Trên quan điểm kinh tế quốc dân, thì đô thị hóa được hiểu đó không chỉ là một quá trình biến đổi về phân bổ các lực lượng sản xuất trong nền kinh tếquốc dân, mà đó còn là quá trình biến
Trang 1Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn
đối với các nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á Nền kinh tế càng pháttriển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóagóp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, nâng cao đời sốngnhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phátsinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mấtđất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãndân… Nếu không có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chung ta sẽ gặpnhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinhnhững vấn đề ngày càng phức tạp
Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra khá nhanh Vìvậy, việc đánh giá những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa, từ đó đềxuất những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách cơ bản là việc làm cầnthiết Đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách pháttriển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, từ miền Bắcđến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo,không đâu là không mọc lên các khu công nghiệp, khu đô thị mới Hệ thống
đô thị Việt Nam đang trở thành hạt nhân của quá trình phát triển kinh tế-xãhội của đất nước, việc đô thị hóa diễn ra sôi động hơn bao giờ hết Hoà mìnhcùng xu thế của đất nước, Hà Tĩnh là một thành phố trẻ, mới được thành lậpnên tôc độ đô thị hoá rất nhanh, diễn ra trên toàn tỉnh
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì các chính sách này cũng đãgây ra những ảnh hưởng cho những người nông dân bị thu hồi đất Nhữngnăm qua, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển đổi sang làm côngnghiệp, khu đô thị trên địa bàn xã Thạch Tân, Thành phố Hà Tĩnh đã diễn ra
Trang 2chóng Từ thực tế đó, tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho quá trình đô thị hóa tới cộng đồng vùng ven đô”
Trường hợp nghiên cứu xã Thạch Tân- Hà Tĩnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các tác động của việc thu hồi đất để phát triển hạ tầng đô thịđến sinh kế, đời sống văn hoá, xã hội và môi trường của người dân ở địa bànnghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp người dân thích ứng dễ dàng hơnvới sự thay đổi dưới tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Trên quan điểm kinh tế quốc dân, thì đô thị hóa được hiểu đó không chỉ
là một quá trình biến đổi về phân bổ các lực lượng sản xuất trong nền kinh tếquốc dân, mà đó còn là quá trình biến đổi việc bố trí dân cư ở những vùngkhông phải là thành thị, đô thị, kéo theo hai quá trình trên là việc phát triểncác đô thị hiện có theo chiều sâu và hình thành nên các đô thị mới [1 ].
Đô thị hóa cũng được hiểu đó là sự quá độ từ hình thức sống nông thônlên hình thức sống đô thị của một nhóm dân cư Các điều kiện tác động đến
đô thị hóa dần thay đổi khi kết thúc thời kì quá độ Khi đó xã hội phát triểnvới các điều kiện mới, mà biểu hiện tập trung nhất của sự thay đổi này đó là
sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động và kéo theo sau là một loạt vấn đềcần giải quyết
Trong các loại đô thị hóa thì đô thị hóa nông thôn là vấn đề được quantâm nhiều nhất, vì đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững và mang tínhquy luật không thể tránh khỏi Thực chất đây là quá trình phát triển nông thônnhằm nâng cao đời sống cho người dân và phổ biến lối sống Thành phố chonông thôn (phong cách sinh hoạt, cách sống, cơ sở vật chất…) Hay nói cáchkhác, đó chính là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững
2.1.1.2 Đô thị hóa ngoại vi
Được hiểu là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của Thành phố dokết quả phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng… tạo ra các cụm đô thị, liên
đô thị… góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn
Trang 4Tuy nhiên do có những cách tiếp cận khác nhau nên khái niệm đô thị hóa
có sự khác nhau nhưng cần hiểu đúng về đô thị hóa, cần phân biệt được đô thịhóa thật sự với đô thị hóa giả tạo
2.1.1.3 Đô thị hóa giả tạo
Là sự phát triển Thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư từ
các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn… Dẫn đến nảy sinh các vấn đề xãhội như thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộcsống…
Từ các khái niệm trên ta thấy rằng: đô thị hóa mang tính xã hội và lịch
sử, đó là sự phát triển về quy mô, số lượng dân số; Tăng trưởng và phát triểnkinh tế, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành hệ thống các
đô thị
Như vậy đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hộicủa đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải,xây dựng, dịch vụ… Do vậy đô thị hóa luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế
- xã hội
Tiền đề cơ bản để tiến hành công cuộc đô thị hóa là sự phát triển côngnghiệp, hay nói cách khác công nghiệp hóa là cơ sở phát triển của đô thị hóa Trên thế giới, đô thị hóa được coi là bắt đầu từ khi tiến hành cách mạng thủcông nghiệp, mà tiếp sau đó là cách mạng công nghiệp, mà điển hình nhất là
sự thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao độngcao hơn và sự thay đổi về cơ cấu lao động xã hội trên cơ sở phân công laođộng xã hội Đồng thời, cách mạng công nghiệp đã tập trung hoá lực lượngsản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị hóa, mở rộng quy mô đô thịcũ
Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nhất là cách mạng côngnghệ thông tin, siêu xa lộ thông tin… càng tạo thêm những tiền đề vững chắchơn và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và làm cho quá trình đô thị hóa đã và sẽmạnh mẽ hơn bao giờ hết
Bên cạnh tiền đề phát triển công nghiệp thì sự phát triển của trung tâmtâm dịch vụ, thương mại và du lịch cũng là tiền đề cho sự hình thành và phát
Trang 5triển của một số khu đô thị mới, cho sự mở rộng các khu đô thị hiện có, và sựhoàn thiện hơn các khu đô thị cũ.
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình phức tạp có thể định nghĩa từ nhiều góc
độ khác nhau nhưng chung lại một cách tổng quát: đô thị hóa là quá trịnh biếnđổi và phân bổ lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư,hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồngthời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vậtchất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
Như vậy phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hóaphụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất màbiểu hiện cụ thể nhất đó là sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất Biểu hiên cụ thể của sự phát triển là Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa tậptrung sản xuất dẫn tới hình thành lối sống mới của các vùng chưa phải đô thị
là một điều tất yếu của sự phát triển
Ở các nước phát triển, đô thị hóa với đặc trưng là sự bùng nổ về dân số và sựphát triển công nghiệp Song sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở pháttriển kinh tế Việc đô thị hoá dẫn tới hậu quả là mâu thuẫn giữa thành thị vớinông thôn trở nên sâu sắc hơn do sự mất cân đối, do sự độc quyền trong kinhtế
2.1.2 Đặc trưng của quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hoá góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội,
sự phát triển của đô thị có những đặc trưng riêng vốn có của nó, khác hẳn vớivùng nông thôn
Đô thị hoá được đánh giá qua ba tiêu thức sau
- Mức đô thị hoá: Tỷ lệ dân số sống tại vùng đô thị
- Sự tăng dân số đô thị: Sự gia tăng dân số tại các vùng đô thị
- Mức tập trung đô thị: Mức tập trung dân số và các hoạt động kinh tếtại một hoặc nhiều Thành phố lớn
Để thấy rõ hơn đặc trưng của thành thị ta có thể so sánh nông thôn vớithành thị Trong từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1994,nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghềnông Còn trong từ điển bách khoa Xô Viết của nhà xuất bản bách khoa Liên
Trang 6Xô năm 1986, thành thị được định nghĩa là khu vực dân cư làm các nghànhnghề ngoài nông nghiệp Trên thực tế, giữa nông thôn và thành thị không chỉkhác nhau ở đặc điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau về mặt tựnhiên, kinh tế và xã hội.
Đô thị là vùng sinh sống và làm việc của cộng đồng bao gồm một tậphợp các tầng lớp: công nhân, tri thức, công chức, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủcông và các doanh ngiệp v.v… là vùng phát triển công nghiệp, thương mạidịch vụ và là trung tâm phát triển kinh tế, văn hoá chính trị
So với nông thôn, đô thị là vùng có cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội,trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất cao hơn Đô thị là vùng có thunhập và đời sống, trình độ văn hoá, trình độ khoa học và công nghệ cao hơnnông thôn Trong một chừng mực nào đó, trình độ dân chủ, tự do và côngbằng xã hội cũng cao hơn nông thôn
Đối với một số ngành của nông thôn còn tồn tại trong các đô thị, tínhchất đô thị hóa đã tạo nên sắc thái, đặc trưng mới, đặt ra những yêu cầu mớicho sự phát triển của chúng Trên thực tế, ngay cả những đô thị hiện đại đôikhi vẫn còn sự tồn tại của ngành nông nghiệp với các loại sản xuất cao cấp,giá trị kinh tế cao như: hoa sinh vật cảnh, các loại rau, thuỷ đặc sản cao cấp,ngành nông nghiệp với kỹ thuật sản xuất cao,…
Đô thị mang ba nhóm chức năng chính là :
- Chức năng quân sự-chính trị và tôn giáo
- Chức năng sản xuất-thương mại và dịch vụ
- Chức năng văn hoá
Với chức năng sản xuất, thương mại và dịch vụ đô thị giữ vai trò trungtâm trao đổi hàng hoá nông sản phẩm, thủ công nghiệp và tạo nên cơ sở kinh
tế của đô thị tiền công nghiệp
ở Việt Nam các đô thị chỉ thực sự phát triển mạnh hơn từ thế kỷ XVIIItrở lại đây Đô thị cũng là sự kết hợp hai chức năng: Đô là thành quách để bảo
vệ cư dân và chức năng kinh tế thương mại thị
Quá trình đô thị hóa được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn đô thị hóa tiềncông nghiệp, đó là thời điểm khi sản xuất thủ công nghiệp chuyển thành dạng
sơ khai của sản xuất hàng hoá và dân cư phi nông nghiệp tập trung đổ về
Trang 7trung tâm đô thị Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó dưới tác động củacách mạng công nghiệp, đô thị thu hút một lượng lớn lao động từ nông nghiệpchuyển sang các khu vực khác (công nghiệp, thương mại và dịch vụ), khiếncho đô thị liên tục mở rộng và kể cả việc xuất hiện các đô thị mới Người tagọi đây là giai đoạn đô thị hoá mở rộng Thứ ba là giai đoạn đô thị hoá tăngcường hay đô thị hoá hậu công nghiệp Khi đó văn minh nông nghiệp sẽ đưaquá trình đô thị hoá đi vào chiều sâu.
Ngoài các đặc trưng trên thì đô thị hóa còn có các đặc trưng cụ thể sau:
- Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thànhcác khu đô thị mới, các quận, phường mới là hình thức khá phổ biến đối vớicác đô thị của Việt Nam trong điều kiện kinh tế còn nhiều hạn chế Với việchình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới được xem đó là hìnhthức đô thị hoá theo chiều rộng và là sự mở đường của quan hệ sản xuất nhằmtạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển Với hình thức đô thị hóa theochiều rộng như trên thì dân số và diện tích đô thị sẽ tăng lên một cách nhanhchóng
- Hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trìnhthường xuyên, không thể thiếu của quá trình tăng trưởng và phát triển Do đóquá trình đô thị đòi hỏi phải điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có
và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh
tế - xã hội ở đô thị
Với những đặc trưng như trên, đô thị có vai trò rất lớn trong phát triểnkinh tế xã hội
2.1.3.Vai trò của đô thị hóa
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hoá của một quốc gia làsản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ về cơ sở vật chất kỹ thuật vàvăn hoá
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội của cả nước Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo
ra thu nhập quốc dân của cả nước Theo số liệu thống kê năm 2000, tính riêng
4 Thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng đătham gia đóng góp gần 40% GDP, Hà Nội chiếm 3,47%dân số cả nước nhưng
Trang 8chiếm 7,3% GDP, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 7,07% dân số cả nướcnhưng tạo ra 19,32% GDP Như vậy sự đóng góp của các đô thị vào ngânsách chiếm tỷ trọng chủ yếu, chỉ tính riêng 4 Thành phố lớn trên đã đóng góptrên 80% ngân sách nhà nước.
Các chỉ tiêu khác như GDP bình quân đầu người ở các đô thị lớn thườngcao dơn các đô thị nhỏ và cao hơn nhiều so với các vùng nông thôn Côngnghiệp hóa- Hiện đại hóa tạo điều kiện để tiến hành quá trình đô thị hóa,ngược lại đô thị hóa cũng có tác động tích cực trở lại thúc đẩy quá trình Côngnghiệp hóa – Hiện đại hóa diễn ra nhanh hơn Bên cạnh đó, đô thị hóa diễn ratạo ra sự đa dạng các ngành nghề, từ đó việc làm được tăng lên đáng kể, điềunày tác động tích cực đến thu nhập và đời sống của người dân
Tuy nhiên, đô thị hóa cũng đặt ra một số vấn đề về xã hội và đòi hỏi phải
có giải pháp phù hợp Bên cạnh đó qua thực tế phát triển ta thấy rằng khoảngcách giữa đô thị và nông thôn ngày càng xa hơn Thành phố sẽ có những ảnhhưởng mạnh mẽ đến nông thôn và trực tiếp là khu vực ngoại thành trong quátrình tiến hành đô thị hóa
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Quá trình đô thị hóa trên thế giới
Gần 150 năm trước,trào lưu đô thị hoá bắt đầu ở phương Tây rồi lansang Mỹ những năm cuối thế kỉ 19 và châu Á là những thập niên 60, 70 thế
kỉ 20, đều là hệ quả tự nhiên của quá trình hiện đại hoá đất nước thông quacác cuộc cách mạng công nghiệp Trước đó, sự chuyển biến các chức năng đôthị trong thời kì giao lưu văn hoá tiền tệ phát triển mạnh làm xuất hiện hàngloạt nhà ga, hệ thống hạ tầng giao thông, điện nước các phương thức xâydựng mới bằng vật liệu bê tông, sắt thép làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiếntrúc thế giới Trong thế kỉ 20, các nước phát triển đã chuyển gần 80%-90%dân số cư trú từ nông thôn sang cư trú ở đô thị, đưa số ngưới sống ở đô thịhiện nay lên 50% dân số của thế giới ( khoảng hơn 3 tỉ người chỉ trong mộtthế kỉ) Các cuộc cách mạng công nghiệp tác động đã làm thay đổi diện mạocủa cả khu vực thành thị và nông thôn một cách sâu sắc,hình thành nên hệthống kiến trúc hiện đại,nếp sống văn minh đô thị tại các nước phát triển trênthế giới
Trang 92.2.2 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trungđại với sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân,quá trình đó diễn ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp
Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị hoá ở ViệtNam Đặc biệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp(năm 2000), Luật Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005); Chính phủban hành Nghị định về Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất (năm 1997)…nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăngvọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện rộng, số lượng lớn, tốc độ nhanhcác khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kể kếtcấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn Làn sóng đô thị hoá đã lan toả, lôicuốn và tác động trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu côngnghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tưtrong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khucông nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sungvào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình pháttriển Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn40% so với năm 1995 Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được
mở mang, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đôthị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạothành những nét mới ở nông thôn
Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, kết cấu hạ tầng ở nông thôn - xưanay vốn yếu kém, đã có sự cải thiện đáng kể Các làng nghề được chấn hưng,
mở mang góp phần làm sôi động thêm quá trình đô thị hoá ở nông thôn
Làn sóng đô thị hoá cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã thổi luồng sinhkhí mới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam
Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm,thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng
Trang 10các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp,
cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi cónăng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn Trong trồng trọt, tỷ trọng hoa màu,cây công nghiệp, cây ăn quả ngày càng tăng
Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chếxuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng củađất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạomôi trường ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ… Đô thị hoá kích thích vàtạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọncác phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàuchính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện -
đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá
2.2.3 Quá trình Đô thị hoá diễn ra tại Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là thành phố trẻ, mới đựơc thành lập nên tốc độ đô thị hoánhanh.Là một thành phố trẻ lại có nhiều tiềm năng nên thu hút được sự đầu tưcao trong nước cũng như nước ngoài.Nơi đây có những dự án trọng điểmquốc gia như dự án mỏ sắt Thạch khê
Dân số Hà Tĩnh tăng mạnh, lượng người nhập cư vào Hà Tĩnh tăng cao.Điều này cũng khẳng định tính tích cực của quá trình đô thị hoá của Hà Tĩnhhiện nay, sự tăng tốc độ đô thị hoá đi liền với tăng trưởng kinh tế, hạn chếđược hiện tượng đô thị hoá giả tạo
Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao trong nhiều năm, thu nhậpbình quân trên đầu người của người dân thành phố ngày càng được cải thiện.Đời sống người dân tăng, nhu cầu nhà ở bùng nổ là một nguyên nhân làm quátrình xây dựng phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi diện mạo của đô thị
Các khu công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp mọc lên như nấm ví dụ nhưkhu công nghiệp Vũng Áng, Xuân Thành Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ củathành phố đã tác động đến vùng ven một cách mạnh mẽ, làm thay đổi nhanhchóng nhiều mặt của vùng ven đô Hà Tĩnh, đồng thời trong quá trình pháttriển cũng đã hình thành nên các khu đô thị mới vùng ven
Do yêu cầu tất yếu của quá trình đô thị hóa, nhiều phường,xã mới đượcthành lập, địa giới hành chính khu vực nội thành có nhiều biến động
Trang 112.3 Tác động của đô thị hoá đến việc làm và thu nhập
2.3.1 Tác động của đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Cùng với việc tăng dân số đô thị do quá trình đô thị hóa là sự chuyển đổi
cơ cấu kinh tế và tăng việc làm Trước hết là cơ cấu ngành nghề phải chuyểnđổi sao cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề của kinh tế đô thị Nếu đứng trêngóc độ dân số và lao động thì ta có thể hiểu đô thị hóa là quá trình chuyển đổi
cơ cấu dân số từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III của nền kinh tế Saukhi tiến hành đô thị hóa, hay nói cách khác khi trở thành dân cư đô thị phầnlớn những nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn đều bị mất phần lớnruộng đất canh tác Sau khi được nhà nước đền bù, họ dùng số tiền đó để tạonghề mới, tìm việc làm mới, xây dựng nơi cư trú mới,… kéo theo đó là hàngloạt vấn đề khác cũng thay đổi
Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng nói riêng và
cả nền kinh tế nói chung cũng thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I,tăng tỷ trọng khu vực II và III Bên cạnh đó, kinh tế ở các đô thị mới tăngtrưởng nhanh chóng nhờ có sự tập trung lực lượng sản xuất, tạo ra năng suấtlao động cao, cách tổ chức lao động hiện đại Nhờ đó, các trung tâm kinh tế,khu công nghiệp tập trung, quy mô lớn được hình thành dẫn đến sự phát triểnngày càng cao của khu vực công nghiệp Các nhà máy cần có một kết cấu hạtầng dịch vụ, giao thông vận tải, phân phối, thông tin liên lạc, tài chính, bảohiểm… rất rộng lớn Các dịch vụ này càng phát triển rộng rãi nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp Không những thế, một số dịch
vụ khác như: giải khát, xử lý thông tin, quảng cáo,… trước đây được thựchiện trong nội bộ doanh nghiệp thì nay dần dần được tiến hành ký kết thựchiện với các doanh nghiệp trong khu vực dịch vụ Với những yêu cầu thay đổitrên đã dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu khu vực công nghiệp từ công nghiệpsang dịch vụ Đối với một số ngành của nông thôn còn tồn tại trong các đôthị, tính chất đô thị hóa đã tạo nên sắc thái đặc trưng mới, đặt ra những yêucầu mới cho sự phát triển của chúng Trên thực tế, ngay cả những đô thị hiệnđại đôi khi vẫn còn sự tồn tại của ngành nông nghiệp nhưng tính chất và yêucầu phát triển nông nghiệp là khác hẳn Đó là các ngành nông nghiệp với cácloại sản xuất cao, bảo đảm yêu cầu nghiêm ngặt về yêu cầu sạch của sản
Trang 12phẩm và môi trường sinh thái.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực trên là vấn đề của nền kinh tế thịtrường
- Sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trườngdẫn đến những mất cân đối trong kinh tế đô thị đồng thời dẫn đến các vấn đề
xã hội, vấn đề thất nghiệp, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và cơ cấu nghềnghiệp trong từng đô thị là vấn đề lớn cho mọi đô thị cũng như nền kinh tế.Tăng tỷ lệ có việc làm và tăng trưởng việc làm dẫn đến giảm tỷ lệ dân số cóviệc làm trong tuổi lao động
- Mất cân đối cung cầu về các dịnh vụ ở đô thị: nhu cầu các dịnh vụđiện, nước thông tin liên lạc tăng nhanh hơn các khả năng cung cấp…
- Nhà ở luôn là vấn đề lớn với các đô thị Trong những năm hoạt động
“tự cung tự cấp” về nhà ở của dân cư đô thị đã biểu hiện quá nhiều điểm yếukém trong công tác quản lý Nền kinh tế thị trường với sự dư thừa các yếu tốđầu vào cho ngành xây dựng như: sắt thép, xi măng, gạch, thiết bị vệ sinh
- Tài chính đô thị: khoảng cách giữa nhu cầu và thực tế về tài chính đốivới các chính quyền đô thị ngày càng xa Các nguồn tài chính dùng để duy trìhoạt động bộ máy hành chính quản lý đô thị, xây dựng và phát triển đô thị, tu
bổ đường sá, công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật chính quyền đô thị cần khốilượng tiền ngày càng lớn
Với những đặc trưng của mình đô thị hóa có tác động rất to lớn đối vớinền kinh tế Ngoài tác động tích cực thì còn có những tác động tiêu cực Do
đó việc nghiên cứu các tác động của đô thị hóa là cần thiết nhằm phát huy cáctác động tích cực và hạn chế, tìm cách khắc phục những tác động tiêu cực do
đô thị hóa gây ra
2.3.2 Các tác động của đô thị hóa đối với việc làm, thu nhập
2.3.2.1 Tác động tích cực
* Nâng cao thu nhập, mức sống dân cư tại các vùng đô thị hóa
Ở khu vực thành thị nền kinh tế với cơ cấu công - nông nghiệp do đósản xuất đòi hỏi lao động phải có trình độ Vì thế, tiền lương và thu nhậpthường được trả cao hơn để tương xứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra
Do đó, nhìn chung thu nhập của dân cư tại các Thành phố lớn, đô thị thường
Trang 13cao hơn so với các vùng khác.
Đô thị với đặc điểm là vùng kinh tế, xã hội rất phát triển, cơ sở vậtchất, kỹ thuật hạ tầng phục vụ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của conngười khá đầy đủ, hiện đại và đa dạng Vì vậy, có thể nói đô thị là nơi có điềukiện sống và làm việc thuận lợi hơn so với khu vực nông thôn Mặt khác,cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các điều kiện phục vụ đời sống và sinhhoạt như nơi vui chơi giải trí, học tập ngày càng phát triển làm cho trình độvăn hoá, mức sống của con người tại các khu đô thị ngày càng tăng, thậm chívới việc tăng này có khi còn tạo ra khoảng cách lớn về mức sống, thu nhậpgiữa khu vực thành thị và nông thôn
Nhìn chung, cuộc sống của người dân nông thôn đa số là tự túc, tựcấp, còn cuộc sống của người dân đô thị hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thịtrường theo phương thức mua bán Các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sốnghàng ngày, từ những cái nhỏ nhất đều do thị trường cung cấp, bảo đảm cungcấp đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày của người dân là trách nhiệmnặng nề của chính quyền các vùng đô thị nói chung Bên cạnh trách nhiệmbảo đảm cung cấp nhu yếu phẩm thì chính quyền của đô thị còn có tráchnhiệm giải quyết việc làm, tạo ra nguồn sống cho người dân đô thị Trong khi
đó chính quyền nông thôn cũng phải lo cuộc sống của người dân, song mức
độ phức tạp và gay gắt không thể bằng đô thị
Nói tóm lại, ở thành thị kinh tế phát triển và các công trình phúc lợicông cộng như: y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, điện, nước, giao thông cũng pháttriển hơn nông thôn Kéo theo đó là thu nhập và mức sống hơn hẳn
* Nâng cao năng suất, trình độ lao động
Khác với nông thôn, ở thành thị các ngành công nghiệp, dịch vụ rất pháttriển, đòi hỏi tất yếu là lao động phải có trình độ cao để có thể sử dụng cácmáy móc, thiết bị, công cụ lao động hiện đại
ở thành thị người lao động có thu nhập, mức sống, trình độ văn hoá caonên điều kiện, khả năng và mong muốn được học tập, nâng cao trình độ lànhnghề để có cơ hội tìm được công việc có mức lương cao hơn là tốt hơn Ngoài
ra tại các vùng đô thị, sự phát triển kinh tế xã hội, cơ sở vật chất, kỹ thuật hạtầng giúp cho con người có nhiều điều kiện thuận lợi để trao đổi thông tin,
Trang 14học tập, nâng cao trình độ lành nghề.
Đối với lao động nông nghiệp, sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tựnhiên, đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của khoa học kỹ thuật nhằm giảm thiểu cáctác động của tự nhiên Trên thực tế hiện nay, ngành nông nghịêp dần được cơkhí hoá, điện khí hoá Khi tiến hành đô thị hoá mặc dù quy mô sản xuất nôngnghiệp giảm nhưng các thành tựu về khoa học kỹ thuật lại được áp dụng mộtcách rộng rãi góp phần nâng cao năng suất, trình độ lao động
Còn đối với sản xuất công nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làđiều hết sức quan trọng Đối với vùng đô thị hoá công nghiệp chiếm tỷ lệ cao,
mà đặc thù của sản xuất công nghiệp hầu hết là sử dụng máy móc thiết bị, trên
cơ sở đó yêu cầu lao động trong ngành phải có kỹ năng nhất định hay nóiđúng hơn trình độ lao động phải cao hơn các ngành khác
Hiện nay khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có sự nhạybén trong tiếp cận Bên cạnh đó cùng với quá trình đô thị hóa, cơ sở vật chất
kỹ thuật hạ tầng ngày càng phát triển, máy móc thiết bị đợc hiện đại hoá, trình
độ quản lý tổ chức sản xuất, kỹ thuật đợc nâng cao, điều kiện làm việc đợc cảithiện… tại các khu đô thị Tất cả những thay đổi này cùng với việc nâng caotrình độ lành nghề góp phần nâng cao năng suất lao động của khu vực thànhthị, từ đó làm tăng năng suất lao động và quy mô sản phẩm của toàn quốc gia.Ngoài ra ở thành thị trình độ quản lý tổ chức sản xuất, kỹ thuật đợc nâng cao,điều kiện làm việc đợc cải thiện góp phần tăng năng suất lao động
Tất cả những đặc điểm kể trên tại các vùng đô thị góp phần làm tăng trình
độ lao động, từ đó nâng cao năng suất trong khu vực thành thị nói riêng vàtrong phạm vi một quốc gia nói chung
* Tác động đến viêc làm
Mở rộng quy mô sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và
ra đời một số ngành nghề, cơ hội kinh doanh mới trong quá trình đô thị hóatạo ra một số lượng lớn việc làm cho người lao động trong các vùng đô thị
Đô thị hóa sẽ tạo điều kiện giúp người lao động chuyển đổi cơ cấu việc làm,
từ việc làm thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới, ổn định và có thunhập cao Sự chuyển đổi cơ chế quản lý và phát triển kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần kết quả là lao động và sức lao động trở thành hàng hoá Bên cạnh
Trang 15đó cùng với quá trình đô thị hóa các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụngày càng phát triển tạo ra nhiều việc làm (lao động có tay nghề và lao độnggiản đơn).
Ngoài ra còn phải kể đến một số việc làm mang tính chất lao động giúpviệc cho những gia đình có thu nhập cao song quá bận rộn Đô thị hóa với đặctrưng là kinh tế – xã hội phát triển kéo theo hàng loạt các việc làm dẫn tớiviệc di dân từ nông thôn ra thành thị, đây là một nguồn bổ sung lao động chokhu vực thành thị Sự đa dạng trong cơ cấu kinh tế ngành cũng là một mặtphản ánh sự đa dạng việc làm do quá trình đô thị hóa mang lại
2.3.2.2.Tác động tiêu cực
Cùng với đô thị hóa, sức thu hút của quá trình này đối với người dân làrất lớn, tạo ra một làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị gây nên tình trạngquá tải, bùng nổ dân số Do sự tăng lao động và nhân khẩu một cách tự phát,các khu đô thị và các khu công nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề xã hộinhư: trật tự, an ninh, nhà ở, môi trường v.v…
Bên cạnh đó lao động nông nghiệp bị tác động rất nhiều khi tiến hànhquá trình đô thị hóa, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp không cònnhiều dẫn tới một số lượng lớn lao động không có việc làm Lao động nôngnghiệp với thói quen, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sẽ gặp rất nhiềukhó khăn khi đô thị hóa diễn ra Trình độ lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ
lệ lớn, trong khi đó các khu vực đô thị hóa lại chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ nên số lao động nông nghiệpkhi tham gia vào lĩnh vực này sẽ gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, khi tiếnhành đô thị hóa có thể sẽ làm gia tăng thêm tỷ lệ thất nghiệp, khó khăn trongvấn đề việc làm và thu nhập, tăng thêm khoảng cách giàu nghèo, đó là chưa
kể đến các tệ nạn xã hội phát sinh
Đô thị hóa góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhândân, hình thành lối sống công nghiệp, xây dựng xã hội mới Tuy nhiên, khităng quy mô Thành phố bằng các giải pháp mở rộng không gian, hình thànhcác quận mới, phường mới sẽ dẫn tới tình trạng gia tăng thất nghiệp
Trong ngắn hạn, đô thị hóa có thể góp phần đạt được mục tiêu tăngtrưởng và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên trong dài hạn, nếu không có các chính
Trang 16sách, biện pháp đối với các dòng di dân liên tục với số lượng lớn vào cácvùng đô thị thì điều này có thể dẫn đến sự đói nghèo, làm tăng sự mất bìnhđẳng về thu nhập giữa các vùng và các cá nhân, sự bất ổn định về xã hội: tệnạn xã hội, ô nhiễm môi trường, thất nghiệp v.v
Bên cạnh đó đô thị hóa cũng ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm và thunhập do sự mất đất sản xuất nông nghiệp Để phát triển đô thị đòi hỏi phảidành một bộ phận đất nông nghiệp cho việc xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng Vì thế, đô thị hóa càng tăng thì đất đai nói chung và đất canh tác nóiriêng ngày càng bị thu hẹp
Sự chênh lệch trong thu nhập là điều không thể tránh khỏi Nông nghiệptrở thành ngành có thu nhập thấp, lao động nặng nhọc Chính vì vậy, sức hấpdẫn của sản xuất nông nghiệp ngày càng suy giảm Đây chính là tác động tiêucực cần phải lưu ý nhiều nhất của quá trình đô thị hóa đến sản xuất nôngnghiệp
Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phương thức kiếm sống là kết quảtất yếu của quá trình đô thị hóa; Kéo theo đó là các nhu cầu về giáo dục, y tếtăng, an ninh, tệ nạn xã hội trở thành vấn đề lớn Sự khác biệt về giàu nghèogiữa các đô thị, trong từng đô thị, giữa nông thôn và thành thị ngày càng trởnên sâu sắc hơn Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp làm cho một số lượngđáng kể lao động bị mất việc làm Do đó khi tham gia vào thị trường laođộng, tìm việc làm ở các khu vực sản xuất khác (công nghiệp, dịch vụ) là hếtsức khó khăn Đây là một vấn đề nan giải cho các vùng tiến hành đô thị hóa
Do đó khi tiến hành đô thị hóa cần phải quan tâm, lưu ý hàng đầu đến vấn đềtrên
Trang 17Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯÚ
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi
- Địa điểm: xã Thạch Tân -thành phố Hà Tĩnh, là một xã nằm ngay cửa ngõ
ra vào thành phố, chiếm một diện tích đất rộng lớn, trước kia người dân sinhsống chủ yếu dựa vào nông nghiệp
- Thời gian: Đề tài xem xét tác động của quá trình thu hồi đất nông nghiệptrong khoảng thời gian từ năm 2007 dến năm 2009
- Phạm vi không gian: thu nhập của hộ thu hồi
Phân bố lao động và thòi gian lao động
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2010
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội xã Thạch Tân, thành
phố Hà Tĩnh.
- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá tới người dân
- Tình hình thu hồi đất Nông nghiệp cho quá trình đô thị hóa
- Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới cuộc sống và việc làm của
người dân xã Thạch Tân - thành phố Hà Tĩnh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu chủ yếu sau:
3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu là nơi có diễn ra việc thu hồi đất nông nghiệp cho phát
triển và quá trình đô thị hóa Quá trình thu hồi đất có ảnh hưởng trực tiếp tớicộng đồng người dân đang sinh sống tại địa phương, do vậy điểm nghiên cứuđược chọn là xã Thạch Tân, Thành phố Hà Tĩnh
Trang 18- Nhóm hộ I: là các hộ có tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi dưới50% tổng diện tích đất sản xuất của hộ.
- Nhóm hộ II: là các hộ có tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên50% tổng diện tích đất sản xuất của hộ
3.3.3 Phương pháp thu thập thông tin
: Thu thập danh sách hộ tại uỷ ban nhân dân xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ phânđều trên 3 thôn có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Thông tin thứ cấp: Các thông tin liên quan đến đề tài được công bố
trên các trang báo, tạp chí, internet, sách, báo cáo,báo cáo kinh tế xã hội của
uỷ ban nhân dân xã
+ Thông tin sơ cấp:
* Phỏng vấn hộ: theo phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấutrúc
* Phỏng vấn người am hiểu:Phỏng vấn các hộ có diện tích đất bị thu hồi
Trang 19Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Tăng trưởng kinh tế
Là một xã nông nghiệp thu nhập chủ yếu là sản xuất lúa nhưng năm2007; Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8%; Thu nhập bình quân của hộ đạt23.23 triệu/hộ /năm
Trong đó: + Thu từ Trồng trọt là 11.24 triệu/hộ /năm
+ Thu từ Chăn nuôi: 4,71 triệu/hộ /năm
+ Thu từ ngành nghề:2,67 triệu/hộ /năm
+ Thu từ lương 3,60 triệu/hộ /năm
+ Thu khác 1,01 triệu/hộ /năm
Bảng 1 Cơ cấu cây trồng xã Thạch Tân 2009
Trang 20- Ngành trồng trọt:
Trồng trọt là ngành sản xuất chủ đạo của xã Thạch Tân với các loại cây
trồng chính như lúa, khoai, lạc, đậu, sắn v.v
Tổng diện tích gieo trồng hàng năm của xã là 457.3 ha Những năm gầnđây nhờ chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất nên năng suất, sản lượng từng bước tăng lên rõ rệt
- Ngành chăn nuôi:
Trong năm 2009 là năm không mấy thuận lợi cho việc phát triển chănnuôi, do dịch cúm gia cầm chuyển biến phức tạp, làm ảnh hướng đến việcphát triển chăn nuôi của nhân dân Đàn gia súc gia cầm chủ yếu là trâu, bò,lợn, gà, ngan, ngỗng Việc chăn nuôi ở đây là đơn lẻ, rải rác trong các hộ dânvới quy mô nhỏ nhằm tận dụng các thức ăn thừa và sử dụng lao động nhàn rỗitrong dân nhằm tự túc sức kéo, nguồn thực phẩm và phân bón giải quyết nhucầu tại chỗ
+ Tổng đàn trâu, bò của xã có 1065 con chủ yếu nuôi để lấy sức kéođảm bảo khâu làm đất kịp thời vụ và tạo ra phân bón phục vụ sản xuất nôngnghiệp, một phần cung cấp thịt làm thực phẩm tại chỗ và bán cho thị trường
+ Đàn lợn: Chăn nuôi lợn ở xã là hình thức chăn nuôi gia đình, tận dụngnguồn thức ăn, lao động nhàn rỗi Tổng đàn lợn của xã hiện nay có khoảng
1700 con trung bình 1.05 con/hộ Hàng năm sản lượng lợn xuất chuồng khoảng
170 tấn thịt lợn hơi Đây là nguồn thu nhập đáng kể góp phần nâng cao mứcsống của người dân Ngoài ra còn cung cấp một lượng phân bón phục vụ sảnxuất nông nghiệp
+ Đàn gia cầm (gà, vịt, ngan ): Chăn nuôi gia cầm ngày càng đượcquan tâm phát triển, đây là nguồn thực phẩm chủ yếu phục vụ sinh hoạt giađình, tổng số đàn gia cầm hiện có khoảng 12000 con