1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Báo cáo rà soát thực trạng pháp luật và thực tiễn quản lý Nhà nước về ngoại thương ở Việt nam

74 742 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo rà soát thực trạng pháp luật và thực tiễn quản lý Nhà nước về ngoại thương ở Việt Nam
Tác giả Pgs. Ts Bùi Ngọc Sơn, Ts Nguyễn Minh Hằng, Ts Mai Ngọc Anh
Trường học Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Công Thương
Chuyên ngành Ngoại thương
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 737 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 5 năm thực hiện chiến lược phát triển xuất khẩu 2001-2010, hoạtđộng xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn.Việt Nam có kinh tế tăng trưởng cao trong gia

Trang 1

BÁO CÁO

RÀ SOÁT THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NGOẠI THƯƠNG Ở VIỆT NAM

Chuyên gia thực hiện: 1 PGS, TS Bùi Ngọc Sơn

2 TS Nguyễn Minh Hằng

3 TS Mai Ngọc Anh

Trang 2

Hà Nội - Tháng 5/2013

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC

NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ

XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM

13

I Thực trạng hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa của

Việt Nam

13

II Thực trạng hệ thống pháp luật điều chỉnh xuất nhập khẩu dịch vụ 23

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ XUẤT

NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM

39

I Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý

xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

39

II Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý

xuất khẩu nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam

49

PHỤ LỤC I: HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT

PHỤ LỤC II: DANH MỤC MỘT SỐ VĂN BẢN QUY PHẠM LUẬT ĐIỀU CHỈNH

PHỤ LỤC III: CÁC LUẬT, PHÁP LỆNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG

2

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ hiện nay, cácquốc gia đều rất quan tâm đến việc thiết lập chính sách và pháp luật ngoạithương phù hợp Ở Việt Nam, chính sách và pháp luật ngoại thương phải phùhợp với các cam kết quốc tế và phục vụ mục tiêu hội nhập Mặt khác, đây cũng

là công cụ để nhà nước kiểm soát, quản lý hoạt động ngoại thương một cáchhiệu quả, tránh những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình hội nhập vào tiến trìnhphát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Trong suốt thời gian qua, nhất là từ khi Việt nam gia nhập WTO, chúng ta

đã có những quyết sách phù hợp về mặt chính sách và pháp luật ngoại thương.Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận rằng, hệ thống pháp luật ngoại thương củaViệt nam hiện nay còn nhiều tồn tại cần phải khắc phục trong thời gian sớmnhất

Mục tiêu của báo cáo này là trên cơ sở rà soát các chính sách và pháp luậtngoại thương của Việt Nam, đánh giá những thành tựu đã đạt được, những điểmcòn tồn tại, báo cáo đưa ra một số khuyến nghị mang tính định hướng trong việchoàn thiện chính sách và pháp luật ngoại thương của Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là các văn kiện của Đảng trong các kỳđại hội khác nhau, các nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ, các Quyết định,Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản có liên quan, trong đó có nêuđịnh hướng và chính sách phát triển ngoại thương Đối tượng nghiên cứu củabáo cáo cũng là các văn bản luật và dưới luật có liên quan đến hoạt động ngoạithương, từ xuất nhập khẩu hàng hóa đến xuất nhập khẩu dịch vụ

Về phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian, đối với chính sách ngoại thương,báo cáo nghiên cứu từ thời kỳ đổi mới (năm 1986) cho đến nay Về thực trạngpháp luật điều chỉnh hoạt động ngoại thương, báo cáo nghiên cứu hệ thống phápluật thực định của Việt Nam Các phụ lục trong báo cáo gồm các văn bản đượccập nhật đến tháng 2/2013

Báo cáo được bố cục thành ba chương Chương 1 và chương 2 dành choviệc rà soát các chính sách, chiến lược ngoại thương cũng như rà soát hệ thốngpháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hànghóa và xuất nhập khẩu dịch vụ Trong chương 3, chúng tôi sẽ đánh giá thựctrạng pháp luật và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật

về ngoại thương của Việt Nam

3

Trang 4

Chương 1: ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

I Định hướng chính sách và chiến lược ngoại thương từ năm 1986 đến nay

1 Giai đoạn 1986-1995:

Công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được Đảng Cộng Sản Việt Namkhởi xướng từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa VI) họp cuối năm 1986.Cùng với việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chính sách mới vềngoại thương được ban hành Năm 1988, Việt Nam xóa bỏ chính sách độcquyền ngoại thương và khẳng định tầm quan trọng của ngoại thương với sự pháttriển kinh tế, chuyển sang mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu cho cácđối tượng khác nhau trong nền kinh tế Ngay từ những năm đầu thực hiện “đổi

mới” và “mở cửa, nghị quyết của Đại hội Đảng đã thể hiện “xuất khẩu là mũi

nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tế trong 5 năm này (1986-1990), đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đối ngoại”1

Sự thay đổi về mặt chính sách của nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương

từ năm 1986 có thể kể đến như sau:

- Khẳng định tầm quan trọng của ngoại thương trong các hoạt động đốingoại và đối với sự phát triển kinh tế của đất nước

- Nhà nước chuyển các hoạt động ngoại thương từ cơ chế tập trung, baocấp sang hạch toán kinh doanh Xóa bỏ bao cấp và bù lỗ cho kinh doanh xuấtnhập khẩu

- Nhà nước mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp cho các

cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế Sự độc quyền kinh doanh xuất nhậpkhẩu như trước đây không còn

Như vậy, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều

có thể xuất nhập khẩu hàng hóa, đồng thời phải tự hạch toán lỗ lãi chứ khôngđược sự bao cấp của nhà nước

- Thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệngoại thương Trong thời kỳ trước năm 1986, Việt Nam chỉ thực hiện hoạt độngngoại thương với các nước thuộc khối XHCN cũ Từ năm 1986, Việt Nam mởrộng các quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều các quốc gia trên thế giới, trong đó

có cả các quốc gia TBCN

1 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986-1990 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

4

Trang 5

- Tăng cường sự quản lý thống nhất của nhà nước đối với mọi hoạt độngngoại thương bằng luật pháp và chính sách Hình thành hệ thống biện pháp,chính sách khuyến khích xuất khẩu Quản lý nhập khẩu chủ yếu thông qua chínhsách thuế; Giảm thiểu các biện pháp quản lý phi thuế quan như hạn ngạch, giấyphép xuất nhập khẩu

Những thay đổi trong quản lý và chính sách ngoại thương là những thayđổi lớn hết sức quan trọng, đã góp phần tích cực vào sự phát triển buôn bán củanước ta với nước ngoài, đặc biệt là với thị trường các nước phát triển

Nhờ thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệkinh tế đối ngoại, đến năm 1995, nước ta đã quan hệ buôn bán với hơn 100 nước

và lãnh thổ thuộc đủ các châu lục trên thế giới; đã ký Hiệp định hợp tác thươngmại với EU; bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ (12/7/1995); gianhập ASEAN (28/7/1995) Đó là những điều kiện thuận lợiü để đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế, mở rộng buôn bán và hợp tác kinh tế với các nước và các

tổ chức kinh tế khu vực

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991-1995), sau khitổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI - Đại hội của Đổi Mới,của phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quyết tâm xóa bỏ tư duy quản lý kinh tế

cũ, Đại hội đã thông qua Báo cáo chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm

2000 trong đó quan điểm của Đảng về việc phát triển ngoại thương được Đại hội

thông qua là “ (1)Phát huy lợi thế tương đối, không ngừng nâng cao sức cạnh

tranh của hàng hoá, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của sản xuất và đời sống, hướng mạnh về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả (2) Mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các công ty và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Phát huy tinh thần độc lập tự chủ, không ỷ lại vào bên ngoài, khai thác tối đa mọi lợi thế và nguồn lực của đất nước là điều kiện cơ bản để mở rộng có hiệu quả kinh tế đối ngoại, bảo đảm cho nền kinh tế luôn luôn phát triển trong thế chủ động.” 2 Để thực hiện các quan điểm phát triển này,

Đại hội cũng thông qua những định hướng chính sách lớn với các năm nội dung

cơ bản là: “(1)Đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia,

mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Củng cố và tăng cường vị trí ở các thị trường quen thuộc và với các bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trường mới, phát triển các quan hệ mới; (2)Tăng nhanh kim ngạch và cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô,

2 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng: Thông qua "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế

-xã hội đến năm 2000, ngày 27-6-1991 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

5

Trang 6

tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định áp dụng các chính sách tỷ giá và thuế khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu; (3) Chính sách nhập khẩu phải phục vụ có hiệu quả cho phát triển sản xuất và đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá, đáp ứng nhu cầu cần thiết về đời sống; (4)Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý xuất, nhập khẩu và quản lý ngoại tệ; (5) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nước ta trong các tổ chức quốc tế; gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện.”3

Như vậy, chiến lược ngoại thương trong giai đoạn này là:

- Phát huy lợi thế tương đối của Việt Nam để có thể cạnh tranh trên thịtrường quốc tế

- Đẩy mạnh xuất khẩu, thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàng sảnxuất trong nước

- Củng cố các thị trường cũ, khai thác các thị trường mới tiềm năng

- Tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô xuất khẩuNhững chiến lược xuất khẩu nói trên của Việt Nam đã tạo ra những kếtquả rất lớn Trong Báo cáo tổng kết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng đã nêu: “(1)Trong 5 năm (1991 - 1995) tổng kim ngạch xuất khẩu đạt

trên 17 tỷ USD (kế hoạch là 12 - 15 tỷ USD), bảo đảm nhập các loại vật tư, thiết

bị và hàng hoá đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần cải thiện cán cân thanh toán thương mại Tổng kim ngạch nhập khẩu trên 21 tỷ USD, kể cả phần nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tỷ trọng nhập khẩu vật tư, thiết bị tăng lên, đáp ứng được nhu cầu phát triển; (2) Quan hệ mậu dịch đã mở rộng với trên 100 nước và tiếp cận nhiều thị trường mới; (3)Nhà nước đã mở rộng quyền xuất, nhập khẩu cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, ban hành một số chính sách khuyến khích xuất khẩu ”4

2 Giai đoạn 1996-2006

Tiếp nối cho sự đúng đắn của các chính sách và chiến lược được đề ra ởgiai đoạn trước, trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng địnhchính sách mở cửa và tăng cường hoạt động ngoại thương cũng như khẳng địnhtầm quan trọng của ngoại thương trong xu thế hội nhập

3 Chương II Phần 4 Các chính sách và giải pháp về vốn và kinh tế đối ngoại, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn

quốc lần VII của Đảng: Thông qua "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, ngày

27-6-1991 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

4 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 – 2000 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

6

Trang 7

Trong Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về phươnghướng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội từ 1996-2000, Đại hội đã nhất trítiếp tục thực hiện những định hướng chiến lược lớn 10 năm 1991-2000 và cùngvới đó đưa ra những mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 1996-2000 trong đó ngoàinhững mục tiêu phải hoàn thành về xuất khẩu, nhập khẩu, hướng đi lớn của

ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn này là “(1) Củng cố vị trí ở các thị

trường quen thuộc, khôi phục quan hệ với thị trường truyền thống, tìm thị trường và bạn hàng mới, giảm sự tập trung quá mức vào một vài thị trường Tạo một số thị trường và bạn hàng lâu dài về những mặt hàng xuất, nhập khẩu chủ yếu, giảm xuất, nhập qua thị trường trung gian Thực hiện nhất quán các chính sách khuyến khích xuất khẩu, bao gồm cả việc bảo hiểm về giá cho hàng xuất khẩu, điều tiết tỷ giá hối đoái hợp lý, có lợi cho xuất khẩu.(2) Tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia Khối mậu dịch tự do (AFTA), cần xúc tiến việc tham gia Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), từng bước tham gia các hoạt động của Hệ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại với các nước đang phát triển (GSTP), áp dụng các chuẩn mực thương mại quốc tế và lựa chọn tham gia một số hiệp hội xuất khẩu quốc tế về từng mặt hàng xuất khẩu.”

Tiếp nối những thành công từ định hướng xuyên suốt trên, Đại hội đạibiểu lần thứ IX đã khẳng định phương hướng phát triển của ngành ngoại thươngtrong 5 năm tiếp theo (2001-2005): đó là hướng các nguồn lực của nền kinh tếđến xuất khẩu, nhập khẩu có định hướng, bảo hộ có lựa chọn; mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm của Việt Nam thông qua tiến hành gia nhập các tổchức quốc tế song phương và đa phương trong đó quan trọng nhất là gia nhập tổchức thương mại thế giới (WTO)5

Chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2000 của Thủ tướngChính phủ về chiến lược xuất – nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001 –

2010, đã xác định: tiếp tục chủ trương dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu,

tăng tốc xuất khẩu trên mọi lĩnh vực; tạo nguồn hàng có chất lượng, có giá trị

gia tăng và sức cạnh tranh cao để xuất khẩu; góp phần giải quyết việc làm cho

xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại

hóa Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001 – 2010 phải đạt mức tăng

trưởng bình quân từ 15%/năm trở lên Phấn đấu cân bằng cán cân thương mại

vào những năm 2009 – 2010 và xuất siêu ở thời kỳ sau năm 2010 Cơ cấu xuất

khẩu phải chuyển dịch mạnh theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến chế tạo,chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, bên cạnh đóphải quan tâm khai thác mặt hàng chủ yếu sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, sử

5 Mục 4 Chương IV: Chiến lược phát triển kinh tế 2001-2010 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng.

7

Trang 8

dụng nhiều lao động Chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lượng từng sản

phẩm xuất khẩu, giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỉ trọng hàng chế biến

sâu bằng công nghệ mới trong kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu cả thời kỳ 2001 -2010 được duy trì ở mức tăng trưởng bình quân 14%/năm Chú trọng nhập

khẩu công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến nônglâm thủy sản và công nghiệp nhẹ, đồng thời, phải gắn với việc phát triển, sử

dụng các công nghệ được sản xuất trong nước Hạn chế nhập khẩu các sản

phẩm, công nghệ trong nước đã sản xuất được Tăng cường tiếp cận các thị trường cung ứng công nghệ nguồn và có khả năng đầu tư hiệu quả, như Tây Âu,

Mỹ, Nhật…

Như vậy, so với giai đoạn trước, trong giai đoạn 1995-2005, chính sáchngoại thương Việt Nam là tăng cường khuyến khích xuất khẩu nhưng phải đảmbảo cân bằng cán cân thương mại, đặc biệt là phải thực hiện các biện pháp,chính sách tuân theo chuẩn mực quốc tế nhằm phục vụ cho các mục tiêu hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Các chiến lược ngoại thương được nhấn mạnh trong giai đoạn này baogồm: chú trọng sản xuất các mặt hàng sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước, sửdụng nhiều lao động để xuất khẩu, từ đó khai thác lợi thế cạnh tranh; nhập khẩucác máy móc có trình độ công nghệ tiên tiến hiện đại phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Sau 5 năm thực hiện chiến lược phát triển xuất khẩu 2001-2010, hoạtđộng xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn.Việt Nam có kinh tế tăng trưởng cao trong giai đoạn 2001 -2007 (tăng trưởngbình quân 7,75%/năm tính theo giá cố định 1994), kinh tế vĩ mô tương đối ổnđịnh, đầu tư tăng cao… đã tạo cơ sở tăng cường quy mô xuất khẩu sản phẩm vàtăng nhu cầu nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu, máy móc thiết bị và công nghệ.Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là việc ký kết Hiệp định thương mạiViệt – Mỹ (BTA), gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), tham gia cáckhu vực thương mại tự do (FTA)… đã mở ra những thời cơ, thuận lợi lớn vềmôi trường kinh doanh quốc tế cho phát triển thị trường xuất khẩu, phát triểnhoạt động xuất khẩu hàng hóa của nước ta

3 Giai đoạn từ 2006 đến nay

Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa IX tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ của ngành ngoại thương trong kế

hoạch 5 năm 2006-2010 Đó là: “(1)Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và quản lý, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của

8

Trang 9

sản phẩm và dịch vụ Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới Đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần nhập siêu Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5 năm trước;(2) Thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới Chuẩn bị tốt các điều kiện để bảo đảm thực hiện các cam kết khi nước ta gia nhập WTO.” Và cuối cùng, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mang tính dài

hạn nhằm phát huy nội lực, thay đổi cơ chế quản lý, hỗ trợ việc hội nhập sâu

rộng là “(3) Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo

đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế ”

Để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới, nhất là chuẩn bị gia nhậpWTO, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 156/2006/QĐ-TTg ngày

30 tháng 6 năm 2006 phê duyệt Đề án Phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 –

2010, với mục tiêu tổng quát: phát triển xuất khẩu với tốc độ cao và bền vững.

Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng

có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng côngnghệ và chất xám cao, giảm dần tỉ trọng hàng xuất khẩu thô Tốc độ tăng trưởngkim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân 17,5%/năm, đến năm 2010 đạt khoảng72,5 tỉ USD Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ bình quân 16,3%/năm, đến năm 2010 đạt khoảng 12 tỉ USD Xuất khẩu nhóm hàng nông, lâmthủy sản chiếm 13,7%, nhóm nhiên liệu - khoáng sản chiếm khoảng 9,6%, nhómhàng công nghiệp và công nghệ cao chiếm khoảng 54% và nhóm hàng hóa khácchiếm 22,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Thị trường Châu Áchiếm khoảng 45%, Châu Âu chiếm khoảng 23%, Châu Mỹ chiếm khoảngkhoảng 24%, Châu Đại Dương chiếm khoảng 5% và thị trường khác chiếmkhoảng 3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào năm 2010 Kiềm chếmức nhập siêu hợp lý, thông qua thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, pháttriển sản xuất các sản phẩm có lợi thế so sánh để bảo đảm nhu cầu trong nước,tiến tới cân bằng xuất khẩu – nhập khẩu vào những năm đầu sau năm 2010

Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2005 - 2010 còn nêu lên các vấn đề về cơ

sở hạ tầng, về qui hoạch sản xuất và thị trường xuất khẩu như sau:

- Chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lượng từng sản phẩm xuấtkhẩu; giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằngcông nghệ mới; giảm gia công, đẩy mạnh sản xuất hàng XK sử dụng nguyên, vậtliệu chất lượng cao trong nước với công nghệ mới; cải thiện cơ sở hạ tầng cơ sởnuôi, trồng, sử dụng các loại giống cây, con có sản lượng, chất lượng cao vàcông nghệ chế biến thích hợp đi đôi với các biện pháp bảo vệ môi trường

9

Trang 10

- Phải có qui hoạch vùng nguyên liệu cho từng nhóm sản phẩm; quy trìnhquản lý sản xuất phải được tổ chức lại một cách khoa học và tiết kiệm nhất; từngbước xây dựng tiêu chuẩn chất lượng quốc gia cho các loại hàng hóa xuất khẩuvới nhãn hiệu “sản xuất tại Việt Nam”

- Sản phẩm xuất khẩu phải đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của thịtrường thế giới, đặc biệt là yêu cầu về chất lượng, mẫu mã hàng hóa Mỗi loạihàng hóa phải hình thành được thị trường chính, chủ lực và tập trung khả năng

mở rộng các thị trường này, đồng thời chủ động mở rộng sang các thị trườngkhác theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ buôn bán; phải có đốisách cụ thể với từng thị trường và từng bước giảm dần việc xuất khẩu qua cácthị trường trung gian Định hướng chung là tận dụng mọi khả năng để duy trì tỷtrọng xuất khẩu hợp lý vào các thị trường đã có ở Châu Á, đặc biệt là thị trườngNhật, đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường sức mua lớn như

Mỹ, Tâu Âu, thâm nhập, tăng dần tỷ trọng XK vào các thị trường Đông Âu, Nga

và khu vực Châu Mỹ, Châu Phi

- Giảm nhập siêu và cân bằng cán cân thương mại

Giai đoạn 2006-nay là giai đoạn Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng với

sự kiện quan trọng là Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO Vì thế,tiếp nối các chính sách và chiến lược ngoại thương của những giai đoạn trước,trong giai đoạn này, chúng ta có định hướng là tiếp tục khai thác lợi thế tươngđối của Việt Nam, cộng với những cơ hội của hội nhập để khai thác tối đa cácthị trường xuất khẩu, phát triển các thị trường mới Đặc biệt, việc gia nhập WTOcũng đòi hỏi các chính sách ngoại thương cũng như các công cụ, biện pháp được

áp dụng phải phù hợp với những quy định của WTO và những cam kết của ViệtNam Vì vậy, một trong các chức năng của chính sách ngoại thương là thực hiệncác cam kết hội nhập của Việt Nam

Ngoài ra, một định hướng quan trọng của chính sách ngoại thương, đó làxuất khẩu, nhập khẩu phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấuxuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăngcao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xámcao, giảm dần tỉ trọng hàng xuất khẩu thô

Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác địnhphương hướng, nhiệm vụ trong giai đoạn 2011-2015 là: “Thực hiện nhất quánđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phươnghoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối táctin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốcgia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh Nhiệm vụ của

10

Trang 11

công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộcđấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc

tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữgìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêucực của quá trình hội nhập quốc tế Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mởrộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực vềvốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến

Như vậy, về định hướng hoạt động ngoại thương trong thời gian tới là vẫntiếp tục tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đặc biệt nhấnmạnh vấn đề gắn phát triển và hội nhập kinh tế với vấn đề phát triển bền vững

và giữ vững nền độc lập, tự chủ Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta phải cónhững biện pháp để kiểm soát hoạt động ngoại thương một cách hiệu quả nhằmduy trì sự ổn định của thị trường trong nước

II Nhận xét và đánh giá

Như vậy, xét về từng thời kỳ, trước năm 1986 chúng ta thực hiện chủtrương Nhà nước độc quyền ngoại thương Từ 1986 đến 1996 chúng ta thực hiệnchủ trương Nhà nước thống nhất quản lý ngoại thương, từng bước trao quyềnkinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa cho các doanh nghiệp sản xuất thuộc cácthành phần kinh tế và tiếp đó là các doanh nghiệp thương mại Nhà nước Từ

1996 đến 2006 là thời kỳ thực hiện chủ trương tự do hóa dưới sự quản lý củanhà nước đối với hoạt động ngoại thương, thực hiện lộ trình hội nhập kinh tếquốc tế, thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, dầndần chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Từ 2006chúng ta thực hiện chủ trương nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt độngngoại thương, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp/sản phẩm của Việtnam trên thị trường quốc tế nhằm tận dụng những lợi thế, cơ hội từ quá trình hộinhập

Về mặt định hướng, kể từ thời kỳ đổi mới, chúng ta luôn coi ngoại thương

là một trong những mũi nhọn hàng đầu của công cuộc phát triển kinh tế đấtnước Trong từng thời kỳ, Đảng và Nhà nước đã đưa ra các định hướng chínhsách và chiến lược phù hợp Các định hướng và chính sách này, một mặt, giúpcho nền ngoại thương của Việt Nam có những bước phát triển khá ấn tượng, mặtkhác, giúp cho Việt nam thực hiện các mục tiêu phát triển và hội nhập kinh tế.,

đó là (1) gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam để đẩy mạnh xuất khẩu,hạn chế nhập siêu; (2) chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; (3) tiếp tục đổi mới

11

Trang 12

thể chế kinh tế và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật Việc thực hiện các mục tiêunày đòi hỏi phải sử dụng tốt các công cụ quản lý ngoại thương

Chủ trương phát triển xuất nhập khẩu và hội nhập quốc tế kịp thời củaĐảng, sự quản lý đúng đắn của Nhà nước, sự chỉ đạo điều hành năng động vàquyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, của các cấp,các ngành và của toàn dân Về cơ bản, các mục tiêu, chủ trương và giải pháp lớnđược xác định trong chiến lược phát triển xuất khẩu là phù hợp và với việc tổchức thực hiện tốt nên đã những mục tiêu quan trọng đã được hoàn thành.Cácchính sách ngoại thương cũng phù hợp với các yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc

tế, giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế songphương và đa phương về thương mại

Những đổi mới trong cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, mở cửa thị trường…cũng như những chính sách nhằm mở rộng quyền kinh doanh cho các doanhnghiệp trong nước đã góp phần quan trọng và tạo ra sự chuyển biến tích cựctrong hoạt động đầu tư, sản xuất và xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Chúng ta

đã thực hiện chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế được hoạt độngkinh doanh ở tất cả các ngành nghề mà không bị cấm kinh doanh, nới lỏng cácđiều kiện kinh doanh xuất nhập khẩu và khuyến khích đầu tư sản xuất hàng xuấtkhẩu ở mức cao hơn sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nước Do vậy, các hộ kinhdoanh, các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, cả các doanh nghiệptrong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều tập trung vào nỗ lựcđẩy mạnh xuất khẩu

Mặc dù chúng ta có định hướng và chiến lược ngoại thương cụ thể songtrên thực tế việc sử dụng các công cụ quản lý ngoại thương để cụ thể hóa cácsách lược đó còn một số điểm chưa tốt, điều đó xuất phát từ cả hai nguyên nhân

là công cụ chưa được xây dựng hoàn thiện và hệ thống cơ quan chức năng đượcgiao quyền sử dụng công cụ còn chưa rõ ràng, chồng chéo và thiếu tính đầu mối

và tính phối hợp

Ngoài ra, trong các chiến lược phát triển ngoại thương của Việt Namthường đưa ra những mục tiêu có tính tham vọng cao Chẳng hạn như phấn đấucân bằng cán cân thương mại vào những năm 2009, 2010 và xuất siêu vào thời

kỳ sau 2010 Tuy vậy, mục tiêu này hiện nay vẫn chưa đạt được Điều này chothấy những hạn chế, khiếm khuyết trong thực tiễn quản lý, điều hành hoạt độngxuất nhập khẩu chưa được như kỳ vọng trong thời gian qua cũng như sự cầnthiết phải điều chỉnh các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, trong đó có ngoạithương trong giai đoạn tới Để làm được điểu này cần phát triển công tác nghiêncứu, dự báo chiến lược về đối ngoại nói chung và ngoại thương nói riêng mộtcách bài bản

12

Trang 13

Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM

I Tổng quan hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

Kể từ năm 1986 cho đến nay, hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhậpkhẩu hàng hóa của Việt Nam đã có nhiều cải cách, trong đó không thể khôngnhắc đến 2 cải cách quan trọng đó là:

- Điều chỉnh hệ thống pháp luật cho phù hợp với nền kinh tế đổi mớinhiều thành phần, chấm dứt chế độ “Nhà nước độc quyền ngoại thương” Điềunày được thể hiện qua việc Nhà nước ta đã ban hành một loạt các sắc thuế baogồm Luật thuế xuất nhập khẩu (1988), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (1990), sửdụng hệ thống mã tính thuế hài hòa (HS) (1992)

- Điều chỉnh hệ thống pháp luật để đáp ứng tối đa việc đồng bộ hóa cácquy định trong nước với các quy định quốc tế, phù hợp với cam kết về mở cửathị trường: Ban hành Luật Thương mại (1997, 2005), Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu (2005), các Pháp lệnh liên quan đến phòng vệ thương mại Các vănbản này đã tạo nên một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay

Thực tế hiện nay, hoạt động quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa được điềuchỉnh bởi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương đối lớn nhằm đưa racác biện pháp quản lý các khía cạnh của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa,bao gồm các biện pháp quản lý hoạt động thương mại của thương nhân, các biệnpháp quản lý về xuất xứ hàng hóa và diện mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu, cácbiện pháp quản lý bằng công cụ thuế, các biện pháp phòng vệ thương mại, cácbiện pháp phi thuế quan, các biện pháp xúc tiến thương mại và các biện pháp ưuđãi kinh tế… Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xuấtnhập khẩu hàng hóa được chi tiết tại Phụ lục I kèm theo

1 Các biện pháp quản lý hoạt động của thương nhân trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa

Nhằm kiểm soát hoạt động của thương nhân trong lĩnh vực xuất nhậpkhẩu hàng hóa, pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể về quyền kinhdoanh xuất nhập khẩu của họ Cụ thể:

- Đối với thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Quyền xuất nhập khẩu hàng hóa của thương nhân Việt Nam không có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của

Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán

13

Trang 14

hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hànghóa với nước ngoài Theo đó, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạmngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhậpkhẩu6, các thương nhân này được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụthuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh Chi nhánh thương nhân được xuấtkhẩu, nhập khẩu hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân.

- Đối với thương nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao

gồm cả doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài):

Quyền xuất nhập khẩu hàng hóa của thương nhân là doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài được quy định tại Thông tư số 09/2007/TT-BTM của BộThương mại (nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn thi hành Nghị định số23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007, quy định chi tiết Luật Thương mại

về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến muabán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo

đó, các thương nhân này được quyền xuất khẩu những mặt hàng không thuộcdanh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu và các mặt hàng không thuộcdanh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu7; được quyền nhập khẩu cácmặt hàng không thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu vàcác mặt hàng không thuộc danh mục hàng hóa không được quyền nhập khẩu8

- Đối với thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam:

Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân nước ngoài không

có hiện diện tại Việt Nam được quy định tại Nghị định số 90/2007/NĐ-CP ngày31/5/2007 quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhânnước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam Theo đó, các thương nhân nàyđược thực hiện quyền xuất khẩu cũng giống như thương nhân là doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, về thủ tục đăng ký và cấp giấy phép thựchiện quyền xuất khẩu còn phải nộp thêm một số văn bản như giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh, báo cáo tài chính, số tài khoản

2 Các biện pháp quản lý diện hàng hóa xuất nhập khẩu, phương thức xuất nhập khẩu và xuất xứ hàng hóa

6 Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu được quy định tại Phụ lục của Nghị định 12/2006/NĐ-CP.

7 Danh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu được quy định tại Phụ lục 2 của Quyết định BTM công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá

10/2007/QĐ-8 Danh mục hàng hóa không được quyền nhập khẩu được quy định tại Phụ lục 3 của Quyết định BTM công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá

10/2007/QĐ-14

Trang 15

- Đối với diện hàng hóa xuất nhập khẩu

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, việc quản lý các loại hàng hóa xuấtnhập khẩu được thực hiện thông qua hình thức cấm (cấm tuyệt đối hoặc cấmtrong một khoảng thời gian nhất định - tạm ngừng); hình thức quản lý theo hạnngạch thuế quan; hình thức quản lý bởi sự cho phép và/ hoặc phê chuẩn của các

cơ quan chuyên ngành;

+ Đối với hình thức cấm:

Hình thức này được thực hiện bằng việc ban hành các danh mục hàng hóacấm xuất khẩu, nhập khẩu, danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừngnhập khẩu, danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo lộ trình cam kết của ViệtNam với Tổ chức thương mại thế giới

Phụ lục I Nghị định 12/2006/NĐ-CP đưa ra danh mục hàng hóa cấm xuấtkhẩu, nhập khẩu Các mặt hàng trong danh mục này chủ yếu là loại hàng hóacấm xuất khẩu, nhập khẩu thông thường theo thông lệ quốc tế như vũ khí, đạndược, di sản văn hóa quý, động vật hoang dã (đối với xuất khẩu)9, vũ khí, đạndược, hóa chất độc hại (đối với nhập khẩu)10

Đối với các quy định về danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạmngừng nhập khẩu: Trước đây, Việt Nam đã áp dụng biện pháp tạm ngừng xuấtkhẩu, nhập khẩu đối với hai mặt hàng là đồ gỗ thành phẩm và hàng dệt may vàhiện nay đang áp dụng biện pháp tạm ngừng đối với hàng hóa là máy móc thiết

bị cũ đã qua sử dụng lạc hậu… Việc ngừng xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàngnày đều dựa trên những lý do đặc biệt (từ phía Việt Nam hoặc từ phía các đối tácthương mại) Bộ trưởng Bộ Công Thương có thẩm quyền quyết định khôi phụclại hoạt động lưu thông các loại hàng hóa này

Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo lộ trình cam kết của Việt Namvới Tổ chức thương mại thế giới được Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là BộCông Thương) ban hành kèm theo Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM về công bố

lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trựctiếp đến mua bán hàng hoá

- Đối với hình thức quản lý theo ngạch thuế quan:

9 Tuy nhiên, cũng có mặt hàng cấm xuất khẩu như mặt hàng gỗ xẻ mang nhiều ý nghĩa liên quan đến chính sách bảo hộ ngành sản xuất đồ gỗ trong nước hơn là một loại hàng hóa bị cấm xuất khẩu theo thông lệ quốc tế.

10 Tương tự như trường hợp cấm xuất khẩu, một số mặt hàng cấm nhập khẩu như ôtô tay lái nghịch, các mặt hàng tiêu dùng đã qua sử dụng mang nhiều ý ý nghĩa liên quan đến chính sách bảo hộ hơn là một loại hàng hóa

bị cấm nhập khẩu theo thông lệ quốc tế Danh mục hàng tiêu dùng và thiết bị y tế đã qua sử dụng cấm nhập khẩu được quy định chi tiết tại Phụ lục 01 Thông tư 04/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại quy định chi tiết một số điều tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP.

15

Trang 16

Trong Phụ lục 2 Nghị định 12/2006/NĐ-CP, Chính phủ đã quy định 4 mặthàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam chịu hạn ngạch thuế quan đó là muối, thuốc

lá nguyên liệu, trứng gia cầm và đường tinh luyện, đường thô Theo đó, BộThương mại (nay là Bộ Công Thương) đã cụ thể theo mã HS dùng trong Biểuthuế xuất nhập khẩu danh mục các mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan trongThông tư 04/2006/TT-BTM Tổng lượng hạn ngạch do Bộ Công Thương công

bố hàng năm11, bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam còn cam kết bổ sung hạnngạch thuế quan với mức thuế suất ưu đãi 0% riêng cho một số chủng loại hànghóa có xuất xứ từ Lào và Campuchia12

+ Đối với hình thức quản lý bởi sự cho phép/phê chuẩn của các cơ quanchuyên ngành13 :

Các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu yêu cầu phải có giấy phép được quyđịnh cụ thể tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, bao gồm hàng hóa xuất, nhập khẩutheo giấy phép của Bộ Công Thương; hàng hóa xuất, nhập khẩu theo giấy phépcủa Bộ, cơ quan chuyên ngành; và hàng hóa xuất, nhập khẩu theo các quy địnhriêng

- Đối với các phương thức xuất nhập khẩu hàng hóa

Các phương thức xuất nhập khẩu hàng hóa bao gồm các phương thức kinhdoanh xuất nhập khẩu thông thường và các phương thức xuất nhập khẩu khácnhư quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP đó là: (i) tạm nhập tái xuất, tạmxuất tái nhập và chuyển khẩu; (ii) gia công hàng hoá có yếu tố nước ngoài (gồmgia công hàng hoá cho nước ngoài và đặt gia công hàng hoá ở nước ngoài); (iii)đại lý mua bán hàng hoá (gồm đại lý mua bán hàng hoá cho nước ngoài và thuêthương nhân nước ngoài làm đại lý bán hàng tại nước ngoài); (iv) quá cảnh hànghoá qua lãnh thổ Việt Nam được thực hiện thông qua các Hiệp định liên chínhphủ giữa Việt Nam và một số nước có chung đường biên giới như Trung quốc,Lào, Campuchia

- Đối với xuất xứ của hàng hóa

Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cần xác định xuất xứ trong trường hợpđược hưởng ưu đãi về thuế và các ưu đãi khác hoặc theo quy định của điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên Các quy định chung về xuất xứ hàng hóa đãđược cụ thể trong Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 của Chính phủ

11 Xem Thông tư số 16/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương hướng dẫn việc nhập khẩu các mặt hàng thuộc danh mục quản lý nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2009.

12 Xem Phụ lục 01 Thông tư số 04/2009/TT-BCT của Bộ Công Thương hướng dẫn việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2009 với thuế suất thuế nhập khẩu 0% đối với hàng hoá có xuất xứ từ Lào.

13 Thực hiện theo Quyết định số 41/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về cấp phép nhập khẩu hàng hóa

16

Trang 17

quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hoá, Thông tư số07/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn thủtục cấp và quản lý việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ theo Nghị định số19/2006/NĐ-CP, Thông tư số 08/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại hướng dẫncách xác định xuất xứ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có xuất xứ khôngthuần tuý theo Nghị định số 19/2006/NĐ-CP, Thông tư số 10/2006/TT-BTMcủa Bộ Thương mại sửa đổi Thông tư số 08/2006/TT-BTM, Quyết định số 018/QĐ-BTM của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc ban hành Quy chế cấp chứngnhận xuất xứ điện tử, Thông tư 07/2009/TT-BCT của Bộ Công Thương vềviệc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng dệt may đối với một số chủng loạihàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ , Thông tư 07/2009/TT-BCT của Bộ CôngThương về việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng dệt may đối với một

số chủng loại hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ Ngoài ra, còn có những quyđịnh về xuất xứ ưu đãi như Thông tư số 21/2010/TT-BCT của Bộ trưởng BộCông Thương về thực hiện quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hànghóa ASEAN…

3 Các biện pháp quản lý bằng công cụ thuế

Nhóm các văn bản quy định về thuế bao gồm Luật Quản lý thuế (2006),Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (2008)

Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam và hàng hóa từ thị trường trong nướcvào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước thuộcđối tượng chịu thuế xuất khẩu nhập khẩu Bên cạnh đó, Luật cũng quy định một

số hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế như hàng viện trợ nhân đạo, hàng

từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài… Đối tượng nộp thuế xuất khẩu,nhập khẩu là tổ chức cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

- Đối với hàng hoá xuất khẩu

Theo quy định tại Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 củaChính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuấtkhẩu, nhập khẩu, giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá FOB, DAFkhông bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải

Thuế suất của từng loại mặt hàng khác nhau được quy định tại Biểu thuếxuất khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Đối với hàng hoá nhập khẩu

17

Trang 18

Theo quy định tại Nghị định số 40/2007/NĐ-CP, giá tính thuế đối vớihàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên được xácđịnh theo quy định của pháp luật về trị giá hải quan (theo trị giá giao dịch củahàng hoá nhập khẩu, trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt, trị giágiao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương tự, trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ,theo trị giá tính toán và có thể dùng phương pháp suy luận để xác định trị giátính thuế).

Theo Nghị định số 149/2005/NĐ-CP, thuế suất với hàng hoá nhập khẩuđược quy định cụ thể cho từng mặt hàng, gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãiđặc biệt và thuế suất thông thường Các loại thuế suất được quy định trênnguyên tắc phù hợp với danh mục hàng chịu thuế trong phạm vi khung thuế suất

do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành; đảm bảo nguồn thu ngân sách và bình

ổn thị trường; bảo hộ sản xuất trong nước phù hợp với điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo điều chỉnh giảm thuếnhập khẩu đối với nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất, nhữngnguyên liệu trong nước chưa sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng chưa đápứng đủ nhu cầu

4 Các biện pháp phòng vệ thương mại như chống trợ cấp, chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ khẩn cấp

Các biện pháp tự vệ được điều chỉnh bởi Pháp lệnh số UBTVQH10 ngày 25/5/2002 của Ủy ban thường vụ quốc hội về tự vệ trongnhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam (2004) và Nghị định số150/2003/NĐ-CP ngày 08/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhPháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam Theo

42/2002/PL-đó nội dung được điều chỉnh bao gồm: (i) điều kiện được phép áp dụng biệnpháp tự vệ; (ii) thủ tục điều tra; (iii) cách thức áp dụng biện pháp tự vệ; (iv)nhân nhượng

Các biện pháp chống bán phá giá được điều chỉnh bởi Pháp lệnh số20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2004 về chống bán phá giá hàng hóa nhậpkhẩu vào Việt Nam và Nghị định số 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hànhmột số điều của pháp lệnh chống bán phá giá vào Việt Nam, các quy định baogồm: (i) điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá; (ii) cách thức xác địnhbán phá giá; (iii) thủ tục điều tra và (iv) cách thức áp dụng biện pháp chống bánphá giá

Các biện pháp chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được quyđịnh cụ thể tại Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20/8/2004 về chốngtrợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và Nghị định số 89/2005/NĐ-CP quy

18

Trang 19

định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhậpkhẩu vào Việt Nam Những nội dung chính của Pháp lệnh và Nghị định bao gồmđịnh nghĩa trợ cấp; điều tra trợ cấp đối với hàng nhập khẩu cách và thức ápdụng.

5 Các biện pháp phi thuế quan

Các biện pháp phi thuế quan bao gồm các biện pháp an toàn thực phẩm,chất lượng sản phẩm hàng hóa, kiểm dịch động vật, thực vật và kiểm tra y tếbiên giới, các biện pháp kiểm soát về quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đếnthương mại…

Về các tiêu chuẩn liên quan đến an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩmhàng hóa, pháp luật Việt Nam có các Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kĩ thuật(2007), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2007), Luật Sở hữu trí tuệ (2006),Luật Khoa học và Công nghệ (2000) và một số pháp lệnh (Pháp lệnh An toàn vàkiểm tra bức xạ…) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành

Về các tiêu chuẩn liên quan đến kiểm dịch động vật, thực vật và kiểm tra

y tế biên giới, pháp luật Việt Nam có các văn bản như Luật Thủy sản (2004),Pháp lệnh Thú y (2004), Luật An toàn thực phẩm (2010), Pháp lệnh Bảo vệ vàkiểm dịch thực vật (2001), Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007), Luật

Đa dạng sinh học (2008) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành

Về các biện pháp kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thươngmại, chúng ta có Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 36/2009/QH

12 ngày 19 tháng 06 năm 2009; Luật Hải quan số 29/2001/QH 10 ngày 29 tháng

06 năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/

QH 11 ngày 14 tháng 06 năm 2005; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22tháng 09 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý Nhànước về sở hữu trí tuệ và Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm

2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số105/2006/NĐ-CP; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2005của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hảiquan, kiểm tra, giám sát hải quan; Thông tư 44 /2011/TT- BTC của Bộ Tàichính hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tronglĩnh vực hải quan Ngoài ra, cũng còn phải kể đến các điều ước quốc tế có liênquan như như Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ về thiết lập quan

hệ quyền tác giả; Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Thụy Sỹ về bảo hộSHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT; Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa

19

Trang 20

Kỳ; Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật có hiệu lực tại ViệtNam từ 26-10-2004; Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âmchống sự sao chép trái phép có hiệu lực tại Việt Nam từ 6-7-2005; Công ướcParis về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Luật mẫu của Tổ chức Hải quan thếgiới…

Xét về nhiều phương diện, việc xử lý hàng hoá XNK có yếu tố xâm phạmquyền SHTT sẽ thu được hiệu quả nhất nếu tiến hành ngay khi hàng hoá đi quabiên giới, chưa đưa vào mạng lưới phân phối, lưu thông tại nội địa Do đó, vớichức năng kiểm tra, kiểm soát và làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá XNK,các cơ quan Hải quan trên thế giới đều có nhiệm vụ kiểm soát biên giới nhằmbảo hộ quyền SHTT Ở Việt Nam, cơ quan Hải quan thực hiện nhiệm vụ bảo hộquyền SHTT liên quan đến hàng hoá XNK trên cơ sở các quy định của pháp luậthiện hành Bên cạnh đó, Hải quan Việt Nam còn thực thi hệ thống các điều ướcquốc tế về SHTT như đã liệt kê ở trên Theo đó, cơ quan Hải quan có quyềnthực hiện biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sởhữu trí tuệ bao gồm: (i) Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghingờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Kiểm tra, giám sát để phát hiện hànghoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ14

Để yêu cầu áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩuliên quan đến sở hữu trí tuệ, người yêu cầu phải có đơn đề nghị gửi Cơ quan Hảiquan, xuất trình các bằng chứng về quyền sở hữu trí tuệ hợp pháp của mìnhđược pháp luật bảo hộ, bằng chứng về việc hàng hóa đã xâm phạm quyền sở hữutrí tuệ Đồng thời, họ phải nộp một khoản tiền bảo chứng để bảo đảm bồi thườngthiệt hại trong trường hợp đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan của họ khôngđúng

Thời gian tạm dừng là 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định, tuy nhiên, thờihạn này có thể bổ sung không quá 10 ngày sau khi người nộp đơn có đơn xin giahạn kèm khoản tiền đảm bảo hoặc chứng từ bảo lãnh theo quy định của phápluật và thông báo cho người nộp đơn, chủ hàng và các bên có liên quan biết(theo mẫu) Kết thúc thời hạn tạm dừng mà không nhận được đơn yêu cầu xử lýhành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người nộp đơn hoặc văn bản của cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc toà án xác nhận đã tiếp nhận đơnyêu cầu giải quyết tranh chấp về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến lôhàng bị tạm dừng làm thủ tục hải quan; kết quả xác định tình trạng pháp lý về sởhữu trí tuệ khẳng định rằng lô hàng bị tạm dừng làm thủ tục hải quan không xâmphạm quyền sở hữu trí tuệ; có Quyết định của các cơ quan có thẩm quyền giảiquyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ, trong đó khẳng định lô hàng bị tạm dừng thủ

14 Xem Điều 200 khoản 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Điều 216 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung 2009

20

Trang 21

tục hải quan không phải là hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; có Quyết địnhtạm dừng làm thủ tục hải quan bị đình chỉ hoặc thu hồi theo quyết định giảiquyết khiếu nại; người nộp đơn rút đơn yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quanthì Cơ quan Hải quan sẽ giải tỏa, làm thủ tục thông quan cho lô hàng Người yêucầu tạm dừng phải thanh toán các khoản chi phí phát sinh cho chủ lô hàng doviệc tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng gây ra Chi phí phát sinh baogồm phí lưu kho bãi, xếp dỡ, bảo quản hàng hoá Thiệt hại từ việc tạm dừng làmthủ tục hải quan do hai bên thoả thuận hoặc được xác định theo thủ tục tố tụngdân sự Còn nếu như người yêu cầu tạm dừng chứng minh được chủ hàng hóaxuất, nhập khẩu đã vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thì chủ hàng và hàng hóa viphạm sẽ được xử lý theo các quy định của pháp luật.

Về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính, ngành Hảiquan thực hiện trên cơ sở quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm

200215; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm viphạm hành chính năm 2008, Nghị định 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm

2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạmhành chính năm 2008; Nghị định 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 quy định việc

xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính tronglĩnh vực hải quan Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng quy định thẩm quyền xử lý viphạm hành chính về SHTT của cơ quan Hải quan (Điều 200 khoản 1) Theo đó

có các biện pháp như: tạm giữ người; tạm giữ hàng hóa, tang vật, phương tiện viphạm; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu Cơquan Hải quan có thể áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính (theoĐiều 214 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung 2009) như: cảnh cáo, phạt tiền (ítnhất bằng một lần nhưng không vượt quá năm lần trị giá hàng vi phạm), hìnhphạt bổ sung là tịch thu hàng hóa xâm phạm Cũng tại Luật Sở hữu trí tuệ sửađổi, bổ sung 2009, Điều 214 cũng quy định các biện pháp khắc phục hậu quảnhư: buộc tiêu hủy hoặc cho đưa vào sử dụng nhưng không nhằm mục đíchthương mại; buộc tái xuất hàng nhập khẩu giả mạo sau khi đã loại bỏ yếu tố xâmphạm; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hàng quá cảnh xâm phạm

6 Các biện pháp xúc tiến thương mại

Xúc tiến thương mại là một hoạt động được quy định tại Luật Thương mại

2005 và được hướng dẫn chi tiết thi hành tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP củaChính phủ Các hoạt động xúc tiến thương mại, theo quy định tại các văn bảntrên đều không có sự phân biệt rành mạch giữa xúc tiến thương mại trong nước

và xúc tiến thương mại quốc tế (hướng đến xuất khẩu)

15 Văn bản này sắp hết hiệu lực

21

Trang 22

Bên cạnh đó, xúc tiến thương mại còn được thể hiện thông qua chương

trình xúc tiến thương mại quốc gia và chương trình thương hiệu quốc gia

Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia là một chương trình được xâydựng trên cơ sở định hướng phát triển xuất khẩu, thị trường trong nước vàthương mại miền núi, biên giới và hải đảo, phù hợp với chiến lược phát triểnkinh tế xã hội theo từng thời kỳ, theo đó, nhà nước hỗ trợ kinh phí để thực hiệnmột số nội dung xúc tiến thương mại được quy định tại “Quy chế xây dựng,quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia ban” được hànhkèm theo Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg, theo đó, nội dung chương chươngtrình xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu bao gồm: thông tin thương mại,nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu các thị trường xuất khẩu trọngđiểm theo các ngành hàng; tuyên truyền xuất khẩu; tư vấn phát triển sản phẩm,nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, thâm nhập thị trường nướcngoài; đào tạo, tập huấn ngắn hạn trong và ngoài nước; tổ chức đoàn giao dịchthương mại tại nước ngoài…

Chương trình Thương hiệu quốc gia là một chương trình xúc tiến thươngmại dài hạn, nhằm xây dựng, quảng bá tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và nhãnhiệu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước, theo

đó, doanh nghiệp tham gia chương trình được hỗ trợ kinh phí để thực hiện một

số nội dung chương trình tại “Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trìnhThương hiệu quốc gia” được ban hành kèm theo Quyết định số 984/QĐ-BCT,được hỗ trợ về tư vấn đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, tên thương mại, chỉ dẫn địađịa lý, được sử dụng cơ sở dữ liệu thông tin thị trường…

Ngoài ra, hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế còn được thực hiệnthông qua tín dụng xuất khẩu quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP và bảohiểm tín dụng xuất khẩu đang được thí điểm thực hiện theo Quyết định số 2011/QĐ-TTg

7 Các biện pháp ưu đãi kinh tế

Đây là các quy định ưu đãi cho các khu vực hải quan riêng và thương mạibiên mậu

- Đối với khu vực hải quan riêng (khu công nghiệp, khu chế xuất và các

khu kinh tế)16, các chính sách ưu đãi được quy định tại Nghị định số29/2008/NĐ-CP, Quyết định số 100/2009/QĐ-TTg và Quyết định số33/2009/QĐ-TTg, theo đó các ưu đãi bao gồm ưu đãi đầu tư, ưu đãi về thuế suấtthuế nhập khẩu, ưu đãi về cơ chế

16 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Chính phủ quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và các Khu kinh tế.

22

Trang 23

- Đối với hoạt động thương mại biên mậu: các vấn đề liên quan được quy

định tại Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg, theo đó, các hoạt động được điềuchỉnh bao gồm: mua, bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới; buôn bán tạichợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu và xuất nhập khẩuhàng hoá qua biên giới theo các phương thức được thoả thuận trong Hiệp địnhthương mại song phương giữa Việt Nam và các nước có chung biên giới, bêncạnh đó, còn có hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mởbiên giới nằm ngoài các khu kinh tế cửa khẩu được quy định tại Thông tư số13/2009/TT-BCT của Bộ Công Thương

Việc mua bán, trao đổi và xuất nhập khẩu hàng hóa theo hình thức thươngmại biên giới được thực hiện theo quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP.Riêng đối với hàng hóa trao đổi, mua bán của cư dân biên giới được Bộ trưởng

Bộ Công Thương công bố trong từng thời kỳ

Ngoài ra, hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa còn baogồm các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực này, đó là các quy định về xửphạt vi phạm hành chính trong Nghị định số 06/2008/ND-CP và Nghị định số112/2010/ND-CP quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thương mại và cácNghị định xử phạt chuyên ngành khác

II Tổng quan hệ thống pháp luật điều chỉnh xuất nhập khẩu dịch vụ

Về dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu, theo quy định hiện hành thì hiệnnay có 02 văn bản quy định về Danh mục xuất, nhập khẩu dịch vụ đó là:

Quyết định số 28/2011/QĐ-TTg ngày 17 tháng 05 năm 2011 ban hành danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam;

Thông tư số 08/2011/TT-BKĐT ngày 01 tháng 8 năm 2011 quy định nội dung danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam.

Theo quy định tại Quyết định số 28/2011/QĐ-TTg thì bao gồm 12 nhómngành dịch vụ xuất, nhập khẩu, mã hóa bằng bốn chữ số:

Trang 24

8 Phí mua, bán quyền sử dụng giấy phép, thương hiệu, bản quyền (mã2660);

9 Dịch vụ kinh doanh khác (mã 2680);

10 Dịch vụ cá nhân, văn hóa và giải trí (mã 2870);

11 Dịch vụ Chính phủ, chưa được phân loại ở nơi khác (mã 2910);

12 Dịch vụ Logistic (mã 9000)

Mỗi nhóm ngành dịch vụ nêu trên được chi tiết thành các phân nhóm, sảnphẩm và được mã hóa bằng bốn chữ số tại phụ lục ban hành kèm theo Quyếtđịnh này

Tại Thông tư số 08/2011/TT-BKĐT có quy định một số khái niệm trongxuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ như sau:

Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam: là danh mục phân loại

các sản phẩm dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu giữa đơn vị thường trú củaViệt Nam và đơn vị không thường trú Khái niệm về đơn vị thường trú và khôngthường trú được quy định thống nhất trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)

và cán cân thanh toán quốc tế (BOP)

Dịch vụ xuất khẩu: là toàn bộ các dịch vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá

nhân trong nước - đơn vị thường trú của Việt Nam - cung cấp cho các doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài - đơn vị không thường trú

Dịch vụ nhập khẩu: là toàn bộ các dịch vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá

nhân trong nước - đơn vị thường trú của Việt Nam - tiêu dùng/nhận từ các doanhnghiệp, tổ chức và cá nhân nước ngoài - đơn vị không thường trú

Bên cạnh đó, Thông tư còn quy định nội dung các nhóm, phân nhóm dịch

vụ ví dụ Dịch vụ vận tải bao gồm các dịch vụ vận chuyển hành khách, vậnchuyển hàng hóa bằng các phương thức vận tải đường biển, đường hàng không,đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, đường ống, truyền tải điện, các dịch

vụ hỗ trợ và liên quan đến vận tải như bốc xếp hàng hóa, kho bãi, dịch vụ cảnghàng không, cảng biển…, Dịch vụ bưu chính và viễn thông bao gồm các dịch vụbưu chính, chuyển phát và viễn thông

Ngoài ra, Thông tư ban hành kèm theo Phụ lục 1 Bảng mã tương thíchgiữa Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam (VCITS) với Hệ thống ngànhsản phẩm Việt Nam (VCPA) và Phụ lục 2 Bảng mã tương thích giữa Danh mụcdịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam (VCITS) với Phân loại dịch vụ GNS/W/120của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (W120)

24

Trang 25

Từ quy định trên, ta có thể thấy danh mục dịch vụ được xuất, nhập khẩu

đã được quy định cụ thể và chi tiết Tuy nhiên, chỉ quy định về danh mục đượcthực hiện và nội dung cụ thể các nhóm, phân nhóm dịch vụ, còn phạm vi điềuchỉnh từng dịch vụ lại được quy định tại hệ thống các văn bản chuyên ngànhkhác nhau, theo quản lý riêng của các Bộ, ngành

Hệ thống văn bản pháp luật trong điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ nói chung

và xuất nhập khẩu dịch vụ nói riêng rất đồ sộ và phức tạp Các quy định đượcthế hiện ở nhiều văn bản khác nhau từ Hiến pháp, Luật của Quốc hội, Nghị địnhcủa Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Quyết định của

Bộ trưởng cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Mỗi nhóm ngành dịch vụ được xuất, nhập khẩu được điều chỉnh bởi một

hệ thống pháp luật chuyên ngành riêng biệt như dịch vụ vận tải đường bộ đượcđiều chỉnh bởi hệ thống các văn bản như Luật giao thông đường bộ và các vănbản hướng dẫn các Luật này, dịch vụ viễn thông được điều chỉnh bởi Luật viễnthông, các Nghị định, Quyết định và Thông tư hướng dẫn, dịch vụ tài chínhđược điều chỉnh bởi Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng và các văn bảnhướng dẫn, dịch vụ bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bảo hiểm vàcác văn bản hướng dẫn… bên cạnh đó, mỗi nhóm ngành cũng chịu sự điều chỉnhcủa quy định khác có liên quan

Do mỗi nhóm ngành dịch vụ được xuất, nhập khẩu của Việt Nam đượcđiều chỉnh bởi hệ thống pháp luật riêng biệt và độc lập Do vậy, báo cáo này chỉtập trung nghiên cứu, rà soát một số nhóm dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩulớn và có tiềm năng để từ đó có cái nhìn tổng quát chung trong toàn bộ các quyđịnh của pháp luật liên quan đến xuất nhập khẩu dịch vụ, Danh mục các văn bảnliên quan đến một số nhóm dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu được chi tiết tạiPhụ lục II

1 Dịch vụ viễn thông

1.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

- Luật viễn thông;

- Luật Bưu chính;

- Luật Tần số vô tuyến điện;

- Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 6/4/2011 quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật viễn thông;

- Nghị định 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2012 quy định chi tiết thi hànhmột số quy định của Luật bưu chính;

25

Trang 26

- Thông tư số 10/2012/TT-BTTT ngày 10/7/2012 ban hành danh mục dịch

vụ viễn thông theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP;

- Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 phê duyệt chiến lược phát triểnviễn thông và công nghệ thông tin giai đoạn 2011-2020;

Ngoài ra, còn một loạt các Nghị định, Quyết định và Thông tư, thông tưliên tịch quy định các nội dung liên quan như như Nghị định về quản lý, cungcấp và sử dụng dịch vụ internet, thông tư liên tịch hướng dẫn cấp phép, đăng lýthực hiện quảng cáo trên báo, mạng thông tin máy tính…

1.2 Quy định về quản lý nhà nước và cơ quan quản lý

Việc quản lý trong lĩnh vực viễn thông thuộc trách nhiệm của Bộ Thôngtin và Truyền thông, theo đó Bộ Thông tin và Truyền thông có trách ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế -

kỹ thuật về viễn thông; chiến lược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia

Theo đó, năm 2009 Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng và trìnhQuốc hội thông qua Luật viễn thông và thay thế Pháp lệnh bưu chính, viễnthông Luật được ban hành nhằm thống nhất hệ thống pháp luật trong viễnthông, internet, thay thế các quy định mẫu thuẫn, chồng chéo không còn phù hợp

và tạo ra cơ sở pháp lý cao, giải quyết các vấn đề vướng mắc phát sinh trong giaiđoạn mới để tạo ra thị trường viễn thông lành mạnh và bền vững

Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành nhiều văn bảnquy phạm pháp luật trong lĩnh vực viễn thông như: quản lý giá cước, khuyếnmãi đối với dịch vụ thông tin di động; quản lý thuê bao di động trả trước; chứngnhận công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin vàtruyền thông…

Ngoài ra, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng các văn bản quyphạm pháp luật về Quy hoạch viễn thông quốc gia đến 2020; về đấu giá, chuyểnnhượng kho số viễn thông, tài nguyên Internet…Hệ thống văn bản pháp luật này

đã và sắp ban hành sẽ tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ để triểnkhai các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông, Internet

1.3 Quy định về đầu tư trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

Theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP thì nhà đầu tư nước ngoàiđược phép đầu tư kinh doanh dịch vụ viễn thông dưới hình thức đầu tư trực tiếp,đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về viễn thông và pháp luật về đầu tư

Trường hợp đầu tư trực tiếp để cung cấp dịch vụ viễn thông không có hạtầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh, hợp tác kinh doanh trên cơ

sở hợp đồng với doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam Trường hợp đầu tư

26

Trang 27

để cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài đượcphép liên doanh, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng với doanh nghiệp viễnthông đã được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông tại Việt Nam.

Ngoài việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư dự án đầu tưnước ngoài trong kinh doanh dịch vụ viễn thông phải bảo đảm các điều kiệnkhác như phù hợp với quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia, quy hoạch tàinguyên viễn thông; quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động trên địa bàn đầu tư;đáp ứng điều kiện về vốn pháp định và mức cam kết đầu tư; tỷ lệ phần vốn gópphải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế màViệt Nam là thành viên

1.4 Quy định về sở hữu trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

Nhà nước nắm cổ phần chi phối trong doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có

hạ tầng mạng có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động của toàn bộ cơ sở hạtầng viễn thông quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh

Tỷ lệ vốn hoặc cổ phần tối đa một tổ chức, cá nhân được quyền nắm giữtrong hai hoặc nhiều doanh nghiệp viễn thông khác nhau cùng kinh doanh trongmột thị trường dịch vụ viễn thông để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh được quyđịnh tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP thì một tổ chức, cá nhân đã sở hữu trên20% vốn điều lệ hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp viễn thông thì khôngđược sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thôngkhác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông thuộc Danh mụcdịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định

1.5 Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ viễn thông

Để được kinh doanh dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp phải được cấp giấyphép kinh doanh dịch vụ viễn thông (Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công

cộng hoặc Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông)

Đối với Doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông:

- Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tưkinh doanh dịch vụ viễn thông;

- Có đủ khả năng tài chính, tổ chức bộ máy và nhân lực phù hợp với quy

mô của dự án;

- Có phương án kỹ thuật, phương án kinh doanh khả thi phù hợp với chiếnlược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia, các quy định về tài nguyên viễnthông, kết nối, giá cước, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng mạng vàdịch vụ viễn thông;

27

Trang 28

- Có biện pháp bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông và an ninh thôngtin.

Đối với Doanh nghiệp hoạt động thiếu lập mạng viễn thông công cộng:tương tự các điều kiện của doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông,ngoài ra, phải có vốn pháp định và mức cam kết đầu tư quy định tại Nghị định

số 25/2011/NĐ-CP

2 Dịch vụ ngân hàng

2.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

- Luật ngân hàng nhà nước;

- Luật các tổ chức tín dụng;

- Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi thi hành

Trong những năm qua, hệ thống pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng đã dầndẫn được cải thiện, một bước tiến quan trọng năm 1990 Pháp lệnh ngân hàngnhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tàichính Sau đó năm 1997 Luật Ngân hàng nước Việt Nam và Luật các tổ chức tíndụng được ban hành, hai luật này đã tạo ra sân chơi bình đẳng cho các tổ chứctín dụng và tạo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên do quá trìnhphát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hai luật này cũng đã bộc lộ những hạn chế

và khó khăn trong quá trình thực hiện đối và cũng như thiếu cơ sở pháp lý trongviệc quản lý, giám sát của Ngân hàng nhà nước

Do vậy, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng được xâydựng lại và đã Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 vàthay thế hai luật năm 1997 Hiện nay, hai luật này là cơ sở pháp lý cao nhất tạonền tảng cho các hoạt động của ngân hàng nói chung và dịch vụ tài chính nóiriêng Trên cơ sở quy định của các Luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vàNgân hàng nhà nước đã ban hành một số Nghị định, Quyết định và Thông tư đểhướng dẫn thực hiện Các văn bản pháp lý đã tạo ra khuôn khổ pháp lý khá toàndiện điều chỉnh cả các tổ chức tín dụng và hoạt động của các tổ chức tín dụng tạiViệt Nam và tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho các tổ chức tín dụng hoạt độngtrong môi trường cạnh tranh

2.1 Quy định về cơ quan quản lý nhà nước

Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việcquản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánhngân hàng nước ngoài

28

Trang 29

2.2 Quy định về hình thức pháp lý và loại hình hoạt động của Tổ chức tín dụng

- Về hình thức pháp lý: Điều 6 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định,

Tổ chức tín dụng được tổ chức theo các hình thức pháp lý của Luật Doanhnghiệp (hoặc Luật Hợp tác xã) như sau: Ngân hàng thương mại trong nước đượcthành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ ngân hàng thương mạinhà nước được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ); tổ chức tín dụng phi ngân hàngtrong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn; tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, tổ chức tín dụngliên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn;ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hìnhthức hợp tác xã; tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn

Như vậy, các quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát được phân loạitheo hình thức pháp lý của Tổ chức tín dụng (công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn, hợp tác xã)

- Về hoạt động của Tổ chức tín dụng: Luật các tổ chức tín dụng 2010

quy định phạm vi hoạt động của từng Tổ chức tín dụng phụ thuộc vào loại hìnhhoạt động của chính Tổ chức tín dụng (như Ngân hàng thương mại, ngân hànghợp tác xã, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi mô,quỹ tín dụng nhân dân)

2.3 Quy định về cấp phép và điều kiện được cấp phép

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện và được quản

lý, giám sát chặt chẽ, do đó Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định theonguyên tắc mọi tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Luật các tổ chức tíndụng và các quy định khác có liên quan của pháp luật được Ngân hàng Nhànước cấp Giấy phép thì được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng

Loại hình được cấp phép và điều kiện cấp phép:

Việc cấp phép được chia làm 5 trường hợp: (i) Tổ chức tín dụng; (ii) Tổchức tín dụng liên doanh tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài (iii) Chi nhánhngân hàng nước ngoài (iv) văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài,

tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng và (v) Điều kiện cấp Giấyphép đối với ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi

mô Tùy từng loại mà điều kiện cấp phép được quy định khác nhau, các điềukiện được quy định cụ thể tại Luật các tổ chức tín dụng Riêng đối với trườnghợp thứ năm (v) điều kiện do Ngân hàng nhà nước quy định

29

Trang 30

2.4 Quy định về tăng cường quản lý, ngăn chặn sự lũng loạn

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định chặt chẽ về điều kiệncủa cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập tổ chức tín dụng, điều kiện, tiêu chuẩnđối với người quản lý, điều hành, yêu cầu công khai lợi ích liên quan có liênquan đến tổ chức tín dụng, giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần nhằm bảo đảm điềukiện tài chính, năng lực quản trị, điều hành của cổ đông, thành viên sáng lập,người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng, ngăn ngừa khả năng lũng đoạnhoạt động ngân hàng của các cá nhân tổ chức là cổ đông lớn và hạn chế xungđột lợi ích tiềm tàng

Bên cạnh đó Luật các tổ chức tín dụng quy định chặt chẽ về điều kiệnkhai trương hoạt động của tổ chức tín dụng để bảo đảm tổ chức tín dụng khikhai trương hoạt động có đầy đủ các điều kiện về bộ máy nhân sự, cơ sở vậtchất, quy trình quản lý, kiểm soát nội bộ, kiểm soát rủi ro

3 Dịch vụ bảo hiểm

3.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

- Luật kinh doanh bảo hiểm;

- Luật sửa đổi, bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 quy định chi tiết thihành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanhbảo hiểm và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2007/NĐ-CPngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LuậtKinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định số 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chế độ tàichính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

- Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05/05/2009 của Chính phủ về Xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định 103/2008/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc tráchnhiệm dân sự chủ xe cơ giới;

- Quyết định số 193/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển thị trường bảohiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020;

- Các Thông tư, Quyết định hướng dẫn

3.2 Quy định quản lý nhà nước và cơ quan quản lý

30

Trang 31

Việc quản lý nhà nước dịch vụ kinh doanh bảo hiểm được thông qua việccấp phép thành lập, điều kiện được thành lập, hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu vềtài chính, cam kết với bên mua bảo hiểm, chấp thuận doanh nghiệp bảo hiểmhoạt động ở nước ngoài, thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm,chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểmViệt Nam

Cơ quan quản lý trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là Bộ Tài chính

3.3 Điều kiệm tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Doanh nghiệp hoạt động kinh doạnh bảo hiểm được phải được cấp giấyphép thành lập và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, theo đó điều kiện đểđược cấp giấy phép thành lập bao gồm:

+ Không thuộc các đối tượng bị cấm trong Luật kinh doanh bảo hiểm+ Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quyđịnh của Chính phủ;

+ Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luậtkinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật;

+ Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn,nghiệp vụ về bảo hiểm;

+ Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định Luậtkinh doanh bảo hiểm

3.4 Hợp đồng bảo hiểm

- Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm, các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm Hợp đồng bảo hiểm conngười; Hợp đồng bảo hiểm tài sản và Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

- Hợp đồng bảo hiểm phải được phải được lập thành văn bản

- Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau:

+ Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người đượcbảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

+ Đối tượng bảo hiểm;

+ Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;+ Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

+ Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

+ Thời hạn bảo hiểm;

31

Trang 32

+ Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

+ Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

+ Các quy định giải quyết tranh chấp;

+ Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng

Ngoài những nội dung trên, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dungkhác do các bên thoả thuận

4 Dịch vụ phân phối

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, dịch vụ phân phối tạo nên nhómhành vi cơ bản và là đối tượng cơ bản của các quy định pháp luật về phân phối.Dịch vụ phân phối bao gồm các dịch vụ bán buôn, bán lẻ, đại lý mua bán hànghoá và nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam

Cơ quản lý nhà nước trong dịch vụ phân phối là Bộ Công Thương.Các công cụ được sử dụng để quản lý bao gồm: Giấy phép kinh doanhhoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; quy hoạch; đăng ký hệ thốngphân phối Việc áp dụng các công cụ theo quy định của văn bản chuyên ngành

4.1 Dịch vụ bán buôn, bán lẻ

4.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh

- Nghị định 59/2006/NĐ-CP quy định về hàng hóa cấm kinh doanh, hànghóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định số 43/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sungDanh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CPngày 12 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hoá,dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/2/2007 quy định chi tiết LuậtThương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trựctiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM ngày 21/5/2007 của Bộ Thương mạicông bố lộ trình thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt độngliên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa;

- Thông tư số 09/2007/TT-BTM của Bộ Thương mại ngày 17/7/2007hướng dẫn thi hành Nghị định 23/2007/NĐ-CP;

- Thông tư số 05/2008/TT-BCT ngày 14/4/2008 sửa đổi, bổ sung Thông

tư số 09/2007/TT-BTM;

- Các văn bản chuyên ngành

32

Trang 33

4.1.2 Nội dung quy định quản lý

Việc quản lý dịch vụ bán buốn, bán lẻ được dựa trên các quy định về điềukiện kinh doanh, cấp phép hoạt động, phạm vi hoạt động, quy hoạch hệ thốngphân phối, quản lý cơ sở hạ tầng, quản lý bán hàng đa cấp

- Quy định điều kiện kinh doanh:

Điều kiện kinh doanh tùy thuộc vào quy định tại văn bản chuyên ngànhđối với từng loại hàng hóa, dịch vụ Hiện nay, có khoảng 30 hàng hóa có quyđịnh về điều kiện kinh doanh Nội dung các điều kiện này phụ thuộc vào từngđặc thù của hàng hóa, dịch vụ được phân phối và yêu cầu quản lý nhà nước đốivới loại hàng hóa, dịch vụ đó

Các điều kiện này thường gắn liền với điều kiện về cơ sở vật chất (cơ sởkinh doanh, kho, bến bãi …), quy mô kinh doanh (hệ thống phân phối), năng lựctài chính, điều kiện về chủ thể (trình độ chuyên môn hoặc phải là doanh nghiệp),

về quy hoạch

Đối với hàng hóa hạn chế kinh doanh, việc hạn chế kinh doanh thể hiện ởđiều kiện kinh doanh có bao gồm điều kiện về loại hình doanh nghiệp hoặc quyhoạch thể hiện sự giới hạn chủ thể kinh doanh phân phối Việc hạn chế có thểbằng quy hoạch như thuốc lá hoặc quy định loại hình chủ thể ví dụ doanh nghiệp100% vốn nhà nước như vật liệu nổ công nghiệp, pháo, vũ khí quân sự…, loạitrừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phân phối một số mặt hàngnhư lúa gạo, thuốc lá, dược phẩm, xăng dầu…)

Việc đáp ứng các điều kiện này được kiểm soát bằng hình thức cấp Giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc Giấy phép kinh doanh bán buôn/ bán

lẻ hoặc bằng hình thức hậu kiểm

- Quy định về cấp phép hoạt động:

Như đã đề cập, cấp phép là một hình thức để đảm bảo việc kinh doanh đápứng các điều kiện theo quy định Do vậy việc cấp phép chỉ được tiến hành đốivới một số hàng hóa hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện mà vănbản chuyên ngành yêu cầu phải có Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh Hình thức Giấy phép kinh doanh bao gồm Giấy phépbán buôn/ giấy phép bán lẻ hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.Theo quy định tại Nghị định 59/2006/NĐ-CP, hình thức Giấy phép kinh doanh

áp dụng đối với hàng hóa hạn chế kinh doanh trong khi Giấy chứng nhận đủđiều kiện kinh doanh áp dụng đối với hàng hóa kinh doanh có điều kiện Cơquan cấp phép bao gồm Trung ương và/ hoặc địa phương tùy thuộc vào phạm vihoạt động của doanh nghiệp

33

Trang 34

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khi kinh doanh dịch vụphân phối, phải được cấp phép để có quyền phân phối trước Việc cấp phép nàyđược ghi nhận trong Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp lần đầu đầu

tư vào Việt Nam) hoặc Giấy phép kinh doanh để có quyền thực hiện dịch vụphân phối cụ thể Ngoài ra, khi lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải xin Giấy phép lập cơ sở bán lẻ.Giấy phép này được cấp trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)

+ Thương nhân kinh doanh bán lẻ chỉ được bán lẻ cho người tiêu dùng.Hoạt động bán lẻ gắn với địa điểm kinh doanh được quy định trên Giấy phép(nếu có) Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc mở cơ sở bán lẻthứ hai phải được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế như đã nói ở trên.Việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất do Ủy ban nhân dân cấptỉnh/ cơ quan quản lý đầu tư (trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lần đầuđầu tư vào Việt Nam) quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của

Bộ Công Thương Hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị định 23/2007/NĐ-CP

- Quy hoạch hệ thống phân phối:

Quy hoạch là một công cụ để quản lý hệ thống phân phối nói chung trong

đó có dịch vụ bán buôn/ bán lẻ thông qua việc tiết chế hệ thống phân phối ở mứchợp lý khi đưa ra các tiêu chí để đặt điểm phân phối Địa điểm phân phối phảiphù hợp với quy hoạch là một trong các điều kiện kinh doanh được áp dụng đốivới một số hàng hóa Ngoài ra còn có quy hoạch đối với cơ sở hạ tầng phân phốinhư chợ, siêu thị, trung tâm thương mại; quy hoạch Có hai loại quy hoạch làquy hoạch trên phạm vi toàn quốc và quy hoạch địa phương

Hiện tại, trong hoạt động phân phối công cụ này được áp dụng với thuốc

lá (quy hoạch mạng lưới kinh doanh bán buôn/ bán lẻ thuốc lá), xăng dầu (quyhoạch cửa hàng bán lẻ xăng dầu)

- Quản lý cơ sở hạ tầng thương mại:

34

Trang 35

Đưa ra các tiêu chí phân loại và mô hình quản lý hoạt động của chợ, trungtâm thương mại, siêu thị.

Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hoạt động xây dựng chợ của tư nhân

4.2 Đại lý

4.2.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh

- Luật Thương mại 2005;

- Nghị định 59/2006/NĐ-CP quy định về hàng hóa cấm kinh doanh, hànghóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định 43/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danhmục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụcấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/2/2007 quy định chi tiết LuậtThương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trựctiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Thông tư 05/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương về việc sửa đổi, bổsung Thông tư số 09/2007/TT-BTM ngày 17/7/2007 của Bộ Thương mại hướngdẫn thi hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP;

- Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM ngày 21/5/2007 của Bộ Thương mạicông bố lộ trình thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt độngliên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa, trong đó có quy định về lộtrình thực hiện quyền phân phối của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Các văn bản liên quan khác

4.2.2 Nội dung quy định

- Điều kiện để trở thành đại lý:

Để trở thành đại lý phân phối một số hàng hóa như rượu, thuốc lá, xăngdầu, LPG, các chủ thể phải đáp ứng các điều kiện nhất định tùy theo quy định

cụ thể tại văn bản chuyên ngành

Các điều kiện này bao gồm điều kiện về chủ thể (như loại hình hoạt động;trình độ chuyên môn); điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật; điều kiện về quyhoạch; điều kiện về hệ thống phân phối (bao gồm số lượng cửa hàng bán lẻ –xăng dầu)

- Phạm vi hoạt động:

35

Trang 36

Phạm vi hoạt động của đại lý tùy thuộc vào việc đáp ứng điều kiện và cấpphép mà đại lý được quyền bán buôn hoặc/và bán lẻ Thông thường một chủ thể

có thể làm đại lý cho nhiều thương nhân khác nhưng trong hoạt động phân phốimột số hàng hóa (xăng dầu, LPG), số lượng này lại bị giới hạn

- Công cụ quản lý:

Hoạt động cấp phép được thực hiện khi các văn bản chuyên ngành có quyđịnh Hiện tại, một số mặt hàng có quy định cấp phép gồm xăng dầu, LPG, rượu,thuốc lá

Ngoài ra, còn có quy định cấp phép cho việc đăng ký hệ thống đại lý(xăng dầu, rượu, thuốc lá, LPG); hạn chế trong việc ký kết hợp đồng đại lý

4.3 Nhượng quyền thương mại

4.3.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh:

- Luật Thương mại năm 2005

- Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ vềquy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại

- Nghị định 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung thủtục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết LuậtThương mại

- Thông tư 09/2006/TT-BTM ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Bộ Thươngmại hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại

- Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM ngày 21/5/2007 của Bộ Thương mạicông bố lộ trình thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt độngliên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa, trong đó có quy định về lộtrình thực hiện quyền phân phối của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Quyết định 106/2008/QĐ-BTC về thu phí đối với hoạt động đăng kýnhượng quyền thương mại

4.3.2 Nội dung quy định

- Quy định điều kiện nhượng quyền thương mại:

Thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điềukiện sau đây:

Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ítnhất 01 năm Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từBên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo

36

Trang 37

phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khitiến hành cấp lại quyền thương mại

Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩmquyền theo quy định Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 củaChính phủ về quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyềnthương mại và Nghị định 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổsung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiếtLuật Thương mại

Các trường hợp không phải đăng ký nhượng quyền

+ Nhượng quyền trong nước;

+ Nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài

Đối với các trường hợp không phải đăng ký nhượng quyền phải thực hiệnchế độ báo cáo Sở Công Thương

Thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinhdoanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại

- Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh nhượng quyền thương mại:

Hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại làhàng hoá, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh

Trường hợp hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn chếkinh doanh, Danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệpchỉ được kinh doanh sau khi được cơ quan quản lý ngành cấp Giấy phép kinh

doanh, giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có đủ điều kiện kinh doanh

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyên hoạt động mua bán hànghoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá, ngoài việc đápứng những quy định về điều kiện kinh doanh nhượng quyền, chỉ được thực hiệnhoạt động nhượng quyền thương mại đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp

đó được kinh doanh dịch vụ phân phối theo cam kết quốc tế của Việt Nam Đếnthời điểm hiện nay, theo Quyết định 10/2007/QĐ-BTM, một số mặt hàng gồmthuốc lá và xì gà, sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý và đáquý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu thô và dầu đã qua chế biến, gạo, đường mía vàđường củ cải, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được quyền phânphối, bao gồm cả việc kinh doanh dưới hình thức nhượng quyền thương mại

- Đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại:

Trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, thương nhânViệt Nam hoặc thương nhân nước ngoài dự kiến nhượng quyền phải đăng ký

37

Ngày đăng: 02/05/2014, 12:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w