1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế

61 1,9K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường Xuân Phú thành phố Huế
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Khoa học Huế
Chuyên ngành Quản lý đất đai, Nông nghiệp, Đô thị và Phát triển bền vững
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2024
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 22,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó những nông dân không bị thu hồi đất cũng bị tácđộng đến sản xuất của mình, một phần lao động trong gia đình chuyển sanglàm việc trong nhà máy hoặc dịch vụ trong khu công nghi

Trang 1

PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU

vụ Tuy nhiên cùng với đó là việc thu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đờisống của hàng ngàn hộ gia đình có sinh kế phụ thuộc chính vào NN Việc thuhồi đất không chỉ làm các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quantrọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội, nguồn thực phẩm, thunhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáo trộn xã hội

Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất NN, nông dân phải tìm cáchkiếm sống mới Nhiều người phải di cư ra thành thị để kiếm việc làm và đốimặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị, một số ít lao động trẻ được tuyểndụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một số lao động tìm kiếm việc làmtại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ (mở quán nước, xây dựng nhà ởcho thuê ) Bên cạnh đó những nông dân không bị thu hồi đất cũng bị tácđộng đến sản xuất của mình, một phần lao động trong gia đình chuyển sanglàm việc trong nhà máy hoặc dịch vụ trong khu công nghiệp

Cùng với quá trình CNH - HĐH đang diễn ra trên khắp cả nước thìThừa Thiên Huế là một trong những tỉnh đang nằm trong sự vận động đổi mớichung đó Những chuyển biến của công cuộc đổi mới đó chính là sự xuất hiệncác khu công nghiệp, các nhà máy xí nghiệp, các khu qui hoạch đô thị Sựphát triển tích cực đó đã dẫn đến tình trạng một số diện tích lớn đất NN bị thuhồi cụ thể: khu qui hoach làng Đại học Huế đã thu hồi 100 ha đất sản xuất NNcủa người dân xã Thuỷ An, 170,2 ha đất NN tại 3 thôn Kế Sung, Mỹ Khánh,

Trang 2

Thanh Dương (xã Phú Diên) bị thu hồi, cho phép Công ty cổ phần SôngHương thuê để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản Từ năm 2004 đếnnay, toàn tỉnh có hơn 2.400 hộ bị thu hồi đất, trong đó, 450 hộ bị thu hồi hếtđất ở và 500 hộ bị thu hết đất sản xuất NN [7]

Xuân Phú là một trong những phường của thành phố Huế có diện tích đất

NN bị thu hồi khá lớn trong những năm qua [1] Theo kết quả của nhiều côngtrình, khảo sát, nghiên cứu cứ 1 ha đất NN thu hồi ảnh hưởng đến việc làm của

13 lao động [6] Trên phương diện tích cực và tiêu cực việc thu hồi đất ảnhhưởng rất lớn đến việc làm cũng như nguồn sinh kế của người dân nơi đây

Để làm rõ những tác động đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

"

Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường Xuân Phú thành phố Huế"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng thu hồi đất NN trên địa bàn phường Xuân Phú

- Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế người dân trongvùng nghiên cứu

1.3 Ý nghĩa đề tài

Thấy rõ thực trạng sinh kế của người dân sau thu hồi đất NN từ đó gópphần đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế cho họ

2

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Khái quát đất NN

2.1.1.1 Khái niệm về đất NN

Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất NN thườngđược hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và nhữngloại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất

NN tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu màcòn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồngcây lâu năm

Luật đất đai năm 1993 quy định về đất NN tại Điều 42 như sau: “Đất

NN là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất NN như trồng trọt,chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về NN.”

Trong những nghiên cứu gần đây khái niệm đất NN được mở rộng vớitên gọi “Nhóm đất NN” thay cho “ Đất NN” trước đây Theo quy định củaLuật đất đai năm 2003 có thể hiểu nhóm đất NN là tổng thể các loại đất cóđặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụcho mục đích sản xuất NN, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồngthủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm

về NN, lâm nghiệp

2.1.1.2 Phân loại nhóm đất NN

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2003 nhóm đất NN đượcchia thành 6 loại đất bao gồm: (1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đấtđồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; (2) Đất trồng câylâu năm; (3) Đất rừng sản xuất; (4) Đất rừng phòng hộ; (5) Đất rừng đặc

Trang 4

2.1.2 Những tác động của thu hồi đất đến sinh kế người dân ở các nghiên cứu trước đây

2.1.2.1 Khái niệm sinh kế

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế tuỳ theo quan điểm và bốicảnh đưa ra định nghĩa cũng như những khía cạnh quan tâm khác nhau trongquá trình thực hiện công tác phát triển

Theo Chamber and Conway (1992): một sinh kế bao gồm khả năng, tàisản - (các nguồn dữ trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếpcận)- và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống Một sinh kế bềnvững khi có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩycác khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khikhông làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên [12]

Sinh kế cũng có thể được mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lựcliên quan tới các quyết định và hoạt động của một người hoặc một nhómngười nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước củamình Tiêu chí sinh kế bền vững bao gồm: an toàn lương thực, cải thiện điềukiện môi trường tự nhiên, cải thiện môi trường cộng đồng – xã hội, cải thiệnđiều kiện vật chất, tránh rủi ro và các cú sốc [8]

Andrew Barnett (2005) đã đưa ra sơ đồ “Chiến lược khung sinh kế vàcác nhân tố liên quan” để xem xét các mối quan hệ giữa các nhân tố với trungtâm là các chiến lược khung sinh kế Không có nhân tố nào trong sơ đồ có thể

tách biệt ra khỏi quan hệ với các nhân tố khác [13].

4

Trang 5

Hình 2.1: Khung sinh kế và các nhân tố liên quan

Nguồn: Andrew Barnett (2005)

Như vậy sinh kế của một hộ gia đình gồm khả năng, tài sản và các hoạtđộng của hộ đảm bảo cho việc kiếm sống, nó chịu tác động của nhiều yếu tố.Một sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi từ những tác độngbên ngoài

2.1.2.2 Khung sinh kế bền vững

Khung sinh kế bền vững là một phương pháp tiếp cận toàn diện về cácvấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận đến sinh kế của conngười Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen về các quyền trongmối quan hệ với nạn đói, đói nghèo và gần đây được Cục Phát triển Quốc tếAnh (DFID) phát triển cũng như được các học giả cùng với cơ quan phát triểnứng dụng rộng rãi [11]

Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đếnsinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Sử dụngsinh kế bền vững để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh

Các chiến lược sinh kế

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Sở hữu và sử dụng nguồn

tài nguyên vật chất

Thời gian sử dụng và thời gian của người nghèo

lực

Tổ chức và môi trường chính sách

Thu nhập và tiêu dùng

Trao quyền và tham

gia thực hiện

Trang 6

Bối cảnh tổn thương Sốc và khủng hoảng Những xu hướng kinh tế-xã hội và môi trường

Thể chế, chính sách Chính sách và pháp luật Các cấp chính quyền Dịch vụ nhà nước

tư nhân Luật Tập quán

Những thay đổi trong thực trạng tài sản

Chiến lược sinh kế

Kết quả sinh kế

Thu nhập tốt hơn

Đời sống nâng cao Khả năng tổn thương giảm

An ninh lương thực củng cố

Sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững

Tự nhiên Tài chính

Theo quan điểm của tổ chức quốc tế vương quốc Anh DFID khung sinh

kế có thể chia làm năm hợp phần chính: bối cảnh tổn thương, các tài sản sinh

kế, những chính sách thể chế và tiến trình, các chiến lược sinh kế và kết quảsinh kế Tài sản sinh kế là một hợp phần chính trong khung phân tích sinh kếbền vững, đây là những tài sản sinh kế mà các loại hình sinh kế được xây

6

Trang 7

Vốn tự nhiên Vốn tài chính

Vốn tài chính Vốn vật chất

Vốn con người

dựng trên đó Các tài sản này được chia làm năm loại (hay loại vốn), đó là:vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội) Hay còngọi là ngũ giác tài sản sinh kế được thể hiện theo hình 2.3

Hình 2.3: Tài sản sinh kế

Nguồn: ( Andrew, 2005)

- Vốn con người: bao gồm kỹ năng kiến thức và giáo dục của từng cánhân và các thành viên trong gia đình, sức khoẻ, thời gian và khả năng làmviệc để họ có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau vàđạt được những mục tiêu sinh kế của họ Ở mức độ gia đình nguồn vốn conngười được xem là số lượng và chất lượng lao động sẵn có Nguồn vốn conngười là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai Nó được xem là nền tảng hayphương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập Cải thiện phương thức tiếp cậnvới giáo dục, thông tin, công nghệ, nâng cao dinh dưỡng và sức khỏe sẽ gópphần phát triển nguồn vốn con người

- Vốn xã hội: đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ, các tổ chức xã hội

và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ

đó có những kết quả sinh kế

- Vốn tự nhiên: là các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc của cộngđộng) mà con người trông cậy vào Khung sinh kế bền vững coi đất đai là mộttài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế người dân nông thôn Quyềnđất đai đóng một vị trí rất quan trọng về nhiều mặt và tạo cơ sở để người nông

Trang 8

- Vốn tài chính: là các nguồn lực tài chính mà con người có được nhưnguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và cácnguồn thu nhập tiền mặt như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay nhữngtrợ cấp của nhà nước…để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Có hai nguồnvốn tài chính chủ yếu: là vốn sẵn có và dòng tiền vào thường xuyên.

Vốn vật chất: gồm tài sản tư nhân như gia súc và công cụ canh tác nhằm

hỗ trợ sinh kế để sản xuất đạt hiệu quả hơn, tài sản công cộng như đường sá,

cơ sở hạ tầng và xã hội cơ bản… là môi trường vật chất giúp con người tiếpnhận được với nhu cầu thiết yếu của họ và đạt năng suất cao hơn Những yếu

tố của cơ sở hạ tầng thường có ý nghĩa cho sinh kế bền vững: vận chuyển, nơi

cư trú, cấp và thoát nước, cung cấp năng lượng và tiếp cận thông tin

Những tài sản sinh kế kết nối với nhau tạo theo vô số cách để tạo ra kếtquả sinh kế có lợi Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân tự tạo thêmcác loại tài sản khác Ví dụ người dân có thể dùng tiền (vốn tài chính) để muasắm vật dụng sản xuất và tiêu dùng (nguồn vốn vật thể)

2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

2.2.1 Thực trạng thu hồi đất và kinh nghiệm thu hồi đất của một số nước trên thế giới

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thếgiới Để đáp ứng nhu cầu về đất đai cho phát triển công nghiệp và đô thị thìthu hồi đất NN là cách thức thường được thực hiện, mỗi quốc gia có cách làmriêng của mình để có thể hài hoà được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân Một đất nước rộng lớn và có tốc độ ĐTH diễn ra khá nhanh trong những nămqua điển hình như Trung Quốc, trong giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 6-

2005 diện tích đất canh tác của Trung Quốc bị thu hồi lên tới 7,3 triệu ha,thực trạng này đi ngược với nguyên tắc bảo vệ đất canh tác "lấy đi bao nhiêu,khai hoang bấy nhiêu" mà Chính phủ Trung Quốc đề ra Theo thống kê, hiệnnay số nông dân bị thu hồi đất ở Trung Quốc đã lên tới 40 triệu người, mỗinăm số nông dân bị thu hồi đất tăng thêm từ 2,5 đến 3 triệu người Theo dựbáo đến năm 2030 số lượng nông dân mất đất của Trung Quốc tăng từ 40triệu người hiện nay lên tới 110 triệu người và có khoảng trên 50 đến 80 triệu

8

Trang 9

người rơi vào hoàn cảnh mất đất và thất nghiệp, đây là nguy cơ tiềm ẩn vàảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định xã hội của Trung Quốc Để giải quyếtnhững vấn đề tồn tại trong thu hồi đất NN, Chính phủ Trung Quốc đã đưa racác giải pháp gồm: cải cách chế độ sở hữu ruộng đất nông thôn, làm rõ nộihàm của "lợi ích công cộng", khắc phục tình trạng bất cập về giá đất, đảmbảo cuộc sống lâu dài cho người nông dân, giải quyết kịp thời việc làm chongười nông dân bị thu hồi đất [2], [10].

Theo Nguyễn Thành Lợi thì chính sách bồi thường khi thu hồi đất ở TháiLan được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân từ đó địnhgiá đền bù Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự

án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so vớigiá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cánhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường [10]

Bên cạnh đó thì Hàn Quốc cũng là một trong những quốc gia đang đốimặt với tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị Để giải quyếtnhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất củanông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụchính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý

và chính sách tái định cư [10]

Tóm lại để phục vụ cho việc xây dựng và mở rộng đô thị, xây dựngCSHT, khu công nghiệp các nước đều phải lấy một diện tích lớn đất NN vànhiều nước đã bồi thường cho người có đất bị thu hồi với giá cao Nhìn chungĐTH ở các nước trên thế giới cũng đã làm nảy sinh những vấn đề cần giảiquyết như việc bồi thường cho nông dân bị thu hồi đất, vấn đề giải quyết việclàm, ổn định xã hội và vấn đề môi trường

2.2.2 Thực trạng thu hồi đất NN ở nước ta

Trong quá trình thực hiện CNH, ĐTH các địa phương đã thu hồi mộtdiện tích lớn đất NN Đất NN từ thu hồi, cả nước đã xây dựng được hơn 200khu công nghiệp, nâng cấp và xây dựng mới CSHT ngày càng hoàn thiện hơn.Nhiều đô thị được nâng cấp mở rộng, từng bước thực hiện mục tiêu chiếnlược phát triển đô thị Việt Nam, kinh tế phát triển đã tạo điều kiện thu hút,

Trang 10

Theo kết qủa kiểm kê đất đai năm 2005, diện tích đất NN của nước ta là24.822.560 ha Trong diện tích đất NN thì đất sản xuất NN chỉ khoảng9.300.000 ha, trong đó đất trồng lúa là 4.100.000 ha [9].

Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất NN đã thu hồi là366.440 ha (chiếm 3,89% đất NN đang sử dụng) Trong đó, diện tích đất NN

đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39.560

ha, xây dựng đô thị là 70,32 ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136.170 ha.Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất NN thu hồi lớnnhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địaphương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang, Đồng Nai, Bình Dương,Quảng Nam, Cà Mau, Hà Nội, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc

Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại 16tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất NN bị thu hồi chiếm khoảng 89%

và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tíchđất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất NN, tỷ lệ này ở ĐôngNam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5%

Mặc dù diện tích đất NN, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏtrong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vàomột số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích đất NN bình quân đầu ngườithấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70-80% diện tích đất canh tác.Bảng 2.1: Thống kê diện tích đất NN thu hồi qua các năm ở một số tỉnh Đơn vị tính: ha

Trang 11

Các tỉnh nằm ngoài những vùng trọng điểm về phát triển kinh tế, diệntích đất sản xuất và đất ở bị thu hồi còn tương đối nhỏ và nằm trong khoảng

từ vài trăm tới dưới 1.000 ha

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong 7 năm từ

2001 đến năm 2007, diện tích đất NN cả nước giảm 500.000 ha, riêng năm

2007 thu hồi 120.000 ha, trong đó chủ yếu là đất trồng cây hàng năm tại cácvùng đồng bằng, ven các đô thị do xây dựng công nghiệp và đô thị [5]

Kết quả thống kê đất đai đến ngày 1 tháng 1 năm 2007 cho thấy, diệntích trồng lúa cả nước là 4.130.945 ha, giảm 10.810 ha so với năm 2006, giảm34.332 ha so với năm 2005, mức độ giảm thực tế bằng 1,46 lần so với kếhoạch giảm diện tích đất trồng lúa

Tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2008, theo số liệu thống kê của Bộ Tàinguyên và Môi trường, đất trồng lúa của cả nước còn 4.098.285 ha, giảm còn30.643 ha so với năm 2000 Mức độ giảm thực tế bằng 1,1 lần so với kếhoạch giảm diện tích đất trồng lúa nước năm 2006 – 2007

Nhìn chung, diện tích đất trồng lúa nước giảm chủ yếu do chuyển sangđất phi NN cao hơn nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch được Quốc hội quyết định.Trong đó, chuyển sang xây dựng các khu, cụm công nghiệp khoảng 18.000

ha, tập trung ở các vùng: Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 15.000 ha, đồngbằng sông Hồng khoảng 8.000, Đông Nam bộ khoảng 6.600 ha, Bắc Trung bộ2.340 ha

Như vậy, trong giai đoạn vừa qua ở nước ta diện tích đất NN bị thu hồirất lớn Việc chuyển mục đích từ đất NN sang đất phi NN ở nước ta đã manglại nhiều chuyển biến tích cực và tạo điều kiện để phát triển đô thị, côngnghiệp, cơ sở hạ tầng nhưng làm nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết

2.2.3 Việc làm và sinh kế của người dân bị thu hồi đất NN

Lực lượng lao động ở nông thôn dư thừa ngày càng nhiều, việc làmthiếu, đời sống của nông dân bị thu hồi đất sẽ rất khó khăn, trong khi thu hồiđất NN để phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa là một tất yếu củathời kỳ CNH – HĐH Đây đang là những khó khăn, thách thức lớn đối với xãhội, nhất là ở khu vực nông thôn [7]

Trang 12

Tính đến 31- 12- 2006 ở 14 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bị thuhồi đất nhiều nhất đã giải quyết được việc làm cho 22,3 vạn lao động, chỉbằng 28% tổng số lao động mất việc làm do thu hồi đất NN (Hà Nội: 25.000người, Hà Tĩnh: 29.068 người, Quảng Nam: 21.517 người, Đồng Nai: 69.670người ) Theo báo cáo của Chính phủ tháng 10- 2007, chỉ có 6% lao động bịthu hồi đất chuyển sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, 9% số laođộng chuyển sang làm dịch vụ, còn tới 60% vẫn tiếp tục làm NN [7]

Theo khảo sát năm 2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ởvùng Đồng bằng Sông Hồng trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao độngmất việc làm, bình quân mỗi ha đất NN bị thu hồi có khoảng 13 lao động NNmất việc làm phải chuyển đổi nghề mới [3], [2]

Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy việc thuhồi đất nông nghiệp trong 5 năm (2003 -2008) đã tác động đến đời sống củatrên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người.Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụthể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giảiquyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư Tuy nhiên, trênthực tế có tới 67% lao động NN vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khu bị thu hồiđất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc cóviệc làm nhưng không ổn định Thực trạng này cũng là nguyên nhân dẫn đếnkết quả 53% số hộ dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ

có khoảng 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước [9]

Theo kết quả điều tra thì số lao động không có việc làm sau thu hồi đấttăng nhanh tại các tỉnh có khảo sát, tại Hà Nội tỷ lệ lao động không có việclàm trước khi thu hồi đất là 4,7% đã tăng lên 12% sau thu hồi đất, hai tỷ lệtương ứng của các tỉnh khác như Hải Phòng là 5,1% và 10,8%, Bắc Ninh5,3% và 7,9% Số người không có việc làm tăng lên, cơ cấu ngành nghề cũngthay đổi, số người chuyển sang buôn bán tăng 2,72%, chuyển sang làm thuê

và xe ôm tăng 3,64%, số người làm các việc khác cũng tăng 4,1%, số ngườigắn với các khu công nghiệp chỉ tăng 2,79% [4]

Từ số liệu này cho thấy, người dân mất đất chủ yếu tự tìm việc làm đểđảm bảo sinh kế của mình, số lao động NN được tuyển dụng vào làm việc

12

Trang 13

trong các khu công nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ Thực trạng trên cho thấy, chủtrương của Nhà nước đề ra về việc giải quyết việc làm cho người bị thu hồiđất NN chưa được các địa phương thực hiện tốt Vấn đề này có nhiều nguyênnhân quan trọng là việc đào tạo lao động không được quan tâm đúng mức,phát triển công nghiệp, đô thị chưa gắn với kế hoạch đào tạo nghề cho nôngdân Lao động lớn tuổi chiếm phần lớn nên khó khăn cho việc chuyển đổinghề nghiệp.

Bên cạnh đó, ở nông thôn, quá trình phân hóa thu nhập, giàu nghèo diễn

ra với tốc độ nhanh hơn, giữa những hộ có thu nhập tăng lên nhanh chóng nhờ

có cơ hội tiếp cận được những ngành nghề phi NN và biến động tăng giá đấtvới những hộ không có được cơ hội trên Hơn nữa, sự bất bình đẳng về thunhập đang diễn ra gay gắt ngay tại địa bàn nông thôn, giữa những người mấtđất NN (tư liệu sản xuất chính) không kiếm được việc làm với các nhà doanhnghiệp (sử dụng đất NN thu hồi của nông dân)

Mặt khác, trong quá trình ĐTH, CNH cũng nảy sinh những bất cập trongcông tác quản lý xã hội của cấp chính quyền cơ sở và phá vỡ thiết chế cộngđồng truyền thống của dân cư nông thôn Đó là, ĐTH, CNH thúc đẩy quátrình nhập cư ồ ạt, gia tăng dân số cơ học… gây mất trật tự an ninh xã hội,quản lý nhân sự khó khăn, nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện

Môi trường sinh thái bị ô nhiễm nghiêm trọng do việc xử lý chất thải(sinh hoạt và công nghiệp) từ các khu công nghiệp hoặc khu đô thị mới thải rakhông tương xứng với hạ tầng cơ sở về bảo vệ môi trường [10]

Ngoài những tác động trên thì việc thu hồi đất còn dẫn đến tình hìnhtranh chấp mâu thuẫn trong đời sống xã hội của người dân Theo thống kê của

Cơ quan an ninh, ở Việt Nam có đến 70 - 80% số vụ việc khiếu kiện, thắcmắc, tranh chấp liên quan đến vấn đề đất đai [10]

Việc đền bù trong nhiều trường hợp chưa thỏa đáng, thời hạn đền bù kéodài trong nhiều năm, tình trạng tham nhũng của cán bộ liên quan đến đấtđai… đang dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện, biểu tình kéo dài trước trụ sở các cơquan công quyền từ Trung Ương đến địa phương Theo báo cáo của Vụ Tiếpdân và xử lý đơn thư của Thanh tra Chính phủ, trong năm 2007, Trụ sở Tiếp

Trang 14

đoàn đông người đến từ 35 tỉnh, thành phố, trình bày 6.775 vụ việc, trong đó

có trên 5.000 vụ việc là khiếu nại, tố cáo, trong đó có gần 3.000 vụ liên quanđến đất đai Nhìn chung, người dân thường khiếu nại về giá đền bù và sảnphẩm trên đất thấp, việc bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất chưa tươngxứng và chậm trễ, thiếu việc làm, không chuyển đổi được nghề, thu nhậpgiảm…

Chính sách đền bù đất thu hồi phục vụ ĐTH, CNH tại các địa phươngchưa bám sát giá thị trường như Luật Đất đai quy định mà thông thường chỉbằng 20 - 30% giá thị trường [10]

Theo PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, trong quá trình thực hiện chính sách thuhồi đất, nhiều nơi chính quyền có trao đổi, lấy ý kiến của dân chúng, nhưngchủ yếu thông báo về tiền đền bù hoặc quyền lợi vật chất cụ thể, và khi khôngđạt được sự đồng thuận, việc giải quyết theo kiểu tiếp cận từ trên xuống, chưachú ý đầy đủ đến quyền lợi của dân chúng địa phương chưa phản ánh đúngnguyện vọng của nhân dân… nên tính chất xung đột, bức xúc của người dâncàng trở nên gay gắt hơn [10].

Tóm lại, việc chuyển đổi từ đất NN sang đất phi NN trong quá trìnhĐTH ở nước ta hiện nay là xu hướng tất yếu ĐTH tạo cơ sở, nền tảng cho sựphát triển KT- XH để thực hiện mục tiêu đưa nước ta trở thành nước côngnghiệp vào năm 2020 Tuy nhiên Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa đếnthực trạng đời sống, việc làm và thu nhập của người nông dân sau khi bị thuhồi đất để từ đó có những giải pháp thực hiện tốt CĐĐĐ và đảm bảo sinh kếcho người cố đất NN bị hồi

14

Trang 15

PHẦN 3 NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân, nguồn lực sinh kế, cáchoạt động tạo thu nhập, sự chuyển đổi nghề nghiệp sau khi mất ruộng, thunhập và đời sống của các hộ dân ở phường Xuân Phú thành phố Huế

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Vùng nghiên cứu: phường Xuân Phú - một phường có diện tích đất NN

bị thu hồi nhiều nhất của thành phố Huế

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 03/01/2011 - 06/05/2011

Tỉnh Thừa Thiên Huế

Phường Xuân Phú

Trang 16

Hình 3.1: Vị trí vùng nghiên cứu

3.1.2 Nội dung nghiên cứu

Trong nghiên cứu này nội dung nghiên cứu tập trung vào 5 vấn đề chính:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của phường

- Tình hình cơ bản của các hộ nghiên cứu

- Hiện trạng đất đai ở vùng nghiên cứu

- Phân tích ảnh hưởng của thu hồi đất NN đến sinh kế người dân bao gồm:

+ Đối với thu nhập bình quân đầu người

+ Sự thay đổi các loại tài sản trong gia đình của hộ

+ Đối với việc làm của hộ trước và sau thu hồi đất

+ Đối với an ninh lương thực của hộ trước và sau thu hồi đất

+ Đối với các vấn đề xã hội

+ Đối với môi trường

- Giải pháp để đảm bảo sinh kế cho người dân có đất NN bị thu hồi

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu

- Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Vùng nghiên cứu được chọn là phường Xuân Phú, đầu năm 2004 diệntích đất NN của phường là 62,4 ha, hiện nay diện tích đất sản xuất chỉ còn43,42 ha Vì vậy đây được xem là vùng có diện tích đất NN bị thu hồi nhiềunhất của thành phố Huế, trong quá trình đô thị hoá việc thu hồi đất NN ảnhhưởng đến sinh kế của người dân trong vùng

Căn cứ vào tình hình thực tế và số liệu thống kê về đất đai của phường,chọn khu vực 4 là khu vực có diện tích đất NN bị thu hồi nhiều nhất trongnăm 2008 đến nay

Trang 17

- Phương pháp chọn hộ nghiên cứu

Để đánh giá việc thu hồi đất ảnh hưởng đến sinh kế của người dân chúngtôi chọn điều tra các hộ dân có đất NN bị thu hồi tại các dự án xây dựng đangđược tiến hành trên địa bàn của phường

- Phương pháp chọn mẫu

+ Tiêu chí chọn mẫu : chọn các hộ tham gia sản xuất và có diện tích đất

NN bị thu hồi toàn bộ hoặc một phần

+ Dung lượng mẫu điều tra: chọn 40 hộ có diện tích đất NN bị thu hồi từdanh sách các cá nhân hộ gia đình có đất NN trong khu vực giải toả để thựchiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập các báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, số liệu, tàiliệu về hiện trạng sử dụng đất, các quyết định thu hồi đất của tỉnh đối vớiphường, tình hình biến động đất đai qua các năm tại các phòng ban củaphường Xuân Phú để có được thông tin về vùng nghiên cứu

Thu thập những văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trung ương và địaphương về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, cho người dân có đất

NN bị thu hồi, chính sách giải quyết việc làm cho người có đất NN bị thu hồi

từ các cơ quan Nhà nước

Thu thập thông tin từ những công trình nghiên cứu đã được công bố, nhữngbáo cáo, bài báo, tài liệu hội thảo, thu thập thông tin từ Internet để có số liệu vềtình hình thu hồi đất, việc làm, sinh kế của người dân trong nước

3.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

- Thảo luận nhóm: tiến hành thảo luận nhóm 5 người bao gồm tổ trưởng

tổ dân phố 13 và 4 hộ nông dân có đất NN bị thu hồi ở tổ 13 để phác thảo bản

đồ chung của phường và khu vực nghiên cứu, xác định vị trí các vùng đất NNcòn lại, vùng đất NN đã và đang bị thu hồi, các vùng thu hồi đang được quyhoạch Đồng thời thông qua buổi thảo luận nhóm chúng tôi đã xác định đượccác loại hình sinh kế của người dân trước và sau thu hồi

Trang 18

+ Phỏng vấn bán cấu trúc: phỏng vấn các nhóm hộ gia đình bằng phiếuđiều tra soạn sẵn Các hộ được chọn phỏng vấn một cách ngẫu nhiên trong danhsách thống kê các hộ có đất NN bị thu hồi của khu vực 4 Số hộ phỏng vấn là 40

hộ có đất bị thu hồi ở 6 tổ dân phố, nội dung phỏng vấn hộ bao gồm: (1)Thông tin chung của hộ; (2) Tình hình sử dụng đất NN;(3) Tài sản gia đìnhcủa hộ trước và sau thu hồi đất; (4)Tình hình việc làm của các lao động trước

và sau thu hồi đất; (5) Thu nhập của hộ trước và sau thu hồi đất; (6) An ninhlương thực của hộ trước và sau thu hồi đất; ( 7) Tình hình môi trường sau thuhồi đất; (8) Các vấn đề xã hội sau thu hồi đất; (9) Ý kiến và đề xuất của ngườidân về việc đền bù

- Phương pháp quan sát

Tiến hành đi thực địa, quan sát nhằm kiểm tra thông tin thu thập của hộ

về việc sử dụng nguồn vốn đất đai, tài sản, đời sống của nông hộ

3.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

- Phương pháp xử lý số liệu bằng Exel: nhập thông tin từ phiếu điều tra,tiến hành tính các chỉ tiêu bình quân, chỉ tiêu tương ứng về thông tin hộ, diệntích đất sử dụng và thu hồi, thu nhập của các nhóm hộ điều tra

- Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp này được sử dụng để mô

tả tổng quát về địa bàn nghiên cứu, thực trạng sử dụng đất, thực trạng ĐTH,các nguồn lực sinh kế các nông hộ tại vùng nghiên cứu

18

Trang 19

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xuân Phú là phường nằm ở phía Đông thành phố Huế, là vùng nằm ởvùng thấp trũng, vừa làm NN, vừa làm các dịch vụ ngành nghề phi NN khác.Phía Bắc giáp phường Vĩ Dạ và xã Thuỷ Vân (huyện Hương Thuỷ), phía Đônggiáp với xã Thuỷ An (Thành phố Huế), phía Tây giáp với phưòng Phú Hội.Chính vị trí địa lý thuận lợi như vậy cho nên trong quá trình ĐTH thìXuân Phú được xem là khu vực phát triển tiềm năng nhất Vì vậy trong nhữngthời gian gần đây thì diện tích đất NN của phường có sự suy giảm rõ rệt

4.1.1.2 Địa hình, đất đai

Phường Xuân Phú có vị trí sát với trung tâm thành phố Huế, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển KT – XH cho nên trong những năm gần đây quá trình ĐTH đang diễn ra mạnh mẽ ngay tại khu vực phường

Vì vậy đây được xem là một trong những phường nằm trong diện đượcUBND tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND thành phố Huế chủ trương quy hoạchcủa khu vực phía Đông thành phố Hiện nay đất đai của phường luôn có biếnđộng về quy hoạch

Qua bảng 4.1 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của phường không thay đổi từnăm 2008 đến năm 2010 vẫn là 176,99 ha nhưng diện tích đất NN có sự suygiảm rõ rệt Đặc biệt là sự suy giảm diện tích đất sản xuất NN và đất trồnglúa Diện tích đất đất sản xuất NN năm 2008 là 47,47 ha nhưng đến năm 2010giảm xuống còn 43,42 ha (tức giảm 5,5 ha) tương tự đất trồng lúa năm 2008

là 41,7 ha nhưng năm 2010 giảm còn 36,24 ha Tình hình biến động đất đaitại phường Xuân Phú được thể hiện ở bảng 4.1

Trang 20

Bảng 4.1: Tình hình biến động đất đai tại phường Xuân Phú

Thứ tự Mục đích sử dụng đất Mã

Diện tích năm 2010 (ha)

So với năm 2010 Diện tích

năm 2008 (ha)

Tăng (+) giảm (-)

(Nguồn: Thống kê, kiểm kê đất đai của phường Xuân Phú năm 2010)

4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

4.1.2.1 Nông nghiệp

Diện tích đất NN đầu năm 2007 của phường là 62,4 ha, do quá trình đôthị hoá, hiện nay diện tích đất sản xuất chỉ còn 43,42 ha Chỉ đạo HTXNNđộng viên nông dân gieo cấy lúa năm 2010 với diện tích 43,42 ha Năng suấtlúa bình quân cả năm đạt 121,8 tạ/ha/năm, giá trị thu nhập 61.200.000đ/ha/năm, tiến hành chi trả tiền miễn giảm thuỷ lợi phí cho nông dân năm

2010 với tổng số tiền 49.217.000 đ

Tình hình chăn nuôi trong khu vực có xu hướng giảm mạnh trong 2 nămgần đây nguyên nhân chủ yếu là do diện tích đất NN ở một số hộ gia đình suygiảm cho nên nguồn lương thực chỉ đủ phục vụ cho con người, vì vậy khôngchăn nuôi hoặc giảm chăn nuôi là những giải pháp mà các hộ gia đình ở đâylựa chọn để đảm bảo an ninh lương thực cho mình, một nguyên nhân khác

20

Trang 21

nữa là do dịch bệnh tai xanh phát tán cho nên số lượng đàn lợn nái và lợn thịtgiảm so với năm 2009

4.1.2.2 Các ngành tiểu thủ công nghiệp - thương nghiệp dịch vụ

Trong những năm qua, tình hình sản xuất các ngành dịch vụ - tiểu thủcông nghiệp ổn định, có hướng tăng trưởng thu hút được lao động, tổng doanhthu hằng năm ước tính tăng từ 10 - 15% Tuy nhiên, năm 2010 tình hình giá

cả có nhiều biến động, cắt điện luân phiên đã ảnh hưởng sản xuất kinh doanhtrên địa bàn phường nhưng nhìn chung đời sống của người nông dân khá ổnđịnh

Tình hình kinh doanh mua bán tại chợ Cống có chiều hướng phát triển

và ổn định, đại bộ phận tiểu thương chấp hành các chủ trương, nội qui, quichế đề ra và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế cho nhà nước Hằng năm đã khaithác được nguồn thu cơ bản cho ngân sách phường

4.1.2.3 Lao động, việc làm

Hàng năm phường đều triển khai kiểm tra độ tuổi lao động để phục vụcho việc thu các loại quỹ theo pháp lệnh như: qũy ANQP, đền ơn đáp nghĩa,phòng chống thiên tai…

Phối hợp với công ty xuất khẩu lao động để tổ chức nhiều buổi tư vấn vềxuất khẩu lao động và tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh nội bộ củaphường Những năm qua đã có 23 hồ sơ đăng ký xuất khẩu lao động ra nướcngoài (MaCao) và đến các trung tâm dạy nghề trên địa bàn thành phố Số laođộng được giới thiệu việc làm trong năm 2010 là 105 lao động vượt so với chỉtiêu đề ra là 80 lao động

4.2 Tình hình cơ bản của các hộ nghiên cứu

Phân tích số liệu ở bảng 4.2 ta thấy số người học cấp 2 chiếm tỷ lệ caonhất 34,64%, tiếp đó là số người học cấp 3 chiếm tỷ lệ 31,42%, số ngườiKĐH/CĐH chiếm tỷ lệ khá cao 11,42% Tuy nhiên trong các hộ được điều trathì cũng có một số người có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm8,57% Theo số liệu điều tra nông hộ sau khi thu hồi đất, bình quân nhân khẩutrung bình trên hộ gia đình là 7,0 người/hộ, bình quân lao động trên hộ gia

Trang 22

Qua thông tin thu thập cho thấy bình quân lao động NN chiếm gần 50% sốlao động của các nhóm hộ.

Bảng 4.2: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra sau thu hồi đất

5 Thông tin về nhân khẩu, lao động

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra hộ năm 2011)

Nhìn vào hình 4.1 ta thấy số lao động có độ tuổi trên 35 đối với nữ vànam giới chiếm tỷ lệ cao nhất 50%, hầu hết các lao động lớn tuổi đều là cáclao động NN, do đó khả năng chuyển đổi nghề nghiệp đối với nhóm này rấtkhó khăn còn lao động trong độ tuổi từ 15 -18 chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp5,5% Những lao động này đang trong độ tuổi đi học nhưng do không chịukhó học hành, bị bạn bè rủ rê lôi kéo, một số ít gia đình quá khó khăn không

có điều kiện cho con đi học tiếp Ở các hộ điều tra thì được biết một số laođộng trong độ tuổi này ở nhà làm nông, một số ít đi làm các nghề phụ như:thợ hồ, phụ xe , một số ở nhà làm việc vặt Tuy nhiên cơ hội việc làm đối vớinhóm lao động NN trong độ tuổi này cũng không quá khó khăn hơn so với

22

Trang 23

các lao động lớn tuổi, vì sau khi thu hồi đất nhóm này có khả năng học nghề

để chuyển đổi nghề nghiệp, mặc dù ở độ tuổi từ 15 - 17 thì các lao động nàycũng bị hạn chế vào làm ở các công ty trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh Nhómtuổi từ 18 - 35 chiếm tỷ lệ khá cao 44,5%, những lao động NN trong độ tuổinày sau khi có đất bị thu hồi thì khả năng chuyển đổi nghề nghiệp thuận lợinhất Dưới đây là biểu đồ biểu hiện tỷ lệ lao động trong các độ tuổi

5.50

44.50 50.00

Tuổi 15-18 Tuổi 18-35 Tuổi trên 35

Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ % độ tuổi lao động sau thu hồi đất

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra hộ năm 2011)

4.3 Hiện trạng đất đai ở vùng nghiên cứu

Hình 4.2: Đất NN thu hồi đang được xây dựng

Trang 24

Việc sử dụng đất hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng, là mộtphương tiện sản xuất, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị củangười nông dân Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực thành phố nhưng sinh

kế của người dân ở đây tương đối giống với vùng ven đô Sinh kế của ngườidân phụ thuộc nhiều vào hoạt động sản xuất từ đất đai Dựa vào số liệu thuthập được ở phường trước khi chưa tiến hành thu hồi đất vào năm 2007 thìchúng tôi được biết diện tích đất NN của phường Xuân Phú là 62,4 ha nhưngsau khi tiến hành thu hồi đất từ năm 2008 đến nay thì diện tích đất NN củaphường chỉ còn lại là 43,42 ha

Phân tích, tổng hợp số liệu từ điều tra nông hộ ở khu vực nghiên cứuchúng tôi thấy rằng cũng như thực trạng đất đai chung của phường thì tại khuvực 4 tình hình đất NN có sự suy giảm

Tổng diện tích đất NN trước thu hồi ở các hộ điều tra là 99862,1m2 nhưvậy trung bình một hộ có 2496,55m2 nhưng sau khi thu hồi thì diện tích đấtcòn lại là 43537,4m2 tương đương với một hộ còn lại 1088,45 m2 Điều nàychứng tỏ rằng diện tích đất NN ở khu vực 4 có sự suy giảm đáng kể sau thuhồi, trung bình một hộ mất 1408,1m2, qua điều tra chúng tôi được biết tổng số

hộ có diện tích thu hồi từ 70% trở lên chiếm đến 45%, trong đó 20% số hộmất 100% diện tích đất NN Đây là một trong những tổn thất lớn đối với các

hộ chuyên sản xuất NN

24

Trang 25

Hộp 1: Thông tin về một số hộ có 100% diện tích đât NN bị thu hồi

Phường Xuân Phú nói chung và khu vực điều tra nói riêng thì diện tíchđất NN được người dân trồng chủ yếu ở đây là lúa và một diện tích nhỏ là raumuống, rất ít diện tích trồng cây hàng năm khác Sau thu hồi đất thì với diệntích đất NN còn lại bình quân 565,42m2 một lao động và với thu nhập nhưhiện tại thì các hộ gia đình rất khó để đảm bảo đời sống cho gia đình mình Vìvậy một số hộ đã chủ động đi thuê đất ở phường An Đông và xã ThủyThanh để trồng trọt, đây cũng là một hình thức sản xuất nhằm duy trì sinh

kế của người dân nơi đây

Đối với người nông dân, tư liệu sản xuất đất NN được xem là sinh kếduy nhất, khi bị mất phương tiện kiếm sống đại đa số người dân gặp nhiềukhó khăn trong việc tìm kiếm nguồn thu nhập để duy trì sinh kế Hiện tại trênđịa bàn thành phố Huế nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng không còn

1 Hộ ông Lê Bá Dũng tổ 13 A khu vực 4, phường Xuân Phú:

- Hộ gồm 5 nhân khẩu, 1 lao động tuổi từ 18 - 35, 2 lao động tuổi trên35(nữ), 40 (nam)

- Diện tích đất NN bị thu hồi 3000m2, thuộc dự án đầu tư xây dựng hạtầng kỹ thuật khu dân cư khu vực 4 tại phường Xuân phú, thành phốHuế, tỉnh thừa thiên Huế

- Tổng số tiền bồi thường hỗ trợ là 114 triệu

- Sử dụng nguồn vốn bồi thường hỗ trợ: chi tiêu hàng ngày, xây sửa nhà

2 Hộ ông Lê Tất Tý tổ 13 khu vực 4, phường Xuân Phú:

- Hộ gồm 3 nhân khẩu, 1 lao động tuổi từ 18 - 35, 2 lao động tuổi trên35(nữ), 40(nam)

- Diện tích bị thu hồi 1500m2, thuộc dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹthuật khu dân cư khu vực 4 tại phường Xuân phú, thành phố Huế, tỉnhthừa thiên Huế

- Tổng số tiền bồi thường hỗ trợ 60 triệu

- Sử dụng nguồn vốn bồi thường hỗ trợ: gửi tiết kiệm

Trang 26

dự án thì phương thức được thực hiện nhiều nhất là bồi thường bằng tiền.Cùng với việc bồi thường thiệt hại, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cũngđược thực hiện tương tự

Như vậy nghiên cứu cho thấy, khi nguồn vốn đất đai bị thu hẹp hoặckhông còn do bị thu hồi trong quá trình đô thị hóa dẫn đến khó khăn về việclàm cho nhiều lao động NN bị thu hồi đất Sinh kế của người dân gặp khókhăn do bị mất đi phương tiện kiếm sống là đất đai mà chưa được chuyển đổinghề nghiệp Và khi điều kiện, đời sống khó khăn sẽ dẫn đến ít có cơ hội đểphát triển con người, mua sắm tài sản, tích lũy tiền bạc và tiếp cận xã hội

Do vậy khi thu hồi đất nếu sinh kế người dân không đảm bảo thì họkhông những mất đi nguồn vốn tự nhiên mà con mất khả năng tiếp cận cácnguồn vốn khác: vốn con người, nguồn vốn xã hội, vốn vật chất và vốn tàichính

4.4.Phân tích ảnh hưởng của thu hồi đất NN đến sinh kế người dân

4.4.1 Đối với thu nhập bình quân của hộ.

Thu hồi đất phục vụ cho việc xây dựng và phát triển các khu đô thị đãlàm thay đổi về nguồn vốn đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu của các hộ nôngdân nên dẫn đến thay đổi về việc làm và thu nhập của hộ, điều này đã làmthúc đẩy quá trình đa dạng hóa các nguồn thu nhập Qua điều tra cho thấy thunhập bình quân trên năm tăng so với trước thu hồi đất Trong khi thu nhậpbình quân từ NN bị giảm đi 6,85 triệu đồng so với trước thu hồi đất vì diệntích đất canh tác trung bình của mỗi hộ giảm đi còn thu nhập từ các hoạt độngphi NN tăng lên, được thể hiển ở bảng 4.3 và biểu đồ 4.2

26

Trang 27

Bảng 4.3: Thu nhập của các hộ trước và sau khi thu hồi đất ở các hộ điều tra

Số hộ (N = 40) Trước thu hồi đất Sau thu hồi đất

SAU THU HỒI

PHI NÔNG NÔNG NGHIỆP

Hình 4.3: Biểu đồ thu nhập bình quân của các hộ trước và sau thu hồi

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra hộ năm 2011)

Trang 28

Qua điều tra cho thấy việc chuyển đổi đất đai dẫn đến chuyển đổi nghềnghiệp đã mang lại thu nhập cao hơn cho nhiều hộ có đất bị thu hồi Nhìn vàohình 4.3 ta thấy được sự chênh lệch trong nguồn thu nhập của các hộ, cụ thể

là thu nhập từ NN giảm 18,05% so với trước thu hồi đất còn thu nhập từ phi

NN tăng 18,02% so với trước thu hồi đất

Sở dĩ sau thu hồi đất nguồn thu nhập của các hộ tăng lên đáng kể nhưvậy là do một bộ phận lao động NN đã chuyển sang các hoạt động phi NNtrong vùng và chủ yếu là làm các nghề phụ như thợ mộc, thợ nề, bán bún,buôn bán hàng vặt, mở cửa hàng dịch vụ, công nhân….Trong đó tăng mạnhnhất là thu nhập từ đi làm công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp ngay tạitỉnh hoặc ở các tỉnh khác như: Đồng Nai, Bình Dương, Sài Gòn (Hình)

16720

20770

12590

993 0

Hình 4.4: Biểu đồ thu nhập bình quân từ phi NN của hộ

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra hộ năm 2011)

Số liệu nghiên cứu thể hiện ở hình 4.4 cho thấy một thực trạng sau thuhồi đất là một số lượng lao động chưa thể tìm kiếm ngành nghề ổn định đãchuyển sang các dạng lao động khác Nguồn thu nhập từ các hoạt động này đãtrở thành nguồn thu chủ yếu cho các hộ sản xuất NN Có đến 95% số hộ chorằng họ có thu nhập tăng hơn so với trước thu hồi đất, theo ý kiến của một số

hộ và hộ ông Đỗ Cần cho rằng: “trước đây thu nhập của các hộ gia đình chủyếu từ sản xuất NN và được tính bằng thóc, không phải bằng tiền mặt” Trongthực tế, sản xuất NN không mang lại cho người dân nơi đây một nguồn thunhập tốt để có thể làm cho họ giàu về kinh tế, vì sau khi trừ đi các chi phí về

28

Trang 29

giống, phân bón, thuốc trừ sâu họ chỉ còn được hưởng dưới hai tạ lúa/mộtsào/một vụ Nếu vào năm 2008 giá lúa 4300 đồng/kg thì một hộ gia đình bìnhthường có lẽ chỉ thu được khoảng 1.075.000 đồng/sào/vụ và 2.150.000đồng/sào/năm Tuy nhiên, vào năm 2009 - 2010 thu nhập bình quân của nhiều

hộ gia đình bình thường từ việc đi làm thuê đạt khoảng 2.000.000 - 2.500.000đồng/tháng Còn 5% số hộ cho rằng họ có thu nhập giảm hơn so với trước thuhồi đất NN vì ở các hộ này sau khi đất thu hồi thì số lao động NN khôngchuyển đổi ngành nghề trong khi diện tích đất bị suy giảm hoặc một số hộdiện tích đất thu hồi ít nên số lao động NN vẫn giữ nguyên Điều này cho thấynguồn thu nhập từ phi NN đóng một vai trò quan trọng trong thu nhập của các

hộ thuần nông, còn nguồn thu từ NN chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng thu nhậpcủa các hộ gia đình, nó chỉ đóng vai trò cung cấp lương thực cho các hộ, trongcác hộ được điều tra thì có rất ít hộ có lúa dư để bán

Phân tích, xử lý số liệu thập được thì có đến 90% tổng số hộ cho rằngcuộc sống hiện tại của họ tốt hơn so với trước thu hồi đất, 7,5% tổng số hộcho rằng cuộc sống hiện tại của họ không thay đổi so với trước, 2,5% tổng số

hộ cho rằng cuộc sống hiện tại của họ kém hơn so với trước thu hồi đất Tuynhiên, 90% số hộ dân này lại cảm thấy sinh kế của họ mỏng manh, không bềnvững so với những tháng ngày làm NN: khi họ có thể tự chuẩn bị cho mìnhlương thực hàng ngày như gạo, rau, v.v Sau khi bị thu hồi quyền sử dụng đất

NN, họ phải mua rất nhiều thứ cho cuộc sống hàng ngày Thực tế này tạo đà

để họ thâm nhập sâu hơn vào thị trường song cũng làm cho cuộc sống của họphụ thuộc nhiều hơn vào thị trường

Bảng 4.4: Mục đích sử dụng tiền bồi thường sau thu hồi đất

Trang 30

Kết quả điều tra cũng cho thấy, sau khi thu hồi đất người dân được bồithường thiệt hại về đất NN và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đều bằng tiền,tổng số tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ điều tra là 2071,7 triệu đồng, nhưvậy trung bình mỗi hộ có 54,52 triệu đồng số tiền bồi thường hỗ trợ Nhìnchung số tiền có được từ việc thu hồi đất ở mỗi hộ không cao, nhưng đâycũng là một nguồn thu nhập giúp các hộ gia đình giải quyết được những khókhăn trước mắt

Đa số người dân được phỏng vấn họ đều trả lời đã sử dụng nguồn vốnnày với nhiều mục đích khác nhau như: xây cất, sửa chữa nhà cửa, chữa bệnh,gửi tiết kiệm, cho con ăn học, mua sắm tài sản, chi tiêu hàng ngày

Số liệu điều tra theo bảng 4.4 cho thấy số tiền người dân sử dụng choviệc học của con cái chiếm tỷ lệ khá cao 57,5% Đối với người nông dân sinh

kế của họ chủ yếu là NN, khó có cơ hội tích góp số tiền lớn để đầu tư cho việchọc và các khoản khác trong gia đình, vì vậy chi phí để đầu tư cho việc họchành của các con đối với họ cũng là một vấn đề mà hầu hết các gia đình phải

lo lắng Khi bị thu hồi đất NN, được bồi thường hỗ trợ một khoản tiền và đây

là cơ hội để các hộ có điều kiện để chi cho việc học của con cái, tuy số tiềnbồi thường hỗ trợ ở đây không lớn nhưng đối với các hộ thuần nông thì đó làmột nguồn thu nhập lớn mà từ trước đến nay họ chưa bao giờ có được Quaphỏng vấn, các hộ gia đình đều cho biết rằng vẫn biết sau này sinh kế sẽ khókhăn nếu dùng hết số tiền bồi thường, hỗ trợ nhưng vẫn phải chi cho việc học Ngoài ra việc chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày như mua lương thực,thực phẩm, các đồ dùng sinh hoạt trong nhà, các công việc khác như cúng,kỵ cũng được các hộ sử dụng từ số tiền bồi thường hỗ trợ này và chiếm 35%,Bên cạnh đó một số hộ sau khi đất NN bị thu hồi thì họ lại dùng số tiền bồithường để đầu tư vào các hoạt động sản xuất khác như phát triển chăn nuôi,

mở các cửa hàng, dịch vụ ngay trên địa bàn, tuy nhiên con số này chiếm tỷ lệkhông cao 22,5% Một hình thức nhằm tăng thêm thu nhập của người dân nơiđây nữa là họ dùng ngay số tiền bồi thường, hỗ trợ để gửi tiết kiệm thu tiền lãisuất, như đã đề cập ở trên vì số tiền bồi thường hỗ trợ thấp cho nên người dâncất trong nhà để sử dụng chứ không gửi tiết kiệm, họ cho rằng nếu khi cần

30

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Khung sinh kế và các nhân tố liên quan - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Hình 2.1 Khung sinh kế và các nhân tố liên quan (Trang 5)
Hình 2.2: Khung sinh kế bền vững của DFID - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Hình 2.2 Khung sinh kế bền vững của DFID (Trang 6)
Bảng 2.1: Thống kê diện tích đất NN thu hồi qua các năm ở một số tỉnh                                                                            Đơn vị tính: ha - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Bảng 2.1 Thống kê diện tích đất NN thu hồi qua các năm ở một số tỉnh Đơn vị tính: ha (Trang 10)
Bảng 4.1: Tình hình biến động đất  đai tại phường Xuân Phú - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Bảng 4.1 Tình hình biến động đất đai tại phường Xuân Phú (Trang 20)
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ % độ tuổi lao động sau thu hồi đất - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ % độ tuổi lao động sau thu hồi đất (Trang 23)
Bảng 4.4: Mục đích sử dụng tiền bồi thường sau thu hồi đất - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Bảng 4.4 Mục đích sử dụng tiền bồi thường sau thu hồi đất (Trang 29)
Bảng 4.5: Ý kiến của người dân về tác động của môi trường - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Bảng 4.5 Ý kiến của người dân về tác động của môi trường (Trang 38)
Hình 4.9: Rác thải ở các công trình đang xây dựng - ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân phường xuân phú thành phố huế
Hình 4.9 Rác thải ở các công trình đang xây dựng (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w