1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án trồng mới 5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh cao bằng

71 780 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án trồng mới 5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
Tác giả Hoàng Thị Huyền
Người hướng dẫn Th.S Lê Tuấn Anh
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoàn thành chương trình đào tạo đồng thời tạo cơ hội để mỗi sinhviên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong suốt quátrình thực tập, được sự nhất trí của khoa Lâm

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Khóa luận tốt nghiệp là một nội dung quan trọng để đánh giá kết quả củasinh viên sau thời gian học tập tại trường, giúp sinh viên làm quen với côngtác nghiên cứu khoa học, vận dụng được lý thuyết vào trong thực tiễn sảnxuất Để hoàn thành chương trình đào tạo đồng thời tạo cơ hội để mỗi sinhviên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong suốt quátrình thực tập, được sự nhất trí của khoa Lâm học, Bộ môn Điều tra quy hoạch

rừng tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong Dự án trồng mới 5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng”.

Trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự

cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, các

cô trong bộ môn Điều tra quy hoạch rừng, khoa Lâm học, cùng ban lãnh đạoChi cục Lâm nghiệp tỉnh Cao Bằng Đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình củathầy giáo Th.S Lê Tuấn Anh, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trìnhthực hiện khóa luận

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáotrong bộ môn Điều tra quy hoạch rừng, thầy giáo Th.S Lê Tuấn Anh, Chi cụcLâm nghiệp Cao Bằng, Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn sông Lô Gâm,Quây Sơn, Nguyên Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trongquá trình triển thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, song do bước đầu làm quen vớicông tác nghiên cứu khoa học và giải quyết những vấn đề có liên quan đếnthực tiễn sản xuất, do trình độ bản thân và thời gian có hạn nên không tránhkhỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy côgiáo và bè bạn đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Huyền

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Khái niệm về dự án 3

1.1.1 Trên thế giới 3

2.1.2 Ở Việt Nam 4

1.2 Đánh giá DA và các khía cạnh liên quan đến DA 5

1.2.1 Trên thế giới 5

1.2.2 Ở Việt Nam 8

1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá dự án 10

1.4 Vấn đề rừng phòng hộ và tầm quan trọng của nó 12

1.4.1 Trên thế giới 12

1.4.2 Ở Việt Nam 13

Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21

2.3 Nội dung nghiên cứu 21

2.3.1 Bối cảnh ra đời của Dự án: 21

2.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án: 21

2.3.3 Đánh giá tác động, hiệu quả của dự án về các mặt đời sống 22

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho các Dự án lâm nghiệp sau này tại tỉnh Cao Bằng 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4.1 Thu thập các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có 22

2.4.2 Phương pháp khảo sát, đánh giá trên thực địa 24

Trang 3

2.4.3 Phương pháp chuyên gia 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Khái quát chung về dự án 26

3.1.1 Mục tiêu và tổ chức thực hiện dự án 26

3.1.2 Điều kiện cơ bản vùng dự án 27

3.2 Đánh giá kết quả thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc dự án 661 giai đoạn 2008 – 2010 tỉnh Cao Bằng 33

3.2.1 Kết quả thực hiện các hoạt động trồng rừng phòng hộ 33

3.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng 38

3.2.3 Đánh giá các biện pháp kĩ thuật trồng rừng phòng hộ của dự án 661 giai đoạn 2008 – 2010 tại tỉnh Cao Bằng 42

3.2.4 Tổng kết và đánh giá hệ thống các cơ chế chính sách, suất đầu tư trồng rừng trong dự án 661 tỉnh Cao Bằng 43

3.2.5 Những tồn tại trong việc thực hiện trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án 661 tại tỉnh Cao Bằng 47

3.3 Đánh giá tác động, hiệu quả của dự án về các mặt đời sống 49

3.3.1 Hiệu quả kinh tế 49

3.3.2 Hiệu quả về xã hội 51

3.3.3 Hiệu quả về môi trường 52

3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho các Dự án lâm nghiệp sau này tại tỉnh Cao Bằng 53

3.4.1 Đề xuất cải thiện các biện pháp về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ 53

3.4.2 Đề xuất cải thiện các chính sách, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ 55

Chương 4 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 57

4.1 Kết luận 57

4.2 Tồn tại 58

4.3 Kiến nghị 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu 3.1: Diện tích rừng trồng mới giai đoạn 2008 – 2010 tỉnh Cao Bằng 34

Biểu 3.2: Kết quả thực hiện dự án 661 giai đoạn 2008 – 2010 tỉnh Cao Bằng 34

Biểu 3.3: Cơ cấu nguồn vốn sử dụng cho việc xây dựng và phát triển rừng giai đoạn 2008 - 2010 36

Biểu 3.4: Cơ cấu sử dụng vốn dự án 661 tỉnh Cao Bằng giai đoạn 37

2008 – 2010 37

Biểu 3.5: Trữ lượng từng loại rừng tỉnh Cao Bằng 41

Biểu 3.6: Tổng trữ lượng các loại rừng của tỉnh Cao Bằng 41

Biểu 3.7: Công lao động tạo ra từ các mô hình trồng rừng 50

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu 23

Hình 2.2: Dòng sông gâm chạy qua địa phận huyện Bảo Lạc 24

Hình 2.3: Cọn nước bên dòng sông Quây Sơn 24

Hình 2.4: Rừng đặc dụng Phja Oắc (Nguyên Bình) 25

Hình 3.1: Rừng trúc tại xã Tam Kim, Nguyên Bình 35

Hình 3.2: Rừng Sa Mộc ven quốc lộ 34 huyện Bảo Lạc 35

Hình 3.3: Chè đắng trồng xen thông, keo tai tượng huyện Trùng Khánh 35

Hình 3.4: Rừng Hồi tại xã Đàm Thủy, Cao Bằng 35

Hình 3.5: Khai thác gỗ tại xã Thượng Hà, huyện Bảo Lạc 40

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng là một trong những hệ sinh thái quan trọng có ảnh hưởng trựctiếp đến đời sống của con người, rừng cung cấp cho chúng ta nhiều loại sảnphẩm khai thác từ thực vật, động vật và các dạng sống khác Rừng có vai tròrất lớn trong việc cung cấp lâm sản, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinhthái và phòng hộ môi trường Cái quý giá nhất mà rừng đã đem lại cho loàingười chúng ta là tạo ra bầu khí quyển trong lành vì rừng có tác dụng điểuhòa khí hậu, ngăn cản những tác hại do gió bão gây ra, bảo vệ mùa màng vàcác sản phẩm nông nghiệp khác, nâng cao năng suất hoa màu Do đó ngàynay giá trị phòng hộ môi trường đã vượt xa giá trị cung cấp lâm sản truyềnthống

Việt Nam là một nước nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa với

¾ diện tích là đồi núi và thường xuyên phải chịu những trận mưa bão lớn thìrừng phòng hộ đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn là một giải pháp có hiệuquả để giảm thiểu những tác động đó Ngoài ra nó còn góp phần tạo thêmcông ăn việc làm cho hàng chục triệu người, cung cấp thêm nhiều loại gỗ vàlâm sản ngoài gỗ có giá trị phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế xã hộimiền núi Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, chúng ta đang phảiđương đầu với những thách thức của tự nhiên đang ngày càng cực đoan vàkhốc liệt hơn: bão lụt, hạn hán, cạn kiệt dòng chảy của sông ngòi Phục hồi

và phát triển tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ của thảm thực vật rừng,hướng tới quản lý tài nguyên rừng bền vững và phát triển bền vững nóichung, đang là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ và của toàn xã hội

Là một nước đang phát triển, Việt Nam đã và đang có những nỗ lực lớnlao để vượt qua hậu quả nặng nề của chiến tranh và của cả nhiều năm duy trìnền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Nhận thức được tầm quan trọngcủa rừng và thực trạng tài nguyên rừng đang bị suy thoái, trong những thậpniên vừa qua Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác trồng cây gâyrừng Những đóng góp đó đã tạo ra việc tăng nhanh diện tích rừng trồng, đẩynhanh công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, góp phần bảo vệ

Trang 7

môi trường sinh thái, phòng chống và hạn chế các thiên tai, giảm thiểu biếnđổi khí hậu… Ở đó phải kể đến đó là dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án661), đây là một chương trình lớn của nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội– sinh thái của rừng Theo đó sẽ trồng mới 5 triệu ha rừng và bảo vệ diện tíchrừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2010 nhằm nâng cao độ chephủ của rừng Việt Nam lên mức 43% vào năm 2010

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc có diện tích tự nhiên là

6.690,72 km2 mà rừng núi lại chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh nên tiềmnăng về sản xuất lâm nghiệp lớn Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn làsông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài racòn có một số sông ngòi khác như sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông NhoQuế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến Hệ thống sông ngòi phân bố khắpcác huyện trong tỉnh, lưu lượng dòng chảy lớn cung cấp nước cho phát điện,cung cấp nước tưới cho nông lâm nghiệp, giao thông vận tải đưởng thủy, thủysản, cải tạo môi trường của vùng và phát triển du lịch Dự án trồng mới 5 triệu

ha rừng tỉnh Cao Bằng được triển khai từ năm 1999 với mục tiêu bảo vệ rừnghiện có, tăng độ che phủ của rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi trường,giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, sử dụng có hiệu quả diện tích đấttrống đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóađói giảm nghèo Trước hy vọng về ý nghĩa lớn lao mà dự án trồng mới 5 triệu

ha rừng mang lại trong việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ như vậy

Để đánh giá được tình hình thực hiện và những hiệu quả bước đầu của dự ántrồng rừng trên địa bàn tỉnh, đồng thời rút kinh nghiệm và đề xuất cho nhữnglần thực hiện dự án tiếp theo Từ đó có thể kiếm những giải pháp cho quản lý

và duy trì thành quả, khắc phục những hạn chế, đưa ra những giải pháp choviệc phát triển của những dự án đang và sẽ tiến hành là hết sức quan trọng

Do vậy, tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp:

“Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong Dự án trồng mới

5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng”

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về dự án

1.1.1 Trên thế giới

Nói đến DA là nói đến một vấn đề nào đó mà con người quan tâm giảiquyết, nói cách khác không có vấn đề thì không có DA Trong lý thuyết cũngnhư thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay cũng tồn tại nhiều quan điểm khácnhau về DA Tùy mục đích nghiên cứu, mỗi quan điểm về DA xuất phát từcách tiếp cận khác nhau Khái niệm về DA đó và đang được bổ sung hoànthiện

Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm dự án tuynhưng xét trên khía cạnh chung nhất thì: Dự án là chuỗi những hoạt động cóliên quan lẫn nhau được lập ra nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu cụ thểvới các nguồn lực nhất định trong một thời hạn cụ thể

Theo Cleland và King(1975): DA là sự kết hợp giữa các yếu tố nhânlực và tài lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu địnhtrước

Clipdap cho rằng: DA là một tập hợp các hoạt động để giải quyết mộtvấn đề hay hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong thời gian xác định

Gittinger (1982) lại quan điểm: DA là tập hợp các hoạt động mà ở đótiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại Trong quá trình này, cáccông việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, đượcthực hiện trong một thời gian xác định

Theo WB: DA là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liênquan với nhau, được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trongmột khoảng thời gian nhất định

Theo Lyn Squire: DA là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng cácnguồn tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xó hội càng nhiềucàng tốt

Trang 9

David Jary và Julia Jury lại đưa ra định nghĩa về DA như sau: Những kếhoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ và phát triển cộngđồng Theo định nghĩa này, DA được hiểu là một kế hoạch can thiệp có mụctiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể, là sự hợp tác của các lựclượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu này thì thước đo

sự thành công của DA không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹthuật mà cũng góp phần vào quy trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng

2.1.2 Ở Việt Nam

Khái niệm DA được dùng tương đối rộng rãi ở nước ta trong nhữngnăm gần đây, có thể do Chính phủ, liên Chính phủ, nhỏ hơn là một tỉnh, một

tổ chức xã hội làm chủ Tất cả các vấn đề cần giải quyết đều có thể xây dựng

và triển khai dưới dạng DA Tầm quan trọng của DA phụ thuộc vào cấp quản

lý, mục tiờu, tổng số vốn tương ứng và thời gian tiến hành

Trong tác phẩm “Phát triển cộng đồng”, tác giả Nguyễn Thị Oanh [19]

đưa ra 2 định nghĩa về DA như sau: (1) DA là sự can thiệp một cách có kế

hoạch nhằm đạt một hay một số mục tiêu, hoàn thành những chỉ báo thực hiện

đó định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định, có

STG thực sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể (2) DA là một tổng thể có

kế hoạch những hoạt động nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong khoảng thờigian và khuôn khổ chi phí nhất định

Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm họa đó đưa ra 2 khái

niệm về DA: (1) DA là một quá trình gồm các hoạt động đó được lập kế hoạch

nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể

nào đó (2) DA là một quá trình phát triển có kế hoạch, thiết kế nhằm đạt được

mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong thời gian nhất định

Theo bài giảng “Quản lý Lâm nghiệp xã hội” của Trung tâm Đào tạo Lâmnghiệp xã hội (ĐHLN), để nhìn nhận DA một cách đầy đủ nhất phải đứng trênnhiều khía cạnh khác nhau: Hình thức, quản lý, kế hoạch và nội dung

Trang 10

- Về hình thức: DA là một tập tài liệu trình bày chi tiết, có hệ thống cáchoạt động và chi phí dưới dạng một bản kế hoạch để đạt được những kết quả

và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

- Về quản lý: DA là một cụng cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư laođộng để tạo ra kết quả kinh tế, tài chính xã hội và môi trường trong tương lai

- Về kế hoạch: DA là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu tưsản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, xó hội làm tiền đề cho các quyết địnhđầu tư và tài trợ DA đầu tư là một hoạt động riêng lẻ, nhỏ nhất trong công tác

kế hoạch nền kinh tế

- Về nội dung: DA được coi là một tập hợp các hoạt động có liên quanvới nhau, được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đó định bằng việctạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụnghợp lý các nguồn lực xác định

Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa DA, song các tác giả đều

có một điểm chung thống nhất là: Mục tiêu của DA là tạo sự thay đổi trongnhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả 3 mặtkinh tế - xã hội và môi trường

1.2 Đánh giá DA và các khía cạnh liên quan đến DA

1.2.1 Trên thế giới

Đánh giá là một công việc thường xuyên diễn ra trong các hoạt động

DA Đây là khâu then chốt trong một chu trình DA, nhằm đưa ra những nhậnxét về kết quả thực hiện các hoạt động DA trên cơ sở so sánh kết quả thựchiện với các chỉ tiêu đó lập trước Nói cách khác, đánh giá là quá trình xemxột một cách hệ thống, khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, hiệuquả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đó vạch ra

Đánh giá tác động DA là xem xét một cách toàn diện các tác động trên

cả 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường Trên cơ sở đó xem xét sựtương xứng giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp cũng như các kết quả đạtđược của DA Tùy theo tính chất, thể loại mà công tác đánh giá DA có những

Trang 11

điểm khác nhau DA đầu tư sản xuất chú trọng tới việc phân tích khía cạnhhiệu quả kinh tế DA hỗ trợ phát triển lại đặt trọng tâm ở khía cạnh xã hội vànhững DA bảo tồn lại chú ý đến khía cạnh môi trường hơn Trên thế giới việcđánh giá tác động của DA đó cú lịch sử hàng trăm năm Có rất nhiều côngtrình đánh giá DA của nhiều tác giả nổi tiếng, trong đó phải kể đến các lýthuyết về hướng dẫn và đánh giá được đề cập chi tiết trong các công trìnhnghiên cứu của WHO, Gittinger, Dixon & Hufschmtdt L.Therse Barker, JimWoodhill, FAO, WB…

Các đánh giá liên quan đến đo lường hay những nhận định, tiêu biểu làcác công trình nghiên cứu của WHO, L.Therse Barker Đây là quá trình nhằmđánh giá mức độ đạt được những mục tiêu cụ thể đó đề ra, tương ứng vớichúng là hệ thống các hoạt động, nguồn lực đó được triển khai và sử dụngnhư thế nào Với một DA, đánh giá là xem xét một cách hệ thống để xác địnhtính hiệu quả, mức độ thành công của DA, tác động xã hội cũng như các tácđộng kinh tế môi trường đối với người hưởng thụ

Thực ra, đánh giá tác động không phải là hoạt động tiến hành 1 lần vàocuối DA Theo Katherine & John thì đó chỉ là lần đánh giá tổng thể, cũngtrong quá trình thực hiện, đánh giá DA được tiến hành vào những thời điểmquan trọng, gọi là đánh giá giai đoạn trên cơ sở các hoạt động giám sát liêntục Nhiều tác giả cho rằng điều cốt yếu là phải đánh giá có sự tham gia củacác bên, đặc biệt là người hưởng lợi từ DA

Lịch sử nghiên cứu về đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trườngcủa DA hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó có thể chia làm 2 giaiđoạn sau:

* Giai đoạn 1: Từ 1960–1979: Chủ yếu là nghiên cứu xung quanhnhững vấn đề về chất lượng môi trường mâu thuẫn với tăng trưởng kinh tế.Ban đầu là những nghiên cứu về đảm bảo lương thực, bảo vệ môi trường sinhthái qua việc hạn chế nạn phá rừng Nhiều công trình nghiên cứu về ảnhhưởng của các phương thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến đất đai

Trang 12

và môi trường được công bố: Nghiên cứu của Freizendaling (1968) về “Tácđộng của con người tới sinh quyển”, Gober (Pháp, 1968) về “Đất và việc giữ

độ phì của đất – các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất”

- Đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ ban hành Luật chính sáchquốc gia về môi trường (NEPA) quy định tất cả những kiến nghị quan trọngcấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế, kỹ thuật Lúc đưa ra xét duyệt,

để được Nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo về tác động đếnmôi trường của việc làm được kiến nghị Tiếp đó là Canada, Australia, Anh,Nhật, Đức…cũng lần lượt ban hành luật đánh giá tác động môi trường Trongnhững năm 1970 và đầu 1980, một số nước đang phát triển như Thái Lan,Singapo, Philippine, Indonesia… đã ban hành quy định về đánh giá tác độngmôi trường

- Năm 1972, Liên hợp quốc (UN) đó tổ chức hội nghị về mụi trườngcủa con người để tìm hướng giải quyết những tác động không mong muốn docuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật gây ra với môi trường sống Các tổ chứcUNEO, UNDP, WB đó công bố “Tuyên bố về các chính sách và thủ tục vềmôi trường” nói lên quan điểm phải kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội vớibảo vệ môi trường và quy định trong các DA phát triển do các cơ quan nàyviện trợ hoặc cho vay vốn phải báo cáo đánh giá tác động môi trường

- Năm 1979, tổ chức FAO xuất bản tài liệu “Phân tích các DA Lâmnghiệp” do Hans M-Gregrsen và Amoldo H.Contresal biên soạn Đây là tàiliệu giảng dạy cho các địa phương mà FAO có đầu tư DA trồng rừng và pháttriển Lâm nghiệp ở các nước đang phát triển

* Giai đoạn 2: Từ năm 1980 đến nay: Mối quan tâm chính của giaiđoạn này là phát triển bền vững cân bằng kinh tế và bảo vệ môi trường, từ đâykhái niệm phát triển bền vững được đưa ra ngày càng phổ biến Đến nay,quan điểm này đó trở thành chính thống và buộc mọi người không thể bỏ qua.Năm 1992, ở Rio de Janeiro (Brazil), tại hội nghị Quốc tế về môi trường đóthống nhất: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh

Trang 13

tế, xã hội, hướng tới sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước và trêntoàn thế giới”.

- Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đó đưa ra một mô phỏng về tácđộng của các phương thức canh tác, hiệu quả của một phương thức canh tácphải đánh giá theo quan điểm tổng hợp, nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triểntoàn diện kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái (PTBV)

1.2.2 Ở Việt Nam

Hiện nay, khi nền kinh tế thế giới phát triển mạnh, lâm nghiệp ở cácnước phát triển thường mang tính chuyên môn hoá rừ ràng, tức là rừng của họthường chỉ thiên về một mục tiêu cụ thể, hoặc là phát triển kinh tế, xã hộihoặc là bảo vệ môi trường sinh thái Trong khi đó, các nước đang phát triểnnói chung và ở Việt Nam nói riêng, hầu như tất cả các chương trình phát triểnlâm nghiệp đều có mục tiêu tổng hợp, cả kinh tế và môi trường Vì vậy, việcđánh giá tác động của các chương trình, DA lâm nghiệp Việt Nam cũng yêucầu đánh giá đảm bảo tính bền vững và hiệu quả tổng hợp trên 3 mặt: kinh tế,

xã hội và môi trường

Ở Việt Nam, các DA đầu tư phát triển rừng đó được tiến hành cách đâytrên nửa thế kỷ nhưng chỉ vài chục năm gần đây mới thực hiện trên quy môlớn Thời kỳ đầu, chúng ta mới chú trọng đến hiệu quả kinh tế, cũng hiệu quả

xã hội và môi trường sinh thái hầu như rất ít được quan tâm Cho đến nay, vấn

đề đánh giá tác động môi trường ở nước ta cũng rất mới mẻ, đặc biệt là đánhgiá DA trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường

- Trước những năm 1980, ở nước ta chỉ có những nghiên cứu nhỏ, sơsài, không tập trung và chưa toàn diện về đánh giá tác động môi trường Sau

đó, kinh tế đất nước phát triển kéo theo việc suy giảm tài nguyên rừng cả về

số và chất lượng nên công tác này bắt đầu được chú trọng phát triển Năm

1983, chương trình đầu tiên, chính thức nghiên cứu về TNTN và môi trường

- Năm 1985, trong quyết định về điều tra, sử dụng hợp lý tài nguyênthiên nhiên và bảo vệ môi trường, Hội đồng Bộ trưởng( nay là Chính phủ) đó

Trang 14

nêu: “Trong xét duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật của các chương trình xâydựng lớn hoặc các chương trình phát triển kinh tế xã hội quan trọng, cần tiếnhành đánh giá tác động môi trường” Như vậy, có thể nói từ đây vấn đề đánhgiá tác động DA đó trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong sựnghiệp phát triển kinh tế, xã hội nước ta.

- Năm 1994, Hoàng Xuân Tý với công trình “Bảo vệ đất và ĐDSHtrong các DA trồng rừng bảo vệ môi trường” đó tiến hành những nghiên cứu

về kinh tế, môi trường Song, trong các phân tích, đánh giá, tác giả thườngthiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà khôngđánh giá một cách toàn diện các mặt trên

- Năm 1995, Trần Hữu Dào đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinhdoanh cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng Quếthâm canh thuần loài quy mô HGĐ tại Văn Yên - Yên Bái Trong đề tài tácgiả đó trình bày, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phântích kinh tế Lâm nghiệp Tuy nhiên, đề tài vẫn thiên về đánh giá hiệu quả kinh

tế hơn hiệu quả xã hội và môi trường

- Từ những năm 1995, có rất nhiều đề tài Thạc sỹ và kỹ sư Lâm nghiệp

đề cập tới các vấn đề đánh giá hiệu quả của các mô hình hoặc các DA Mộtđặc điểm đáng lưu ý là trong những năm gần đây, ngành Lâm nghiệp cũng đótiến hành một số công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các DA pháttriển lâm nghiệp như DA PAM, 327, 747(ở Hoà Bình), 661 Nhìn chung, việcđánh giá này dựa trên những cơ sở khoa học tin cậy và được nhiều nước sửdụng như đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường các mô hình theo phươngpháp hệ số đường ảnh hưởng

Cũng trong khoảng thời gian này, một số DA lâm nghiệp được đầu tưcủa nước ngoài cũng đó bắt đầu tiến hành đánh giá như: Báo cáo đánh giá tácđộng của DA Lâm nghiệp xó hội sụng Đà trong chương trình hợp tác kỹ thuậtViệt-Đức tại các tỉnh Sơn La và Lai Châu Báo cáo đánh giá tác động môitrường của DA phát triển nông thôn miền núi tỉnh Tuyên Quang trong chương

Trang 15

trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển (tháng 10/2001).Báo cáo đánh giá của các DA Lâm sản ngoài gỗ, ADB … Nhìn chung, cácbáo cáo đã phân tích tương đối sâu về các mặt thuận lợi, khó khăn, điểmmạnh, điểm yếu, khuyến nghị…Tuy nhiên, các báo cáo này chỉ phân tích ởmột khía cạnh nào đó mang tính chất chuyên gia, tư vấn, hoặc thậm chí chỉ lànhững báo cáo kết quả trên giấy tờ mà chưa đi sâu phân tích toàn diện và tổnghợp 3 yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trên cơ sở kiểm tra từ thực tế.

Tóm lại, đánh giá tác động DA thực chất là một quá trình phân tích và

so sánh sự khác biệt về giá trị các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường ở cácthời điểm trước và sau DA Đồng thời có thể so sánh giá trị các chỉ tiêu ấy ởvùng có và không có DA để thấy rõ sự thay đổi Những tác động này có thể làtích cực hay tiêu cực, trực tiếp hay gián tiếp, ngắn hạn hay dài hạn…

1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá dự án

Đánh giá dự án là một công việc thường xuyên diễn ra trong các hoạtđộng của dự án Đó là một khâu then chốt trong một chu trình dự án, nhằmđưa những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của dự

án trên cơ sở so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước, hay nói cách khác đánh giá

là quá trình xem xét một cách hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác địnhtính phù hợp, tính hiệu quả và tác động các hoạt động ứng với mục tiêu đãvạch ra

Đánh giá dự án được chia làm 3 giai đoạn chủ yếu và có mối quan hệchặt chẽ với chu trình dự án:

- Đánh giá sơ bộ từ khi xuất phát dự án đến khi thẩm định dự án

- Đánh giá tạm thời trong giai đoạn thực thi dự án (Đánh giá định kỳ)

- Đánh giá cuối cùng trong dự án (Đánh giá kết thúc)

- Ngoài ra còn đánh giá tác động hay đánh giá sau khi kết thúc dự án.Đánh giá hiệu quả dự án không chỉ cho biết hiệu quả kinh tế - xã hội vàmôi trường sinh thái của quá trình đầu tư mà còn cho biết tổn thất về môitrường do hoạt động của dự án đem lại Ngoài ra thông qua việc đánh giá dự

Trang 16

án giúp chúng ta định lượng những tổn thất của môi trường từ đó nhanhchóng xác định được mức chi phí cần thiết cho bảo vệ môi trường, để điềuchỉnh các hoạt động thực tiễn đảm bảo có lợi cho bảo vệ môi trường và sự tồntại lâu bền của con người và thiên nhiên Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội vàmôi trường cũng là công cụ thông tin cơ bản để các cơ quan Nhà nước, các tổchức và cá nhân tiến hành phát triển, quản lý tài nguyên và môi trường mộtcách bền vững.

Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (dự án 661) là một trong nhữngcông trình trọng điểm quốc gia, theo đó sẽ nâng cao độ che phủ của rừng ViệtNam lên mức 43% vào năm 2010 Dự án được Quốc hội Việt Nam phê chuẩnbằng Nghị quyết số 08/1997/QH10 và được Thủ tướng Chính phủ Việt Namchỉ đạo thực hiện bằng Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 Vì thế

dự án hay được gọi tắt là dự án 661 Mục đích là trồng 2 triệu ha rừng phòng

hộ, đặc dụng Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung 1 triệu ha,trồng mới 1 triệu ha gắn với định canh, định cư Sử dụng hợp lý rừng hiện có

và trồng mới 3 triệu ha rừng sản xuất Dự án được xây dựng và triển khainhằm:

- Góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khảnăng sinh thủy, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học

- Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảmnghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miềnnúi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là vùng biên giới

- Đưa Lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội miền núi

Dự án được triển khai qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1998 – 2000: trồng mới 70 vạn ha, khoanh nuôi tái sinh350.000 ha

- Giai đoạn 2001 – 2005: trồng mới 1,3 triệu ha, khoanh nuôi tái sinhkết hợp trồng bổ sung 65 vạn ha

Trang 17

- Giai đoạn 2006 – 2010: trồng mới 2 triệu ha.

Tổng vốn đầu tư dự kiến là 31.650 tỷ đồng

Để có cơ sở cho việc xây dựng và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn thìviệc tìm hiểu nguyên nhân xói mòn và hiện tượng xói mòn của đất vùng đầunguồn rất được quan tâm Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu ảnh hưởngcủa kích thước hạt mưa, cường độ mưa, phân bố mưa tới xói mòn đất nhưcông trình nghiên cứu của Hudson HW (1971), Zakharop P.X (1981) Ảnhhưởng của các yếu tố độ dốc, chiều dài dốc, loại đất, lớp thực bì cũng đượcquan tâm nghiên cứu và công bố rộng rãi trong nhiều công trình khoa học củacác tác giả như Smith D.D và Wischmeier W.H (1975), Chinh J.G (1978),Giacomin (1992)

- Nghiên cứu về thủy văn rừng nhằm hiểu rõ những nguyên lý, nhữngquy luật thủy văn diễn ra trong rừng làm cơ sở cho việc xây dựng các mô hìnhrừng phòng hộ cũng được nhiều tác giả quan tâm Các công trình nghiên cứuthủy văn rừng trên thế giới thường tập trung chủ yếu vào việc đánh giá vai tròđiều tiết nước của rừng, ví dụ như khả năng cản nước mưa của tán rừng,lượng mưa phân chia thành dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, lượng nướcchảy men thân cây,… Nổi bật nhất là công trình của Lutshev A.A (1940),Morozop G.F (1949), Moltranov A.A (1960, 1973); Giacomin, Trucchi(1992),…

- Cấu trúc rừng có ý nghĩa rất lớn, nó quyết định đến khả năng phòng

hộ của rừng, việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm tìm ra những cấu trúc hợp

Trang 18

lý, có khả năng phòng hộ cao là cơ sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng

hộ Công trình nghiên cứu của Moltranov A.A (1960, 1973) và Matveev P.N(1973) là những công trình lớn nhất đề cập tới cấu trúc rừng phòng hộ đầunguồn nước Những nghiên cứu này đã đặt cơ sở cho việc xây dựng rừngphòng hộ đầu nguồn cũng như việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinhtác động vào rừng ôn đới Tuy vậy, do cấu trúc của rừng ôn đới không có lớpthảm tươi cây bụi dày như ở nước ta nên các tác giả chưa chú ý đến nhiều vaitrò của tầng mặt đất, ngoài ra cấu trúc tầng thứ cũng chưa được các tác giảnghiên cứu sâu Những thiếu xót này đã được Lui Wenyao và các cộng sự(1992) bổ sung khi nghiên cứu ở tỉnh Yunnan, Trung Quốc

Bên cạnh rừng phòng hộ đầu nguồn thì rừng phòng hộ ven biển cũngrất được quan tâm chú ý Các nghiên cứu đều tập trung vào việc chọn các loàicây và xây dựng các đai rừng phòng hộ ven biển Có thể kể đến một số tác giảnhư Zheng Haishui (1996), Pinyopuarerk K và House A.P.N (1993), NhikitinP.D,… theo kết quả nghiên cứu của các tác giả này thì rừng phòng hộ trên đấtcát ven biển nên được xây dựng thành các đai rừng, loài cây có khả năngphòng hộ tốt và được đề cập đến nhiều nhất là Phi lao

1.4.2 Ở Việt Nam

1.4.2.1 Khái niệm và phân loại chức năng rừng phòng hộ

Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) thì rừng phòng hộ là rừngđược xác định chủ yếu để xây dựng và phát triển rừng cho mục đích bảo vệ vàđiều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòakhí hậu, đảm bảo cân bằng sinh thái và an ninh môi trường Rừng phòng hộ ởViệt Nam có thể được phân loại thành những loại sau:

* Về chức năng phòng hộ: Cũng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

2004 thì rừng phòng hộ được phân thành bốn loại:

- Rừng phòng hộ đầu nguồn

- Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay

- Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển

Trang 19

- Rừng phòng hộ môi trường sinh thái.

Trong 4 loại rừng phòng hộ thì diện tích rừng phòng hộ đầu nguồnchiếm tới 93,3% tổng diện tích rừng phòng hộ, chính vì vậy rừng phòng hộđầu nguồn giữ một vị trí rất quan trọng trong việc đảm bảo môi trường sinhthái, phòng chống thiên tai ở nước ta

* Theo mức độ xung yếu mà rừng phòng hộ đầu nguồn được phân chia ra:

- Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốclớn, gần sông suối, gần hồ, nơi có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu caonhất về điều tiết nước

- Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn vàđiều tiết nguồn nước trung bình; nơi có điều kiện kết hợp phát triển sản xuấtlâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ và sử dụng đất

1.4.2.2 Hệ thống các dự án, khu rừng phòng hộ trọng điểm trên toàn quốc

Theo số liệu thống kê của viện điều tra quy hoạch rừng, số lượng cáckhu và dự án phòng hộ đầu nguồn (PHĐN) trong cả nước như sau:

- Vùng Tây Bắc có 3 khu phòng hộ đầu nguồn trên 2 lưu vực sông lớn

là sông Đà (diện tích 2.359.000 ha), sông Mã (diện tích 688.000 ha), và khuphòng hộ hồ thủy điện Hòa Bình (diện tích 464.000 ha)

- Vùng Đông Bắc có 12 khu phòng hộ đầu nguồn lớn nhất là khu phòng

hộ đầu nguồn sông Lô Gâm 960.000 ha, sau đó là các khu phòng hộ đầunguồn sông Thao 805.000 ha, sông Thương 214.000 ha, nhỏ nhất là khuphòng hộ đầu nguồn sông Hà Cối - Quảng Ninh

- Vùng Bắc Trung Bộ có 28 khu phòng hộ đầu nguồn, trong đó lớn nhất

là khu phòng hộ đầu nguồn sông Gianh 279.000 ha, sau đó là sông Nhật Lệ186.000 ha

- Vùng Duyên hải miền Trung có tổng số 13 khu phòng hộ đầu nguồn, ở

đó lớn nhất là khu phòng hộ đầu nguồn sông Thu Bồn diện tích 766.000 ha

Trang 20

- Vùng Tây Nguyên có 37 khu phòng hộ đầu nguồn và dự án phòng hộ

thuộc Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó khu phòng hộ đầu nguồn sông

Sê San là lớn nhất gần 600.000 ha, trên địa bàn 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum

- Vùng Đông Nam Bộ có 43 dự án khu phòng hộ đầu nguồn với diện

tích trung bình từ 15.000 - 30.000 ha/dự án

1.4.2.3 Các văn bản và chính sách chủ yếu liên quan đến rừng phòng hộ

Trong thời gian qua, nhiều Luật liên quan đến bảo vệ, khôi phục và

phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn đã được ban hành như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 1991 sửa đổi năm 2004); Luật đất đai (năm 1993 và sửa đổi năm 1998, 2003); Luật bảo vệ môi trường (1993); Luật tài nguyên nước (1998); Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1995); Kế hoạch hành động quốc gia chống xa mạc hóa (7/2002);… Ngoài ra, hàng loạt các quyết định

quan trọng của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, Ngành cũng đã được banhành, tạo ra hành lang pháp lý cho việc quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triểnrừng phòng hộ đầu nguồn ở nước ta, cụ thể là:

- Quyết định số 1171 - QĐ ngày 30/12/1986 của Bộ Lâm nghiệp banhành Quy chế rừng sản xuất, phòng hộ và đặc dụng

- Quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, bãibồi ven biển và mặt nước

- Quyết định số 134 - QĐ/KT ngày 4/4/1994 của Bộ trưởng Bộ Lâmnghiệp ban hành Quy phạm kỹ thuật xây dựng RPHĐN (QPN-13-91)

- Quyết định số 661/QĐ - TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chínhphủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dựu án trồng mới

5 triệu ha rừng

- Quyết định số 175/1998/QĐ/BNN/KHCN ngày 04/11/1998 của Bộtrưởng Bộ NN & PTNT ban hành quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôixúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21-98)

Trang 21

- Quyết định số 02/1999/QĐ-BNN-PTLN ngày 05/01/1999 nay làQuyết định số 04/2004/QĐ-BNN-LN ngày 02/02/2004 của Bộ trưởng Bộ NN

& PTNT ban hành Quy chế về khai thác gỗ và lâm sản khác

- Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướngChính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừngsản xuất là rừng tự nhiên

1.4.2.4 Các giai đoạn xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở Việt Nam

Quá trình xây dựng và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam

có thể chia ra các giai đoạn sau đây:

- Giai đoạn trước năm 1986: Trong giai đoạn này rừng phòng hộ nóichung và rừng phòng hộ đầu nguồn nói riêng chưa được chú ý vì chưa cóphân loại 3 loại rừng ở nước ta, rừng được xây dựng theo kế hoạch với mụctiêu chủ yếu là phủ xanh

- Giai đoạn 1986-1995: là giai đoạn quy hoạch và xây dựng các khuRPHĐN trọng điểm trong toàn quốc Năm 1986 đã ban hành Quy chế quản lý

3 loại rừng - cơ sở pháp lý để xây dựng và phát triển rừng phòng hộ Mở đầu

là quy hoạch vùng đất xây dựng hệ thống rừng phòng hộ lưu vực sông Đà vàthủy điện Hòa Bình (1989) Tiếp đó, hàng loạt các Dự án xây dựng rừngphòng hộ khác cũng được phê duyệt và triển khai

- Giai đoạn 1995-1998: ghi nhận sự đổi mới và đầu tư to lớn về kinhphí (trung bình 500 tỷ đồng/năm) vào trồng rừng phòng hộ trong phạm vi cảnước theo chương trình 327 Đến ngày 12/9/1995 bằng Quyết định 556-TTg ,Thủ tướng Chính phủ đã giới hạn Chương trình 327 thành chương trình Quốcgia về “Bảo vệ, khôi phục rừng phòng hộ, đặc dụng” và cũng từ đây quy định

cụ thể về phương thức, kỹ thuật, loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồnđược quy định cụ thể hơn Nhiều mô hình rừng phòng họ đầu nguồn có hiệuquả đã được xây dựng thành công trong cả nước

- Giai đoạn 1998 đến nay: việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồnđược thực hiện theo Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó có khoanh

Trang 22

nuôi, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng phòng hộ và đặc dụng là 1 triệu

ha, trồng mới 1 triệu ha (tổng cộng 2 triệu ha)

Cho tới nay hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở nước ta đã tuuwongđối định hình, tuy vậy về vấn đề quy hoạch 3 loại rừng và xác định lâm phần

ổn định cho từng vùng, từng tỉnh, đặc biệt là rừng phòng hộ vẫn còn đangnhiều tranh luận và chưa thống nhất nên hiện nay Bộ NN & PTNN đang cho

rà soát, xác định lại diện tích và quy hoạch lại rừng phòng hộ

1.4.2.5 Các công trình nghiên cứu về rừng phòng hộ ở Việt Nam

Nghiên cứu xói mòn là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựngrừng phòng hộ đầu nguồn Ở nước ta vấn đề này được rất nhiều tác giả quantâm Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) thì vấn đề xói mòn đã bắt đầu đượcquan tâm ở nước ta từ những năm 1954, bước đầu chỉ là những biện phápchống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè cống

Nhiều tác giả đã đi sâu và cho ra đời nhiều công trình khoa học có giátrị về xói mòn đất như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Cao Văn Vinh vềảnh hưởng của độ dốc đến xói mòn đất, góp phần đè ra những chỉ tiêu và quychế bảo vệ, sự dụng và khai thác đất dốc; Tôn Gia Huyên (1967), Chu ĐìnhHoàng, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạng (1963) đã tập trung nghiên cứu ởvùng Tây Bắc, Bắc Thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai về biện pháp và côngtrình trồng cây phân xanh che phủ đất; nghiên cứu của Chu Đình Hoàng vàĐào Khương về những nét đặc trưng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu nhiệtđới Việt Nam Nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp dụng, xâydựng hàng loạt các khu quan trắc xói mòn định vị bằng xi măng, gạch, gỗ,kim loại như trạm nghiên cứu xói mòn An Châu (Hữu Lũng-Lạng Sơn), trạmEkmat (Buôn Mê Thuột), trạm nghiên cứu xói mòn Tây Nguyên

Đối với đất vùng đầu nguồn tỉnh Cao Bằng, các biện pháp xây dựngrừng phòng hộ đầu nguồn cụ thể là:

- Đối với vùng có rừng: Phải giữ bằng được diện tích rừng hiện còntrong các lưu vực sông, suối đã khoanh thành vùng đầu nguồn phòng hộ Với

Trang 23

những diện tích rừng xấu, nghèo kiệt, khả năng giữa nước, giữ đất đã sút kémcần khoanh lại thành khu vực cấm, đình chỉ kịp thời việc đốn cây, chặt củihoặc tận thu lạm dụng lâm sản Ở những khu vực có những cây tái sinh tựnhiên chưa đạt yêu cầu cần có biện pháp tra dặm hạt hoặc cây con, nhângiống, xúc tiến việc phục hồi rừng.

- Đối với những vùng rừng còn sản lượng, việc khai thác lâm sản phảitheo đúng quy trình và thể lệ, không áp dụng phương thức khai thác trắng,cường độ khai thác không vượt quá lượng tăng trưởng của rừng Ở đây chứcnăng phòng hộ vẫn phải được xem là chủ yếu

- Đối với vùng không còn rừng:

+ Khoanh nuôi, bảo vệ: Ở những nơi mà lớp thực bì hiện diện tuykhông còn là rừng (trảng cây lớn, cây bụi) nhưng khả năng giữ nước, giữ đấtvẫn còn phát huy tác dụng, cần được khoanh giữ triệt để, tận dụng sức tái sinhmạnh của thực vật để xúc tiến việc phục hồi rừng Tuy có những hạn chế vềmặt tốc độ thời gian, thiếu chủ động, song đây là biện pháp có ý nghĩa kinh tế

về nhiều mặt (vốn đầu tư, giá thành, nhân lực ) có thể áp dụng trước mắt cảnhững khu vực chưa có điều kiện kinh doanh cao ở miền núi nước ta

+ Trồng rừng: Tuy là biện pháp tích cực nhưng gặp nhiều khó khăn vềđiều kiện tự nhiên, về giống, nhân lực và vốn Vì thế trước mắt chỉ nên thựchiện ở những vùng đầu nguồn xung yếu mà ở đó thực vật không còn khả năngtái sinh tự nhiên để trở thành thảm che tốt được, hoặc những vùng gần khudân cư có điều kiện thuận lợi để xúc tiến việc trồng rừng Về loại cây trồng đểcho mục đích phòng hộ cần chọn những loài cây sống lâu năm, có khả năngtái sinh tốt, có bộ rễ phát triển, có nhiều cành nhánh và tán lá rộng

Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cở

sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng đượcnhiều tác giả quan tâm Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã

công bố công trình “Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng

Trang 24

hộ nguồn nước” Trong đó, các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng

hoojcuar một số dạng cấu trúc thảm thực vật về mặt chống xói mòn và điềutiết nguồn nước Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình phòng hộ đầu nguồn

có cấu trúc hợp lý

Trồng rừng phòng hộ là giải pháp duy nhất để khôi phục rừng trênnhững vùng đất trống, đồi núi trọc, đất rừng đã bị thoái hóa Trong đó việc lựachọn loài cây trồng là một khâu rất được chú ý vì nó góp phần quyết định đếnkhả năng phòng hộ của rừng nhiều năm tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn,một danh sách gồm 34 loài cây trồng phòng hộ đã được đề xuất cho trồngrừng phòng hộ trên cả nước Hoàng Liên Sơn và các cộng tác viên (2005) đãtổng kết và đưa ra danh sách 50 loài cây chia làm 4 nhóm chính được sử dụngcho trồng rừng phòng hộ Dự án 661 trên phạm vi toàn quốc

Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công Khanh (1997) đã nghiêncứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho trồng rừng phòng hộ ở một

số vùng trọng điểm Trên cơ sở cây bản địa đưa vào trồng rừng phòng hộ làphải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, kêt hợp được với nhau, có tác dụng phùtrợ lẫn nhau, giữ gìn điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, giữ đất, sống lâunăm, tán lá dày, rậm và thường xanh, bộ rễ phát triển sâu,… các tác giả đãđưa ra mô hình trồng rừng phòng hộ dự tuyển cho 7 vùng sinh thái lâmnghiệp trên cả nước Trong đó, vùng Đông Bắc Bộ có 2 mô hình là:

+ Sa mộc hoặc Thông mã vĩ + Trúc: Rạch 1 hàng (9x2m) + Băng 2hàng (3x2m)

+ Mơ hay Sa mộc thuần loài: Hàng cây (3x2m) + tầng chồi sau 8-10năm tỉa thưa

Võ Đại Hải (2000) trong khi nghiên cứu những giải pháp cho quản lý

và xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên đã đưa ra một số môhình phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn khá thành công là các mô hình táiKbang - Sơ Pai tiểu vùng Kon Hà Nừng; mô hình trên quốc lộ 22 gần huyệnKông - Plông miền Đông Kon Tum; mô hình gần quốc lộ 20 vùng hồ Thủy

Trang 25

Tiên - Đà Lạt Đây đều là các đối tượng rừng sau khi khai thác kiệt và rừngphục hồi sau nương rẫy Sau khi áp dụng khoanh nuôi có trồng bổ sung cácđối tượng rừng trên đều phục hồi rất tốt.

Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) , Dự án trồng mới 5 triệu

ha rừng giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừngtrồng phòng hộ đầu nguồn Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh cótrồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số cótới 188 mô hình trồng ừng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khácnhau tùy thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình

1.4.2.6 Nhận xét và đánh giá chung

Điểm qua những nét tổng quan chung có thể cho thấy rằng rừng phòng

hộ đầu nguồn được quan tâm chú ý ở nhiều nước trên thế giới Các nghiêncứu về rừng phòng hộ đầu nguồn chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, xác địnhcấu trúc hợp lý của rừng, thủy văn rừng,… Ở Việt Nam, việc xây dựng vàphát triển rừng phòng hộ đầu nguồn được Nhà nước đặc biệt quan tâm, rấtnhiều các công trình nghiên cứu, các Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầunguồn được phê duyệt và triển khai Các văn bản pháp luật được ban hành đãtạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và phát triển rừng phòng

hộ ở nước ta Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu chủ yếu tậptrung vào hiện tượng xói mòn đất, nghiên cứu cấu trúc hợp lý của rừng, việcđánh giá các mô hình rừng phòng hộ cũng được một số tác giả quan tâmnhưng nói chung còn ít Đặc biệt là trong Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đãxây dựng một khối lượng khá lớn rừng trồng phòng hộ, nhưng những nghiêncứu, đánh giá về vấn đề này còn rất ít hoặc nếu có thì mới chỉ thực hiện trêndiện rộng, thiếu những nghiên cứu cụ thể cho từng vùng, từng địa phương

Trang 26

Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Tổng kết và đánh giá tình hình thực hiện và hiệu quả dự án trồng rừngphòng hộ 661 giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Phân tích khoảng trống, sự thiếu hụt trong hướng dẫn kĩ thuật, suấtđầu tư và việc áp dụng trong thực tiễn Dự án trồng rừng phòng hộ 661 trênđịa bàn tỉnh Cao Bằng

- Đề suất một số khuyến nghị về các biện pháp kĩ thuật, cơ chế chínhsách, suất đầu tư cho các Dự án lâm nghiệp sau này tại tỉnh Cao Bằng

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồnthuộc Dự án 661 giai đoạn 2008 - 2010 tại tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi nghiên cứu: giới hạn trong tỉnh Cao Bằng Do thời gian vàđiều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên khóa luận chỉ tập trung vào đốitượng trồng rừng phòng hộ đầu nguồn với các nội dung: Diện tích, loài cây,các cơ chế chính sách, suất đầu tư áp dụng, khả năng phòng hộ của rừng

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Bối cảnh ra đời của Dự án:

- Điều tra phân tích điều kiện cơ bản của vùng Dự án

- Phân tính cấp thiết của dự án

- Xác định mục tiêu và quy mô các hoạt động của Dự án

2.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án:

- Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn của dự án trồngrừng phòng hộ 661 giai đoạn 2008 - 2010 tại tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá các biện pháp kĩ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn của

dự án trồng rừng phòng hộ 661giai đoạn 2008 - 2010 tại tỉnh Cao Bằng

Trang 27

- Tổng kết và đánh giá hệ thống cơ chế chính sách, suất đầu tư trồngrừng trong dự án trồng rừng phòng hộ 661 tại tỉnh Cao Bằng.

2.3.3 Đánh giá tác động, hiệu quả của dự án về các mặt đời sống

- Hiệu quả về kinh tế

- Hiệu quả về xã hội

- Hiệu quả về môi trường

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho các Dự án lâm nghiệp sau này tại tỉnh Cao Bằng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thu thập các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có

- Thu thập các văn bản hướng dẫn kĩ thuật, các quyết định, chỉ thị củaChính phủ, Bộ NN & PTNT, Cục Lâm nghiệp, các Thông tư hướng dẫn liên

bộ và của Bộ NN & PTNT,… liên quan đến kĩ thuật và suất đầu tư, hưởng lợi,

… trong Dự án 661 Các thông tin chung về tình hình thực hiện, triển khai dự

án và những vấn đề có liên quan từ Ban quản lý Dự án Trung ương và tỉnhCao Bằng

- Văn kiện dự án, bản đồ hiện trạng đất đai, bản đồ quy hoạch…báo cáogiám sát đánh giá dự án, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, tình hình diễn biếntài nguyên của vùng Dự án

- Kế thừa các kết quả nghiên cứu và đánh giá đã có về tình hình thựchiện, triển khai các cơ chế chính sách, các hướng dẫn kĩ thuật, các mô hìnhlâm sinh áp dụng trong Dự án tại tỉnh Cao Bằng Các văn bản, chính sách chỉđạo thực hiện, số liệu tổng kết Dự án ở TW và của tỉnh Cao Bằng

- Kết hợp giữa tổng kết và đánh giá của địa phương thông qua các báocáo tổng kết đánh giá thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ 661 giai đoạn

2008 - 2010 với kết quả khảo sát, đánh giá thực tế

+ Tiếp cận kết quả tổng kết và đánh giá dự án trồng rừng phòng hộ 661giai đoạn 2008 – 2010 của tỉnh, các hướng dẫn kĩ thuật, cơ chế chính sách đã

áp dụng trong Dự án 661 của tỉnh

Trang 28

+ Tiếp cận khảo sát tình hình thực hiện, triển khai dự án Lựa chọn cáchuyện, các Ban quản lý dự án trọng điểm về việc thực hiện Dự án để khảo sát,đánh giá chi tiết.

- Việc áp dụng, triển khai các hướng dẫn kĩ thuật, các cơ chế chính sách

và các mô hình lâm sinh trên thực tế phải dựa trên sự đồng bộ, phù hợp vàthống nhất với trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương Sơ đồcác bước nghiên cứu được thể hiện ở hình 3.1:

Các thông tin về kỹ thuật Các thông tin về cơ chế,chính sách, suất đầu tư

Điều tra, khảo sát thực địa

Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu

Thu thập thông tin, số liệu

Trang 29

2.4.2 Phương pháp khảo sát, đánh giá trên thực địa

- Làm việc với lãnh đạo sở NN & PTNT, Chi cục Lâm nghiệp, Banquản lý dự án 661 của tỉnh và các Ban quản lý dự án cơ sở trực thuộc để nắmđược tình hình chung về việc triển khai dự án, các hướng dẫn kỹ thuật, các cơchế chính sách và các mô hình lâm sinh đã áp dụng, các loài cây, các loài câytrồng rừng, biện pháp kĩ thuật ( lập địa, xử lý thực bì, làm đất, phương thức trồng,mật đọ trồng, bón phân, thời vụ,…) chủ yếu áp dụng trong Dự án 661, tình hình tổchức thực hiện, những khó khăn, vướng mắc, mà các địa phương gặp phải và cáckiến nghị, đề xuất của lãnh đạo, cán bộ và người dân địa phương Từ đó, đưa racác địa phương để điều tra, khảo sát chi tiết cụ thể như sau:

+ Tại BQL rừng phòng hộ sông Lô – Gâm Bảo Lạc: xã Cốc Pàng, Cô

Ba, Xuân Trường

Hình 2.2: Dòng sông gâm chạy qua địa phận huyện Bảo Lạc

+ Tại BQL rừng phòng hộ đầu ngồn sông Quây Sơn Trùng Khánh: XãNgọc Khê, Đàm Thủy

Hình 2.3: Cọn nước bên dòng sông Quây Sơn

Trang 30

+ Tại BQL rừng phòng hộ Nguyên Bình: xã Phan Thanh, Tam Kim.

Hình 2.4: Rừng đặc dụng Phja Oắc (Nguyên Bình)

2.4.3 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao để đánh giá hiệuquả của dự án, đề xuất các giải pháp tối ưu

- Tổ chức các cuộc họp bàn để lấy các ý kiến

- Xây dựng hệ thống tiêu chí và thang điểm để xác định tính hiệu quảcủa dự án

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Khái quát chung về dự án

+ Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống đồi núi trọc tạo thêm nhiềuviệc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhậpsống cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị xã hội, an ninhquốc phòng trên địa bàn tỉnh

- Tổ chức thực hiện: Để tổ chức thực hiện dự án được tốt, UBND tỉnhCao Bằng đã có quyết định số 26/QĐ-UB ngày 15/01/1999 về việc thành lậpBan điều hành và Ban quản lý dự án 661 tỉnh Cao Bằng gồm 9 thành viêntham gia Trưởng ban điều hành là Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách khốiNông Lâm nghiệp, phó trưởng Ban thường trực là Phó Giám đốc Sở NN &PTNT phụ trách khối lâm nghiệp, đồng thời Sở NN & PTNT tỉnh Cao Bằng

là cơ quan thường trực của Ban điều hành dự án Ủy viên Ban điều hành gồmlãnh đạo các Sở: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường,Chi cục Kiểm lâm, Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng, Chi cục Lâm nghiệp.Ban quản lý dự án 661 gồm có Trưởng ban, Phó trưởng ban, kế toán ban vàmột số ủy viên giúp việc Chi cục Lâm nghiệp là cơ quan trực tiếp kiêm banquản lý dự án 661 tỉnh

- Ban điều hành cấp tỉnh: thành phần quy định gồm đồng chí phó chủtịch UBND tỉnh làm trưởng ban, đồng chí phó giám đốc Sở NN & PTNT phụtrách khối lâm nghiệp làm phó ban thường trực và các thành viên gồm lãnhđạo Văn phòng UBND tỉnh, Sở Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên vàMôi trường, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp

Trang 32

BQL cấp tỉnh từ 2009 trở về trước do Chi cục Lâm nghiệp thực hiện(theo QĐ 66); đến nay chuyển về Sở NN & PTNT (theo QĐ số: 73 của Bộ

NN & PTNT) và do đồng chí phó trưởng Ban thường trực ban điều hành tỉnhtrực tiếp làm trưởng ban quản lý, các thành phần ban quản lý gồm lãnh đạophòng kế hoạch sở NN & PTNT, lãnh đạo và 01 chuyên viên của Chi cụcLâm nghiệp, cùng chuyên viên của các ngành tham gia (Văn phòng UBND,

Kế hoạch, Tài chính, Kho bạc Nhà nước)

Công tác phối kết hợp chỉ đạo, điều hành dự án từ Trung ương tới địaphương triển khai tương đối đồng bộ và thống nhất, song sự chỉ đạo phối hợpcủa các cơ quan trong tỉnh còn nhiều lung túng và tập trung chủ yếu ở Sở NN

& PTNT và Chi cục Lâm nghiệp Công việc chủ yếu là chỉ đạo, hướng dẫncông tác kĩ thuật, các thủ tục thanh quyết toán vốn Vốn dự án được phân bổgiao về UBND huyện trực tiêp quản lý và điều hành dự án cơ sở nên việc đầu

tư vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu không thể thực hiện được

3.1.2 Điều kiện cơ bản vùng dự án

3.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm)

- Từ 105016'15" - 106050'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyệnBảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang)

Trang 33

Về mặt địa giới tỉnh Cao Bằng giáp ranh với các tỉnh sau đây:

- Phía Bắc và Đông Bắc: giáp với Trung Quốc có đường biên giới dàihơn 300 km

- Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang

- Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn

Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.690,72km2, là cao nguyên đá vôi xenlẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600 -1.300m so với mặt nước biển Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnhvới diện địa hình núi non trùng điệp Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt:Vùng phía Đông có đặc trưng là nhiều núi đá, vùng phía Tây núi đất xen núi

đá, vùng Tây Nam phân bố phần lớn là núi đất với nhiều rừng rậm

- Kiểu địa hình núi cao: Chủ yếu phân bố ở các huyện miền tây của tỉnh(Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An) và một phần diện tích phía nam Hoà An.Kiểu địa hình vùng này đáng chú ý nhất là:

+ Hệ thống núi cao Bảo Lạc - Nguyên Bình: Bao gồm nhiều dãy núicao kéo dài từ phía Tây nam huyện Bảo Lạc qua phần diện tích phía Tây namhuyện Nguyên Bình với các đỉnh cao tiêu biểu: Phja Dạ (Bảo Lạc) 1.980 m sovới mặt nước biển; Phja Đén (Nguyên Bình) 1.428 m; Phja Oắc (NguyênBình) 1.931 m Hệ thống núi cao này có cấu tạo đặc trưng là trầm tích củađiệp sông Hiến và các đá macma xâm nhập axit - Grannit

Trang 34

+ Hệ thống núi cao Ngân Sơn - Thạch An: Bao gồm nhiều dãy núi xếpxen kẽ, kéo dài từ phía Bắc - Tây bắc huyện Ngân Sơn (Bắc Cạn) qua thị trấnNgân Sơn, Bằng Khẩu và huyện Thạch An rồi vượt sang phía Tây - Tây namtỉnh Lạng Sơn Với các đỉnh cao tiêu biểu: Pù Tang Lam 1.639 m so với mặtnước biển; Khau Pàu: 1.188m Cấu tạo định hình này chủ yêú là các đá trầmtích điệp sông Hiến và một phần không đáng kể của trần tích Paleozoi sớmgiữa (Pt1 và Pt2).

- Kiểu địa hình núi thấp thung lũng: Xen kẽ các hệ thống núi cao là cácthung lũng, núi thấp, sông suối với những kích thước lớn, nhỏ tạo thành hìnhthái nhiều vẻ khác nhau Các thung lũng lớn như: Hoà An, Nguyên Bình,Thạch An, thung lũng sông Bắc Vọng Trong đó, đáng chú ý hơn là thunglũng Hoà An - vựa lúa của tỉnh, nằm trùng với phần phía bắc của lòng mángCao Lạng, dài gần 30 km Điểm bắt đầu từ Mỏ Sắt (Dân Chủ - Hoà An) kéodài hết xã Chu Trinh (Hoà An), chạy dọc theo đường đứt gãy Cao Bằng -Lạng Sơn, bao gồm những cánh đồng phì nhiêu, tương đối bằng phẳng, xengiữa các cánh đồng là đồi núi thấp sắp xếp không liên tục theo kiểu bát úp

Trong các nhóm đất trên: nhóm đất có thành phần cơ giới có lớp đáy từtrung bình đến nặng là một ưu điểm lớn của quá trình canh tác ở Cao Bằng,

Trang 35

đất có nền vững chắc tạo điều kiện cho quá trình giữ nước và phân bón chocây trồng.

3.1.2.1.4 Khí hậu, thủy văn

* Khí hậu: Cao Bằng là cửa ngõ đón gió mùa Đông Bắc từ Trung Quốc

tràn sang vào mùa đông và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam vào mùa

hè, vì vậy khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưngriêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc Có tiểu vùng cókhí hậu á nhiệt đới, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hàng năm Vàomùa này thường có gió mùa Đông Nam và chịu ảnh hưởng một phần nhỏ củagió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình những thánggiữa các mùa dao động khoảng 50C - 60C Lượng mưa trung bình mùa mưa là

200 - 250mm Nhiệt độ trung bình mùa mưa là 200C - 240C và độ ẩm khôngkhí trung bình là 80% - 90%

- Mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Mùanày khí hậu ôn đới mát mẻ, giá lạnh hay có sương mù, có vùng còn xuất hiệnsương muối Gió mùa đông bắc thường xuyên thổi đến gây khô và rét, cáctháng giá rét thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 Lượng mưa trung bìnhmùa khô là 20 - 40mm; thấp nhất: 10 - 20mm Nhiệt độ trung bình mùa khô là

8 - 150C và độ ẩm trung bình hàng tháng là 70% - 80%

* Thủy văn: Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía

tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sôngngòi khác như sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng,sông Neo hay sông Hiến Hệ thống sông ngòi phân bố khắp các huyện trongtỉnh có tiềm năng thủy điện, thủy lợi và giao thông cần được khai thác

3.1.2.1.5 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng

* Tiềm năng đất rừng và rừng: Tỉnh Cao Bằng có tổng diện tích tự

nhiên toàn tỉnh là: 670.785,56 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là534.050,03 ha chiếm 79,62% diện tích tự nhiên Trong đó:

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Đại Hải (1997), Nguyễn Ngọc Lung, Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn nước. Nhà xuất bản Nông nghiệp TP.HCM – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu nghiên cứu tácdụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và cácnguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn nước
Tác giả: Võ Đại Hải
Nhà XB: Nhà xuất bảnNông nghiệp TP.HCM – 1997
Năm: 1997
2. Võ Đại Hải (2005). Phương pháp xây dựng khu rừng phòng hộ đầu ngồn.Báo cáo khoa học chuyên đề - Trường Đại học Lâm nghiệp 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xây dựng khu rừng phòng hộ đầu ngồn
Tác giả: Võ Đại Hải
Năm: 2005
5. Bộ NN & PTNT (1998). Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 14 – 92) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúctiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung
Tác giả: Bộ NN & PTNT
Năm: 1998
6. Võ Đại Hải (2000). Những cơ hội và các giải pháp cho quản lý và xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên. Tạp chí Lâm nghiệp (10), trang 16 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ hội và các giải pháp cho quản lý và xâydựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên
Tác giả: Võ Đại Hải
Năm: 2000
7. Bộ Lâm nghiệp (1986). Quy chế quản lý sử dụng rừng phòng hộ ban hành kèm theo quyết định số 1171 ngày 30 tháng 12 năm 1986 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý sử dụng rừng phòng hộ
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Năm: 1986
8. Bộ Lâm nghiệp (1991). Quy phạm xây dựng kỹ thuật rừng phòng hộ đầu nguồn (QPN – 13 – 91) ban hành kèm theo quyết định số 134-QĐ/KT ngày 14/4/1991 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm xây dựng kỹ thuật rừng phòng hộ đầunguồn
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Năm: 1991
12. Hudson H.W (1971). Rain drop size in soil conservation. Cornll university Press – 1971 – New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rain drop size in soil conservation
Tác giả: Hudson H.W
Năm: 1971
13. Zakharop P.X (1981). Erosion and control. Cornll University Press – 1981 – New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Erosion and control
Tác giả: Zakharop P.X
Năm: 1981
14. Wischmeier W.H and Smith D.D (1957). Factors affecting sheet and rill erosion. Trans. Amgeophys. Union 38/1957, pp.889 – 896 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors affecting sheet and rillerosion
Tác giả: Wischmeier W.H and Smith D.D
Năm: 1957
15. Ching J.G (1987). Conservation measures and soil loss factors evaluation on cultivated slopeland of Taiwan. Asian Intitutc of Technology Bang kok - Thailand – April 1987, pp. 5 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conservation measures and soil loss factors evaluationon cultivated slopeland of Taiwan
Tác giả: Ching J.G
Năm: 1987
16. Giacomin; Truchi, P(1992). Rainfall interception in a beech coppice.Amsterdam 1992, Journal of Hydrology, volume 137, p.p. 141 – 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rainfall interception in a beech coppice
Tác giả: Giacomin; Truchi, P
Năm: 1992
17. Wischmeier W.H (1974). New developments in estimating water erosion.29 th annual meeting of the soil convervation society of America proceedings 1974, p.p. 179 – 186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New developments in estimating watererosion
Tác giả: Wischmeier W.H
Năm: 1974
3. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2004). Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 Khác
4. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 186/2006/QĐ – TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng Khác
9. Bộ Lâm nghiệp. Quyết định số 1171-QĐ ngày 30 tháng 12 năm 1986 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp ban hành Quy chế rừng sản xuất, phòng hộ và đặc dụng Khác
10. Quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch HĐBT về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước Khác
11. Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu - đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án trồng mới 5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh cao bằng
Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu (Trang 29)
Hình 2.4: Rừng đặc dụng Phja Oắc (Nguyên Bình) - đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án trồng mới 5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh cao bằng
Hình 2.4 Rừng đặc dụng Phja Oắc (Nguyên Bình) (Trang 31)
Hình 3.2: Rừng Sa Mộc ven quốc  lộ 34  huyện Bảo Lạc - đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án trồng mới 5 triệu ha giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn tỉnh cao bằng
Hình 3.2 Rừng Sa Mộc ven quốc lộ 34 huyện Bảo Lạc (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w