Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng trên địa bàn xã vẫn còn những hạnchế, kết quả hoạt động của một số chương trình, dự án tín dụng vẫn chưa đạt kếtquả như mục tiêu ban đầu đã đề ra.Hiện nay
Trang 1
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách mà Đảng và nhà nước
ta đang thực hiện nhằm nâng cao đời sống của người dân Đặc biệt là ở nhữngvùng nông thôn, miền núi hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, tỷ lệ hộnghèo vẫn còn cao Phát triển nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống ngườidân là mục tiêu hàng đầu trong chính sách xóa đói giảm nghèo Để đạt được mụctiêu đó nhà nước cần có những hỗ trợ để người dân mở rộng sản xuất và pháttriển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa Muốn vậy, người dân cần
có vốn để phát triển sản xuất Vậy nên, thời gian qua nhằm đáp ứng nhu cầu vayvốn của người dân các ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng, các tổ chức xãhội…đã có những ưu đãi trong vay vốn Những ưu đãi về lãi suất, điều kiện vay,mức vay… đa dạng hình thức thanh toán đang đưa lại hiệu quả thiết thực Hiệnnay, mạng lưới tín dụng đã có mặt hầu hết ở các vùng nông thôn, miền núi, gópphần giải quyết nhu cầu vay vốn ngày càng lớn của người dân Tuy nhiên, nguồnvốn vay vẫn chưa được người dân sử dụng hiệu quả, cần có những đánh giákhách quan về hoạt động tín dụng ở khu vực nông thôn, miền núi, từ đó làm cơ
sở thực tiễn để đề xuất nhưng giải pháp nhằm huy động và sử dụng nguồn vốnvay hiệu quả
Đức Bồng là một xã thuần nông thuộc huyện miền núi Vũ Quang, tỉnh HàTĩnh Thu nhập của người dân chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp theohướng truyền thống Vấn đề đặt ra là phải đa dạng hóa hoạt động thu nhập, pháttriển nông nghiệp phù hợp với thời kỳ CNH-HĐH của đất nước, nâng cao năngsuất sản xuất, cải thiện đời sống người dân Chính vì vậy, sự phát triển của hệthống tín dụng tại địa phương sẽ là “chìa khóa” giải quyết vấn đề Những nămqua, nhờ được tiếp cận với nguồn vốn từ các chương trình, dự án lãi suất thấp mà
bộ mặt nông thôn của xã có nhiều thay đổi tích cực Hệ thống điện, đường,trường, trạm…được đầu tư khá đồng bộ phát huy hiệu quả cải thiện đời sống của
Trang 2người dân Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng trên địa bàn xã vẫn còn những hạnchế, kết quả hoạt động của một số chương trình, dự án tín dụng vẫn chưa đạt kếtquả như mục tiêu ban đầu đã đề ra.
Hiện nay, vẫn chưa có một đánh giá nào về tác động của hoạt động tíndụng tới phát triển sản xuất của người dân trên địa bàn xã Những đánh giá nàychỉ dựa vào báo cáo kinh tế-xã hội của xã, báo cáo về hoạt động của tín dụng tạiđịa phương Yêu cầu đặt ra là phải có những đánh giá khách quan để đưa ranhững kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém, từ đó đưa ra chính sách tíndụng phù hợp hơn với thực tiễn của địa phương nhằm năng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vốn Từ những nguyên nhân đó tôi lựa chọn đề tài: 'Đánh giá tác động
của tín dụng nông nghiệp–nông thôn tới hoạt động sản xuất của người dân,
xã Đức Bồng-Vũ Quang- Hà Tĩnh.'
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
● Tìm hiểu hệ thống tín dụng nông nghiệp-nông thôn và hoạt động của các
tổ chức tín dụng trên địa bàn xã
● Đánh giá tác động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn tới hoạt độngsản xuất của người dân
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là hoạt động cho vay (phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay
và người đi vay), có bảo đảm, có hoàn trả cả nợ gốc và lãi sau một thời gian nhấtđịnh Một cách tiếp cận đầy đủ hơn, tín dụng là một phạm trù kinh tế của nềnkinh tế hàng hóa, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu với người sửdụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trảvốn và lợi tức khi đến hạn [2]
Theo Lê Văn Tề (2006), tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vaychuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theothoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho êncho vay khi đến hạn thanh toán [5]
2.1.2 Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một giađình có tên trong một bản kê khai hộ khẩu riêng, gồm có một người làm chủ hộ
và các người cùng sống trong hộ gia đình ấy Về mặt kinh tế, hộ gia đình có mộtmối quan hệ gắn bó không phân biệt về mặt tài sản, những người sống chungtrong một hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế.Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ góp công sức vào quá trình xâydựng và phát triển kinh tế của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất đạtđược Nếu sản xuất có hiệu quả cao sản phẩm thu được, người chủ hộ phân phốitrước hết nhằm bù đắp các chi phí đã bỏ ra, đóng góp nghĩa vụ với nhà nướctheo quy định, phần thu nhập còn lại được sử dụng để trang trải cho các mục tiêusinh hoạt thường xuyên của gia đình và phát triển sản xuất
Ở Việt Nam hiện nay, các quan điểm đều thừa nhận vai trò to lớn của kinh
tế hộ trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt vai trò của kinh tế hộ nông dân
Trang 4trong nông nghiệp và phát triển nông thôn: “ Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, làhình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp, nông thôn Các thành viêntrong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiền bằng quan hệ hôn nhân vàdòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do truyền thống qua nhiềuđời, do phong tục tập quán tâm lý đạo đức, gia đình, dòng họ Về kinh tế, cáthành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệquản lý và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế”[16].
2.2 Vai trò, chức năng và cơ chế của tín dụng
2.2.1 Vai trò của tín dụng
- Tăng cường tính linh hoạt của nền kinh tế
- Tiết kiệm chi phí lưu thông và tăng tốc độ chu chuyển vốn
- Với tư cách là công cụ tập trung vốn và tích luỹ, tín dụng góp phần giảm
hệ số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần tăng vòng quay củavốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông và góp phần khắc phục lạm phát tiền tệ
- Tín dụng góp phần cung cấp khối lượng vốn cho các doanh nghiệp, từ đótăng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật và công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm,tạo khả năng và khuyến khích đầu tư vào các công trình lớn, các ngành, các lĩnhvực, có ý nghĩa quan trọng đối với quốc tế dân sinh, thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển
- Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu tiền
tệ giữa nước ta với các nước khác trên thế giới và trong khu vực
- Tín dụng góp phần vào việc hình thành, điều chỉnh và chuyển dịch cơcâu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo hướng xã hội chủnghĩa
- Tín dụng tạm thời hỗ trợ vốn tiêu dùng cho cư dân cải thiện đời sống[15]
Trang 52.2.2 Chức năng của tín dụng
- Tập trung và phân phối lại các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nềnkinh tế thông qua hai quá trình huy động và cho vay nhằm sử dụng vốn có hiệuquả để giúp tăng trưởng kinh tế-xã hội [6]
- Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông xã hội: Khi sử dụng tín dụngngười ta có thể vay tiền mặt bằng các phương tiện tín dụng Từ đó làm giảmlượng tiền mặt trong lưu thông nên tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt
- Phản ánh và kiểm soát hoạt động kinh tế: Chức năng này phát triển củahai chức năng trên, cụ thể là: Thông qua kế hoạch huy động và cho vay của ngânhàng, sẽ phản ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các mặt, đồng thờiqua nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có điều kiện nhìn tổng quát và cấu trúc tàichính của từng đơn vị cho vay Từ đó phát hiện kịp thời những trường hợp viphạm chế độ quản lý kinh tế của nhà nước
- Thời hạn cho vay: Là một khoảng thời gian được tính từ khi khách hàngbắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã đượcthoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng Thờihạn cho vay bao gồm:
+ Cho vay ngắn hạn: Đối với khách hàng cho vay vốn ngắn hạn nhằm đáp ứngnhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống, được xác định phù hợpvới chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa đến 12tháng
+ Cho vay trung hạn, dài hạn: Đối với khách hàng vay vốn trung, dài hạn nhằmthực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.Thời hạn cho vay xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư,
Trang 6khả năng trả nợ của khách hàng và tín chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tíndụng (> 12 tháng).
- Mức cho vay:
+ Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xác định trên
cơ sở giá trị tài sản thế chấp
+ Đối với hình thức cho vay tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa mà các tổchức tín dụng có thể cho người cần vốn vay
- Thời hạn thu hồi vốn vay: Là thời gian bắt đầu từ khi người vay nhậnđược khoản vay đến khi thực hiện trả lần đầu tiên về lãi hoặc nợ gốc [17]
2.3 Hoạt động tín dụng nông nghiệp-nông thôn hiện nay ở một số nước trên thế giới và tỉnh Việt Nam
2.3.1 Tín dụng nông nghiệp-nông thôn ở một số nước trên thế giới
Hoạt động Tín dụng nông thôn ở Trung Quốc: Với diện tích rộng lớn cùng với
dân số đông ( 1,3 tỷ dân), trong đó có hơn 70% số dân sống trong khu vực nôngthôn là những điều kiện thuận lợi để Trung Quốc phát triển ngành nông nghiệpvới quy mô lớn Do đó, hoạt động nông nghiệp đóng một vai trò hết sức quantrọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Khinông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hóa kéo theo đó là tình trạng leothang giá lương thực trong nước, khoảng cách giàu nghèo giữa khu cự thành thị
và nông thôn tăng lên buộc nhà nước phải tìm cách cung cấp vốn cho nông dântiến hành các hoạt động sản xuất Mặt khác, việc Trung Quốc chuyển bốn ngânhàng quốc doanh lớn thành ngân hàng thương mại trong những năm gần đây đãbuộc các ngân hàng này phải tập trung cắt giảm chi phí, tăng lợi nhuận và giảmbớt sự hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn Do vậy, người dânlại càng trở nên khó khăn hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn sản xuất Trướcthực trạng đó, sự ra đời và hoạt động của các tổ chức tín dụng nông thôn là rấtquan trọng để giúp người dân thoát khỏi khó khăn trên Càng ngày người dâncàng lệ thuộc vào vốn vay từ các hoạt động này Hiện tại, tổng số tiền gửi từ các
tổ chức này hiện đang chiếm khoảng 10% trong tổng số tiền gửi trong các ngânhàng và các định chế tài chính ở Trung Quốc Mặc dù chỉ cung cấp các khoản
Trang 7vay nhỏ với số tiền từ 500 – 20.000 nhân dân tệ cho các hộ dân trên một đợt vaynhưng giải này giúp khoảng 700 triệu nông dân Trung Quốc có thể tiếpcận cácnguồn vốn vay dễ dàng hơn, từ đó đẩy mạnh sản xuất, gia tăng sản lượng nôngnghiệp và tạo thêm động lực cho nền kinh tế vốn đang tăng trưởng nhanh củanước này
Bắt đầu từ năm 2006, Trung Quốc đã bắt đầu cho phép các công ty nướcngoài và các nhà đầu tư trong nước được thành lập ngân hàng và công ty cho vay
ở nông thôn Hình thức hoạt động chủ yếu của các công ty này là thông qua cáccông ty con được đăng ký pháp nhân ở Trung Quốc Điều này sẽ giúp các ngânhàng nước ngoài cắt giảm chi phí và giải quyết khó khăn trong việc tìm kiếm độingũ các giám đốc quản lý chi nhánh có kinh nghiệm Cũng trong năm này, Chínhphủ Trung Quốc cũng đã mở rộng một kế hoạch thử nghiệm thành lập 7 công tycho vay nhỏ ở một số tỉnh nông nghiệp như Sơn Tây, Tứ Xuyên Đến nay, sốcông ty cho vay nhỏ ở các tỉnh này đã tăng lên đến khoảng 300 Ủy ban Pháp chếngân hàng của Trung Quốc (CBRC) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc(PBoC) đã ban hành một số hướng dẫn nhằm bỏ bớt một số rào cản xung quanhviệc xác định loại hình công ty cho vay ở nông thôn, các nguồn vốn huy độngcủa các tổ chức này và các vấn đề khác như quy trình xử lý tình trạng phá sảnchẳng hạn Theo các hướng dẫn mới này, các công ty cho vay nhỏ có thể huyđộng vốn từ hai ngân hàng trở ên bên cạnh các kênh huy động truyền thống như
cổ đông và các nguồn viện trợ Để khuyến khích các công ty cho vay nhỏ ấnđịnh lãi suất cho vay phù hợp với rủi ro tín dụng, Chính phủ Trung Quốc cũngcho phép các công ty này có thể thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đếnbốn lần và tối thiểu bằng 0,9 lần mức lãi suất cho vay thời hạn một năm doPBoC ấn định (hiện nay là 7,47%, mức cao nhất trong chín năm trở lại đây) Nhờ
đó, UA Easy Lenders, một trong những công ty cho vay nhỏ thử nghiệm đầutiên ở Trung Quốc, hiện đang cho vay với lãi suất 27,6 %/năm [4]
Ngân hàng Grameen ở Bangladesh: Ngân hàng Grameen (GB) là định
chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới về tín dụng nông thôn GB có mạng lưới chinhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở, mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 22 làng
Trang 8Đối tượng phục vụ là các gia đình có quy mô nhỏ về đất đai (chưa đến 0,2 hađất) Để vay được tín dụng, người trong những gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lậpnhóm gồm năm người có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giống nhau Mỗinhóm bầu một trưởng nhóm và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Saukhi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm gia đình vàkiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập, v.v…
Các nhóm sau khi thành lập sẽ tập hợp lại với nhau, khoảng 5 hoặc 6nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa phương Từ các trưởng nhóm sẽbầu ra trưởng trung tâm, là người chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu
về kỷ cương của ngân hàng và chủ trì cuộc họp hàng tuần Tất cả các thành viên
sẽ dự một khóa hướng dẫn kéo dài một tuần, mỗi ngày hai giờ Nội dung chủ yếucủa khóa học này là ngân hàng giới thiệu một số quy định về điều kiện vay vốncũng như giải đáp các thắc mắc của nguuwowif dân
Tại mỗi cuộc họp hàng tuần, mỗi thành viên đóng góp một taka (Đơn vịtiền tệ của Bangladesh) vào quỹ nhóm Ban đầu chỉ có hai thành viên được vaytiền Thêm hai người nữa được vay nếu hai người vay đầu tiên trả nợ đúng hạntrong hai tháng đầu tiên Người cuối cùng (thường là trưởng nhóm) phải đợithêm hai tháng nữa cho đến khi những người vay tiền trước mình chứng tỏ làđáng tin cậy Mỗi khoản vay phải được trả dần hàng tuần trong vòng một năm.Nếu một người vỡ nợ, những người khác trong nhóm sẽ không được vay Do đó,
áp lực của các thành viên trong nhóm là một yếu tố quan trọng bảo đảm mỗithành viên sẽ trả nợ đầy đủ Ngoài việc đóng góp 1 taka mỗi tuần, mỗi thànhviên khi vay được tiền phải đóng góp 5% tiền vay vào quỹ nhóm Các thành viên
có thể vay mượn từ quỹ này với bất cứ mục đích gì, kể cả trả nợ ngân hàng haytiêu dùng Nhờ đó, họ có thể hỗ trợ nhau trả nợ ngay cả lúc gặp hoàn cảnh khókhăn, và tránh dùng khoản vay ban đầu để tiêu dùng Tiền vay từ quỹ nhóm cũngphải được trả hàng tuần Mỗi nhóm còn lập quỹ khẩn cấp với mức đóng gópbằng 4% tiền vay ngân hàng Quỹ này chỉ dùng để giúp thành viên trả nợ trongtrường hợp cấp bách như có tử vong, bị mất cắp hay thiên tai; do vậy, quỹ nàygiống như một khoản bảo hiểm Bằng các dịch vụ tiết kiệm-tín dụng linh hoạt,
Trang 9Ngân hàng Grameen đã rất thành công trong việc tiếp cận được tầng lớp nghèonhất (đặc biệt là phụ nữ nông thôn không có tài sản), đạt tỉ lệ thu hồi nợ gần100% và nâng cao vị thế kinh tế xã hội của khách hàng Grameen đặc biệt nhấnmạnh những khía cạnh xã hội và con người trong quá trình phát triển của ngườinghèo, chứ không chỉ dừng lại ở chương trình tiết kiệm- tín dụng thông thường[18].
Hệ thống ngân hàng làng xã của Bank Rakyat Indonesia: Được thành lập
vào năm 1984 theo hình thức chuyển ngân hàng quốc doanh chuyên về phát triểnnông nghiệp Bank Rakyat Indonesia (BRI) thành hệ thống Unit Desa (UD), tức
là ngân hàng làng xã Là một dơn vị trực thuộc BRI, UD là đơn vị hạch toán độclập có lãi, và toàn quyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh Đặc điểmnổi bật của ngân hàng này khi cho vay là không yêu cầu thế chấp tài sản, dựa vào
uy tín của những người chủ địa phương đối với các đối tượng vay mà ngân hàng
có thể tiến hành cho vay Hay nói cách khác chỉ cần có người đại diện của cộngđồng giới thiệu thì lúc đó ngân hàng sẽ tiến hành cho vay mà không sợ vỡ nợ.Bên cạnh đó ngân hàng cũng áp dụng nhiều hình thức khuyến mãi cho những đốitượng đi vay như: người đi vay trả nợ đúng hạn hì sẽ được hoàn trả một phần lãi.Ngoài các chương trình cho vay hiệu quả, UD cũng có nhiều dịch vụ tài chínhkhác Nổi bật nhất làdịch vụ tiết kiệm linh hoạt, với giờ giấc hoạt động thuận tiệncho khách, môitrường thân thiện, cho rút tiền không hạn chế, và nhiều biện phápkhuyến mãi như tiền thưởng và rút thăm
Kết quả là hệ thống UD đã tự lực được về tài chính, và bắt đầu có lãi lớn chỉ vài năm sau khi ra đời Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 1997-
1998, UD vẫn đứng vững, tăng số tiền gởi tiết kiệm trong khi tỉ lệ vỡ nợ hầu nhưkhông tăng Đến năm 1999, UD có 2,5 triệu khách vay tiền, và khoảng 20 triệu tài khoản tiết kiệm Hiện nay, UD có mặt trên toàn quốc với khoảng 3.700 ngân hàng làng xã [3]
2.3.2 Tín dụng nông nghiệp-nông thôn ở Việt Nam
Chiếm hơn 70% dân số và hơn 72% lực lượng lao động, nhưng đến naykhu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam cũng chỉ chiếm dưới 25% tổng dư nợ
Trang 10cho vay nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng Là khu vực sinh lời thấp, chiphí cao, nhiều rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh, khả năng trả nợ của kháchhàng thấp…) nên luồng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn thương mại đổ vào khôngnhiều
Trong 5 năm 2003-2007, Việt Nam đầu tư cho phát triển nông nghiệp đạt113.000 tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn đầu tư Nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhucầu của khu vực này (tính đến ngày 31/5/2010, dư nợ đối với lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn đã đạt trên 315.000 tỷ đồng) Đầu tư cho khuyến nông chỉ là0,13% GDP (trong khi các nước khác là 4%)
Dư nợ cho vay tập trung chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sôngCửu Long, chiếm khoảng 49% tổng dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệpnông thôn Phần còn lại tập trung cho khu vực Duyên hải Miền Trung, chiếmkhoảng 14,43%, đồng bằng Bắc Bộ 17,21%, Miền núi phía Bắc 9,86%, TâyNguyên 9,4% [11]
Mặc dù hiện tại thị trường tài chính nông thôn Việt Nam đang được tiếpnhận nhiều nguồn vốn đầu tư đa dạng như: vốn ngân sách nhà nước; vốn tíndụng nông nghiệp lãi suất ưu đãi đầu tư các dự án; vốn tín dụng lãi suất ưu đãicho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách… Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng tại khu vực này còn nghèo nàn Trong đó chủ yếu là tín dụngtruyền thống, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụngnông nghiệp còn rất hạn chế, gần như mới phát triển ở mức thử nghiệm, sảnphẩm tín dụng của ngân hàng chưa bao gồm các dịch vụ hỗ trợ đi kèm, các công
cụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp hầu như chưa có Quy trình cung cấp tín dụngcòn phức tạp, chưa phù hợp với trình độ của người dân, đặc biệt là các thủ tụcliên quan đến tài sản thế chấp là đất đai; không đáp ứng kịp thời vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh và lãi suất các khoản cho vay thương mại đối với nôngnghiệp – nông thôn còn ở mức rất cao Hơn nữa, các nguồn tín dụng đầu tư cònmất cân đối, khả năng huy động vốn tại chỗ chưa cao; sử dụng vốn tín dụng vàđầu tư còn tình trạng bị động, bất hợp lý, dàn trải, chồng chéo, nhiều chươngtrình, dự án kinh tế không được đầu tư đúng hướng, đúng tiến độ gây thất thoát
Trang 11tài sản…Thậm chí, đến nay chưa có một thống kê đầy đủ, chính xác nào về tổngnguồn vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp, thực trạng và nhu cầu vốn đầu tư
cho từng địa bàn, từng đối tượng cụ thể trong nông nghiệp [11].
2.4 Vai trò và đặc điểm của kinh tế hộ
2.4.1 Vai trò của kinh tế hộ
Kinh tế gia đình là loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển
ở nhiều nước trên thế giới Sự trường tồn của hình thức sản xuất này đang tựchuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội phát triển - xã hội,góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước Ở Việt Nam,kinh tế hộ gia đình cũng có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nềnkinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phátđiểm thấp, kinh tế hộ gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến Đây là môhình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Hiện nay, kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phầnkinh tế, nhưng là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tếkhác Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ.Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trìnhsản xuất và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinhdoanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình ở nước ta, kinh tế
hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đìnhnông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp Kinh tế hộ gia đìnhhiện đang phát triển và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nôngnghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp, kinh doanh [1]…
2.4.2 Đặc điểm của kinh tế hộ
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng [16]
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
tự cấp, tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
Trang 12- Đặc điểm kinh tế hộ nông dân Kinh tế nông hộ nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc điểm:
• Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ
sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Nhờ giá trị xã hội của nông dânhướng vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất
• Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại
sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân
• Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăngthời gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động)
• Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi
ro cao và hiệu quả đầu tư thấp
• Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nôngnghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập Tuy vậy, ở tất cả các xã hộinền kinh tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do
áp lực của các chế độ hiện hành gây ra
• Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích củatoàn xã hội thông qua địa tô, thuế và sự chênh lệch về giá cả Các tiến bộ kỹthuật làm giảm giá trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giáthành và giá cả của sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, nông dân chỉ còn có khảnăng tái sản xuất đơn giản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài Các hộ nôngdân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệpvới các mức độ rất khác nhau
2.5 Hệ thống các tổ chức tín dụng nông nghiệp-nông thôn ở Việt Nam
2.5.1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hìnhtổng công ty 90, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo luật các
tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng NN-PTNT đượcxác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông quaviệc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
Trang 13sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sựnghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Đến cuối năm 2005, vốn tự có củangân hàng NN-PTNT Việt Nam đạt 7.702tỷ VND, tổng tài sản có trên 190 ngàn
tỷ, hơn 2000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán bộ nhân viên (chiếm40%tổng số CBCNV toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng công nghệhiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo… Đến nay,tổng số Dự án nước ngoài mà ngân hàng NN-PTNT Việt Nam tiếp nhận và triểnkhai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua ngânhàng NN-PTNT là 1,5 tỷ USD Hiện nay ngân hàng NN-PTNT Việt Nam đã cóquan hệ đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, làthành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn Đến cuối năm
2007, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220lần so với ngày đầu thành lập Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷđồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu
hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạndoanh nghiệp dư nợ Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng tỉ lệ vốn huy động chiếm
đa số [10]
2.5.2 Ngân hàng Chính sách Xã hội
Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCS-XH) được thành lập theo Quyếtđịnh 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủtrên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo Việc xây dựng Ngânhàng Chính sách Xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là
hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sáchcần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các
tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn,miền núi, vùng sâu, vùng xa Ngân hàng Chính sách Xã hội có bộ máy quản lý
và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, với vốn điều lệ ban đầu là 5nghìn tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ.Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội là 99 năm NHCS-XHhoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng
Trang 14chính sách khác Bộ máy quản trị của Ngân hàng Chính sách Xã hội bao gồm:Hội đồng quản trị tại Trung ương, 64 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh,thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện Ngânhàng CS-XH cho hộ nghèo vay dưới nhiều hình thức khác nhau, để nguồn vốn
có thể đến tay người nghèo [7]
2.5.3 Các tổ chức tín dụng khác
Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương được coi là một kênh dẫn vốn thiếtthực đối với nhiều người dân Hiện Quỹ tín dụng nhân dân trung ương có 24 chinhánh, 1.018 Quỹ tín dụng cơ sở Đến hết năm 2008, tổng nguồn vốn hoạt độngcủa Quỹ tín dụng Trung ương đạt 6.352 tỷ đồng, tăng 1,7% so với năm 2007;vốn điều lệ đạt 612,5 tỷ đồng; tổng số các quỹ tích lũy từ lợi nhuận ròng là 111
tỷ đồng, tăng 18% Số dư nguồn vốn huy động đạt 3.985,4 tỷ đồng, chiếm 62,7%tổng nguồn vốn Dư nợ cho vay trong hệ thống 2.238 tỷ đồng [13]…
Để hoạt động hiệu quả, góp phần phát triển sản xuất, bảo đảm an sinh xãhội, các Quỹ tín dụng tiếp tục tăng cường huy động nguồn vốn từ dân cư, tổ chứckinh tế; đẩy mạnh hoạt động trên thị trường liên ngân hàng và với các Tổ chứctín dụng; mở rộng sản phẩm, dịch vụ Hệ thống Quỹ tín dụng phấn đấu tăngtrưởng nguồn vốn huy động 25-30%; tăng nguồn vốn tín dụng 20-25% Mở rộngđịa bàn hoạt động, tăng cường huy động vốn, cho vay, tiếp cận thành viên, nângcao mối liên kết hệ thống, đưa các sản phẩm, dịch vụ đến khách hàng Quỹ tíndụng đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực công nghệ thông tin và dịchvụ; nâng cao năng lực quản trị điều hành nguồn nhân lực [13]…
Hoạt động tín dụng nông nghiệp-nông thôn có tính rủi ro cao cho nên hiệnnay, nhiều ngân hàng thương mại, các cá nhân cho vay tuy có tham gia vàonhưng rất hạn chế
Trang 15Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các tổ chức, nhóm tín dụng đang hoạt động trên địa bàn xã Đức Bồng.
- Những hộ sản xuất, kinh doanh trên địa bàn xã Đức Bồng.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
- Tập trung nghiên cứu những hộ có vay vốn và có nhu cầu vay vốn để sảnxuất
- Thời gian nghiên cứu: 1/2011-5/2011
3.2 Nội dung nghiên cứu
● Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Đức Bồng, huyện VũQuang, tỉnh Hà Tĩnh Đánh giá những thuận lợi, khó khăn cho sự phát triển kinhtế-xã hội nói chung, sự phát triển của hệ thống tín dụng nông nghiệp-nông thônnói riêng
● Tìm hiểu về hệ thống tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã ĐứcBồng bao gồm:
- Hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã ĐứcBồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
- Quy chế hoạt động tín dụng của tín dụng nông nghiệp-nông thôn: đốitượng vay, mức vay, lãi suất, thời hạn vay, các hoạt động hỗ trợ
- Kết quả hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã:nguồn vốn cho vay, tổng lượt vay, tổng số vốn giải ngân
- Thuận lợi và khó khăn của hoạt động tín dụng nông nghiêp-nông thôntrên địa bàn xã
● Tìm hiểu tình hình vay vốn của người dân trên địa bàn xã bao gồm các nộidung: Tình hình vay vốn của người dân, vấn đề quan tâm nhất của người dân khi
Trang 16tham gia vay vốn và đánh giá của người dân về hoạt động tín dụng trên địa bàn
- Tình hình vay vốn theo lĩnh vực sản xuất của các hộ điều tra
● Đánh giá kết quả hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn với các tiêuchí thay đổi thu nhập và cơ cấu thu nhập và thay đổi tiện nghi sinh hoạt vàphương tiện sản xuất của hộ sau khi vay vốn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm và mẫu nghiên cứu
- Chọn điểm nghiên cứu: dựa trên các tiêu chí:
+ Điểm nghiên cứu ở khu vực nông thôn có cơ cấu sản xuất nông nghiệpchiếm tỷ lệ cao
+ Điểm nghiên cứu phải có hoạt động tín dụng diễn ra trong các năm2005-2010
Theo tiêu chí trên tôi đã chọn xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh HàTĩnh làm điểm nghiên cứu
- Mẫu nghiên cứu: 60 hộ trên địa bàn xã theo tiêu chí 50% hộ nghèo, 50% hộ
không nghèo
Phỏng vấn người am hiểu: Ban quản lý các tổ chức tín dụng, những người
có trách nhiệm với hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
- Yêu cầu mẫu khảo sát:
+ Các hộ gia đình đang sinh sống trên trên địa bàn xã Đức Bồng
+ Các hộ phân bố đều trên khu vực khảo sát
+ Các hộ khảo sát được lựa chọn ngẫu nhiên
Trang 173.3.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
Từ nhìn nhận bằng trực quan ban đầu và quá trình tiếp xúc phỏng vấn trựctiếp nhà quản lý, người sản xuất nông nghiệp (những người chịu ảnh hưởng trựctiếp của chính sách tín dụng) về tác động của tín dụng đến phát triển kinh tếnông nghiệp của địa phương
3.3.3 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin thứ cấp:
- Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội, phương hướng hoạt động của xã ĐứcBồng
- Báo cáo về hoạt động tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn
- Tài liệu sách báo, tạp chí, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiêncứu
Qua đó nắm được một số vấn đề gồm:
- Tổng quan về địa phương: những thuận lợi và khó khăn trong phát triểnkinh tế, tiềm năng thế mạnh của địa phương, cơ cấu kinh tế, dân số, định hướngphát triển trong thời gian tới
- Hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã ĐứcBồng
- Hoạt động sản xuất trên địa bàn xã
- Khả năng chuyển đổi hoạt động sản xuất của nông hộ
- Hiệu quả của các hoạt động sản xuất
Thu thập thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn sâu người am hiểu ở địa phương: cụ thể tôi sẽ tiến hànhphỏng vấn các trưởng thôn, cán bộ hội phụ nữ, cán bộ hội nông dân, phó chủ tịch
xã để thu thập thông tin
- Phỏng vấn hộ: Phỏng vấn 60 hộ sản xuất nông nghiệp có tham gia hoạtđộng tín dụng nông nghiệp –nông thôn trên địa bàn xã theo phương pháp phỏngvấn bán cấu trúc với các câu hỏi đóng, mở để thu thập thông tin
Loại thông tin thu thập:
- Hoạt động tín dụng nông-nghiệp nông thôn trên địa bàn xã
Trang 18- Hoạt động vay vốn của nông hộ.
- Hoạt động sản xuất của nông hộ
- Thu nhập và cơ cấu của thu nhập trong nông hộ
- Kết quả hoạt động sản xuất của hộ khi sử dụng vốn vay
- Chất lượng cuộc sống của nông hộ
- Thuận lợi và khó khăn khi vay vốn để sản xuất
3.3.4 Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý thông qua phần mềm tínhtoán Microsoft Excel đối với các số liệu định lượng
Các số liệu định tính xử lý để đưa ra nhận xét cho các thông tin đó
3.4 Một số chỉ tiêu đánh giá tác động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn tới hoạt động sản xuất của nông hộ
- Mức đầu tư cho hoạt động sản xuất của hộ: số hộ và số vốn đầu tư chohoạt động sản xuất khi được vay vốn
- Tác động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn tới chuyển dịch cơ cấu sảnxuất trên địa bàn xã: số hộ và hình thức chuyển dịch cơ cấu sản xuất sau khi vayvốn; hiệu quả đưa lại
- Thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ: mức tăng của thu nhập, sự bềnvững của thu nhập và thay đổi cơ cấu thu nhập của các hộ vay vốn
- Thay đổi tiện nghi sinh hoạt và phương tiện sản xuất: số lượng và giá trịcủa các loại tiện nghi sinh hoạt và phương tiện sản xuất của các hộ sau khi vayvốn
- Khả năng giải quyết việc làm: khả năng tạo ra việc làm của các hộ( tăng mức độ thường xuyên của công việc nhằm giảm thời gian rảnh rỗi củangười dân do đặc điểm sản xuất theo mùa vụ của hoạt động nông nghiệp đưalại ) sau khi vay vốn
Trang 19Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Đức Bồng
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
● Vị trí địa lý
Đức Bồng là một xã miền núi nằm ở phía Bắc huyện Vũ Quang, tỉnh HàTĩnh cách thành phố Hà Tĩnh 70km về phía Đông Nam
- Phía Bắc giáp huyện Đức Thọ
- Phía Nam giáp thị trấn Vũ Quang
- Phía Đông giáp xã Đức Hương
- Phía Tây giáp xã Đức Lĩnh
Địa bàn xã có hơn 2 km sông Ngàn Sâu chảy qua, có đường tỉnh lộ 5 vàđường Ân Phú-Cửa Rào đi qua, giáp với thị trấn Đây là điều kiện thuận lợi choviệc đi lại, giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá cũng như việc tiếp cận các tổchức tín dụng của các hộ dân trong xã
● Khí hậu, thời tiết
Nằm trong khu vực miền Trung, phía Bắc Đèo Ngang khí hậu của ĐứcBồng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên do ảnh hưởng của vị trí địa lýnên ngoài những đặc điểm chung, khí hậu nơi đây có những nét đặc thù riêngcủa một vùng đồi núi
Mang tính chất chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Đức Bồng có haimùa gió trong năm: gió mùa mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịutác động của gió mùa Đông Bắc) và gió mùa mùa hạ (bắt đầu từ tháng 4 đếntháng 9, chịu tác động của gió Tây thổi từ vùng thượng Lào, có đặc điểm là khô
và nóng) Nhiệt độ trung bình hằng năm là 24,50C, nhiệt độ cao nhất là 40,20C(tháng 7), thấp nhất là 8,60C (tháng 1) Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên
có những mùa đông nhiệt độ thấp xuống dưới 100C
Trang 20Tổng lượng mưa khá lớn , trung bình 2304,5mm/năm, mưa tập trung vàotháng 8, tháng 9 mưa ít nhất vào các tháng 2, 3,5 Riêng lượng mưa tháng 8, 9chiếm gần 1/2 lượng mưa cả năm, vì vậy, thường gây lũ lụt cho vùng.
Độ ẩm tương đối cao, trung bình 85%, các tháng mùa đông trung bình92%, thời kỳ khô kéo dài 4-5 tháng, từ tháng 4 đến tháng 8, độ ẩm trung bình70%
● Địa hình, đất đai
- Địa hình:
Là xã thuộc huyện miền núi Vũ Quang, nằm ở sườn phía Đông của dãyTrường Sơn Bắc ở độ cao trung bình 700m so với mực nước biển Địa hình đồinúi chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên phân hoá tương đối phức tạp, khôngbằng phẳng, bị chia cắt bởi nhiều sông suối Vì vậy, giao thông thuỷ lợi cònnhiều khó khăn
- Đất đai:
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, đóng vai trò hết sức quan trọng và cầnthiết cho mọi hoạt động sản xuất Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệusản xuất đặc biệt, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và chấtlượng sản phẩm
Tiềm năng đất đai của xã tương đối lớn nhưng hiện tại mới khai thác sửdụng được gần 75%, trong đó chủ yếu là đất lâm nghiệp, đất sản xuất nôngnghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ, mặt khác chất lượng và hiệu quả sản xuất củacác hộ nông dân còn rất yếu kém Đất nông nghiệp có xu hướng giảm xuống quamỗi năm trong đó chủ yếu là giảm diện tích đất hằng năm, nguyên nhân chính là
do chuyển đổi sang đất nhà ở, đất chuyên dụng Diện tích đất lâm nghiệp giảm,trở thành những vùng đất trống đồi núi trọc, làm cho đất chưa sử dụng tăng lên
Trang 21Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Trang 22● Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất:
Đất đai của xã chủ yếu thuộc nhóm đất feralit (đỏ vàng), chiếm đại bộphận diện tích Ngoài ra còn có đất dốc tụ ở các thung lũng, đất phù sa ven sôngsuối, đất nâu vàng trên phù sa cổ , các loại đất này chiếm diện tích nhỏ và phân
bố rải rác Vì vậy diện tích đất trồng lúa và màu rất hạn chế và độ màu mỡ thấp
Xã có tiềm năng lớn về đất lâm nghiệp, đây chính là tiền đề để phát triểncây lâm nghiệp cũng như kết hợp chăn nuôi trâu, bò Đây là hướng đi phù hợpvới điều kiện của xã
- Tài nguyên nước:
Xã có mật độ sông suối tương đối dày đặc Đặc biệt là có hơn 2 km sôngNgàn Sâu chảy qua và một số hồ tự nhiên có trữ lượng nước tương đối lớn Nếu
hệ thống thuỷ lợi được đầu tư tốt sẽ cung cấp đầy đủ nước tưới cho cây trồngtrên toàn xã
4.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội
● Tình hình dân số và lao động
Trang 23Bảng 2: Dân số và cơ cấu lao động của xã Đức Bồng qua các năm 2008-2010
Chỉ tiêu
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Qua bảng 2 cho thấy, dân số trên địa bàn xã có sự biến động không đáng
kể Tiềm năng lao động của xã tương đối lớn nhưng không khai thác hết do thiếuviệc làm, thu nhập thấp, tỷ lệ người ăn theo cao và chất lượng lao động còn thấp.Vấn đề đặt ra là tạo nên ngành nghề phụ để lao động có thêm việc làm và tạo nên
Trang 24thu nhập Chính vì vây, phát triển hệ thống tín dụng NN-NT trên địa bàn xã là rấtquan trọng để người dân có thể tiếp cận các nguồn vốn, phát triển sản xuất.
- Về giao thông, thuỷ lợi: Xã có tỉnh lộ 5 đi qua nối liền với thị trấn Vũ
Quang và huyện Đức Thọ Có tuyến đường Ân Phú-Cửa Rào đi qua, dễ dànggiao lưu với 6 xã vùng hạ của huyện Vũ Quang Đến nay toàn xã đã có hơn 20
km đường nhựa và bê tông, trong đó có hơn 7 km đường tỉnh lộ 5 Hằng năm, xãđầu hàng chục triệu đồng với hàng trăm ngày công của nhân dân để nâng cấp hệthống giao thông của xã Cùng với đó, hệ thống thuỷ lợi cũng được đầu tư đểcung cấp nước cho cây trồng trên địa bàn xã Hiện nay, xã đã xây đựng được gần
5 km kênh mương bê tông và hồ chứa nước Đập Trấm Và đang tiếp tục đầu tưxây dựng nhiều km kênh mương bê tông khác
- Về điện nước: Toàn xã có 5 trạm biến áp, 13/13 thôn có điện lưới quốc
gia, 100% hộ dân đã có điện thắp sáng và 95% hộ dân được sử dụng nước sạchbằng hệ thống giếng đào và giếng khoan
- Về hệ thống thông tin văn hoá: Hệ thống truyền thanh được đầu tư đầy
đủ và đồng bộ trên toàn xã Bên cạnh đó, bưu điện văn hoá xã còn là địa chỉ tincậy của người dân trong xã về hoạt động thư tín, các loại sách báo phục vụ sảnxuất nông nghiệp Đến năm 2010 tỷ lệ họ xem truyền hình trên toàn xã là 85%,bình quân có 20 điện thoại/100dân
- Về giáo dục, y tế: Nhờ hệ thống mạng lưới trường học được đầy tư tương
đối đồng bộ mà chất lượng dạy và học được nâng lên cả đại trà và mũi nhọn, cơ
sở vật chất phục vụ dạy và học được tăng cường Hiện nay, xã có 1 trường tiểu
Trang 25học đạt chuẩn quốc gia và một trường mầm non công lập Phổ cập tiểu học đúng
độ tuổi và hoàn thành phổ cập THCS vững chắc và đang tiến hành xây dựng phổcập THPT
Trạm y tế xã được được nâng cấp về cơ sở vật chất đảm bảo khám chữabệnh ban đầu cho người dân Trong năm 2010, đã tổ chức khám và điều trị cho
2740 lượt người, làm tốt công tác phòng dịch và không để dịch lây lan trên địabàn Tổ chức xử lý vệ sinh nguồn nước cho 608 giếng bị ngập và tiêm chủng đạt
tỷ lệ khá cao sau 2 đợt lũ lịch sử vừa qua
4.1.3 Đặc điểm dân số, lao động và nhà ở của các hộ điều tra
Tình hình dân số và lao động của các hộ điều tra
Bảng 3 Tình hình lao động và nhân khẩu của các hộ điều tra
Hộ không nghèo
Số người ăn theo (trẻ
em, người già)
Trang 26không nghèo, trong khi đó, số lao động chỉ lớn hơn 1.06 lần Điều này cho thấy,khi so sánh với số khẩu ở mỗi nhóm hộ thì số người trong độ tuổi lao động ởnhóm hộ không nghèo lớn hơn nhóm hộ không nghèo Nguyên nhân chính là sốngười ăn theo trẻ em và người già ở nhóm hộ nghèo nhiều hơn hộ không nghèo.Bình quân người ăn theo/hộ ở nhóm hộ nghèo là 1.00 khẩu, nhưng nhóm hộnghèo chỉ là 0.57 khẩu Tuy vậy, vấn đề việc làm, thu nhập đang là những vấn đềcần giải quyết ở cả 2 nhóm hộ Vì vậy, sự phát triển của hệ thống tín dụng NN-
NT trên địa bàn xã sẽ đóng vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm và tăngthu nhập cho người dân
Trang 27 Tình hình nhà ở và công trình phụ của các hộ điều tra
Trang 28hộ có nhà cấp 4, nhóm hộ không nghèo có 93,70% hộ nhà cấp 4 và 6,70% hộ cónhà tầng Vấn đề nước sinh hoạt cũng được người dân quan tâm, gần 76% hộdân trong xã có nước sạch để sinh hoạt 18,40% hộ dân điều tra dùng nước máy
và giếng khoan, 81,60% hộ dân sử dụng nước từ giếng đào Tỷ lệ sử dụng nướcmáy và giếng khoan ở hộ nghèo là 3,30%, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm hộkhông nghèo là 33.30% Có được kết quả đó một phần nhờ hệ thống tín dụngNN-NT trên địa bàn xã Đặc biệt là nhờ nguồn vốn từ chương trình hộ nghèo vềnhà ở và nước sạch VSMT của ngân hàng CS-XH Qua điều tra cho thấy ngườidân không chỉ có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất mà còn có nhu cầu vayvốn để xây dựng và sữa sang lại nhà ở và các công trình sinh hoạt Do đó, hoạtđộng tín dụng trên địa bàn xã sẽ góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và cảithiện cuộc sống của người dân
4.2 Hệ thống tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã
4.2.1 Các tổ chức tín dụng nông nghiệp-nông thôn
Hoạt động tín dụng NN-NT trên địa bàn xã đang phát triển rất mạnh mẽ cả
về số lượng lẫn chất lượng Hiện nay, tại địa phương có rất nhiều tổ chức tíndụng khác nhau nhưng nòng cốt vẫn là hai tổ chức tín dụng cơ bản ở khu vựcnông thôn và miền núi:
- Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Ngân hàng chính sách và xã hội
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sau khi chuyển thànhngân hàng thương mại và chuyển giao nguồn vốn chính sách cho ngân hàngChính sách Xã hội, đã có nhiều thay đổi trong mục tiêu hoạt động kinh doanh.Trước đây ngân hàng NN-PTNT chủ yếu phục vụ cho phát triển ngành nôngnghiệp và khu vực nông thôn, nhưng hiện nay ngân hàng đã mở rộng đối tượngphục vụ và chú trọng hơn đến hoạt động thu hút vốn đầu tư, với phương châmhoạt động "đi vay để cho vay" như nhiều ngân hàng thương mại khác Tuy nhiên,ngân hàng NN-PTNT vẫn chú trọng đến hoạt động tín dụng ở khu vực nôngthôn Hàng năm ngân hàng dành ra khoản vốn cho vay có ưu đãi khu vực nôngthôn khó khăn, và đóng vai trò khá quan trọng trong thị trường tín dụng nông
Trang 29thôn, ngân hàng cung ứng lượng vốn lớn cho những hộ khá không được vay ưuđãi ở ngân hàng Chính sách Xã hội
Ngân hàng Chính sách Xã hội với nhiệm vụ chính là phục vụ cho mục tiêuxoá đói giảm nghèo, không phải ngân hàng thương mại với mục đích kinhdoanh và huy động vốn Vì vậy, nguồn hình thành vốn của ngân hàng chủ yếu
là được hỗ trợ từ ngân sách Trung ương Ngân hàng kết hợp với các tổ chức,các hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niêncộng sản Hồ Chí Minh… để các hội đứng ra hỗ trợ, đảm bảo cho những hộ đặcbiệt khó khăn được vay vốn sản xuất cải thiện đời sống
Bên cạnh hai tổ chức tín dụng trên, trên địa bàn xã Đức Bồng còn có một
số tổ chức tư nhân, do một vài hộ có tài sản đứng ra cho người dân vay vốn.Người vay vốn và cá nhân cho vốn thỏa thuận với nhau bằng hợp đồng vay vốn.Tuy không có quy mô, vai trò và nhiệm vụ như của hai ngân hàng NN-PTNT,ngân hàng CS-XH nhưng phần nào giải quyết được nhu cầu cấp thiết về nguồnvốn của người dân, đặc biệt là nhưng hộ kinh doanh, buôn bán trên địa bàn xã
Trang 304.2.2 Quy chế hoạt động của tín dụng nông nghiệp-nông thôn trên địa bàn xã
• Mối quan hệ giữa người dân với các tổ chức tín dụng
Gửi tiết kiệm
(Nguồn: Thống kê hoạt động tín dụng xã Đức Bồng, 2010)
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với các hộ dân xã Đức Bồng
Qua sơ đồ, ta thấy mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với các hộ dântrên địa bàn xã Đức Bồng Khi vay vốn ở các ngân hàng CS-XH thì các hộ dânphải thông qua hội nông dân, hội cựu chiến binh hoặc đoàn thanh niên để vayvốn Ở ngân hàng NN-PTNT các hộ dân có thể thông qua hội phụ nữ hoặc vaytrực tiếp Khi vay ở tư nhân thì các hộ dân vay trực tiếp thông qua hợp đồng vayvốn của hai bên Như vậy, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn có vai trò quantrọng trong vay vốn của người dân, là cầu nối giữa người dân với các tổ chức tíndụng
Ngân hàng
NN-PTNT
Ngân hàngCS-XH
Tư nhân
Hội phụ nữ
Hội nông dân Hội cựu chiến binh
Đoàn thanh niên
Hộ dân
Vay vốn trực tiếp
Vay vốn thông qua các cơ quan đoàn thể
Ghi chú
Trang 31• Các tổ chức đoàn thể tham gia hoạt động tín dụng trên địa bàn
Hiện nay, trên địa bàn xã có 4 tổ chức đoàn thể tham gia vào hoạt động tíndụng Ở ngân hàng NN-PTNT, hội Phụ nữ do bà Nguyễn Thị Minh làm chủ tàikhoản đảm nhiệm 100% số vốn cho vay Trong khi đó, ở ngân hàng CS-XH cótới 3 cơ quan đoàn thể tham gia: hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, Đoàn thanhniên Hội Nông dân do ông Trần Đình Điền làm chủ tài khoản quản lý ở 9 thôn:
1 Bồng Thượng, 2 Bồng Thượng, 3 Bồng Thượng, 4 Bồng Thượng, 5 BồngThượng, 1 Bồng Thắng, 2 Bồng Thắng, 4 Bồng Thắng và 1 Sơn Lĩnh Hội Cựuchiến binh do ông Trần Đình Thành làm chủ tài khoản quản lý ở 3 thôn: 3 BồngThắng, 5 Bồng Thắng và 6 Bồng Thắng Đoàn thanh niên do anh Trần ĐứcTrường làm chủ tài khoản quản lý thôn 2 Sơn Lĩnh
Các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đóng vai trò quan trọng trong việc vayvốn của người dân, họ chịu trách nhiệm với các tổ chức, chương trình tín dụng
về hộ vay vốn, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho các hộ vay vốn Họ có nhiệm vụ
rà soát, thẩm định các hộ có nhu cầu vay vốn trên địa bàn, đồng thời hướng dẫncho người dân về thủ tục vay vốn, thu lãi hằng tháng cho ngân hàng…
•Quy chế hoạt động tín dụng
Mỗi tổ chức tín dụng hoạt động tại địa phương có quy chế hoạt độngriêng, với lãi suất, thời hạn vay, thủ tục vay và mức vay khác nhau, nhưng nằmtrong quy chế hoạt động tín dụng mà nhà nước quy định
+ Ngân hàng CS-XH: Ưu tiên vay vốn ở những hộ chính sách trên địa bàn
xã Có nhiều chương trình vay và mỗi chương trình có một quy chế khác nhau.Hiện nay, các chương trình vay đang đưa lại hiệu quả thiết thực đối với đời sốngcủa người dân: hộ nghèo, HS-SV, GQVL, nước sạch và VSMT, hộ SXKD tạivùng khó khăn…Người dân vay ở ngân hàng CS-XH không cần thế chấp tài sảnkhi vay
Trang 32Bảng 5 Một số chương trình vay của ngân hàng CS-XH
Chương trình Mức vay
(Đv: Tr.đ)
Thời hạn vay(tháng)
(Nguồn: Thống kê hoạt động tín dụng xã Đức Bồng, 2010)
+ Ngân hàng NN-PTNT: Mọi người dân có nhu cầu vay vốn trên địa bàn
xã đều có thể vay vốn ở ngân hàng NN-PTNT Mức vay mỗi lượt vay không quá
50 Tr.đ, thời hạn vay không quá 48 tháng tùy theo yêu cầu của khách hàng.Trong 3 năm trở lại đây lãi suất vay ở ngân hàng NN-PTNT dao động trongkhoảng 1.25 đến 1.4%, không có ưu tiên lãi suất đối với các hộ chính sách Mặc
dù vay với lãi suất tương đối cao nhưng số vốn giải ngân ở ngân hàng PTNT trên địa bàn xã vẫn lớn Điều này cho thấy nhu cầu vay vốn của người dânlớn Hoạt động cho vay của ngân hàng thông qua hội phụ nữ xã Khi vay vốnphải có thế chấp tài sản ở tất cả các mức vay
NN-+ Tư nhân, họ hàng: Mức vay, thời hạn vay, lãi suất vay tùy thuộc vào
hợp đồng, giấy tờ giữa người đi vay và cho vay Tuy vậy, nhưng mức vay ở tưnhân không quá 40 Tr.đ tùy thuộc vào giá trị tài sản thế chấp, thời hạn vay khôngquá 36 tháng, lãi suất cao từ 2.2 đến 2.6% tùy thuộc vào mức vay Còn vay ở họhàng mức vay nhỏ hơn 10 Tr.đ, thời hạn vay không cố định dao động từ 12 thángđến 60 tháng và hầu như không có trả lãi suất
Trang 334.2.3 Kết quả hoạt động tín dụng của một số tổ chức tín dụng trên địa bàn xã
Kết quả hoạt động của ngân hàng NN- PTNT
Do vận dụng sáng tạo, các chủ trương, giải pháp kinh doanh của ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam vào thực tế địa phương,bám sát địa bàn và mở rộng mạng lưới hoạt động, thay đổi phong cách giaodịch, tiếp thị khách hàng, nên kết quả kinh doanh của ngân hàng tại địa phương
đã có những chuyển biến tích cực trong các hoạt động kinh doanh của ngânhàng Hoạt động tài chính, ngân hàng, thương mại dịch vụ đảm bảo ổn định tạođiều kiện cho phát triển KT-XH trên địa bàn Hoạt động đầu tư tín dụng của chinhánh đã hướng vào các thành phần kinh tế, hộ sản xuất, kinh tế trang trại trong
đó chủ yếu là khu vực nông nghiêp, nông thôn Hoạt động tín dụng của ngânhàng trên địa bàn xã đã bám sát các mục tiêu chương trình như: cho các hộ nôngdân vay mua máy móc sản xuất nông nghiệp, cho vay phát triển chăn nuôi giasúc, gia cầm
Bảng 6 Doanh số cho vay của ngân hàng NN-PTNT
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
Trang 34Ngành khác 4723 45.67 4978 45.02 5568 46.38
Số tiền vay bình
quân/ hộ
(Nguồn: Thống kê hoạt động tín dụng xã Đức Bồng, 2010)
Từ bảng phân tích cho thấy doanh số cho vay phân theo từng ngành tăngđều qua các năm Ngân hàng NN-PTNT đã chuyển dịch dần cơ cấu cho vay giữacác ngành, tăng tỉ lệ vốn cho vay đối với các ngành nghề khác và cho vay làmdịch vụ đây là mảng dễ thu hồi vốn và rủi ro thấp hơn so với cho vay chăn nuôi
và trồng trọt Trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng NN-PTNT doanh sốcho vay ngắn hạn chiếm tỉ trọng lớn hơn cho vay trung và dài hạn Năm 2008doanh số cho vay ngắn hạn chiếm 71.85%, trung và dài hạn chiếm 28.15%; năm
2010 cho vay ngắn hạn chiếm 73.59% cho vay trung và dài hạn chỉ chiếm26.41% tổng doanh số cho vay trong năm
Bảng 7 Dư nợ của ngân hàng NN-PTNT
Chỉ tiêu
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
(Nguồn: Thống kê hoạt động tín dụng xã Đức Bồng, 2010)
Tổng dự nợ hàng năm của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nôngthôn tăng Các khoản nợ quá hạn tăng năm 2008 có 90 triệu, năm 2010 có 124triệu Nợ khó đòi giảm năm 2008 là 12 triệu, năm 2010 là 8 triệu
Kết quả hoạt động của ngân hàng CS- XH
Trang 35Trong năm 2008-2010 ngân hàng CS-XH tại địa phương đã thực hiện tốtchức năng nhiệm vụ Các hoạt động giao dịch tại xã được ngân hàng thông quacác cơ quan đoàn thể, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo và các đối tượngchính sách khác có cơ hội tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn vay ưu đãi Vì vậy,hoạt động của ngân hàng tại địa phương có chuyển biến tích cực Doanh số chovay tăng lên, năm 2008 là 8.305 tỷ đồng, năm 2010 là 11.031 tỷ đồng Thời gianvay được kéo dài hơn, với lượng vốn cho vay trung hạn và dài hạn chiếm tỉ trọnglớn hơn (năm 2008 chiếm 87.68%, năm 2010 tăng lên 88.18%) Thời gian vayđược kéo dài cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ngườiđi vay Ngân hàng CS-XHchủ yếu phục vụ đối tượng là người
nghèo để sản xuất kinh doanh nông nghiệp, là ngành có chu kỳ sản xuất và thờigian quay vòng vốn dài, tạo cơ hội nhiều hơn cho hộ nông dân Lượng vốn vaytrung bình đến từng hộ cũng được tăng lên đáng kể, năm 2008 trung bình mỗi hộchỉ được vay 10.53 triệu đồng, năm 2010 tăng lên 12.89 triệu đồng Vốn vaytăng lên tạo điều kiện cho các hộ nghèo mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, kinhdoanh
Trang 36Bảng 8 Doanh số cho vay của ngân hàng CS-XH
Chỉ tiêu
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
Trang 37Bảng 9 Dư nợ của ngân hàng CS -XH
Chỉ tiêu
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
Tỷ lệ
%
Sốlượng(Tr.đ)
(Nguồn: Thống kê hoạt động tín dụng xã Đức Bồng, 2010)
Qua bảng 9, tổng dư nợ của ngân hàng CS-XH hoạt động tại xã tăng trong
3 năm (2008-200), năm 2008 là 10.383 tỷ đồng, năm 2010 là 13081 tỷ đồng.Nhưng nợ quá hạn cũng có xu hướng tăng lên (năm 2008 chiếm 1.16%, năm
2010 chiếm 1.28 so với tổng dư nợ) Điều này cho thấy hoạt động của ngân hàngtrên địa bàn vẫn chưa thật sự hiệu quả
4.3 Tình hình vay vốn của các hộ điều tra
4.3.1 Tình hình vay vốn của các hộ điều tra
Qua bảng 10, tổng lượt vay của các hộ điều tra là tương đối cao, hầu hếtcác hộ đều vay vốn ở các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã để sản xuất, kinhdoanh Tình hình vay vốn giữa hai nhóm hộ tại xã có sự khác nhau khi vay ở các
tổ chức tín dụng khác nhau Ở ngân hàng NN-PTNT, chỉ có 5 lượt hộ nghèo vayvốn chiếm 6.49%, ở nhóm hộ không nghèo có 18 lượt vay chiếm 23.38% Trongkhi đó, ở ngân hàng CS-XH có 27 lượt vay của nhóm hộ nghèo chiếm 35.06%,nhóm hộ không nghèo chỉ có 20 lượt vay chiếm 25.97% Vay ở tư nhân và họhàng không có sự chênh lệch lớn giữa 2 nhóm hộ Như vậy ta thấy, các hộ vay ởngân hàng NN-PTNT hầu hết là những hộ trung bình trở lên Các hộ vay ở ngânhàng CS-XH là những hộ nghèo, hộ chính sách được ngân hàng ưu đãi lãi suấttheo quy định của nhà nước Như vậy, với 60 hộ điều tra, có 55 hộ đang vay vốn
ở các tổ chức tín dụng chính thức hoặc không chính thức trên địa bàn xã, với
Trang 38tổng lượt vay là 77 lượt Trong đó, vay ở các tổ chức tín dụng chính thức là 70lượt, ở các tổ chức không chính thức chỉ có 7 lượt vay
Mặc dù, nhu cầu vay vốn của người dân trên địa bàn xã tương đối lớnnhưng tổng lượt vay của các hộ dân ở các tổ chức tín dụng không chính thức rất
ít Nguyên nhân là do lãi suất của các tổ chức tín dụng không chính thức rất cao
so với hoạt động sản xuất của người dân Điều này chứng tỏ các tổ chức tín dụngchính thức tại địa phương hoạt động hiệu quả, góp phần giải quyết được nhu cầuvốn của người dân
Bảng 10 Tình hình vay vốn của các hộ điều tra từ các tổ chức tín dụng
Nguồn
Tổng số lượt vay
Số lượt vay