1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an

50 629 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn xã Thọ Sơn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 647,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay hoạt động sản xuất đã có nhiều thay đổi, người dân đãsản xuất đủ lúa để ăn, cây sắn đã từ vai trò là một loại cây lương thực dùng để cứu đói đã chuyển thành một loại cây công ng

Trang 1

Article I. PHẦN 1 Article II MỞ ĐẦU

Section II.1

Section II.2 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây sắn đã từng được xem là một loại cây lương thực quan trọng chomột bộ phận nông dân Việt Nam [6] Nhân dân ta trồng sắn đã từ nhiềunăm nay, sắn là cây lương thực của cư dân nhiều vùng, nhất là các vùng đồitrung du và miền núi Tuy nhiên, hiện nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ, cây sắn đã và đang đóng những vai trò rất quan trọng.Trong những năm gần đây quan niệm đối với cây sắn đã có những thay đổi.Một số người cho rằng cây sắn là cây mang lại nhiều lợi ích và đang cónhiều hứa hẹn [1] Sắn không chỉ là một loại cây lương thực, cây thựcphẩm mà còn là cây công nghiệp để tạo ra các sản phẩm như: cồn, đường,bột ngọt, tinh bột…

Cùng với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn Trong nhiều năm qua nhiều tỉnh miền trung đã tiến hànhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sảnxuất hàng hóa, hình thành những vùng nguyên liệu công nghiệp, sản xuấtchuyên canh gắn với nhà máy chế biến nông sản [7] Đưa nông nghiệpnông thôn phát triển, từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, xóa đóigiảm nghèo, cải thiện điều kiện sống của người dân

Tuy nhiên, cũng có một số người cho rằng cây sắn là loại cây có nhiềunhược điểm và chủ trương không nên mở rộng việc trồng sắn [1] Họ chorằng sắn là cây làm kiệt đất, làm tăng rửa trôi, xói mòn đất ở các sườn dốc.Giá trị dinh dưỡng của sắn không cao vì nghèo protein và vitamin Hiệnnay, ở một số nước Nam Mĩ, Châu Phi, Nam Á nhiều nhà khoa học đangchú ý đến việc nghiên cứu cây sắn trên cả các phương diện trồng trọt, thâmcanh cũng như trên các phương diện nông nghiệp chế biến [1] Ở một sốnước nạn đói đang là mối đe dọa hầu như thường xuyên đối với dân cư.Người ta chú trọng phát triển cây sắn là loại cây có thể sinh trưởng tốt trên

Trang 2

có hiệu quả nhất, bên cạnh đó nó cũng được coi là một cây công nghiệpcho hiệu quả kinh tế cao.

Anh Sơn là một huyện miền núi thuộc miền Tây tỉnh Nghệ An.Huyện nằm dọc theo đôi bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp vớihuyện đồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Tân Kỳ vàhuyện vùng cao Quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện vùng cao Con Cuông

và Lào, phía Nam giáp với huyện miền núi Thanh Chương Cách thành phốVinh 100km về phía Tây

Xã Thọ Sơn là một xã của huyện Anh Sơn, là xã miền núi đặc biệt khókhăn đất sản xuất chủ yếu là đất đồi, nghèo chất dinh dưỡng, hiện nay chỉphát triển cây sắn là phù hợp nhất, mang lại năng suất cao Ở đây ngườidân đã trồng sắn từ lâu đời Trước đây cây sắn được người dân nơi đâydùng như một loại cây lương thực có vai trò chỉ sau cây lúa, có thể dùng đểcứu đói Ngày nay hoạt động sản xuất đã có nhiều thay đổi, người dân đãsản xuất đủ lúa để ăn, cây sắn đã từ vai trò là một loại cây lương thực dùng

để cứu đói đã chuyển thành một loại cây công nghiệp cho hiệu quả kinh tếcao, dùng làm nguyên liệu cho nhà máy tinh bột sắn Thanh Chương củatỉnh Nghệ An và nhiều nhà máy sắn khác trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh.Tuy nhiên cây sắn ở đây vẫn chưa được phát huy hết vai trò vốn có của nó

Article III. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn xã Thọ Sơn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An”

Section III.1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu tình hình sản xuất sắn trên địa bàn xã Thọ Sơn huyện AnhSơn, tỉnh Nghệ An

- Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn

xã Thọ Sơn

Article IV - Đánh giá những tiềm năng, hạn chế trong việc pháttriển sản xuất sắn trên địa bàn xã Thọ Sơn

Trang 3

Article V PHẦN 2 Article VI TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Section VI.1 2.1 Cơ sở lý luận

(a) 2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Trong cơ chế thị trường một vấn đề luôn được các nhà sản xuất quantâm hàng đầu là hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất

là điều kiện để tích lũy và tái đầu tư mở rộng, là động lực thúc đẩy việc mởrộng sản xuất kinh doanh Hay nói một cách khác nó chính là yếu tố sốngcòn của không riêng bất cứ nhà sản xuất nào

Chính vì vậy hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm hàng đầu củamỗi nhà sản xuất, mỗi doanh nghiệp mà còn là của toàn xã hội Hiệu quảkinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, làthước đo trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp Nângcao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường lợi dụng các nguồnlực sẵn có trong một hoạt động kinh tế Đây là đòi hỏi khách quan trongnền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của cuộc sống con người tăng lêntrong khi nguồn lực có hạn, chỉ có như vậy thì doanh nghiệp mới có điềukiện mở rộng và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Theo

tiến sỹ Nguyễn Tiến Mạnh: Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một

quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lự, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định.

Quan điểm này được đánh giá tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực

ở mọi điều kiện của hoạt động kinh tế Theo quan niệm như thế hoàn toàn

có thể tính toán được hiệu quả kinh tế Trong hiệu quả kinh tế sự vận động

và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế không phụ thuộc vàoquy mô và tốc độ biến đổi khác nhau của chúng [4]

Theo tác giả Hồ Vĩnh Đào: Hiệu quả kinh tế còn gọi là “hiệu ích kinh

tế” so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế (bao gồm

Trang 4

Còn theo Farell(1957), Fchultz(1964), Rizzo(1979) và Ellis(1993) cho

rằng: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được

và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân tài, vật lực, tiền vốn ) Để đạt được kết quả

đó các học giả trên đều cho rằng cần phân biệt rõ ba khái niệm về hiệu quả: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế [4].

Hiệu quả kỹ thuật là sản lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn

vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụthể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồnlực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu sản phẩm Hiệu quả này thườngđược phản ánh trong các mối quan hệ về các năm sản xuất Như vậy hiệuquả kỹ thuật thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữacác đầu vào với nhau và giữa các loại sản phẩm

Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm vàgiá đầu vào được tính toán để phản ánh giá trị sản phẩm thu trên 1 đồng chiphí tăng thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ làhiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của các yếu tố đầu vào, đầu

ra Vì vậy nó còn được gọi là hiệu quả giá Việc xác định hiệu quả nàycũng như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận.Điều đó có nghĩa là giá trị biên của các sản phẩm phải bằng chi phí biêncủa các nguồn lực sử dụng vào sản xuất

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệuquả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều này có nghĩa là cả yếu tố hiện vật vàyếu tố giá trị đều được xem xét khi sử dụng nguồn lực Chỉ khi nào sử dụngnguồn lực đạt cả về hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuấtmới đạt hiệu quả kinh tế Sự khác nhau trong các hiệu quả của các doanhnghiệp có thể là sự khác nhau về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ

Hiệu quả xã hội là phản ánh những tác động của hoạt động sản xuất kinhdoanh đến các yếu tố xã hội Một trong những yếu tố quan trọng là khả nănggiải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương Tác động đến cơ cấulao động, sự di cư Thông qua đó có những tác động tích cực hay tiêu cực đểđánh giá phù hợp với tình hình sản xuất Ở đây đi xem xét hoạt động trồngsắn có tác động như thế nào đến khả năng tạo công ăn việc làm

Trang 5

Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kếtquả đạt được ở cả hai mặt kinh tế và xã hội Mục tiêu cuối cùng của pháttriển kinh tế là phát triển xã hội Vì thế hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội

có mối quan hệ mật thiết với nhau Do đó, khi nói đến hiệu quả kinh tếchúng ta cần phải hiểu trên quan điểm kinh tế-xã hội

Qua nội dung đã trình bày trên ta có thể kết luận rằng:

Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất,nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh phản ánh tươngquan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính Là chỉtiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố sản xuất, kinhdoanh nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu Tùy vào mục đíchđánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhaunhư năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sảnphẩm, lợi nhuận so với vốn… Chỉ tiêu tổng hợp thường dùng nhất là doanhlợi thu được so với tổng vốn bỏ ra [1]

Article VII. 2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất:

- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ

được hộ nông dân sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là mộtnăm) Đây là chỉ tiêu tổng hợp nói lên quy mô, cơ cấu hoạt động sản xuấtkinh doanh của nông hộ

GO = Qi*Pi

Trong đó : Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i

Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i

- Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí

trung gian, là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung giancủa hoạt động trồng sắn

VA = GO – IC

Trong đó: VA: Là giá trị gia tăng

GO: Là tổng giá trị sản xuất

Trang 6

- Giá trị sản xuất tính cho một đơn vị chi phí trung gian (GO/IC):

Là chỉ tiêu phản ánh về lượng số đơn vị giá trị sản xuất thu được khi bỏ ramột đơn vị chi phí trung gian đầu tư sản xuất

- Giá trị gia tăng tính chi một đơn vị chi phí trung gian (VA/IC):

Là chỉ tiêu phản ánh về lượng, cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ

ra để đầu tư cho sắn thì thu được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng Đây làchỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được

- Giá trị gia tăng/lao động (VA/LĐ): Là chỉ tiêu phản ánh thu nhập

tăng thêm cho một lao động

Article VIII. 2.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

Có nhiều phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế song điều quantrọng là chúng ta cần xác định chính xác kết quả thu được và chi phí phải

bỏ ra cho quá trình sản xuất kinh doanh Tuỳ theo mục đích tính toán hiệuquả kinh tế mà chúng ta xác định kết quả thu được sao cho phù hợp Nếumục tiêu của doanh nghiệp là sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu xãhội là chủ yếu thì kết quả được sử dụng là tổng giá trị sản xuất (GO),nhưng với doanh nghiệp hay trang trại phải thuê mướn nhân công thì kếtquả thu được cần quan tâm lại là lợi nhuận, còn đối với các nông hộ kếtquả được quan tâm là thu nhập hoặc thu nhập hỗn hợp

Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là chi phí cho cácyếu tố đầu vào như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, tiền vốn, trình độ vàcông nghệ Tuỳ theo mục đích phân tích và nghiên cứu mà chi phí bỏ ra cóthể tính toán toàn bộ hoặc cho từng yếu tố chi phí Thông thường chi phí bỏ

ra được tính là tổng chi phí, tổng chi phí trung gian

Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chiphí bỏ ra Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế là sự so sánh về mặt lượnggiữa kết quả và chi phí sản xuất Ta có công thức: H = Q/C

Trong đó:

H: hiệu quả kinh tế

Q: kết quả thu được

C: chi phí bỏ ra

Trang 7

(a) Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồnlực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kếtquả Điều này cho phép chúng ta so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau.

Article IX. 2.2 Cơ sở thực tiễn.

Article X. 2.2.1 Vị trí kinh tế của cây sắn

Article XI. 2.2.1.1 Giá trị sử dụng

Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức

ăn gia súc và lương thực thực phẩm Củ sắn được dùng để chế biến tinhbột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi Từ sắn củ tươi hoặc

từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệpnhư bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹnghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánhtráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm Củsắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc Thân sắn dùng

để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun

Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm,nuôi cá Bột lá sắn hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,…Hiện tại, sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổithương mại quốc tế (P.Silvestre, M.Arraudeau, 1991)

2.2.1.2 Lợi ích của trồng sắn:

Sắn dễ trồng, hợp nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, hợp khả năng kinh

tế với nhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động, tận dụng đất đểlấy ngắn nuôi dài Cây sắn cũng có khả năng cạnh tranh cao vì sử dụnghiệu quả tiền vốn, đất đai, tận dụng tốt các loại đầt nghèo dinh dưỡng Sắnđạt năng suất cao và lợi nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và trồng đúngquy trình canh tác sắn bền vững Sắn đựơc nông dân ưu tiên trồng vì: Cókhả năng sử dụng tốt các đất đã kiệt: Cho năng suất cao và ổn định, chi phíđầu tư thấp và sử dụng ít nhân công, thời gian thu hoạch kéo dài nên thuậnrải vụ Nghề trồng sắn thích hợp với những hộ nông dân nghèo, ít vốn.Nhược điểm của nghề trồng sắn làm kiệt đất; Củ sắn nghèo đạm và

Trang 8

Article XII. 2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam

Article XIII. 2.2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới

Sắn (Manihot esculenta Crantz) hiện được trồng trên 100 nước có khí

hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục: châu Á, châu Phi và châu

Mỹ Latinh Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thựcquan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì Tinh bộtsắn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ ngườitrên thế giới (www TTTA Food market, 2009) Đồng thời, sắn cũng là câythức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới và cũng là cây hànghóa xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép,bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm

Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệpchế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Năm 2008, Trung Quốc đã sản xuấtmột triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cungcấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol Tại Thái Lan,nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008.Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăngtheo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010 Các nước như Lào, PapuaNew Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đangnghiên cứu thử nghiệm cho sản xuất ethanol (TTTA Outlook for 2009) [3]Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng giatăng từ năm 1995 đến nay Sản lượng sắn thế giới năm 2006/07 đạt 226,34triệu tấn củ tươi so với 2005/06 là 211,26 triệu tấn và 1961 là 71,26 triệutấn Năm 2008, sản lượng sắn thế giới đạt 238,45 triệu tấn củ tươi so với223,75 triệu tấn Nước có sản lượng sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria(45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92triệu tấn) Việt Nam đứng thứ mười trên thế giới về sản lượng sắn (7,71triệu tấn) Nước có năng suất sắn cao nhất hiện nay là Ấn Độ (31,43tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quâncủa thế giới là 12,16 tấn/ha (FAO, 2008)

Trang 9

Trên thế giới, sắn được trồng bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ đểlàm lương thực- thực phẩm, thức ăn gia súc và để bán Sắn chủ yếu trồngtrên đất nghèo và dùng kỹ thuật canh tác truyền thống.

Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm.Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lươngthực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11 %),còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắnviên và tinh bột (CIAT, 1993) Nhu cầu sắn làm thức ăn gia súc trên toàncầu đang giữ mức độ ổn định trong năm 2006 (FAO, 2007)

Sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực ở châu Phi, bình quânkhoảng 96 kg/người/năm Zaire là nước sử dụng sắn nhiếu nhất với 391 kg/người/năm (hoặc 1123 calori/ngày) Nhu cầu sắn làm lương thực chủ yếutại vùng Saharan châu Phi cả hai dạng củ tươi và sản phẩm chế biến ướctính khoảng 115 triệu tấn, tăng hơn năm 2005 khoảng 1 triệu tấn

Buôn bán sắn trên thế giới năm 2006 ước đạt 6,9 triệu tấn sản phẩm,tăng 11% so với năm 2005 (6,2 triệu tấn), giảm 14,8% so với năm 2004(8,1 triệu tấn) Trong đó tinh bột sắn (starch) và bột sắn (flour) chiếm 3,5triệu tấn, sắn lát (chips) và sắn viên (pellets) 3,4 triệu tấn

Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồnsinh học (bio ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia súc vàdùng trong công nghiệp thực phẩm dược liệu Địa điểm chính tại tỉnh QuảngTây Năm 2005, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,03 triệu tấn tinh bột, bột sắn và3,03 triệu tấn sắn lát, sắn viên Năm 2006, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,15triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,40 triệu tấn sắn lát và sắn viên

Thái Lan chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn toàn cầu, kế đến làIndonesia và Việt Nam Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan làTrung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuấtkhẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên(TTTA, 2006; FAO, 2007)

Năm 2006 được coi là năm có giá sắn cao đối với cả bột, tinh bột và

Trang 10

châu Âu hiện đã giảm sút nhưng giá sắn năm 2006 vẫn được duy trì ở mứccao do có thị trường lớn tại Trung Quốc và Nhật Bản (FAO, 2007)

Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toánnhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầmnhìn đến năm 2020 Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệutấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274,7 triệutấn, các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở cácnước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã pháttriển là 20,5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làmlương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc53,4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắnlàm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và0,95% Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báosản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn Trong đó, khối lượng sản phẩm

sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%.Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993-2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắntăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 -0,96% Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á,đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứngthứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía Chiềuhướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng Giảipháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biệnpháp kỹ thuật tiến bộ [2]

Trang 11

Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới

(Nguồn: Trần Công Khanh tổng hợp từ

FAOSTAT qua các năm).

Article XIV. 2.2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trước đây sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quantrọng sau lúa và ngô Hiện nay cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lươngthực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đãtăng nhanh ở thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Năm 2005, cây sắn có diện tíchthu hoạch 432 nghìn ha, năng suất 15,35 tấn/ha, sản lượng 6,6 triệu tấn, sovới cây lúa có diện tích 7.326 ha, năng suất 4,88 tấn/ha, sản lượng 35,8triệu tấn, cây ngô có diện tích 995 ha, năng suất 3,51 tấn/ha, sản lượng gầnmột triệu tấn (FAO, 2007) Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các

hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh

Trang 12

Công Khanh, 2005), đây là hướng hỗ trợ chính cho việc thực hiện Đề án

“Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã

được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 177/2007/ QĐ-TT

ngày 20 tháng 11 năm 2007

Tại Việt Nam, sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của các

vùng sinh thái nông nghiệp Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt

Nam qua các năm và phân theo các vùng sinh thái được thể hiện qua Bảng

2 và Bảng 3 Diện tích sắn nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải

miền Trung (168,80 ngàn ha) Tây Nguyên là vùng sản xuất sắn lớn thứ hai

của cả nước, tập trung chủ yếu ở bốn tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk và

Đăk Nông Năm 2008, diện tích sắn của Tây Nguyên đạt 150.100 ha,

nhưng năng suất bình quân chỉ đạt 15,7 tấn/ha, tổng sản lượng 2,35 triệu

tấn, thấp hơn rất nhiều so với năng suất và sản lượng sắn của vùng Đông

Nam Bộ (23,74 tấn/ha và 2,69 triệu tấn) (Tổng cục thống kê, 2009)

Bảng 2 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam

Trang 13

Bảng 3 Diện tích, năng suất và sản lượng của các vùng sinh thái Việt

Nam năm 2008

(1000 ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 168,80 16,64 2.808,30

(Nguồn: Trần Công Khanh tổng hợp từ Niên giám

thống kê qua các năm).

Về thời tiết, Ðông Nam Bộ và Tây Nguyên có sự phân biệt mùa mưa

và mùa khô rất rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 và kết thúc vào cuốitháng 10 hàng năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 04 nămsau Do đặc điểm thời tiết của Vùng Đông Nam Bộ và Tây nguyên gầngiống nhau nên lịch thời vụ trồng sắn của cả hai vùng sinh thái nói trêncũng được bố trí tương tự:

- Thời vụ chính (khoảng 70% diện tích), sắn được trồng từ giữa tháng tưđến cuối tháng năm, thu hoạch từ đầu tháng một đến cuối tháng ba năm sau

- Thời vụ phụ (khoảng 30% diện tích), sắn được trồng từ giữa tháng 8đến giữa tháng 9, thu hoạch từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10 năm sau.Sắn trồng ở thời vụ cuối mùa mưa có hàm lương tinh bột thấp hơn so vớithời vụ trồng đầu mùa mưa, diễn biến hàm lượng tinh bột của sắn trongnăm được trình bày ở bảng 4

Trang 14

Bảng 4 Diễn biến về hàm lượng tinh bột sắn qua các tháng trong năm

từ 1994 – 1997 tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ

(Nguồn: Hoàng Kim, Trần Công Khanh

và Diệp Phương Điền, 1998)

Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùng làm thức ăn gia súc(22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi

Sắn cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu và tiêu thụ trongnước Sắn là nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ănliền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm,màng phủ sinh học và chất giữ ẩm cho đất Toàn quốc hiện có trên 60 nhàmáy chế biến tinh bột sắn với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn củtươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi rác tại hầu hết các tỉnhtrồng sắn Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800.000 – 1.200.000tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trongnước Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát vàbột sắn

Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Namtầm nhìn đến năm 2020 Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản

Trang 15

xuất lúa, ngô và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng,những vụ có điều kiện phát triển Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bộtsắn Việt Nam dự báo thuận lợi và có lợi thế cạnh tranh cao do có nhu cầucao về chế biến bioethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩmtinh bột biến tính Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 450nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo vàphát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao,xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thíchhợp vùng sinh thái.

Thị trường chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, HànQuốc Đầu tư nhà máy chế biến bio- etanol là một hướng lớn triển vọng.Nghiên cứu, sản xuất nhiên liệu sinh học (NLSH) là định hướng đúngđắn trong việc tìm kiếm và sử dụng nguồn năng lượng sạch đã được thếgiới quan tâm nghiên cứu sản xuất Năm 2008, toàn thế giới đã sản xuấtkhoảng 66 tỷ lít ethanol, Mỹ hiện là quốc gia sản xuất ethanol lớn nhất thếgiới đạt gần 34 tỷ lít Năm 2012, Mỹ sẽ cung cấp trên 28 tỷ lít ethanol vàdiesel sinh học Để khuyến khích sử dụng nhiêu liệu sạch, Chính phủ Mỹ

đã thực hiện việc giảm thuế 0,50 USD/gallon ethanol, 1 USD/gallon dieselsinh học và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ sản xuất NLSH Tổng thốngđương nhiệm đã tuyên bố sẽ đưa nước Mỹ thoát khỏi sự phụ thuộc dầu mỏ

từ nước ngoài bằng cách đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát triển để tạocông nghệ mới sản xuất năng lượng sạch và NLSH

Công ty TNHH Nhiên liệu sinh học Phương Đông (OBF) là liên doanhgiữa Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) và tập đoàn Itochu Nhật Bảnđang triển khai xây dựng nhà máy sản xuất Ethanol từ sắn tại huyện Bù Đăng,tỉnh Bình Phước với công suất chế biến 100 triệu lít/năm (dự tính sử dụng 230nghìn tấn sắn lát khô/năm hoặc 575 nghìn tấn củ tươi/năm) Việc duy trì vànâng cao năng suất, sản lượng sắn của vùng nguyên liệu tại các tỉnh BìnhPhước, Đắc Nông, Tây Ninh là việc làm hết sức cấp bách và cần thiết (nguyênliệu là sự sống còn của nhà máy) [6]

Trang 16

Article XV. 2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thị sắn tỉnh Nghệ An

Trước 2002, cây sắn được trồng chủ yếu theo kiểu tự phát, quảngcanh, diện tích manh mún nhỏ lẻ, củ sắn chủ yếu ăn tươi và cắt lát phơi khôdùng làm thức ăn gia súc Đến thời điểm này, khi có quyết định của ủy bannhân dân tỉnh Nghệ An về việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm tăng giátrị kinh tế của nông sản hàng hóa trên một đơn vị diện tích canh tác Vớichủ trương này, ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt xây dựng vùng nguyênliệu sắn công nghiệp, từ đó diện tích, năng suất và sản lượng có sự thay đổiđáng kể, từ 11600 ha(2006) lên 17100 ha(2008), tăng 47,4%

Cùng việc phát triển cây sắn tập trung trên diện tích lớn, tháng 4/2002Nghệ An đã xây dựng được nhà máy sản xuất tinh bột sắn Intimex ThanhChương với công suất 100 tấn tinh bột/ ngày và đến 2004 đã xây dựngthêm nhà máy chế biến tinh bột sắn Yên Thành với công suất 50 tấn tinhbột sắn/ngày

Năm 2003, toàn tỉnh đã xuất khẩu được 63.808 tấn tinh bột sắn Nghệ

An đang triển khai hai dự án sản xuất và chế biến tinh bột sắn tại ThanhChương và Yên Thành [8]

Article XVI. 2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn huyện Anh Sơn

Anh Sơn là huyện miền núi, sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuấtchính Trước đây người dân trồng nhiều loại cây như lạc, ngô, khoai đậu vàcây vừng Trong những năm gần đây huyện đã chuyển sang trồng cây côngnghiệp như cây mía, cây chè và cây sắn

Hiện nay toàn huyện không có xã nào không trồng sắn, kể cả thị trấn.Diện tích sắn một số xã như sau: Thọ Sơn 330 ha, Bình Sơn 210 ha, Lĩnh Sơn

140 ha, Thành Sơn 120 ha, (Số liệu thống kê huyện Anh Sơn năm 2010).Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của huyện Anh Sơn trong 3 năm(2008-2010) như sau:

Trang 17

Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của huyện Anh Sơn

Kết quả bảng 5 cho thấy: Diện tích trồng sắn của toàn huyện là 1.127

ha và có xu hướng tăng dần qua các năm, cụ thể từ năm 2008 có 790 ha,tăng lên 1.127 ha năm 2010, tăng 42,66%

- Về năng suất: Năng suất sắn tăng lên qua các năm Năng suất tănglên như vậy là do huyện đã làm rất tốt công tác chỉ đạo người dân sảnxuất sắn phải coi trọng việc bảo vệ đất, áp dụng đúng kỷ thuật trồng sắnthâm canh

- Về sản lượng: Từ năm 2008-2010 trong vòng 3 năm sản lượng tănglên 15% Huyện đang có chủ trương mở rộng quy mô sản xuất sắn vì hiệnnay các nước như Trung Quốc và Lào rất cần nguyên liệu sắn của ta nhưngđối với huyện Anh Sơn thì chỉ đủ cho nhà máy chế biến tinh bột sắn ThanhChương và số ít cho nhà máy chế biến Yên Thành

Trang 18

Article XVII. PHẦN 3 Article XVIII ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨUArticle XIX. 3.1 Đối tượng

Section XIX.1 Đối tượng nghiên cứu là các hộ tham gia trồng sắn

ở xã Thọ Sơn, Anh Sơn, Nghệ An

Article XX 3.2 Nội dung

Article XXI 3.2.1.Thông tin chung về xã Thọ sơn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An

Article XXII. 3.2.1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên

+ Vị trí địa lý, địa hình

+ Khí hậu thời tiết

Article XXIII 3.2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

- Tình hình dân số và lao động

- Tình hình sử dụng đất đai

Article XXIV. 3.2.2 Thực trạng sản xuất sắn của xã Thọ Sơn

Article XXV. 3.2.2.1 Tình hình sản xuất sắn trên địa bàn xã Thọ Sơn

Article XXVI. 3.2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của hộ trồng sắn

- Nhân khẩu và lao động

- Tình hình sử dụng đất trồng trọt

- Thông tin về hoạt động tạo thu nhập của hộ

Article XXVII. 3.2.3 Hiệu quả sản xuất sắn của các hộ khảo sát

Article XXVIII. 3.2.3.1 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộtrồng sắn

Article XXIX. 3.2.3.2 Nguồn vốn sử dụng trong sản xuất sắn

Article XXX. 3.2.3.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn của các nhóm hộ

- Quy mô sản xuất sắn của các nhóm hộ

- Tình hình tiêu thụ sắn của các nông hộ

- Tình hình đầu tư sản xuất của các nhóm hộ khảo sát

- Kết quả và hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ được khảo sát

Trang 19

3.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất

3.2.4.1 Giống

3.2.4.2 Quy mô sản xuất

3.2.4.3 Khí hậu thời tiết

3.2.4.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm

3.2.4.5 Điều kiện đất đai

3.2.4.6 Điều kiện dịch vụ sản xuất

(a) 3.2.5 Những khó khăn và nguyện vọng của hộ trồng sắn

(b) 3.2.5.1 Khó khăn

(c) 3.2.5.2 Nguyện vọng

Article XXXI 3.3 Phương pháp nghiên cứu

Article XXXII. 3.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu

- Phương pháp chọn điểm:

Căn cứ vào đối tượng cần khảo sát chúng tôi tiến hành chọn địađiểm điều tra tại các hộ trồng sắn tại xã Thọ Sơn

- Dung lượng mẫu khảo sát:

Đề tài chọn khảo sát 45 hộ gia đình sản xuất sắn trong xã Thọ Sơnhuyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An theo tiêu chí 15 hộ khá, 15 hộ trung bình và

15 hộ nghèo

Chọn mẫu ngẫu nhiên theo tiêu chí không lặp lại theo danh sách màtrưởng thôn cho: 15 hộ khá, 15 hộ trung bình, 15 hộ nghèo

Article XXXIII 3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xãhội của xã và các số liệu thống kê của niên giám thống kê của huyện

Article XXXIV. 3.3.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

+ Phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi bán cấu trúc đã được chuẩn bị trướcvới các hộ có tham gia trồng sắn (45 bảng hỏi)

+ Phỏng vấn sâu người am hiểu trong địa phương: Các trưởng thôn,những người trồng sắn có kinh nghiệm, các hộ trồng theo quy mô lớn + Quan sát thực địa: Tiến hành quan sát một cách tổng thể địa hình,

Trang 20

Article XXXV 3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu điều tra thu thập được xử lý trên phần mềm excel

- Phân tích định tính và định lượng để mô tả phân tích các chỉ tiêunghiên cứu

Trang 21

Article XXXVI. PHẦN 4 Article XXXVII KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Article XXXVIII. 4.1 Thông tin chung về xã Thọ Sơn huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

Article XXXIX. 4.1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu.

Article XL 4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý, địa hình

Vị trí địa lý của địa bàn sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng, khinền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay Nó ảnh hưởng trực tiếp đếnquá trình sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp

Thọ Sơn là một xã vùng cao của huyện miền núi Anh Sơn nằm bênđường quốc lộ 7A Nó có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội,

an ninh quốc phòng Phía Bắc giáp huyện quỳ hợp, phía Nam giáp xãThành Sơn và Bình Sơn, phía đông giáp huyện Tiên Kỳ, phía Tây giáphuyện Con Cuông

Với vị trí địa lý như trên, xã Thọ Sơn có nhiều điều kiện thuận lợi đểgiao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội với các địa phương khác Bên cạnh nhữngthuận lợi thì khó khăn cũng không ít, xã vùng cao của huyện miền núi, ởcách xa trung tâm của huyện, địa hình cũng phức tạp, việc cung ứng vật tư,tiến bộ khoa học kỷ thuật chưa được tập trung và nhanh chóng, nên sảnxuất nông nghiệp chưa được chuyên môn hoá cao

- Đặc điểm về khí hậu

Khí hậu là điều kiện tiên quyết, là cơ sở sinh tồn của thực vật, ảnhhưởng rất lớn đến đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung vàcây sắn nói riêng Vì vậy, việc nghiên cứu thời tiết khí hậu của vùng sẽ tạođiều kiện cho việc tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Thọ Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác độngtrực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và

Trang 22

mưa phân bố không đều nên thường hạn hán ảnh hưởng đến quá trình sảnxuất và sinh hoạt của người dân.

Article XLI 4.1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

- Tình hình dân số và lao động

Trong công tác xây dựng đổi mới và phát triển kinh tế, sức lao động

và dân số là tài sản quyết định sự phát triển kinh tế của địa phương Nhưngmặt khác là sự cản trở của sự phát triển khi vấn đề việc làm và đời sốngnhân dân không được đảm bảo Vì vậy tôi tìm hiểu đặc điểm về dân số vàlao động của xã Thọ Sơn năm 2010 Kết quả thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1: Đặc điểm về nhân khẩu và lao động của xã Thọ Sơn

(Nguồn: Báo cáo của xã Thọ Sơn)

Qua bảng số liệu ta thấy: Xã Thọ Sơn với tổng số nhân khẩu là 3.711người với 745 hộ dân, trong đó có 213 hộ trung bình và khá, chiếm 72,4 %trong tổng số hộ trên địa bàn xã Trong những năm trước tỷ lệ hộ nghèocủa xã chiếm tỷ lệ rất cao, ba năm nay việc thực hiện công tác xoá đói giảmnghèo, cho đến nay điều tra thì số hộ nghèo của xã còn 28,6 %, đó là điềuđáng mừng của xã hiện nay

Theo thống kê trên địa bàn toàn xã, số người trong độ tuổi lao động là1.765 lao động, chiếm tỷ lệ thấp hơn số người ngoài độ tuổi lao động, màchủ yếu là lao động nông nghiệp Đây là một hạn chế trong quá trình sảnxuất nói chung và ngành nông, lâm nghiệp nói riêng Hiện nay xã đang có

Trang 23

chủ trương tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân vay vốn sản xuất, kinhdoanh, đầu tư cho sản xuất.

- Tình hình sử dụng đất đai

Đối với sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quantrọng và không thể thay thế được Nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tưliệu sản xuất và là nơi trú ngụ, sinh sống và sinh hoạt của con người Quy

mô và trình độ sử dụng nguồn lực đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến thunhập từ sản xuất nông nghiệp Vì vậy việc bố trí cây trồng hợp lý nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất Tình hình sử dụng đất của xã Thọ Sơn đượcthể hiện như sau :

Bảng 2 : Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Thọ Sơn

Trang 24

(i)(Nguồn: Số liệu thống kê báo cáo tình hình sử dụng đất

(ii) của xã Thọ Sơn)

Kết quả điều tra ở bảng cho thấy:

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 4.386,99 ha Trong đó đất lâmnghiệp chiếm một diện tích khá lớn là 3.051,40 ha, chiếm tỷ lệ rất caotrong tổng diện tích đất tự nhiên 69,56%, số còn lại là sử dụng vào trồngcây nông nghiệp và cây công nghiệp hằng năm, nuôi trồng thuỷ sản, đất ở

và mục đích khác

Đất nông nghiệp của xã được sử dụng vào việc trồng cây hằng năm,trồng cây công nghiệp hằng năm Trong đó đất trồng cây công nghiệp hằngnăm của xã là 465,89 ha, chiếm tỷ lệ tương đối cao trong tổng số diện tíchđất nông nghiệp đến 52,29%, trong đó diện tích đất trồng cây hằng năm là397,66 ha chiếm tỷ lệ cũng khá lớn 44,64% Còn lại 27,35 ha đất trồng câythực phẩm, chiếm tỷ lệ 3,07% diện tích đất nông nghiệp

Trong cơ cấu đất trồng cây hằng năm thì diện tích đất trồng ngô lênđến 90,20 ha, chiếm 22,68% Đặc biệt trong những năm gần đây diện tíchđất trồng sắn tăng lên rất nhiều, theo chúng tôi điều tra cuối năm 2010 diệntích trồng sắn trên địa bàn toàn xã lên đến 270,35 ha chiếm 67,99% trongtổng diện đất trồng cây hằng năm Diện tích đất trồng sắn tăng lên thể hiện

sự quan tâm của xã đặc biệt là sự quan tâm của người dân đối với việctrồng sắn, cũng như hiệu quả của nó mang lại cho người dân nơi đây gópphần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Và cây sắn là cây chịu hạncao, có thể trồng được trên nhiều loại đất Còn lại diện tích đất sử dụng choviệc trồng lúa là 37,11 ha, chiếm tỷ lệ 9,33%

Trong cơ cấu diện tích đất trồng cây công nghiệp hằng năm thì diệntích đất trồng mía cao với diện tích là 330,71 ha, chiếm 70,98% Diện tíchđất trồng mía cao như vậy là do chủ trương của việc trồng mía sớm hơntrồng sắn nên người dân đã quen với việc trồng mía

Trang 25

(iii) Bảng 3: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính của xã năm

2010 (iv) Cây trồng Diện tích (ha) Năng suất

là cây trồng có diện tích là 270,35 ha có năng suất cao nhất 225 tạ/ha Năngsuất cao như vậy là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của của huyện đến xã cũngnhư các ban ngành, các tổ chức hội, đoàn thể, nhất là nhóm cán bộ kỷ thuậtcủa nhà máy tinh bột sắn Thanh Chương, về tận cơ sở chỉ đạo sát sao vàtập huấn đầy đủ trước khi trồng sắn Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triểnsản xuất, nhờ đó mà năng suất cây sắn được nâng cao Cây lạc diện tích là135,18 ha, với năng suất 13,60 tạ/ha, cây lạc cũng có giá trị, trước đây câylạc chiếm diện tích lớn nhât, nhưng hiện nay cây lạc được thay thế bằngcây mía, bởi cây lạc sử dụng nhiều sức lao động hơn mấy cây trồng khác

Về cây lúa, diện tích đất lúa của địa phương rất ít Do cây sắn và cây míaphù hợp với điều kiện đất đai hơn nên diện tích ngô không nhiều 90,20 ha

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam (Trang 12)
Bảng 4. Diễn biến về hàm lượng tinh bột sắn qua các tháng trong năm - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 4. Diễn biến về hàm lượng tinh bột sắn qua các tháng trong năm (Trang 14)
Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của huyện Anh Sơn - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 5 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của huyện Anh Sơn (Trang 17)
Bảng 2 : Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Thọ Sơn - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Thọ Sơn (Trang 23)
Bảng 7: Tình hình sử dụng đất trồng trọt                                                                            Đvt: m 2    Chỉ tiêu - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 7 Tình hình sử dụng đất trồng trọt Đvt: m 2 Chỉ tiêu (Trang 30)
Bảng 9: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ trồng sắn - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 9 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ trồng sắn (Trang 33)
Bảng 10: Bảng nguồn vốn sử dụng trong sản xuất sắn                                                                                                Đvt: m 2 - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 10 Bảng nguồn vốn sử dụng trong sản xuất sắn Đvt: m 2 (Trang 34)
Bảng 14: Kết quả và hiệu quả của sản xuất sắn của các nhóm hộ - hiệu quả sản xuất sắn của các nông hộ trên địa bàn  xã thọ sơn huyện anh sơn, tỉnh nghệ an
Bảng 14 Kết quả và hiệu quả của sản xuất sắn của các nhóm hộ (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w