Cũng từ những lí do đó, để góp phần vào nghiên cứu chất dinh dưỡngtrong đất và đề xuất các giải pháp có hiệu quả cao, tôi đã mạnh dạn tiến hànhthực hiện khoá luận tốt nghiệp: “Đánh giá t
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
“Đất là lớp tơi xốp của lớp vỏ trái đất có khả năng tạo ra sản phẩm củacây trồng”, là tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội Môi trường đất được coi là cả một thế giới sinh động, một
hệ sinh thái phức tạp có quy luật phát sinh và phát triển theo không gian và thờigian Trong quá trình phát triển đó, ngoài các yếu tố phát sinh nội tại thì đất cònchịu sự ảnh hưởng của quần xã thực vật
Rừng và đất rừng có mối quan hệ mật thiết và có sự tác động qua lại lẫnnhau, đây là lĩnh vực nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Có thể nói,đất rừng là tấm gương phản ánh các hoạt động sống xảy ra trong rừng: chuyểnhóa năng lượng, tích lũy, trao đổi chất
Một trong những nhân tố ảnh hưởng quyết định tới sự sinh trưởng vàphát triển của cây rừng là tính chất đất, đặc biệt là chất dinh dưỡng trong đất.Trong quá trình phân giải và chuyển hóa, chất dinh dưỡng khoáng thường tậptrung ở tầng đất mặt Hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng khác nhau thì sinhtrưởng và phát triển của cây rừng sẽ khác nhau và ngược lại sự sinh trưởng vàphát triển của cây rừng cũng ảnh hưởng rất lớn tới hàm lượng chất dinh dưỡngtrong đất
Việc nghiên cứu, đánh giá chất dinh dưỡng trong đất là vấn đề phức tạp
và khá mới mẻ trong điều kiện đất đai và rừng trồng Việt Nam Những năm gầnđây, trồng rừng cải tạo đất được chú trọng và quan tâm nhiều hơn nhưng hiệuquả đạt được chưa cao, chất dinh dưỡng trong đất bị suy giảm mạnh dẫn đến đất
bị suy thoái, mất dần khả năng sản xuất Theo số liệu điều tra thì ngày nay chấtdinh dưỡng giảm đi đáng kể, đất đồi núi rất hiếm nơi nào có tỷ lệ hữu cơ 3 - 4%,lân tổng số 0,3 – 0,4%, dung tích hấp thụ cao với trị số 20 - 30% miliđươnglượng, những con số này hiện nay chỉ còn ở đất feralit Nguyên nhân là do phárừng làm nương rẫy, quá trình canh tác không hợp lý, sử dụng phân bón mộtcách bừa bãi, phương thức khai thác không phù hợp, hoặc trồng rừng chưa chú ýtới bảo vệ đất
Trang 2Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm núi Luốt thuộc địa bàn quản lý củatrường Đại học Lâm nghiệp Đây là nơi lý tưởng phục vụ cho việc thực hành,thực tập và nghiên cứu của sinh viên, giảng viên cũng như các cán bộ công nhânviên trong trường Tại đây, rừng được trồng dưới nhiều trạng thái khác nhau.Trước đây, hoàn toàn là các rừng thuần loài keo, thông, bạch đàn sinh trưởng
và phát triển khá tốt và đồng đều
Trong 1 vài năm gần đây, với mục đích bổ sung vào danh mục cây trồngtại khu vực, đồng thời nâng cao độ che phủ và cải tạo tầng tán, các nhà kĩ thuậtlâm sinh đã đưa vào trồng thêm một số loài cây bản địa dưới tán Đánh giá vềchất lượng cho thấy sinh trưởng của cây rừng tại các vị trí là không đồng đều.Điều này cho thấy, rừng tại khu vực phần nào đã bị ảnh hưởng bởi các tác độngcủa con người, hoặc chịu sự tác động bởi các nhóm nhân tố sinh thái, đặc biệt làchất lượng dinh dưỡng đất
Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để có thể bảo vệ, cải tạo chất lượngcủa rừng trồng, đồng thời nâng cao độ phì và chất dinh dưỡng trong đất đang làvấn đề quan tâm lớn hiện nay đối với khu vực nghiên cứu
Cũng từ những lí do đó, để góp phần vào nghiên cứu chất dinh dưỡngtrong đất và đề xuất các giải pháp có hiệu quả cao, tôi đã mạnh dạn tiến hànhthực hiện khoá luận tốt nghiệp:
“Đánh giá thực trạng chất dinh dưỡng dưới các trạng thái rừng trồng khác nhau tại Núi Luốt - Xuân Mai - Chương Mĩ - Hà Nội”.
Trang 3PHẦN I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chất dinh dưỡng trong đất là yếu tố quan trọng không thể tách rời khinghiên cứu về đất rừng Cây rừng lấy chất dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng vàphát triển, đồng thời cũng làm thay đổi các tính chất đó của đất Xung quanhviệc nghiên cứu tác động qua lại hai chiều này, đã có rất nhiều các công trìnhlớn phải kể đến
1.1 Trên thế giới
Năm 1962, VM.Fridland đã tiến hành nghiên cứu về các nguyên tố vilượng trong đất ở miền Bắc Việt Nam Tác giả đã phân tích 35 nguyên tố vilượng trong đất bằng phương pháp quang phổ với độ nhạy 1/10000 kết quả là 1
số nguyên tố không phát hiện thấy hoặc chỉ có ở mức vạch Các nghiên cứu về
vi lượng trong đất còn rất ít và chưa có nhiều thành tựu lớn đặc biệt trong lĩnhvực lâm nghiệp
Năm 1968, Các vấn đề dinh dưỡng thực vật, Dz.P.Samklif nhận xét: ”Khinồng độ PO4-, PO3- trong dung dịch đất cao, trong khi sự xâm nhập ion NO3- thìngược lại Trong các đất axit tích lũy các dạng Al3+, Mn2+ di động ảnh hưởngxấu đến sự trao đổi chất giữa tế bào rễ và dung dịch đất Dzhikuklai cho rằng:
“Thường là các đặc điểm lý tính của đất ảnh hưởng đến sinh trưởng và sự hútdinh dưỡng của cây lâu năm mạnh hơn là thành phần hóa học đất, hơn nữa cácnhân tố lý tính này được phản ánh vào các tài liệu phân tích hóa học của cây”
Theo Harper (1974): Hàm lượng đạm tổng số trong đất nhiều khi khá lớnnhưng cây trồng vẫn bị đói đạm bởi vì hàm lượng đạm dễ tiêu rất thấp Lúc đầu
sự cố định đạm của cây chưa đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng và phát triển nênphải cần đến đạm của đất Nếu hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất thấp không đủcho cây sử dụng thì cây sẽ bị lão hóa nhanh và không hình thành nốt sần
Năm 1987, Basu.P.K&Aparajita Mandi nghiên cứu ảnh hưởng của rừngbạch đàn lai với tính chất đất rừng Kết quả cho thấy độ phì đất dưới rừng bạchđàn đã được cải thiện thay đổi theo tuổi của cây rừng Chất hữu cơ và dung
Trang 4lượng cation trao đổi tăng đáng kể, trong khi đó đạm tổng số tăng rất ít Ngượclại độ chua của đất lại giảm đi so với ban đầu.
Năm 1989, Chakraborty.R.N và Chakraborty.D đã nghiên cứu về sự thayđổi tính chất đất dưới rừng Keo lá tràm ở các tuổi 2, 3 và 4 Các tác giả cho rằngrừng trồng Keo lá tràm cải thiện đáng kể một số tính chất độ phì đất như: độchua đất biến đổi từ 5,9 - 7,6, khả năng giữ nước của đất tăng từ 22,9 lên 32,7,chất hữu cơ tăng từ 0,82% lên 2,7%, đạm tăng từ 0,36% lên 0,5% và đặc biệtmàu sắc của đất cũng biến đổi một cách rõ rệt từ màu nâu vàng sang màu nâu
Năm 1993, Marquez.O, Hernander.R, Torres.A và Fanco.W nghiên cứuchất dinh dưỡng trong đất dưới rừng Tếch trồng thuần loài ở các tuổi 2, 7, 12.Tác giả cho thấy đất dưới các rừng trồng Tếch ở các tuổi khác nhau đã có sựthay đổi đáng kể Cụ thể là lượng Ca2+, Mg2+, pH và dung lượng cation trao đổiđạt cao nhất ở rừng Tếch 12 tuổi Tuy nhiên lượng lân dễ tiêu lại giảm một cách
rõ rệt theo tuổi, trong khi đó lượng kali dễ tiêu lại biến động tăng đáng kể
Năm 1998, Alfredson.H, Condron.L.M, Clarholm.M & Davis.M.R nghiêncứu về sự biến đổi độ chua của đất và chất hữu cơ khi chuyển hình thức và sửdụng đất từ đất trảng cỏ che phủ sang rừng lá kim Kết quả nghiên cứu khẳngđịnh rằng sau 17 năm trồng rừng lá kim thì đạm tổng số, cation trao đổi giảm, độchua thay đổi tăng ở tầng 20 - 30cm Tác giả cũng cho rằng Al3+di động và độchua trao đổi là những yếu tố dễ bị thay đổi do việc trồng rừng
Những công trình này mới chỉ là những bước đầu nghiên cứu hàm lượngmột số nguyên tố hóa học tồn tại trong đất, mang tính định tính, còn rất nhiềuhạn chế và không đồng bộ Cách tiếp cận chủ yếu phổ biến là nghiên cứu đặcđiểm tính chất của đất dưới một trạng thái rừng hoặc loài cây nào đó nên khôngthể áp dụng các kết quả nghiên cứu một cách rộng rãi trong thực tiễn
Những năm gần đây thì nghiên cứu dinh dưỡng trong đất là lĩnh vựcnghiên cứu thu hút nhiều nhà khoa học, có hướng nghiên cứu theo chiều sâu vàđầu tư hơn
Trong những năm gần đây Trung Tâm Lâm Nghiệp Quốc Tế (CIFOR) đãtiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các
Trang 5nước nhiệt đới CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng bạch đàn,keo thuần loài trên các lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau ảnhhưởng khác nhau đến chất dinh dưỡng, độ phì nhiêu, cân bằng nước, sự phânhủy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng.
Một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học trường đại họcIllinois ở Urbana - Champaign và 8 viện khoa học khác đã làm rõ được vấn đềchất dinh dưỡng trong đất Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chất dinh dưỡng trong
đất ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố cây trong rừng nhiệt đới Sau đó, các nhà
khoa học so sánh bản đồ phân bố của 10 chất dinh dưỡng thiết yếu trong đất vớibản đồ loài cây của tất cả các cây với đường kính hơn 1 cm Kết quả là mỗi khuvực rất khác biệt với nhau, nhưng tại mỗi khu vực, các nhà khoa học đã tìm rađược bằng chứng cho thấy rằng, thành phần của đất ảnh hưởng một cách đáng
kể nơi những loài cây nào đó mọc: Sự phân bố không gian của từ 36 đến 51%loài cây có mối quan hệ rất lớn với sự phân bố của chất dinh dưỡng trong đất
Năm 1985, Ngô Đình Quế khi nghiên cứu đặc điểm đất trồng Thông nhựa
và ảnh hưởng của thông nhựa tới độ phì đất đã cho kết quả như sau: Sau 8 - 10năm trồng, Thông nhựa bước đầu cho thấy tính chất hóa học đất có sự thay đổinhưng không nhiều, khả năng tích lũy mùn ở rừng thấp, độ chua thủy phân tăng.Tuy nhiên lý tính của đất được cải thiện đáng kể
Trang 6Bên cạnh những nghiên cứu về nhóm các chỉ tiêu đa lượng của đất thìnhững nghiên cứu về các nguyên tố vi lượng ở trong nước cũng giống như trênthế giới, các công trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế Ở Việt Nam, nghiêncứu về vấn đề này có Vũ Cao Thái (1977), Phan Đình Thái (1983) Kết quả thuđược như sau:
- Mangan (Mn): Tỷ lệ Mn biến động 0,001- 0,03%, hàm lượng Mn có trị
số cao ở đất Feralit mùn trên núi đá, đất nâu đỏ trên núi đá vôi, bazan Hàmlượng Mangan dễ tiêu Mn2+ trong khoảng <1mg/100g đất với đất bạc màu, đấtphèn còn tới khoảng 4mg/100gđất với đất phát triển trên đá vôi
- Kẽm (Zn): Tỷ lệ khá cao trong đất khoảng 0,01 - 0,03% đặc biệt tầng đấtmặt Tuy nhiên, kẽm dễ tiêu khá thấp trung bình khoảng 0,08ppm
- Đồng (Cu): Tỷ lệ có mặt trong tất cả các đất khoảng 0,002%
- Bo: Hàm lượng rất thấp trong các loại đất.Hàm lượng Bo chỉ khoảng 0,1
- 0,5 ppm
Năm 1988, tác giả Hoàng Xuân Tý đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởngcủa rừng Bồ Đề đến độ phì của đất Tác giả theo dõi diễn biến những đặc điểmcủa đất dựa trên việc chia đất làm 5 nhóm: Nhóm độ chua, nhóm chất hữu cơ,nhóm chất dễ tiêu, nhóm tính chất vật lý và độ ẩm của đất Kết quả nghiên cứucho thấy trên 4 nhóm đều giảm trong đó có 3 nhóm giảm mạnh hơn: Nhóm chấthữu cơ, nhóm lý tính, nhóm chất dễ tiêu Tiếp đó, nhóm tính chất vật lý cũngxấu đi rõ rệt nhất là độ xốp và sức chứa nước Đất ban đầu càng tốt thì sự giảmsút độ xốp và sức chứa nước càng rõ rệt Điều đó chứng tỏ chất dinh dưỡngtrong đất liên quan đến sinh trưởng của cây Bồ Đề và ngược lại sinh trưởng của
Bồ Đề đã làm suy thoái đất
Năm 1997, Nguyễn Trường và Vũ Văn Hiển nghiên cứu ảnh hưởng củathảm thực vật rừng đến tính chất hóa học của đất ở Bắc Sơn đã kết luận rằng:Tính chất hóa học thay đổi phụ thuộc vào độ che phủ của thảm thực vật Ở nơi
có độ che phủ thấp đất bị chua hóa, tỷ lệ mùn và hàm lượng các chất dễ tiêu thấphơn nhiều so với những nơi đất được che phủ tốt
Trang 7Năm 1998, Nguyễn Vy trong cuốn Độ phì nhiêu thực tế đã viết: “Hiểu
biết về độ phì nhiêu thực tế chính là cơ sở để sử dụng đất hợp lý để đầu tư theochiều sâu, thâm canh Theo các tác giả Việt Nam thì Lân là yếu tố hạn chế năngsuất đứng hàng đầu hiện nay Nói cách khác Việt Nam hiện nay đang thiếu Lântrầm trọng và phân lân trở thành chiến lược trong sản xuất Nông Lâm Nghiệp ởnước ta
Năm 1999, theo kết quả của Nguyễn Đình Thành cho rằng Bạch Đàn ởtuổi 3 - 6 trồng ở các dạng địa hình khác nhau chưa có biểu hiện làm khô kiệtnước và chất dinh dưỡng đất quá mạnh và ngược lại một số tính chất lý hóa họccủa đất phần nào được cải thiện tốt hơn so với đất trống đã bỏ hoang hóa trongcùng một dạng lập địa và cùng độ cao
Năm 2000, kết quả của Nguyễn Văn Hòa tại Huyện EA Súp - Đắc Lắc đãkhẳng định khả năng cải tạo đất của cây Điều Tác giả cho thấy đất dưới rừngĐiều 5 tuổi đã biến đổi theo hướng tích cực, dung trọng, tỷ trọng, độ xốp cảithiện đáng kể Lượng mùn và các chất dinh dưỡng tổng số đều tăng so với đốichứng và đặc biệt độ chua tầng đất giảm rõ rệt
Năm 2001, luận văn tiến sĩ Khoa học Lâm nghiệp của Vũ Tấn Phương đãtiến hành nghiên cứu quan hệ giữa sinh trưởng cây Keo lai với một số tính chấtđất ở Ba Vì Tác giả nghiên cứu diễn biến độ phì của đất và ảnh hưởng của nótới sinh trưởng loài cây Keo lai Kết quả thu được: một số tính chất đất tầng mặt(0 - 20cm) có quan hệ với chỉ tiêu chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực
là chặt chẽ hơn so với một số tính chất đất tầng 30 - 50cm Theo tác giả một sốtính chất của đất đã tác động rõ rệt D1.3, Hvn, có nghĩa là các tính chất đất tácđộng đến sinh trưởng của cây một cách tổng hợp trong mối quan hệ ảnh hưởnglẫn nhau
Năm 2002, Vũ Văn Thuận khi nghiên cứu về đất dưới tán rừng trồngChiêu Liêu tại trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm Sinh Cầu Hai - Phú Thọ
đã cho thấy: Tương quan giữa sinh trưởng D1.3, Hvn của Chiêu Liêu với nhómcác tính chất vật lý của đất chặt chẽ hơn so với nhóm chất N, P, K dễ tiêu, nhóm
độ chua và hàm lượng mùn, đạm tổng số trong đất Hai chỉ tiêu sinh trưởng trên
Trang 8có mối quan hệ chặt chẽ với độ no bazơ, tổng bazơ trao đổi, độ xốp và hàmlượng P2O5 trong đất.
Dưới các trạng thái rừng khác nhau thì tính chất hóa học đất, chất dinhdưỡng cũng khác nhau và cũng có sự biến đổi nhiều Các công trình nghiên cứu
đã tiến hành công phu và tỷ mỉ dưới nhiều trạng thái và ở nhiều nơi thu đượcnhiều kết quả có giá trị trong sản xuất Lâm nghiệp
Năm 2002, theo kết quả nghiên cứu: “Đặc tính hóa học của đất trong cáctrạng thái thực bì ở Hoành Bồ - Quảng Ninh” của Trần Đinh Lý và Nguyễn ThếHưng cho thấy mùn trong các mẫu đất được phân tích rất khác nhau và khả năngtích lũy mùn từ 0,83% - 4,71% Quy luật chung của sự biến đổi hàm lượng mùntheo chiều sâu phẫu diện Tuy nhiên mức độ giảm ở các trạng thái thực bì khônggiống nhau Nhìn chung hàm lượng mùn trong đất không lớn Nếu tính hàmlượng mùn trung bình cho cả 3 tầng thì trạng thái rừng có hàm lượng mùn từ2,82% - 3,85%, các loại hình thảm cây bụi có từ 1,38% - 2,59% giá trị trungbình khoảng 2,35%
Theo kết quả nghiên cứu năm 2005 của Nguyễn Văn Luận tại Núi Luốt,hàm lượng các chất dinh dưỡng ở tầng mặt khu vực nghiên cứu từ nghèo đếntrung bình Hàm lượng mùn là 2,86 % và NH4+ là 4,46 mg/100gđất được đánhgiá là trung bình Hàm lượng K2O là 6,53mg/100gđất và P2O5 là 0,33mg/100gđất được đánh giá là đất nghèo lân và kali (Theo Trần Công Tấu, dẫntheo Tài nguyên Đất, NXB ĐHQG Hà Nội) Ngoài ra tác giả nhận định rằng tạikhu vực nghiên cứu thì hàm lượng mùn, NH4+, K2O, P2O5 tăng thì rất có lợi cho
cả cây trồng và đất rừng Còn ngược lại, độ chua thủy phân tăng và độ no bazơgiảm sẽ là yếu tố rất gây bất lợi cho khu vực
Cũng theo kết quả của Lương Thương Huyền năm 2008, tại Núi Luốt thìhàm lượng đạm, lân cũng ở mức nghèo và giảm đi một lượng đáng kể, điều nàygây bất lợi cho đất cũng như cây trồng Khu vực hàm lượng các chất đã ở mứcnghèo nay lại càng thiếu hụt nghiêm trọng Hàm lượng đạm từ 4,46 mg/100gchỉ còn 3,25 mg/100g đất, lân từ 0,33 mg/100g xuống còn 0,16 mg/100g đất.Điều này có thể cho thấy rằng đạm và lân là các nguyên tố dễ bị suy giảm, xói
Trang 9mòn rửa trôi dưới tác dụng của thời tiết, địa hình, nhu cầu sử dụng của thực vật
và thiếu những biện pháp tác động tích cực tác động vào đất rừng cải thiện hàmlượng các chất này
Một điều thuận lợi tại khu vực hàm lượng mùn và kali tăng cao hơnnhưng kali vẫn ở mức nghèo với 6,75 mg/100g đất, còn hàm lượng mùn thì đạt
ở mức giàu với 5,16 % Có thể do theo thời gian lớp thảm mục dày hơn, khảnăng tích lũy mùn lớn, quá trình mùn hóa diễn ra mạnh cùng với sự thay đổi thờitiết về nhiệt độ, lượng mưa làm cho quá trình tạo mùn thuận lợi
Cũng nghiên cứu về cây Keo lá tràm nhưng tại Kỳ Sơn - Hòa Bình thìhàm lượng các chất dưới rừng keo cũng ở mức nghèo nhưng thấp hơn rất nhiều
so với hàm lượng các chất dưới rừng keo lá tràm tại Núi Luốt Điều này chothấy khu vực nghiên cứu khác nhau dẫn đến tính chất của đất cũng như sinhtrưởng của loài cũng khác nhau Theo kết quả nghiên cứu của Trần TrungThương năm 2007: Hàm lượng mùn có 3,49 %, NH4+có 3,67 mg/100g đất, K2O
có 2,1 mg/100g đất, P2O5 có 0,37 mg/100g đất
Dựa vào sự khác biệt dựa hàm lượng các chất tại 2 khu vực ta có thểkhẳng định ở những địa hình khác nhau, khu vực khác nhau thì hàm lượng cácnguyên tố dinh dưỡng trong đất dưới trạng thái rừng không giống nhau
Đối với Thông Mã Vĩ cũng tương tự theo kết quả nghiên cứu của TrầnTrung Thương năm 2007: Hàm lượng mùn có 3,14 %, NH4+ có 3,13 mg/100gđất, K2O có 2,08 mg/100g đất, P2O5 có 0,31 mg/100g đất Như vậy, hàm lượngcác chất dinh dưỡng trong đất thuộc mức nghèo Theo tác giả thì đất trồngThông Mã Vĩ làm giảm độ chua thủy phân, giảm độ no bazo, đạm, lân, kali dễtiêu ít
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết Phương năm 2009 đốivới Thông Mã Vĩ tại Trạm Tấu - Yên Bái : Hàm lượng mùn có 6,31 mg/100gđất, NH4+ có 4,72 mg/100g đất, K2O có 8,85 mg/100g đất, P2O5 có 0,59 mg/100gđất Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất cũng tương đối lớn Hàm lượngmùn thuộc mức giàu, đạm thuộc mức trung bình còn lại lân và kali thì nghèo.Cùng loài cây trồng nhưng đất rừng ở Yên Bái có hàm lượng các chất dinh
Trang 10dưỡng cao hơn so với tại Hòa bình có thể do Yên Bái nằm trong khí hậu nhiệtđới và á nhiệt đới gió mùa trên núi, đất ở đây có quá trình phong hóa mạnh Đấttại khu vực thuộc nhóm đất xám phát triển trên đá Gnai Còn ở Hòa Bình là đấtFeralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ Phiến thạch sét.
Chứng tỏ rằng tại các khu vực khác nhau đá mẹ hình thành nên đất khácnhau sẽ ảnh hưởng tới tính chất và hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong đất
Nhận xét:
Từ tổng quan cho thấy vấn đề nghiên cứu các tính chất và các nguyên tốdinh dưỡng trong đất đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong vàngoài nước Những nghiên cứu này hết sức đa dạng, phong phú và có ý nghĩaquan trọng trong thực tiễn sản xuất Mọi nghiên cứu đều nhằm mục tiêu chung
là trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đề ra các phương án sử dụng đất rừnghợp lí, hiểu quả và bền vững nhất
Song các công trình này chưa đồng bộ chỉ ở một số địa điểm chưa mangtính khái quát, toàn diện Các công trình đánh giá thực trạng chất dinh dưỡngdưới tán rừng còn ít Những công trình tiếp theo cần có sự quan tâm, đầu tưnghiên cứu hơn về thực trạng chất dinh dưỡng trong đất rừng
Trang 11PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở xác định thực trạng chất dinh dưỡng dưới trạng thái rừng trồng
ở các vị trí khác nhau tại khu vực Núi Luốt - Xuân Mai - Chương Mĩ - Hà Nộinhằm đề xuất một số giải pháp cải tạo, bảo vệ và sử dụng đất rừng tại khu vựcmột cách hợp lí và bền vững
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận tiến hành nghiên cứu tính chất dưới rừng trồng Keo, Thông vàrừng hỗn loài tại khu vực Núi Luốt - Xuân Mai - Chương Mĩ - Hà Nội
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu
*Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính chất đất ở độ sâu 0 – 20cm tại các
vị trí và các trạng thái rừng trồng khác nhau
* Giói hạn về địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong giới hạn khu vực rừng nghiên cứu thựcnghiệm Núi Luốt - Xuân Mai -Chương Mĩ - Hà Nội
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Mô tả đặc điểm hình thái phẫu diện đất tại các vị trí nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm chất dinh dưỡng dưới các trạng thái thái rừngtrồng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình tới chất dinh dưỡng trong đất
- Đánh giá ảnh hưởng của thực vật tới sự hình thành của thực vật tới sựhình thành chất dinh dưỡng trong đất
- Đề xuất hướng cải tạo, bảo vệ và sử dụng đất rừng một cách hợp lý, bềnvững hơn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Trang 12Nhân tố thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với đất rừng Thựcvật vừa sử dụng các chất dinh dưỡng trong đất dưới dạng dễ tiêu thông qua bộ rễ
và cũng đồng thời có thể trả lại cho đất các nguyên tố dinh dưỡng (đạm,cácbon ) hoặc các nguyên tố khác thông qua quá trình trao đổi với đất hoặc vậtrơi rụng Kết quả là chất dinh dưỡng khoáng dần tập trung ở tầng mặt Thực vậtthường lấy chất dinh dưỡng để sử dụng ở tầng đất mặt nên quá trình sinh trưởngcủa cây sẽ có mối quan hệ mật thiết hơn với các tính chất đất ở tầng mặt Vì vậy,
để nghiên cứu thực trạng chất dinh dưỡng dưới rừng đề tài tập trung nghiên cứuchất dinh dưỡng của đất ở độ sâu 0 - 20cm
Đất được hình thành chủ yếu do 6 nhân tố: Đá mẹ, địa chất, địa hình,thực vật và sự tác động của con người Đất có quá trình phát sinh phát triển và
có sự thay đổi theo thời gian và không gian Theo quá trình lịch sử cùng sự tácđộng mạnh mẽ của các nhân tố đã hình thành nhiều loại đất có các tính chấtkhác nhau Trong đất có nhiều các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây rừngbao gồm cả các chất đa lượng (N, P, K, Ca, Mg, S ) và các chất vi lượng (Fe,
Mn, Bo, Zn ), các chất dễ tiêu và các chất khó tiêu được gọi là chất dinh dưỡngtrong đất Theo sự biến đổi của các quy luật tự nhiên cùng các yếu tố thì các chấtdinh dưỡng trong đất có thể được tích lũy hoặc bị suy giảm đi nhiều
Trong phạm vi nghiên cứu coi các yếu tố là đồng nhất, khác nhau về sinhvật và địa hình Trạng thái rừng trồng khác nhau thì chất dinh dưỡng dưới rừngcũng khác nhau Ở những vị trí địa hình khác nhau đất sẽ có những tính chấtkhông giống nhau và sẽ ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng phát triển đến câytrồng
Để thấy rõ mối quan hệ giữa đất và cây rừng làm cơ sở đánh giá việc lựachọn loài cây phù hợp và sử dụng đất rừng một cách hợp lý cải thiện chất dinhdưỡng trong đất nên tiến hành nghiên cứu một số tính chất đất ở tầng mặt ở các
vị trí khác nhau
2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp
2.4.2.1 Phương pháp thừa kế số liệu
Trang 13- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu như: vị trí địa
lý, địa hình, khí hậu
- Kế thừa số liệu về lịch sử rừng trồng trước đó
2.4.2.2 Phương pháp điều tra thực địa
- Khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu
- Thiết lập các ô tiêu chuẩn (OTC) nghiên cứu: Thông qua kết quả khảosát, đánh giá điều kiện chung của khu vực nghiên cứu, tương ứng với mỗi đaicao khác nhau, tiến hành thiết lập các OTC điển hình tạm thời ở các vị trí chân,sườn, đỉnh dưới các trạng thái rừng trồng khác nhau với kích thước mỗi OTC là500m2 (25m×20m) Để đánh giá đồng đều về thực trạng chất dinh dưỡng dướicác trạng thái rừng khác nhau, với mỗi vị trí địa hình có 3 OTC được lập (trong
đó có 1 OTC đại diện cho rừng trồng Thông thuần loài, 1 OTC đại diện chorừng Keo trồng thuần loài, 1 OTC đại diện cho rừng trồng hỗn loài), tổng sốOTC nghiên cứu là 9 ô
- Mô tả hình thái phẫu diện đất:
Ở trung tâm của mỗi OTC, tiến hành đào 1 phẫu diện đất đại diện, sau đó
mô tả các chỉ tiêu hình thái đất theo bảng mô tả của Bộ môn Khoa học Đất Trường Đại học Lâm nghiệp
-+ Xác định độ dày tầng đất bằng thước dây, độ chính xác đến cm
+ Xác định độ chặt bằng dao nhọn chuyên dùng
+ Xác định tỉ lệ đá lẫn, kết von theo phương pháp ước lượng
+ Xác định màu sắc của đất bằng phương pháp mục trắc
+ Xác định thành phần cơ giới đất bằng phương pháp xoe con giun
+ Xác định độ ẩm của đất bằng phương pháp nắm đất trong lòng bàn tay.+ Xác định kết cấu đất theo hình dạng, kích thước hạt đất
- Lấy mẫu đất phân tích:
Tương ứng với mỗi OTC, tiến hành lấy mẫu đất để xác định các chỉ tiêu
hoá học đất Mẫu đất lấy để phân tích được lấy dựa theo phương pháp lấy mẫu của CHLB Đức (1990): Lấy mẫu tổng hợp từ nhiều mẫu riêng lẻ Mẫu tổng hợp
được lấy từ 9 mẫu riêng lẻ trong đó 1 mẫu lấy ở trung tâm của OTC và 8 mẫu
Trang 14còn lại lấy theo 8 hướng: Đ, T, N, B, ĐN, ĐB, TN, TB Do đề tài tập trung vàoviệc đánh giá chất dinh dưỡng nên mẫu được lấy ở độ sâu 0 - 20cm.
Phương pháp lấy mẫu theo sơ đồ:
Mẫu đất tổng hợp lấy khoảng 1-1,5kg ở cùng độ sâu 0-20cm và vớilượng bằng nhau từ các mẫu riêng lẻ
2.4.3 Phương pháp nội nghiệp
2.4.3.2 Phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm
* Các tính chất hóa học cơ bản cuả đất được phân tích theo các phương phápsau:
8
Trang 15- Xác định đạm tổng số theo phương pháp của Kjeldhall.
- Xác định hàm lượng mùn bằng phương pháp Chi-U-Rin
- Xác định độ chua thủy phân của đất theo phương pháp theo Kappen &Gilcovic
- Xác định độ chua trao đổi
- Xác định pHH2O, pHKCl bằng máy đo pH metter
* Phân tích hàm lượng nguyên tố dinh dưỡng đa lượng dễ tiêu trong đất bằngmáy hấp phụ quang phổ
- Xác định hàm lượng đạm dễ tiêu (NH4+) bằng phương pháp so màu
- Xác định hàm lượng kali dễ tiêu (K2O) bằng dung dịch axeton amonsau đó đo K+ trên quang kế ngọn lửa
- Xác định hàm lượng Lân dễ tiêu (P2O5) theo phương pháp của Olsen
2.4.3.3 Xử lý số liệu
Xử lý số liệu nghiên cứu để đánh giá được đặc điểm định tính và địnhlượng thông qua hóa nghiệm phân tích trong phòng thí nghiệm với các dụng cụ,hóa chất được chuẩn hóa bằng các chỉ tiêu kĩ thuật chính xác để xác định tínhchất và các nguyên tố cần thiết nghiên cứu trong đất
- Xác định hàm lượng mùn bằng phương pháp Chi-U-Rin:
% mùn (M) =(Vo V)*0.003*a1.724*N*K*T
Trong đó:
Vo: Số ml muối Morh dùng chuẩn thí nghiệm trắng
V: Số ml muối Morh dùng chuẩn mẫu
N: Nồng độ đương lượng dd muối Morh
T: Hệ số điều chỉnh muối Morh
K: Hệ số khô kiệt
a: Số gam đất dùng để phân tích
- Các số liệu về đất sau khi được tính toán bằng các công thức sẽ được lập thành các bảng biểu hoặc được biểu diễn bằng hình vẽ, đồ thị
Trang 16PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu thực nghiệm Núi Luốt trường Đại học Lâm Nghiệpnằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tây, cách thị xã Hoà Bình 45 km về phía Đông Nam vàcách Quận Hà Đông 35km về phía Tây Bắc
Toạ độ địa lý:
22050’3’’ độ vĩ Bắc
105030’45’’ độ kinh Đông
- Phía Đông giáp quốc lộ 21A
- Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Hoà Sơn huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
- Phía Nam giáp thị trấn Xuân Mai và quốc lộ 6
- Phía Bắc giáp đội 6 nông trường chè Cửu Long
3.1.2 Địa hình
Khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối đơn giản, gồm hai quả đồi nốitiếp chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Một đỉnh có độ cao 133m so vớimặt nước biển, đỉnh kia cao 76m Độ dốc trung bình của khu vực nghiên cứu là
150
Nhận xét: Địa hình cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn
tới chất dinh dưỡng của rừng Độ dốc của khu vực cũng tương đối nên hiệntượng xói mòn xảy ra thường xuyên Địa hình thì không quá phức tạp nên có thểthuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp chống xói mòn mà có tác dụng tốttrong bảo vệ và giữ các chất dinh dưỡng trong đất
3.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Theo kết quả nghiên cứu của trạm khí tượng thuỷ văn Ba Vì - Hà Tây từnăm 2000 cho thấy: Khu vực Xuân Mai hàng năm có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong thời gian nàylượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi
Trang 17Bảng 3.1: Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu
Tháng Nhiệt độ ( 0 C) Độ ẩm (%) Lượng mưa
- Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (tháng 7); 311,47 mm
- Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (tháng 1): 15,89 mm
- Số ngày mưa trong năm: 210 ngày
+ Độ ẩm không khí:
- Khu vực nghiên cứu có độ ẩm không khí tương đối cao nhưng phân bốkhông đều giữa các tháng trong năm
- Độ ẩm không khí trung bình năm 82,43%
- Tháng có độ ẩm không khí trung bình cao nhất (tháng 8): 85,3 %
- Tháng có độ ẩm không khí trung bình thấp nhất (tháng 12): 79,1 %.(Tất cả số liệu trên đều được tính trung bình trong 10 năm tính từ 1997- 2006
Số liệu do trạm khí tượng thuỷ văn trường Đại học Lâm nghiệp cung cấp)
Trang 18+ Chế độ gió:
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của hai luồng gió chính:
- Gió Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
- Gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 7
Ngoài ra từ tháng 4 đến tháng 6 khu vực còn chịu ảnh hưởng của gió phơnTây Nam (gió Lào)
Nhận xét: Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thuỷ văn của khu vực Núi Luốt
mang các đặc điểm tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của hệthực vật
3.1.4 Đất đai thổ nhưỡng
Nhóm đất của khu vực nghiên cứu là đất feralit màu nâu vàng phát triểntrên đá mẹ Poocfiarit, tầng đất từ trung bình đến dày, số diện tích đất tầng mỏngchiếm tỷ lệ rất ít, những nơi tầng đất dày tập trung chủ yếu ở chân hai quả đồi,sườn Đông Nam quả đồi thấp (76m so với mặt nước biển), và sườn phía TâyNam quả đồi cao (133m so với mặt nước biển) Tầng đất mỏng tập trung ở đỉnhđồi, sườn phía Đông Bắc quả đồi thấp, sườn Tây Bắc quả đồi cao Những nơitầng đất mỏng tỷ lệ đá lẫn càng lớn Đá lộ đầu chủ yếu tập trung ở khu vực gầnđỉnh và đỉnh 133m
Nhìn chung đất khá chặt, đặc biệt là những lớp đất mặt ở khu vực chânđồi và những lớp đất sâu của khu vực đỉnh và yên ngựa Kết von thật và giảđược thấy ở khắp nơi trong khu vực, có những nơi kết von thật chiếm tới 60% -70% trọng lượng đất Điều này chứng tỏ có sự tích luỹ sắt khá phổ biến và trầmtrọng trong đất, ở một số nơi, đá ong được phát hiện với mức độ nhiều hoặc ít
Đá ong chủ yếu tập trung ở chân đồi phía Tây Nam, Đông Nam đồi cao Hàmlượng mùn trong đất nhìn chung thấp, điều đó chứng tỏ quá trình tích luỹ mùnrất kém
Những điều đã trình bày ở trên phần nào nói lên mức độ feralit hoá rấtmạnh trong khu vực núi Luốt
Trong những năm trước đây, quá trình xói mòn và rửa trôi khá nghiêmtrọng Điều đó được thể hiện qua kết cấu phẫu diện đất: Tầng A thường mỏng có
Trang 19tỷ lệ sét cao nên khi mưa rất dính và phổ biến là tầng AB hoặc AP (từ 5-10cm).Tầng B nằm trong khoảng từ 10 -110 cm có tỷ lệ sét 25% - 26% Tầng C thườngdày và một số đá lẫn đã bị phong hoá tạo ra tầng BC xen kẽ Đất có hàm lượngchất dinh dưỡng cao, hàm lượng mùn từ 2 - 4%, độ ẩm của đất từ 6 - 9% Tỷ lệ
đá lẫn trong đất ở mức độ trung bình
Nhận xét: Đất đai là nhân tố sinh thái quan trọng quyết định sự tồn tại và
phát triển của sinh vật, trong đó có hệ thực vật Điều kiện đất đai khu vực núiLuốt - Trường Đại học Lâm Nghiệp, nhìn chung vẫn mang tính chất đất rừng.Tuy nhiên do sự tác động lớn của con người nên độ dày tầng đất còn thấp, hàmlượng dinh dưỡng chưa cao, quá trình xói mòn diễn ra mạnh, nên đã phần nàoảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của hệ thực vật nơi đây
Theo ghi nhận rừng thực nghiệm Núi Luốt có khoảng 342 loài thực vậtbậc cao có mạch, thuộc 257 chi và 90 họ Thực vật khu vực rất da dạng về dạngsống và 7 nhóm giá trị
Tài nguyên động vật: Tại khu vự có 156 loài động vật có xương sốngthuộc 10 bộ, 60 họ và 104 giống trong đó có 21 loài động vật quý hiếm
Tài nguyên côn trùng: Đã phát hiện 409 loài thuộc 87 họ và 10 bộ côn trùng BộCánh Vẩy xác định có 208 loài, 135 giống, 30 họ Có 8 loài côn trùng quý hiếm
Tài nguyên nấm: Phát hiện 123 loài thuộc 36 họ, 10 lớp, 4 ngành phụ.Ngành phụ nấm đảm và Nấm bất toàn là những ngành phụ chủ yếu
3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế -xã hội
Trang 20Khu nghiên cứu thực nghiệm núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp chủyếu nằm trên địa bàn xã Hoà Sơn - huyện Lương Sơn- tỉnh Hoà Bình Đây làmột xã miền núi với 3.822 nhân khẩu trong đó dân tộc Mường chiếm 58,85%,dân tộc Kinh chiếm 41,15% Người dân ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp,diện tích đất lâm nghiệp chiếm 543 ha nhưng nghề rừng chưa được phát triển.
Do là khu rừng duy nhất ở khu vực nên núi Luốt chịu sức ép nhiều mặt từ mọiphía Ngoài các hoạt động tích cực vào rừng còn có các hoạt động tiêu cực diễn
ra thường xuyên Việc chăn thả gia súc còn theo kiểu tự do, ý thức bảo vệ rừngcủa người dân còn thấp
Bên cạnh đó nằm trong khu vực thị trấn Xuân Mai có các đơn vị bộ đội,các trường đào tạo Đặc biệt là Trường Đại học Lâm nghiệp – trung tâm đào tạocán bộ kỹ thuật của ngành, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuậtLâm nghiệp, do vậy đã có ảnh hưởng tích cực đến bảo vệ và phát triển tại khuvực nghiên cứu thực nghiệm
Nhận xét chung: Nhìn chung đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứutương đối đồng nhất về đá mẹ, địa chất, cùng sự tác động của con người và cũng
có nhiều thuận lợi cho hệ động- thực vật thể hiện qua sự phong phú, đa dạng về
số lượng chủng loại của chúng trong khu vực nghiên cứu Đất tại khu vực là đấtferalit màu nâu vàng phát triển trên đá mẹ Poocfiarit, hàm lượng các chất đinhdưỡng trong đất tương đối thấp, mang đặc tính của đất đồi núi Việt Nam Do tạikhu vực có tập đoàn cây trồng tương đối đa dạng, mỗi loài cây trồng có nhu cầuchất dinh dưỡng khác nhau nên cũng trả lại cho đất lượng chất hữu cơ khácnhau Bên cạnh đó, đây là địa bàn thực tập và nghiên cứu của Trường nên rừngthường xuyên bị ảnh hưởng của các hoạt động của con người Thêm vào đó làcác hoạt động chăn thả gia súc bừa bãi, hoạt động lấy củi, quét lá dẫn tới tínhchất đất bị ảnh hưởng rõ rệt đặc biệt là hàm lượng các chất dinh dưỡng trongđất
Trang 21PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN4.1 Kết quả nghiên cứu hình thái phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu
Phẫu diện đất là mặt cắt thẳng góc theo phương dây dọi từ mặt vỏ ngoàicùng của trái đất đến tầng mẫu chất Phẫu diện đất là bức tranh phản ánh quátrình hình thành và phát triển của đất hay nói cách khác tất cả những quá trìnhtrong đất đều để lại dấu vết trong nó Ở những độ sâu khác nhau trong đất những
Trang 22tầng đất được hình thành rõ rệt Đặc điểm phân lớp đó là đặc điểm quan trọngcủa đất mà cũng nhiều tính chất vật lý hóa học và độ phì của đất phụ thuộc vào
nó
Hình thái phẫu diện đất dưới rừng là một minh chứng cụ thể cho nhữngđánh giá ở trên Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng sẽ làmthay đổi đặc điểm của hình thái đất, tầng A tơi xốp hơn, màu sắc đậm hơn, cảithiện về tính chất ẩm, tính chất nhiệt và cải thiện kết cấu đất Cùng một loại đấtnhưng dưới trạng thái rừng khác nhau, vị trí địa hình khác nhau thì đặc điểmhình thái cũng có sự khác nhau rõ rệt
Để nhận xét khách quan hơn về tính chất dinh dưỡng đất, khóa luận tiếnhành mô tả 1số phẫu diện đất đại diện dưới rừng tại các vị trí nghiên cứu khácnhau Kết quả thu được như sau:
4.1.1 Phẫu diện KCĐ1
Thời tiết đợt điều tra: nắng ráo; vị trí: chân đồi Độ dốc 80, hướng dốc:Đông Nam, Độ cao tuyệt đối: 25m, dạng địa hình: tương đối bằng phẳng; đá mẹ:Poocfiarit; thực vật: rừng trồng thuần loài Keo, độ tàn che 0,8, cây bụi thảmtươi: cỏ lá Tre, cỏ Lào, Dương xỉ, độ che phủ 90%, độ cao trung bình 0,3m,nước ngầm sâu, xói mòn mặt: yếu; đá lộ đầu nằm rải rác
Tên đất ngoài thực địa: Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹPoocfiarit
Đặc điểm các tầng phát sinh:
Tầng A: Từ 0 - 50cm, có màu nâu, hơi ẩm, kết
cấu viên hạt, tơi xốp, có phân giun, có nhiều rễ
cây, tỷ lệ đá lẫn ít Giữa tầng A và tầng B có sự
chuyển lớp rõ rệt về màu sắc
Tầng B: Từ 50 - 92cm, đất có màu nâu nhạt,
hơi khô, kết cấu viên hạt, độ chặt: hơi chặt,
thành phần cơ giới: thịt trung bình, không có
Tầng A: Từ 0 - 50cm, có màu nâu đậm, đất hơi
ẩm, kết cấu viên hạt, tơi xốp, có phân giun, có
nhiều rễ cây, tỷ lệ đá lẫn ít Giữa tầng A và tầng
B có sự chuyển lớp rõ rệt về màu sắc
Tầng B: Từ 50 - 92cm, đất có màu nâu nhạt,
hơi khô, kết cấu viên hạt, độ chặt: hơi chặt,
thành phần cơ giới: thịt trung bình, không có
Trang 234.1.2 Phẫu diện TCĐ2
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: chân đồi; địa hình: Độ dốc 80, độ caotuyệt đối: 25m, hướng dốc: Tây Nam, dạng địa hình: tương đối bằng phẳng; đámẹ: Poocfiarit; thực vật: rừng thuần loài thông, độ tàn che 0,6, cây bụi thảmtươi: cỏ lá Tre, cỏ Lào, Dương xỉ, cỏ Roi ngựa, độ che phủ 70%, độ cao trungbình 0,5m, nước ngầm sâu, xói mòn mặt: yếu; đá lộ đầu rải rác
Tên đất ngoài thực địa: Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ
Poocfiarit
- Tầng Bk: Từ 22-74 cm có màu nâu, hơi ẩm, rễ cây ít; kết cấu viên, hạt; độ chặt:hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung bình; chất lẫn vào: không có; chất mớisinh: kết von trung bình (25%); chuyển lớp rõ ràng
- Tầng C: Từ 74 -110cm, màu vàng nhạt, đất chặt
4.1.3 Phẫu diện HLCĐ3
Tầng A: Từ 0-22cm có vàng xám, hơi ẩm, kết
cấu: viên, hạt; độ chặt: chặt; thành phần cơ
giới: thịt trung bình; chất mới sinh: phân giun,
rễ cây trung bình, tỷ lệ đá lẫn ít (10%) Giữa
74cm110cm
Trang 24Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: chân đồi; địa hình: Độ dốc 80, hướngdốc: Tây Nam, độ cao tuyệt đối: 27m; dạng địa hình: tương đối bằng phẳng; đámẹ: Poocfiarit; thực vật: rừng trồng hỗn loài; độ tàn che 0,6; cây bụi thảm tươi:
cỏ lá Tre, Cỏ Lào, Dương xỉ, độ che phủ 70%, độ cao trung bình 0,5m, nướcngầm sâu, xói mòn mặt: yếu; đá lộ đầu rải rác
Tên đất ngoài thực địa: Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹPoocfiarit
* Đặc điểm hình thái phẫu diện:
4.1.4 Phẫu diện KSĐ1
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: sườn đỉnh 76m; hướng dốc: Tây
Nam; dạng địa hình: sườn thoải; độ dốc 200; đá mẹ: Poocfiarit; thực vật: rừngtrồng thuần loài Keo; độ tàn che 0,7; cây bụi thảm tươi: cỏ lá Tre, cỏ Lào,
Tầng A: từ 0 -28cm; màu nâu vàng; đất hơi
ẩm; kết cấu: viên, hạt; độ chặt: hơi chặt; đất
hơi ẩm, có phân giun, có nhiều rễ cây, tỷ lệ đá
lẫn ít Giữa tầng A và tầng B có sự chuyển lớp
rõ rệt
- Tầng Bk: Từ 28-75cm; có màu vàng nâu, hơi
khô; kết von nhiều (30%); kết cấu đất: viên,
hạt; độ chặt: hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt
trung bình, không có chất lẫn vào Chuyển lớp
Trang 25Dương xỉ; độ che phủ 70%, độ cao trung bình 0,5m, nước ngầm sâu, xói mònmặt: trung bình; đá lộ đầu rải rác.
Tên đất ngoài thực địa: Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹPoocfiarit
4.1.5 Phẫu diện TSĐ2
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: chân đồi; địa hình: Độ dốc 190,hướng dốc: Đông Đông Bắc, dạng địa hình: dốc thoải; đá mẹ: Poocfiarit; thựcvật: rừng thuần loài thông, độ tàn che 0,6, cây bụi thảm tươi: cỏ lá Tre, Mâm
- Tầng A: Từ 0- 10cm; có vàng đậm; đất hơi
ẩm; kết cấu: viên hạt; độ chặt: chặt; thành
phần cơ giới: thịt trung bình, chất mới sinh:
phân giun; rễ cây: trung bình; tỷ lệ đá lẫn ít
(10%) Giữa tầng A và tầng B có sự chuyển
lớp rõ rệt về màu sắc
- Tầng B1K: Từ 10- 40cm; có màu nâu nhạt,
hơi ẩm; rễ cây ít; kết cấu: viên, hạt; độ chặt:
hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung bình;
chất lẫn vào: không có; kết von nhiều (35%),
chuyển lớp rõ ràng
Tầng B2K: Từ 40- 85cm; có màu nâu nhạt, hơi
ẩm; rễ cây ít; kết cấu: viên hạt; độ chặt: hơi
chặt; thành phần cơ giới: thịt trung bình; chất
lẫn vào: không có, kết von trung bình (25%)
- Tầng C: Từ 85-110cm, màu vàng xám, hơi
ẩm; độ chặt: chặt
0cm14cm
Trang 26Xôi, Dương Xỉ, độ che phủ 70%, độ cao trung bình 0,6m, nước ngầm sâu, xóimòn mặt: ít; đá lộ đầu: không có.
Tên đất ngoài thực địa: Đất feralit nâu vàng trên đá mẹ Poocfiarit
4.1.6 Phẫu diện HLSĐ3
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: sườn đỉnh 133; địa hình: Độ dốc 190,hướng dốc: Đông - Đông Nam, địa hình: sườn thoải; đá mẹ: Poocfiarit; thực vật:rừng hỗn loài Keo,Thông, Lim xanh; độ tàn che 0,6; cây bụi thảm tươi: cỏ láTre, Lấu; độ che phủ 60%; độ cao trung bình 0,8m; nước ngầm sâu, xói mònmặt: trung bình; đá lộ đầu: không có
Tên đất ngoài thực địa: Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹPoocfiarit
26
- Tầng A: Không có
- Tầng BK: Từ 0- 45cm có màu nâu nhạt, hơi
ẩm, kết cấu viên hạt, tơi xốp, có nhiều rễ cây,
tỷ lệ kết von 45%, tỷ lệ đá lẫn ít Giữa tầng A
và tầng B có sự chuyển lớp rõ rệt về kết von
Tầng BC: Từ 45- 90cm, đất có màu nâu vàng,
hơi ẩm, kết cấu viên hạt, độ chặt: hơi chặt,
thành phần cơ giới: thịt trung bình, không có
chất lẫn vào, tỷ lệ kết von 10%, tỷ lệ đá lẫn
10%, Chuyển lớp rõ về màu sắc
- Tầng C: Từ 90 -120cm, có màu vàng nhạt,
hơi ẩm, hơi chặt, rễ cây không có, không có
chất mới sinh, không chất lẫn vào
0cm
90cm
105cm
45cmBk
BC
C
- Tầng A: Từ 0 - 10cm; màu nâu sẫm; độ ẩm:
hơi ẩm; rễ cây trung bình; kết cấu: viên; độ
chặt: hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung
bình; chất mới sinh: phân giun; chất lẫn vào:
không có; chuyển lớp rõ ràng về kết von
- Tầng Bk: Từ 10 - 40 cm; màu nâu vàng, độ
ẩm: ẩm; kết cấu viên, hạt; độ chặt: hơi chặt;
thành phần cơ giới: thịt nhẹ; kết von nhiều
(30%)
- Tầng BC: Từ 40- 70cm có vàng nâu, ẩm, kết
cấu viên, hạt, độ chặt: hơi chặt, thịt nhẹ, tỷ lệ
kết von 10% Chuyển lớp rõ về màu sắc
- Tầng C: Từ 70- 101cm có vàng nhạt, hơi ẩm,
0cm10cm
Trang 274.1.7 Phẫu diện KĐĐ1
Thời tiết đợt điều tra: nắng ráo; vị trí: đỉnh đồi 133; địa hình: Độ dốc 140,hướng dốc: Tây Bắc; dạng địa hình: dốc thoải; đá mẹ: Poocfiarit; thực vật: rừngthuần loài Keo; độ tàn che 0,6; cây bụi thảm tươi: cỏ lá Tre, Dương xỉ; độ chephủ 90%; độ cao trung bình 0,5m; nước ngầm sâu; xói mòn mặt: yếu; đá lộ đầu:không có
Tên đất ngoài thực địa: Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹPoocfiarit
Đặc điểm các tầng phát sinh thể hiện như sau:
27
- Tầng A: từ 0 -29cm; có màu nâu nhạt; hơi
ẩm; rễ cây nhiều; kết cấu viên hạt; độ chặt:
chặt; thành phần cơ giới: thịt trung bình; chất
mới sinh: phân giun; tỷ lệ đá lẫn 10%; chuyển
lớp rõ rệt về màu sắc
- Tầng Bk: Từ 29-87cm; có màu nâu vàng; đất
hơi ẩm; rễ cây trung bình; kết cấu viên, hạt; độ
chặt: hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung
bình; chất lẫn vào: không có, chất mới sinh:
kết von trung bình (25%); chuyển lớp rõ ràng
về màu sắc
- Tầng C: Từ 87-110cm, màu vàng xanh, hơi
0cm29cm
Trang 284.1.8 Phẫu diện TĐĐ2
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: đỉnh đồi; địa hình: Độ dốc 150,hướng dốc: Bắc - Đông Bắc, dạng địa hình: dốc thoải; đá mẹ: Poocfiarit; thựcvật: rừng thuần loài Thông, độ tàn che 0,6, cây bụi thảm tươi: cỏ lá Tre, Dương
xỉ, Bùm bụp; độ che phủ 80%; độ cao trung bình 0,5m; nước ngầm sâu; xói mònmặt: yếu; đá lộ đầu nằm tập trung
Tên đất ngoài thực địa: Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹPoocfiarit
28
- Tầng A: Từ 0 - 8cm, có màu nâu nhạt, độ
ẩm: hơi ẩm; rễ cây nhiều; kết cấu viên, hạt; độ
chặt: hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung
bình; chất mới sinh: phân giun, đá lẫn 10%;
chuyển lớp rõ rệt về màu sắc
- Tầng Bk: Từ 8- 80cm; có màu nâu vàng , độ
ẩm: hơi ẩm; rễ cây trung bình; kết cấu viên,
hạt; độ chặt: hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt
trung bình; chất lẫn vào: không có; chất mới
sinh: kết von nhiều (35%), chuyển lớp rõ ràng
về màu sắc
- Tầng C: Từ 80- 10cm, màu vàng nhạt, hơi
0cm8cm