Mặc dầu có xu hướng phát triển về diện tích nhưvậy, nhưng năng suất trên địa bàn xã vẫn ở mức thấp so với mức chung củahuyện và của cả nước, cũng như so tiềm năng năng suất của các giống
Trang 1Trồng Lạc là một nghề truyền thống đã có từ lâu đời trong nôngnghiệp của xã, hoạt động này gắn liền với nông hộ, gắn liền với sự pháttriển của ngành trồng trọt Nó đem lại thu nhập cao nên diện tích sản xuấtlạc ngày càng được mở rộng trên địa bàn huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh Cácgiống lạc được trồng chủ yếu trên địa bàn tỉnh là Sen Nghệ An, Lạc Cúc,V79, L14 Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đếnnăm 2011 đã xác định diện tích trồng lạc là 21,050 ha và sản lượng lạc vàokhoảng 45,495 tấn [18] Mặc dầu có xu hướng phát triển về diện tích nhưvậy, nhưng năng suất trên địa bàn xã vẫn ở mức thấp so với mức chung củahuyện và của cả nước, cũng như so tiềm năng năng suất của các giống.
Để hoạt động canh tác lạc thật sự đem lại nguồn thu nhập đáng kể chongười nông dân thì việc thay đổi phương thức canh tác lạc hậu sang phươngthức mới có đầu tư tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất là rất quan trọng Yêu cầuđặt ra cho người làm công tác chuyển giao phải chuyển giao những kỹ thuậtphù hợp để người dân có thể áp dụng vào hoạt động sản xuất
Từ trước đến nay, sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạotrong nền kinh tế của xã Nhằm thúc đẩy sự phát triển nền sản xuất nôngnghiệp và phát huy hết các thế mạnh của địa phương, công tác chuyển giaotiến bộ kỹ thuật vào sản xuất luôn được Đảng bộ và chính quyền các cấp ởđây quan tâm Trong những năm trở lại đây các hoạt động chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật về trồng trọt đặc biệt là trồng lạc ở xã Thạch Đỉnh đã diễn ramạnh mẽ với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị bao gồm cả chính thức
và phi chính thức Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao trong đó nổi
Trang 2bật là các kỹ thuật về (Giống mới , Chăm sóc bón phân, phủ ni lon, phòngbệnh…) nhưng nhìn chung khả năng áp dụng ở quy mô nông hộ còn nhiềuhạn chế Thực tế, nhiều loại tiến bộ kỹ thuật sau khi chuyển giao đạt một sốkết quả nhất định Song vẩn còn nhiều hoạt động chuyển giao không pháthuy được hiệu quả, hoặc không được nông dân ứng dụng, hoặc sau khi dự
án kết thúc thì không còn áp dụng được và không bền vững, làm hao tốn vềthời gian, công sức và tiền của các bên Vấn đề này đã tạo ra khoảng cáchlớn giữa nhà nghiên cứu và người nông dân không phục vụ thiết thực chosản xuất, việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao và ápdụng tiến bộ kỹ thuật của nông hộ trong canh tác lạc là rất quan trọng Do
đó tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tiến bộ kỷ thuật của nông hộ trong canh tác lạc tại xã Thạch Đỉnh - Thạch Hà- Hà Tĩnh” Nhằm tìm
ra các giải pháp có tính ưu việt để phát huy các yếu tố tích cực và hạn chếcác yếu tố tiêu cực, thực hiện thành công các chương trình chuyển giao vànhân rộng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng việc chuyển giao và áp dụng các tiến bộ kỹthuật trong canh tác lạc ở các nông hộ trên địa bàn xã Thạch Đỉnh
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao và áp dụngcác tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lạc ở các nông hộ
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về tiến bộ kỹ thuật
Tiến bộ kỹ thuật (TBKT) là một danh từ mang tính chất trừutượng bao quát Nó thể hiện những nét mới và tiến bộ của một yếu tố kỹthuật nào đó, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinhdoanh và cải thiện đời sống nông dân và cư dân nông thôn [4]
TBKT chỉ mang tính chất tương đối vì khi chúng ta đặt nó ở mộtvùng này có thể mới nhưng khi đặt nó ở địa phương khác có thể nókhông còn là mới nữa TBKT có thể là sản phẩm của cơ quan nghiêncứu và chuyển giao, cũng có thể là sản phẩm của cả quá trình tự đánhgiá, tự lựa chọn và đổi mới của nông dân cho phù hợp hơn với nhu cầucủa sản xuất và đời sống của chính bản thân họ
2.1.2 Khái niệm về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển giao TBKT, trong đó
có một số định nghĩa có ý nghĩa gần với thực tế công tác chuyển giaoTBKT ở nước ta của một số tác giả sau:
Theo Swansas và Cloor (1940) thì chuyển giao TBKT hay côngnghệ là một quá trình tiếp diễn nhằm tiếp cận và thông tin có ích chocon người và từ đó giúp đỡ họ tiếp thu những kiến thức, kỹ năng vàquan điểm cần thiết để sử dụng có hiệu quả lượng thông tin hoặc côngnghệ đó
Theo Maunder (FAO, 1973) thì cho rằng: Chuyển giao TBKT đó
là một dịch vụ hay hệ thống nhằm thông qua các phương thức đào tạo,giúp đỡ người nông dân cải thiện các phương pháp, kỹ thuật canh tác,tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, tăng mức sống và nâng cao trình độgiáo dục xã hội của cuộc sống nông thôn [4]
Tóm lại, chuyển giao TBKT đề cập đến một tiến trình, bằng tiếntrình đó những kỹ thuật cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai mà họ cóthể hưởng lợi hoặc cảm thấy họ có thể hưởng lợi từ những kỹ thuật đó [12]
Trang 42.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật 2.1.3.1 Yếu tố bên ngoài
Yếu tố bên ngoài là những yếu tố tồn tại bên ngoài nông hộ Yếu tố bênngoài bao gồm: điều kiện tự nhiên, phương pháp chuyển giao, chính sách củanhà nước và địa phương, thị trường tiêu thụ và các tổ chức cộng đồng
Yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một vùng nào đó chính là môi trường sống của nhữngngười dân ở vùng đó Môi trường sống có thể hình thành cho con ngườinhững thói quen tập quán sinh hoạt phù hợp với môi trường đó Chính vì thếmôi trường tự nhiên này đã ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và ứng dụng cácTBKT của người dân [12]
Đời sống của người dân nông thôn có sự gắn bó chặt chẽ với môitrường tự nhiên, đó được ví như cái nôi nuôi sống họ từ đời này sang đờikhác Đối với một vùng hay một khu vực địa lý nào đó, điều kiện tự nhiêncàng thuận lợi thì kinh tế của vùng đó càng phát triển so với các vùng khác
Sự thuận lợi ở đây không chỉ là những nguồn lợi về vật chất sẵn có mà cònđược thể hiện rõ qua việc áp dụng các loại TBKT trong sản xuất của ngườidân Có thể thấy rằng cùng một loại TBKT nhưng khi đưa đến những vùngkhó khăn như vùng núi hay các vùng sâu, vùng xa thì hiệu quả áp dụng của
nó sẽ không cao bằng các vùng khác, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợihơn Sản xuất nông nghiệp gắn liền với môi trường tự nhiên, do đó việcchuyển giao các TBKT về cây trồng, vật nuôi cũng phải tuân thủ nghiêmngặt các yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn nước… Do đó đểchuyển giao một TBKT đến người dân, những người làm công tác chuyểngiao đều phải thử nghiệm sau đó mới có thể đưa vào áp dụng, cho nênkhông phải tất cả TBKT đều có thể đưa đến cho người dân
Vị trí địa lý cũng là yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc chuyển giao và áp dụng các TBKT của người dân Cách trở về địa lý
đã làm giảm cơ hội tiếp cận các TBKT của người dân, đồng thời giảm khảnăng áp dụng do thiếu thốn các nguồn lực đầu vào cho việc áp dụng của họ
“Vùng có đường giao thông thuận lợi thì cơ hội đầu tư về KHKT nhiềuhơn, kịp thời và thường xuyên hơn” [3]
Trang 5Yếu tố phương pháp chuyển giao
Phương pháp chuyển giao TBKT trong nông nghiệp là cách thức
chuyển giao thông tin về TBKT bao gồm cả kỹ thuật, cách tổ chức sản xuất
và thông tin thị trường tới nông dân Nói cách khác, phương pháp chuyểngiao là cách truyền bá các thông tin về TBKT tới nông dân để nông dân ápdụng được thực hiện trên quy mô rộng Nhìn chung có 3 phương phápchuyển giao:
- Phương pháp tiếp xúc cá nhân: Là phương pháp cán bộ chuyển giaothăm gặp gỡ và tư vấn cho từng nông dân, trao đổi với nông dân qua thưđiện thoại Phương pháp này giúp cán bộ chuyển giao giải quyết được cácvấn đề mang tính chất cá biệt cho từng nông dân, nên hiệu quả chuyển giaokhá tốt Tuy nhiên, việc chuyển giao này chỉ dừng lại ở một số hộ nào đó
do không đủ cán bộ để thực hiện chuyển giao một cách đồng bộ trên địabàn rộng lớn hoặc vì những lý do cá nhân mà chỉ một số hộ được cán bộquan tâm và chuyển giao
- Phương pháp thông tin đại chúng: Là phương pháp chuyển giaoTBKT tới quảng đại nông dân thông qua các phương tiện thông tin đạichúng như đài, tivi, áp phích, quảng cáo… phương pháp này có thể ưuđiểm là truyền thông tin tới nhiều nông dân, tuy nhiên các hộ nông dânthường có các quyết định khác nhau nên không thể có một phương phápchung cho đa số các hộ
- Phương pháp tiếp xúc nhóm: Các cán bộ chuyển giao truyền thôngtin về TBKT qua nhóm nông dân thông qua họp nhóm, trao đổi hội nghịđầu bờ, hội thảo, tập huấn, xây dựng điểm trình diễn và tham gia Bằngphương pháp này, cùng một lúc có thể chuyển tải TBKT đến nhiều cá nhânkhác nhau, đồng thời giữa các cá nhân có thể học hỏi, trao đổi nhiều kiếnthức với nhau, giúp đỡ họ nắm được TBKT
Như vậy mỗi phương pháp trên đều có những ưu và nhược điểmriêng, ưu điểm của phương pháp này có thể là nhược điểm của phươngpháp khác Các phương pháp đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chuyểngiao cũng như sự tiếp nhận bền vững của người dân, do đó việc lựa chọnphương pháp thích hợp có ý nghĩa quyết định đến thành công của việc
Trang 6chuyển giao Trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải dùng mộtphương pháp duy nhất mà tuỳ điều kiện cụ thể để linh hoạt lựa chọn và kếthợp các phương pháp sao cho hiệu quả nhất.
Yếu tố chính sách nhà nước
Chính sách nông nghiệp, nông thôn “là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặcphi kinh tế liên quan đến nông nghiệp nông thôn và các ngành có liên quanđến nông nghiệp, nông thôn nhằm tác động nông nghiệp, nông thôn theomột định hướng với mục tiêu nhất định” [17]
Chính sách nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối
sự phát triển kinh tế đất nước, nó không chỉ là chính sách đơn thuần vềnông nghiệp mà là các chính sách, biện pháp tác động vào tất cả các lĩnhvực, các ngành có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn Trong quá trìnhxây dựng và phát triển đất nước đặc biệt là sau đổi mới (1986), ở nước ta đã
sử dụng một loạt các chính sách nông nghiệp bao gồm chính sách tín dụngnông thôn, chính sách về giá, các chính sách chuyển giao khoa học kỹthuật… Các chính sách này đã có tác động tích cực đến đời sống nhân dân,góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đất nước Các chínhsách về chuyển giao và áp dụng TBKT cũng có đóng góp không nhỏ vàoviệc cải tạo nền sản xuất sản xuất nông nghiệp ở nước ta Năm 1993 nghịđịnh 13/CP ra đời, qua đó hệ thống khuyến nông được thành lập từ Trungương đến địa phương Thông qua hệ thống này các TBKT trong sản xuấtnông nghiệp đã được đưa đến tận những người dân ở những vùng nôngthôn xa xôi hẻo lánh nhất, từng bước cải tạo nền sản xuất, góp phần nângcao mức sống cho mọi người dân
Chuyển giao TBKT vào sản xuất là một quá trình, trong đó khôngchỉ bên chuyển giao mà bên tiếp nhận đều chịu ảnh hưởng của các chínhsách Đối với những người làm công tác chuyển giao là những người cán bộkhuyến nông thì họ chịu tác động của các quy định thực hiện chuyển giao,còn đối với những người tiếp nhận là nông dân thì các chính sách về hỗ trợvay vốn, cơ sở vật chất; chính sách đất đai,… có tác động đến việc áp dụngcác TBKT của họ Có thể thấy rằng: “các chính sách về chuyển giao TBKTkhông những giúp người dân tiếp cận được các TBKT trong sản xuất nông
Trang 7thôn mà còn hỗ trợ điều kiện thuận lợi cho các hộ ở nông thôn tăng cườngphát triển sản xuất, giải quyết khó khăn, từng bước thoát khỏi nghèo đói, làmcho tỷ lệ đói nghèo hàng năm được giảm xuống, bộ mặt nông thôn Việt Nam
có nhiều đổi mới” [14]
Yếu tố thị trường
Thị trường đầu vào, đầu ra là một trong những yếu tố quan trọngtrong việc tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật mới Việc phát triển một mô hình cóđầu vào và đầu ra khá thuận lợi và được đảm bảo thì khả năng thành côngcủa mô hình sẽ rất cao và ngược lại Một số mô hình được xây dựng thànhcông về mặt kĩ thuật và sản lượng đạt được, tuy nhiên thị trường khôngđảm bảo thì người dân không đủ tin cậy để áp dụng mô hình [19]
Nếu đầu ra của hộ gặp nhiều khó khăn như: không có thị trường đểtiêu thụ hoặc bị ép giá gây nên tổn thất về kinh tế của nông hộ thì hộ sẽngần ngại trong tiếp nhận và thực hiện TBKT, nếu ban đầu có chấp nhận và
áp dụng nhưng sau một thời gian sẽ dừng lại và không nhân rộng nữa Yếu tố về các tổ chức cộng đồng
Các tổ chức cộng đồng thể hiện mối quan hệ xã hội của người dân
trong cộng đồng Tùy theo từng nơi và từng địa phương mà các tổ chứccộng đồng có những hoạt động, những chức năng và nhiệm vụ khác nhau.Tại các dân tộc miền núi thì người đứng đầu các tổ chức cộng đồng chính làcác già làng, trưởng bản; đây sẽ là những người đưa lại thông tin mang tínhquyết định cho dân bản Các tổ chức như: hội phụ nữ, hội nông dân, hộiphụ lão, chi đoàn thanh niên và các câu lạc bộ khác sẽ là nguồn đưa lạithông tin được tin cậy nhất trong cộng đồng địa phương tại miền xuôi Tuy
tổ chức có vai trò riêng khi tập hợp lại sẽ giải quyết chung những sự việccủa cộng đồng, được đông đảo người dân trong cộng đồng hưởng ứng vàchấp nhận
Theo Nguyễn Thị Hồng Mai (2001) “sự tồn tại của những mối quan
hệ sản xuất mới trong cộng đồng nông thôn là hết sức quan trọng để pháthuy được sức mạnh chung, vừa tạo điều kiện để các hộ phát triển kinh tế”.Nếu các tổ chức cộng đồng hoạt động tốt thì mối quan hệ của các thànhviên sẽ tốt hơn, lúc đó mọi thông tin mới trong sản xuất sẽ được truyền bá
Trang 8một cách đầy đủ Các nông hộ trong cộng đồng sẽ có nhiều cơ hội để họctập lẫn nhau và cùng giúp đõ nhau để phát triển kinh tế
2.1.3.2 Yếu tố nội tại
Yếu tố nội tại là những yếu tố mang tính chất chủ quan và phụ thuộcvào nguồn lực của hộ gia đình như: đất đai, tuổi, số nhân khẩu, trình độ vănhoá, bình đẳng giới trong việc ra quyết định chấp nhận TBKT
Yếu tố nguồn lực của hộ
Các yếu tô về nguồn lực cũng khá quan trọng, nó sẽ quyết định xem giađình đó có đủ khả đầu tư vào mô hình, và trang trải các khoản chi phí haykhông [12] Vì đầu tư ban đầu lớn nên việc áp dụng mô hình không phùhợp với tâm lý một số người dân nhất là người dân nghèo hay những ngườidân sợ rủi ro Do vậy, các hộ này không có đủ nguồn lực để đầu tư thâmcanh mà chủ yếu dựa vào các phế phụ phẩm từ chăn nuôi để canh tác lạctheo truyền thống nên hiệu quả kinh tế chưa cao
Tóm lại, yếu tố nguồn lực của hộ là một yếu tố ảnh hưởng quan trọngtrong quá trình hộ quyết định áp dụng TBKT và chấp nhận mô hình Nếunguồn lực của hộ ổn định thì họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro và chấp nhậnkinh phí để đầu tư thâm canh Và ngược lại, khi nguồn lực không ổn địnhthì hộ sẽ sợ rủi ro và không đủ kinh phí để chi phí cho đầu tư cho mô hình
Yếu tố về bình đắng giới
Hiện nay trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng vấn đề bấtbình đẳng giới vẫn đang còn tồn tại không chỉ trong việc tiếp nhận TBKT
mà còn ở nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội Sự bất bình đẳng
đó thể hiện qua khả năng tiếp cận giáo dục và các nguồn lực, sự phân cônglao động, quyền quyết định và hưởng thành quả lao động…
Về khả năng tiếp nhận các TBKT, theo tác giả Chi (1998): nữ nôngdân ít được hỗ trợ kỹ thuật từ các dịch vụ khuyến nông, đồng thời theo tácgiả Saito (1992) thì kiến thức nông nghiệp chuyển giao từ người chồngsang người vợ không có hiệu quả Thực tế thì điều này cũng dễ hiểu vì phụ
nữ thường ít được học nên khả năng lĩnh hội thông tin kém, đồng thờithông tin từ người chồng mang lại thiếu độ chính xác do khả năng cũng nhưthái độ truyền đạt của họ kém hơn [16]
Trang 9Theo bộ Nông nghiệp & PTNT (1998 và 1999) thì phụ nữ chỉ chiếm25% trong tổng số người tham gia các chương trình tập huấn về chăn nuôi
và 10% tham gia trong các chương trình tập huấn về trồng trọt trong khi họ
là những người trực tiếp tham gia sản xuất trong các lĩnh vực này Tác giảLâm Thị Mộng Phương cũng cho rằng: các dự án, khuyến nông thường mờichủ hộ tham gia tập huấn, do vậy có tới 80% nam giới tham gia tập huấn về
kỹ thuật chăn nuôi và trồng trọt, tồn tại hiện tượng “nữ làm nam học”, phụ
nữ ít được tham quan các mô hình [15]
Từ đó cũng có thể thấy rằng hiện nay khả năng tiếp cận các TBKTcủa phụ nữ vẫn còn rất hạn chế Vì vậy, việc phân tích yếu tố bình đẳnggiới trong quá trình chuyển giao TBKT là rất quan trọng, đảm bảo cho côngtác chuyển giao được thành công và bền vững
Tóm lại, để có thể chấp nhận và áp dụng một TBKT thì có rất nhiềucác yếu tố ảnh hưởng, bao gồm các yếu tố bên ngoài và các yếu tố nội tạinông hộ Nhưng không phải các yếu tố này sẽ ảnh hưởng một cách đồngloạt đến các nông hộ chấp nhận hoặc không chấp nhận mà mỗi một yếu tố
sẽ có những ảnh hưởng riêng, tùy thuộc vào từng hộ gia đình sẽ có yếu tốảnh hưởng tiêu cực và cũng có một số ảnh hưởng tích
2.2 Cơ sở thực tiễn.
2.2.1 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lạc ở nước ta
2.2.1.1 Tình hình phát triển canh tác lạc qua các năm ở nước ta
Ở Việt Nam cây lạc được trồng từ lâu đời và được sử dụng rộng rãitrong đời sống hằng ngày của nhân dân ta Hiện nay, lạc được phân bố chủyếu ở 4 vùng lớn là: Miền núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng,khu bốn cũ và miền Đông Nam Bộ Cả 4 vùng này chiếm đến 3/4 diện tích
và sản lượng, còn lại rải rác ở một số vùng
Theo Ngô Thế Dân và cộng sự [10], sự biến động về diên tích, năngsuất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1998 được chialàm các giai đoạn:
- Giai đoạn từ năm 1975 đến 1979: diện tích lạc giảm 5,5% (từ 97,1nghìn ha xuống còn 91,8 nghìn ha), năng suất giảm 14,6 % (1,03 tấn /haxuống 0,88 tấn/ha) Nguyên nhân chính là do thực trạng phong trào hợp tác
Trang 10xã bị sa sút, do yêu cầu đủ lương thực được đặt lên hàng đầu, nên sản xuấtlạc không được đầu tư phát triển.
- Giai đoạn 1980 – 1987: diện tích trồng lạc tăng nhanh từ 91,8 nghìn
ha (năm 1979) lên 237,8 nghìn ha (năm 1987), tốc độ tăng trưởng hàng năm5,6% đến 24,8% năm Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980
và sản lượng tăng 2,3 lần Giai đoạn này sản xuất lạc chủ yếu mang tínhquảng canh, nên năng suất tăng không đáng kể, từ 8,8 – 9,7 tạ /ha
- Giai đoạn từ 1988 đến 1993, diện tích trồng lạc giảm 15,3%.Nguyên nhân chủ yếu là do mất thị trường tiêu thụ truyền thống, thị trườngmới chưa được tiếp cận
- Giai đoạn 1994 đến 1998, diện tích trồng lạc năm 1998 tăng 8%,năng suất tăng 20% và sản lượng tăng 25% so với 1994 Giai đoạn này ViệtNam đã tiếp cận được với thị trường quốc tế mới và nhu cầu chế biến trongnước cũng tăng
Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã có những chủtrương và chính sách khuyến khích, đầu tư phát triển sản xuất lạc Do đódiện tích lạc trong những năm gần đây đã tăng với tốc độ khá nhanh So vớicác cây công nghiệp khác, lạc hiện nay chiếm diện tích khá lớn Diện tíchlạc ở nước ta sau những năm giải phóng đã tăng gấp nhiều lần so với trongchiến tranh Năm 1965 - năm kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất - đếnnăm 1995, diện tích lạc đã tăng gấp 3 lần[13]
Diện tích trồng lạc ở nước ta trong những năm gần đây không mở rộngnhiều (năm 1995 là 259,9 nghìn ha đến năm 2006 cũng chỉ có 240 nghìn ha)nhưng do áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nên sản lượng lạc đã tăng lênnhiều từ 334,5 nghìn tấn (năm 1995) tăng lên 464 nghìn tấn (năm 2006)
Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc ở nước ta còn rất lớn nhưng để
có thể khai thác triệt để tiềm năng này cần đẩy mạnh hơn nữa công tácnghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất,tạo điều kiện để mọi người dân có thể tiếp thu một cách nhanh chóng nhằmgóp phần đưa năng suất lạc của Việt Nam sánh kịp với các nước bạn và trênhết là nâng cao được đời sống cho nhân dân
Trang 112.2.1.2 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lạc ở nước ta 1) Kỹ thuật về giống
Trong những năm gần đây, với mục đích tăng sản lượng lạc cho đấtnước, đáp ứng mục tiêu dùng và xuất khẩu, các nhà khoa học chọn tạogiống có năng suất, phẩm chất tốt nhằm đưa nền kinh tế nước nhà pháttriển, tăng thu nhập cho người dân
Năm 1995 đến 2005 Việt Nam đã chọn tạo được 14 giống lạc mới,trong đó có 5 giống quốc gia được chọn tạo bằng lai hữu tính và gây độtbiến, 9 giống tiến bộ kỹ thuật được chọn lọc từ các tập đoàn lạc nhập nội.Chúng đã được trồng phổ biến ở các tỉnh thành trong cả nước [6]
Các giống được chọn tạo từ gây đột biến có: Giống V79, có năngsuất trung bình 25 tạ/ha, tỉ lệ nhân 73-76 %, khối lượng 100 hạt 48 -52g,chịu hạn khá, song dễ mẫn cảm với các bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vikhuẩn [8] Giống 4329, có năng suất trung bình là 25 tạ/ha, khối lượng 100hạt 55-60 g, tỷ lệ nhân đạt 70 – 72%, thích hợp cho vùng đồng bằng, trung
du Bắc bộ [11]
Các giống được chọn tạo bằng lai hữu tính là: Giống lạc sen lai75/23, có khối lượng 100 hạt là 50 – 55 g, năng suất trung bình là 28 tạ/ha,được trồng phổ biến ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ [6] Giống L12 cónăng suất trung bình là 30 tạ/ha, chịu hạn tốt, kháng trung bình một số bệnhnhư: đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khối lượng 100 hạt 50 – 60 g Giống VD2,chín sớm, năng suất trung bình đạt 30 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 46 – 48 g,
tỷ lệ nhân cao 78 – 80%, thích hợp cho các tỉnh phía nam [6]
Các giống được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật: Giống MD.7 cókhối lượng 100 hạt đạt 60 -65 g, tỷ lệ nhân đạt 70 – 75%, có tính thích ứngrộng, trồng thuần, trồng xen đều có năng suất, năng suất trung bình đạt 35 tạ/
ha, hiện nay được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của Việt Nam [3].Giống L14 có năng suất trung bình cao 40 tạ/ha, khối lượng 100 hạt đạt 58 –60g, có khả năng kháng các bệnh hại lá cao, chịu hạn tốt Giống VD.1 đượcchọn lọc từ giống Lỳ địa phương, chín rất sớm, năng suất trung bình 30tạ/ha, tỷ lệ nhân rất cao đạt 78%, khối lượng 100 hạt chỉ đạt 42g, thích hợpcho các tỉnh phía nam [7] Giống LO.2 có năng suất trung bình là 35 tạ/ha,thâm canh tốt có thể đạt 5,0 tấn/ha, khối lượng 100 hạt 60 -68 g, tỷ lệ nhân là
Trang 1268- 70%, chịu hạn, kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn [6] GiốngLO5, chín sớm, kháng bệnh mốc vằng cao, có năng suất trung bình đạt 30 tạ/
ha, khối lượng 100 hạt đạt 50 -55 g, tỷ lệ nhân cao đạt 76 – 80 %, hàm lượngdầu 50,8%, thích hợp cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng [6] Giống LO.8 cónăng suất trung bình 30 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 67 -72 g, tỷ lệ nhân cao
74 -77%, kháng sâu chích hút, bệnh hại lá và héo xanh vi khuẩn ở mức trungbình [8]
Từ những năm 1984 - 1990, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệpViệt Nam đã tiến hành thu nhập và nhập nội 1271 mẫu giống từ 40 nướctrên thế giới, trong đó có 100 giống địa phương [9]
Tại Viện cây có dầu miền Nam, Ngô Thị Lam Giang và cộng tácviên đã đánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo và chọn lọc ra một sốgiống có triển vọng, có thời gian sinh trưởng trung bình là VD2, VD3,VD4, VD5 Các giống này cho năng suất cao hơn giống Lỳ (giống đốichứng) [10]
Hoàng Tuyết Minh và cộng tác viên (1995) đã tiến hành gây đột biếngiống lạc Sen lai chọn ra hai dòng D332 và D329 có năng suất cao (23 - 24 tạ/ha), ổn định, có khả năng chống chịu tốt Dòng D332 đã được Bộ Nôngnghiệp và phát triển nông thôn cho khu vực hoá năm 1995[10]
Gần đây nhóm đề tài nghiên cứu giống lạc mới của trường Đại họcNông Lâm - Huế đã ứng dụng phương pháp đột biến phóng xạ (tia gamma)trên cây lạc Kết quả đã tạo ra được một số giống lạc có triển vọng trongsản xuất ở khu vực miền Trung là DT1, DT2 và một số dòng đột biến khác
có tiềm năng khá tốt về các mặt [11]
Có thể nói rằng, trong thời gian qua những nghiên cứu về cây lạc ởnước ta đã mang lại những thành công nhất định trong công việc lai tạogiống mới Những thành công của các nhà khoa học đã góp phần khôngnhỏ vào việc đa dạng hoá bộ giống lạc cũng như các biện pháp tăng năngsuất và hiệu quả kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập vàđời sống của người nông dân
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu thì đòi hỏi phải
có các vùng chuyên canh sản xuất lạc, người sản xuất phải được trang bị
Trang 13các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, đồng bộ Bên cạnh đó, việc tạo ra cácgiống mới bằng ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ là một trongnhững khâu quyết định đến sản xuất lạc của nước ta.
2) Kỹ thuật về chăm sóc và bón phân
Chuyển giao KHKT đã tập trung thực hiện phương án: chọn môhình phù hợp với vùng đất cũng như nhu cầu của thị trường và chọn địaphương hội tụ đủ điệu kiện đất đai, khí hậu, con người để thực hiện thànhcông những mô hình chuyển giao KHKT trên địa bàn Song song với việcxây dựng các mô hình, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sảnxuất nông nghiệp, mỗi năm tổ chức nhều lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọtcho bà con tham gia, kỷ thuật bón phân cây trồng luôn đựợc quan tâm tậphuấn và chia sẻ với nông dân lưọng phân cần bón, phương pháp bón vv…nhằm bón phân cho cây trồng một cách hiệu quả và giảm chi phí như cácchương trình 3 giảm 3 tăng Năm năm qua với sự tìm tòi, nghiên cứu củacán bộ, kỹ sư chuyên ngành cùng với tranh thủ các nguồn lực trong và bênngoài nhiều mô hình chuyển giao KHKT được xây dựng và nhân rộng, gópphần quan trọng đẩy nhanh mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, hướng tới sản xuất hàng hóa
3) Kỹ thuật phủ bạt nilon
Trong những năm qua, song song với việc nâng cao năng suất lạc, các
kỹ thuật xây dựng quy trình kỹ thuật che phủ bạt nilon đã được chúng taquan tâm, một mặt nhằm sử dụng có hiệu quả nhất nguồn đất đai và công laođộng, mặt khác nhằm đảm bảo đủ yêu cầu về dinh dưỡng cho cây lạc pháttriển tốt trong thời kỳ đâm tia ra hoa Che phủ cho lạc ngoài vấn đề dữ ẩm, dữnhiệt, hạn chế đất bị dí dẽ khi gặp mưa và đất tơi xốp hơn và cải tạo đất
4) Kỹ thuật về phòng bệnh
Thông qua tập huấn kỹ thuật, công tác thông tin truyền sâu rộng đãgiúp người dần dần ý thức được tầm quan trọng của việc phòng bệnh Hàngnăm ở xã tổ chức tập huấn phòng bệnh cho lạc
Phòng trừ dịch bệnh tổng hợp là hướng cơ bản trong chuyển giao cácTBKT về trồng trọt hiện nay ở nước ta Do đó làm đất kỷ, bón vôi, bónphân cân đối hợp lý phòng bệnh tốt giúp lạc sinh trưởng và phát triển
Trang 14nhanh, nâng cao năng suất và sản lượng của lạc luôn được các cơ quanchuyển giao quan tâm đề cập.
2.2.2 Thực tiễn hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tại huyện Thạch Hà- Hà Tĩnh
Dưới sự chỉ đạo của UBND huyện, cùng với sự nổ lực không ngừngphấn đấu tìm tòi học hỏi, áp dụng vào sản xuất những tiến bộ Khoa học vàCông nghệ, sáng kiến kinh nghiệm của cán bộ và lãnh đạo Trung tâmCGKH&CN Góp phần vào thực hiện nghị quyết số 26 hội nghị BCHTrung ương Đảng lần thứ 07 khóa X, Nghị quyết 08 của Ban chấp hànhTỉnh ủy Hà Tĩnh, chương trình hành động của Huyện ủy và Đề án phát triểnnông nghiệp, nông dân và nông thôn giai đoạn 2010- 2015 và đến năm
2020 của Ủy ban nhân dân huyện Thạch Hà Năm 2009, Trung tâmCGKH&CN đã xây dựng một số mô hình Dự án mang tính đột phá trongchuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp như:
Mô hình sản xuất khảo nghiệm giống lạc mới L14,L23 và TB25 tại
xã Thạch Trị, Thạch Đỉnh với quy mô 3 ha trong đó 2 ha lạcL14, L23 và 1
ha Lạc TB25 vụ Đông Xuân 2008- 2009, được các cấp các ngành ở tỉnh vàhuyện đánh giá đạt kết quả cao, đặc biệt giống lạc TB25 được người dânđón nhận rất cao, năng suất bình quân giống lạc TB25 đạt 190- 200kg/sào,năng suất giống lạc L23 đạt 170- 180kg/sào, cao hơn các giống lạc đangsản xuất đại trà trên đồng ruộng 20- 30% về năng suất, thời gian sinhtrưởng ngắn hơn giống lạc L14 từ 5- 7 ngày, sau khi mô hình thành công đã
tổ chức hội thảo tuyên truyền nhân rộng mô hình trong toàn huyện Hiệnnay đã được nhân rộng ở nhiều xã trong vụ Đông như Thạch Đài, ThạchVăn, Việt Xuyên, Thạch Tân
Triển khai thực hiện Đề tài “Ứng dụng KH&CN sử dụng Dolomitebón thay vôi và che phủ Nilon phục vụ sản xuất lạc vụ Đông xuân 2009-
2010 tại xã Thạch Đỉnh,Tượng Sơn” triển khai từ tháng 1- 6/2010 quy mô 3
ha, đề tài đạt kết quả cao được lãnh đạo tỉnh, huyện đánh giá cao, bà connông dân đồng tình hưởng ứng, năng suất lạc mô hình cao hơn các ruộngđối chứng 520kg/ha, vụ thu đông năm 2010 đa nhân rộng được 15 ha tại xãThạch Trị và Tượng Sơn, UBND xã Tượng Sơn đã đưa vào kế hoạch sản
Trang 15xuất Đông xuân 2010- 2011 với 100% diện tích (140 ha) lạc toàn xã thựchiện che phủ rơm rạ để tận dụng nguyên liệu dư thừa của sản xuất lúa sangsản xuất lạc nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lạc trên địa bàn xã.
Với vị trí quan trọng của cây lạc, nên những năm gần đây cây lạc HàTĩnh đang phát triễn khá nhanh, các địa phương đang chuyển dịch cơ cấucây trồng mùa vụ, giảm nhẹ diện tích trồng khoai lang năng suất thấp sangtrồng lạc và áp dụng tiến bộ kỷ thuật trong thâm canh lạc Vì vậy diện tíchtrồng lạc trong tỉnh tăng nhanh Năm 2008 diện tích 20.615 ha, năng suất21,62tạ/ha Năm 2009 diện tích 20,951 ha, năng suất21.37 tạ/ha Năm2010diện tích 22,450 ha, năng suất 22.53 tạ/ha Dự kiến năm 2011 tăngdiện tích 27,000 ha, năng suất ước tính đạt 21.50 tạ/ha
Thạch Hà là một trong những huyện có diện tích lạc lớn của tỉnh vớidiện tích sản xuất lạc hàng năm gần 2500 ha trong đó 10 xã vùng bãi ngangđóng vai trò chủ lực với diện tích xấp xỉ 1400 ha, năng suất bình quân toànhuyện 21,66 tạ/ha Yếu tố dẫn đến thành công trong sản xuất lạc của Thạch
Hà là thường xuyên du nhập vào những giống lạc mới có năng suất cao, ápdụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nên đã góp phần tăng năng suất lạchàng năm .[2 ]
Trang 16PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ canh tác lạc ở xã Thạch Đỉnh Thạch Hà - Hà Tĩnh
-3.1.2.Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Tại xã Thạch Đỉnh -Thạch Hà - Hà Tĩnh
Về mặt thời gian: Nghiên cứu tình hình chuyển giao và yếu tố ảnh hưởngđến việc chuyển giao và áp dụng các TBKT trong canh tác lạc ở các nông
hộ trên địa bàn xã Thạch Đỉnh từ tháng 01/2011 – 5/2011
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài có 2 nội dung lớn:
3.2.1 Tìm hiểu thực trạng chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lạc của các nông hộ tại xã Thạch Đỉnh.
- Các loại TBKT đã được chuyển giao
- Các cơ quan, đơn vị tham gia chuyển giao TBKT ở địa phương
- Các phương pháp chuyển giao mà các cơ quan đã áp dụng
- Tình hình tiếp cận các TBKT đã được chuyển giao
- Mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao
- Những vấn đề còn hạn chế trong quá trình chuyển giao TBKT
- Những khó khăn của người dân khi áp dụng các TBKT
3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lạc của các nông hộ
- Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
+Yếu tố điều kiện tự nhiên
+ Yếu tố phương pháp chuyển giao
Trang 17+Yếu tố nguồn lực của hộ
Tiêu chí chọn điểm nghiên cứu :
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động canh tác lạc
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chuyển giao TBKT
Xã Thạ
ch
Đỉn
h
Trang 18Xã Thạch Đỉnh thuộc huyện Thạch Hà là một xã có những điều kiệnthuận lợi cho phát triển trồng lạc như: Đất đai màu mỡ, tận dụng được phếphụ phế phẩm của chăn nuôi, thời gian lao động rộng nhàn rỗi của nôngdân, thị trường tiêu thụ sản phẩm của lạc đang mở rộng Xã thuộc diện xãnghèo nằm trong chương trình 135 của chính phủ nên ở đây luôn có các dự
án hỗ trợ người dân trong hoạt động canh tác lạc Tuy nhiên, với đặc trưngcủa khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, chi phí vật tư cao, thị trườngkhông ổn định Mặc dù đã có nhiều chính sách địa phương và các cơ quanchuyển giao hỗ trợ giống, vật tư, kỹ thuật nhưng việc áp dụng chấp nhận
mô hình của nông hộ còn nhiều hạn chế: hoạt động chuyển giao không pháthuy được hiệu quả, hoặc không được nông dân ứng dụng, hoặc sau khi dự
án kết thúc thì không còn áp dụng được và không bền vững.Trên đây lànhững lý do mà xã Thạch Đỉnh đã được chọn làm điểm nghiên cứu nhằm tìm
ra yếu tố nào đã tác động đến những hạn chế trên
- Chọn điểm nghiên cứu là thôn 3 và thôn 6 xã Thạch Đỉnh XãThạch Đỉnh có 12 thôn, tuy nhiên nhóm chỉ chọn thôn 3 và thôn 6 làm điểmnghiên cứu vì 2 thôn này có hoạt động sản xuất nông nghiệp với cơ cấu câytrồng khá đa dạng, đặc biệt là trồng lạc phát triển với nhiều điều kiện thuậnlợi, đất đai màu mỡ, tận dụng được phế phụ phế phẩm của chăn nuôi, thờigian lao động rộng nhàn rỗi của nông dân và người dân được tập huấn các
kĩ thuật mới thường xuyên và áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sảnxuất ở đây Thôn 3 mức độ thâm canh lạc thấp hơn, người dân áp dụngTBKT và canh tác theo phưong thức truyền thống, còn thôn 6 canh tácthâm canh có đầu tư theo TBKT mới Tìm hiểu khả năng tiếp cận cácTBKT của hai thôn có gì khác biệt
3.3.1.2 Chọn mẫu.
- Tiêu chí chọn hộ:
+ Là những hộ tham gia đang canh tác lạc
+ Hộ đã được chuyển giao về TBKT trong canh tác lạc
- Chọn hộ điều tra: Chọn ngẫu nhiên 60 mẫu điều tra
Trang 19- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên lấy danh sách tên hộcủa hai thôn tại trưởng thôn, sau đó chọn nhẫu nhiên theo tỷ lệ trong danhsách các hộ để tiến hành phỏng vấn điều tra.
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các thông tin số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hộicủa xã Thạch Đỉnh qua các báo cáo tổng kết về kinh tế - xã hội năm 2008,
bộ kỹ thuật ở các nông hộ và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng của
họ trong canh tác lạc tại xã Thạch Đỉnh
3.3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được mã hoá và xử lý bằng máy vi tính thôngqua phần mềm Excel và SPSS V16.0
Trang 20Số liệu được xử lý bao gồm 3 nhóm cơ bản:
- Xử lý thống kê mô tả (Descriptive statistics)
- Kiểm định ý nghĩa thống kê (phân tích ANOVA một nhân tố):Nhằm tìm hiểu sự khác nhau về giá trị trung bình giữa các yếu tố có ý nghĩathống kê hay không
- Sử dụng hàm hồi quy tuyến tính (Regression - linaer): Nhằm xácđịnh ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến việc áp dụng TBKT của hộ
Trang 21PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội Xã Thạch Đỉnh Thạch Hà
-Hà Tĩnh.
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thạch Đỉnh là một xã đồng bằng ven biển của huyện Thạch Hà - HàTỉnh có vị trí địa lý: phía nam giáp mỏ sắt Thạch Khê (xã Thạch Khê), phíabắc giáp xã Thạch Bàn, phía đông giáp xã Thạch Hải, phía tây được baobọc bởi sông Cửa Sót Xã có diện tích tự nhiên là 876,46 ha nằm cáchtrung tâm thành phố Hà Tĩnh khoảng 5km, với đặc điểm vị trí địa lý này, xãrất thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, thương mại với các xãkhác và thành phố cũng như các huyện khác trong tỉnh Địa hình của xãphân bố trên 3 vùng sinh thái chính:
- Vùng bán sơn địa: phần lớn nằm ở phía Đông Nam giáp xã ThạchHải và mỏ sắt Thạch Khê phân bố từ xóm 1 đến xóm 3 người dân sản xuấtnông nghiệp và khai thác tài nguyên đá, là khu vực nằm trong dự án khaithác mỏ sắt thạch khê
- Vùng đồng bằng : phân bố quanh trung tâm xã từ xóm 4 dến xóm 9chủ yếu người dân sản xuất nông nghiệp
- Vùng đất cát ven biển: phân bố theo xóm 10 đến xóm 13 dọc theosông cửa sót chủ yếu khai thác và nuôi trồng thuỷ sản
Thạch Đỉnh có khí hậu chung với cả tỉnh nằm trong khu vực có khíhậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đônglạnh Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa TrungQuốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so vớicác tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng.Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao Nhiệt độ không khí vào mùađông chênh lệch thấp hơn mùa hè Nhiệt độ đất bình quân mùa đôngthường từ 18-22oC, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC Tuynhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và
độ ẩm của đất Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam,trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bìnhquân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm [1]
Trang 224.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân số và lao động
Việc tìm hiểu cơ cấu dân số và lao động giúp nắm bắt được tiềmnăng và sự phân bố về nguồn nhân lực của địa phương trong các lĩnh vựcsản xuất và địa bàn dân cư Kết quả tìm hiểu về dân số và lao động của xãthể hiện ở bảng 4.1.cho thấy: Dân số của xã tăng nhanh qua các năm, năm
2010 toàn xã có 3611 người ( nam giới chiếm 52.89 %) lực lượng lao độngcủa xã khá dồi dào.Trong đó lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ
lệ cao nhất (57.29 %) và thấp nhất là trong lĩnh vực lâm nghiệp (1.55 %),lao động trong 2 lĩnh vực này có xu hướng giảm dần qua các năm Riêngcác lĩnh vực khác như công nghiệp, thương mại, dịch vụ và trong các ngànhnghề khác thì lực lượng lao động tham gia vào các lĩnh vực này có xuhướng tăng dần qua các năm, sở dĩ như vậy là vì giá trị mang lại từ các lĩnhvực này cao hơn so với lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp
Bảng 4.1: Cơ cấu dân số và lao động của xã Thạch Đỉnh năm 2009-2010 TT
Trang 23Lao động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tăng nhanh qua từngnăm, điều này đã thể hiện bước chuyển biến quan trọng trong việc thu hútngày càng đông lao động ra khỏi lĩnh vực sản xuất nông nghiệp kém hiệuquả và có thu nhập thấp như hiện nay sang lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
4.1.2.2 Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế của xã qua các năm (2008 2010)
-Qua bảng 4.2 có thể thấy, trong lĩnh vực nông – lâm – thuỷ sản, tổnggiá trị hàng năm tăng Tỷ trọng ngành nông nghiệp so với các ngành kháctrong cơ cấu kinh tế của xã là 36.1%, đây cũng là kết quả đáng khích lệ.Tổng giá trị ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ năm 2010 chiếm 63.9
% cơ cấu nền kinh tế đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, đó là tỷtrọng ngành công nghiệp và dịch vụ đang có xu hướng tăng qua cácnăm.Theo phòng tài chính xã thì năm 2010 trên địa bàn xã đang có nhiềuhạng mục xây dựng trong lĩnh vực công nghiệp phục vụ cho dự án mỏ sắtThạch Khê nên trong những năm tới, khi những hạng mục xây dựng nàyhoàn tất và đưa vào sản xuất sẽ phần nào đẩy nhanh tốc độ tăng trưởngngành công nghiệp của xã
Bảng 4.2: Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế của xã qua các năm
Đvt: triệu đồng
Năm
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội của xã Thạch Đỉnh năm 2010)
4.1.2.3 Thu nhập đầu người
Thu nhập bình quân đầu người của xã ở mức trung bình, bình quânkhoảng 1200000 đồng/người/tháng trở lên chiếm tỷ lệ còn ít Nguồn thuchủ yếu của người dân nông thôn chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp với điều
Trang 24kiện sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu là sử dụng trong gia đình Vì vậy mà thu nhậpbình quân đầu người không cao
có các chính sách cải tạo và sử dụng nhưng chỉ dừng lại ở mức tương đối
do hạn hẹp về kinh phí Nếu có vốn đầu tư và quy hoạch khai thác tốtnhững diện tích đất này có thể sử dụng vào mục đích chăn nuôi như mở cáctrang trại, trồng cỏ để chăn nuôi trâu, bò…
Trang 252.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên
(Nguồn: Số liệu thống kê năm 2010 của phòng địa chính xã Thạch Đỉnh)
4.1.2.5 Tình hình sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi của xã
- Diễn biến về diện tích năng suất và sản lượng một số cây lương thực và cây lấy củ được trồng trên địa bàn xã.
Cũng như nhiều địa phương khác trong toàn huyện, hiện nay trên địabàn xã Thạch Đỉnh cây lương thực và cây lấy cũ chủ yếu vẫn là lúa, lạc, khoai,rau màu Tình hình sản xuất các loại cây trồng này được thể hiện ở bảng 4.4
Bảng 4.4: Diện tích năng suất và sản lượng một số cây lương thực và
cây lấy củ của xã năm 2010
TT Loại cây trồng Diện tích (ha) N.suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 26trung bình 4,4 tấn/ha Loại cây có diện tích gieo trồng sau lúa là lạc, cây lạccũng được xem là thế mạnh của Thạch Đỉnh nói chung và Thạch Hà nóiriêng Lạc là nguyên liệu của sản phẩm kẹo lạc Cu Đơ khá nổi tiếng, ngoài
ra lạc có vai trò khá quan trọng trong xuất khẩu và đóng góp vào thu nhậpcủa nông hộ
Cây khoai lang trong những năm gần đây, diện tích khoai lang ở xãcàng bị thu hẹp nhiều hơn do năng suất giảm và giá lạc tăng nên nguời dânchuyển đổi sang trồng lạc cũng như theo sự chỉ đạo của chính quyền xã
Rau màu cũng không phải là cây trồng thế mạnh của địa phương, vớidiện tích gieo trồng là 15 ha nhưng theo tìm hiểu thì hiện nay rau màuđược trồng chủ yếu để ăn và trồng để bán lẻ ở chợ mà ít có mục đích sảnxuất hàng hoá lớn
- Tình hình chăn nuôi của xã qua các năm
Hiện nay xã Thạch Đỉnh có 4 loại vật nuôi chính đó là trâu, bò, lợn
và gia cầm, ngoài ra còn có dê, thỏ nhưng cũng chỉ mới phát triển trongnhững năm gần đây và số lượng không đáng kể Diễn biến tình hình chănnuôi của xã được thể hiện ở bảng 4.5
Bảng 4 5: Số lượng đàn vật nuôi của xã qua các năm
(Nguồn: Số liệu thống kê xã Thạch Đỉnh, 2010)
Kết quả bảng 4.5 cho thấy: Số lượng đàn vật nuôi của xã tăng lên quacác năm, riêng số đàn trâu giảm do đợt rét kéo dài diễn ra vào tháng 11 năm
2009 làm mất 16 con Quy mô chăn nuôi của xã ngày càng phát triển, nhất
là chăn nuôi gia cầm, lợn và chăn nuôi bò Trong những năm gần đây, xã đãchú trọng hơn vào phát triểngia cầm, đàn bò và đàn lợn Sự thay đổi trên lànhờ cùng với chủ trương nạc hoá đàn lợn và cải tạo đàn bò, trong nhữngnăm qua trên địa bàn xã có nhiều chương trình, dự án cũng chú trọng đầu tưvào các lĩnh vực này
Trang 274.2 Một số đặc điểm chính của hộ canh tác lạc ở xã Thạch Đỉnh
Bảng 4 6: Một số chỉ tiêu về nguồn nhân lực của các hộ điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Số liệu ở bảng 4.6 cho thấy: tuổi , số nhân khẩu và trình độ chủ hộ có
sự khác biệt giữa hai thôn Độ tuổi bình quân của thôn 6 là (39.57 tuổi) cònthôn 3 có độ tuổi (44.37 tuổi).Như vậy tuổi của chủ hộ trẻ hơn có mức ápdụng mô hình tốt hơn, sự khác biệt này có ý nghĩa (Sig<0.05) Tổng sốnhân khẩu của Thôn 6 cao hơn Thôn 3 Về trình độ văn hoá của các chủ hộđều hết lớp 9 và ít có sự sai khác Số lao động chính của hai nhóm hộ bìnhquân/hộ khoảng 2 lao động không ảnh hưởng đến khả năng hộ áp dụng
4.2.2 Diện tích và năng suất của một số cây trồng chính của nông hộ
Việc tìm hiểu diện tích và năng suất của một số cây trồng chính của
hộ nhằm đánh giá khả năng đầu tư sản xuất của các hộ đối với các loại câytrồng chính Kết quả về tìm hiểu về diện tích và năng suất một số loại câytrồng chính của các hộ và được thể hiện ở bảng 4.7
Trang 28Bảng 4.7: Diện tích và năng suất một số cây trồng chính của hộ
(N=60 hộ)
Năng suất lúa kg/sào/vụ 228.67 13.322 235.67 14.065 0.05Diện tích khoai Sào 1.47 0.571 1.40 0.563 0.65Năng suất khoai kg/sào/vụ 801.67 33.434 791.67 26.533 0.20
Năng suất lạc kg/sào/vụ 145.00 12.798 152.00 11.861 0.03
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Diện tích đất quyết định quy mô canh tác và khả năng trồng các câyđem lại năng suất và cho hiệu quả kinh tế vì vậy diện tích đất là một yếu tốgóp phần quan trọng trong việc quyết định hình thức áp dụng mô hình canhtác lạc ở địa phương Số liệu ở bảng 4.7 cho thấy: Có sự khác biệt khá rõ như
về diện tích trồng khoai của thôn 6 giảm hơn so với thôn 3 Theo nguồnphỏng vấn hộ ở thôn 6 các hộ cho rằng do khoai giá thấp, làm lạc giá caohơn nên hộ chuyển đổi sang đất trồng lạc Trong khi đó diện tích lúa của các
hộ vẫn cao vì lúa vẫn là cây trồng chính của xã nên các hộ vẫn đầu tư
Về năng suất lạc trung bình của lạc (152.00 kg/sào/vụ ) của các hộthôn 6 ở mức cao hơn so với các hộ thôn 3 có ý nghĩa (Sig< 0.05) nên khảnăng quyết định áp dụng các TBKT mới và đầu tư cho cây lạc của thôn 6cao hơn thôn 3
4.3 Tình hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong canh tác Lạc tại xã Thạch Đỉnh
4.3.1 Các cơ quan chuyển giao, nội dung và phương pháp chuyển giao
Canh tác Lạc là hoạt động mang lại thu nhập khá quan trọng chongười dân cả huyện nói chung và nông dân xã Thạch Đỉnh nói riêng Nhằmnâng cao trình độ canh tác cũng như các TBKT mới cho người dân, trongnhững năm trở lại đây trên địa bàn xã các hoạt động chuyển giao TBKT đãđược đẩy mạnh Các cơ quan đã và đang chuyển giao các TBKT trong canhtác Lạc đã được chuyển giao trong thời gian qua ở Thạch Đỉnh được thể
Trang 29Bảng 4 8: Các cơ quan, nội dung, phương pháp chuyển giao TBKT trên
1. Dự án IMPP của Đài
Loan Chuyển giao
2.Kỹ thuật làm đất
3.Kỹ thuật chăm sóc bón phân
4.Kỹ thuật phủ bạt nilon
5.Kỹ thuật phòng bệnh
1.Tập huấn
2.Hỗ trợ xây dựng
mô hình
3.Hướng dẫn kỹ thuật tại ruộng
4.Tập huấn và hướngdẫn kỹ thuật tại ruộng
5.Tham quan
6.Hội thảo
(Nguồn: Thảo luận nhóm năm 2011)
Về loại TBKT được chuyển giao, kết quả bảng 4.8 cho thấy: Có khánhiều các TBKT trong canh tác lạc được các cơ quan, đơn vị ở đây quantâm chuyển giao Trong đó:
Nhóm TBKT về giống gồm có các loại giống năng suất cao nhưTB25, L13, L14, kỹ thuật này nhằm giúp người dân nâng cao được các kiếnthức về giống, biết được tầm quan trọng của khâu chọn giống trong canh táclạc góp phần vào việc cải tạo nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác lạc
Nhóm TBKT về làm đất, bón phân chăm sóc và phòng bệnh , đối vớingười nông dân ở đây với thói quen canh tác truyền thống ít đầu tư mangtính tận dụng nên ảnh hưởng đến năng suất của lạc thì nhóm TBKT nàygiúp nông dân nắm vững các quy trình chăm sóc nhằm tăng năng suất trongcanh tác lạc
Về phương pháp chuyển giao: Nhìn chung, có rất nhiều các phươngpháp đã được áp dụng trong quá trình chuyển giao TBKT canh tác lạc chongười dân ở đây Tuy nhiên với mỗi cơ quan khác nhau thì có các phươngpháp chuyển giao cũng khác nhau, trong đó phổ biến nhất là phương pháp
Trang 30tập huấn, xây dựng mô hình và hướng dẫn kỹ thuật tại ruộng Phương pháptham quan cơ quan chuyển giao áp dụng chỉ một số ít nông dân được thamquan vì thực tế kinh phí hạn hẹp.
Có thể nói Thạch Đỉnh có các cơ quan, đơn vị tham gia chuyển giaoTBKT canh tác lạc cùng với các phương pháp chuyển giao là điều kiệnthuận lợi cho người dân tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật
4.3.2 Tình hình tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật của hộ.
Để chấp nhận và ứng dụng các TBKT thì trước hết các hộ phải đượctiếp cận và hiểu được kỹ thuật đó Vậy việc tìm hiểu về thực tế tiếp cận cácTBKT của hộ là cần thiết Kết quả khảo sát về chỉ tiêu này được thể hiện ởbảng 4.9:
Bảng 4 9: Tình hình tiếp cận các loại tiến bộ kỹ thuật của các hộ
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Số liệu ở bảng 4.9 cho thấy: Tỷ lệ hộ tiếp cận các loại TBKT vềphòng bệnh( 8.35 %) và chăm sóc ( 86.65 %) khá cao và không có sự khácbiệt lớn giữa các hộ nguyên nhân do đây là các kỹ thuật cơ bản và cần thiếttrong quy trình kỹ thuật hộ rất cần vì trước đây theo lối canh tác cũ lạc dễsâu bệnh nên hộ mong muốn tiếp cận Kỹ thuật giống và bón phân ở cácnhóm hộ có tỷ lệ mong muốn tiếp cận cũng khá cao vì họ mong muốn cógiống mới năng suất và kỹ thuật bón phân phù hợp năng suất vẫn caonhưng giảm chi phí phân bón Kỹ thuật phủ nilon các hộ ở thôn 6 áp dụngnhiều hơn thôn 3 vì họ có dự án hỗ trợ và thuộc vùng quy hoạch của xãnằm trong dự án Theo người dân kỹ thuật làm đất (43.3%) số hộ có ý kiến
Trang 31thì phải tuỳ thuộc vào từng điều kiện đất đai của hộ áp dụng nên tỷ lệ tiếpcận kỹ thuật này chỉ phù hợpvới một số vùng đất quy hoạch đất trồng lạctheo dự án nhưng chưa phù hợp cho một số vùng khác.
4.3.3 Các nguồn cung cấp thông tin về tiến bộ kỹ thuật cho các hộ.
Các nguồn cung cấp thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với việc tiếpthu và ứng dụng TBKT của hộ, do đó việc tìm hiểu các nguồn này là cầnthiết Kết quả tìm hiểu được thể hiện ở bảng 4.10
Bảng 4 10 : Các nguồn cung cấp thông tin về TBKT cho các hộ
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Số liệu ở bảng 4.10 cho thấy: Hiện nay có 4 nguồn cung cấp thôngtin chủ yếu về TBKT trong canh tác lạc cho các hộ xã Thạch Đỉnh Trong
đó việc các hộ học tập từ khuyến nông xã và phương tiện truyền thông phổbiến nhất trên (90%) hộ số tiếp cận Tiếp đến là tiếp cận thông tin từ dự ánđối với hộ được chọn làm dự án thì tỷ lệ tiếp cận (100%) và thông tin từhàng xóm thì (70%) số hộ tiếp cận được Theo nguồn phỏng vấn hộ và thảoluận nhóm cho biết nguồn thông tin quan trọng nhất mà họ nhận được là từkhuyến nông xã vì khuyến nông xã cung cấp các thông tin nông nghiệp vàthị trường cho họ, trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật
Như vậy do mặt bằng dân trí khá cao nên khả năng tự tìm tòi học hỏicủa các hộ ở đây cũng tốt hơn Do đó tỷ lệ hộ tiếp cận đối với từng nguồncung cấp thông tin khá đồng đều
4.3.4 Tình hình tiếp cận các phương pháp chuyển giao của hộ
Phương pháp chuyển giao TBKT được hiểu đó là cách thức truyền bácác thông tin về TBKT tới nông dân để nông dân áp dụng được trên quy mô
Trang 32rộng Kết quả khảo sát về tỷ lệ hộ tiếp cận các phương pháp chuyển giaotrong canh tác lạc của nông hộ ở xã Thạch Đỉnh được thể hiện ở bảng 4.11.
Bảng 4 11: Tỷ lệ hộ tiếp cận các phương pháp chuyển giao kỹ thuật mới
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Kết quả bảng 4.11 cho thấy: Trong quá trình chuyển giao TBKT vềcanh tác lạc tới người nông dân, các cơ quan chuyển giao ở huyện Thạch hà
đã áp dụng khá nhiều các phương pháp, trong đó hướng dẫn kỹ thuật trênđồng ruộng là phương pháp phổ biến và được nhiều hộ tiếp cận nhất trên(90% số hộ tiếp cận) Phương pháp tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật trênđồng ruộng, tham quan, hội thảo thì các hộ thôn 6 thuộc dự án tiếp cậnnhiều hơn các hộ ở thôn 3 vì thôn 3 mức độ tham canh lạc thấp và họ ít chútrọng đầu tư nên đối tượng dự án đầu tư ít
4.3.5 Kết quả các tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao cho các hộ
4.3.5.1 Đánh giá mức độ phù hợp của các tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao cho các hộ
Trong công tác chuyển giao TBKT, một trong những ưu tiên hàng đầu
đó là sự phù hợp của TBKT với điều kiện thực tế Trên cơ sở đó, kết quả đánhgiá sự phù hợp đối với các loại TBKT trong canh tác lạc được thể hiện ở bảng4.12
Trang 33Bảng 4 12: Mức độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Kết quả bảng 4.12 cho thấy: Các nông hộ có đánh giá khá cao về mức
độ phù hợp của các TBKT đã được chuyển giao cho họ Các loại TBKTnhư: giống, bón phân chăm sóc, phủ nilon, làm đất , phòng bệnh có tỷ lệ hộđánh giá phù hợp khá cao trên (80%) Kết quả này cho thấy nhu cầu cũngnhư nhận thức của các hộ đối với các loại tiến bộ kỹ thuật cơ bản trên đangtừng bước được cải thiện và nâng cao Đây là yếu tố quan trọng để các hộ