1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế

53 347 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Quản lý thủy sản biển, Phát triển cộng đồng, Sinh kế và đa dạng sinh kế
Thể loại Nghiên cứu sinh thái cộng đồng
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 5,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với khai thác ven bờ thì việc đánh bắt diễn ra trong ngày, sử dụngthuyền có công suất nhỏ, số lượng người trên thuyền khoảng 3-5 người hoặcnhiều hơn với các loại ngư cụ truyền thống

Trang 1

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay khai thác thủy sản ( KTTS) biển là một trong những lĩnh vựcđóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của các tỉnh ven biển Cả nước

có đường bờ biển dài khoảng 3280km cùng với nhiều đầm phá, eo vịnh biển

đã tạo điều kiện cho việc tiến hành các hoạt động KTTS phát triển góp phầncải thiện đời sống cho ngư dân

Trong những năm trở lại đây, số lượng tàu thuyền toàn tỉnh Thừa ThiênHuế tăng lên do hiệu quả từ ngành thủy sản mang lại Đến nay, toàn tỉnh có4.261 chiếc tàu thuyền, với tổng công suất hơn 72.000 CV, trong đó có 186chiếc tàu đánh bắt xa bờ có công suất từ 90 - 250 CV (tăng 46 chiếc so vớinăm 2007)

Xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế là một xã có hơn

3 km đường bờ biển rất thuận lợi cho ngành KTTS biển phát triển, ngư dân ởđây đánh bắt gần bờ là chủ yếu với các hoạt động khai thác đa dạng gắn bó từrất lâu như đi câu, dạ ruốt, lưới Trong những năm gần đây, sản lượng khaithác tăng mạnh nên một số ngư dân đã mạnh dạn đầu tư thêm cho khai thác,bên cạnh sắm thêm ngư cụ, đóng thuyền có công suất lớn hơn thì sự hợp táctrong KTTS cũng phát triển nhằm mang lại hiệu quả cao hơn, nhưng chưa thểhình thành một tổ chức cộng đồng để quản lý hoạt động KTTS đang diễn ramột cách tự phát Bên cạnh đó đa dạng hóa các hoạt động cho thu nhập nhưlàm dịch vụ du lịch, buôn bán, chăn nuôi đã làm thay đổi sinh kế của một bộphận ngư dân trước đây chỉ sống phụ thuộc vào biển Tuy nhiên cộng đồngngư dân ven biển vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, đời sống phụ thuộc hoàntoàn vào biển nên cuộc sống vẫn còn bấp bênh, bên cạnh đó đất cát hoang hóakhông thể canh tác nên người dân phải tốn chi phí mua lương thực thực phẩm,đồng thời những bất cập trong quản lý KTTS như đánh bắt nguồn lợi hủy diệt,

sử dụng mắt lưới nhỏ, không có quy định về ngư trường nên thường xảy ranhững mâu thuẫn chưa được giải quyết Và hiện nay BĐKH diễn ra đã vàđang tác động nhiều mặt đến hoạt động KTTS và đời sống sinh hoạt của

Trang 2

nhiều hộ ngư dân ven biển, thêm vào đó nhận thức về nguồn lợi thủy sản biểnđang bị suy kiệt trong ngư dân vẫn còn kém Vì vậy việc nghiên cứu sinh kếcộng đồng ngư dân ven biển để hiểu thêm những hoạt động khai thác và hìnhthức hợp tác đang diễn ra, cũng như vai trò của KTTS biển và các hoạt động

đa dạng sinh kế đang được áp dụng

Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“ Đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế ”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu các hoạt động sinh kế và đa dạng sinh kế của cộng đồng ngưdân sống dựa vào khai thác thủy sản biển

- Tìm hiểu thay đổi hoạt động khai thác thủy sản biển và đánh giá vaitrò hoạt động này đối với sinh kế của ngư dân

- Tìm hiểu các hình thức hợp tác và vai trò của các tổ chức cộng đồngtrong hoạt động khai thác thủy sản biển

- Tìm hiểu thực trạng quản lý thủy sản biển và ảnh hưởng của biến đổikhí hậu đối với sinh kế ngư dân

Trang 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Các khái niệm liên quan

- Khái niệm về sinh kế

Theo từ điển Tiếng Việt : Sinh kế là một cách để sống

Theo Chamber and Conway ( 1992) : Một sinh kế bao gồm khả năng,tài sản ( các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếpcận) và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống

Theo Ellis : Một sinh kế bao gồm tài sản ( tự nhiên, phương tiện vậtchất, con người, tài chính và vốn xã hội), các hoạt động, và việc tiếp cận đếncác tài sản và các hoạt động này ( qua thể chế và quan hệ xã hội), tất cả cùngnhau xác định sự sống mà cá nhân hay hộ gia đình nhận được.[12]

Theo DFID: Sinh kế có thể được mô tả là tập hợp của việc sử dụng cácnguồn lực thực hiện các hoạt động để sống Các nguồn lực có thể bao gồm kỹnăng và khả năng ( vốn con người) của một cá nhân, đất đai, tiết kiệm vàtrang thiết bị ( vốn tự nhiên, tài chính và vật chất), các nhóm hỗ trợ chính thứchay các mạng lưới không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi hoạt động ( vốn

xã hội).[12]

- Khái niệm về cộng đồng

Theo Tô Duy Hợp và cộng sự ( 2000) : Cộng đồng là một thực thể xãhội có cơ cấu tổ chức ( chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm ngườicùng chia sẽ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung đượcthiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên

Cộng đồng cũng có thể là những nhóm người từ các khu vực địa lýkhác nhau nhưng có các đặc điểm chung về kinh tế, xã hội, nhân văn, môitrường, tổ chức, mối quan tâm và quan điểm

Như vậy cộng đồng là một nhóm người có cùng một hay nhiều đặcđiểm chung nào đó Tuy nhiên khái niệm cộng đồng là một khái niệm động

Nó cung cấp một phương thức tiếp cận các đối tượng xã hội dựa vào các tiêuchí nghiên cứu hay các hoạt động cụ thể đặt ra.[10,17-18]

Trang 4

2.2 Đặc điểm sinh kế cộng đồng ngư dân ven biển

Việt Nam có 28 tỉnh và thành phố có đường bờ biển đã hình thành nênmột cộng đồng ngư dân ven biển với sinh kế phần lớn phụ thuộc vào khai thác

và nuôi trồng thủy sản là chính[11] Trong hoạt động KTTS biển của ngư dânhiện nay có hai hoạt động khai thác phổ biến là khai thác ven bờ và khai thác

xa bờ Đối với khai thác ven bờ thì việc đánh bắt diễn ra trong ngày, sử dụngthuyền có công suất nhỏ, số lượng người trên thuyền khoảng 3-5 người hoặcnhiều hơn với các loại ngư cụ truyền thống như lưới, câu, mùng… Đối vớikhai thác xa bờ thì sinh kế của ngư dân là hoàn toàn dựa vào nguồn lợi thủysản biển, mỗi chuyến đi như vậy kéo dài cả tháng, số lượng lao động trênthuyền khoảng trên 10 người, loài thủy sản khai thác cũng đa dạng hơn vớinhững loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ đại dương, cá cờ, cá thu… Nhữnghoạt động khai thác trên biển hoàn toàn do nam giới đảm nhận bởi tính chấtcông việc nặng về sức lực và sự dẻo dai trong khai thác, còn nữ giới chỉ cónhiệm vụ bán sản phẩm sau khi khai thác và làm thêm các hoạt động cho thunhập khác như đan lưới, thủ công mỹ nghệ, làm thuê, chăn nuôi… Về SXNN

ở đây vẫn còn hạn chế do đất cát ở đây là đất cát hoang hóa, chỉ dùng để chănnuôi và trồng cây chắn cát, gió Vì vậy thu nhập từ KTTS biển luôn là nguồnthu nhập chính của ngư dân sống bên cạnh các hoạt động đa dạng sinh kếkhác

Việc phát triển hoạt động KTTS biển như hiện nay đã hình thành nêncác làng nghề cá truyền thống, trong đó điển hình là làng nghề KTTS biển.Mỗi làng nghề thường có một nghề khai thác đặc trưng, trước đây các làng cávới tính chất chuyên khai thác hải sản, hiện nay có sự kết hợp giữa khai thác

và chế biến, khai thác kết hợp dịch vụ nghề cá, khai thác kết hợp nghề kháctạo ra sự đa dạng sinh kế trong cộng đồng khai thác thủy sản biển Sự pháttriển của làng cá đã đẩy mạnh quy mô hoạt động sản xuất, số lượng ngư dân,cũng như sự phát triển kinh tế của cộng đồng ven biển Một đặc điểm nổi bậtsinh kế trong cộng đồng ngư dân ven biển so với các cộng đồng khác là đặcđiểm văn hóa, tín ngưỡng đã hình thành và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi ngưdân với các lễ hội cầu ngư, thờ cúng ngư ông cầu mong cho mưa thuận gió

Trang 5

hòa, khai thác được nhiều tôm cá hơn Làng cá truyền thống đã đóng góp vào

sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đời sống của người dân ngày càngđược cải thiện Nhiều làng cá đã thành lập “ tổ đội đánh bắt hải sản, hợp tác

xã, tổ đội, chi hội”… khai thác có hiệu quả, góp phần vào sự bình ổn về anninh, chính trị và bảo vệ chủ quyền biển đảo.[5]

Bên cạnh sự phát triển mạnh về KTTS biển thì cũng tạo điều kiện đểcác ngành dịch vụ phụ trợ phát triển theo như đóng và sữa chữa tàu thuyền,sản xuất nước đá, hậu cần nghề cá, thu mua vận chuyển, chế biến thủy sản…Những ngành nghề này tạo điều kiện để việc khai thác được thuận lợi hơn vàchuỗi sản xuất hàng hóa đem lại hiệu quả cao hơn

Tuy nhiên cộng đồng ngư dân ven biển hiện nay đang phải đối mặt vớinhững thách thức về xã hội và môi trường như tình trạng học sinh bỏ học di

cư vào thành phố, ô nhiễm môi trường biển, nguồn nước giếng khoan bịnhiễm mặn Ngoài ra cường lực khai thác gần bờ ngày một lớn, cùng vớinguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm gây ảnh hưởng lớn tới hiệu quả khaithác của ngư dân, cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá chưa được đầu tư,xây dựng đồng bộ, nhiều làng cá vẫn chưa có khu neo đậu Ngư dân chưa tiếpcận được các nguồn vốn vay, đa phần ngư dân làm theo kinh nghiệm, chưađược đào tạo bài bản qua các khóa học Điều kiện sản xuất hoạt động khaithác của ngư dân phụ thuộc lớn vào thiên nhiên, nguồn lợi, do diễn biến phứctạp của thời tiết nên một số bến bãi, luồng lạch của một số địa phương bị bồilấp, xuống cấp.[5]

Đồng thời do nước ta nằm ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, làkhu vực hàng năm có tần suất bão rất cao, trung bình khoảng 17-20 cơn bãohình thành ở khu vực này, riêng Việt Nam trung bình có khoảng từ 7-10 cơnbão hình thành trên Biển Đông và có khả năng đổ bộ vào đất liền với mức độkhá cao đã gây trở ngại cho việc khai thác đánh bắt của ngư dân[11] Trongnhững năm qua, do tác động của biến đổi khí hậu nên nhiều hiện tượng thờitiết bất thường trái với các quy luật đã xảy ra từ nhiều năm trước và các kinhnghiệm mà cộng đồng ngư dân ven biển đã đúc kết bấy lâu nay Năm 2006

Trang 6

xuất hiện liên tục các cơn bão có đường đi phức tạp trên khu vực Biển Đôngcũng như các cơn bão "trái mùa" tại khu vực biển Nam Bộ làm cho hoạt độngkhai thác thủy hải sản gặp nhiều khó khăn, năm 2009 phải hứng chịu 11 cơnbão và nhiều đợt lũ đã gây ra nhiều ảnh hưởng về vật chất và tinh thần chongư dân ven biển, bên cạnh ngư dân không thể ra khơi khai thác thì những tổnthương, mất mát về người và tài sản là rất khó để bù đắp và khôi phục lại saubao nhiêu năm tích lũy.

Nói tóm lại sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển diễn ra với nhiềuhoạt động khác nhau nhưng KTTS vẫn chiếm một vị trí quan trọng, tạo ra thunhập chính cho gia đình, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn cho ngư dân trongviệc ổn định sinh kế là biến đổi khí hậu và tài nguyên suy giảm Vì vậy Nhànước cần có nhiều chính sách như: hỗ trợ nhiều hơn nữa đối với thiệt hại củangư dân, tạo điều kiện cho ngư dân vay vốn tái sản xuất tăng cường chuyểngiao công nghệ khai thác mới đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông vềnhận thức của ngư dân đối với biến đổi khí hậu và thích ứng với khí hậu biếnđổi để hoạt động KTTS biển được bền vững hơn

2.3 Một số chủ trương chính sách liên quan đến quản lý, phát triển thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ( BVNLTS)

- Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/03/2008 và Quyết Định số965/QĐ-TTg ngày 21/07/2008 của thủ tướng Chính Phủ về việc hỗ trợ nhằmgiảm bớt khó khăn cho ngư dân trong KTTS biển Ngay sau khi só QuyếtĐịnh số 289/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, ngày 6/05/2008 Bộ NN vàPTNT đã ban hành Quyết Định số 1381/2008-BNN-KTBVNL về việc quyđịnh tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỉ thuật với tàu cá được hỗ trợ theo QuyếtĐịnh 289 của Thủ tướng Chính Phủ, đồng thời phối hợp với Bộ Tài Chínhxây dựng, ban hành thông tư số 35/2008/TT-BTC về việc hướng dẫn thựchiện Quyết Định 289 của thủ Tướng Chính Phủ Cuối tháng 7/2008, Bộ TàiChính đã ban hành thông tư số 71/2008/TT-BTC hướng dẫn thực hiện QuyếtĐịnh số 965/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ

Trước khi có Quyết Định số 965/QĐ-TTg ra đời, dựa theo mức hỗ trợ

và đối tượng được hỗ trợ theo Quyết Định số 289/QĐ-TTg thì 28 tỉnh, thành

Trang 7

phố có nghề KTTS đã có kế hoạch dự trù kinh phí hỗ trợ gởi cho Bộ NN vàPTNT, Bộ Tài Chính với tổng mức dự kiến được hỗ trợ gần 2000 tỷ đồng,trong đó hỗ trợ đóng mới và mua tàu mới là 105,91 tỷ đồng, hỗ trợ thay máytàu là 91,12 tỷ đồng, hỗ trợ mua bảo hiểm là 125,28 tỷ đồng, hỗ trợ giá dầu là1612,27 tỷ đồng Tính đến tháng 8/2008 có 8/28 tỉnh, thành phố đã hỗ trợkinh phí đến tận tay ngư dân gồm Thanh Hóa, Thừa thiên Huế, Đà Nẵng,Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tiền giang, Cà Mau, gồm 8159 trườnghợp được hỗ trợ và số tiền hỗ trợ là 45 tỷ đồng.[4]

- Thông tư số số 01/2002/TT-BTS ngày 28/4/2000 của Bộ Thủy Sản đãsửa đổi, bổ sung một số điểm trong thông tư số 04-TS/TT ngày 30/8/1990hướng dẫn thực hiện pháp lệnh ngày 25/4/1989 của HĐNN và Nghị Định 195-HĐBT ngày 02/6/1990 của HĐBT về bảo vệ và phát triểnnguồn lợi thủy sản.[4]

- Quyết định số 257/2003/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2003 củaThủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếucác xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo Quyết định này

đã góp phần phất triển xây dựng hạ tầng đã xuống cấp ở những xã khó khăn,tạo ra những hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địaphương

- Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2009 của chínhphủ về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiệnkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Với những trợ cấp ưu đãi, tham quan, họctập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tiền mua và vận chuyển nước ngọt vàsạch để những xã đặc biệt khó khăn khắc phục những yếu kém về y tế

- Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2010 của Thủtướng Chính Phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Namđến năm 2020 Với quyết định này giúp cho các địa phương có định hướngphát triển ngành thủy sản phù hợp với tình hình của địa phương

Trang 8

2.4 Tình hình khai thác thủy sản biển ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã thực hiện nhiều chươngtrình chính sách nhằm hỗ trợ và tăng khả năng khai thác thủy sản biển đểtương xứng với tiềm năng to lớn mà đất nước có được, đồng thời nâng cao thunhập và đời sống tinh thần cho một bộ phận ngư dân coi biển là nguồn sốngchủ yếu

Tính đến năm 2008 toàn Ngành thuỷ sản có khoảng 126.600 tàuthuyền, trong đó 44.800 tàu thuyền thủ công và 81.800 tàu thuyền máy vớitổng công suất 6.038.000 CV, tăng 65% so với năm 2002 về số lượng và34,4% về tổng công suất, nâng công suất bình quân của tàu từ 49 CV (2002)lên 75 CV (2008) [8]

Bảng 1: Sản lượng cá biển khai thác phân theo địa phương

Quản lý nghề cá quy mô nhỏ được hiểu như một sự sắp xếp, phối hợp,trong đó cộng đồng những người sử dụng nguồn lợi địa phương (ngư dân),chính quyền và các bên tham gia khác (chủ thuyền, thương nhân, đóng sửatàu thuyền ) và các cơ quan đại diện bên ngoài (các tổ chức phi chính phủ,

Trang 9

các viện nghiên cứu và trường đại học ) đều chia sẻ quyền lợi và trách nhiệmtrong quản lý nghề cá.

Từ năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo hìnhthành nhóm công tác nghiên cứu áp dụng phương thức đồng quản lý nghề cá

và giao cho Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản chịu trách nhiệm điều phốihoạt động Ở một số địa phương đã hình thành những tổ chức mô hình phongphú và đa dạng về quản lý nghề cá quy mô nhỏ với các chi hội, hiệp hội nghềnghiệp, tổ nghề nghiệp, tổ cộng đồng, câu lạc bộ hay các hợp tác xã Nhiều

mô hình bước đầu đã đạt được những thành công nhất định Ðiển hình như tạiNam Ðịnh, tỉnh đã giao quyền quản lý mặt nước cho một số hợp tác xã (HTXđánh cá Ðại Thành, xã Hải Lý, huyện Hải Hậu) Ðồng thời chính quyền còncho phép hình thành các câu lạc bộ, tổ đội tham gia quản lý các vùng nuôitrồng thủy sản.[15]

Tại Hải Phòng, năm 2001, khu Bảo tồn nguồn lợi xã Phù Long đượcthành lập với phương pháp quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng đãmang lại hiệu quả rất cao Trong giai đoạn dự án hoạt động (2002-2005),nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong vùng bảo tồn đã tăng lên đáng kể

Ðặc biệt, khu vực Tây Nam Bộ còn có một mô hình đồng quản lý khánổi tiếng là mô hình Hợp tác xã quản lý và khai thác nguồn lợi nghêu khu vựcven biển (Bến Tre, Trà Vinh) Nhờ mô hình này, nguồn lợi nghêu tại địaphương đã được phục hồi và cho sản lượng lớn hằng năm Có được sản phẩm,hợp tác xã còn chịu trách nhiệm phân phối lợi ích lại cho các xã viên theo tỷ

lệ được thống nhất và công bố công khai.[15]

Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh thành có hoạt động KTTSbiển mạnh của cả nước Tại nghị quyết đại hội tỉnh lần thứ 12 đã xác địnhthủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn trong đó cần chú trong đến khai thácthủy sản gần và xa bờ để đảm bảo cuộc sống và an ninh quốc phòng trên địabàn Năm 2010, toàn tỉnh có 4.261 chiếc tàu thuyền, với tổng công suất hơn72.000 CV, trong đó, có 186 chiếc tàu đánh bắt xa bờ có công suất từ 90 - 250

CV (tăng 46 chiếc so với năm 2007) Để khai thác biển tương xứng với tiềmnăng, bà con ngư dân đã mạnh dạn đầu tư thêm nghề mới, bám biển dài ngày,

Trang 10

nâng cao năng lực đánh bắt, vì vậy sản lượng và hiệu quả đánh bắt tăng đáng

kể, đánh bắt được nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: cá ngừ đạidương, cá cờ, cá chim Năm 2009, sản lượng đánh bắt thủy sản đạt 25 tấn,bằng 106,20% so với năm 2007 [6]

Riêng đối với huyện Quảng Điền thì hoạt động đánh bắt thủy sản ởvùng biển được duy trì và phát triển, nhiều hộ gia đình đã đầu tư mua sắmngư lưới cụ, cải tiến công cụ và phương thức đánh bắt Tổng sản lượng khaithác thủy sản năm 2010 đạt khoảng 3.800 tấn, đạt 96,2 % kế hoạch và bằng101,5 % so với năm trước; trong đó đánh bắt biển 3.400 tấn, đạt 97,1% vàbằng 102,9 %; đánh bắt sông đầm 400 tấn, đạt 88,9 % kế hoạch và bằng 90,9

(Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế, niên giám thống kê 2009)

Một huyện có thế mạnh trong khai thác trên địa bàn tỉnh là huyện PhúVang Với cảng biển Thuận An là điều kiện tốt để ngư dân an tâm trong đánhbắt và trú ẩn khi có gió bão Sản lượng khai thác năm 2010 ước khoảng16.500 tấn với 13 chiếc tàu có công suất trên 90CV khai thác xa bờ và nhiềuthuyền đánh bắt gần bờ đã góp phần vào sự nghiệp phất triển chung của toànhuyện và cải thiện điều kiện sống của ngư dân.[7]

Trang 11

Năm 2010, là năm có nhiều biến động về giá cả trên thị trường quốc tế,

và quy định của EU quá khắt khe nên các doanh nghiệp chế biến xuất khẩuthủy sản trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn Tuy nhiên, với sự nỗ lực củacác cấp quản lý, sự năng động của các doanh nghiệp chế biến hàng thủy sảnxuất khẩu, từ đầu năm đến tháng 9/2010 đã xuất khẩu hơn 600 tấn thủy sản,kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3,3 triệu USD, tăng 31% so cùng kỳ nămtrước Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có hơn 1.000 cơ sở chế biến nước mắm, tômchua, mắm cá rò với công suất khoảng 5.000 tấn và 3 triệu lít nướcmắm/năm [6]

Thực hiện Quyết định 289/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc

hỗ trợ giá dầu cho ngư dân, theo Chi cục KT và BVNLTS tỉnh Thừa ThiênHuế thì 100% hộ ngư dân đã nhận được tiền hỗ trợ để đầu tư cho khai thác,phần nào giảm bớt những chi phí ngày một tăng

Mặc dù khai thác thủy sản đang là thế mạnh của tỉnh nhưng vẫn còngặp nhiều khó khăn do thời tiết và những lo ngại về nguồn tài nguyên đang cónguy cơ suy giảm do khai thác triệt để và hủy diệt, ảnh hưởng đến nguồn lợithủy sản biển sau này Vì vậy cần đa dạng sinh kế cho ngư dân là điều kiệncần thiết để đảm bảo cuộc sống cho ngư dân chỉ biết sống vào biển

Trang 12

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các hộ ngư dân có tham gia KTTS biển trên đại bàn xã Quảng Ngạn.Trong những hộ này được phân thành 2 nhóm: nhóm có thuyền máy, ngư cụKTTS biển và nhóm không có thuyền máy và ngư cụ KTTS biển

- Phạm vi nội dung: do hạn chế về thời gian và các điều kiện khác nên

đề tài này chỉ tập trung vào việc nghiên cứu sinh kế của cộng đồng ngư dânKTTS sống phụ thuộc vào biển nhưng chỉ đánh giá trên các nguồn tài sản: tàichính, vật chất, xã hội và ảnh hưởng của bối cảnh tổn thương

- Phạm vi về không gian: đề tài được tiến hành nghiên cứu trên vùngđất ven biển, đầm phá xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế

- Phạm vi về thời gian: đề tài được nghiên cứu đó là khoảng thời gian

từ năm 2007 đến năm 2010, là khoảng thời gian KTTS biển trên địa bàn xãQuảng Ngạn có những biến động

3.2 Nội dung nghiên cứu

* Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

- Đặc điểm cộng đồng KTTS biển vùng nghiên cứu

- Điều kiện kinh tế xã hội của các hộ KTTS biển

* Hoạt động KTTS biển của ngư dân ven biển

- Những hoạt động khai thác chính của ngư dân

- Những thay đổi về sản lượng và thu nhập từ KTTS biển của ngư dân

* Sản lượng thủy sản và thu nhập từ KTTS biển của ngư dân

* Nguồn thu và mức thu nhập của hộ ngư dân KTTS biển

* Các hình thức hợp tác trong hoạt động KTTS biển

* Nhận thức của ngư dân về quản lý tài nguyên ven biển và ảnh hưởng củabiến đổi khi hậu ( BĐKH) đến sinh kế của người dân

- Nhận thức của ngư dân về quản lý tài nguyên ven biển

- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ( BĐKH) đến sinh kế của ngư dân

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu

- Chọn điểm

Trang 13

+ Xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế là một xã bãingang ven biển, nơi đây có một bộ phận người dân thuộc 5 thôn sống chủ yếudựa vào khai thác thủy sản biển là chính, sản lượng khai thác hàng năm lớn,năm 2009 đạt 1860 tấn tăng 40 tấn so với năm 2008, đã làm thay đổi hẳn đờisống của ngư dân, đồng thời cũng tăng cường đa dạng hóa sinh kế nhằm tạothêm thu nhập Nhưng hiện nay nguồn lợi thủy sản biển đang có xu hướngsuy giảm, năm 2010 đạt 1034 giảm 826 tấn so với năm 2010, thêm vào đó lànhận thức và cơ chế quản lý trong khai thác còn nhiều hạn chế, ảnh hưởngkhông tốt đến cộng đồng và tài nguyên cho thế hệ mai sau Do đó tôi đã chọn

xã Quảng Ngạn là địa điểm để tiến hành nghiên cứu đề tài này

+ Đề tài đã được tiến hành nghiên cứu trên 4 thôn Tây Hải, Tân Mỹ,Đông Hải và thôn BC Đây là 4 thôn có ngư dân khai thác thủy sản biển mạnhtại xã Quảng Ngạn

sự chênh lệch nhau nên có số hộ có sự khác nhau giữa các thôn, cụ thể là:

Thôn Đông Hải: đã chọn 13 hộ có thuyền và 13 hộ không có thuyềnThôn BC: đã chọn 7 hộ có thuyền và 7 hộ không có thuyền

Thôn Tân Mỹ: đã chọn 8 hộ có thuyền và 8 hộ không có thuyền

Thôn Tây Hải: đã chọn 2 hộ có thuyền và 2 hộ không có thuyền

+ Phương pháp chọn mẫu: tiến hành phương pháp chọn mẫu ngẫunhiên phân loại, bằng cách thu thập danh sách hộ tại cán bộ thôn, sau đó lọc

ra các hộ có hoạt động khai thác thủy sản biển rồi chọn hộ ngẫu nhiên từ trênxuống dựa vào danh sách theo từng thôn đã chọn, từ việc phỏng vấn nhữngngười có thuyền đã lựa chọn ngẫu nhiên những hộ không có thuyền thường đikhai thác cùng chủ thuyền

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Trang 14

- Thu thập các số liệu thứ cấp tại xã thông qua các báo cáo tổng kếtnăm 2007-2010, báo cáo tổng kết hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sảncủa xã Quảng Ngạn và huyện Quảng Điền từ năm 2008-2010, các số liệuthống kê lưu trữ về dân số, cơ sở hạ tầng của xã từ năm 2007-2010.

- Các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến sinh kế ngư dân khai thácthủy sản biển

* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

- Phỏng vấn hộ có sử dụng phiếu khảo sát : phương pháp này sử dụng

để điều tra ngoài các số liệu chính thức từ chính quyền, bằng phiếu khảo sát

đã tiến hành khảo sát được 60 hộ ngư dân có tham gia KTTS biển, gồm 30 hộ

có thuyền và 30 hộ không có thuyền Bảng hỏi được thiết kế sơ bộ trước khiphỏng vấn chính thức, sau đó đã tiến hành điều tra thử ngẫu nhiên một số hộ

có thuyền và không có thuyền để tiến hành sửa chữa lại bảng hỏi cho phù hợpvới nội dung nghiên cứu và tình hình thực tế

- Sử dụng các công cụ PRA: đã tiến hành sử dụng các công cụ PRAnhằm mục đích hiểu rõ hơn tình hình khai thác thủy sản biển của ngư dân.Bao gồm:

+ Khảo sát thực địa, đánh giá các yếu tố có liên quan đến vấn đề nghiêncứu nhằm nắm tình hình chung đang diễn ra trên địa bàn đang nghiên cứu đểhình dung ra những nội dung, những thông tin cần thu thập

+ Phương pháp phỏng vấn sâu người am hiểu: đã thu thập được các sốliệu cấp cộng đồng thông qua các cuộc phỏng vấn:

Cấp xã: 1 chủ tịch xã, 1 cán bộ thủy sản, 4 trưởng thôn, 4 người cóKTTS biển lâu năm

Cấp huyện: 1 trưởng phòng NN và PTNT huyện và 1 cán bộ phòngnông nghiệp phụ trách thủy sản

+ Phương pháp hồi cố đã được áp dụng trong quá trình nghiên cứunhằm gợi nhớ, tái hiện lại các hoạt động sản xuất, thu nhập đã diễn ra trongkhoảng 4 năm

* Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phần mềm excel.

Trang 15

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm cộng đồng KTTS biển vùng nghiên cứu

Xã Quảng Ngạn được hình thành từ năm 1983, sau khi phân chia địagiới hành chính xã Quảng Ngạn cũ thành 2 xã Quảng Ngạn và Quảng Công

Xã có 10 thôn được chia thành 03 vùng khác nhau gồm 03 thôn vùng nôngnghiệp, 02 thôn vùng đầm phá và 05 thôn vùng biển Xã Quảng Ngạn cáchthành phố Huế 23km chạy dọc theo phá Tam Giang, cách bến đò Cồn Tộc1,5km, cách huyện Quảng Điền 3km Có đường quốc lộ 49B chạy qua dàihơn 3km

Hiện nay xã Quảng Ngạn thuộc diện xã bãi ngang theo quyết định số113/2007/QĐ-TTg của Thủ Tướng chính phủ nên KT-XH của xã vẫn còn gặpnhiều khó khăn Diện tích đất nông nghiệp ít nên người dân còn tham gia vàocác hoạt động sản xuất khác nhau Sự tham gia của các nông hộ vào các hoạtđộng sản xuất khác nhau sẽ cho biết được tiềm năng và hoạt động nào đangchiếm ưu thế trên địa bàn

Qua nghiên cứu bảng số liệu dưới đây có thể lấy rằng số hộ thuần nôngvẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số hộ của toàn xã với 513 hộ, tập trung ở

3 thôn làm nông nghiệp và 1 thôn ven đầm phá, tiếp đó là những hộ làm phinông nghiệp và TMDV chiếm 415 hộ, những ngành nghề chính của hộ nhưbuôn bán, làm dịch vụ, thợ nề, thợ mộc Tổng số hộ KTTS cũng chiếm một

tỷ lệ khá lớn 303 hộ cũng đã góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội chungcủa toàn xã, trong đó số hộ ngư dân KTTS biển có thuyền là 71 hộ và 163 hộKTTS biển không có thuyền, còn khai thác đầm phá là 72 hộ Điều này cũng

dễ hiểu vì KTTS đầm phá đã giảm đi rất nhiều so với trước đây do phải sắpxếp lại nò sáo theo quy định của UBND tỉnh nhằm thông thoáng luồng lạch,đảm bảo sự di cư cho các loài thủy sản, cùng với đó hoạt động NTTS đầmphá phát triển mạnh nên một số hộ đã bán trộ, nghề đầu tư cho NTTS Trongkhi đó KTTS biển là nghành nghề tạo thu nhập chính cho hộ ngư dân, nghềbiển được truyền từ đời này sang đời khác, nhưng hiện nay một số hộ ngư dân

đã không còn mặn mà với KTTS biển nữa, họ đi làm ăn xa ở các thành phố

Trang 16

lớn mong có một cuộc sống tốt đẹp hơn Số lượng hộ KTTS biển tập trungvào 5 thôn ven biển, đó là Đông Hải, Thôn BC, Tân Mỹ, Trung Hải và TâyHải, trong đó thôn Đông Hải có số hộ nhiều nhất 78 hộ.

Bảng 3: Thông tin KT-XH xã Quảng Ngạn năm 2010

(Nguồn: Báo cáo xã Quảng Ngạn, 2011)

Hoạt động NTTS là một trong những mũi nhọn kinh tế đóng góp nhiềucho nguồn thu của xã, toàn xã có 100,3 ha diện tích mặt nước đầm phá với sựtham gia của 114 hộ tập trung ở 2 thôn ngư nghiệp là Thủy An và Vĩnh Tân,cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều vào sông nước và tài nguyên đầm phá củavùng Tuy không còn phát triển rầm rộ như những năm 2003,2004 nhưngNTTS luôn cho thu nhập cao hơn làm nông nhờ áp dụng phương thức nuôixen ghép và đa dạng hóa loài nuôi trong ao đã giúp hộ duy trì được hoạt độngcủa mình Nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát cũng đang được phát triển nhằm

đa dạng hóa sinh kế cho những hộ sống ven biển, khoảng 3ha đất cát được

Trang 17

đưa vào sử dụng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động địa phương Cácngành nghề TTCN chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 87 hộ, trong đó có 29 hộthuộc các thôn ngư ven biển do các hoạt động này thường làm theo mùa vụ,những lúc nông nhàn hoặc làm ở những nơi xa như chằm nón lá,mộc mỹnghệ các ngành nghề tại chỗ còn ít vì thế đóng góp của hoạt động này cònhạn chế.

Cũng qua bảng số liệu ta còn thấy rằng số hộ nghèo vẫn còn khá nhiều

ở các thôn ngư ven biển với 33 hộ và 24 hộ cận nghèo đang có nguy cơ táinghèo do SXNN không thể thực hiện trên vùng đất cát, không có ngành nghề

ổn định và những hộ có hoàn cảnh đặc biệt Số hộ nghèo trong xã tập trung ở

4 thôn có làm nông nghiệp, còn 5 thôn KTTS biển có số hộ nghèo thấp hơn

Bảng 4: Số lượng ghe thuyền KTTS biển qua các năm ở xã Quảng Ngạn

(Nguồn: Báo cáo xã Quảng Ngạn, 2011)

Trên địa bàn xã hiện nay số lượng ghe thuyền giảm đi rõ rệt từ 78 chiếcnăm 2007 xuống 71 chiếc năm 2010, số thuyền còn lại nhiều nhất ở thônĐông Hải với 31 thuyền Mặc dù UBND xã đã có nhiều biện pháp tích cựcgiúp đỡ ngư dân như cho vay vốn mua sắm ngư lưới cụ, giải ngân nhanh sốtiền của chính phủ về hỗ trợ dầu theo Quyết định số 289/QĐ-TTg (20 triệuđồng/thuyền), khuyến khích động viên ngư dân bám biển lâu dài nhưng sốlượng thuyền vẫn đang có xu hướng giảm Nguyên nhân của sự biến độngtrên là do một bộ phận ngư dân có người thân ở nước ngoài nên đời sống giađình cũng thoải mái không phải lo lắng nhiều về tạo thu nhập nên họ đã bán

Trang 18

thuyền để đầu tư vào các hoạt động khác như làm dịch vụ du lịch, buôn bán,NTTS và cũng còn một lý do nữa là KTTS biển đang gặp nhiều khó khăn,sản lượng và số lượng các loài thủy sản đang giảm đi Các hoạt động khaithác chính của ngư dân tập trung ở các lĩnh vực như đi câu ( câu cá ong, cánục, cá thu ), đi dạ ruốt, đánh bắt bằng lưới các loại ( lưới sưa, lưới dày, lướimực, lưới cá hố ), bủa xăm ( cá duội), bủa rồng (cá cơm) Mùa vụ khai thácdiễn ra suốt trong năm trừ đi những ngày tháng giông bão, biển động và tùytheo từng loài thủy sản khác nhau để tiến hành các hoạt động khai thác khácnhau.

Như vậy hoạt động KTTS biển đã và đang gây ảnh hưởng lớn đến đờisống của các hộ ngư dân ven biển xã Quảng Ngạn, nó không chỉ làm thay đổiđời sống kinh tế xã hội của ngư dân nơi đây mà còn đóng góp lớn cho sự pháttriển chung cho toàn xã ( KTTS chiếm 22,74% tổng giá trị thu nhập toàn xãnăm 2010)

4.1.2 Điều kiện KT-XH của các hộ KTTS biển

Tình hình chung của hộ nói lên khả năng và nguồn lực của các hộ ngưdân đối với các hoạt động sản xuất và tích lũy Tìm hiểu tình hình chung củacác hộ cho phép chúng ta thấy được những tiềm năng cũng như những hạnchế mà mỗi hộ ngư dân đang có Đó sẽ là những cơ sở cho sự phân tích vàđánh giá các yếu tố sau này

Dựa vào bảng số liệu dưới cho thấy chủ hộ của các gia đình không cóthuyền ở độ tuổi trung niên ( 42 tuổi) thấp hơn so với các chủ hộ có thuyềnkhai thác ( 49 tuổi) Các chủ hộ là người có quyền ra mọi quyết định trong cáchoạt động sản xuất, hơn nữa trong KTTS mọi hoạt động đều do nam giới đảmnhận, nữ giới chỉ tham gia vào các công việc như bán sản phẩm ở chợ, chếbiến thủy sản Những người có ghe thuyền là những người có kinh nghiệmKTTS lâu năm, đã sắm thuyền từ khi chưa có thuyền máy, sau này có điềukiện mới thay thuyền chèo tay thành thuyền máy và mua sắm thêm nhiều ngưlưới cụ hiện đại hơn Trong khi đó những hộ không có thuyền thường lànhững thanh niên mới lập gia đình chưa có đủ điều kiện để mua sắm phươngtiện đi biển

Trang 19

Bảng 5: Tình hình chung các hộ tham gia KTTS biển

(N=30)

Hộ không

có thuyền (N=30)

Thu nhập bình quân/khẩu/tháng 1000đ 412 316

( Nguồn: Số liệu khảo sát hộ, 2011)

Bên cạnh đó còn có một bộ phận sau khi đã bán thuyền họ vẫn tiếp tục

đi khai thác cùng với chủ thuyền khác trong thôn, theo những lý giải củanhững người đã bán thuyền thì làm biển càng ngày càng khó, tôm cá thì íttrong khi xăng dầu, ngư lưới cụ, việc sữa chữa tàu thuyền càng ngày càngtăng nên thu nhập cũng không đáng là bao, còn nếu không có thuyền thì khỏi

lo những chi phí đó, làm chừng nào thì được trả công chừng đó vừa thoải máivừa không lo lắng khi mưa gió, bảo quản ghe thuyền

Xét về đặc điểm lao động, số người trong độ tuổi lao động của các hộ

có thuyền là 4 người còn những hộ không có thuyền là 3 người Lực lượngnày ít là do trong gia đình còn nhiều người già, người chưa đến độ tuổi laođộng và những người con sau khi lập gia đình cũng đã tách khỏi hộ Trong tất

cả các hộ được khảo sát thì số lao động ngư nghiệp là hoàn toàn do nam giớiđảm nhận, người phụ nữ chỉ có nhiệm vụ chăm lo gia đình, nội trợ và làmnhững công việc khác Trong khi đó lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm một

tỷ lệ nhỏ Với cơ cấu lao động như vậy ta có thể thấy rằng, nam giới đóng mộtvai trò hết sức quan trọng trong KTTS đó là vai trò nuôi sống cả gia đình, cònphụ nữ thì có vai trò chăm sóc gia đình và làm thêm các hoạt động khác nhằm

Trang 20

tăng thu nhập cho gia đình như buôn bán, chăn nuôi, làm thuê… Sản xuấtnông nghiệp không diễn ra do đất cát hoang hóa không thể trồng trọt được.

So sánh chỉ tiêu bình quân lao động và thu nhập bình quân ta thấy mặc

dù bình quân nhân khẩu xấp xỉ bằng nhau nhưng lao động ngư nghiệp có sựchênh lệch ( hộ có thuyền là 1,54 còn hộ không có thuyền là 1) nên thu nhậpbình quân cũng có sự chênh lệch nhưng không quá nhiều Nhưng hộ cóthuyền thì cuộc sống thoải mái và thừa thải hơn Nguyên nhân là những chủthuyền có người thân hoặc con cái đi nước ngoài hoặc làm ăn xa nên khi sữachữa hoặc mua sắm thì đều có hỗ trợ, nên mọi người ở đây có câu “ lỗ chừngnào lời chừng ấy”, có nghĩa là khi mất mùa hoặc cần nhiều tiền tu sữa ghethuyền thì có người thân ở nước ngoài gởi tiền về để bù vào những khoản cònthiếu nên đi KTTS vừa cho thu nhập vừa để nhận sự giúp đỡ từ người thân

Qua quá trình thu thập thông tin và tìm hiểu về hiện trạng nhà ở,phương tiện sinh hoạt của hai nhóm hộ có thuyền và không có thuyền ta thấyđược những thay đổi sau: số lượng nhà kiên cố và nhà cấp 4 của các hộ cóthuyền cao hơn những hộ không có thuyền, ngược lại nhà bán kiên cố thì hộkhông có thuyền lại cao hơn những hộ kia, còn về nhà tạm bợ thì không cònhiện diện ở những thôn này, đây là một nỗ lực lớn của người dân và chínhquyền địa phương trong việc thực hiện chính sách xóa nhà tạm, nhà tranh trenứa lá của nhà nước Nhưng một thực tế đang diễn ra ở đây là những căn nhàkiên cố 2-3 tầng không phải được xây dựng từ việc tích lũy từ quá trình KTTS

mà những ngôi nhà này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ nhiều từ người thân ởnước ngoài là chủ yếu, họ chỉ góp một phần còn lại để làm thêm những gì cầnthiết như xây công trình phụ, sân bê tông Ngoài ra, do đời sống tâm linh vàtín ngưỡng vùng ven biển nên một số hộ có nhiều người thân ở nước ngoài đãgởi tiền về xây dựng nhiều lăng mộ bề thế, hoành tráng ngay giữa vùng đấtcát này, có ngôi mộ sau khi hoàn tất cũng hơn 500 triệu Những phương tiệnphục vụ cuộc sống và sinh hoạt trong gia đình như tivi, xe máy, đầu VCD,điện thoại tăng lên đáng kể vì đây là những phương tiện cần thiết trong cuộcsống ngày nay

Trang 21

Bảng 6: Sự khác biệt giữa điều kiện nhà ở và phương tiện sinh hoạt của

hai nhóm hộ ngư dân KTTS biển

ĐVT: % số hộ khảo sát Các chỉ tiêu Hộ có thuyền

( Nguồn: Số liệu khảo sát hộ, 2011)

Khi so sánh về loại ngư cụ giữa hai nhóm hộ ta có thể thấy được rằngnhững hộ có thuyền hoàn toàn phải mua sắm ngư lưới cụ phục vụ cho quátrình khai thác, còn những hộ không có thuyền chỉ sắm những ngư lưới cụ cần

có sự góp sức của nhiều người trong khai thác như bủa xăm và rồng thảy, vìthế có sự khác biệt trong quá trình phân chia sản phẩm sau này

Khi nhìn vào bảng so sánh về nhà ở và phương tiện sinh hoạt, sản xuấtcủa hai nhóm hộ này ta không những có thể dễ dàng thấy sự vượt trội củanhóm hộ có thuyền so với những hộ không có thuyền, mà ngay cả những hộven phá và hộ làm nông nghiệp thì chưa chắc có một cuộc sống khá giả vàthoải mái như vậy Khoảng cách này là do sự hỗ trợ từ người thân ở nước

Trang 22

ngoài, khi được hỏi về việc mua xe máy có phải là tiền từ tích lũy từ KTTSkhông thì đa số ngư dân đều cho rằng điều ấy vẫn có nhưng khó, nếu có chỉ lànhững chiêc xe do Trung Quốc sản xuất, còn những chiếc xe đắt tiền hơn thìphải nhờ người thân ở nước ngoài gởi về cho tiền mua, và hiện nay tư tưởngcủa một số thanh niên và người dân vùng biển này luôn muốn cho con cái đixuất ngoại nếu có điều kiện để sau này gia đình có một cuộc sống khá giảhơn, việc mua sắm các đồ dùng sinh hoạt cũng dễ dàng hơn Vì vậy đã gây ratình trạng bỏ học của một số thanh niên, ảnh hưởng đến tương lai sau này nếuviệc xuất ngoại không thành công.

Như vậy nhà ở và phương tiện sinh hoạt, sản xuất của ngư dân hiện tại

có sự thay đổi tích cực và theo chiều hướng tăng lên Đây sẽ là nền tảng tốtcho việc phát triển kinh tế của ngư dân nếu hộ muốn đa dạng các hoạt độngthu nhập hoặc mở rộng quy mô sản xuất của mình vì chỉ có “ an cư mới lậpnghiệp” được Nhưng cũng cần chú ý đến những hộ ngư dân KTTS khônghiệu quả, đặc biệt là những hộ không có thuyền đang có xu hướng di cư vàokhu vực phía Nam làm ăn sẽ gây ra tình trạng di dân tự do, ảnh hưởng đếntình hình chung của địa phương

4.2 Hoạt động KTTS biển của ngư dân ven biển

4.2.1 Những hoạt động khai thác chính của ngư dân

Với đặc điểm khai thác của ngư dân ở đây là khai thác gần bờ nên cáchoạt động khai thác vẫn sử dụng những kiến thức bản địa được truyền từ đờinày sang đời khác, nhưng có bổ sung thêm một số ngư cụ hiện đại để tăngcường lực và hiệu quả trong quá trình khai thác Sau đây là các hoạt độngkhai thác chính của ngư dân:

 Đánh bắt bằng lưới: gồm nhiều loại lưới khác nhau được gọi theotên các loài thủy sản được khai thác như lưới cá trích, lưới cá hố, cá khoai,lưới mực

Mùa vụ một số loài: Cá trích: tháng 11 đến tháng 4 năm sau (âm lịch),

Cá hố: tháng 8 đến tháng giêng năm sau ( âm lịch), Cá khoai: tháng 9 đếntháng 2 năm sau (âm lịch), Lưới mực: tháng 3 đến tháng 8 (âm lịch), Cá mó:cuối tháng giêng đến đầu tháng 4 và đến tháng 7 thì đi lại (âm lịch)

Trang 23

Bảng 7: Một số hoạt động KTTS biển chính của ngư dân

Hoạt động

khai thác

Năm bắt đầu

Số hộ/xã

Hình thức tổ chức

T.gian/

chuyến ( giờ )

Số chuyến/

năm

Ngư trường ( km)

ở con nước khoảng 20-25 sải tay người Cấu tạo của chung của những taylưới này là phần trên là phao để có thể nổi, phần dưới là chì nặng để có tácdụng kéo căng mặt lưới, một đầu tay lưới gắn một cột phao cao có cờ để nhậnbiết mỗi khi thả lưới ở những vùng nước sâu Lưới được thả dưới nước baolâu tùy theo mỗi loài và số lượng cá mắc vào lưới để kéo lưới lên Nhưng vẫn

có những khác biệt về cấu tạo lưới và bố trí cách khai thác:

Trang 24

+ Lưới cá trích: Ngư dân phải thả lưới thăm dò, nếu cá trích mắc lưới ởphần trên của lưới thì phải điều chỉnh cho lưới lên cao thêm, còn ngược lạinếu cá mắc ở phần dưới gần chì thỉ phải thả lưới xuống sâu hơn Muốn làmđược điều này thì ngư dân sau khi mua lưới về phải làm lại phao gồm 3 tầngphao có thể xoăn lại với nhau, khoảng cách giữa các tầng phao 0,5-1m Lướiđược thả vuông góc với bờ biển vì những đàn cá thường di chuyển theo dòngnước chảy của biển Trong quá trình khai thác có thể thả cùng lúc nhiều taylái sau đó kéo lên thuyền vào bờ để gỡ cá hoặc thả một số tay thăm dò nếuđược nhiều thì thả hết những số tay lưới còn lại Vì chúng thường đi thànhtừng đàn lớn nên nếu được mùa thì sau mỗi chuyến đi mỗi ghe cũng được 50-100kg.

+ Lưới mực( mực nang): Lưới được mua về được ngư dân chế tạo lạinhằm phù hợp với mục đích khai thác của mình, lưới được cấu tạo gồm 3 tấmlưới khác nhau gộp lại gọi là lưới 3 màng, 2 lưới bên có mắt lưới lớn hơnkhoảng 20 cm, mắt lưới ở giữa khoảng 6-7 cm Lưới được thả song song với

bờ biển vì hướng đi của mực là bơi ra vào bờ Lưới thả một lần sau đó kéo lên

có hay không có mực cũng đi vào bờ

+ Lưới cá hố: Không cần thả thăm dò vì cá hố thường nhảy lên khỏimặt nước nên thấy chúng ở đây thì thả lưới ở đó

 Lưới quét:

Đối tượng là tất cả các loại thủy sản biển

Đây là loại ngư cụ mới xuất hiện nó có tính hủy diệt giống như “ lừ” ởđầm phá Cấu tạo của chúng bao gồm một tấm lưới có mắt lưới nhỏ phần dướiđược gắn chì nặng hoặc đá để khi kéo sẽ cho chúng sát mặt đất, còn phần trêncũng được gắn phao Dùng thuyền máy kéo rê trên một đoạn dài, nhờ có chìnặng nên lưới quét sát tận đáy biển nên các loài thủy sản đều bị vào lưới Màtheo những ngư dân ở đây, thuyền máy của họ có công suất nhỏ nên lưới quétchỉ hoạt động trên phạm vi nhỏ nhất định, ngư cụ vẫn còn hạn chế nên cũngảnh hưởng ít đến tài nguyên biển, sự nguy hiểm xuất hiện ở những tàu lớn từThuận An lên đánh bắt, họ trang bị máy có công suất lớn khi lưới quét của tàu

đi qua thì không có loài nào có thể thoát được

Trang 25

 Mành cá chim

Đối tượng chính là cá chim biển

Mùa vụ khai thác được bắt đầu từ cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch kéodài đến khi sản lượng giảm thì kết thúc

Cấu tạo giống như cái rớ ở đầm phá nhưng lại là hình thang, chiều dàikhoảng 22 sải tay, chiều rộng ở đầu lớn là khoảng 14 sải tay có một sợi dâydài và một cục đá buộc vào một góc lớn để thả xuống và kéo lên được dễdàng hơn, góc còn lại được giữ trên thuyền, còn ở đầu nhỏ là khoảng 7-9 sảitay được túm lại giống như một cái túi, đỉnh trên của đầu túm đó được gắnmột cục phao lớn sao cho khi thả xuống phao được nổi trên mặt nước, cuốiđầu nhỏ có một cái túi với đường kinh khoảng 3 sải tay, lưới có mắt lưới nhỏchỉ vừa xỏ ngòn tay cái, người dân gọi mành này là lưới niloong, mành phảiđược làm bằng lưới niloong để có thể chìm xuống nước nhanh hơn

Chuẩn bị: đây là loài cá sống ở tầng nước trên nên ngư dân thường phảichuẩn bị nơi trú ngụ trước cả tháng sau đó mới ra khơi thả lưới Chuẩn bịbằng cách lấy một sợi dây dài buộc một cục đá nặng ở một đầu thả xuốngnước để cho sợi dây khỏi di chuyển, đầu còn lại buộc phao để làm dấu nhậnbiết, trên thân của sợi dây buộc những tàu lá chuối khô hoặc lấy bao tải đenrọc thành từng sợi buộc vào, mục đích là tạo bóng giống như những bãi rạngcho cá trú ngụ Mỗi lần như vậy thả 20-30 cột phao theo hàng dài Ngoài racòn chuẩn bị thêm mồi câu là những con cá chim giả bằng gỗ

Phương thức khai thác: thuyền chạy ra đến nơi khai thác khoảng 8kmthì tiến hành thả lưới, khi thả lưới đầu phao nổi lên còn phần buộc đá chìmxuống Một cái môn ( thúng) được thả xuống để dụ đàn cá vào lưới bằngnhững con cá chim giả, khi đàn cá đã đi vào quá nửa của lưới thì tiến hànhkéo lên, khoảng 3-4 người cầm hai đầu dây của phần rộng của lưới kéo lêntheo ngược chiều bơi của cá chim

 Đi câu

Đối tượng chính là cá nục, cá ong, cá thu, cá chủa

Trang 26

Mùa vụ đi câu cũng không ổn định rảnh rỗi lúc nào thì đi hoặc là đi làmlưới không có thì đi câu.

Chuẩn bị: Để đi câu thì cũng phải chuẩn bị rạng là nơi trú ngụ củanhiều loài khác nhau, phải chuẩn bị 1-2 tháng trước Chuẩn bị bằng cách làmỗi nơi ở như vậy có khoảng 3 cây tre, trên đó người ta buộc thêm những tàu

lá chuối khô hoặc bao tải đen rọc ra thành từng sợi, lấy những bao tải lớn đổđất cát đầy bịt kín miệng buộc vào một đầu cây tre thả xuống nước để khỏi bị

di chuyển, làm khoảng 4-5 cây như vậy Đặc biệt riêng khi đi câu cá ong thìkhông cần chuẩn bị các rạng

Phương thức khai thác: Mỗi bộ lưỡi câu như vậy có khoảng chục lưỡiđến vài trăm lưỡi tùy theo loài thủy sản, chẳng hạn như câu cá nục thì bộ lưỡicâu khoảng 20-30 lưỡi, còn đi câu cá on thì khoảng 1000-1500 lưỡi, những bộlưỡi câu đó được thả xuống xung quanh những bãi rạng mà ta đã chuẩn bị,những lưỡi câu này được buộc trên cùng một sợi dây dài, mồi câu được tậndụng từ những lần đi biển trước, nếu không có thì phải mua những loại cá nhỏbán ở chợ Lưỡi câu được thả từ từ theo từng chùm đã được chuẩn bị trước,trong vòng 1-2 giờ đồng hồ thì tiến hành kéo lên bắt đầu từ vị trí thả câu đầutiên Mỗi rạng như vậy thường câu trong vòng 15-20 ngày vì khi nước sắt ( nước trong) thì việc câu rất khó khăn

Một lợi thế khi đi câu là nơi này vừa có cá nhỏ vừa có cá to, nếu gặpmay mắn câu được những loại cá như cá thu, cá chủa, cá ngừ thì thu nhậpngày đó cao hơn Nhưng hiện nay nghề đi câu ít dần, tập trung nhiều ở một số

hộ ngư dân thuộc 2 thôn Đông Hải và BC vì nghề này cho thu nhập khôngcao bằng các hoạt động khác nhưng phải có tính kiên nhẫn nên những ngưdân này hay đùa với nhau là khi đi câu “ không được hút, không được ăn,ngứa không được gãi” vì với số lượng lưỡi câu nhiều như vậy nếu không cẩnthận rất dễ bị xoăn lại với nhau nên chuẩn bị trước khi đi câu tốn rất nhiềuthời gian

 Đi dạ ruốt

Đối tượng chính là ruốt

Mùa vụ khai thác diễn ra từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau (âm lịch)

Ngày đăng: 02/05/2014, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Biến đổi khí hậu và đói nghèo đối với cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam , ngày 03/06/2009.Lấy từ Wedsite:http://www.cucktbvnlts.gov.vn/vn/linh-vuc-quan-ly/nguon-loi-thuy-san/moi-truong-thuy-san/Bien-doi-khi-hau-va-doi-ngheo-doi-voi-cong-dong-ngu-dan-ven-bien-Viet-Nam.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và đói nghèo đối với cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam
Năm: 2009
13. Hướng đi mới trong quản lý nghề cá quy mô nhỏ, ngày 08/12/2009.Lấy từ Wedsite:http://www.vifep.com.vn/NewsViewItem.aspx?Id=51614. Tổng cục thống kê, 2010.http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=390&idmid=3&ItemID=995315. Tổng quan phát triển mô hình đồng quản lý nghề cá ở Việt Nam, ngày 28/11/2009 Link
1. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội xã Quảng Ngạn từ năm 2007 đến 2010 Khác
2. Báo cáo tổng kết công tác nuôi trồng thủy sản xã Quảng Ngạn từ năm 2007 đến năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011 Khác
3. UBND huyện Quảng Điền, Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2008 đến năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 Khác
8. Lê Trần Nguyên Hùng, Hội nghị khu vực đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam, Tổng quan mô hình đồng quản lý nghề cá ở Việt Nam, 2009.Lấy từ Wedsite Khác
9. Nguyễn Bảo Thúy Nhung, Tác động của chuyển đổi đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản đến sinh kế của người dân xã Phú Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học nông lâm Huế, 2007 Khác
10. Trương Văn Tuyển, Giáo trình phát triển cộng đồng, lý luận và ứng dụng trong phát triển nông thôn, nhà xuất bản Nông Nghiệp – Hà nội, quý 3/2007 Khác
12. Hội thảo đào tạo sinh kế bền vững Việt nam 2003, Bảng từ vựng về phương pháp tiếp cận và khung phân tích sinh kế bền vững. Bộ phát triển Vương quốc Anh ( DFID UK) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sản lượng cá biển khai thác phân theo địa phương - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 1 Sản lượng cá biển khai thác phân theo địa phương (Trang 8)
Bảng 2: Sản lượng cá biển phân theo huyện - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 2 Sản lượng cá biển phân theo huyện (Trang 10)
Bảng 3: Thông tin KT-XH xã Quảng Ngạn năm 2010 - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 3 Thông tin KT-XH xã Quảng Ngạn năm 2010 (Trang 16)
Bảng 4: Số lượng ghe thuyền KTTS biển qua các năm ở xã Quảng Ngạn - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 4 Số lượng ghe thuyền KTTS biển qua các năm ở xã Quảng Ngạn (Trang 17)
Bảng 5: Tình hình chung các hộ tham gia KTTS biển - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 5 Tình hình chung các hộ tham gia KTTS biển (Trang 19)
Bảng 6: Sự khác biệt giữa điều kiện nhà ở và phương tiện sinh hoạt của - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 6 Sự khác biệt giữa điều kiện nhà ở và phương tiện sinh hoạt của (Trang 21)
Bảng 7: Một số hoạt động KTTS biển chính của ngư dân - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 7 Một số hoạt động KTTS biển chính của ngư dân (Trang 23)
Bảng 8: Thay đổi sản lượng và thu nhập từ KTTS biển - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 8 Thay đổi sản lượng và thu nhập từ KTTS biển (Trang 31)
Bảng 9: Sản lượng thủy sản và thu nhập từ KTTS biển của hộ - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 9 Sản lượng thủy sản và thu nhập từ KTTS biển của hộ (Trang 33)
Bảng 10: Nguồn thu và mức thu nhập của hộ năm 2010 - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 10 Nguồn thu và mức thu nhập của hộ năm 2010 (Trang 35)
Bảng 11: Hoạt động thu mua tiêu thụ sản phẩm thủy sản - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Bảng 11 Hoạt động thu mua tiêu thụ sản phẩm thủy sản (Trang 41)
Hình 2: Hình thức phân chia sản phẩm sau KTTS ( rồng thảy) - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Hình 2 Hình thức phân chia sản phẩm sau KTTS ( rồng thảy) (Trang 52)
Hình 1 : Khai thác thủy sản bằng lưới ( lưới cá trích) - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Hình 1 Khai thác thủy sản bằng lưới ( lưới cá trích) (Trang 52)
Hình 3: Thu mua sản phẩm ngay tại thuyền - đánh giá sinh kế cộng đồng khai thác thủy sản biển tại  xã quảng ngạn, huyện quảng điền, thừa thiên huế
Hình 3 Thu mua sản phẩm ngay tại thuyền (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w