1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế

70 945 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã Hải Dương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Quản lý thủy sản và phát triển bền vững vùng ven biển
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự suy giảm nguồn tài nguyên thủy sản đang ngàycàng trở nên nghiêm trọng, môi trường biển ngày càng bị ô nhiễm… nênngư dân đang gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực để

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Đặc điểm sinh kế cộng đồng ngư dân ven biển 4

2.1.1 Khái niệm về sinh kế 4

2.1.2 Khái niệm đa dạng hóa sinh kế 5

2.1.3 Khái niệm về cộng đồng 5

2.2 Chủ trương chính sách quản lý TS và phát triển thủy sản 8

2.2.1 Các vấn đề quản lý ở vùng ven bờ biển Việt Nam 8

2.2.2 Chính sách hỗ trợ phát KTXH vùng ven biển và các xã bãi ngang 11

2.2.3 Quy định về quản lý KTTS biển 12

2.3 Hoạt động KTTS ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế 13

2.3.1 Tình hình KTTS ở Việt Nam 13

2.3.2 Hoạt động KTTS biển Thừa Thiên Huế 15

PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17

3.2 Nội dung nghiên cứu 17

3.3.1 Tìm hiểu tình KTTS và các hoạt động KTTS biển của người dân xã Hải Dương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 17

3.3.2 Tìm hiểu các hình thức hợp tác và vai trò tổ chức cộng đồng trong hoạt động KTTS biển 17

3.3.3 Đánh giá đa dạng hóa sinh kế của cộng đồng ngư dân sống dựa vào KTTS biển 17

3.3.4 Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về quản lý TS biển và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sinh kế ngư dân 18

3.4 Phương pháp nghiên cứu 18

3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 18

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 18

Trang 2

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 19

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20

4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 20

4.1.1 Đặc điểm cộng đồng KTTS biển vùng nghiên cứu 20

4.1.1.1 Tình hình KTTS biển vùng nghiên cứu 20

4.1.1.2 Đặc điểm cộng đồng KTTS biển trong vùng nghiên cứu 22

4.1.2 Đặc điểm hộ khảo sát 24

4.1.2.1 Đặc điểm nhân khẩu và lao động của các hộ KTTS biển 24

4.1.2.2 Đặc điểm nhà ở, phương tiện và ngư cụ đánh bắt của nhóm hộ KTTS biển 26

4.2 Hoạt động khai thác thủy sản biển 28

4.3 Sản lượng thủy sản và thu nhập từ KTTS biển của hộ 31

4.4 Nguồn thu và mức thu nhập của hộ khảo sát 33

4.5 Các hình thức tổ chức, hợp tác và vai trò cộng đồng trong hoạt động khai thác biển 37

4.5.1 Các hình thức tổ chức và hợp tác khi đi biển của nhóm hộ KTTS biển37 4.5.2 Vai trò của tổ chức cộng đồng trong hoạt động KTTS biển của nhóm hộ nghiên cứu 39

4.6 Thực hành chê biến sản phẩm KT 39

4.7 Nhận thức về thay đổi tài nguyên môi trường 40

4.7.1 Nhận thức của ngư dân về quản lý KTTS biển 40

4.7.1.1 Sự tham gia các hoạt động quản lý KTTS của người dân 40

4.7.1.2 Nhận thức của ngư dân trước sự suy giảm tài nguyên biển 42

4.7.2 Ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế của ngư dân 44

4.7.2.1 Nhận thức của người dân về BĐKH 44

4.7.2.2 Ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế và sự thích ứng của người dân đối với BĐKH 46

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Kiến nghị 49

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT HỘ 50

PHỤ LỤC 2: DANH MỤC TIỂU CHỦ ĐỀ 50

PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG KTTS BIỂN 50

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Số hộ KTTS biển trong toàn xã 20

Bảng 2: Số lượng thuyền máy qua các năm 21

Bảng 3: Các hoạt động KTTS biển trong vùng NC 22

Bảng 4: Các đặc điểm của cộng đồng KTTS biển 23

Bảng 5: Biến động số hộ KTTS biển qua các năm 23

Bảng 6: Đặc điểm nhân khẩu, lao động của các hộ KTTS biển 25

Bảng 7: Nhà ở và các phương tiện, ngư cụ chính của hộ KTTS biển 26

Bảng 8: Giá trị tài sản và phương tiện KT của hộ KTTS biển 27

Bảng 9: Hoạt động KTTS của vùng nghiên cứu 28

Bảng 10: Thay đổi về sản lượng và thu nhập từ KTTS biển 30

Bảng 11: Sự thay đổi sản lượng và thu nhập của nhóm hộ khảo sát 31

Bảng 12: Thu nhập từ KTTS của các nhóm hộ điều tra 32

Bảng 13: Nguồn thu và mức thu nhập của hộ (triệu/hộ/năm) 33

Bảng 14: Hình thức hợp tác trong hoạt động KTTS biển 37

Bảng 15: Hình thức sở hữu phương tiện và ngư cụ đánh bắt 38

Bảng 16: Số hộ chế biến sản phẩm sau khi khai thác 40

Bảng 17: Sự tham gia các buổi họp bàn/hoạt động về quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản 40

Bảng 18: Đánh giá về phương thức quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản hiện tại 42

Bảng 19: Đánh giá chung về sự suy giảm tài nguyên ngư dân xã Hải Dương 42

Bảng 20: Sản lượng KT theo các hoạt động KT của nhóm hộ điều tra 43

Bảng 21: Đánh giá sự thay đổi các hiện tượng khí hậu ở địa phương trong 5 năm qua của ngư dân KT biển 45

Trang 5

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

KTTS đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh

tế quốc dân, góp phần tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống ngưdân Sản lượng KT tăng dần theo từng năm Theo báo cáo của Bộ Nôngnghiệp & PTNT, sản lượng KTTS năm 2010 lên 2.450,8 ngàn tấn, bằng

107,6% so với cùng kỳ năm 2009 và đạt 102,1% so với kế hoạch.[3]

Thừa Thiên Huế có bờ biển dài 126 km, được xem là vùng có vị tríchiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh vàbảo vệ môi trường sinh thái Vùng biển Thừa Thiên Huế có hơn 500 loại cá

và các loài hải sản có giá trị kinh tế cao[10] KTTS ở đây cũng phát triển

mạnh, năng suất KT hợp lý là 40.000 - 50.000 tấn/năm Số lượng các tàutham gia KTTS biển trong tỉnh đạt 1.635 chiếc với tổng công suất máy 41.513

CV, trong đó có 140 tàu KT hải sản ven biển Ðội tàu KT xa bờ được trang bịkhá đồng bộ góp phần nâng cao sản lượng KT biển, tăng hiệu quả và mở rộng

ngư trường đánh bắt[10] KT biển phát triển mạnh ở các xã ven biển của tỉnh

Thừa Thiên Huế, đã chuyển đổi nhận thức, tập quán của ngư dân từ KT ven

bờ sang KT xa bờ có năng suất và hiệu quả cao, phục vụ xuất khẩu, góp phầnbảo vệ nguồn lợi TS ven bờ

Xã Hải Dương là một xã vùng biển ở về phía Đông của huyện HươngTrà, tỉnh Thừa Thiên Huế, xa trung tâm tỉnh theo đường bộ hơn 70 km, theođường thuỷ 18 km Địa bàn của xã dài 7 km dọc theo bờ biển: Phía Đông giápBiển Đông, phía Tây giáp phá Tam Giang, phía Nam giáp cửa Thuận An,

phía Bắc giáp xã Quảng Công (huyện Quảng Điền)[1] Ngành nghề chủ yếu ở

đây là KT & NTTS KTTS, đặc biệt là KTTS biển là một trong những sinh kếquan trọng và truyền thống của ngư dân ở nơi đây Tuy nhiên, do nghề đánhbắt tự nhiên là nghề truyền thống của cộng đồng KTTS nên đời sống và sinh

kế của họ phụ thuộc vào tự nhiên nên thu nhập bấp bênh Một thực tế nữa là

Trang 6

người dân ở đây sống ven biển và đầm phá, việc KT các nguồn lợi thủy sảnquá mức đã góp phần làm suy giảm tài nguyên thủy sản nói chung và tàinguyên biển nói riêng Sự suy giảm nguồn tài nguyên thủy sản đang ngàycàng trở nên nghiêm trọng, môi trường biển ngày càng bị ô nhiễm… nênngư dân đang gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đểduy trì và phát triển các hoạt động sinh kế của mình một cách bền vững.

Trong mấy năm gần đây thời tiết, khí hậu của vùng đầm phá và ven biểnThừa Thiên Huế nói riêng cũng như của cả nước nói chung có những bất thườngmang tính kỷ lục đã xảy ra do các hiện tượng quy mô toàn cầu như Elninô vàLanina và cũng đã tác động không nhỏ đến đời sống và sinh kế của người dânven biển trong đó bao gồm cả ngư dân KT biển

Ngoài ra, nghề KT hải sản của ngư dân xã Hải Dương vẫn mang đậmnét là nghề cá nhân Đời sống ngư dân còn khó khăn, họ thiếu vốn đầu tư tàulớn, đánh bắt nhỏ lẻ, phân tán với quy mô hộ gia đình là chính nên hiệu quảkhông cao Phần lớn hộ ngư dân còn nghèo, vốn đầu tư thấp nên chưa đảmbảo trang bị an toàn cho tàu thuyền và ngư dân trước khi ra khơi

Trước tình hình đó thì việc hợp tác trong KT biển là rất cần thiết Việc

hợp tác trong KT biển giúp ngư dân nâng cao tính cộng đồng, thường xuyên

hỗ trợ nhau trong quá trình KT, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, phòngchống thiên tai và kịp thời ứng phó nhanh khi gặp rủi ro tai nạn trên biển, đặtbiệt là tiết kiệm nhiên liệu tiêu hao và chi phí cho chuyến đi biển đánh bắt

Với kỳ vọng được hiểu về các hoạt động sinh kế và sự đa dạng hóa sinh

kế của ngư dân KTTS biển, các hình thức tổ chức và hợp tác khi đi biển cũngnhư muốn biết được nhận thức và ứng phó của người dân KTTS biển trước

những thai đổi về tài nguyên và môi trường nên tôi tiến hành đề tài “Các hoạt

động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã Hải Dương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

+ Tìm hiểu các hoạt động KTTS biển và đánh giá vai trò sinh kế củahoạt động KTTS biển

Trang 7

+ Tìm hiểu các hình thức tổ chức và hợp tác trong hoạt động KTTS biển.+ Đánh giá đa dạng hóa sinh kế của cộng đồng ngư dân sống dựa vàoKTTS biển.

+ Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về tài nguyên TS biển và ảnh hưởngcủa biến đổi khí hậu đối với sinh kế ngư dân

Trang 8

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm sinh kế cộng đồng ngư dân ven biển

2.1.1 Khái niệm về sinh kế

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế, tùy theo quan điểm và bốicảnh đưa ra định nghĩa cũng như những khía cạnh quan tâm khác nhau trongquá trình thực hiện công tác phát triển

- Theo từ điển tiếng Việt: Sinh kế là một cách để sống.[6]

- Theo tiếng nga: Sinh kế có nghĩa là tạo thu nhập và việc làm nông

thôn (Hội nghị các đối tác dự án ADAS/DFID).[6]

- Theo tiếng Tây Ba Nha: Sinh kế có nghĩa là một cách sống bền

vững…(Dự án DFID/FORCIAT, bolovia).[6]

- Theo Chamber and Conway (1992): Một sinh kế bao gồm khả năng,tài sản - (Các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếp

cận) và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống.[6]

- Theo Ellis một sinh kế bao gồm tài sản (assets) - (Tự nhiên, phươngtiện vật chất, con người, tài chính và vốn xã hội), các hoạt động, và việc tiếpcận đến các tài sản và các hoạt động này (qua thể chế, quan hệ xã hội) tất cả

cùng nhau xác định sự sống mà cá nhân hay hộ gia đình nhận được.[6]

- Theo DFID: Sinh kế là một tập hợp của việc sử dụng các nguồn lựcthực hiện các hoạt động để sống Các nguồn lực có thể bao gồm kỹ năng vàkhả năng (vốn con người) của một cá nhân, đất đai tiết kiệm và trang thiết bị(vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), các nhóm hỗ trợ chính thức haycác mạng lưới không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi các hoạt động (vốn

xã hội) Để mỗi hoạt động sinh kế có hiệu quả cao và mang tính bền vững đòihỏi phải có sự tìm tòi, nghiên cứu kĩ lưỡng về các nguồn lực sẵn có của mỗiđịa phương và mỗi cá nhân, phù hợp với khả năng, trình độ của từng đối

tượng và phải có tính khả thi cao.[6]

Trang 9

Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra được kết luận: Sinh kế làmột cách để kiếm sống, tạo thu nhập và việc làm một cách bền vững Mộtsinh kế bao gồm khả năng, tài sản (kể cả nguồn lực vật chất và xã hội) và cáchoạt động và việc tiếp cận đến các tài sản và các hoạt động này (qua thể chế,quan hệ xã hội) tất cả cùng nhau xác định sự sống mà cá nhân hay hộ gia đình

Đa dạng hoá như một tiến trình kinh tế xã hội diễn giải việc tạo thành

sự đa dạng, là nguyên nhân dẫn đến sự chấp nhận đa dạng Theo đó đa dạnghoá trong sinh kế là tiến trình thay đổi những nguyên nhân dẫn đến sự chấp

nhận đa dạng hoá sinh kế.[6]

2.1.3.3 Đa dạng hoá sinh kế

Hiện nay vấn đề đa dạng hoá sinh kế được đưa vào tiêu chí để đánh giátính bền vững và tính khả thi của bất kì một hoạt động phát triển nào cả ởnông thôn và thành thị Đa dạng hoá sinh kế đã và đang trở thành một chiếnlược và nhiệm vụ cấp bách của công tác xoá đói giảm nghèo ở tất cả các địa

phương, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu vùng xa.[6]

Nói tóm lại đa dạng hoá sinh kế là khi hộ có hai hoặc hoạt động sinh kếtrở lên, nghĩa là người dân phải có hai nghề khác nhau tại một thời điểm Ví

dụ hộ vừa tham gia vào hoạt động KTTS vừa tham gia vào hoạt động NTTS,chế biến, nông nghiệp và phi nông nghiêp

2.1.3 Khái niệm về cộng đồng

Trong đời sống khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách rộng rãi

để chỉ mối quan hệ và tương tác giữa các cá nhân trong những nhóm ngườikhác nhau Đó chính là những đặc thù mang tính tập thể trong tất cả lĩnh vực

Trang 10

đời sống và hoạt động xã hội có những đặc điểm tương đối khác nhau Cộngđồng có thể chung cho tất cả mọi người, ví dụ cộng đồng nhân loại, hoặc cộngđồng dân tộc Tuy nhiên cộng đồng cũng có thể rất cụ thể cho các đơn vị xãhội cơ bản như gia đình, làng, xã hay một nhóm xã hội nào đó có những đặctính xã hội chung về lý tưởng, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp,vv… Như vậy khinói đến một cộng đồng chúng ta cần xác định được thành viên cộng đồng gồmnhững ai, đặc diểm đặc thù của cộng đồng đó là gì và cái gì ràng buộc kết nối

các thành viên cộng đồng với nhau.[11]

Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000), cộng đồng là một thực thể xã hội

có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùngchia sẽ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lậpthông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên Các đặc điểm và lợi íchchung đó rất đa dạng Đó là những đặc điểm về kinh tế, xã hội, nhân văn, môitrường, huyết thống, tổ chức, vùng địa lý hoặc các khía cạnh về tâm lý, mốiquan tâm và quan điểm Ví dụ, khi ta nói: cộng đồng người Việt Nam thì đặcđiểm chung đó là “người Việt” Khi ta nói cộng đồng hưởng lợi của một dự

án thì cộng đồng này bao gồm những người cùng chia sẽ những lợi ích nhấtđịnh từ dự án đó Cộng đồng có quy mô rất khác nhau tùy theo các đặc trưngchung được xác định Trong các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội cộngđồng có thể là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực địa lý

cụ thể Họ cũng có thể có đặc điểm chung về tâm lý, nhu cầu sử dụng các tàinguyên và các tương tác trao đổi thường xuyên để đạt được các mục đíchchung của họ Ví dụ, cộng đồng làng xã nông thôn, khu dân cư đô thị, cộngđồng dân tộc thiểu số… là những cộng đồng có cùng khu vực địa lý Đây

cũng là đơn vị cộng đồng mục tiêu trong nghiên cứu và phát triển.[11]

Tuy vậy cộng đồng cũng có thể là những nhóm người từ các khu vựcđịa lý khác nhau nhưng có các đặc điểm chung về kinh tế, xã hội, nhân văn,môi trường, huyết thống, tổ chức mối quan tâm và quan điểm… Khái niệmcộng đồng cung cấp một phương thức tiếp cận các cộng đồng mục tiêu trongcác chương trình phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo Ví dụ, một

Trang 11

chương trình PTNT không thể hoạt động ở tất cả các vùng nông thôn rộng lớn

mà cần phải xác định được cộng đồng mục tiêu về địa lý và đối tượng Khimột cộng đồng mục tiêu về địa lý đã được xác định, ví dụ thôn, xã, huyện,tỉnh và vùng thì câu hỏi đặt ra là ai là thành viên của cộng đồng mục tiêu theođối tượng và các tiêu chí khác, ví dụ hộ nghèo hay phụ nữ Có phải tất cả các

hộ trong thôn là đối tượng tham gia chương trình và là đối tượng hưởng lợicủa chương trình? Thông thường các tiêu chí khác nhau được áp dụng mộtcách phối hợp Các tiêu chí chính thường dùng là các phương thức sinh kế(nông nghiệp, nghề nghiệp), địa bàn cư trú và ranh giới hành chính Như vậytùy theo tiêu chí đặt ra mà cộng đồng cụ thể được xác định Các tiêu chíthường dùng để xác định và tiếp cận cộng đồng mục tiêu của các chương trìnhphát triển kinh tế xã hội, ví dụ của một chương trình PTNT, gồm:

- Con người: dân cư hay một nhóm người có mối quan hệ qua lại riêng

biệt do họ có những mối quan tâm chung nhằm đáp ứng nhu cầu chung của

họ.[11]

- Lãnh thổ địa lý: khu vực không gian mà con người sinh sống, có thể

là làng, xã, huyện, tỉnh… trong một khu vực địa lý nhất định.[11]

- Lãnh thổ tâm lý: Khu vực, xét về đặc điểm tâm lý, mà con người sống

ở làng, xã, huyện, tỉnh… là lãnh thổ thuộc về hộ, ví dụ quê quán.[11]

- Tương tác và cấu trúc xã hội: Là mối quan hệ trong đó hành động

người này có ý nghĩa đến người khác theo thể chế cụ thể.[11]

- Ràng buộc và thể chế: Con người có văn hóa, chuẩn mực, niềm tin,

truyền thống chung trong các hoạt động hàng ngày.[11]

- Nhu cầu và tài nguyên chung: Con người nhóm lại với nhau là do họ

cùng có mối quan tâm đáp ứng nhu cầu chung như là để có dịch vụ chăm sóc

sức khỏe, các phương tiện công cộng.[11]

- Mục tiêu chung: Là mục tiêu sinh kế, cải thiện điều kiện kinh tế xã

hội và môi trường đem lại lợi ích chung cho các thành viên cộng đồng Cộngđồng chỉ có thể đạt được mục tiêu chung thông qua hoạt động tập thể với sự

tham gia của các thành viên cộng đồng.[11]

Trang 12

Như vậy cộng đồng là một nhóm người có cùng một hay nhiều đặcđiểm chung nào đó Tuy nhiên khái niệm cộng đồng không đơn thuần để chỉmột đơn vị xã hội cụ thể Cộng đồng là một khái niệm động Nó cung cấp mộtphương thức tiếp cận các đối tượng xã hội dựa vào các tiêu chí nghiên cứuhay hoạt động cụ thể được đặt ra Một cá nhân có thể đồng thời là thành viêncủa nhiều cộng đồng khác nhau, ví dụ một hộ nông dân là thành viên cộngđồng thôn và cũng là thành viên của cộng đồng các hộ trang trại theo cấphuyện Một cộng đồng lớn có thể bao gồm các cộng đồng hợp phần, ví dụcộng đồng hưởng lợi của một dự án thủy lợi bao gồm cộng đồng các đốitượng khá giả (đóng thủy lợi phí) và cộng đồng các đối tượng khó khăn (được

hỗ trợ thủy lợi phí)[11] Cộng đồng trong phạm vi đề tài nghiên cứu là cộng

đồng các hộ KTTS biển

2.2 Chủ trương chính sách quản lý TS và phát triển thủy sản

2.2.1 Các vấn đề quản lý ở vùng ven bờ biển Việt Nam

Việt Nam với dải bờ biển dài hơn 3.260km, trong đó đới bờ được xácđịnh trong quản lý tổng hợp là vùng giao thoa giữa môi trường lục địa, môitrường biển và các hoạt động của con người tại đây Song do công tác quản lýnhiều năm qua bị buông lỏng và KT đới bờ còn mang tính tự phát, nên làmcho tài nguyên và môi trường đới bờ nhiều nơi đã và đang suy kiệt Vì vậy,việc quản lý tổng hợp đới bờ đang được coi là phương thức đạt hiệu quả caotrong sử dụng tài nguyên, giảm thiểu được tác động có hại của thiên tai đến

con người và môi trường ven biển.[12]

Quản lý tổng hợp đới bờ là một quá trình liên tục tiến triển, nhằm đạtđược sự phát triển bền vững Nó được xem như một hệ thống quản lý tàinguyên và môi trường theo cách tiếp cận tổng hợp với quá trình lập chiếnlược và kế hoạch hành động thực hiện chiến lược, nhằm giải quyết những vấn

đề quản lý phức tạp ở đới bờ Mục đích chính của giải pháp này là điều phối

và lồng ghép các hoạt động của các ngành, các nhóm kinh tế - xã hội khácnhau trong vùng bờ để được kết quả phát triển tối ưu và lâu dài, giải quyết cácmâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên và môi trường, qua đó bảo vệ

Trang 13

được môi trường và góp phần thiết thực giảm nhẹ thiên tai Cách tiếp cận đangành và tổng hợp này được thiết kế để hướng dẫn hài hòa các hoạt động củahai hoặc nhiều ngành kinh tế trong việc quy hoạch và quản lý Tuy nhiên,quản lý tổng hợp đới bờ cần tiến hành song song ở cấp Trung ương và cấptỉnh Trong đó nội dung tiến hành ở cấp Trung ương gồm chính sách, chiếnlược và kế hoạch hành động, tổ chức bộ máy quản lý, pháp luật, nguồn và cơchế về tài chính, phát triển nguồn nhân lực Còn quản lý tổng hợp đới bờ ở

cấp tỉnh phải dựa trên 3 nền tảng là kinh tế, xã hội và môi trường.[12]

Cũng như các quốc gia khác ở Đông Nam Á, trong quá trình quản lýtổng hợp đới bờ biển, Việt Nam đang tập trung ưu tiên quản lý 4 vấn đề Đó

là quản lý dân số, quản lý sử dụng đới bờ và các chức năng sinh thái của nó,

quản lý những tác động ảnh hưởng đến con người và quản lý hành chính.[5]

Hiện nay, dân số Việt Nam có hơn 86 triệu, sẽ tăng lên đến 115 triệuvào năm 2050 Trong vòng 20 năm tới, hơn 35 % dân số của Việt Nam sẽ tậptrung ở vùng ven bờ Nguyên nhân là do xu thế chung của các quốc gia đangphát triển, liên quan vấn đề di dân từ nông thôn ra thành phố, thứ hai là di dân

từ nội địa ra ven bờ nơi có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, xã hội nghỉ ngơihơn các vùng nội địa Quản lý bùng nổ đô thị hoá đới bờ là một trong nhưng

nhiệm vụ khó khăn nhất của quy hoạch hiện nay.[5]

Việt Nam sử dụng đới bờ theo các hướng: sử dụng các tài nguyên,nguồn lợi như mặt đất, mặt nước, nghề cá, nghề rừng, khai thác dầu khí, khaikhoáng…; sử dụng cơ sở hạ tầng phát triển giao thông hàng hải, cảng biển,công trình bảo vệ đới bờ, công trình phòng thủ quốc gia; phát triển du lịch,nghỉ dưỡng, sử dụng các chức năng sinh thái của đới bờ để phát triển kinh tế,phòng chống thiên tai, bảo tồn, bảo vệ đa dạng sinh học, cảnh quan thiênnhiên Những lĩnh vực khai thác, sử dụng đới bờ truyền thống và phổ biếnhiện nay đều có tiềm năng mâu thuẫn với nhau và gây nguy hại cho tài

nguyên môi trường và các vấn đề xã hội ở đới bờ.[5]

Quản lý những tác hại đến khả năng sử dụng đới bờ của con người nhưvấn đề khai thác quá mức, vấn đề thải các chất thải, các nguy cơ ô nhiễm…

Trang 14

Bước đầu tính toán ở miền Nam Việt Nam, cho thấy, để tạo ra 1 tỷ đồng sửdụng cuối cùng, các Hoạt động kinh tế thải ra môi trường nước 3,1 tấn BOD5;5,9 tấn vật chất lơ lửng; 2 kg Nitơ tổng số; 0,45 kg Phốtpho tổng số; thải rakhông khí 2,9 tấn CO2 và thải ra đất 44,4 tấn chất thải rắn Tốc độ tăng GDPtrong thời gian từ 1991 đến 2002 khoảng 1,35 lần (theo giá cố định năm1990), thì tốc độ gia tăng lượng rác sinh hoạt lên đền 2,7 lần Các nguy cơthiên tai ven bờ như lũ lụt, bão tố, xói lở, triều cường, nước dâng và nhữngbiến động do khí hậu thay đổi toàn cầu… thường xuyên đe dọa Đây là vấn đềkhó quản lý vì từ xưa nay chưa thấy ai chi trả cho “các hoạt động quản lý

thiên tai, đền bù những thiệt hại do thiên tai…”[5]

Cuối cùng là quản lý hành chính, là các vấn đề thể chế Nó bao gồmcác vấn đề nảy sinh từ các hoạt động như những mâu thuẫn về mặt luật pháp;thống nhất, phối hợp nhiều thành phần; hợp tác giữa các quốc gia; năng lực tổchức; nhận thức, tham gia của cộng đồng; mạng lưới luật pháp; sở hữu đấtđai, mặt nước; thiếu khả năng quy hoạch đa ngành; xung đột giữa các thành

phần; thiếu sinh kế để lựa chọn và tính công bằng.[5]

Kinh nghiệm của nhiếu quốc gia, phần lớn các vấn đề quản lý ven bờ

có thể được xác định thông qua các cuộc họp tư vấn thích hợp với các cộngđồng, với các sở, ban ngành ở địa phương và một số tổ chức phi chính phủ cóliên quan Ở đây, cần nhấn mạnh không phải tất cả các vấn đề cần quản lý đều

có thể giải quyết được ngay; mà có thể đòi hỏi phải có nhiều thời gian Hộithảo Khoa học Kỷ niệm 5 năm thành lập Khoa Kỹ thuật Biển 300 Việt Namgặp rất nhiều khó khăn khi thu thập và xử lý thông tin để xác định và đặt thứ

tự ưu tiên cho các vấn đề quan trọng, đặc biệt khi xem xét các vấn đề như cácmối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, nhu cầu của dân chúng về hàng hóa

và dịch vụ sản xuất trong vùng đới bờ, những hoạt động sử dụng các nguồnlợi vùng ven biển có tính cạnh tranh, thường có xung đột, tác động của taibiến thiên nhiên đối với các hệ sinh thái tự nhiên như xói lở bờ, lũ lụt, trượtđất, bão tố, cát bay, khô hạn và những hoạt động tiềm tàng không chắc chắn

Trang 15

như các cơ hội đầu tư, phát triển của các thành phần tư nhân trong nuôi trồng

hải sản, du lịch, hải cảng…[5]

2.2.2 Chính sách hỗ trợ phát KTXH vùng ven biển và các xã bãi ngang

Ngày 03 tháng 12 năm 2003, thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số

257/2003/QĐ-TTg vê việc hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu các

xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo

Nhà nước hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển vàhải đảo (gọi tắt là các xã bãi ngang) để đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầngthiết yếu nhằm tạo điều kiện phát triển sản xuất, khai thác tiềm năng, lợi thếcủa vùng đất ven biển và hải đảo, từng bước nâng cao và ổn định đời sống,góp phần thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo trên địa bàn

và giữ vững an ninh quốc phòng vùng biển.[8]

Phạm vi, đối tượng chính sách hỗ trợ là các xã có vị trí ở vùng bãingang ven biển, hoặc là các xã cồn bãi, đầm phá, bán đảo, hải đảo và có đủcác điều kiện sau đây:

a) Là các xã nghèo theo tiêu chí xã nghèo do Bộ lao động - Thươngbinh và Xã hội quy định tại Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22tháng 5 năm 2002 và không phải là các xã thuộc Chương trình phát triển kinh

tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào miền núi, biên giới, vùng

sâu, vùng xa (Chương trình 135).[8]

b) Còn thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, tuỳ theo điềukiện cụ thể từng xã, bao gồm: bờ bao chống triều cường, kè, công trình thuỷlợi; trạm bơm cấp nước biển cho nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; đường ra bến

cá; chợ cá.[8]

Cơ chế chính sách hỗ trợ: Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư theo dự án

để xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ dân sinh và phát triển sản xuất ởcác xã bãi ngang Căn cứ tình hình thực tế của từng xã, UBND các cấp sửdụng nguồn vốn từ ngân sách Trung ương hỗ trợ, ngân sách địa phương, cácnguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác trên địa bàn và huy

Trang 16

động các nguồn lực trong dân để quyết định đầu tư xây dựng các hạng mục

công trình cấp thiết.[8]

2.2.3 Quy định về quản lý KTTS biển

Các tổ chức, cá nhân hoạt động KTTS trong vùng biển Việt Nam phảituân theo quy định về danh mục các loài thủy sản bị cấm KT; các phươngpháp KT, ngư cụ bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng; khu vực bị cấm KT

và khu vực bị cấm KT có thời hạn; Đó là một trong những nội dung chínhcủa Nghị định số 33/2010/NĐ-CP về quản lý hoạt động KTTS của tổ chức, cánhân Việt Nam trên các vùng biển vừa được Chính phủ ban hành ngày

31/03/2010.[4]

Nghị định mới quy định, vùng biển Việt Nam được phân thành 3 vùngKTTS Vùng biển ven bờ được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển vàtuyến bờ; Vùng lộng là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng;Vùng khơi là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài

của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam.[4]

Theo đó, Nghị định đã phân vùng KTTS đối với từng loại tàu cá phụthuộc vào công suất máy chính của tàu Cụ thể, tàu lắp máy có tổng công suấtmáy chính từ 90 CV trở lên KTTS tại vùng khơi và vùng biển cả, không được

KT tại vùng biển ven bờ và vùng lộng; tàu từ 20 – 90 CV, KT tại vùng lộng

và vùng khơi; còn tàu dưới 20 CV hoặc tàu không lắp máy KT tại vùng biểnven bờ, không được KT tại vùng lộng, vùng khơi và vùng biển cả Các tàulàm nghề lưới vây cá nổi nhỏ, nghề KT nhuyễn thể không bị giới hạn công

suất khi hoạt động KT trong vùng biển ven bờ và vùng lộng.[4]

Ngoài quy định về công suất máy chính của tàu, tàu KT hải sản cònphải đáp ứng đầy đủ quy định về đảm bảo an toàn khi tàu hoạt động trên từngvùng biển Tàu cá KTTS dưới 20 CV hoặc tàu không lắp máy đăng ký tại tỉnhnào thì chỉ được KTTS tại vùng biển ven bờ của tỉnh đó; trừ trường hợpUBND của 2 tỉnh có biển liền kề có thỏa thuận riêng về việc cho phép tàu cá

tỉnh bạn vào KTTS trong vùng biển ven bờ của tỉnh mình.[4]

Trang 17

Tàu cá hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi phải được đánh dấu đểnhận biết Bên cạnh đó, Nghị định cũng đưa ra các điều kiện KTTS ngoàivùng biển Việt Nam đối với tàu cá, thuyền viên và người làm việc trên tàu

cá Cụ thể, tàu cá phải có đủ tiêu chuẩn vùng hoạt động hạn chế cấp I hoặccấp không hạn chế (trường hợp hoạt động tại vùng biển của quốc gia thuộckhu vực Đông Nam Á thì tàu cá phải có đủ tiêu chuẩn vùng hoạt động hạnchế cấp II trở lên); đã được đăng ký, đăng kiểm (GCN an toàn kỹ thuật tàu cáphải còn thời gian hiệu lực ít nhất là 3 tháng); phải trang bị đầy đủ các thiết bị

an toàn cho người và tàu cá, thông tin liên lạc tương ứng với vùng biển hoạtđộng và phải có đủ biên chế thuyền viên Thuyền trưởng, máy trưởng phải có

bằng hoặc chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng [4]

Ngoài các điều kiện trên, tàu cá hoặc nhóm tàu cá đi hoạt động KTTStại vùng biển các nước, vùng lãnh thổ khác phải có hiệp định hợp tác KTTSgiữa Việt Nam với quốc gia, vùng lãnh thổ có biển hoặc có hợp đồng hợp tácKTTS giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với tổ chức, cá nhân của quốc gia,vùng lãnh thổ có biển, được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh

thổ có biển chấp thuận.[4]

Đồng thời, trên tàu hoặc cùng một nhóm tàu phải có ít nhất một ngườibiết thông thạo tiếng Anh hoặc ngôn ngữ thông dụng của quốc gia, vùng lãnh

thổ mà tàu đến KT Thuyền viên trên tàu phải có hộ chiếu phổ thông.[4]

2.3 Hoạt động KTTS ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế

số địa phương có sản lượng KT biển lớn như sau: Quảng Ninh (51.380 tấn);

Trang 18

Quảng Nam (đạt 57.610 tấn, tăng 5,06% so với năm trước và đạt 106% kếhoạch); Ninh Thuận (đạt 52.500 tấn, tăng 4% so với năm 2009, đạt 105% sovới kế hoạch); Khánh Hòa (đạt 76.391 tăng 5% so với cùng kỳ năm 2009, đạt103,2% so với kế hoạch); Bình Định (đạt 132.000 tấn); Cà Mau (144.360

tấn); Bến Tre (117.116 tấn); Tiền Giang (76.291 tấn)…[7]

Cũng trong năm 2010, nhiều địa phương trên cả nước đã mở các lớphọc hướng dẫn ngư dân KT hiệu quả, an toàn trên các vùng biển; chú trọngphát triển phương tiện và ngư cụ các nghề đánh bắt xa bờ; triển khai các biệnpháp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam bịnước ngoài bắt giữ Bên cạnh đó, các địa phương thường xuyên tổ chức kiểmtra, giám sát hoạt động nghề cá tại vùng đánh cá chung Việt Nam - TrungQuốc; theo dõi sát tình hình, diễn biến thời tiết trên biển và trực ban phòngchống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn… nhờ đó sản lượng KT đạt cao, góp phần

vào thành tích chung của ngành thủy sản năm 2010.[7]

Lĩnh vực xuất khẩu được coi là thành công nhất trong bức tranh thủysản năm 2010 Theo ngành thủy sản, năm 2010, giá trị kim ngạch xuất khẩuthủy sản đạt 4,94 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2009 Mặt hàng cángừ, mực và bạch tuộc, cũng đạt giá trị khá cao đều đạt hơn 1 tỷ USD trong

tổng giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2010.[7]

Khép lại năm 2010, ngành thủy sản có quyền tự hào về những kết quả

đã đạt được, tiếp tục đồng lòng hiệp sức để vượt qua khó khăn trong thời giantới, đóng góp cho sự phát triển bền vững của ngành thủy sản Việt Nam Theo

kế hoạch ngành thủy sản phấn đấu mức tăng trưởng chung là 7% so với năm

2010 Tổng sản lượng thủy sản năm 2011 phấn đấu đạt khoảng 5,3 triệu tấn,

trong đó KT là 2,3 triệu tấn.[7]

Để đạt được kế hoạch trên, tiếp tục tạo đà cho thủy sản Việt Nam pháttriển mạnh trong năm 2011, đặc biệt là đối với lĩnh vực xuất khẩu, ngành thủysản cần tiếp tục đầu tư cho sản xuất nguyên liệu, ưu tiên đầu tư các sản phẩmchủ lực như: tôm, cá tra, cá ngừ, nhuyễn thể… đồng thời, tiếp tục đẩy mạnhhoạt động xúc tiến thương mại, dự báo thị trường, tổ chức các hoạt động

Trang 19

quảng bá sản phẩm thủy sản của Việt Nam tại nước ngoài và tăng cường hơnnữa mối liên kết trong NTTS… Cùng với đó, ngành thủy sản tiếp tục tăngcường cải tiến kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tín dụng, kiểm tra giám sát chấtlượng và an toàn thực phẩm Hy vọng với những việc làm thiết thực sẽ đảm

bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của ngành.[7]

2.3.2 Hoạt động KTTS biển Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế có đường bờ biển dài 126 km, nguồn lợi hải sản phongphú và ngư trường khai thác rộng lớn Đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh có1.971 chiếc tàu thuyền đánh bắt thủy sản trên biển; trong đó, có 140 tàu khaithác hải sản ven biển và có 201 tàu đánh bắt xa bờ có công suất từ 90 CV trởlên.Ðội tàu khai thác xa bờ được trang bị khá đồng bộ góp phần nâng cao sảnlượng khai thác biển, tăng hiệu quả và mở rộng ngư trường đánh bắt Năm

2010, sản lượng khai thác biển đạt 26.435 tấn, giá trị khoảng 200 tỷ đồng.Thừa Thiên Huế gồm 5 huyện có hoạt động khai thác thủy sản biển, cụ thể:Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền, Phong Điền, Hương Trà, trong đó khai thác

biển phát triển mạt nhất ở huyện Phú Vang.[9]

Khai thác biển phát triển mạnh ở huyện Phú Vang, đã chuyển đổi nhậnthức, tập quán của ngư dân từ khai thác ven bờ sang khai thác xa bờ có năngsuất và hiệu quả cao, phục vụ xuất khẩu, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sảnven bờ Năm 2010, nhờ trình độ tay nghề và kỹ thuật đánh bắt, sản lượng khaithác thủy sản của ngư dân Phú Vang được nâng lên Ngư dân đã sử dụngthành tạo các trang thiết bị máy thông tin, định vị, dò cá ; cải tiến ngư lưới

cụ và phát triển nghề mới để nâng cao hiệu quả sản xuất Sản lượng khai tháctăng 779 tấn so với năm 2009, chất lượng sản phẩm cũng được nâng lên Sảnphẩm có giá trị xuất khẩu chiếm khoảng 40% tổng sản lượng khai thác Tổnggiá trị sản phẩm khai thác thủy sản đạt trên 450 tỷ đồng, bình quân lãi 30%

giá trị, giải quyết công ăn việc làm cho 3.760 lao động trên biển.[2]

Hiện nay, tình khai thác thủy sản ở Phú Vang còn nhiều hạn chế như:Công tác phát triển năng lực trong khai thác chưa đáp ứng nhu cầu Trình độứng dụng khoa học kỹ thuật của ngư dân vẫn còn hạn chế Chế biến thủy sản

Trang 20

phát triển chưa mạnh Nguồn vốn trong dân không đủ khả năng để đầu tư pháttriển phương tiện tàu thuyền lớn trong lúc việc hỗ trợ, đầu tư của Nhà nướccòn hạn chế Do vậy, theo lãnh đạo huyện Phú Vang, để phát huy tiềm năngthế mạnh về thủy sản của huyện trong những năm tới, cần phải có sự tập trungchỉ đạo của các cấp, ngành, sự hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước kết hợp vớinội lực trong dân để đầu tư phát triển về phương tiện, ngư cụ, trang thiết bị,trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong khai thác, hướng tới khai thác vùng

xa bờ giảm phương tiện khai thác gần bờ, nâng cao giá trị sản phẩm, ưu tiênphát triển nghề khai thác hải sản có giá trị xuất khẩu nhằm ổn định cuộc sống

và từng bước làm giàu cho ngư dân vùng ven biển.[2]

Có thể nói, hoạt động đánh bắt cá quy mô lớn rất phát triển ở huyệnPhú Vang, các huyện Phú Lộc, Quảng Điền, Phong Điền tập trung vào hoạtđộng khai thác quy mô nhỏ Hoạt động đánh bắt cá quy mô nhỏ hoạt độngtrong vòng 3 – 20 hải lý tính từ đất liền, sử dụng tàu đánh cá có công suấtdưới 40 CV Hoạt động đánh bắt cá thường kết thúc trở về trong vòng 1 ngàyhoặc có thể kéo dài 2 – 3 ngày Ngư dân hoạt động nghề cá quy mô nhỏ sốngphụ thuộc vào nguồn lợi thủy sản Tuy nhiên, tình trạng khai thác quá mức vàbất hợp pháp mà hậu quả là sản lượng đánh bắt và thu nhập từ hoạt động nàyngày càng giảm Chính vì vậy, quản lý nghề cá với sự phối hợp giữa ngư dân

và chính quyền địa phương là biện pháp cần thiết cho quản lý nghề cá quy mô

nhỏ ở nước ta nới chung và Thừa Thiên Huế nói riêng.[2]

Trang 21

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các ngư hộ sống dựa vào KT biển vàcác hoạt động KTTS biển của họ

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thôn Thai Dương Hạ Bắc và ThaiDương Hạ Trung, xã Hải Dương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.Đây là 2 thôn có hoạt động KTTS biển lớn nhất nhì trong xã

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Tìm hiểu tình KTTS và các hoạt động KTTS biển của người dân xã Hải Dương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tình hình KTTS ở đây bao gồm KTTS đầm phá và KTTS biển Đồngthời tìm hiểu đặc điểm ngư dân KTTS biển trong vùng nghiên cứu bao gồmhoạt động KT biển, đặc điểm về nhân khẩu, lao động và đặc điểm về nhà ở,phương tiện và ngư cụ đánh bắt của hộ KTTS biển

3.3.2 Tìm hiểu các hình thức hợp tác và vai trò tổ chức cộng đồng trong hoạt động KTTS biển

Tìm hiểu các hình thức tổ chức và hợp tác khi đi biển của ngư dân,trong đó bao gồm cơ chế đóng góp, sử dụng và phân chia sản phẩm sau khikhai thác

Tìm hiểu tổ chức cộng đồng và vai trò tổ chức cộng đồng trong cáchoạt động KTTS biển của ngư hộ, cơ chế giải quyết mâu thuẫn trong sử dụngnguồn lợi TS

3.3.3 Đánh giá đa dạng hóa sinh kế của cộng đồng ngư dân sống dựa vào KTTS biển

Tìm hiểu sản lượng và thu nhập từ hoạt động KTTS biển của ngư hộ.Đồng thời cũng tìm hiểu các nguồn thu nhập khác của họ

Trang 22

3.3.4 Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về quản lý TS biển và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sinh kế ngư dân

Tìm hiểu nhận thức của ngư dân về thực trạng và hưởng lợi từ nguồnlợi TS (nhận thức của người dân trước sự suy giảm tài nguyên biển) Sự thamgia các hoạt động quản lý KTTS của người dân

Tìm hiểu biểu hiện của BĐKH tại địa phương và những thay đổi vềsinh kế của người dân do BĐKH trong những năm qua Đồng thời cũng tìmhiểu kinh nghiệm của người dân về thích ứng với BĐKH

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu

- Điểm nghiên cứu đã được chọn đáp ứng tiêu chí sau: hoạt động KTTS biểnlớn nhất nhì trong xã, đồng thời đảm bảo đầy đủ tất cả các hoạt động KT biển

- Dung lượng mẫu: Trong phạm vi đề tài của mình tôi đã tiến hànhkhảo sát 60 hộ KT biển trong 2 thôn mỗi thôn 30 hộ, đảm bảo đầy đủ các hoạtđộng KTTS biển trong địa bàn xã Các hộ đã được chọn nghiên cứu đáp ứngcác tiêu chí sau:

+ Sinh kế chính của hộ là KTTS biển

+ Hộ đi KT biển bằng tàu hoặc bằng thuyền

- Phương pháp chọn mẫu: để tiến hành đề tài nghiên cứu tôi đã chọnmẫu theo phương pháp phân tầng, phân loại

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.4.2.1 Thu thập thông tin sơ cấp

- Thông tin dữ liệu cấp hộ đã được thu thập với những nội dung sau:+ Hoạt động KTTS biển và các nguồn thu nhập của hộ

+ Các hình thức tổ chức và hợp tác của hộ khi đi biển và vai trò tổ chứccộng đồng trong hoạt động quản lý KTTS biển và sinh kế

+ Nhận thức của ngư dân về quản lý TS biển và ảnh hưởng của biến đổikhí hậu đối với sinh kế của họ

- Phỏng vấn người am hiểu: Tôi đã tiến hành phỏng vấn 10 cán bộ cấpcộng đồng, cấp xã trong đó có 3 cán bộ xã Hải Dương, 2 trưởng thôn, 2

Trang 23

trưởng hội nông dân, 2 trưởng hội phụ nữ và 1 người dân am hiểu tình hình của

2 thôn Thai Dương Hạ Bắc và Thai Dương Hạ Trung Đồng thời tôi cũng đãphỏng vấn 5 cán bộ cấp huyện, tỉnh: 2 cán bộ khuyến nông huyện Hương Trà,

1 cán bộ phòng nông nghiệp huyện Hương Trà, 1 cán bộ sở nông nghiệp vàphát triển nông thôn, 1 cán bộ trung tâm khuyến nông tỉnh Thừa Thiên Huế

- Quan sát điểm thực địa, chụp ảnh các hoạt động liên quan đến KTTS biển

3.4.2.2 Thu thập thông tin thứ cấp

- Các thông tin cấp xã đã được thu thập bao gồm:

+ Các báo cáo, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, cơ sở vật chất, dân

số, lao động việc làm của xã Hải Dương qua 3 năm từ năm 2008 đến 2010

+ Tình hình KTTS biển của xã Hải Dương

- Thu thập thôn tin cấp thôn:

+ Tình hình KTTS biển trong thôn

+ Danh sách các hộ trong thôn và các hộ KTTS biển

- Các tạp chí chuyên ngành, báo chí, báo điện tử và các tài liệu thamkhảo liên quan đến đề tài thực tập

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu cấp hộ và cấp cộng đồng sau khi thu thập đã được nhập và xử

lý bằng phần mềm Excell

Trang 24

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm cộng đồng KTTS biển vùng nghiên cứu

4.1.1.1 Tình hình KTTS biển vùng nghiên cứu

Hải Dương là một xã vùng biển nên ngành nghề chủ yếu là đánh bắt vàNTTS Tổng sản lượng đánh bắt và NTTS năm 2010 ước đạt 1038,4 tấn đạt81,63% so với kế hoạch, giảm 64,8 tấn so với năm 2009 Giá trị của ngànhthủy sản trong năm vừa qua đạt 24,019 triệu đồng

Bảng 1: Số hộ KTTS biển trong toàn xã

và hoa màu nên sinh kế của họ chủ yếu dựa vào biển và đầm phá Các thônThượng Động, Thượng Tây và Vĩnh Trị có địa hình bằng phẳng hơn, có đấttrồng lúa nên sinh kế của họ dựa vào SXNN là chủ yếu

Trang 25

KTTS được xác định là ngành mũi nhọn của địa phương, trong năm

2010 UBND xã đã tăng cường công tác chỉ đạo, vận động nhân dân tập trungduy trì phương tiện đánh bắt biển, thông qua vay vốn của các ngân hàng vàvốn nội lực đầu tư phát triển ngành nghề bãi ngang Nhưng do ngư trườngliên tục mất mùa, phương tiện đánh bắt giảm, ngư lưới cụ chưa được sắmmới, lực lượng lao động trên các tàu thuyền không ổn định, bão lụt xảy rathường xuyên, hơn nữa tâm trạng của các ngư dân không ham muốn làm nghềbiển mà chuyển sang nghề khác nên đã ảnh hưởng rất lớn tổng sản lượngtrong toàn xã Tại xã, tàu đánh cá có công suất dưới 22 CV là 63 chiếc, tàu cócông suất trên 22 CV là 4 chiếc được trang bị mành đèn, bùng nhùng, vây rút,lưới chập mực Sản lượng KTTS năm 2010 là 935 tấn đạt 80,2% so với kếhoạch Trong đó sản lượng KT biển 610 tấn đạt 71,76% so với kế hoạch, giảm

so với năm 2009 là 111,8 tấn Sản lượng KT đầm phá là 325 tấn, đạt 101,6%

so với kế hoạch, tăng so với năm 2009 là 10 tấn

Bảng 2: Số lượng thuyền máy qua các năm

Thuyền máy dưới 22CV Thuyền máy trên 22CV

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo UBND xã Hải Dương qua các năm)

Qua bảng số liệu ta có thể thấy rằng số lượng thuyền máy có công suấttrên 22 CV rất ít và giảm dần qua các năm, còn thuyền máy công suất dưới 22

CV thì nhiều hơn và tăng dân theo từng năm tuy nhiên số lương tăng lênkhông đáng kể Nguyên nhân là do ngư trường biển liên tục mất mùa, chi phí

đi biển tăng nên hầu hết đều thua lỗ hoặc lời không đáng kể, do đó người dânbán hết các tàu lớn, sắm các thuyền máy có công suất nhỏ để KT gần bờ hoặcchuyển sang làm thuê

Trang 26

4.1.1.2 Đặc điểm cộng đồng KTTS biển trong vùng nghiên cứu

Hiện nay, hộ KTTS biển chiếm một tỷ lệ thấp so với tổng số hộ trong toàn

xã, chiếm 5,98% Tuy nhiên khi xét theo thôn thì hộ KTTS biển so với tổng số

hộ của thôn ở TD Hạ Bắc là 12,84% và tỷ lệ này ở thôn TD Hạ Trung là 9,38%

Cộng đồng KTTS biển có thu nhập chính là từ việc đi biển Hoạt động KTcủa họ đều gần bờ, khoảng 15 hải lý trở vào bờ tương đương với 27,78 km.Cuộc sống của hộ KT biển gắn liền với biển, gắn liền với các hoạt động đánh bắttruyền thông từ thời xưa đến nay Hoạt động KT của nhóm hộ KT biển chiathành 4 hoạt động, đó là bủa lưới, bủa câu, dã cào và đi câu Đây là các hoạtđộng KT chính của cá ngư hộ KT biển

Bảng 3: Các hoạt động KTTS biển trong vùng nghiên cứu

tế thì hiệu quả cao nhất, đầu tư lớn nhất nếu xét riêng theo từng hộ Các hộ dãcào có điều kinh tế khá giả hơn đầu tư tàu có công suất lớn trên 70 CV, cònnhững hộ đi câu có điều kiện kinh tế trung bình hoặc khó khăn, vốn đầu tư chohoạt động KT ít hơn, họ chỉ đầu tư thuyền máy dưới 20 CV hoặc các xuồngchèo bằng tay

Nhìn vào bảng dưới ta thấy số hộ KT biển nói chung và số hộ trong từnghoạt động KT nói riêng của thôn TD Hạ Bắc hầu như đều lớn hơn thôn TD Hạ

Trang 27

Trung, chỉ hoạt động đi câu thì thôn TD Hạ Bắc ít hơn Cũng qua bảng này tathấy rõ thôn TD Hạ Bắc có số lượng hộ tham gia hoạt động bủa lưới lớn nhất với

18 hộ, số hộ tham gia đi câu ít nhất với 7 hộ Còn thôn TD Hạ Trung có số lượng

hộ tham gia hoạt động đi câu lớn nhất với 13 hộ, tham gia dã cào ít nhất

Bảng 4: Các đặc điểm của cộng đồng KTTS biển

(Nguồn: Phỏng vấn các thôn trưởng, năm 2011)

Năm 2008, số hộ KT biển ở thôn TD Hạ Bắc giảm 4 hộ còn TD HạTrung giảm 8 hộ so với năm 2007 Năm 2009, thôn TD Hạ Bắc giảm 5 hộ vàthôn TD Hạ Trung 11 hộ so với năm 2008 Đến năm 2010, số hộ KT biển

Trang 28

thôn TD Hạ Bắc giảm xuống 6 hộ còn thôn TD Hạ Trung giảm 2 hộ so vớinăm 2009 Nguyên nhân dẫn đến số hộ KT biển giảm dần ở 2 thôn là do ngưtrường biển liên tục mất mùa, chi phí đi biển tăng nên hầu hết đều thua lỗhoặc lời không đáng kể, người dân bán tàu để đi vào miền Nam làm thuê hoặc

“đi du lịch nước ngoài” Việc “đi du lịch nước ngoài” đã trở thành trào lưucủa người dân nơi đây Cách đây khoảng hơn chục năm, nhiều người ở xãsang định cư ở nước ngoài đã tạo nên một diện mạo mới cho làng chài vốn chỉ

có đường đất, nhà tranh vách nứa Một số người sang nước ngoài định cư "ănnên làm ra" nên bảo lãnh cho người thân sang chơi Lúc đầu chỉ đơn thuần đitham quan nhưng sang đó rảnh rỗi làm có tiền nên người đi du lịch dạng nàyngày một nhiều Trở về sau chuyến “du lịch” 3 tháng nhiều người trở nên giau

có Phát hiện ra điều này, phong trào đi du lịch "một công đôi việc", vừa đượcdịp thăm hỏi người thân, lại có tiền đem về nổi lên từ đó Bởi do phong trào

“đi du lịch nước ngoài” làm giàu nhanh chóng này mà rất nhiều người bỏnghề KT biển thu nhập vừa đủ sống Điều này khiến cho số hộ KT biển giảmdần theo từng năm

4.1.2 Đặc điểm hộ khảo sát

4.1.2.1 Đặc điểm nhân khẩu và lao động của các hộ KTTS biển

Trong một hộ gia đình thì vốn con người liên quan chặt chẽ đến khốilượng và chất lượng của lực lượng lao động hiện có của gia đình đó Khảnăng lao động rất đa dạng, tùy thuộc vào quy mô của từng hộ; cấu trúc nhânkhẩu và số lượng người không thuộc diện lao động; giới tính của các thànhviên; trình độ học vấn; các kỹ năng cũng như tình trạng sức khỏe của cácthành viên trong hộ Do đó vốn con người là một yếu tố trọng yếu, quyết địnhđến khả năng của một cá nhân hay của hộ gia đình trong việc sử dụng và quản

lý các nguồn vốn khác Nên có thể khẳng định rằng, nhân khẩu và lao động làhai đặc điểm quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh kế của hộ

Kết quả ở bảng trên cho thấy: nếu phân nhóm hộ KTTS theo thôn thì

có 5 trong số 6 chỉ tiêu đưa có sự khác nhau Tuy nhiên mức độ khác biệtcủa các tiêu chí đó không giống nhau

Trang 29

Bảng 6: Đặc điểm nhân khẩu, lao động của các hộ KTTS biển

Kết quả điều tra cũng cho thấy rằng, cả hai nhóm hộ KT biển ở TD HạBắc và TD Hạ Trung thì chủ hộ là nam giới chiếm tỷ lệ là 100% Điều nàycho thấy nam giới là người đại diện chính và có vai trò rất quan trọng trongcác hoạt động của hộ Khi tính tuổi trung bình của chủ hộ thì ở TD Hạ Bắc là46,1 còn ở TD Hạ Trung là 48,3 Như vậy tuổi trung bình chủ hộ ở TD HạBắc trẻ hơn ở TD Hạ Trung là 2,2 tuổi

Xét về lao động KTTS biển, số lao động của hộ ở cả hai nhóm TD HạBắc và TD Hạ Trung lần lượt là 2,57 chiếm khoảng 49,7% nhân khẩu hộ; 3,10lao động/hộ chiếm khoảng 54,7% Bên cạnh đó, lao động theo nghề chính của

hộ lại có sự khác nhau giữa hai nhóm Cụ thể, lao động theo nghề chính của hộ(KT biển) ở hai thôn TD Hạ Bắc và TD Hạ Trung tương ứng 1,77 và 1,43 Điềunày cũng có nghĩa là số lao động không theo nghề của hộ ở cả 2 thôn đều nhiềuhơn Qua điều tra biết được số lao động không theo nghề chính của hộ còn rất trẻ(dưới 25 tuổi), chủ yếu là nữ giới và đi làm xa nhà với các công việc như may, đigiúp việc nhà, giữ trẻ

Số người ăn theo trung bình trong một hộ cũng chiếm tỷ lệ khá cao Ởthôn TD Hạ Bắc có số người ăn theo trung bình/hộ là 2,60 tỷ lệ là 50,3%, còn

ở thôn TD Hạ Trung tỷ lệ này là 45,3% với 2,57 người/hộ Trong đó, chủ yếu

Trang 30

là trẻ em chưa đến tuổi lao động nhưng thực tế điều tra thì không ít trong

số họ không đi học mà tham gia lao động để phụ giúp gia đình

4.1.2.2 Đặc điểm nhà ở, phương tiện và ngư cụ đánh bắt của nhóm hộ KTTS biển

Cộng đồng KTTS biển nhìn chung có cuộc sống ở mức trung bình,

họ chỉ có những phương tiện sinh hoạt đảm bảo một cuộc sống cơ bản

Bảng 7: Nhà ở và các phương tiện, ngư cụ chính của hộ KTTS biển

do người dân tự xây dựng nên Còn ở thôn TD Hạ Trung là thôn có phần lớn

là tái định cư, nhà do nhà nước xây đền bù nên thời gian xây dựng và giá trịngôi nhà tương đối giống nhau Thôn TD Hạ Bắc có 9 hộ có nhà bán kiên cố

Trang 31

và 1 hộ nhà tạm, lần lượt chiếm tỷ lệ là 30% và 3,33%; nhà bán kiên cố ở đây

có giá trị trung bình là 38,89 triệu đồng, còn nhà tạm có giá trị 30 triệu đồng

Ở thôn TD Hạ Trung có 1 hộ có nhà bán kiên cố và 3 hộ nhà tạm, lần lượtchiếm tỷ lệ là 3,33% và 10%; nhà bán kiên cố có giá trị trung bình 40 triệu,còn nhà tạm có giá trị 23,33 triệu đồng

Về số lượng tàu thuyền, thôn TD Hạ Bắc có 28 hộ có tàu thuyền trong

đó tàu trên 40 CV có 4 hộ chiếm 13,33% giá trị trung bình 162,5 triệu đồng;thuyền máy 20 – 40 CV có 10 hộ chiếm 33,33%, giá trị trung bình 15,5 triệuđồng; thuyền máy dưới 20 CV có 8 hộ có chiếm 26,67%, giá trị trung bìnhmỗi chiếc là 11 triệu đồng; xuồng chèo có 6 hộ có chiếm 16,67% , giá trịtrung bình của mỗi chiếc là 2,17 triệu đồng Trong thôn có 2 hộ không có tàuthuyền nên họ đi đánh bắt thuê

Bảng 8: Giá trị tài sản và phương tiện KT của hộ KTTS biển

Tài sản

Số hộ có

Giá trị TB (triệu đồng)

Số hộ có

Giá trị TB (triệu đồng)

2 hộ không có tàu thuyền nên họ cũng đi đánh bắt thuê

Trang 32

Có 19 hộ ở thôn TD Hạ bắc có lưới bủa chiếm 63,33% còn ở TD HạTrung có 13 hộ có lưới chiếm 43,33% Về cần câu, TD Hạ Bắc có 4 hộ cóchiếm 13,33% còn TD Hạ Trung có 13 hộ có chiếm 43,33% Thôn TD HạBắc có 9 hộ có gấc bủa câu chiếm 30%, thôn TD Hạ Trung chỉ có 1 hộ cóchiếm 3,33%.

4.2 Hoạt động khai thác thủy sản biển

Bảng 9: Hoạt động KTTS của vùng nghiên cứu

Hoạt

động

Năm bắt đầu

Đi câu 2004 21 Đi một mình

hoặc 2 người 1 110 10 hải lỷGhi chú: 1 hải lý = 1852 m

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo UBND xã Hải Dương năm 2010 và phỏng vấn người am hiểu, 2011)

Qua bảng số liệu ta có thể thấy rằng hoạt động bủa lưới có thời giankhai thác lâu nhất, năm bắt đầu khoảng vào năm 1980 nhưng trên thức tế hoạtđộng bủa lưới là hoạt động khai thác truyền thống lâu đời của ngư dân biển.Đây cũng là hoạt động có số hộ tham gia nhiều nhất trong xã với 45 hộ Hoạtđộng bủa lưới thường tổ chức đi theo nhóm khoảng 3 – 5 người/thuyền và đikhai thác trong ngày là vào bờ Thông thường, cứ khoảng 3 giờ sáng là ngưdân đi khai thác và trở về vào cuối buổi chiều, thỉnh thoảng có cá tôm nhiều

họ thường ở lại hôm sau mới vào Hoạt động này cũng có số chuyến nhiều

Trang 33

nhất trong năm, khoảng 140 chuyến/năm Người ta thường bủa lưới gần bờkhoảng 15 hải lý tương đương với 27,78 km

Hoạt động dã cào có thời gian khai thác đứng thứ 2 sau hoạt động bủalưới, năm bắt đầu khoảng năm 1994 Hoạt động dã cào có số hộ tham gia ítnhất do chi phí đầu tư lớn nên những năm gần đây số hộ đi dã cào giảmxuống rất nhiều Hoạt động dã cào thường đi theo nhóm khoảng 4 – 6 ngườitrên một thuyền Một chuyến đi biển củ hộ dã cào thường kéo dài khoảng 4ngày nên họ thường phải đem theo lương thực, nước uống và đá để ướp cá

Do thời gian một chuyến đi biển dài hơn các hoạt động khác nên số chuyến đitrong năm của các hộ dã cào lại ít hơn các hộ khai thác các Hoạt động càocũng đi khai thác xa hơn các hoạt động khác, khoảng 30 hải lý so với bờtương đương với 55,56 km, tuy nhiên họ khai thác dọc theo bờ biển của cáctỉnh lân cận

Hoạt động bủa câu bắt đầu từ năm 2002, hoạt động này bắt đầu sauhoạt động bủa lưới và bủa câu, có số hộ tham gia đứng thứ 2 với 23 hộ Hoạtđộng bủa câu thường đi theo nhóm khoảng 2 – 3 người/thuyền với thời giankhoảng 2 ngày/chuyến, trung bình mỗi năm các hộ bủa câu đi biển khoảng 70chuyến Các thuyền đi bủa câu gần bờ, thường khoảng 16 hải lý tương đươngvới 31,484 km

Đi câu là hoạt động có thời gian bắt đầu muộn nhất, khoảng vào năm

2004 Trên thực tế hoạt động đi câu này có từ lâu nhưng người dân chỉ câu cá

ở ven bờ chứ không đi thuyền, khoảng 6 năm trở lại đây, người dân bắt đầusắm các thuyền máy nhỏ khoảng 12 CV để ra biển câu cá lớn và mực Hiệnnay, trong xã có 21 hộ đi câu theo dạng này, các hộ thường đi câu một mình,thỉnh thoảng họ kêu thêm một người ban đi cùng Họ thường đi câu trongngày, thường từ 3 giờ sáng đến cuối buổi chiều là vào bờ Các hộ đi câu có sốchuyến/năm đứng thứ 2 sau hoạt động bủa lưới với 110 chuyến/năm, họ đithường đi câu gần bờ khoảng 10 hải lý tương đương với 18,52 km

Sự thay đổi sản lượng và thu nhập của hộ KT biển ở đây được tính làkg/chuyến/thuyền và triệu đồng/chuyến/thuyền Nhìn chung, sản lượng khai

Trang 34

thác/chuyến năm 2010 của các hoạt động đều giảm so với năm 2008, tuynhiên sự thay đổi sản lượng của loài khai thác chính của các hoạt động đều khácnhau Loài khai thác chính của các hoạt động khai thác biển chủ yếu là mực, sảnlượng mực/chuyến đều giảm xuống Hoạt động dã cào có sản lượng mực lớnnhất, tuy nhiên sản lượng/chuyến của năm 2010 giảm hơn năm 2008 là khôngđáng kể, chỉ 0,1 kg Có thể thấy rằng, sản lượng mực/chuyến của các hoạt độngkhai thác năm 2010 so với năm 2008 giảm ít lơn so với các loài khác.

Bảng 10: Thay đổi về sản lượng và thu nhập từ KTTS biển

Kg/chuyến 2010

Triệu đồng/

chuyến 2008

Triệu đồng/ chuyến 2010

kể Nguyên nhân là do thu nhập phụ thuộc vào sản lượng và giá bán của sảnphẩm, trong khi sản lượng khai thác giảm nhưng giá bán của các loài này tăngthu nhập có loài thì tăng và có loài thì giảm Ở đây ta có thấy loài khai thácchính của tất cả các hoạt động, có thu nhập/chuyến năm 2010 đều giảm hơn

so với năm 2008 ở 2 hoạt động đi câu và bủa câu, còn ở 2 hoạt động bủa lưới

và dã cào thì lại tăng

Trang 35

Xét từng hoạt động KT, chỉ có hoạt động dã cào có sản lượng/chuyếncủa các loài KT chính đều giảm nhưng thu nhập/chuyến lại tăng

4.3 Sản lượng thủy sản và thu nhập từ KTTS biển của hộ

Đối với các hộ KT biển thì nguồn thu của mỗi hộ phụ thuộc vào hai yếu

tố chính: sản lượng đánh bắt/năm và yếu tố thị trường

Bảng 11: Sự thay đổi sản lượng và thu nhập của nhóm hộ khảo sát Loài

có sự biến động Sản lượng khai thác/hộ/năm giảm từ 1,61213 tấn/hộ năm

2008 xuống 1,5325 tấn/hộ năm 2010

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Các đặc điểm của cộng đồng KTTS biển T - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4 Các đặc điểm của cộng đồng KTTS biển T (Trang 27)
Bảng 6: Đặc điểm nhân khẩu, lao động của các hộ KTTS biển - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 6 Đặc điểm nhân khẩu, lao động của các hộ KTTS biển (Trang 29)
Bảng 7: Nhà ở và các phương tiện, ngư cụ chính của hộ KTTS biển - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 7 Nhà ở và các phương tiện, ngư cụ chính của hộ KTTS biển (Trang 30)
Bảng 8: Giá trị tài sản và phương tiện KT của hộ KTTS biển Tài sản - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 8 Giá trị tài sản và phương tiện KT của hộ KTTS biển Tài sản (Trang 31)
Bảng 9: Hoạt động KTTS của vùng nghiên cứu Hoạt - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 9 Hoạt động KTTS của vùng nghiên cứu Hoạt (Trang 32)
Bảng 11: Sự thay đổi sản lượng và thu nhập của nhóm hộ khảo sát Loài - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 11 Sự thay đổi sản lượng và thu nhập của nhóm hộ khảo sát Loài (Trang 35)
Bảng 12: Thu nhập từ KTTS của các nhóm hộ điều tra. - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 12 Thu nhập từ KTTS của các nhóm hộ điều tra (Trang 36)
Bảng 17: Sự tham gia các buổi họp bàn/hoạt động về quản lý khai  thác nguồn lợi thủy sản. - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 17 Sự tham gia các buổi họp bàn/hoạt động về quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản (Trang 44)
Bảng 16: Số hộ chế biến sản phẩm sau khi khai thác Phương pháp sơ - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 16 Số hộ chế biến sản phẩm sau khi khai thác Phương pháp sơ (Trang 44)
Bảng 18: Đánh giá về phương thức quản lý khai thác nguồn lợi  thủy sản hiện tại. - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 18 Đánh giá về phương thức quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản hiện tại (Trang 46)
Bảng 20: Sản lượng KT theo các hoạt động KT của nhóm hộ điều tra Hoạt động - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 20 Sản lượng KT theo các hoạt động KT của nhóm hộ điều tra Hoạt động (Trang 47)
Bảng   21:   Đánh   giá   sự   thay   đổi   các   hiện   tượng   khí   hậu   ở   địa phương trong 5 năm qua của ngư dân KT biển. - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
ng 21: Đánh giá sự thay đổi các hiện tượng khí hậu ở địa phương trong 5 năm qua của ngư dân KT biển (Trang 49)
6. Hình thức hợp tác trong khai thác biển Hoạt động khai - các hoạt động và hình thức tổ chức khai thác thủy sản biển của ngư dân tại xã hải dương, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế
6. Hình thức hợp tác trong khai thác biển Hoạt động khai (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w