Tổ chức ngư dân các cấp chi hộinghề cá cơ sở, được tập hợp trong hệ thống nghề cá Thừa Thiên Huế là đốitác chính của chính quyền các cấp, phối hợp và quản lý khai thác thuỷ sảntrên đầm p
Trang 2Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, sựtham gia chia sẽ thông tin quý báu, trung thực của toàn thể người dân hai xãVinh Giang của huyện Vinh Giang và Vinh Phú của huyện Phú Vang.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS TrươngVăn Tuyển, người đã định hướng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn và hết lòng giúp đỡtôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khoá luận này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp Khuyến Nông 40, đếntất cả bạn bè tôi, những người đã luôn bên tôi, giúp đỡ tôi trong những nămhọc ở giảng đường, cũng như trong quá trình thực hiện khoá luận
Xin chân thành cảm ơn !
Huế, tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiệnDương Thị Vân Anh
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Mục tiêu của đề tài 8
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
2.1 Thực trạng quản lý tài nguyên đầm phá 9
2.1.1 Các thay đổi trong hoạt động quản lý tài nguyên đầm phá 9
2.1.2 Quản lý tài nguyên đầm phá trước khi chi hội Nghề cá 10
2.1.3 Quản lý tài nguyên đầm phá dựa vào dân 12
2.2 Xây dựng tổ chức hội Nghề cá 14
2.2.1 Phát triển hệ thống hội Nghề cá Thừa Thiên Huế 14
2.3 Lý thuyết về đồng quản lý Nghề cá 17
PHẦN 3 NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu nghiên cứu 22
3.4.2Phương pháp thu thập thông tin 22
3.4.3Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu 24
4.1.1 Thông tin chung về cộng đồng ngư nghiệp tại vùng nghiên cứu 24
4.1.2 Đặc điểm của hộ sản xuất thủy sản tại vùng nghiên cứu 27
4.2 Hoạt động chi hội Nghề cá 29
4.2.1 Phát triển chi hội Nghề cá 29
Trang 44.2.2 Hoạt động quản lý tài nguyên của chi hội Nghề cá 32
4.3 Đánh giá hoạt động của chi hội Nghề cá 38
4.3.1 Ý kiến của hội viên về tầm quan trọng của chi hội 38
4.3.2 Tình hình thực hiện quy chế của hộ sử dụng nguồn lợi 40
4.4 Thay đổi hoạt động sản xuất thủy sản của hộ 42
4.4.1 Nuôi trồng thủy sản 42
2.4.2Khai thác thủy sản 44
4.5 Thay đổi về thu nhập, chi tiêu và kết quả xóa đói giảm nghèo 46
4.5.1 Thay đổi về thu nhập 46
4.5.2 Thay đổi chi tiêu 50
4.5.3 Thay đổi tỷ lệ hộ nghèo 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
Trang 6Bảng 1: Tình hình kinh tế xã hội của 2 cộng đồng ngư Nghi Xuân và Đội 16
23
Bảng 2: Đặc điểm của hộ sản xuất thủy sản .26
Bảng 3: Tình hình phát triển chi hội Nghề cá ở Vinh Giang và Vinh Phú 29
Bảng 4: Đánh giá tầm quan trọng các hoạt động (% hộ cho là quan trọng nhất) 38 Bảng 5: Tình hình thực hiện các quy định của hội viên (% hộ chấp hành) 40
Bảng 6: Sự thay đổi trong hoạt động nuôi thuỷ sản của hộ 42
Bảng 7: Sự thay đổi trong hoạt động khai thác tự nhiên của hộ .44
Bảng 8: Thay đổi các nguồn thu trong thu nhập của hộ (Triệu đồng/ hộ/ năm) 46
Bảng 9 : Cơ cấu chi tiêu của hộ ( ĐVT: Triệu đồng/ hộ/ năm ) 49
Bảng 10: Tình hình thay đổi về tỷ lệ nghèo đói của hai cộng đồng 51
Trang 7PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là vùng đầm phá rộng lớn nhất khu vựcĐông Nam Á, với diện tích mặt nước gần 22.000 ha, chạy qua 5 huyện với 31
xã và Thị trấn của Tỉnh Thừa Thiên Huế Phá Tam Giang nổi tiếng về nguồnlợi thuỷ sản phong phú, nó được xem là một bảo tàng sinh học với sự đa dạng
về nguồn gen bao gồm cả động vật và thực vật Đây là nguồn sống chủ yếucủa hơn 30.000 dân cư ven phá, và hiện nay Phá Tam Giang đang trở thànhmột trong những vùng kinh tế trọng điểm, phát triển sôi nổi của Tỉnh ThừaThiên Huế
Tài nguyên đầm phá là vô cùng phong phú, nhưng với quan điểm củangư dân là “điền tư ngư chung” nên ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên này củangười dân còn hạn chế, dẫn đến việc khai thác quá mức, làm cho tài nguyênnguồn tài nguyên đầm phá ngày càng suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến kếsinh nhai lâu dài của cộng đồng ngư dân ven phá
Sự suy giảm tài nguyên này trước hết là do áp lực dân số lên tài nguyênngày càng lớn, cùng với việc khai thác sử dụng thiếu phương pháp, thiếu quyhoạch Các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản diễn ra ồ ạt, thiếu quy hoạch, gâydịch bệnh, ô nhiễm môi trường Sự phát triển quá mức số lượng các ngư cụ cốđịnh mà chủ yếu là Nò sáo và Đáy, gây cản trở dòng chảy, thu hẹp ngư trườngkhai thác tự nhiên, sự di chuyển của nguồn lợi thuỷ sản Bên cạnh đó, khaithác tự nhiên với những loại ngư cụ mang tính huỷ diệt cao như rà điện, xiếcđiện, cào lươn….đang huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản và môi trường của hệ đầmphá
Trước thực trạng đó thì phương thức quản lý tập trung của Nhà Nước,thông qua các đơn vị hành chính như xã, thôn và đội, tỏ ra không có hiệu quả
Và để khắc phục vấn đề đó thì uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, đã đưa
ra quy định quan trọng nằm trong chính sách quản lý khai thác thuỷ sản đầm
Trang 8nhằm giảm nhẹ chi phí quản lý cho nhà nước, phát huy tính dân chủ cơ sở ởcác tổ chức ngư dân trong việc tự quản lý ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản, môitrường thuỷ sinh và các lĩnh vực liên quan Tổ chức ngư dân các cấp (chi hộinghề cá cơ sở), được tập hợp trong hệ thống nghề cá Thừa Thiên Huế là đốitác chính của chính quyền các cấp, phối hợp và quản lý khai thác thuỷ sảntrên đầm phá Thừa Thiên Huế.
Với phương thức quản lý mới này thì người dân, những người sử dụngtài nguyên, là những người trực tiếp quản lý tài nguyên đầm phá, thông qua tổchức của họ là chi hội Nghề cá cơ sở Nếu quản lý không tốt, tài nguyên suygiảm thì người dân địa phương là người bị ảnh hưởng trực tiếp và trước hếtđến đời sống của chính họ Từ đó sẽ nâng cao được ý thức khai thác và bảo vệtài nguyên của ngư dân
Do đó chúng tôi thực hiện đề tài “Hoạt động quản lý tài nguyên của
chi hội nghề cá vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Thừa thiên Huề”.
Đề tài được thực hiện tại hai xã Vinh Giang của huyện Phú Lộc và xã VinhPhú của huyện Phú Vang Đây là hai xã ven phá trong những năm qua, chi hộinghề cá cơ sở là chi hội nghề cá Giang Xuân của xã Vinh Giang và chi hộinghề cá Đội 16 Vinh Phú của xã Vinh Phú, đã được thành lập và đi vào hoạtđộng, đóng vai trò là đối tác chính trong công tác quản lý tài nguyên tại địabàn hai xã
1.2 Mục tiêu của đề tài.
- Tìm hiểu hoạt động quản lý tài nguyên của chi hội nghề cá cơ sở tạihai xã Vinh Giang của huyện Phú Lộc và xã Vinh Phú của huyện Phú Vang
- Đánh giá kết quả hoạt động quản lý của chi hội nghề cá đối với tàinguyên đầm phá, và cải thiện sinh kế của ngư dân
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Thực trạng quản lý tài nguyên đầm phá.
2.1.1 Các thay đổi trong hoạt động quản lý tài nguyên đầm phá.
Ở nước ta việc quản lý tài nguyên mặt nước, đặc biệt là tài nguyên đầmphá chủ yếu do Nhà Nước giữ vai trò trung tâm, bên cạnh đó là hoạt độngquản lý của cộng đồng thông qua hương ước, quy ước truyền thống Các cơquan Nhà Nước thường cho rằng các cộng đồng ngư dân khó có thể tự quản
lý nguồn lợi thuỷ sản để đảm bảo nhu cầu của họ và do vậy Nhà Nước phảinâng cao trách nhiệm, vai trò trong quản lý các nguồn tài nguyên này(Pomeroy, 1994 và Ahmed, et al 2004 )
Trên thực tế hoạt động quản lý tập trung của Nhà Nước tỏ ra không cóhiệu quả Bởi với cơ chế quản lý tập trung Nhà Nước chưa có cơ chế quản lý
rõ ràng, các luật, quy định trong tiếp cận sử dụng mặt nước hiện tại chưa đủmạnh để quản lý tốt Ở hầu hết các cộng đồng hưởng lợi từ những tài nguyênnày ở những mức độ nhất định đã hình thành những cơ chế riêng của họ Cáchình thức quản lý rất đa dạng thể hiện qua hương ước quy định của cộngđồng, những quy định, hương ước này hình thành dựa trên tập tục, văn hoá,của cộng đồng Chẳng hạn các quy định về vị trí đặt Nò sáo, Đáy hoặc phânvùng mặt nước lấy rau câu…ở phá Tam Giang chủ yếu do các ngư dân sốnggần phá tự quy định với nhau Tuy nhiên, những hình thức quản lý này chỉnhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng mặt nước, hạn chế xung đột xảy ragiữa những người hưởng lợi và thường không đủ hiệu lực để quản lý vấn đềkhai thác quá mức tài nguyên [9]
Các hình thức quản lý của cộng đồng có thể thông qua các tổ chức cộngđồng tuỳ theo từng giai đọan khác nhau như Vạn, hợp tác xã, tập đoàn ngưnghiệp Vạn chài đã thành công trong hỗ trợ nhà nước Phong kiến, chínhquyền thuộc Pháp và Chính quyền Sài Gòn cũ (thu thuế): các dẫn liệu lịch sửcho thấy, về khía cạnh quản lý thủy sản, nhà nước phong kiến đã rất khônkhéo trong sử dụng Vạn chài, đã biết lợi dụng “Vạn chài” như là một hạt nhân
để quản lý - thậm chí có lúc công nhận như là một đơn vị hành chính cơ sở
Trang 10như việc thành lập tổng “Võng Nhi” dưới thời vua Tự Đức (1848 - 1883) baogồm 13 làng - vạn, hoàn toàn không có đất (Nguyễn Quang Trung Tiến,1995) Thông qua Vạn chài, nhà nước phong kiến đã thành công trong việcquản lý ngư dân, thu thuế, tự thỏa hiệp đánh bắt, giải quyết mâu thuẫn v.v vớichi phí thấp và linh hoạt.
Vào thời kỳ tập thể hoá, các khu vực đầm phá được giao cho hợp tác xãquản lý Hằng năm các đội hay hợp tác xã ngư nghiệp, theo hướng dẫn củachính quyền địa phương sắp xếp lại vị trí Nò sáo…( Trương Văn Tuyển,1998)
2.1.2 Quản lý tài nguyên đầm phá trước khi chi hội Nghề cá.
Trước khi có chi hội Nghề cá, hoạt động quản lý tài nguyên đầm phá có
sự thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 1999, trong thời kỳ phong kiến triềuđình giao cho các Vạn chài quản lý những thủy vực, dựa trên các đơn vị nghềnghiệp và xác nhận quyền sử dụng tài nguyên thu thuế Vạn chài quản lý trêncác lĩnh vực: quản lý ngư dân (hành vi, ứng xử), quản lý sản xuất, quản lýcộng đồng và quản lý nguồn lợi thủy sản
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 2005, chính quyền thuộc địa Phápcũng như chế độ miền nam (Mỹ - Ngụy) trước năm 1975 hầu như bảo lưuphương cách quản lý mặt nước đầm phá Thừa Thiên Huế từ thời phong kiếndựa vào các vạn chài.[3]
Thời kỳ tập thể hóa (1975 – 1989) phong trào tập thể hóa toàn quốc lúcnày được thực thi trên đầm phá Ngư dân được tổ chức thành đội hoặc tậpđoàn ngư nghiệp (tương đương với hợp tác xã nông nghiệp) Các khu vựcđầm phá được giao cho các hợp tác xã quản lý
Thời kỳ từ năm 1989 đến nay tài nguyên đầm phá do Nhà Nước quản
lý thông qua các đơn vị hành chính như thôn, đội
Có thể lấy ví dụ minh họa về hoạt động quản lý tài nguyên đầm phátrước khi có chi hội Nghề cá tại hai xã Vinh Giang và Vinh Phú
Thời kỳ trước 1975, những năm chưa giải phóng, hình thức quản lý tàinguyên đầm phá ở hai cộng đồng này tổ chức Vạn Tổ chức Vạn là tập hợpnhững thành viên làm ngư nghiêp Hình thức quản lý: Bao gồm trưởng vạn,
Trang 11phó vạn họ là những người đứng đầu, điều hành các công việc của Vạn, đượccác thành viên trong Vạn bầu lên một cách dân chủ Trưởng vạn và phó vạn lànhững người cũng làm nghề ngư có kinh nghiệm đánh bắt, còn khỏe mạnh,phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín đối với người dân Với những chức vụ này,
họ đảm nhiệm trong vòng 3 - 4 năm, sau đó thì có thể bầu ra một người quản
lý mới, nếu như làm tốt, được người dân tin tưởng, giao phó thì có thể đượcngười dân bầu lại, tiếp tục nhiệm kỳ mới Họ có quyền đưa ra các quy địnhthưởng phạt, và mức thuế cho ngành nghề của thành viên trong tổ chức Vạn.Ngoài ra họ còn chịu trách nhiệm với mọi thành viên trong Vạn, đó là giảiquyết các mâu thuẫn cơ bản, điều hành các công việc của Vạn Luật của tổchức Vạn: Luật nghiêm cấm gian lận, trộm cắp giữa các thành viên Vạn vớinhau Quy định giờ giấc để đi làm: thường các thành viên trong Vạn được làmnghề từ 4 giờ chiều đến 4 giờ sáng hôm sau Quy định khu vực đánh bắt củacác nghề cố định như Nò sáo, Đáy và những hộ gia đình làm nghề lưu độngkhông được đánh bắt ở khu vực của các gia đình làm nghề Nò Sáo Ngoài ra,ông trưởng Vạn và phó Vạn còn đứng ra tiến hành tổ chức, thu phí đóng gópcho lễ cúng Cầu Ngư diễn ra hàng năm Công việc của hai ông là chuẩn bị lễvật, dâng hương cúng vái các vị thánh Phạm vi quản lý: quản lý toàn bộ khuvực mặt nước đầm phá của xã, phân chia diện tích và tổ chức đấu thầu chonhững hộ gia đình nào có nhu cầu làm nghề Nò Sáo
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, hình thức quản lý Vạn bị tan rã,sau một thời gian dài thì được sự chỉ đạo UBND xã thành lập ra Đội ở VinhPhú Đội hiện nay có ba tổ, mỗi tổ ứng với một thôn của xã Mỗi tổ có một tổtrưởng và tổ phó Những người đó được nhân dân tín nhiệm và bầu ra Hìnhthức quản lý: được sự chỉ đạo của UBND xã bầu ra gồm có trưởng đội, phóđội và thư ký… quản lý các hộ gia đình làm ngư nghiệp Luật quản lý: luậtcủa đội do UBND xã đưa ra và truyền về cho trưởng đội và trưởng đội cónhiệm vụ thông báo, bắt buộc các thành viên trong đội phải chấp hành nghiêmtúc Mỗi hộ gia đình phải đóng thuế môn bài, một năm đóng 150 nghìn đồng
và được chia làm hai kỳ để đóng Ông đội trưởng là người đi thu thuế và đónggóp lên cho xã Những ai không nộp thuế thì bị thu nốt (đò), thu lưới vàkhông cho làm nghề Khu vực đánh bắt được phân chia cho từng hộ gia đình
Trang 12(chủ yếu là các hộ làm nghề Nò Sáo) không một ai có quyền lấn chiếm Đưa
ra các hình thức xử phạt như sau: khi vi phạm lần 1 thì bị cảnh cáo, lần 2 đemvào UBND xã để giải quyết
Còn ở Vinh Giang, giai đoạn này được chia thành nhiều giai đoạn nhỏ,thời gian từ 1975 đến 1979 sau khi tổ chức Vạn tan rã, hình thành nên tổ tựquản để đảm nhiệm việc quản lý các hoạt động trên đầm phá Trong tổ tự quản cóban tự quản chịu trách nhiệm thu thuế, giải quyết các tranh chấp cơ bản trên đầmphá Thời gian 1979 – 1995 cộng đồng ngư nghiệp gia nhập hợp tác xã nôngnghiệp, thuộc đội 10 và sản xuất theo chế độ chấm công của hợp tác xã Thời gian
1995 – 2007 hoạt động quản lý tài nguyên đầm phá được giao lại cho thôn và thônchụi trách nhiệm thu thuế khai thác, tuần tra bảo vệ tài nguyên, xử lý các tranhchấp…
2.1.3 Quản lý tài nguyên đầm phá dựa vào dân.
Hoạt động quản lý tài nguyên dựa vào dân ở đầm phá TGCH bao gồmcác hoạt động sau: [10]
- Phân vùng quy hoạch quản lý nguồn lợi đầm phá (Quyết định của UBND tỉnh số 3677/QD-UB ngày 25/10/2004)
* Phân vùng quy hoạch tổng thể toàn hệ đầm phá
Quy hoạch tổng thể chia vùng đầm phá cho khai thác thủy sản thành 3khu vực: Vùng nhạy cảm đặc biệt, vùng nhạy cảm, và vùng bình thường.Vùng nhạy cảm là vùng có bãi giống bãi đẻ của các loài thủy sản, vùng cỏbiển, vùng chim nước, và vùng có cây ngập mặn Việc phân vùng quy hoạchnày cụ thể hóa thời hạn cấp phép khai thác thủy sản ở các vùng, đồng thờingăn chặn việc giao quyền sử dụng đất “lấn phá” đối với các khu đất ven phá
có thể làm cạn và cản trở dòng chảy ở đầm phá
* Phân vùng quy hoạch ở các địa phương (Huyện và Xã)
Phân vùng quy hoạch sử dụng đầm phá cũng đã được thực hiện ở tất cảcác địa phương (5 Huyện và 33 Xã, Thị trấn) Quy hoạch cấp huyện chủ yếu
là ban hành các chỉ tiêu và hướng dẫn phân vùng cho các xã dựa vào diện tíchmặt nước đầm phá theo lãnh thổ, hiện trạng sử dụng mặt nước và chính sáchcủa tỉnh Các xã dựa vào chí tiêu và hướng dẫn của huyện đã tiến hành thực
Trang 13hiện phân vùng mặt nước đầm phá của xã cho các mục tiêu sử dụng và quản
lý
*Phân vùng quy hoạch chi tiết trong các tiểu vùng đầm phá
Quy hoạch chi tiết trong các tiểu vùng mặt nước đầm phá do UBND xãchỉ đạo và hỗ trợ pháp lý Thôn và các nhóm hộ sử dụng nguồn lợi (nhómnuôi trồng, nhóm nò sáo…) trực tiếp thực hiện quy hoạch dựa vào hiện trạng
và đồng thuận giữa các thành viên nhóm
- Quản lý chủng loại, số lượng và mắt lưới ngư cụ.
Quy định về chủng loại và số lượng ngư cụ không chỉ được thực hiệntrong quy hoạch tổng thể mà còn được UBND tỉnh và huyện ban hành qua cácthời điểm khác nhau Quy định về chủng loại và số lượng ngư cụ cố định đanghướng tới mục tiêu giảm quy mô và cường độ khai thác thủy sản, giải quyết vấn
đề khai thác quá mức Tại các thời điểm ban hành, UBND tỉnh ban hành các chỉtiêu điều chỉnh (giảm) chủng loại và số lượng ngư cụ cố định cho các huyện.Huyện dựa vào chỉ tiêu này để ban hành chỉ tiêu điều chỉnh số lượng và quy môngư cụ tại các xã Xã tổ chức thực hiện điều chỉnh số lượng và quy mô ngư cụthông qua việc sắp xếp lại khai thác do các nhóm đề xuất theo hướng chia sẻtrong cộng đồng
Tuy nhiên quy hoạch tổng thể cũng quy định các hoạt động thủy sảnquy mô nhỏ (bao gồm câu cá, chài, lưới bạc với chiều dài của lưới dưới 50m,chơm cá, bắt sò, cua, ốc bằng tay) và thủy sản giải trí (du lịch) không bị hạnchế trong quy định về quyền đánh bắt Có thể nói, việc kiểm soát (giảm)chủng loại và quy mô khai thác thủy sản bằng ngư cụ cố định chưa được quantâm đúng mức Vì vậy, khai thác di động vẫn là hoạt động tiếp cận mở
- Kiểm soát khai thác hủy diệt.
Hoạt động này có cơ quan chuyên trách là Chi cục Bảo vệ nguồn lợithủy sản Chi cục đề xuất UBND Tỉnh ban hành Quy chế bảo vệ nguồn lợithủy sản gồm: các hoạt động bị cấm, quy định mắt lưới, các quy định liênquan khác và quy định về các hoạt động tuần tra bảo vệ, bắt và xử lý các hộ viphạm Quy chế này đồng thời xem xét các vùng không được đánh bắt, hoặc bịcấm trong một thời gian Chi Cục Bảo vệ nguồn lợi tổ chức mạng lưới thanh
Trang 14tra chuyên ngành, tuần tra và xử lý vi phạm UBND huyện và xã tổ chức hoạtđộng tuần tra bảo vệ nguồn lợi định kỳ trong vùng lãnh thổ Các cộng đồng và
tổ chức ngư dân có vai trò giám sát và tổ chức tuần tra bảo vệ nguồn lợithường xuyên tại các tiểu vùng
- Xung đột và giải quyết xung đột.
Xung đột là vấn đề phổ biến và có thể xảy giữa ngư dân với nhau; giữangư dân và các nghề khác như NTTS và nông nghiệp Xung đột ngư dânthường phát sinh do (i) tranh chấp diện tích hoặc vùng đánh bắt, và (ii) nhiềungười dùng nhiều loại ngư cụ khác nhau (như nò sáo và lưới bén), nhưng chủyếu vẫn là giữa ngư dân dùng ngư cụ hợp pháp và ngư dân dùng ngư cụ bấthợp pháp và mang tính huỷ diệt Xung đột càng dễ xảy ra hơn giữa người trong
xã và người ngoài xã
Giải quyết xung đột được đề cập trong các quy định khác nhau Hầu hếtchức năng trực tiếp giải quyết xung đột do thôn, nhóm tự quản và chi hộinghề cá đảm nhận thông qua hòa giải và vận động UBND xã là cơ quan nhànước trực tiếp xử lý tranh chấp Xã ban hành các quy định pháp lý do cộngđồng xây dựng để giải quyết tranh chấp tại địa phương Các tranh chấp không
xử lý được theo phương thức hòa giải được chuyển đến các cấp có thẩmquyền giải quyết theo các luật dân sự hiện hành
2.2 Xây dựng tổ chức hội Nghề cá.
2.2.1 Phát triển hệ thống hội Nghề cá Thừa Thiên Huế.
Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế (HUEFIS) được thành lập năm 2003 là tổ
chức xã hội - nghề nghiệp tự nguyện của những cá nhân, tổ chức hoạt động
trong các lĩnh vực nghề cá HUEFIS là thành viên của Hội Nghề cá Việt Nam
(VINAFIS) có phạm vi hoạt động trên toàn quốc
Mục đích của Hội là tập hợp những cá nhân và tổ chức hoạt động trongcác lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ và hậu cần dịch vụ nghề
cá nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau về kinh tế - kỹ thuật sản xuất, kinh doanh, dịchvụ; để nâng cao giá trị sản phẩm hàng hoá; phòng tránh thiên tai, ngăn ngừadịch bệnh; bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ môi trường; đạidiện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của hội viên; góp phần phát triển nghề cá bền
Trang 15vững, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của người làm nghề cá và cộng đồng nghề cá [7]
Đến cuối năm 2009 HUEFIS đã phát triển được mạng lưới chi hội rộnglớn với 54 chi hội nghề cá cơ sở hoạt động tại cộng đồng thu hút khoảng4.500 hội viên là ngư dân và hộ sản xuất thủy sản Mạng lưới các chi hội nghề
cá vùng đầm phá TGCH được củng cố và phát triển đã giúp nâng cao hiệuquả quản lý tài nguyên, phát triển sản xuất và cải thiện sinh kế cho cộng đồng.Hội đã có vai trò quan trọng trong việc tăng cường sự phối hợp và hợp tácgiữa cộng đồng với các chương trình, dự án hoạt động trên địa bàn và cácphòng ban chức năng ở địa phương Kết quả nổi bật là việc thực hiện thànhcông mô hình đồng quản lý tài nguyên và vận động cấp quyền khai thác thuỷsản cho chi hội nghề cá cơ sở
Tổ chức ngư dân các cấp nằm trong hệ thống Hội nghề cá Việt Nam làđối tác chính để chính quyền phối hợp quản lý khai thác thuỷ sản nói riêng vàquản lý nghề cá nói chung trên đầm phá TTH Tổ chức hệ thống Nghề cá cơ
sở ở Thừa Thiên Huế có điểm khác với các hội Nghề cá các tỉnh bạn là đượccông nhận chính thức là loại hình tổ chức ngư dân được Nhà Nước sử dụng đểphát triển hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng thông qua văn phạmquy phạm pháp luật Trong quy chế quản lý đầm phá, chi hội Nghề cá cở sở
có thể được cấp quyền đánh cá trong một thủy vực nhất định, có thể coi đây là
“ thẻ đỏ - quyền sử dụng đất ” cho nghề cá Đây là động lực lớn để phát triểnhội Nghề cá vì ngư dân luôn mong muốn có quyền sử dụng lâu dài trong ngưtrường, được Nhà Nước chính thức công nhận bằng văn bản [1]
2.2.2 Cơ sở pháp lý
Hoạt động quản lý tài nguyên của chi hội nghề cá là một nội dung củaquản lý nghề cá dựa vào dân Thể chế quản lý nghề cá dựa vào dân được ghinhận đầu tiên tại quyết định số 3677/QĐ-UB ngày 25/10/2004 của UBNDtỉnh Thừa Thiên Huế, về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể quản lý khai thácthủy sản vùng đầm phá Thừa Thiên Huế đến năm 2010 Điểm 8 trong điều 1
quy định rõ: “Phát triển hệ thống Nghề cá dựa vào cộng đồng để giảm nhẹ
chi phí quản lý Nhà Nước, đồng thời phát huy tính dân chủ cơ sở ở các tổ chức ngư dân trong việc tự quản ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản, môi trường
Trang 16thuỷ sinh và các lĩnh vực liên quan như: giao thông thuỷ, phòng chống lụt bảo, cứu hộ cứu nạn… Tổ chức ngư dân các cấp nằm trong hệ thống Nghề cá Việt Nam là đối tác chính để chính quyền phối hợp quản lý khai thác thuỷ sản nói riêng và quản lý Nghề cá nói chung trên đầm phá Thừa Thiên Huế ” [5]
Sau đó, thể chế dựa vào dân để quản lý nghề cá được kiện toàn hơn tại
“ Quy chế quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế ”, ban hànhkèm theo quyết định số 4260/2005/QD-UB ngày 19/12/2005 của UBND tỉnhThừa Thiên Huế [6] Trong “Quy chế”, tổ chức ngư dân cấp cơ sở được chỉđịnh là tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cụ thể: “là chi hội Nghề cá thuộc hệthống Hội Nghề cá Việt Nam” (điều 4) Quy chế quy định cơ chế phân quyền
cho ngư dân: “Chi hội Nghề cá cấp cơ sở có thể được Nhà Nước uỷ quyền
quản lý nguồn lợi thuỷ sản trên một thuỷ vực nhất định Trên cơ sở đó, Chi hội Nghề cá tự chủ điều phối các hoạt động khai thác thuỷ sản của các thành viên một cách sang tạo, phù hợp, đảm bảo lợi ích hài hoà cho từng thành viên trong lợi ích chung của Tổ chức và toàn xã hội” (điều 5) Việc tái sắp xếp ngư trường cũng được chỉ rõ: “Chi hội Nghề cá có thể sắp xếp lại ngư trường một cách chủ động, sáng tạo trên cơ sở bảo lưu các khu vực đánh cá truyền thống của cá nhân, hộ gia đình thành viên, phù hợp với quy hoạch chung của Nhà Nước và hiệu quả của cộng đồng” (điều 6) Về giải quyết
mâu thuẫn nội bộ, Nhà Nước giao rõ trách nhiệm ban đầu: “Chi hội Nghề cá
cấp cơ sở có trách nhiệm hoà giải các tranh chấp về ngư trường, nguồn lợi giữa các cá nhân, hộ gia đình trong tổ chức mình Chỉ khi nào không thể hoà giải được mới đưa đến chính quyền giải quyết” (điều 8) Các quy định nội
bộ của cộng đồng như hương ước cũng được xem là nhiệm vụ của tổ chức ngư dân: “Nhà Nước khuyến khích Chi hội Nghề cá cấp cơ sở xây dựng
“quy chế tự quản” trên cơ sở pháp luật Nhà Nước, để cụ thể, chi tiết hoá các quy định của cộng đồng, nhằm bảo vệ ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản và một
số vấn đề có liên quan: môi trường vùng nước, giao thông thuỷ nội địa, quản
lý thuế khai thác thuỷ sản… ” ( điều 11).
Kế hoạch quản lý của Tỉnh Thừa Thiên Huế là giao vùng mặt nước chocác Chi hội Nghề cá cấp cơ sở khai thác, nuôi trồng trong thuỷ vực để cộngđồng chủ động cùng nhau quản lý “UBND Tỉnh uỷ quyền cho uỷ ban nhân
Trang 17dân các huyện có vùng đầm phá được cấp quyền khai thác thuỷ sản cho các
tổ chức ngư dân cấp thôn, xã, trong vùng mặt nước cụ thể thuộc địa bàn quản
lý trên cơ sở số lượng ngư cụ, mùa vụ và đối tượng đánh bắt”.( Điều 14 ).Quyền khai thác thuỷ sản trên vùng đầm phá cũng được chỉ rõ là bao gồm:
“Các quyền hạn và trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp
luật thuỷ sản, trách nhiệm bảo vệ ngư trường, phát triển nguồn lợi thuỷ sản, trách nhiệm bảo đảm luồng tuyến giao thông, trách nhiệm phòng chống suy thoái môi trường vùng nước và nghĩa vụ thuế cho Nhà Nước” (Điều14) Như
vậy, hầu như Chi hội Nghề cá cấp cơ sở đã được giao đầy đủ quyền hạn,cũng như quyền lợi sử dụng nguồn lợi để thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụcủa mình trong sử dụng và quản lý ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản đầm phá
Thừa Thiên Huế “Quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá là nghĩa vụ và trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ sản, của UBND các cấp và các cộng đồng sử dụng nguồn lợi thuỷ sản đầm phá Tổ chức ngư dân được giao sử dụng vùng mặt nước để khai thác thuỷ sản có trách nhiệm xây dựng
kế hoạch, thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, chủ động sản xuất tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.”( Điều 42 ) Một lần nữa, chính
quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã xem các cộng đồng sử dụng nguồn lợi mà đạidiện là các tổ chức ngư dân như đối tác của Nhà Nước trong quản lý Nghề cáđầm phá Thừa Thiên Huế
Và tiếp theo là hướng dẫn số 159/HD-STS ngày 6/4/2006 hướng dẫnthực hiện quy chế quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế quy
định “quyền khai thác thủy sản bao gồm số lượng, chủng loại ngư cụ, đối
tượng nuôi, từng loại hình nghề nghiệp Chi hội Nghề cá được cấp quyền khai thác thuỷ sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng để quản lý
và tự quản lý ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản, môi trường thuỷ sinh, luồng lạch giao thông nội vùng, đường thoát lũ và luồng di cư sinh sản của các loài thuỷ sản đầm phá… phát huy dân chủ cơ sở hơn nữa trong quản lý thuỷ sản ở địa phương” [2]
2.3 Lý thuyết về đồng quản lý Nghề cá.
Đồng quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều phương thức quản lý
có người sử dụng hay chủ tài nguyên tham gia vào quá trình quản lý [8]
Trang 18Theo Sen và Nielsen (1996) định nghĩa đồng quản lý là một sự sắp xếp có
sự chia sẻ về mặt sức mạnh cũng như quyền lực nhằm quản lý nguồn lợi thuỷsản giữa các nhóm người sử dụng nguồn lợi và chính quyền
Theo Pomeroy và Viswanathan (2003) thì các bên liên quan trong đồngquản lý bao gồm các tổ chức phi chính phủ, nhóm người sử dụng nguồn lợi vàchính quyền Đồng quản lý bao gồm quyền tham gia trong việc đưa ra cácquyết định quan trọng quy định cách thức, khi nào, ở đâu, bao nhiêu và đốitượng nào được phép khai thác
Các loại hình đồng quản lý [4]
Theo Sen và Nielsen, 1996 có các loại hình đồng quản lý sau:
Chỉ thị (Instructive): Ít chia sẻ thông tin giữa chính quyền và ngư dân.
Kiểu đồng quản lý theo tính chỉ thị (instructive) này có rất ít sự trao đổi thôngtin giữa Chính quyền và ngư dân Hình thức đồng quản lý này khác so vớihình thức quản lý tập trung ở điểm rằng ở đây nó có cơ chế đối thoại với ngưdân, nhưng cuối cùng Chính quyền vẫn quyết định những kế hoạch quản lý vàchỉ thông báo cho ngư dân về những kế hoạch quản lý này
Tư vấn (Consultative): Tham khảo ý kiến giữa các bên đối tác, tuy nhiên
Nhà Nước lại đưa ra quyết định cuối cùng Hình thức đồng quản lý tư vấn(consultative) đòi hỏi Chính quyền phải tư vấn một cách tích cực cho cộngđồng, tuy nhiên Chính quyền vẫn giữ trách nhiệm chính trong việc đưa ranhững quyết định cuối cùng
Hợp tác (Cooperative): Chính quyền và ngư dân hợp tác với nhau với tư
cách là những đối tác ngang nhau trong quá trình đưa ra quyết định Hìnhthức đồng quản lý hợp tác (cooperative): cả Chính quyền và người dân đều cósức mạnh ngang nhau trong quá trình đưa ra quyết định
Tham vấn (a dvisory ): Người dân tư vấn cho Chính quyền, và tìm kiếm sự
ủng hộ từ phía Chính quyền khi họ tự đưa ra quyết định của mình Đối vớihình thức tham vấn (advisory), ngư dân tham vấn cho Chính quyền trong việcđưa ra các quyết định Chính quyền lúc đó sẽ được yêu cầu đưa ra quyết định
Trao đổi thông tin (Informative): Chính quyền uỷ nhiệm thẩm quyền cho
các cộng đồng ngư dân đưa ra những quyết định, và cộng đồng ngư dân chịutrách nhiệm thông báo cho Chính quyền những quyết định này Hình thức trao
Trang 19đổi thông tin (informative) bao hàm Chính quyền uỷ nhiệm thẩm quyền chongư dân Trên thực tế, nó có thể không phải là một sự sắp xếp đồng quản lýchính thức nhưng nó là hình thức truyền thống của quản lý thuỷ sản được Nhànước công nhận Hình thức đồng quản lý trao đổi thông tin có thể là sự uỷnhiệm thẩm quyền chính thức hoặc là thừa nhận tập quán truyền thống cũngnhư quyền lực truyền thống
Theo Jentoft và cộng sự (1998) đã cụ thể hoá thêm khi giải thích: “Đồng
quản lý là quá trình phối hợp và hợp tác trong việc đưa ra các quyết định quản
lý giữa đại diện cả nhóm sử dụng nguồn lợi, Chính Phủ, tổ chức nghiên cứu Theo nghĩa ai là người ra quyết định có hai thái cực: quyền lực Nhà nước và quyền của ngư dân Hình thức quản lý trên – xuống, Nhà nuớc đưa ra những quyết định đơn độc còn người dân thụ động thực hiện Ngược lại, đồng quản lý tạo cho người sử dụng nguồn lợi có quyền hành, tổ chức và thực hiện hệ thống quản lý của riêng họ”.
Trong Hội thảo của Uỷ Hội Nghề cá châu Á - Thái Bình Dương cũng
thống nhất rằng: “Đồng quản lý nghề cá có thể được hiểu là phương pháp
tham gia, nơi mà Chính Phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẽ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý Nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác”.
Trang 20PHẦN 3 NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu hoạt động quản lý tài nguyên của chi hội Nghề cá cơ sở.Nghiên cứu đối tượng quản lý: tài nguyên đầm phá, đời sống kinh tế xã hộicủa cộng đồng, hộ hội viên chi hội
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Nội dung: Trọng tâm nghiên cứu là tìm hiểu hoạt động quản lý chi hộiNghề cá cơ sở và tác động của hoạt động quản lý đến tài nguyên đầm phá vàsinh kế của hộ hội viên
Không gian: Nghiên cứu chi hội Nghề cá cơ sở vùng đầm phá TamGiang – Cầu Hai - Thừa Thiên Huế
Thời gian : Tìm hiểu thông tin từ năm 2007- 2009
3.3 Nội dung nghiên cứu.
* Đặc điểm tài nguyên đầm phá và đặc điểm kinh tế xã hội của hai cộng đồngngư của hai xã Vinh Giang và xã Vinh Phú
- Đặc điểm vùng đầm phá Vinh Giang, Vinh Phú.
- Đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng ngư Vinh Giang, Vinh Phú
* Hoạt động quản lý chi hội nghề cá Giang Xuân của xã Vinh Giang và Đội
16 Vinh Phú của xã Vinh Phú
- Công tác quản lý đầm phá trước khi có chi hội Nghề cá
+ Cơ quan quản lý, các hoạt động quản lý
+ Kết quả của hoạt động quản lý
- Hoạt động quản lý của chi hội Nghề cá.
+ Mục tiêu của quản lý
+ Nội dung điều lệ, quy chế quản lý của chi hội
+ Nội dung hoạt động quản lý của chi hội
- Chỉ tiêu
- Hộ nuôi trồng thuỷ sản qua 3 năm 2007– 2009
+ Số hộ nuôi chuyên tôm
+ Số hộ nuôi xen ghép
Trang 21+ Số hộ nuôi cá lồng.
+ Diện tích nuôi trên hộ (ha/ hộ), số lồng trên hộ ( lồng/ hộ )
+ Kết quả nuôi: số hộ lãi, số hộ hoà vốn, số hộ lỗ
- Hộ đánh bắt, khai thác tự nhiên
+ Số hộ tham gia trong từng hoạt động khai thác: Nò sáo, Lừ, Lưới,Chuôm…
+ Sản lượng khai thác (kg/hộ/ngày)
+ Thu nhập từ hoạt động khai thác (đồng/ngày/hộ)
+ Số ngày khai thác (ngày/năm)
* Đánh giá của hội viên về hoạt động quản lý của chi hội.
- Tình hình nhận thức của hội viên về quy chế, điều lệ của chi hội.+ Số hộ nắm rõ (tỷ lệ)
+ Số hộ không rõ (tỷ lệ)
- Tình hình thực hiện quy chế của hội viên
+ Số hộ thực hiện đúng (tỷ lệ)
+ Số hộ vi phạm (tỷ lệ)
- Đánh giá của hội viên về hoạt động của chi hội
Tiêu chí: Các hoạt động của chi hội
+ Tuần tra
+ Ra quy chế, điều lệ
+ Hổ trợ cho vay vốn
+ Quy hoạch vùng khai thác, nuôi trồng
+ Vận động ngư dân chuyển đổi nghề
+ Giúp đỡ hộ khó khăn
+ Hổ trợ chuyển đổi nghề
+ Cho hội viên vay vốn
* Kết quả của hoạt động quản lý.
- Tình hình phát triển hội viên qua các năm 2007- 2009 : Số hội viênqua các năm
- Tình hình thực hiện quy chế qua các năm
Tiêu chí: Số hộ vi phạm về:
+ Ngư cụ huỷ diệt
Trang 22+ Quy định về kích cỡ mắt lưới.
+ Quy định về số lượng ngư cụ
+ Khu vực khai thác, thời gian khai thác
- Tình hình nuôi trồng thuỷ sản, khai thác tự nhiên qua các năm:
+ Hoạt động đánh bắt, khai thác tự nhiên
Sự thay đổi về : số hộ khai thác, số lượng ngư cụ, loại ngư cụ, SLKT.+ Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
Sự thay đổi về: số hộ nuôi, đối tượng nuôi, hình thức nuôi, diện tíchnuôi, số lồng, SLNT, kết quả nuôi (số hộ lỗ, lãi, hoà vốn)
* Cơ cấu thu nhập, chi tiêu của hộ.
- Các nguồn thu, tỷ lệ các nguồn thu nhập qua các năm 2007, 2008,2009
- Cơ cấu chi tiêu, tích luỹ hộ năm 2008, 2009
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu nghiên cứu.
* Chọn điểm.
Nghiên cứu được thực hiện tại : Thôn Nghi xuân, xã Vinh Giang,huyện Phú Lộc và Đội 16, xã Vinh Phú, huyện Phú Vang Thôn và đội đượcchọn nơi có chi hội Nghề cá cơ sở
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin.
- Thu thập thông tin thứ cấp
+ Tình hình kinh tế xã hội của địa bàn
+ Hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác tự nhiên trên đầm phá.+ Tài liệu về thành lập chi hội
+ Báo cáo hoạt động của chi hội qua các năm 2007 – 2009
- Phỏng vấn người am hiểu tại địa phương.
Trang 23+ Đối tượng: Cán bộ khuyến ngư xã, trưởng thôn, chủ tịch chi hội Nghề
cá, thành viên ban chấp hành chi hội Và chọn 6 người để phỏng vấn Nhằmmục đích hiểu rõ tình hình của địa phương và chi hội và để có thể kiểm trađược thông tin
+ Loại thông tin
* Thông tin chung về thôn ( xã )
* Cơ chế quản lý tài nguyên đầm phá của chi hội
* Hoạt động quản lý của chi hội
* Kết quả, tác động của hoạt động quản lý đến tài nguyên thủy sản,sinh kế của hộ
- Phỏng vấn hộ
+ Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu khảo sát với bảng hỏi báncấu trúc Kết hợp với phương pháp quan sát, dòng thời gian nhằm mục đíchhiểu rõ hơn quá trình khai thác và quản lý tài nguyên của cộng đồng ven phátrước đây (trước khi có hoạt động quản lý của chi hội Nghề cá)
+ Nội dung chính
Các hoạt động sinh kế, thu nhập hộ
Sự thay đổi trong hoạt động tạo thu nhập của hộ
Đánh giá của hộ về hoạt động quản lý tài nguyên củachi hội nghề cá
Hiệu quả hoạt động quản lý của chi hội đối vớinguồn tài nguyên, thu nhập của hộ
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu.
Số liệu thu thập được xử lý, phân tích bởi phương pháp thống kê thôngthường qua phần mềm Excel
Trang 24PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu.
4.1.1 Thông tin chung về cộng đồng ngư nghiệp tại vùng nghiên cứu.
Nghiên cứu thực hiện tại Vinh Giang và Vinh Phú, đây là hai xã nằmven hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Vinh Giang là một xã ngư nghiệp thuộc huyện Phú lộc bao gồm 4 thôn
là Nghi Xuân, Nghi Giang, Nam Trường và Đơn chế, trong đó Nghi Xuân làthôn có số hộ tham gia hoạt động sản xuất thủy sản nhiều nhất và trên địa bànthôn có chi hội Nghề cá Giang Xuân
Còn Vinh Phú là một xã vùng cát nằm ở phía đông của huyện PhúVang Trên đại bàn xã có 6 thôn và 1 đội Đội 16 là đội chuyên làm ngưnghiệp của xã, địa bàn của đội trải dài chủ yếu trên 3 thôn Trừng Hà, Hà Bắc,Nghĩa Lập Và chi hội Nghề cá Đội 16 Vinh Phú nằm trên địa bàn của đội
Bảng 1: Tình hình kinh tế xã hội của 2 cộng đồng ngư Nghi Xuân và Đội 16.
Chỉ tiêu ĐVT Nghi Xuân xã Vinh Giang Vinh Phú Đội 16 xã
Nguồn: Khảo sát thực tế, 2010.
Trang 25Nghi Xuân và Đội 16 Vinh Phú là hai cộng đồng ngư nghiệp mà sinh
kế của người dân gắn chặt với tài nguyên đầm phá Hai cộng đồng này mangnhững nét đặc trưng của các thôn làng ven phá Tam Giang như có số hộ ngưnghiệp lớn, tỷ lệ gia tăng dân số nhanh, cấu trúc dân số trẻ, có nguồn lao độngdồi dào…
Đặc điểm về kinh tế xã hội của hai cộng đồng ngư Nghi Xuân xã VinhGiang và Đội 16 xã Vinh Phú thể hiện ở bảng trên
Đội 16 là một cộng đồng thuần ngư với tổng số là 91 hộ thì tất cả đềulàm ngư nghiệp, vì đây là cộng đồng dân thủy diện lên định cư của xã VinhPhú, cộng đồng nằm rãi rác trên các thôn Trừng Hà, Hà Bắc, Nghĩa Lập…nhưng các hộ này đều nằm dưới sự quản lý của Đội 16 Sau khi lên định cư vớiviệc đầm phá nằm ngay sau lưng nhà của họ, chính điều này không gây ảnhhưởng lớn đến hoạt động sản xuất của họ Toàn thôn có 591 khẩu, trung bình6,49 khẩu/hộ, trong những năm gần đây tỷ lệ tăng dân số có giảm so với vớitrước Toàn thôn có 382 người trong độ tuổi lao động, chiếm 65% số khẩu củatoàn đội Nguồn lao động ở đây trẻ và tương đối dồi dào với 3,09 lao động/hộ.Đặc biệt ở đây có một bộ phận chưa đến tuổi lao động nhưng đã tham gia tạonguồn thu nhập cho gia đình, chủ yếu là di cư đến các thành phố làm ngườigiúp việc hoặc trông em cho các gia đình Khác với Đội 16, Nghi Xuân làmột thôn Nông – Ngư, với đặc điểm vừa có mặt nước đầm phá vừa có ruộng
ô đầm, nên bên cạnh những hộ ngư nghiệp sống chủ yếu dựa vào mặt nướcđầm phá, là các hộ nông nghiệp, giữa các nhóm hộ nông và ngư thì có sự qualại, hộ nông nghiệp ngoài sản xuất nông nghiệp là chính như lúa, rau, đậu…
họ còn tham gia vào nuôi trồng thuỷ sản và khai thác tự nhiên trên đầm phá.Theo phân loại của thôn dựa trên hoạt động sản xuất chính toàn thôn có 193
hộ, trong đó hộ nông nghiệp là 10 hộ, hộ ngư nghiệp là 163 hộ, và nhóm hộkhác (buôn bán, mộc, nề, hộ già cả, neo đơn…) là 20 hộ Ở đây hộ ngưnghiệp vẫn chiếm tỷ lệ tuyệt đối 163/193 hộ, đời sống của người dân vẫn phụthuộc nhiều vào đầm phá, và đó là chổ dựa sinh kế của phần lớn người dân ởđây Với tổng số khẩu của thôn là 895 khẩu, bình quân 4,63 khẩu/ hộ, đókhông phải là con số quá cao so với các thôn khác, người dân đã nhận thứcđược vấn đề của việc đông con, thiếu điều kiện để chăm sóc con cái, cho con
Trang 26cái học hành đến nơi đến chốn, nên tỷ lệ gia tăng dân số của thôn giảm mạnh.Tổng số lao động của thôn là 486 lao động, trung bình 2,52 lao động/ hộ.
Nhìn chung ở hai cộng đồng đều có cấu trúc dân số trẻ, với lao độngtương đối dồi dào sẽ đáp ứng yêu cầu đặc thù nghề nghiệp trên đầm phá.Theo tiêu chí phân loại hộ theo kinh tế xã hội, với chuẩn mới hiện nay là:
hộ khá trên 260 nghìn đồng/người/tháng, hộ trung bình trên 200 nghìn đồngdưới 260 nghìn đồng/ tháng/người/tháng, hộ nghèo dưới 200 nghìnđồng/tháng/người Với tiêu chí đó tỷ lệ các nhóm hộ ở thôn Nghi Xuân vàĐội 16 của năm 2009 như sau Tỷ lệ hộ khá tương đối cao ở thôn Nghi Xuânvới 154 hộ, ở Đội 16 tỷ lệ này ở mức khá với 55 hộ Tỷ lệ hộ nghèo ở hai thôncòn tương đối cao, đặc biệt ở Đội 16 với 16 hộ nghèo, mặc dù trong theo nhưphỏng vấn cán bộ Đội 16 cho biết, trong những năm gần đây tỷ lệ hộ nghèo
đã giảm nhiều, trước đây có khi lên tới trên 30 hộ Còn ở Nghi Xuân tỷ lệ hộchỉ là 27 và theo phỏng vấn cán bộ thôn thì số hộ nghèo hiện tại của thôn chủyếu là hộ già cả, neo đơn không có khả năng lao động
Với hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản Ở cộng đồng ngư Nghi Xuânhoạt động nuôi trồng thuỷ sản có hai hình thức là nuôi chuyên tôm và nuôixen ghép Nuôi xen ghép với đối tượng nuôi chủ yếu là tôm, cua, cá dìa, cákình, với số hộ tham gia là 56 hộ Nuôi chuyên tôm có 32 hộ tham gia Cònvới cộng đồng ngư đội 16 của Vinh Phú, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sựphong phú hơn với nhiều hình thức bao gồm nuôi chuyên tôm, nuôi xen ghép,nuôi cá lồng Với 25 hộ tham gia nuôi ao và 9 hộ nuôi cá lồng
Hoạt động đánh bắt khai thác tự nhiên rất phong phú dựa trên điều kiệnthuận lợi là diện tích mặt nước tương đối lớn, thôn Nghi Xuân là 88 ha, và Đội
16 là 250 ha Thôn Nghi Xuân có bốn nghề khai thác chủ yếu là Sáo, Lưới, Lừ,
và Chuôm, với 157 hộ tham gia Theo như phỏng vấn cán bộ thôn Nghi Xuân thì
tỷ lệ hộ tham gia vào nghề Lừ cao nhất với 100 hộ tham gia và Sáo với 79 hộtham gia
“… Lừ không đòi hỏi diện tích mặt nước lớn như các ngư cụ cố định,
có thể đặt ngay trên các luồng lạch giao thông, sản lượng khai thác nhiều”
Phỏng vấn cán bộ thôn Nghi Xuân.Còn ở Đội 16 có 91 hộ tham gia khai thác với 6 nghề bao gồm Chuôm,Lưới, Lừ, Sáo, Đáy Khác với Nghi Xuân, Đội 16 có nghề Đáy, Rớ giàn, đây
Trang 27là những nghề truyền thống tại địa phương và đặc biệt là Đáy, có tỷ lệ hộtham gia tương đối đông với 33 hộ Nghề có nhiều hộ tham gia nhất là Lướivới 80 hộ, và Lừ là 60 hộ tham gia Ngược lại Sáo, Rớ Giàn chỉ có 3 hộ thamgia trong mỗi nghề Sở dĩ nghề Lưới và nghề Lừ có nhiều hộ tham gia là dođây là những nghề khai thác di động nên không còn hỏi về diện tích mặt nướckhai thác như các nghề cố định Sáo, Đáy…., bên cạnh đó, mức đầu tư tươngđối thấp.
“… Với nghề Lưới chỉ cần khoảng 2,0 triệu – 3,0 triệu đồng là đã làm
được rồi nhưng với cái nghề Đáy nếu sắm mới phải đầu tư lên tới 8,0 10,0 triệu đồng, rứa thì làm răng có tiền để bỏ ra mà làm”.
triệu-Phỏng vấn hộ xã Vinh PhúChi hội Nghề cá Giang Xuân và Đội 16 Vinh Phú nằm trên địa bàn củahai cộng đồng ngư Nghi Xuân và Đội 16 Với chi hội Nghề cá xã Vinh giang
có 126 thành viên, chi hội xã Vinh Phú có 71 thành viên Tất cả hội viên củahai chi hội đều là ngư dân tại cộng đồng này
4.1.2 Đặc điểm của hộ sản xuất thủy sản tại vùng nghiên cứu.
Cũng như các cộng đồng ven phá khác, hoạt động sản xuất thuỷ sản làhoạt động sinh kế chính của hộ tại cộng đồng Nghi Xuân và Đội 16 Hoạtđộng sản xuất thủy sản bao gồm nuôi trồng thủy sản và khai thác đánh bắt tựnhiên
Bảng 2: Đặc điểm của hộ sản xuất thủy sản
Trang 28Các hộ ở đây vừa có hộ chuyên nuôi trồng thuỷ sản, có hộ chuyên khai thác đánh bắt tự nhiên, cũng có hộ cả nuôi trồng và khai thác tự nhiên Theo kết quả khảo sát hộ chuyên nuôi trồng là 2 hộ, hộ chuyên khai thác là 17 hộ chuyên khai thác, 41 hộ vừa nuôi trồng vừa khai thác.
Theo kết quả khảo sát tại hai cộng đồng Đội 16 xã Vinh Phú và thônNghi Xuân xã Vinh Giang, trình độ văn hoá của những người được phỏng vấntương đối thấp, trình độ văn hoá trung bình ở Vinh Giang là 5,7 trong khi ởVinh Phú chỉ là 3,3 lớp Đây là điều dễ nhận thấy ở nhiều thôn ven phá TamGiang không riêng gì ở Vinh Giang và Vinh Phú Nguyên nhân là do:
- Một bộ phận dân trước đây sống thuỷ diện, phải di chuyển chổ ở liêntục nên điều kiện để học hành không có đặc biệt ở Vinh Phú có những hộ mớilên định cư 1 đến 2 năm trở lại đây
- Một nguyên nhân khác là do điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên thiếuđiều kiện để học hành
Việc hạn chế về trình độ văn hoá dẫn đến thiếu hiểu biết, thiếu các kiếnthức xã hội… đó là một khó khăn gây cản trở lớn cho hộ dân trong việc tiếpcận và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đã ảnhhưởng lớn đến hiệu quả của các hoạt động kinh tế Sự hạn chế về hiểu biết,nhận thức là nguyên nhân của việc đông con dẫn đến luẩn quẩn trong vòngcủa nghèo đói
Về nhân khẩu - lao động của nhóm khảo sát: trung bình nhân khẩu trên
hộ ở Vinh Phú là 6,1 khẩu/hộ trong khi ở Vinh Giang thấp hơn 5,6 khẩu/hộ.Trung bình lao động trên hộ là 3,3 lao động/ hộ ở Vinh Phú và 3,1 lao động/
hộ đối với Vinh Giang Trung bình lao động ngư nghiệp trên hộ là 2,3 laođộng/ hộ ở cả hai địa bàn, với bình quân lao động trên hộ như vậy có thể đápứng được yêu cầu của ngành nghề
Hoạt động khai thác đánh bắt tự nhiên ở hai cộng đồng cũng có sự khácnhau Ở Nghi Xuân xã Vinh Giang, trung bình có 2,2 loại ngư cụ/hộ tức làtrung bình mỗi hộ làm 2,2 nghề Ở Vinh Phú có sự đa dạng hơn với 2,5 ngưcụ/hộ Điều này chứng tỏ trong hoạt động khai thác tự nhiên các hộ ở VinhPhú có sự đa dạng về nghề hơn