Kinh nghiệm của các nước đã chỉ ra rằng, các cộng đồng nông thôn chỉ có thể phát triển có hiệu quả và bền vững nếu như mô hình phát triển nôngthôn được xây dựng trên cơ sở huy động nguồn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vănnày là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008
Tác giả luận văn:
Hoàng Thị Hà
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành Luận văn thực tập tốt nghiệp này, trớc hết Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & phát triển nông thôn, trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Những ngòi đã trang bị cho Tôi hành trang kiến thức trên giảng đờng đại học và giúp Tôi khi gặp khó khăn trong quá trình học tập.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo
- ThS Nguyễn Văn Mác, ngòi đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn và động viên Tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Viện Quy Hoạch & Thiết kế nông nghiệp, cán bộ UBND xã Đôn Nhân - huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc; các cán bộ và bà con thôn Hạ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008 Ngời cảm ơn
Hoàng Thị Hà
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục hộp vii
Danh mục biểu đồ vii
Danh mục viết tắt viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng, địa bàn, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về nông thôn 4
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới 4
2.1.3 Điều kiện cần có để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới 5 2.1.4 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới 6
2.1.5 Cấp xã là đơn vị cơ sở của mô hình nông thôn mới 9
2.1.6 Các nhân tố chính tham gia vào mô hình nông thôn mới 10
2.1.7 Đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới 11
2.1.8 Nội dung xây dựng mô hình 11
2.1.9 Phát triển nông thôn dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ .14
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới 17
2.2.2 Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam 21
Trang 4PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Điều tra thu thập số liệu 36
3.2.3 Tổng hợp và xử lý tài liệu 37
3.2.4 Phương pháp phân tích 37
3.3 Các chỉ tiêu đánh giá 38
3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế 38
3.3.2 Chỉ tiêu đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng 39
3.3.3 Chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội 39
3.3.4 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm vệ sinh môi trường 39
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 40
4.1 Thực trạng xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực ở Thôn Hạ - Đôn Nhân - Lập Thạch - Vĩnh phúc 40
4.1.1 Các hoạt động ưu tiên cho mục tiêu phát triển 2007-2012 của thôn Hạ 40
4.1.2 Tình hình kinh phí đầu tư ban đầu của dự án 42
4.1.3 Các nguồn lực để thực hiện các hoạt động ưu tiên năm 2007 của Thôn Hạ 44
4.2 Tính tự chủ của người dân trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở Thôn Hạ 52
4.2.1 Người dân tham gia vào các hoạt động của huy động kinh tế-xã hội 52
4.2.2 Người dân tích cực tham gia thành lập ban phát triển thôn 54
4.2.3 Người dân tham gia tích cực trong xây dựng quy chế và lập kế hoạch phát triển thôn 56
4.2.4 Người dân tham gia trực tiếp vào các hoạt động của dự án 59
4.2.4 Người dân tham gia giám sát, điều chỉnh và đánh giá 63
4.3 Kết quả đạt được của mô hình nông thôn mới thôn Hạ 64
Trang 54.3.1 Kết quả chung đạt được 64
4.3.2 Một số tác động của mô hình nông thôn mới ở thôn Hạ 65
4.4 Tính bền vững của mô hình nông thôn mới thôn Hạ 79
4.5 Kế hoạch phát triển thôn Hạ đến năm 2012 81
4.6 Yếu tố thuận lợi và cản trở đối với việc nâng cao kết quả và sự tác động của mô hình nông thôn mới 83
4.6.1 Yếu tố thuận lợi 83
4.6.2 Yếu tố cản trở 85
4.7 Một số bài học trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới 87
4.7.1 Về sự tham gia của người dân và cộng đồng 87
4.7.2 Xây dựng nông thôn mới phải là chương trình lâu dài và có bước đi vững chắc 87
4.7.3 Gắn chặt chương trình xây dựng nông thôn mới với phát triển sản xuất và xoá đói giảm nghèo 88
4.7.4 Phương châm xây dựng nông thôn mới phải là “lấy sức dân lo cuộc sống cho dân” 88
4.7.5 Xây dựng nông thôn mới thực chất là xây dựng một xã hội có kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh vững mạnh 88
4.8 Những biện pháp cơ bản trong xây dựng nông thôn mới 88
4.8.1 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã 89
4.8.2 Xác định phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn để sản xuất hàng hoá 89
4.8.3 Sự đầu tư của Nhà nước gắn liền sự tham gia của người dân trong đề xuất và thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới 89
4.8.4 Gắn chương trình xây dựng nông thôn mới với phong trào xây dựng làng văn hoá, xã văn hóa 90
4.8.5 Xây dựng nông thôn mới gắn với bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực cộng đồng 90
PHẦN V: KẾT LUẬN 91
5.1 Kết luận 91
5.2 Kiến nghị 92
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007 27
Bảng 3.2: Tình hình dân số, lao động xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007 29
Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã qua 3 năm 31
Bảng 3.4: kết quả kinh tế xã hội xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007 34
Bảng 4.1: Các hoạt động ưu tiên cho mục tiêu phát triển giai đoạng 2007 – 2012 của thôn Hạ 41
Bảng 4.2: Kết quả thực hiện kế hoạch đóng nguồn kinh phí của Trung ương và nhân dân cho các hoạt động 43
Bảng 4.3: Các nguồn lực thực hiện hoạt động đưa 2 ha giống lạc mới gieo trồng vụ đông 45
Bảng 4.4: Các nguồn lực thực hiện đường bê tông và rãnh thoát nước các ngõ xóm trong thôn 47
Bảng 4.5: Các nguồn lực thực hiện cải tạo, nâng cấp sân vận động thôn 49
Bảng 4.6: Các nguồn lực thực hiện hỗ trợ người dân nuôi lợn trong thôn làm hầm Biogas 51
Bảng 4.7: Tiến trình hoạt động của huy động kinh tế-xã hội 53
Bảng 4.8: Tỷ lệ các nhóm hộ tham gia thành lập BPTT 54
Bảng 4.9: Người dân tham gia xây dựng qui chế và lập kế hoạch phát triển thôn .58 Bảng 4.10: Tổng hợp nguồn kinh phí nhân dân đóng góp cho các hoạt động 60
Bảng 4.11: Người dân tham gia công lao động xây dựng công trình 62
Bảng 4.12: kết quả đạt được của mô hình nông thôn mới thôn Hạ 64
Bảng 4.13: Một số chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng kinh tế thôn Hạ 66
Bảng 4.14: Tác động của dự án đến thu nhập của người dân thôn Hạ 69
Bảng 4.15: Bảng chấm điểm tác động của dự án đến cơ sở hạ tầng 70
Bảng 4.16: Tỷ lệ giàu nghèo của thôn Hạ so với toàn xã 71
Bảng 4.17: Tình hình sử dụng nguồn nước sinh hoạt thôn Hạ 73
Bảng 4.18: Tác động tích cực của dự án về môi trường 74
Bảng 4.19: Sự công bằng hơn trong cộng đồng cư dân nông thôn 75
Trang 7Bảng 4.20: Một số hoạt động của phụ nữ sau một năm xây dựng mô hình
nông thôn mới 76
Bảng 4.21: Mức chênh lệch giàu nghèo của xã và thôn qua 2 năm 2006-2007 77
Bảng 4.22: Đánh giá của người dân về tác động của dự án đến tính tự lập của cộng đồng 78
Bảng 4.23: Một số hoạt động từ nguồn kinh phí của người dân đóng góp 80
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: Cơ cấu các các nhóm hộ tham gia thành lập BPTT 54
Biểu đồ 4.2: Nguồn kinh phí nhân dân đóng góp cho các hoạt động 60
Biểu đồ 4.3: Cơ cấu các nhóm hộ của xã và thôn qua 2 năm 72
Biểu đồ 4.4: Cơ cấu các loại nguồn nước ăn của những hộ dân thôn Hạ qua 2 năm 73
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Quy trình lựa chọn điểm xây dựng mô hình nông thôn mới 8
Hình 2.2: Tam giác phối hợp 3 nguồn lực trong phát triển thôn ấp mới 10
Hình 4.1: Mối quan hệ giữa BPTT với các đơn vị tổ chức 55
Hình 4.2: Vai trò của người dân tham gia xây dựng và phát triển thôn 79
DANH MỤC HỘP Hộp 4.1: Cũng nhờ có hoạt động hỗ trợ giống lạc mới… 68
Hộp 4.2: Niềm vui hân hoan! 71
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BPTT : Ban phát triển thôn
Viện QH & TKNN : Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp SVĐ : Sân vận động
Trang 9PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta ở trong tình trạng
sa sút, bên bờ của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội trên quy mô lớn Lúc đó,nền kinh tế mất cân đối một cách trầm trọng: thu không đủ chi, xuất không đủnhập, sản xuất không đủ tiêu dùng; chiến tranh biên giới, bao vây cấm vậncàng làm cho tình hình đất nước trở nên phức tạp
Tình hình đó đã đặt ra một yêu cầu đối với chúng ta là cần tìm hướngđổi mới Vì vậy, từ đại hội VI của Đảng (1986), chính sách nông nghiệp vàphát triển nông thôn của Chính phủ đã có những thay đổi căn bản Tuy nhiên,nhìn chung các chính sách này chưa thật sự hiệu quả, thiếu tính bền vững,chưa đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
Để khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết củaĐảng về nông thôn đi vào cuộc sống, việc cần làm trong giai đoạn này là tìm
ra các mô hình phát triển nông thôn phù hợp với bối cảnh của nông thôn ViệtNam Kinh nghiệm của các nước đã chỉ ra rằng, các cộng đồng nông thôn chỉ
có thể phát triển có hiệu quả và bền vững nếu như mô hình phát triển nôngthôn được xây dựng trên cơ sở huy động nguồn nội lực của bản thân cộngđồng nông thôn cũng như nhắm đến việc lấy phát triển con người, tổ chứccộng đồng làm trọng tâm
Vì vậy, từ năm 2001 đến năm 2006 cả nước đã triển khai Đề án thíđiểm "Xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã theo hướng CNH, HĐH, hợptác hóa, dân chủ hóa" do Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn chỉ đạo ở trên 200 làng điểm ở các địa phương Trong đó môhình nông thôn mới ở Thôn Hạ-Đôn Nhân-Lập Thạch-Vĩnh Phúc là một trongnhững mô hình “Điểm sáng” đáng để cả nước học tập và noi theo
Trang 10Sau một năm thực hiện, đời sống của người dân Thôn Hạ-Đôn Lập Thạch-Vĩnh Phúc đã được cải thiện, nâng cao Mọi người đều đượchưởng thụ các dịch vụ phúc lợi như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục; cơ sở hạtầng nông thôn đã được hoàn thiện “Nền tảng tinh thần của đời sống xã hội”
Nhân-ở thôn đã ngày càng được thanh lọc và phát huy, nâng cao lên một bình diệnmới về truyền thống cộng đồng và tinh thần tự quản của thôn, tạo nên một sứcnăng động xã hội mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thôn nói riêng cũngnhư của toàn xã nói chung
Tuy nhiên, đây là mô hình thí điểm nên việc xây dựng nông thôn theophương pháp tiếp cận mới vẫn còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Hầu hếtcán bộ tham gia chương trình đều là kiêm nhiệm nên thời gian họ dành chochương trình còn nhiền hạn chế Thôn vẫn chưa quan tâm đúng mức đến pháttriển sản xuất, chưa đầu tư thỏa đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệpnông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hóa – xã hội Đội ngũ cán bộ chủ chốttại thôn tuy đã được tập huấn, đào tạo nhưng do nhiều nguyên nhân nên việctiếp cận với phương thức quản lý, giám sát, nghiệm thu… vẫn còn nhiều khókhăn Mặt khác, trong thôn vẫn còn một số rất ít các hộ chưa thực sự cho rằng
họ đóng vai trò chính và quan trọng, quyết định sự thành bại của mô hình pháttriển nông thôn mới Chính những hạn chế này đã và đang tạo ra những lựccản trong xây dựng nông thôn mới ở thôn Hạ nói riêng cũng như ở những môhình nông thôn mới trong cả nước nói chung
Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực tại Thôn
Hạ, xã Đôn Nhân, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh phúc”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực ở Thôn Hạ
- Đôn Nhân - Lập Thạch - Vĩnh phúc, trên cơ sở đó đề xuất một số bài họckinh nghiệm và những biện pháp chủ yếu cho việc xây dựng mô hình nôngthôn mới dựa vào nội lực trong cả nước
Trang 111.3 Đối tượng, địa bàn, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng môhình nông thôn mới dựa vào nội lực cộng đồng
Trang 12PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về nông thôn
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn,
có rất nhiều định nghĩa khác nhau
Khi định nghĩa về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với đôthị Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, sốlượng dân cư: ở nông thôn thấp hơn so với thành thị Có ý kiến dùng chỉ tiêutrình độ cơ cấu hạ tầng để phân biệt nông thôn với đô thị
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thịtrường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn (nông thôn thấp hơn)
Lại có quan điểm cho rằng, vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đâylàm nông nghiệp là chủ yếu
Khái niệm về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, thay đổi theothời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thếgiới Khái niệm nông thôn bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới
Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nôngthôn, mỗi một dự án khác nhau Nhìn chung: mô hình nông thôn mới là môhình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá, dân chủ hoá và văn minh hoá
Trang 13Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những bài học khoahọc-kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Namtrong cuộc sống văn hoá, tinh thần
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêucầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường;đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội;tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổbiến và vận dụng trên cả nước
Quan niệm: Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấutrúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầumới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn đượcxây dựng mới so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt
2.1.3 Điều kiện cần có để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới
Các điều kiện để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới khôngtác động riêng rẽ đến việc xây dựng mô hình mà nó tác động qua lại lẫn nhau,tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh Để một xã, một thôn… có thể trở thành một
mô hình xây dựng nông thôn mới thì cần phải có ba điều kiện cơ bản sau đây:
+ Sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản hàng đầu trong xây dựng nôngthôn mới
Để nền nông nghiệp nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, tự cung tựcấp không còn cách nào khác là chúng ta phải đi vào sản xuất hàng hoá gắnvới thị trường Như vậy sản xuất hàng hoá trở thành một điều kiện tiên quyết
để phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới
+ Có những công trình hạ tầng cơ bản đang phát huy hiệu quả sản xuất
và đời sống
Mỗi thời kỳ phát triển nông thôn đều được bắt đầu và đánh dấu bởi một
bộ mặt mới của kết cấu hạ tầng tại một địa phương nói riêng hay một vùngđất nước nói chung
Trang 14Các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng là nền tảng để phát triển sản xuất,đặc biệt là sản xuất hàng hoá Những công trình như: đường giao thông, hệthống điện, hệ thống viễn thông, các công trình thuỷ lợi luôn gắn với sản xuất vàtạo điều kiện để sản xuất phát triển nên những công trình đó sẽ được phát triểnmột cách bền vững Vì vậy, vai trò ý kiến cộng đồng để xác định xem nhữngcông trình sẽ đầu tư, thậm chí địa điểm sẽ đầu tư là vô cùng quan trọng nếukhông nói là có tính quyết định để chúng tồn tại và phát huy hiệu quả kinh tế.
+ Quy hoạch phát triển nông thôn với các định hướng phù hợp cho xâydựng nông thôn mới
Một trong những vấn đề cần quan tâm về phong trào phát triển nôngthôn của chúng ta trong giai đoạn đổi mới vừa qua là mang tính tự phát còncao, còn mang nặng yếu tố kinh nghiệm, truyền thống Điều đó đã dẫn đến
bộ mặt nông thôn nhiều nơi có dáng dấp thành thị nhưng hầu như đều rấtlộn xộn, không đáp ứng nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hoá Hệthống thu gom, xử lý rác chưa được xây dựng nên tình trạng vứt rác bừabãi trở thành hình ảnh quen thuộc của người dân nông thôn Tình trạngchăn nuôi nhỏ lẻ cũng là nguyên nhân tạo nên ô nhiễm ở các khu dân cưtrên địa bàn nông thôn
Như vậy, một trong những nội dung cấp bách của xây dựng mô hìnhnông thôn mới là quy hoạch và thực hiện theo quy hoạch
2.1.4 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Cấp tỉnh
UBND tỉnh xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, căn cứ vào:
- Tỉnh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm dưới 10%
- Tỉnh công – nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 11-30%
- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm >30%
Ngoài các tiêu chí xác định trên, để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới tỉnhphải có 70-80% số huyện đạt tiêu chí về nông thôn mới
Trang 152.1.4.2 Cấp huyện
UBND huyện tổng hợp tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu đạt nông thôn mớicủa các xã, thông qua HĐND huyện và UBND tỉnh phê duyệt Tiêu chí huyệnnông thôn mới phụ thuộc vào: huyện Trung du và miền núi, huyện đồng bằnghay huyện ven biển, hải đảo
Ngoài các tiêu chí đã xác định, để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, phải
có 70-80% số xã đạt tiêu chí về nông thôn mới
2.1.4.3 Cấp xã
UBND xã hướng dẫn người dân lựa chọn tiêu chí, chỉ tiêu phấn đấucho từng giai đoạn, thông qua HĐND xã báo cáo gửi UBND huyện Xã nôngthôn mới phụ thuộc vào: xã ven đô, xã đồng bằng, xã miền núi hay xã venbiển và hải đảo
Xã nông thôn mới là xã có 90% số thôn, bản đạt thôn, bản nông thôn mới
2.1.4.4 Cấp thôn, bản
Thôn, bản đạt thôn, bản nông thôn mới khi đạt 80-90% các chỉ tiêu đề
ra do nhân dân tự xác định và xã kiểm tra theo từng giai đoạn cụ thể
Các điểm tham gia làm thử nghiệm mô hình được lựa chọn theo 2 cáchchính: Các địa phương đề xuất, đăng ký tham gia chương trình thử nghiệm(Trà Vinh, Sóc Trăng) hoặc do Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (Viện
QH & TKNN) đề nghị tỉnh tham gia (Phú Thọ, Vĩnh Phúc)
Một số tiêu chí được xem xét trong quá trình lựa chọn điểm làm môhình là:
- Thôn, bản thực hiện thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trướctiên phải là thôn, bản không thuộc các xã, thôn bản trong phạm vi chươngtrình 135 giai đoạn II
- Có trình độ phát triển kinh tế, xã hội ở mức trung bình so với vùng
- Các tổ chức xã hội; đội ngũ cán bộ trong thôn, bản hoạt động tích cực,sâu sát với đời sống của người dân
Trang 16- Có số hộ trong thôn vào mức trung bình, không quá nhiều hoặc khôngquá ít (khoảng 100-200 hộ).
- Trong vòng bán kính 10 km từ trung tâm huyện để thuận lợi cho việctheo dõi chỉ đạo cũng như làm điểm tham quan cho các địa phương khác
- Thôn được lựa chọn tham gia cam kết các nghĩa vụ cũng như đượchưởng lợi từ việc thực hiện mô hình
- Thôn không mang tính đặc thù, cá biệt như: xa quá, quá khó khăn,hay quá phát triển và quá nhạy cảm
Quy trình lựa chọn điểm xây dựng mô hình nông thôn mới được thểhiện rõ qua hình sau:
Hình 2.1: Quy trình lựa chọn điểm xây dựng mô hình nông thôn mới
Nguồn: Viện QH & TKNN
Việc lựa chọn điểm có vai trò quan trọng trong việc xây dựng mô hình.Các địa phương đề xuất lựa chọn điểm hoặc là các điểm tiên tiến hoặc là cácđiểm nghèo để khi có đầu tư vào thì các điểm đó hoặc là trở thành điểm chóisáng cho các nơi đến học tập, hoặc là sẽ thoát khỏi điều kiện nghèo nàn về cơ
Tỉnh đề nghị làm điểm mô hình Viện QH & TKNN chọn tỉnh làm
điểm mô hình
Viện QH & TKNN giới thiệu về
mô hình cho địa phương
Tỉnh giới thiệu điểm tham gia
làm mô hình
Viện QH & TKNN giới thiệu về mô
hình cho địa phương
Viện QH & TKNN cùng tỉnh kiểm tra thực địa, thống nhất điểm lựa chọn
Tỉnh giới thiệu điểm tham gia làm
mô hình
Trang 17sở hạ tầng Do vậy, vấn đề quan trọng nhất trong việc lựa chọn điểm ở tất cảcác trường hợp là việc giới thiệu, giải thích nguyên tắc và nội dung mới gắnvới mô hình nông thôn mới
Đến nay, Bộ nông nghiệp & PTNT đã thống nhất cần phải xây dựngnhững tiêu chí nông thôn mới nhưng đó chỉ là những tiêu chí “động” bởi hệthống các chỉ tiêu, tiêu chí rất đa dạng và phức tạp, để xác định được chúngchính xác là rất khó khăn và mang tính chất của bệnh thành tích Vì vậy,phương pháp chẩn đoán và lập kế hoạch phát triển cộng đồng, quy hoạchcộng đồng là hết sức cần thiết bởi người dân được tham gia ý kiến của mình,không bị áp đặt từ trên xuống
2.1.5 Cấp xã là đơn vị cơ sở của mô hình nông thôn mới
Có nhiều ý kiến cho rằng, quy mô cấp xã là khá lớn nên không thểhoàn thiện hết các hạng mục công trình thiết yếu trong điều kiện nền kinh
tế còn khó khăn
Xây dựng nông thôn mới có thể tiến hành ở cấp thôn trong xã Nhưng
về mặt quản lý thì cấp xã phải là người đại diện cho cộng đồng dân cư tiếnhành tất cả các khâu trong chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới
Tuy nhiên, về mặt quy mô, xây dựng các công trình cấp thôn sẽ đơngiản và dễ thực hiện hơn cấp xã Bởi lẽ, diện tích thôn nhỏ, số lượng cáccông trình sẽ ít Điều đáng nói ở đây là, những công trình cấp thôn thườngmang tính cục bộ hẹp nên nếu tách riêng mỗi thôn sẽ không đáp ứng đượcyêu cầu phát triển chung Việc xây dựng đường làng ngõ xóm được thựchiện ở cấp thôn nhưng việc xây dựng các tuyến đường liên thôn lại khôngđược các thôn cùng nhau xây dựng
Như vậy, tuỳ theo cách tiếp cận, nếu xem việc xây dựng nông thônmới là của cộng đồng thì cấp thôn phải là đơn vị thực hiện, cấp xã có vaitrò là người điều phối Còn nếu, Nhà nước hỗ trợ là chính thì có thể cấp xã
là đơn vị thực hiện
Trang 182.1.6 Các nhân tố chính tham gia vào mô hình nông thôn mới
Các nhân tố tham gia vào mô hình nông thôn mới cũng như những môhình nông thôn trước kia Tuy nhiên tầm quan trọng của những nhân tố nàytrong mô hình nông thôn mới có sự thay đổi đáng kể
Trong mô hình nông thôn mới, động lực của cộng đồng thôn ấp đóngvai trò quan trọng bậc nhất Người dân đóng góp công sức và tiền của, họ tựđưa ra những suy nghĩ mang tính sáng tạo, năng động và tự chủ hơn trongmọi công việc
Nhà nước có vai trò xây dựng khung pháp lý, hoạch định các chínhsách hỗ trợ cho nông thôn Hỗ trợ về cả phương pháp phát triển nông thôn vàchuyển giao khoa học kỹ thuật tiên tiến, cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời,giúp đỡ cộng đồng cư dân nông thôn, khơi dậy tính tự chủ của người dân Cấp
xã đóng vai trò là cầu nối giữa các hỗ trợ từ trên xuống và các nhu cầu, mongmuốn từ các cộng đồng thực hiện lên
Sự hỗ trợ từ bên ngoài chỉ mang tính định hướng, tư vấn cho người dânchứ không phải là người ra quyết định
Sự tương tác qua lại của những nhân tố này đã tạo nên một tam giácphối kết hợp 3 nguồn lực trong phát triển thôn ấp mới Mọi tác động của Nhànước, chính quyền địa phương ở mối liên kết này đều phải tác động đến ngườidân mới thể hiện hiệu quả Sự ủng hỗ trợ từ bên ngoài của các nhà tư vấn cóvai trò là cầu nối trong mối liên kết này Người dân là nhân tố bên trong quyếtđịnh nhưng sự hỗ trợ bên ngoài là tác nhân bên ngoài rất quan trọng
Hình 2.2: Tam giác phối hợp 3 nguồn lực trong phát triển thôn ấp mới
Ủng hộ của Nhà nước và
chính quyền địa phương Sự thúc đẩy và hỗ trợ (có thể có) từ bên ngoài
Động lực của cộng đồng
thôn, ấp
Trang 192.1.7 Đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới
Mô hình nông thôn mới mang những đặc điểm đặc trưng sau:
+ Được xây dựng trên cơ sở cộng đồng theo đơn vị địa lý cấp thôn.+ Vai trò của người dân được nâng cao, người dân và cộng đồng địaphương tự tin làm chủ quá trình phát triển của chính họ, thay vì cán bộchính quyền, cán bộ chuyên môn từ ngoài cộng đồng vào chỉ đạo nhưthông thường
+ Đổi mới việc lập kế hoạch, thay vì việc phát triển tự phát, cộng đồngđịa phương với sự tham gia đầy đủ của các thành viên cộng đồng sẽ chủ độngxây dựng kế hoạch phát triển dài hạn, có động lực để kiên quyết thực hiện kếhoạch và đạt được mục tiêu đề ra
+ Việc thực hiện các kế hoạch phát triển được dựa trên nền tảng huyđộng các nguồn lực của bản thân cộng đồng, thay vì việc dựa vào hỗ trợ từbên ngoài là chính như thông thường
+ Tổ chức cộng đồng mạnh, hoạt động có hiệu quả
+ Nguồn hỗ trợ từ bên ngoài được phân cấp hoàn toàn cho cộng đồngđịa phương quản lý và sử dụng có hiệu quả
Những đặc điểm này đã tạo nên nét riêng biệt chưa có ở những mô hìnhnông thôn trước đây Nhờ đó đã tạo nên những “nông thôn mới” mang dáng
vẻ của nơi phồn hoa đô thị
2.1.8 Nội dung xây dựng mô hình
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, nănglực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân, về địa lý, điều kiện tựnhiên,… hướng dẫn để người dân bàn bạc đề xuất các nhu cầu và nội dunghoạt động của dự án Xét trên khía cạnh tổng thể, những nội dung sau đây cầnđược xem xét trong xây dựng mô hình nông thôn mới:
Trang 202.1.8.1 Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng
Nội dung thực hiện:
- Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triểnkhai thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn thôn
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp vềphát triển nông thôn bền vững
- Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông thôn để giúp nhau ứngdụng TBKT vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao độngnông nghiệp
2.1.8.2 Tăng cường và nâng cao điều kiện sống cho người dân
Nội dung thực hiện:
- Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn, với phương châm:
Giữ gìn tính truyền thống, bản sắc của thôn Đồng thời đảm bảo tínhvăn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường bền vững
- Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư:
Ưu tiên những nhu cầu cấp thiết nhất của cộng đồng dân cư để triển khaithực hiện xây dựng: Đường làng, nhà văn hoá, hệ thống tiêu thoát nước…
- Cải thiện nhà ở cho các hộ nông dân: Tăng cường thực hiện xoá nhàtạm, nhà tranh tre nứa, hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồngtrại chăn nuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi …
2.1.8.3 Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ để nâng cao thu nhập
Nội dung thực hiện:
Căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấukinh tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
- Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vậtnuôi là lợi thế, có khối lượng hàng hoá lớn và có thị trường, đồng thời đa
Trang 21dạng hoá sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồnnước và nhân lực tại địa phương.
- Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: cung ứng vật tư,hàng hoá, nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kỹ thuậtchuyển giao tiến bộ, tín dụng…
- Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấucây trồng, vật nuôi hợp lý
- Củng cố, tăng cường quan hệ sản xuất Tư vấn hỗ trợ việc hình thành
và hoạt động của các tổ chức: Tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyếnngư… Tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm
2.1.8.4 Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp
Nội dung thực hiện:
- Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp:
Để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành "cấy nghề" chonhững địa phương còn "trắng" nghề
- Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghềcho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lýmôi trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững
2.1.8.5 Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
Nội dung thực hiện:
- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng, chuyển đổiruộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại vớinhiều loại hình thích hợp
- Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,làng nghề, chế biến sau thu hoạch, giao thông, thuỷ lợi nội đồng
2.1.8.6 Xây dựng nông thôn gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn
Trang 22Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấpnước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã trở nênđáng báo động Đã đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện pháp quản
lý môi trường địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải (hầmbiogas,…), tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân,xây dựng hệ thống quản lý môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ
2.1.8.7 Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở nông thôn
Thông qua các hoạt động ở nhà văn hoá làng, những giá trị mang đậm nétquê đã được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những phong trào đặc sắc manghồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc-chân chất-thắm đượm tình quê hương
Xã hội hoá các hoạt động văn hoá ở nông thôn, trước hết xuất phát từxây dựng làng văn hoá, nhà văn hoá làng và các hoạt động trong nhà văn hoálàng Phong trào này phải được phát triển trên diện rộng và chiều sâu
Căn cứ vào từng điều kiện cụ thể mà vai trò của từng nội dung đối vớimỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên những nội dung trên cần được songsong thực hiện, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ, toàn diện trong một
mô hình nông thôn mới
2.1.9 Phát triển nông thôn dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ
Nội lực là tất cả nguồn lực có trong cộng đồng, nó bao gồm cả nguồnlực về con người cũng như nguồn lực tự nhiên; gồm cả tài sản có sẵn và tiềm
ẩn của chính cư dân trong cộng đồng đó Trong đó, yếu tố con người là yếu tốquan trọng, mang tính quyết định đến những yếu tố còn lại
Một báo cáo của Tổ chức Care International VN (2003) về sự tham giacủa người dân vào sự phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên có nhận xét: “Bất cứ nơi nào thực hiện nghiêm túc quản lýnguồn lực phát triển dựa trên cộng đồng tự tổ chức đều quản lý nguồn lựchiệu quả hơn, năng suất hơn, đỡ phụ thuộc các ngoại lực, cải thiện được công
Trang 23bằng, tăng cường sáng kiến và trách nhiệm giải trình của địa phương, và tăngcường kỷ luật kinh tế”.
Phát triển nông thôn dựa vào nội lực của cộng đồng và do cộng đồnglàm chủ được thực hiện theo những định hướng sau:
2.1.9.1 Người dân làm chủ quá trình phát triển cộng đồng thôn
Trong xây dựng nông thôn mới, người nông dân mới thực sự là chủthể Sự nỗ lực của người dân tại cộng đồng thôn ấp là nhân tố bên trongmang tính quyết định
Người dân của thôn cần đổi mới tư duy từ nhận thức và cách nghĩ rằngcác ý tưởng, các hoạt động khởi xướng và bắt đầu từ bên ngoài, do ngườingoài làm hộ, làm thay sang nhận thức và cách nghĩ chủ động, tự chủ hơnrằng mọi hoạt động cụ thể ở địa phương do chính người dân của thôn tự đềxuất và thiết kế trên cơ sở bàn bạc dân chủ, công khai thông qua cộng đồngquyết định Chính quyền các cấp chỉ đóng vai trò hướng dẫn kỹ thuật; tổnghợp các đề xuất, kiến nghị, phê duyệt kế hoạch phát triển và tạo điều kiệnthuận lợi cho người dân thực hiện
2.1.9.2 Cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ
Cách tiếp cận dựa vào nhu cầu sẽ làm cho mọi người nghĩ rằng họ khôngthể xây dựng cuộc sống của chính họ, của cộng đồng mà không có sự hỗ trợ từbên ngoài Vì vậy, sự tham gia của họ không được hăng hái, nhiệt tình
Cách tiếp cận phát triển dựa vào nội lực sẽ khuyến khích nông dântham gia vào đầy đủ vào mọi hoạt động do thôn, ấp tổ chức Nó tạo nên sự tựtin cho người dân, nâng cao được tính năng động, sáng tạo; những nhân tốtiềm ẩn trong chính mỗi người dân
Sự tiếp cận mô hình nông thôn mới dựa vào cộng đồng, phải được bắtnguồn từ chính khả năng của cộng đồng, của người dân trong cộng đồng, vàbằng cách huy động các nguồn lực của cộng đồng để giải quyết vấn đề theo thứ
Trang 24tự ưu tiên do chính cộng đồng đưa ra Như vậy, phát triển dựa vào nội lực chophép mỗi cộng đồng được tự định hướng quá trình phát triển của bản thân nó.
2.1.9.3 Sự tham gia của người dân và cộng đồng
Điểm lại quá khứ, trong nhiều năm sự tham gia của người dân luôn làcách tiếp cận theo kiểu từ trên xuống; do vậy “tham gia” trên thực tế là “vậnđộng ủng hộ nhà nước” Ngày nay, Đảng và Nhà nước luôn chủ trương pháthuy quyền làm chủ của người dân trên mọi mặt của cuộc sống với khẩu hiệu
"Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra"
Có rất nhiều cách diễn đạt về “sự tham gia” trong hoạt động phát triển.Cohen và Uphoff cho rằng “trong phát triển nông thôn… thì sự thamgia bao gồm việc liên quan đến các quá trình ra quyết định, đến thực hiệnchương trình, đến chia sẻ lợi nhuận của chương trình phát triển, và hoặc sựliên quan của họ trong các cố gắng đánh giá các chương trình như vậy”
Ngân hàng thế giới lại cho rằng “sự tham gia là một quá trình qua đócác bên liên quan tác động và chia sẻ việc kiểm soát các hoạt động phát triển,các quyết định và nguồn lực ảnh hưởng đến họ”
Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng thôn ấp mới được chialàm 5 cấp độ sau:
- Tham gia thụ động: Người dân thụ động tham gia vào các hoạt độngphát triển của thôn, ấp; theo nguyên tắc chỉ đạo từ trên xuống mà không thamgia vào quá trình ra quyết định
- Tham gia vào việc cung cấp thông tin: Thông qua việc trả lời các câuhỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Người dân không tham dự vào quá trìnhphân tích và sử dụng thông tin
- Tham gia bởi nghĩa vụ hay bị bắt buộc: Người dân cho rằng đây lànghĩa vụ họ bắt buộc phải đóng góp Các hoạt động thường do các tổ chứcquần chúng, cán bộ dự án khởi xướng, định hướng và hướng dẫn
Trang 25- Tham gia bởi định hướng từ bên ngoài: Người dân tự nguyện tham giavào các tổ, nhóm do dự án hoặc các chương trình khởi xướng Bên ngoài hỗtrợ và người dân tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định.
- Tự nguyện: Người dân tự khởi xướng về việc xác định, lập kế hoạch,thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển không có sự định hướng từbên ngoài
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới
Để nông nghiệp và nông thôn nước ta phát triển mạnh mẽ trong một bốicảnh cảnh khu vực và thế giới, kinh tế phát triển như vũ bão thì việc tham khảohọc tập kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của các nước trên thếgiới có ít nhiều thành công và thất bại nhưng đó cũng là vấn đề rất cần thiết
2.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Bài học của Hàn Quốc về phát triển nông thôn đáng để nhiều nướcquan tâm và suy ngẫm Cùng với nhiều biện pháp quan trọng khác, Hàn Quốc
đã đặt mục tiêu là làm thay đổi suy nghĩ thụ động và tư tưởng ỷ lại của phầnlớn người dân nông thôn Từ đó sẽ làm cho nông dân có niềm tin và tích cựcvới sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, độc lập và có tínhcộng đồng cao Trọng tâm của cuộc vận động phát triển nông thôn này làphong trào xây dựng "làng mới" (Saemoul Undong)
Ý tưởng xây dựng mô hình này xuất phát từ 2 lợi thế của kinh tế lúc đólà: giá lao động nông nghiệp và giá đất nông nghiệp rất rẻ; giá vật tư xâydựng như sắt thép, xi măng cũng rất rẻ và sản xuất thừa
Trong chương trình làng Mới, một hệ thống tổ chức phát triển nôngthôn được thành lập chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở Mỗi làng bầu ra "Uỷban Phát triển Làng mới" gồm từ 5 đến 10 người để vạch kế hoạch và tiếnhành dự án phát triển nông thôn
Trang 26Phong trào làng mới đã đề cao nguyên tắc cơ bản là: Nhà nước hỗ trợvật tư, nhân dân đóng góp công của Nhân dân quyết định loại công trình nào
ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm quyết định toàn bộ thiết kế, chỉ đạo thicông, nghiệm thu công trình Nhà nước bỏ ra 1 (chủ yếu là vật tư, xi măng )thì nhân dân bỏ ra 5-10 (công sức và tiền của) Sự giúp đỡ của Nhà nướctrong những năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các năm sau, tỷ lệ hỗ trợ củaNhà nước giảm trong khi quy mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần.Nội dung thực hiện và bước đi của chương trình diễn ra như sau:
Thứ nhất là, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn
Bao gồm: Cải thiện cơ sở hạ tầng cho từng hộ dân như: ngói hoá nhà ở,lắp điện thoại, nâng cấp hàng rào quanh nhà và kết cấu hạ tầng phục vụ sảnxuất, đời sống của nông dân
Thứ hai là, thực hiện các dự án nhằm tăng thu nhập cho nông dân như
tăng năng suất cây trồng, xây dựng vùng chuyên canh, thúc đẩy hợp tác trongsản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi, trồng rừng, đa canh
Chỉ trong vòng vài tháng, 12 loại dự án mở rộng đường nông thôn, thaymái lá cho nhà ở, lắp đặt cống và máy bơm, xây dựng các trạm giặt công cộngcho làng và sân chơi cho trẻ em đã bắt đầu được tiến hành Sau 8 năm, đến năm
1978, toàn bộ nhà nông thôn đã được ngói hoá (năm 1970, 80% nhà ở nông thônlợp lá), hệ thống giao thông nông thôn đã được xây dựng hoàn chỉnh Sau 20năm, đã có đến 84% rừng được trồng trong thời gian phát động phong trào làngmới Sau 6 năm thực hiện, thu nhập trung bình của nông hộ tăng lên 3 lần từ
1025 USD năm 1972 lên 2061 USD năm 1977 và thu nhập bình quân của các hộnông thôn trở nên cao tương đương thu nhập bình quân của các hộ thành phố.Đây là một điều khó có thể thực hiện được ở bất cứ một nước nào trên thế giới
2.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng pháttriển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế
Trang 27được của các công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thứcquản lý để phát triển mô hình "công nghiệp hưng trấn" Các lĩnh vực như chếbiến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuấtnông nghiệp… đang ngày càng được đẩy mạnh.
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện phápthích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ,nông dân xây dựng Với mục tiêu "ly nông bất ly hương", Trung Quốc đã thựchiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn:
- Chương trình đốm lửa:
Điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho hàng triệu nôngdân các tư tưởng, tiến bộ khoa học; bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tốchất nông dân Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được 60triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo ramột động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển, theo kịp với thành thị
- Chương trình được mùa:
Chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp dụng khoa học tiêntiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp, nông thôn.Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so vớinhững năm đầu 70 Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sảnchuyên dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo:
Mục tiêu là nâng cao mức sống của các vùng nghèo, vùng miền núi,dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập trithức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán cho nôngthôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân Sau khithực hiện chương trình, ở những vùng này, số dân nghèo đã giảm từ 1,6 triệungười xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5%
Trang 28Tại hội nghị toàn thể Trung Ương lần thứ 5 khoá XVI của Đảng CộngSản Trung Quốc, năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch "Xâydựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa" Đây là kế hoạch xây dựng mới đãđược Trung Quốc đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm lần thứ
XI (2006-2010) Mục tiêu của quy hoạch là: "sản xuất phát triển, cuộc sống
dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch sẽ, quản lý dân chủ" Xây dựng nôngthôn mới ở Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng về một "nôngthôn Trung Quốc" đầy vẻ đẹp tráng lệ
2.2.1.3 Phát triển nông thôn ở Đài Loan
Cơ quan Hợp tác Tái thiết Nông thôn, là cơ quan đầu não của chính phủlập kế hoạch phát triển và điều hành đầu tư cho nông thôn Hiệp hội nông dân
có nhiệm vụ chuyển thông tin về nhu cầu phát triển nông thôn lên TrungƯơng và hướng dẫn Nhà nước đưa vật tư nông nghiệp, tín dụng và cácphương tiện tiếp thị về nông thôn đúng chỗ, đúng lúc
Một vấn đề cải thiện kinh tế nông nghiệp đã được Chính phủ thực hiện
là "Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc", "Tăng thu nhập của nông trại
và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn", "Chương trình cải cáchruộng đất giai đoạn 2" Từ các chương trình này nhiều đầu tư đã được đưa vào
cơ sở hạ tầng nông thôn và được cụ thể hoá bằng 10 nội dụng cụ thể:
- Cải cách ruộng đất
- Quy hoạch và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường nghiên cứu nông nghiệp và đổi mới kỹ thuật
- Chuyển giao công nghệ mới
- Tập huấn các nông dân hạt nhân
- Cung cấp các đầu vào hiện đại
- Tín dụng nông nghiệp
Trang 29- Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp tương ứng với sự thay đổi laođộng và đầu tư.
- Dịch chuyển cơ cấu thị trường
- Cải thiện phúc lợi xã hội cho nông dân
Trang 302.2.2 Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1 Lịch sử phát triển các mô hình tổ chức sản xuất ở Việt Nam
- Từ năm 1954-1959, ruộng đất được giao cho người dân với mục tiêu
"người cày có ruộng" Giai đoạn này quan hệ sản xuất chuyển từ địa chủphong kiến sang quan hệ sản xuất mới: nông dân làm chủ ruộng đất và sảnxuất độc lập trên ruộng đất của mình
- Từ 1960-1985: chia làm 2 giai đoạn nhỏ: Mô hình tổ chức sản xuấtdưới dạng hợp tác xã nông nghiệp
Từ 1960-1975: mô hình hợp tác hoá nông nghiệp được triển khai trêntoàn miền Bắc Trong thời kỳ này Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho nôngthôn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu để phát triển HTX: phát triển các côngtrình kỹ thuật (nhà kho, sân phơi, các trại giống…) đẩy mạnh việc chuyểngiao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi… đã có những tác động tíchcực đến sản xuất nông nghiệp
Từ 1976-1980: mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp được triển khaitrên phạm vi cả nước Trong đó vai trò của cấp huyện được coi trọng, là cấpquản lý kinh tế chủ yếu đối với việc thực hiện các chiến lược phát triển nôngnghiệp và nông thôn Hình ảnh của người nông dân lúc này là hình ảnh củangười xã viên HTX
Mô hình khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (1981-1985):Chỉ thị 100 CT-TW (13/1/1981) về "khoán sản phẩm đến nhóm vàngười lao động", cho phép người lao động được HTX giao đất và thu mộtphần sản phẩm theo một mức "khoán" nhất định
Chỉ thị chỉ nói đến việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao độngchứ chưa nhắc đến khoán hộ; gia đình mới chỉ được làm 3 khâu là cấy, chămsóc và thu hoạch còn tập thể đảm nhiệm 5 khâu trong quá trình sản xuất câylúa Chỉ thị đã tạo ra một không khí mới trong nông thôn: nông dân đã phấn
Trang 31khởi sản xuất, năng suất tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, người dân vẫn còn nhiềubăn khoăn, không chịu bó buộc ở “5 khâu” do tập thể đảm nhiệm.
Giai đoạn này, mục tiêu sản xuất vẫn bị áp đặt bởi kế hoạch từ trênxuống, nông dân vẫn chưa có quyền làm chủ thực sự
- Từ 1986-1991: cơ chế khoán cho nhóm và người lao động:
Nghị quyết 10 (Bộ chính trị ngày 05/08/1988) trong nông nghiệp đãkhắc phục được những tồn tại của chỉ thị 100
Nét đổi mới của Nghị quyết 10 so với chỉ thị 100 là “một chủ, bốn tự”
“Một chủ” là xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ Đó chính là sự độtphá rất quan trọng của Nghị quyết 10
“Bốn tự”, nghĩa là hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sảnxuất kinh doanh; tự xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hìnhthức phân phối, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm để xã viên tự vào ra hợp tác xã
Điều đáng nói ở đây là: Đảm bảo tự xác định hình thức, quy mô sảnxuất có nghĩa là xóa bỏ việc chỉ đạo nhất loạt lên hợp tác xã cấp cao, lên quy
mô xã to Đảm bảo tự xác định hình thức quản lý nghĩa là không nhất thiết
“năm khâu, ba khâu” như Chỉ thị 100 mà khoán theo mức, đơn giá, gia đìnhlàm được khâu nào thì cứ tính theo đơn giá mà hưởng Trong vấn đề tiêu thụsản phẩm, tư tưởng chính sách “thuận mua vừa bán” trong nghị quyết là xóacách bắt buộc bán theo nghĩa vụ đang thực hiện Chính sách này chỉ có thểthực hiện được khi đổi mới đồng bộ khâu lưu thông, phân phối mà trong Chỉthị 100 đã chưa đề cập đến
- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao đất cho nông hộ:
Từ 1991 đến nay, đất đai được giao toàn quyền sử dụng cho các nông hộ,người nông dân được hoàn toàn chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao
Giai đoạn này, nông hộ là đơn vị sản xuất cơ bản Người nông dân đãchú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất và đóng góp nhiều chophát triển cơ sở hạ tầng, làm cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể
Trang 32Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịchmạnh theo hướng tích cực Đời sống của người dân nông thôn đã ngày càngnâng cao, đẩy mạnh tiến trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá.
2.2.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan
- Chương trình phát triển nông thôn miền núi MRDP
MRDP có gần 10 năm lập kế hoạch bằng phương pháp PRA (baogồm cả giai đoạn đầu với tên gọi là Chương trình hợp tác lâm nghiệp ViệtNam-Thuỵ Điển)
Từ năm 2000, cùng với sự tập trung ngày càng cao vào việc phân cấp
và dân chủ cơ sở, MRDP đã quyết định thử nghiệm việc trao quyền tráchnhiệm ra quyết định và quản lý các quỹ cho các cấp địa phương, gồm cả cấp
xã và cấp thôn, thông qua việc đưa vào sử dụng Quỹ phát triển xã và thôn
Cách tiếp cận như vậy được dựa trên cơ sở vùng địa lý và theo cấp quản
lý hơn là theo các hợp phần kỹ thuật Việc cung cấp thông tin công khai và thamgia của các cộng đồng địa phương được coi là các yếu tố quan trọng trong việcthực hiện các cách tiếp cận này Kết quả thực hiện cho thấy, những nơi, tiềnđược chuyển xuống cấp xã, do xã và thôn quản lý đã được sử dụng tốt hơn, tiếtkiệm hơn, được nhiều hơn và huy động được sự đóng góp của dân nhiều hơn
- Chương trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn ở các vùngmiền núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135)
Chương trình này bao gồm 5 dự án thành phần là: dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng; dự án xây dựng trung tâm cụm xã; dự án quy hoạch sắp xếp lại dâncư; dự án ổn định phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến tiêuthụ sản phẩm; dự án đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phun, sóc Trong đó, dự ánphát triển đường giao thông nông thôn là bộ phận quan trọng của dự án xâydựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135
Chương trình 135 bắt đầu từ năm 1999 và kết thúc giai đoạn 1 vào 2005.Đây là chương trình lớn, được thực hiện tại hơn 1000 xã, đã khuyến khích sự
Trang 33tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động phát triển thông quaviệc giao cho các xã làm chủ đầu tư các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng.
Chương trình nhằm cung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặcbiệt khó khăn thông qua việc hỗ trợ tài chính, trung bình 400 triệuđồng/xã/năm trong 5 năm, để làm đường, công trình thuỷ lợi, công trình nướcsạch, hệ thống điện, trường học, trạm xá và nhà chợ
- Chương trình phát triển nông thôn mới cấp xã
Thực hiện nghị quyết 06-NQ/TW của Bộ chính trị, từ năm 2001, Bankinh tế Trung ương đã cùng với Bộ Nông nghiệp và PTNT, ngành và địaphương triển khai xây dựng mô hình thí điểm “phát triển nông thôn theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” tại các vùngsinh thái Các chương trình này được đưa vào chương trình trọng tâm của Bộnông nghiệp và PTNT, đó là chương trình phát triển nông thôn cấp xã.Chương trình đã được triển khai tại 14 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và PTNT(tăng lên 18 xã năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương.Chương trình với 5 nội dung:
- Phát triển kinh tế hàng hoá với cơ chế phù hợp khai thác được lợi thếcủa địa phương, có thị trường tiêu thụ
- Phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hoá đápứng yêu cầu công nghiệp hoá
- Xây dựng khu dân cư văn minh
- Tăng cường công tác văn hoá, y tế, giáo dục trong nông thôn và xâydựng đội ngũ cán bộ
- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ
tổ chức quần chúng, thực hiện tập trung dân chủ
Sau 3 năm thực hiện, Chương trình đã đào tạo cho cán bộ các xã điểm,triển khai quy hoạch cho 18 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và PTNT, lồngghép các chương trình, dự án về khuyến nông, nước sạch, và vệ sinh môitrường cho những xã điểm này
Trang 34PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Xã Đôn Nhân nằm ở phía tây của huyện Lập Thạch Phía Bắc giáp xãNhân Đạo, phía Đông giáp xã Phương Khoang, phía Nam giáp huyện Phù Ninh-tỉnh Phú Thọ và được ngăn cách bởi dòng sông Lô, phía Tây giáp xã Hải Lưu
Thôn Hạ nằm ở phía Nam xã Đôn Nhân, cách trung tâm xã khoảng 2 km.Thôn Hạ nói riêng và xã Đôn Nhân nói chung do chỉ cách nhau qua dòngsông Lô nên có thể phát triển và bán các loại rau, nông sản đáp ứng nhu cầucủa thị trấn nhà máy giấy Nhà máy giấy cũng có thể tuyển dụng lao động từnguồn của xã Đôn Nhân
3.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Xã Đôn Nhân mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm cóhai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Khi nắng lắm sinh ra hạn hán, trong khimưa nhiều sẽ gây ra lũ lụt Độ ẩm cao, trung bình 70% Lượng mưa trungbình hàng năm là 200-250 mm, tập trung vào tháng 7 và tháng 8, gây ra lũ lụt
Nhìn chung, đặc điểm khí hậu thời tiết xã Đôn Nhân khắc nghiệt, chỉthích hợp cho việc trồng một số loại cây như: lúa, ngô, khoai, lạc
- Về nguồn nước:
Nguồn nước tưới cho đồng ruộng của xã Đôn Nhân chủ yếu được lấy từ
hệ thống kênh Lô Trong xã, trước kia vẫn còn nhiều thôn nằm ngoài đê nênmức nước của xã phụ thuộc vào sự lên xuống của nước sông Lô Hàng năm,vào những tháng mưa lũ, mực nước sông Lô lên cao, hầu hết diện tích đấtcanh tác bị ngập không sản xuất được
Thôn Hạ nằm gần sông Lô nhưng hệ thống trạm bơm nước từ sôngkhông có, hơn nữa mạng lưới thuỷ lợi nội đồng rất yếu kém, không kết nối
Trang 35được với hệ thống kênh mương đã được kiên cố hoá một số đoạn của xã.Toàn thôn chỉ có 6 km kênh nội đồng, chưa có mương cứng.
3.1.1.3 Đất đai
Đất của xã Đôn Nhân là đất bãi bồi ven sông nên hàm lượng mùn cao,thuận lợi cho việc phát triển cây rau màu Cơ cấu diện tích đất của xã đượcthể hiện rõ qua bảng 3.1
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 798,68 ha Trong đó:
Năm 2005, đất nông nghiệp: 404,81 ha, chiếm 50,68% tổng diện tích đất
tự nhiên Đất phi nông nghiệp: 329,34 ha, chiếm 41,24% tổng diện tích đất tựnhiên Đất chưa sử dụng: 64,53 ha, chiếm 8,08% tổng diện tích đất tự nhiên
So với năm 2005, năm 2006, đất nông nghiệp tăng 3,94% (đạt 420,74 ha),đất phi nông nghiệp tăng 1,22% (đạt 333,36 ha), đất chưa sử dụng giảmxuống còn 44,58 ha (tức giảm 30,92%)
Đến năm 2007, đất nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng, tăng 4,12 % so vớinăm 2006, đất phi nông nghiệp tăng 1,06%, đất chưa sử dụng tiếp tục giảm sovới năm 2006, giảm xuống còn 53,61%
Như vậy qua 3 năm đất nông nghiệp bình quân tăng 4%, đất phi nôngnghiệp tăng 1%, trong khi đó đất chưa sử dụng giảm 39% (đạt 61%) Điềunày chứng tỏ, đất tự nhiên của xã ngày càng được sử dụng hiệu quả, diện tíchđất đưa vào sử dụng ngày càng tăng
Trong diện tích đất nông nghiệp, người dân sử dụng chủ yếu để trồngcây hàng năm (cây lúa, lạc, ngô…) Tuy nhiên, do năm 2006 một số thôn đã
bị cát sông lấn vào đất sản xuất nên diện tích gieo trồng lúa ở thôn đó giảmxuống, làm cả xã bình quân giảm 1% diện tích trồng lúa qua 3 năm
Năm 2006, số hộ dân tăng lên so với năm 2005, nhưng đến năm 2007
số hộ dân lại giảm xuống nên bình quân đất NN/hộ năm 2006 giảm so vớinăm 2005 là 1,12%, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 7,37% Tính bìnhquân qua 3 năm đất NN/hộ tăng 3%, đất NN/khẩu tăng 5%
Mặt khác, do lao động nông nghiệp qua 3 năm giảm trong khi đất nông nghiệp qua
3 năm tăng nên đất NN/lao động NN bình quân qua 3 năm tăng 8%.
Trang 36Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007
DT(ha)
CC(%)
DT(ha)
2.5 Đất sông suối&mặt nước chuyên dùng 208,6 63,34 206,65 53,38 206,64 61,34 99,07 100 100
Trang 37Năm 2007, thôn Hạ có tổng diện tích đất tự nhiên là 54,5ha; trong đó
có 29,5 ha đất sản xuất Nông nghiệp, còn lại là đất vườn, đất ở và đất khác.Đất phù sa của thôn có hàm lượng dinh dưỡng khá, có tiềm năng lớn cho sảnxuất nông nghiệp và mục tiêu đa dạng hoá loại hình sản xuất
3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Dân số toàn xã năm 2007 là 4916 người, trong đó có 4694 nhân khẩunông nghiệp (chiếm 95,48% tổng dân số); 222 nhân khẩu phi nông nghiệp(chiếm 4,52% tổng dân số) Qua 3 năm 2005 – 2007, bình quân số nhân khẩucủa xã giảm 0,7%; trong đó, số nhân khẩu nông nghiệp có xu hướng giảmxuống và giảm 1,98%, số nhân khẩu phi nông nghiệp có xu hướng tăng vàtăng 49% Đây là xu hướng phù hợp với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tương tự, số hộ nông nghiệp trong xã qua 3 năm cũng giảm đi 1,69%(còn 982 hộ năm 2007), số hộ phi nông nghiệp qua 3 năm tăng 92,35%
Số lao động trong xã qua 3 năm có xu hướng giảm xuống, bình quângiảm 2,54%, số lao động nông nghiệp bình quân giảm 3,94%, lao động phinông nghiệp tăng 46,86%
Qua 3 năm tỷ lệ sinh của toàn xã giảm bình quân 7,42%, số nhân khẩu/
hộ và lao động/hộ cũng có xu hướng giảm với các mức tương đương là 1,65%
và 3,46%
Như vậy, lao động trong xã có xu hướng chuyển sang làm ngành nghềphi nông nghiệp Với địa bàn gần sông Lô, có nhiều đất sét nên nhiều hộ đãchuyển sang sản xuất gạch Trong vài năm vừa qua, số lò gạch trong xã đãtăng lên đáng kể Mặt khác, do xã gần nhà máy giấy Bãi Bằng nên nhiềungười dân đã đi xuất khẩu lao động Đây cũng là xu hướng phù hợp với xuhướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã
Thôn Hạ có tổng số 120 hộ, với số nhân khẩu là 534; trong đó có 249 nam và 285 nữ.
Trang 38Bảng 3.2: Tình hình dân số, lao động xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007
I Dân số
Trang 39Lực lượng lao động của thôn Hạ đa số là lao động nông nghiệp (chiếmtới 90% tổng số lao động của thôn), lao động phi nông nghiệp và tiểu thươngchiếm tỷ lệ thấp Người lao động có tinh thần làm việc cần cù Một số lượngđáng kể thanh niên có trình độ đã thoát ly ra ngoài làm ăn và gửi tiền về đónggóp cho gia đình Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thôn nếu sử dụnghợp lý nguồn lao động sẽ thúc đẩy quá trình phát triển của thôn.
3.1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố quyết định tới năng suất lao động,quyết định tới mọi quá trình sản xuất kinh doanh Xây dựng cơ sở vật chất làphương tiện tốt để giảm bớt những ảnh hưởng xấu của điều kiện tự nhiên đếnsản xuất Qua tìm hiểu chúng tôi thấy cơ sở vật chất của xã như sau:
- Về giao thông:
Hệ thống đường liên xã năm 2007 có 3 km đường nhựa, tăng 11,11%
so với năm 2006 (tăng 0,3 km) Bình quân qua 3 năm tăng 9,54% Đường liênthôn đổ bê tông bình quân qua 3 năm tăng 28,47%
Hệ thống đường giao thông của xã qua 3 năm đã được hoàn thiện, nângcấp rõ rệt Các tuyến đường liên thôn, liên xã, đường trong thôn xóm đã được
bê tông hóa nhiều hơn, giúp cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa được dễdàng hơn, tính văn minh giao thông xã được nâng lên một bước
Hệ thống đường giao thông của thôn Hạ tương đối đầy đủ, có chấtlượng trung bình, phần nào đáp ứng được nhu cầu đi lại, vận chuyển của thôn.Năm 2006, toàn thôn có 5km đường liên thôn (1km đã được bê tông hoá); 1,5
km đường xóm ngõ (bằng đất) và 7 km đường nội đồng Đến năm 2007, thôn
đã bê tông hóa thêm được 1,196 km đường nội thôn
- Về hệ thống thuỷ lợi: Do địa bàn nằm ngay bên bờ sông Lô nênhàng năm xã đều tiến hành xây dựng bổ sung, nâng cấp thêm hệ thống đê.Năm 2007 lượng đê đắp được: 113.497 m3, tăng 13,5% so với năm 2006.Bình quân 3 năm, tốc độ tăng 11,45%
Trang 40Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã qua 3 năm
III Hệ thống công trình thủy lợi
V Công trình phúc lợi & phương tiện vận tải