh tra là: - Ph
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
MÔN HỌC: QUY TRÌNH – NGHIỆP VỤ THANH TRA
ĐỀ TÀI: NHỮNG YÊU CẦU CỦA VĂN BẢN NGHIỆP VỤ
THANH TRA VÀ NỘI DUNG VĂN BẢN KẾT LUẬN THANH TRA PHÂN BIỆT BÁO CÁO KẾT QUẢ VÀ KẾT LUẬN THANH TRA
Giảng viên hướng dẫn: Đ/c Hoàng Đức LongNhóm thực hiện: KS9D
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011
Trang 24 Các yêu cầu của văn bản nghiệp vụ Thanh tra 104.1 Tính pháp lý của văn bản nghiệp vu Thanh tra 104.2 Tính khoa học của văn bản nghiệp vu Thanh tra 114.3 Tính hợp lý của văn bản nghiệp vu Thanh tra 12
1 Khái niệm và các đặc điểm của kết luận thanh tra 12
Trang 33 Kĩ thuật xây dựng văn bản kết luận thanh tra 243.1 Trình tự xây dựng văn bản kết luận thanh tra 243.2 Nội dung của văn bản kết luận thanh tra 28
IV Phân biệt báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra 30
V. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
văn bản thanh tra
Trang 4Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức tập trung quyền lựccủa nhân dân, đại diện chi ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; thực hiệnquyền lực của mình để quản lý mọi mặt của xã hội bằng pháp luật theo đường lối,chính sách của Đảng.
Có nhiều cách phân loại các chức năng quản lý khác nhau; ở phạm vi nghiêncứu quản lý Nhà nước theo giai đoạn tác động thì quản lý Nhà nước có ba giai đoạn
cơ bản sau đây: Ra quyết định quản lý, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiệnquyết định ấy
Giai đoạn tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định lànhững giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý Các giai đoạn này gồm những côngviệc như: truyền đạt quyết định, lập kế hoạch tổ chức, kiểm tra việc thực hiện quyếtđịnh, điều chỉnh quyết định và tổng kết tình hình thực hiện quyết định Ở đây kiểmtra được hiểu là hành động có hướng đích nhằm quan sát cả hệ thống nhằm phát hiệnnhững sai lệch so với yêu cầu đề ra, tìm ra nguyên nhân và từ đó có những biện phápphù hợp đảm bảo để đối tượng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động, để hoạt động của
nó đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định
Vấn đền ở đây là là thế nào để tìm ra biện pháp phù hợp? Có tìm ra được biệnpháp phù hợp hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thuộc về chất lượng và hiệuquả của hoạt động kiểm tra
Trong phạm vi, chừng mực nhất định nào đó, hoạt động kiểm tra theo nghĩarộng thông thường có thể đưa lại những thông tin cần thiết, đáp ứng yêu cầu của việctìm giải pháp phù hợp Nhưng ở một góc độ nào đó của công tác quản lý nhà nước,hoạt động kiểm tra theo nghĩa thông thường chưa đáp ứng được yêu cầu của việc tìmgiải pháp phù hợp đó
Thực tiễn điều hành quản lý nói chung và đặc biệt quản lý Nhà nước nói riêngđòi hỏi có một phương thức kiểm tra khác với nghĩa kiểm tra thông thường Loạiphương thức kiểm tra này không chi dừng lại ở chỗ phát hiện sai lệch của đối tượng
bị quản lý so với yêu cầu đề ra mà còn phải tìm ra những nguyên nhân chủ quan,
Trang 5khách quan của sự sai lệch đó Nếu có yếu tố trách nhiệm thì đương nhiên phải chi rõtrách nhiệm thuộc về ai? Tổ chức hay cá nhân nào? Chính từ việc tìm ra nguyên nhân
và quy trách nhiệm cùng những yếu tố khác đã làm nảy sinh những yêu cầu mới đốivới chính hoạt động kiểm tra như phải thu thập và xử lý; nhận xét và đánh giá, phântích tổng hợp nguyên nhân, dữ liệu, số liệu nhiều hơn, phức tạp hơn, loại hình kiểmtra như vậy hay nói cách khác phương thức kiểm tra như vậy rất gần với hoạt độngthanh tra Thực chất thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là công cụ của quản
lý, là chức năng của người lãnh đạo, người quản lý
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, các cơ quan quản lýNhà nước nhất thiết phải tiến hành việc thanh tra thực hiện các quyết định của mình
đã ban hành Đó là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạt động quản lý Nhànước
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việcchuyển đổi nền kinh tế và hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước Trong đó, thanh travới tư cách là một phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỉ luật Nhà nước,nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước cần phải được xác định như một nhân tố tấtyếu của công tác quản lý./
Trang 6Theo Từ điển Tiếng Việt thì “nghiệp vụ” được hiểu là: “công việc chuyên môncủa một nghề ” Từ đó, có thể hiểu “nghiệp vụ thanh tra” là “công việc chuyên môncủa nghề thanh tra” Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần phân biệt giữa thanh tra và kiểmtra:
Một là về chủ thể tiến hành: Theo Từ điển Tiếng Việt thì “kiểm tra là xem xéttình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giaothoa về chủ thể, đó là Nhà nước Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểmtra, đó là một chức năng chung của quản lý Nhà nước, là hoạt động mang tính chấtphản hồi của “chu trình quản lý” Tuy nhiên, chủ thể của kiểm tra rộng hơn của thanhtra rất nhiều Trong khi chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiếnhành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn nhưhoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội (Đảng, Côngđoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên ), hay như hoạt động kiểm tra trong nội bộ mộtdoanh nghiệp
Hai là về mục đích thực hiện: Mục đích của thanh tra bao giờ cũng rộng hơn,sâu hơn đối với các hoạt động kiểm tra Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra để giảiquyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra
và kiểm tra càng rõ hơn nhiều, bởi: thông thường khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bứcxúc, bất bình của nhân dân trước những việc mà nhân dân cho là quyền và lợi ích hợppháp của mình bị vi phạm cho nên mục đích của hoạt động thanh tra không còn chỉ làxem xét, đánh giá một cách bình thường nữa
Ba là về phương pháp tiến hành: Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn, khi tiếnhành thanh tra, Đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đivào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại,chất vấn, giám định Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có thể ápdụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật vềthanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý
Bốn là về cách thức xử lý vi phạm: Từ kết quả kiểm tra, người kiểm tra hoặc cácđoàn kiểm tra thông thường chỉ tiến hành rút kinh nghiệm, khắc phục hậu quả trong
Trang 7phạm vi đơn vị được kiểm tra và yêu cầu làm đúng theo quy định và hướng dẫn củacấp trên Trong khi đó, căn cứ vào kết quả thanh tra, các Đoàn thanh tra không chỉ rútkinh nghiệm với phạm vi rộng hơn, mức độ sâu sắc hơn mà còn có thể kiến nghị cơquan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hình thức kỷ luật thích đáng, cá biệt nếu
có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự còn có thể chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra
để xem xét khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can
Phân biệt giữa thanh tra với điều tra:
Điều tra hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm: điều tra xã hội học, điều tra dân số,điều tra về kinh tế Tuy nhiên, với mục đích tránh hình sự hoá công tác thanh tra, ởđây chỉ so sánh thanh tra với điều tra hình sự Với ý nghĩa này, điều tra là hoạt độngcủa các cơ quan có thẩm quyền nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm Nhưvậy, có thể nói giữa thanh tra và điều tra hình sự có sự khác nhau về chủ thể, mụcđích, đối tượng và phương pháp tiến hành như sau:
Một là về chủ thể tiến hành: Theo quy định của Luật Thanh tra, chủ thể tiếnhành thanh tra là các tổ chức thanh tra và chủ yếu là Đoàn thanh tra hoặc Thanh traviên
Hai là về mục đích tiến hành:Trong khi mục đích của điều tra hình sự là chứngminh tội phạm thì mục đích của thanh tra là những nội dung đã được quy định tạiĐiều 3 Luật thanh tra là:
- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật;
- Phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghịvới cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục;
- Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt độngquản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức, cá nhân
Ba là về phương pháp tiến hành: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra áp dụngtổng hợp các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như: khám nghiệm hiệntrường, khám nghiệm tử thi, bắt, khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, lấy lời khai
Trang 8người làm chứng, người bị hại, hỏi cung bị can, trưng cầu giám định, nhận dạng, đốichất, thực nghiệm điều tra Trong khi đó các phương pháp tiến hành thanh tra lại doLuật thanh tra và các văn bản pháp luật có liên quan khác quy định như đối thoại, xửphạt vi phạm hành chính, tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền tạm đìnhchỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Phân biệt giữa thanh tra và giám sát:
Trong Từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem cóthực hiện đúng những điều đã quy định không” Như vậy, có thể nói: ở mức độ ýnghĩa chung nhất, giám sát và thanh tra đều được tiến hành trên cơ sở các quyền vànghĩa vụ của chủ thể được thanh tra, giám sát và đối tượng chịu sự thanh tra, giámsát Tuy nhiên, chúng vẫn có điểm khác nhau cơ bản là: trong khi thanh tra luôn luôngắn liền với quản lý nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước thì giám sát có thểmang tính quyền lực nhà nước hoặc không mang tính quyền lực nhà nước
+ Giám sát mang tính quyền lực nhà nước được tiến hành bởi chủ thể là các cơquan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống cơ quan nhà nướckhác, chẳng hạn như: hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, Toà ánnhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; hoạt động giám sát của Hội đồngnhân dân đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương
+ Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước: Là loại hình giám sát đượctiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước như hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốcViệt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận đối với bộ máy nhà nước và đội ngũcán bộ, công chức nhà nước; hay đơn giản chỉ là giám sát thi công một công trình Xét về lĩnh vực hoạt động thì Thanh tra Bộ Tư pháp tiến hành thanh tra trên cáclĩnh vực sau: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thihành án dân sự; công chứng, chứng thực; hộ tịch; nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài; quốc tịch; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp luật; giám định tư pháp; bán
Trang 9đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; trợ giúp pháp lý; đăng ký giao dịch bảo đảm;hợp tác với nước ngoài về pháp luật và công tác tư pháp khác
Thanh tra Sở Tư pháp tiến hành thanh tra trên các lĩnh vực sau: kiểm tra văn bảnquy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự cấp huyện (theo
sự uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp); công chứng, chứng thực; hộ tịch; quốc tịch;
lý lịch tư pháp; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; luật sư; tư vấn pháp luật; giámđịnh tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; trợ giúp pháp lý và công tác
tư pháp khác
Quy trình thực hiện thanh tra
Hoạt động thanh tra với tư cách là chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước,
là một khâu trong chu trình hoạt động quản lý nhà nước đòi hỏi phải tuân thủ nhữngnguyên tắc và trình tự theo quy định của pháp luật Trên cơ sở các quy định của LuậtThanh tra và khoa học về nghiệp vụ thanh tra cũng như thực tiễn công tác thanh tra,một cuộc thanh tra thông thường được tiến hành theo ba bước gồm: chuẩn bị thanhtra, tiến hành thanh tra và kết thúc thanh tra Sự phân chia thành các bước như vậychỉ mang tính chất tương đối vì các bước này có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau,bước trước tạo tiền đề để tiến hành bước sau, bước sau nhằm tiếp tục và hoàn thiệnbước trước và có những việc được thực hiện ở bước này, cũng là yêu cầu của bướckia, có những nội dung ở bước sau đã được hình thành trong khi tiến hành bướctrước
II Văn bản nghiệp cụ trong hoạt động thanh tra:
1 Khái niệm
Từ "Văn bản" theo tiếng Latinh là actur có nghĩa là hành động Văn bản thể hiện
ý chí của cơ quan ban hành văn bản Văn bản là phương tiện chủ yếu để lãnh đạo,điều hành, giao dịch
Đối với bộ máy Nhà nước, văn bản quản lý Nhà nước thực chất là các quyếtđịnh quản lý Nhà nước do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thểthức, thủ tục, thẩm quyền do luật định mang tính quyền lực đơn phương Văn bản
Trang 10quản lý Nhà nước còn là phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lývào quá trình quản lý Nhà nước.
Văn bản trong hoạt động thanh tra là các văn bản được các chủ thể thực hiệnchức năng thanh tra ban hành khi thực hiện quyền thanh tra, giải quyết khiếu nại tốcáo, phòng chống tham nhũng và quản lý nhà nước về công tác thanh tra
Văn bản nghiệp vụ thanh tra là công cụ phương tiện chủ yếu của hoạt độngnghiệp vụ thanh tra Trong quá trình hoạt động thanh tra, các tổ chức thanh tra, cán
bộ nghiệp vụ phải sử dụng văn bản nghiệp vụ thanh tra như một công cụ, phương tiệnchủ yếu để phản ánh kết quả hoạt động của mình
2 Đặc điểm của văn bản nghiệp vụ thanh tra:
- Văn bản nghiệp vụ thanh tra không đơn thuần là những văn bản cung cấpthông tin để hệ thống quản lý tự điều chỉnh mà còn là kết luận, phán xét mang tínhchất pháp lý của các cơ quan thanh tra có thẩm quyền
- Tiêu chí, chuẩn mực mà văn bản nghiệp vụ đề cập, xem xét, điều chỉnh vàquản lý không phải là bản thân các đơn vị, cơ sở quản lý hoạt động thanh tra hướngđến mà từ đối tượng điều chỉnh cụ thể văn bản nghiệp vụ thanh tra còn hướng đếnchuẩn mực chung của pháp luật, phục vụ lợi ích của tập thể, của nhà nước và bảođảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Những nội dung thanh tra được đề cập trong văn bản nghiệp vụ thanh tracũng chứa đựng những mệnh lệnh, quy định mang tính bắt buộc thi hành.Ví dụ:Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ hành vi vi phạm của đối tượng, văn bản yêu cầuđối tượng cung cấp thông tin, tài liệu…vv
- Văn bản nghiệp vụ thanh tra nhằm mục đích xây dựng, ban hành hướng đếnđánh giá, kết luận việc chấp hành chính sách pháp luật và thực hiện nhiệm vụ của đốitượng thanh tra.Văn bản nghiệp vụ thanh tra thường hướng đến phân tích các hoạtđộng tuân theo pháp luật của đối tượng thanh tra Từ đó nêu ra những mặt mạnh, yếu
và nguyên nhân trách nhiệm biên pháp khắc phục những yếu kém
Trang 113 Vai trò của văn bản nghiệp vụ thanh tra
- Văn bản nghiệp vụ thanh tra có vai trò quan trọng trong hoạt động xem xétđánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, tạo
ra các cơ sở pháp lý để các chủ thể có liên quan thực hiện các mệnh lệnh quản lý theothẩm quyền, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước
- Văn bản nghiệp vụ thanh tra có vai trò quan trọng trong việc thực hiện cáccuộc thanh tra.Việc ban hành các văn bản nghiệp vụ thanh tra là việc không thể thiếuđối với mỗi cuộc thanh tra Chất lượng của các văn bản nghiệp vụ thanh tra ảnhhưởng sâu sắc đến hiệu lực thực hiện các kiến nghị và quyết định xử lý, đồng thờiảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cuộc thanh tra
- Văn bản nghiệp vụ thanh tra vừa là phương tiện vừa là điều kiện để tiếnhành một cuộc thanh tra Mặt khác văn bản nghiệp vụ thanh tra còn có vai trò quantrọng trong việc đánh giá các ưu khuyết điểm, các sai phạm cũng như tính chất, mức
độ sai phạm cũng như những nguyên nhân dẫn tới sai phạm Đồng thời văn bảnnghiệp vụ thanh tra còn nêu ra những kiến nghị và hướng xử lý đối với đối tượngthanh tra
- Văn bản nghiệp vụ thanh tra còn đóng vai trò làm chứng cứ giúp cho việcđưa ra kết luận thanh tra của người ký quyết định thanh tra được chính xác, phản ánhđược thực trạng của công tác quản lý, đặc biệt là khó khăn, ách tắc, những đòi hỏi củacác cấp quản lý và kể cả những nguyện vọng chính đáng của người lao động Có nhưthế hoạt động thanh tra mới trở thành chức năng thiết yếu của hoạt động quản lý nhànước
4 Các yêu cầu của văn bản nghiệp vụ Thanh tra
4.1 Tính pháp lý của văn bản nghiệp vu Thanh tra
Được thể hiện qua các yêu cầu của nội dung và hình thức của văn bản
Một là, văn bản nghiệp vụ phải được ban hành đúng thẩm quyền Yêu cầu này
được pháp luật quy định theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tổchức và của người có thẩm quyền các văn bản nghiệp vụ được ban hành phải thuộc
Trang 12phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm quản lý Nhà nước và pháp luật quy định Điều nàyđòi hỏi các chủ thể trong hoạt động Thanh tra không được lạm dụng quyền hạn,ngược lại cũng không được trốn tránh trách nhiệm khi thực hiện những quyền màpháp luật quy đinh phải thực hiện Yêu cầu mang tính nguyên tắc trong Thanh tra làphải thể hiện bằng văn bản một cách liên tục, đầy đủ trong quy trình thanh tra, mộtmặt phải đảm bảo tính chặt chẽ, thống nhất của quy trình hoạt động, mặt khác phảiđảm bảo tính pháp lý đầy đủ của các tài liệu thông tin thể hiện trong văn bản
Hai là, về mặt hình thức: yêu cầu tính pháp lý của văn bản đòi hỏi văn bản
nghiệp vụ thanh tra được ban hành phải có tên gọi, kết cấu phù hợp với mục đích banhành và nội dung mà văn bản điều chỉnh Yêu cầu vế mặt hình thức văn bản ngiệp vụphải được sử dụng đúng mục đích ban hành Việc ban hành văn bản nghiệp vụ saihình thức sẽ làm cho văn bản mất hiệu lực, thậm chí trở thành bất hợp pháp
Trên thực tế đã có những cơ quan nhà nước sử dụng thông báo công văn thaycho những quyết định hành chính trong xử lý công việc Sự nhầm lẫn về sử dụng cácloại văn bản quản lý Nhà nước có hình thức không phù hợp với nội dung sẽ là mất giátrị đích thực của nội dung văn bản nghiệp vụ đó
4.2 Tính khoa học của văn bản nghiệp vụ thanh tra
Được thể hiện tính logic kết cấu chặt chẽ, có tính khách quan, chân thực Khácvới nhiều loại văn bản trong quản lý hành chính nhà nước, văn bản nghiệp vụ thanhtra đưa ra những nhận xét đúng sai trên cơ sở tài liệu, thông tin đã thu thập được Vìthế, văn bản phải có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, ngôn ngữ chính xác, diễn đạtphải có trình tự, kế thừa, văn phong mang tính hành chính
Tính khách quan, chân thực là một yêu cầu rất cơ bản trong hoạt động thanh tracần phải được thực hiện, ghi nhận qua các văn bản nghiệp vụ Khách quan là đặctrưng và yêu cầu từ chính bản chất thanh tra Khách quan trong thông tin đưa vào xử
lý là các yếu tố quyết định đối với việc ban hành các mệnh lệnh đều khiển Đảm bảotính khách quan làm cho thanh tra trở thành công cụ sắc bén, tin cậy của quản lý Nhànước
Trang 134.3 Tính hợp lý của văn bản nghiệp vụ thanh tra
Cũng như các loại văn bản quản lý khác khi ban hành văn nghiệp vụ thanh trangười soạn thảo luôn hướng tới tính khả thi, kịp thời của văn bản, đặc biệt là đối vớicác yêu cầu kiến nghị xử lý báo cáo xử lý thanh tra hay kết luận thanh tra hoặc nhữngnội dung được đề cập trong quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo Vì thế trong hoạtđông thanh tra tính hợp lý được coi là một trong những yêu cầu luôn phải được cânnhắc khi đưa ra những mệnh lệnh, nói đến tính hợp lý tức là cân nhắc, xem xét tronggiới hạn giữa cái đúng và cái sai, cái được và cái không được, cái hợp pháp và cáikhông hợp pháp….để văn bản nghệp vụ thanh tra có tính hợp lý cần quan tâm đếnnhững nội dung sau:
- Khi xem xét đánh giá vụ việc phải cân nhắc đến các yếu tố mang tính kháchquan, chủ quan
- Tính hợp lý của văn bản nghiệp vụ được thể hiện qua việc bảo đảm tính toàndiện, cụ thể của nội dung điều chỉnh
Tóm lại, tính pháp lý, tính khoa học, tính hợp lý là những yêu cầu cần thiết phải
có của mỗi văn bản quản lý nhà nước Tuy nhiên, trong hoạt động thanh tra các yêucầu này phải được quán triệt một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Để đảm bảo cho hiệulực pháp lý của văn bản nghiệp vụ, khắc phục hiện tượng chấp hành không nghiêmkết luận thanh tra thì văn bản nghiệp vụ thanh tra phải được xây dựng hoàn thiện đảmbảo tính pháp lý, tính khoa học, tính hợp lý
Tính hoa học bảo đảm cho chế độ tin cậy, sức thuyết phục của văn bản
Tính hợp lý bảo đảm cho khả năng thực thi cao, nhanh chóng của văn bản
Đối tượng thanh tra có khâm phục khẩu phục thì mệnh lệnh mới được thực hiệnđầy đủ, mau chóng đem lại hiệu quả thiết thực
III Văn bản kết luận Thanh tra
1 Khái niệm và các đặc điểm của kết luận thanh tra
1.1 Khái niệm:
Trang 14Hoạt động thanh tra là một trong những hoạt động cơ bản nhằm tăng cường hiệulực, hiệu quả của hoạt động quả lý hành chính Nhà nước, phát huy quyền dân chủ xãhội chủ nghĩa…
Hoạt động thanh tra được tiến hành trên cơ sở pháp luật , do các tổ chức và cánhân được Nhà nước trao nhiệm vụ thanh tra thực hiện Hoạt động thanh tra bao gồmnhiều hình thức khác nhau, trong đó việc ban hành các văn bản về công tác thanh tra,đặc biệt văn bản kết luận thanh tra trong các cuộc thanh tra
Các văn bản kết luận khi tiến hành các cuộc thanh tra được chủ thể có thảmquyền thể hiện và truyền đạt bằng bằng ngôn ngữ viết trên giấy Thông qua các biểuđạt này họ có thể truyền những nhận thức và ý chí của mình với các cá nhân hay tổchức khác có liên quan tới hoạt động thanh tra Mục đích của văn bản kết luận thanhtra là thông báo hoặc yêu cầu đối thượng liên quan nói trên biết để có những hành vinhất định tuân theo những mục đích hoặc yêu cầu nhất định
Như vậy, văn bản kết luận thanh tra là một hình thức thể hiện bằng ngôn ngữviết, nhằm ghi nhận, lưu giữ và truyền đạt kết quả của cuộc thanh tra và các giải pháp
xử lý tới người có thẩm quyền và các đối thượng có liên quan để thi hành
1.2 Đặc điểm:
Văn bản kết luận thanh tra do các tổ chức hoặc cá nhân ở nhiều cấp khác nhaulập ra Chúng có hiệu lực pháp luật và phạm vi tác động khác nhau Tuy vậy, văn bảnkết luận thanh tra có những đặc điểm chung sau đây: cũng như các văn bản trongquản lý Nhà nước, văn bản kết luận thanh tra thể hiện tính chất quyền lực Nhà nước
có nội dung buộc các đối tượng thanh tra có liên quan tiếp nhận và thực hiện Nóikhác đi, văn bản kết luận thanh tra là hình thức mà thông qua đó, giúp Nhà nước thựchiện mệnh lệnh quản lý
Như vậy tính chất, quyền lực Nhà nước là đặc điểm nổi bật của văn bản kết luậnthanh tra Đặc điểm này làm nó khác hẳn với các hình thức văn bản mang tính chấtpháp lý về công tác thanh tra như báo cáo kết quả cuộc thanh tra, công văn, giấy biênnhận tài liệu…
Trang 15Xây dựng và ban hành văn bản kết luận thanh tra là trách nhiệm của người raquyết định thanh tra và được quy định trong Luật Thanh tra Kết quả đó phản ánh ýthức trách nhiệm chủ thể trước pháp luật về những vấn đề thanh tra Do đó, trong mọitrường hợp, dù nhất trí hay không nhất trí, đối tượng thanh tra vẫn phải có nghĩa vụtiếp nhận văn bản kết luận thanh tra Nếu đối tượng thanh tra không có đủ căn cứ đểchứng minh rằng, văn bản kết luận thanh tra không chính xác, thiếu khách quan thì
họ vẫn có trách nhiệm phải thi hành
Văn bản kết luận thanh tra do người ra quyết định thanh tra ban hành Trên cơ
sở báo cáo kết quả cuộc thanh tra, ý kiến báo cáo của Đoàn thanh tra và ý kiến giảitrình của đối tượng thanh tra; căn cứ vào các quy định của pháp luật người ra quyếtđịnh thanh tra có các biện pháp thích hợp để xử lý kết quả cuộc thanh tra theo thẩmquyền
Trình tự xây dựng và thủ tục ban hành các văn bản kết luận thanh tra tuân thủcác quy định ghi trong văn bản pháp luật về công tác thanh tra
Ban hành các văn bản kết luận thanh tra là một hình thức trong hoạt động thanhtra là một hình thức trong hoạt động thanh tra, có vai trò quan trọng đối với kết quảthực hiện các cuộc thanh tra Nâng cao chất lượng văn bản kết luận thanh tra là mộttrong những biện pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả cuộc thanh tra Thực tếcho thấy chất lượng văn bản kết luận thanh tra phụ thuộc vào những vấn đề tưởngchừng như mang tính hành chính đơn thuần Song, thực tế đối với công tác thanh tra,
nó là những yêu cầu bắt buộc để tạo ra sự hoàn chỉnh và sức thuyết phục của văn bảnkết luận thanh tra
Văn bản kết luận thanh tra chỉ phát sinh khi tiến hành các cuộc thanh tra Vănbản này có bố cục, nội dung thống nhất để ghi lại những sự kiện pháp lý đã xảy ratheo mục đích yêu cầu, nội dung cuộc thanh tra
Trang 161.3 Hình thức:
Mỗi cấp cơ quan quản lý hành chính Nhà nước được sử dụng một số hình thứcvăn bản khác nhau Nó có tên gọi và được trình bày theo bố cục và nội dung nhấtđịnh theo quy định của Nhà nước
Trong hoạt động thanh tra, việc lựa chọn đúng hình thức văn bản có ý nghĩathiết thực trong việc nâng cao hiệu quả tác động của văn bản đó Chẳng hạn khôngdùng công văn hành chính thay cho quyết định tạm đình chỉ công tác nhân viên Nhànước cố ý cản trở việc thanh tra thay cho kết luận thanh tra vì chúng không đúng hìnhthức văn bản…
a) Tên gọi và bố cục
- Về tên gọi văn bản
Căn cứ vào khái niệm và những đặc điểm của văn bản dùng cho việc kết luậnmột cuộc thanh tra có thể xác định tên của loại hình thức văn bản này là: “kết luậnthanh tra” Kết luận thanh tra là tên gọi chung cho văn bản kết luận về cuộc thanh tra.Tuy nhiên, kết luận thanh tra chỉ mới là mệnh đề chính thể hiện tính quyền lực Nhànước Để tạo ra tên gọi hoàn chỉnh cho văn bản, nhất thiết phải có mệnh đề phụ kèmtheo để chỉ rõ đối tượng tác động
Trước đây trong hoạt động thanh tra đã tồn tại tình trạng khá phổ biến trong việcđăt tên cho các văn bản kết luận khi tiến hành một cuộc thanh tra Đã xuất hiện nhiềutên gọi cho văn bản này như: báo cáo kết luận thanh tra, báo cáo kết quả thanh tra,biên bản kết luận thanh tra…
Cách đặt tên cho văn bản kết luận thanh tra như trên đã cho thấy, chẳng nhữngthiếu sự thống nhất, sai tính chất và tiêu chuẩn nghiệp vụ thanh trầm còn làm mất đi
sự bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước đối với những vấn đề được kiến nghị
và quyết định giải quyết trong văn bản kết luận thanh tra
- Về bố cục, cơ cấu, nội dung của văn bản
Nhìn chung, bố cục của văn bản kết luận thanh tra phải theo trình tự và bố cụcnhất định để thể hiện các nội dung của văn bản Một cuộc thanh tra dù có nội dung
Trang 17đơn giản hay phức tạp thì cơ cấu nội dung của văn bản kết luận thanh tra đều phảiphản ánh được những vấn đề cơ bản sau đây:
+ Cơ sở pháp lý dẫn tới việc tiến hành cuộc thanh tra, những vấn đề liên quanđến việc xây dựng và ban hành văn bản kết luận thanh tra
+ Kết quả thanh tra và những nhận xét đánh giá về chúng là những thông tinquan trọng cấu thành nội dung văn bản kết luận thanh tra Lượng thông tin dài hayngắn tùy thuộc vào tính chất phức tạp hay đơn giản của nó Những nhận xét, đánh giá
về những vấn đề được thanh tra có ý nghĩa quyết định chất lượng và tạo cơ sở vữngchắc cho việc xác lập những nội dung đưa ra trong các phần kết luận, kiến nghị vàquyết định về thanh tra
- Kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý về thanh tra
Thông thường, một văn bản có bố cục khoa học thì những vấn đề này được cơcấu và thể hiện riêng biệt ở phần cuối của văn bản kết luận Tuy vậy, nhưng thực tế
do nội dung thanh tra phức tạp hoặc phải tiến hành thanh tra nhiều nội dung trongcuộc thanh tra nên rất khó tuân theo trật tự trên, nếu điều kiện cho phép( không mấttính chính xác, hợp lý, hợp pháp) thì thường bố cục theo kiểu cứ xong kết quả thanhtra về vấn đề nào thì kết luận, kiến nghị và đưa ra biện pháp xử lý luôn vấn đề đó.Kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý thanh tra trong văn bản kết luận thanhtra là ba vấn đề khác nhau, song có quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, kết luậnvừa là tiền đề, vừa là cơ sở cho kiến nghị và quyết định xử lý Nó không mang tínhchất của các mệnh lệnh quản lý, song nội dung của nó thể hiện rõ ý chí của chủ thểđược Nhà nước giao quyền thanh tra Còn các kiến nghị và quyết định xử lý về thanhtra thực chất là các mệnh lệnh của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước
Trên thực tế, không ít văn bản kết luận thanh tra còn bố cục lộn xộn, cơ cấukhông hợp lý Chẳng hạn, trong văn bản kết luận thường nêu quá dài về đặc điểm tìnhhình kinh tế - xã hội, trong đó có những thông tin không liên quan đến nội dung thanhtra, hoặc có văn bản kết luận thanh tra lại trích dẫn một loạt các chính sách, quy định
Trang 18của cấp có thẩm quyền nào đó vào thành nội dung của văn bản để làm “thước đo đốichứng”
b) Thể loại văn bản kết luận thanh tra
Có thể phân loại văn bản kết luận thanh tra theo các căn cứ sau đây:
- Trong một cuộc thanh tra để phản ánh đầy đủ về kết quả cuộc thanh tra,người ra quyết định thanh tra có thể phải dùng một số biểu mẫu hay trích yếu nào đó
để làm rõ những vấn đề hay nội dung nào đó trong văn bản kết luận thanh tra Căn cứvào tính chất, vai trò của văn bản này có thể chia thành văn bản chính và văn bản phụ(phụ lục văn bản)
+ Văn bản chính: văn bản có hình thức, bố cục và cơ cấu nội dung theo nột quyđịnh thống nhất Mỗi cuộc thanh tra chỉ có một loại văn bản chính
+ Văn bản phụ: các văn bản này xuất hiện trong những cuộc thanh tra có nộidung phức tạp (hoặc do yêu cầu của công tác chỉ đạo quản lý) phải chi tiết hóa kếtquả những vấn đề được thanh tra Trong văn bản kết luận thanh tra có thể có nhiềuvăn bản phụ có hình thức và nội dung khác nhau, như các biểu bảng thống kê, phụ lụcvăn bản…
Nội dung của văn bản phụ phải làm rõ những vấn đề mà văn bản chính chưa làm
rõ hoặc do lý do kĩ thuật không thể viện dẫn được
- Căn cứ vào quy mô cuộc thanh tra, có thể phân làm hai lọai văn bản:
+ Văn bản kết luận thanh tra trên diện rộng
+ Văn bản kết luận thanh tra trên diện hẹp
Khái niệm tiến hành thanh tra trên diện rộng và trên diện hẹp chỉ mang tính chấttương đối, ta có thể hiểu nghĩa “diện rộng”, “diện hẹp” theo địa bàn thanh tra hoặctheo đối tượng và nội dung thanh tra
Trong khuôn khổ của bài này chỉ đề cập nghiên cứu loại hình về cuộc thanh tratrên diện rộng là cuộc thanh tra có nội dung và đối tượng nhất định nhưng được thanhtra trên nhiều địa bàn Ví dụ, thanh tra hoạt động ngân hàng trên cả nước
Trang 19Ngoài các loại văn bản kết luận thanh tra nói trên, tùy theo mục đích nghiên cứu,tiêu chí phân loại còn có các tên gọi khác nhau như: kết luận thanh tra kinh tế - xãhội, kết luận thanh tra về vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo…
c) Phân loại văn bản kết luận thanh tra với các văn bản mang tính pháp lý kháccủa cuộc thanh tra
Trong qúa trình thực hiện quyền trực tiếp tiến hành thanh tra, cùng với việc banhành các văn bản mang tính quyền lực Nhà nước như các quyết định để thực hiện cácquyền thanh tra, văn bản kết luận thanh tra…các tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viêncòn ban hành những văn bản mang tính pháp lý như: báo cáo kết quả thực hiện cuộcthanh tra, các biên bản xử lý và các công văn yêu cầu hoặc đề nghị giải quyết…Tínhpháp lý của những văn bản này thể hiện ở chỗ, chúng đều được quy định (về thẩmquyền ban hành) trong các văn bản pháp luật về công tác thanh tra và được Nhà nướcquy định về hình thức, nội dung và trình tự xác lập…
Nhìn chung, các văn bản phát sinh trong khi tiến hành thanh tra khá đa dạng vềhình thức và nội dung Mỗi loại hình văn bản có vai trò và tác dụng nhất định trongcuộc thanh tra Tuy vậy, mặc dù tất cả những văn bản mang tính pháp lý nói trênđược ban hành một cách đơn phương từ phía các chủ thể thực hiện quyền thanh tra,song không phải tất cả những văn bản đó đều chứa đựng ý chí Nhà nước, đều bắtbuộc đối tượng phải tiếp nhận và thực hiện
Một số nội dung và quyết định xử lý của các văn bản kết luận thanh tra luôn thểhiện tính chất quyền lực Nhà nước Chúng cũng được xây dựng và ban hành một cáchđơn phương, không xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên liên quan đến cuộc thanhtra, xuất phát từ ý chí của các tổ chức hoặc cá nhân mang tính quyền lực Nhà nước cótrách nhiệm thực hiện các quyền thanh tra được Nhà nước giao cho Đây là vấn đề cơbản để phân biệt văn bản kết luận thanh tra với các văn bản mang tính pháp lý kháccùng phát sinh trong cuộc thanh tra
Trang 20Ngoài ra, để phân biệt văn bản kết luận thanh tra với những hình thức văn bảnmang tính pháp lý khác nói trên, ta có thể căn cứ vào hình thức của văn bản và đốitượng của văn bản…
2.Cơ sở và mục đích ban hành văn bản kết luận thanh tra
2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ban hành văn bản kết luận thanh tra
Trong cuộc sống hằng ngày, con người tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hộikhác nhau Ở đó, ý chí và nguyện vọng của họ được thể hiện bằng nhiều hình thứckhác nhau như tín hiệu, ngôn ngữ, chữ viết…
Sự hình thành và phát triển chữ viết cũng như việc tìm ra các chất lệu chuyêndùng để viết, mở ra khả năng to lớn cho việc thể hiện ý chí của con người khi thamgia vào các quan hệ xã hội Con người đã sử dụng ngôn ngữ viết như một phươngtiện để ghi lại những thông tin nhất định về những sự kiện, hiện tượng khách quanhoặc biểu đạt ý chí, tính cảm, nguyện vọng của mình…Do nhu cầu phát triển xã hội,đặc biệt khi xã hội có Nhà nước, những sản phẩm về ngôn ngữ viết được hoàn thiệnthành những bản viết, bản in hoàn chỉnh Những bản viết, bản in này trở thành nhữngcông cụ, phương tiện không thể thiếu trong quá trình trao đổi thông tin và quản lýhành chính Nhà nước
Nhìn lại lịch sử phát triển của Nhà nước ta, hoạt động thanh tra là yêu cầu tấtyếu của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước Cũng như những lĩnh vực quản lýkhác, việc xây dựng và ban hành các văn bản về công tác thanh tra nói chung và cácvăn bản kết luận thanh tra nói riêng, là nhu cầu tất yếu của hoạt động thanh tra Trongquá trình trực tiếp thực hiện quyền thanh tra, việc thể hiện kết luận thanh tra chẳngnhững là đòi hỏi khách quan trong quan hệ pháp luật, mà còn là yêu cầu mang tínhbắt buộc đã được Nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật về thanh tra
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Hoạt động thanh tra có bề dày lịch sử cùng với quá trình dựng nước và giữnước Ngay từ xa xưa, cha ông ta đã quan tâm đến công tác thanh tra, đã thành lập