1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh ninh bình giai đoạn 2010 - 2015

67 478 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2015
Tác giả Nguyễn Thị Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Văn Vận
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 665,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và đặc trưng của công nghiệp 1.1.1.1 Khái niệm về công nghiệp Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp có một vị trí đặc biệt; nó bao gồmnhiều hoạt động, nhiều bộ phận và được c

Trang 1

trờng đại học kinh tế quốc dânKHOA kế hoạch và phát triển

o0o

CHUYÊN Đề THựC TậP CHUYÊN NGàNH

Đề tài:

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CễNG NGHIỆP TRấN ĐỊA BÀN TỈNH NINH

BèNH GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

Giáo viên hớng dẫn : PGS.TS PHạM VĂN VậNSinh viên thực hiện : NGUYễN THị HIềN

Lớp : KINH Tế PHáT TRIểN 48A

Hà Nội, 2010

Trang 2

tế đạt ở mức cao, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng Tuy nhiên, công nghiệp củatỉnh phát triển sau, quy mô còn nhỏ hẹp, trình độ khoa học công nghệ còn lạc hậu,tài nguyên sản xuất công nghiệp đa dạng nhưng phân tán, công nghiệp hỗ trợ chưaphát triển, hạ tầng cơ sở yếu kém Đây là những đặc trưng của công nghiệp của tỉnhNinh Bình.

Do vậy cần phải tích cực phát triển ngành công nghiệp với vai trò là nền tảngcho phát triển kinh tế, mà trước hết là phát triển theo hướng hợp lý, khai thác cácnguồn lực của địa phương

Chuyên đề thực tập “Định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên

địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2015” là những nghiên cứu cơ bản nhằm

xác định phương hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới Bài viết gồm ba phần:

Chương I: Sự cần thiết phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Chương II: Thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 – 2009.

Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010 – 2015.

Trang 3

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH NINH BÌNH

1.1 CƠ SỎ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của công nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về công nghiệp

Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp có một vị trí đặc biệt; nó bao gồmnhiều hoạt động, nhiều bộ phận và được cụ thể bằng các khái niệm khác nhau như:công nghiệp lớn, công nghiệp vừa và nhỏ; công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp;công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh…Tuy nhiên, chúng ta cóthể hiểu một cách khái quát như sau:

Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phậncấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội Công nghiệp gồm 3 loại hoạt động chủ yếu:

- Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy;

- Chế biến các loại sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông, lâm,ngư nghiệp thành các loại sản phẩm khác nhau đáp ứng các nhu cầu khác nhau của

Trang 4

Các hoạt động khai thác, chế biến và sủa chữa các sản phẩm công nghiệp cómối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau và được khái quát trong sơ đồ sau:

Trang 5

Sơ đồ : Mối quan hệ giữa các hoạt động khai thác, chế biến và sửa chữa công nghiệp

Sản phẩm cuối cùng

sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt

Sửa chữa máy móc và vật phẩm tiêu dùng

Phế thải trong tiêu dùng

Nguồn nguyên liệu tái sinh

Trang 6

1.1.1.2 Những đặc trưng chủ yếu của công nghiệp

Quá trình sản xuất xã hội là sự tổng hợp của hai mặt: mặt kỹ thuật của sảnxuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất Do sự phát triển của phân công lao động

xã hội, các ngành sản xuất vật chất được chia thành nhiều ngành kinh tế như côngnghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng…Song, xét về phương diện

sự khác biệt về công nghệ sản xuất, công nghiệp và nông nghiệp được coi là haingành lớn có tính chất đại diện, còn các ngành kinh tế khác chỉ là những dạng đặcthù của hai ngành này Từ đó, việc xem xét các đặc trưng của công nghiệp chủ yếu

là xem xét sự khác nhau giữa công nghiệp và nông nghiệp trên cả hai mặt kỹ thuậtsản xuất và kinh tế - xã hội của sản xuất

1.1.1.2.1 Đặc trưng về kỹ thuật sản xuất

- Về công nghệ sản xuất

Sản xuất công nghiệp chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ học, lý hoc, hóahọc và quá trình sinh học làm thay đổi hình dáng, kích thước và tính chất củanguyên liệu để làm ra các sản phẩm phục vụ sản xuất hoặc sinh hoạt; trong khi đó,sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng quá trình sinh học thể hiện ở quá trình sinhtrưởng và phát triển của cây trồng và con vật nuôi Trong quá trình sản xuất nôngnghiệp, các phương pháp cơ học, lý học, hóa học (làm đất, bón phân, sử dụng cácphế phẩm hóa học…) chỉ là những tác động làm cho cây trồng, vật nuôi thích ứngvới điều kiện môi trường tự nhiên hoặc rút ngắn chu kỳ sản xuất nông nghiệp

Nghiên cứu đặc trưng về công nghệ sản xuất có ý nghĩa quan trọng với việc

tổ chức sản xuất và ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ thíchứng với từng ngành

- Về sự biến đổi của đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất

Sau mỗi giai đoạn của quá trình công nghệ, các đối tượng lao động – nguyênliệu của công nghiệp có sự thay đổi về hình dáng, kích thước và tính chất Trong sảnxuất công nghiệp, từ một loại nguyên liệu có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có giátrị sử dụng khác nhau Trong khi đó, quá trình sản xuất nông nghiệp, đối tượng laođộng, gồm các loại động, thực vật khác nhau, có thể có sự thay đổi về hình dáng,kích thước, nhưng cuối quá trình sản xuất, người ta thu được sản phẩm giống nhưnguyên liệu ban đầu nhưng với khối lượng lớn hơn

Trang 7

Nghiên cứu đặc trưng này của quá trình sản xuất công nghiệp, có thể thấy rõkhả năng của sản xuất công nghiệp và ý nghĩa thiết thực với việc tổ chức sản xuất,

tổ chức lao đông trong công nghiệp

- Về công dụng kinh tế của sản phẩm

Trong khi sản phẩm nông nghiệp chủ yếu đáp ứng nhu cầu ăn uống của conngười và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêudùng, thì sản phẩm công nghiệp có khả năng đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu của sảnxuất và đời sống, phát triển khoa học công nghệ của nền kinh tế quốc dân Côngnghiệp là ngành kinh tế duy nhất sản xuất các loại tư liệu lao động, từ những công

cụ, dụng cụ thủ công đơn giản, tới hệ thống máy móc có trình độ hiện đại Do đó, sựphát triển công nghiệp có tác động trực tiếp và to lớn đến quá trình hiện đại hóa nềnkinh tế, phát triển sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư

- Về mức ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến quá trình sản xuất

Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nhiều hơn sovới sản xuất công nghiệp Các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thời tiết, khí hậu…đượccoi là điều kiện không thể thiếu để phát triển trồng trọt và chăn nuôi Trong quyhoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, việc bố trí các loại cây trồng, con vật nuôiphải đảm bảo thích ứng với điều kiện tự nhiên của từng vùng Tuy các thành tựukhoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp,nhưng tình trạng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của sản xuất nông nghiệp vẫnkhông thể khắc phục được Trong khi đó, các ngành sản xuất công nghiệp khácnhau chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên ở mức độ khác nhau: các ngành côngnghiệp khai thác chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên với mức độ lớn hơn cácngành công nghiệp chế biến Với sự phát triển của khoa học công nghệ, côngnghiệp có thể phát triển mạnh ngay cả khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi

Đặc trưng này cho thấy công nghiệp có khả năng sản xuất cao hơn nôngnghiệp và cũng như vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế được xácđịnh như vấn đề tất yếu

1.1.1.2.2 Đặc trưng về kinh tế - xã hội của sản xuất

- Về trình độ xã hội hóa sản xuất

Công nghiệp là ngành có trình độ xã hội hóa cao Một sản phẩm công nghiệp

Trang 8

cùng một tổ chức, hoặc thuộc các tổ chức khác nhau được phân bố ở những địađiểm khác nhau Sự liên kết giữa chúng, từ khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm tớikhâu tiêu dùng sản phẩm và các dịch vụ sau bán hàng tạo thành chuỗi có liên kếtchặt chẽ Quan hệ liên kết này không chỉ thực hiện giữa các doanh nghiệp trongcùng một ngành, mà còn thực hiện giữa các ngành khác nhau Sản xuất nông nghiệpcũng đạt tới trình độ xã hội hóa nhất định, nhưng ở trình độ thấp hơn nhiều so vớicông nghiệp Các khâu của quá trình sản xuất có thể thực hiện ở phạm vi hẹp, thậmchí chỉ ở phạm vi hộ nông dân.

- Về đội ngũ lao động

Sự phát triển công nghiệp kéo theo sự phát triển đội ngũ lao động côngnghiệp Do những đặc trưng về kỹ thuật sản xuất, công nghiệp đại diện cho phươngthức sản xuất mới, lao động công nghiệp có tư duy, tác phong và kỷ luật cao, nhanhnhạy với sự thay đổi của môi trường và có những đổi mới mang tính cách mạng Sựphát triển của công nghiệp dẫn đến sự phát triển của đội ngũ lao động công nghiệp

cả về số lượng và chất lượng Trong khi đó, nền sản xuất nông nghiệp mang tínhphân tán, trình độ kỹ thuật thấp, lao động nông nghiệp có chất lượng thấp hơn, tínhbảo thủ cao hơn, sự đổi mới và khả năng thích ứng với cái mới chậm hơn so với laođộng công nghiệp Hơn nữa, tương ứng sự thay đổi vị trí các ngành trong cơ cấukinh tế, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong cơ cấu lao động xã hội ngày cànggiảm Liên minh giữa giai cấp công nghiệp và giai cấp nông dân là nhân tố đảm bảo

sự thành công của cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng trong đó, giai cấp công nhânluôn giữ vai trò lãnh đạo

- Về quản lý công nghiệp

Do trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, trình độ xã hội hóa ngày càng đượcnâng cao, phân công lao đông xã hội ngày càng sâu sắc, quản lý quá trình sản xuấtcông nghiệp được thực hiện hết sức chặt chẽ và khoa học Đó là điều kiện để bảođảm quá trình sản xuất diễn ra liên tục với hiệu quả kinh tế cao Các phương phápquản lý công nghiệp ngày càng được hoàn thiện gắn với ứng dụng mới của thànhtựu khoa học công nghệ và ngày càng hiện đại Các phương pháp và mô hình quản

lý công nghiệp thường được coi là hình mẫu cho đổi mới quản lý của các ngànhkinh tế quốc dân, trong đó có nông nghiệp

Trang 9

Nghiên cứu các đặc trưng của công nghiệp có thể thấy rõ hơn những ưu thếcủa công nghiệp, điều kiện bảo đảm công nghiệp có được vai trò lãnh đạo dẫn dắtcác ngành kinh tế quốc dân trong quá trình xây dựng nền sản xuất lớn.

1.1.2Phân loại công nghiệp

Với sự phát triển của khoa học công nghệ và phân công lao động xã hội,công nghiệp phát triển thành hệ thống phức tạp với nhiều bộ phận khác nhau, các bộphận ấy được xác định theo những căn cứ khác nhau và có những đặc trưng khácnhau Phân loại hệ thống công nghiệp thực chất là xác định những tiêu chí để phânchia công nghiệp thành những bộ phận khác nhau làm cơ sở để xác định nhũng nộidung và phương pháp quản lý phù hợp hướng tới mục tiêu phát triển hài hòa và cóhiệu quả giữa các bộ phận

1.1.2.1 Phân loại theo công dụng kinh tế của sản phẩm

Xem xét công dụng kinh tế của sản phẩm là xem xét một cách tổng quát sảnphẩm công nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản xuất hay nhu cầu tiêu dùng cánhân Theo công dụng kinh tế của sản phẩm, công nghiệp được chia thành côngnghiệp sản xuất tư liệu sản xuất và các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng

và được xếp tương ứng vào các ngành nhóm A và nhóm B Trong thực tế, người tathường quy ước sắp xếp các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất vàonhóm công nghiệp nặng và các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùngvào nhóm công nghiệp nhẹ Nếu sản phẩm của một doanh nghiệp công nghiệp vừa

có thể dùng làm tư liệu sản xuất, vừa có thể dùng làm tư liệu tiêu dùng, thì việc sắpxếp lại căn cứ vào tỷ trọng sản phẩm chủ yếu đáp ứng loại nhu cầu nào

Phân loại công nghiệp theo cách này là cơ sở quan trọng để kế hoạch hóaphát triển công nghiệp bảo đảm sự cân đối giữa sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất

tư liệu tiêu dùng phù hợp với yêu cầu cụ thể của đất nước và quan hệ kinh tế vớinước ngoài

1.1.2.2 Phân loại theo phương thức tác động đến đối tượng lao động

Quá trình sản xuất công nghiệp là quá trình người lao động sử dụng tư liệulao động đến đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm Những loại sản xuất sử dụng

tư liệu lao động cắt đứt mối lien hệ trực tiếp của đối tượng lao động với các điềukiện tự nhiên để tạo ra các sản phẩm thô được xếp vào công nghiệp khai thác Đối

Trang 10

tạo ra, sự phát triển gắn liền với điều kiện tự nhiên; sản phẩm thường là các loạinguyên liệu nguyên thủy Các loại sản xuất sử dụng tư liệu lao động với các phươngpháp cơ học, lý học, hóa học và sinh học làm thay đổi hình dáng, kích thước và tínhchất của nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng đượcxếp vào công nghiệp chế biến.

Cách phân loại này là cơ sở kế hoạch hóa cân đối giữa công nghiệp khai thác

và công nghiệp chế biến Sự cân đối này không phải hiểu theo nghĩa quy mô và tốc

độ phát triển khai thác một loại tài nguyên phải tương ứng với quy mô và tốc độ chếbiến loại tài nguyên đó Sự cân đối giữa chúng phải xem xét phù hợp với trình độphát triển của công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quátrình hợp tác kinh tế quốc tế của đất nước trong mỗi thời kỳ

1.1.2.3 Phân loại theo sự tương đồng về kinh tế - kỹ thuật

Hệ thống công nghệ được cấu thành bởi nhiều phân hệ Đến lượt mình, mỗiphân hệ ấy được cấu thành bởi nhiều phần tử, mỗi phần tử là một doanh nghiệpcông nghiệp Trong đó, các doanh nghiệp công nghiệp có sự tương đồng nhất định

về công nghệ hay sản phẩm…Dựa vào sự tương đồng của công dụng cụ thể của sảnphẩm,về công nghệ sản xuất, về vật liệu sử dụng và cơ cấu lao động của các doanhnghiệp công nghiệp được chia ra thành các ngành chuyên môn hóa khác nhau Nhưvậy ngành công nghiệp chuyên môn hóa là tập hợp các doanh nghiệp công nghiệp

có sự tương đồng về công dụng cụ thể của sản phẩm, về công nghệ sản xuất, vềnguyên vật liệu sử dụng và về cơ cấu lao động Một ngành chuyên môn hóa tổnghợp có thể được phân chia thành các ngành chuyên môn hóa hẹp tùy theo trình độphát triển công nghiệp và yêu cầu quản lý chuyên sâu

Các phân loại này là cơ sở để thực hiện quản lý theo ngành kinh tế - kỹ thuật

và tiến hành kế hoạch hóa cơ cấu ngành công nghiệp

1.1.2.4 Phân loại theo hình thức sở hữu

Tương ứng với các hình thức sở hữu khác nhau, các doanh nghiệp côngnghiệp được sắp xếp vào các thành phần kinh tế khác nhau Ở Việt Nam, hệ thốngcông nghiệp đa thành phần bao gồm: công nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhànước, công nghiệp thuộc thành phần kinh tế tập thể, công nghiệp thuộc thành phầnkinh tế tư nhân, công nghiệp thuộc thành phần kinh tế cá thể,tiểu chủ và côngnghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong cơ cấu công

Trang 11

nghiệp đa thành phần, mỗi thành phần kinh tế có vai trò, vị trí riêng và có quan hệchặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Tuy khác nhau về hình thức sở hữu, nhưng các doanh nghiệp công nghiệpthuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau, tồn tại trong môi trường vừacạnh tranh, vừa hợp tác với nhau Vai trò của Nhà nước là phải tạo lập môi trườngbình đẳng cho các doanh nghiệp cùng phát triển, khai thác mọi nguồn lực trong vàngoài nước phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1.1.2.5 Phân loại theo trình độ trang bị kỹ thuật

Nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật là xu hướng chung của sự phát triển cácngành, các lĩnh vực kinh tế Nhưng trong những điều kiện nhất định, bên cạnh cácdoanh nghiệp hiện đại, vẫn còn các doanh nghiệp sản xuất ở trình độ thủ công Theo

đó, công nghiệp được chia thành hai bộ phận: công nghiệp hiện đại và thủ côngnghiệp Sản xuất thủ công sẽ dần được thay thế bằng máy móc thiết bị, nhưng cónhững loại sản xuất hoặc những bộ phận nhất định trên dây truyền sản xuất, máymóc thiết bị không thể thay thế được lao động thủ công Chẳng hạn, trong một sốngành sản xuất thủ công mỹ nghệ, lao động thủ công sẽ tạo nên sản phẩm độc đáo,mang đậm bản sắc dân tộc phục vụ xuất khẩu

Xét về trình độ công nghệ, công nghiệp một nước sẽ gồm các doanh nghiệpvới nhiều “tầng công nghệ” khác nhau

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp

Công nghiệp là ngành cung cấp phần lớn các sản phẩm đáp ứng nhu cầu củacon người trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất Cùng với sự phát triển, nhu cầucủa con người ngày càng được mở rộng, đa dạng và phức tạp hơn, như vậy việc xácđịnh các yếu tố tác động tới sự phát triển của công nghiệp là điều cần thiết Cónhiều yếu tố tác động tới sự phát triển của công nghiệp, tuy nhiên, ta có thể kể đếncác yếu tố sau đây:

1.1.3.1 Yếu tố thị trường

Các quan hệ cung – cầu, giá cả cũng như dung lượng thị trường là những yếu

tố tác động trực tiếp tới sự phát triển công nghiệp mỗi quốc gia Thị trường tác độngtrực tiếp tới sự hình thành và phát triển của các ngành công nghiệp Vì đây là nhữngtín hiệu để các doanh nghiệp phân bổ các nguồn lực vào các lĩnh vực sản xuất khác

Trang 12

phân tích rất kỹ quy mô và xu hướng vận động của thị trường khi quyết định đầu tưkinh doanh một loại sản phẩm nào đó Mỗi doanh nghiệp phải hướng ra thị trường,xuất phát từ quan hệ cung cầu hàng hóa và các hoạt động dịch vụ của thị trường đểhoạch định chiến lược kinh doanh của mình Thị trường tác động vào đầu vào vàđầu ra của doanh nghiệp Sự hình thành và chuyển đổi nhiệm vụ kinh doanh của cácdoanh nghiệp theo yêu cầu của thị trường được tổng hợp lại thành sự chuyển dịch

cơ cấu công nghiệp của nền kinh tế

Thói quen tiêu dùng cũng là nhân tố quan trọng mà các nhà kinh doanh rấtquan tâm khi quyết định bỏ vốn đầu tư và lựa chọn sản phẩm để đưa ra thị trường.Tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tưphải nghiên cứư để tìm cách đáp ứng và vì thế thoả mãn thói quen tiêu dùng củakhách hàng đã trở thành một chỉ tiêu tác động vào chuyển dịch cơ cấu công nghiệpcủa đất nước Bên cạnh thị trường hàng hóa thì sự phát triển của công nghiệp cònchịu sự tác động của thị trường lao động, thi trường khoa học công nghệ, thị trườngtài chính…

1.1.3.2 Các yếu tố nguồn lực và lợi thế

Các yếu tố nguồn lực ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp thể hiện ởcác mặt sau:

- Tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, lâm sản, hải sản…) và các điều kiện tựnhiên cần thiết cho sự phát triển công nghiệp (đất đai, khí hậu…) là các yếu tố trởthành đối tượng lao động phát triển các ngành công nghiệp khai thác và chế biến,tạo điều kiện xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp Tài nguyên thiên nhiênphong phú, trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi cho phép phát triển côngnghiệp với một nền tảng vững chắc

- Dân số và lao động được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tếnói chung và công nghiệp nói riêng Dân số và mức sống dân cư tạo thành thịtrường nội địa rộng lớn cho ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triểnmạnh mẽ đáp ứng nhu cầu và là nơi cung cấp lực lượng lao động – yếu tố đầu vàocủa ngành công nghiệp Các yếu tố về chất lượng nguồn nhân lực như trình độ dântrí, khả năng tiếp thu kỹ thuật của lao động tạo thành cơ sở quan trọng để phát triểncác ngành công nghiệp kỹ thuật cao

Trang 13

- Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố tác động trực tiếp tới phát triển côngnghiệp, đây còn là đầu vào không thể thiếu được trong quá trình phát triển côngnghiệp cũng như phát triển nền kinh tế Đặc biệt đối với các nước đang phát triểntrong đó có Việt Nam nguồn lực phát triển chủ yếu dựa vào vốn Tuy nhiên, đối vớicác nước đang phát triển đều rất thiếu vốn, do đó vấn đề huy động vốn đều coi làvấn đề lớn nhất trong việc huy động các nguồn lực Chỉ có tạo được nguồn vốn chophát triển kinh tế mới có thể tiến hành đầu tư, tạo chuyển dịch cơ cấu công nghiệpnhanh Giữa hai nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, vốn đầu tư trong nướcđược coi là giữ vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài được xác định là quantrọng để tạo ra sự đột phá cho sự phát triển của ngành công nghiệp cũng như cho sựchuyển dịch cơ cấu của ngành

- Vị trí địa lý kinh tế của đất nước là một lợi thế để phát triển công nghiệp,nhất là trong nền kinh tế mở, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế thì vị trí địa lýthuận lợi sẽ tạo nên một lợi thế lớn Những quốc gia có vị trí địa lý là đầu mối giaolưu kinh tế sẽ tạo thành lợi thế để phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế vềxuất khẩu

- Sự ổn định về thể chế chính trị - xã hội tạo môi trường thuân lợi để thu hútđầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài để phát triển các ngành công nghiệpnói riêng và phát triển kinh tế nói chung

1.1.3.3 Tiến bộ khoa học – công nghệ

Khoa học công nghệ là chìa khóa cho con người khám phá tự nhiên Nhữngthành tựu khoa học công nghệ được ứng dụng trong công nghiệp nhằm khai thác tựnhiên, sản xuất cung cấp sản phẩm cho xã hội Vai trò của công nghệ tới phát triểncông nghiệp được thể hiên qua các cuộc cách mạng công nghiệp Sự phát triểnnhanh chóng của công nghệ là nguyên nhân cơ bản để chuyên nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Công nghiệp là ngành đại diện cho tiêu biểunhất trong ứng dụng công nghệ hiện đại để khai thác tài nguyên và chế biến sảnphẩm phục vụ lợi ích con người Năng lực của ngành công nghiệp ngày càng lớncùng với sự xuất hiện và trợ giúp của các thành tựu công nghệ mới

Sự phát triển của công nghiệp phản ánh xu thế phát triển khoa học, côngnghệ và khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ Sự ảnh

Trang 14

hưởng của tiên bộ khoa học công nghệ đến phát triển công nghiệp được thể hiệntrên các mặt sau:

- Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và hình thành các ngành côngnghiệp chuyên môn hóa Đây là yếu tố thúc đẩy phát triển công nghiệp theo cơ cấucông nghiệp ngày càng phức tạp và phù hợp với sự phát triển chung của đất nước

- Việc thực hiện các nội dụng của tiến bộ khoa học công nghệ trong tất cảcác lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đòi hỏi phát triển mạnh một số ngành côngnghiệp như việc thực hiện điện khí hóa phụ thuộc trực tiếp vào ngành công nghiệpđiện

- Tiến bộ khoa học công nghệ không những tạo ra khả năng sản xuất mới,đẩy nhanh nhịp độ phát triển một số ngành công nghiệp, đồng thời tạo ra nhu cầumới Chính những nhu cầu mới này đòi hỏi sự ra đời và phát triển một số ngànhcông nghiệp Tiến bộ khoa học công nghệ hạn chế tác động bất lợi của tự nhiên, chophép phát triển công nghiệp ngay cả khi điều kiện tự nhiên bất lợi Cụ thể, sự pháttriển của công nghiệp hóa dầu sẽ tạo ra những loại nguyên liệu phong phú, bổ sungcho nguồn nguyên liệu tự nhiên

Sự ảnh hưởng của nhân tố này tới phát triển công nghiệp phụ thuộc vàochính sách khoa học công nghệ của từng vùng cũng như của đất nước

1.1.3.4 Môi trường thể chế

Môi trường thể chế là biểu hiện của quan điểm, ý tưởng và hành động củacác nhà lãnh đạo trong việc phát triển công nghiệp và các hoạt động kinh tế, xã hộikhác Trong việc phát triển công nghiệp, môi trường thể chế thể hiện:

- Hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược phát triển công nghiệp nhằmthực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Một chiến lược đúng sẽđưa công nghiệp phát triển nhanh, có hiệu quả và ngược lại

- Môi trường thể chế có thể khuyến khích, động viên hoặc tạo áp lực để cácnhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như từng khu vực vận động theo định hướng

đã định

Hệ thống các chính sách của Nhà nước ban hành có tính chất thuận lợi sẽkhuyến khích các nhà đàu tư, các nhà đầu tư sẽ vận động theo hành lang mà Nhànước đã vạch ra, vừa đảm bảo lợi ích cá nhân và góp phần thực hiện các mục tiêuchung của xã hội Như vậy, việc hoạch định chính sách phát triển cũng như tạo môi

Trang 15

trường, cơ chế cho công nghiệp phát triển là điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩycông nghiệp phát triển.

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của công nghiệp.

Để đánh giá kết quả đạt được của quá trình thực hiện người ta thường dựavào đầu ra của quá trình đó để xem xét Do vậy, để đánh giá sự phát triển của côngnghiệp có nhiều tiêu chí để đánh giá, tuy nhiên, ta có thể đánh giá qua những kếtquả mà công nghiệp đạt được như quy mô, tốc độ phát triển công nghiệp, năng lựccạnh tranh các sản phẩm công nghiệp…Dưới đây là những chỉ tiêu hay dùng đểđánh giá sự phát triển của công nghiệp

1.1.4.1 Quy mô và tốc độ phát triển của ngành công nghiệp

Phát triển công nghiệp là sự gia tăng cả số lượng cũng như chất lượng củaquá trình sản xuất Do đó, để xem xét sự phát triển công nghiệp, trước hết ta có thểthấy rõ trong quy mô và tốc độ phát triển của ngành công nghiệp Quy mô củangành phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng có ýnghĩa tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ và cáckhu vực với nhau Sự gia tăng về lượng của ngành có thể biểu hiện dưới dạng hiệnvật hoặc giá trị, và có thể xem xét qua các chỉ tiêu về giá trị gia tăng hay tổng giá trịsản xuất của ngành tạo ra trong một thời gian nhất định

Ngày nay, yêu cầu của sự tăng trưởng trong ngành công nghiệp cũng như củanền kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăngtrưởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sựgia tăng liên tục, có hiệu quả cả về chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển Hơn thếnũa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học

kỹ thuật, vốn nhân lực trong một cơ cấu công nghiệp hợp lý Đối với các khu vực,các nước có nền công nghiệp kém phát triển thì tốc độ tăng trưởng của ngành côngnghiệp đạt ở mức cao, tuy nhiên quy mô của ngành lại thấp hơn rất nhiều so với khuvực, nước có nền công nghiệp phát triển Đồng thời, sự phát triển này lại mang tínhkhông bền vững, đôi khi lại phát triển quá nóng, thể hiện chất lượng phát triển cònhạn chế

1.1.4.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp

Trong quá trình phát triển của công nghiệp, cơ cấu giá trị gia tăng giữa

Trang 16

trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công của công nghiệphóa Đây là tiêu chí thể hiện chất lượng của quá trình phát triển ngành côngnghiệp Đặc biệt việc phân tích cơ cấu các phân ngành trong ngành công nghiệp

có ý nghĩa quan trọng trong viêc đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấucông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thông thường cơ cấuphân ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa củanền kinh tế Ví dụ, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuậtcao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp,dược phẩm, hóa mỹ phẩm chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế đạt mức

độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao hơn so với những ngành công nghiệp khaikhoáng, sơ chế nông sản, công nghệ lắp ráp

Ngoài ra một số chỉ tiêu kinh tế khác cũng thường được sử dụng là cơ cấugiá trị sản xuất, chỉ tiêu này phản ánh giá trị hàng năm được sản xuất ra thuộc sởhữu của một nền kinh tế hay cũng có thể là một ngành kinh tế Tuy nhiên, ở cácnước đang phát triển giá trị sản xuất thường lớn hơn rất nhiều so với giá trị tăngthêm tạo ra trong cùng một thời gian do hiệu quả sản xuất chưa cao Một ưu thế của

cơ cấu giá trị gia tăng là phản ánh rõ hơn những khía cạnh khác nhau của môitrường kinh doanh và cùng với cơ cấu theo giá trị gia tăng, cơ cấu lao động củangành cũng được phản ánh rõ ràng hơn

1.1.4.3 Hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm ngành công nghiệp

Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành mộtnước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấusản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chếsang các hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là các loại sản phẩm công nghiệpchế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt may,chế biến nông lâm thủy sản chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiềucông nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm cơ khí chế tạo, hóa chất, điện tử Chính

vì vậy sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu công nghiệp từ những mặt hàng sơchế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên cơ sở công nghệ kỹ thuật caoluôn được một trong những thước đo rất quan trọng đánh giá mức độ thành côngcủa công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 17

Đối với nhiều nước chậm phát triển, những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốcgia thấp hơn chỉ tiêu kỹ thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu là một tiêu chítốt để bổ sung đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệptheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1.1.4.4 Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp

Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt vànhu cầu sản xuất Để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu ngày càng nâng cao của xãhội, ngành công nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng, đổi mớisản phẩm cũng như không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm củamình Đây là tiêu chí đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu trên thị trường cũng nhưchất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường đối với các sảnphẩm của khu vực khác

Như vậy, mỗi tiêu chí trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong

phân tích quá trình phát triển công nghiệp của một đất nước cũng như của một địaphương nhất định Vì vậy, tùy theo mục đích, yêu cầu của đề tài nghiên cứu mà cóthể lựa chọn, quyết định chỉ tiêu nào và mức độ chi tiết, cụ thể khác nhau

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

1.2.1Xuất phát từ nhu cầu phát triển

Trong quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp là ngành có vai trò quan trọngđóng góp vào việc tạo ra thu nhập, tích lũy vốn cho phát triển, tạo nguồn thu từ xuấtkhẩu cũng như thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài Do đó,tỉnh Ninh Bình đã xác địnhphát triển công nghiệp là mục tiêu hàng đầu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xãhội của tỉnh Điều này được thể hiện qua vai trò định hướng phát triển các ngànhkinh tế, được khái quát qua các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền

kinh tế

Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về công nghệsản xuất và công dụng của sản phẩm, công nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm làmchức năng tư liệu sản xuất, cho nên nó là ngành có vai trò quyết định trong việc tạo

ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Trình độ phát triển công nghiệp ngày

Trang 18

càng cao thì tư liệu sản xuất ngày càng hiện đại, tao điều kiện nâng cao nâng suấtlao động xã hội.

Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thế giớiđến trình độ sản xuất cao, đó là việc tạo ra các tư liệu sản xuất có khả năng thay thếphần lớn sức lao động của con người Đó chính là sự ra đời và phát triển mạnh mẽcác tư liệu sản xuất có khả năng tự động hóa một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sảnxuất Máy móc tự động hóa thể hiện sự phát triển cao của công nghiệp trong việc tạo

ra tư liệu sản xuất phục vụ các ngành sản xuất và cho cả ngành công nghiệp

Thứ hai, công nghiệp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp

Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, thúc đẩy phát triển nông nghiệpđược coi là nhiệm vụ hàng đầu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm chođời sống nhân dân và tạo ra các nông sản cho xuất khẩu Để thực hiện nhiệm vụ nàynông nghiệp không thể tự thân vận động nếu không có sự hỗ trợ của công nghiệp

Công nghiệp là ngành cung cấp cho sản xuất những yếu tố đầu vào quantrọng như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, máy móc cơ khí…Công nghiệp có vaitrò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc phát triển nông nghiệp vàxây dựng nông thôn mới

Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ sinh học đã tạo ra bước phát triển độtbiến cho nông nghiệp với việc tạo ra những giống cây trồng và vật nuôi chất lượngngày càng cao, với những ưu việt về thời gian sinh trưởng, phát triển và khả năngchống sâu bệnh, vè sự đa dạng hóa của sản phẩm và đặc biệt về năng suất, chấtlượng đã góp phần tạo ra sản phẩm phong phú, đa dạng và có giá trị cao

Công nghiệp chế biến đã có những đóng góp quan trọng vào việc tăng giá trịsản phẩm, tăng khả năng tích trữ, vận chuyển của sản phẩm nông nghiệp và làm chosản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại Do sản phẩm của nôngnghiệp mang tính thời vụ cao và khó bảo quản, nếu không có công nghiệp chế biến

sẽ hạn chế lớn tới khả năng tiêu thụ

Thứ ba, công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng cho đời sống nhân dân

Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng tất yếu, đáp ứng nhu cầu

cơ bản của con người Còn công nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng ngàycàng phong phú, đa dạng hơn Mọi sản phẩm trong tiêu dùng sinh hoạt của conngười từ ăn, mặc, đi lại, vui chơi, giải trí đều được đáp ứng từ sản phẩm công

Trang 19

nghiệp Kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập của dân cư ngày càng tăng thì nhucầu của con người ngày càng mở rộng Chính sự phát triển của nhu cầu tạo điềukiện cho công nghiệp phát triển và ngược lại, công nghiệp phát triển đáp ứng nhucầu và hướng dẫn nhu cầu tiêu dùng của con người, hướng đến nhu cầu cao hơn.Như vậy, công nghiệp ngày càng phát triển thì các sản phẩm hành hóa ngày càng đadạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, nâng cao về chất lượng.

Thứ tư, công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc

làm cho xã hội

Công nghiệp tác động vào sản xuất nông nghiệp làm nâng cao năng suất laođộng nông nghiệp, tạo khả năng giải phóng sức lao động trong nông nghiệp Đồngthời sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã làm cho sản xuất nông nghiệp ngàycàng mở rộng, tạo ra các ngành sản xuất mới, đến lượt mình, công nghiệp thu hútlao động nông nghiệp giải quyết việc làm cho xã hội Việc thu hút số lượng laođộng ngày càng tăng của nông nghiệp vào công nghiệp không chỉ góp phần giảiquyết việc làm mà còn tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn và tăng thu nhậpcho người lao động

Thứ năm là công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất

Do đặc điểm về sản xuất, công nghiệp luôn có một đội ngũ lao động có tính

tổ chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động “công nghiệp” do đó đội ngũ lao độngtrong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiến trong cộng đồng dân cư Cũng do đặcđiểm về sản xuất, lao động công nghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn hóa caotạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động và chất lượng cảusản phẩm Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, còn có điều kiện tăng nhanh trình

độ công nghệ của sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học ngày càng cao vàosản xuất Tất cả những đặc điểm trên đây làm cho lực lượng sản xuất ngày càngphát triển và theo đó quan hệ sản xuất ngày càng hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện về

mô hình tổ chức sản xuất làm cho hình mẫu về kỹ thuật sản xuất hiện đại, phươngpháp quản lý tiên tiến, người lao động có ý thức tổ chức và kỷ luật

1.2.2 Xuất phát từ điều kiện phát triển công nghiệp

Xuất phát từ những điều kiện thực tế của tỉnh, Ninh Bình có những lợi thế đểphát triển công nghiệp đó là:

Trang 20

Ninh Bình có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông tươngđối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng Donằm trên tuyến giao thông Bắc – Nam, tuyến giao thông quan trọng nhất của cảnước về đường sắt và đường bộ; có quốc lộ 10 chạy qua nối Ninh Bình với các tỉnhphía Đông đã kéo Ninh Bình lại gần trung tâm kinh tế, đô thị lớn của vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng.

Với địa giới hành chính nhỏ gọn, lại có địa hình đa dạng, gồm các vùng đồinúi ở phía Tây và Tây Nam; vùng đồng bằng trũng và xen kẽ đá vôi ở giữa; vùngđồng bằng phì nhiêu ở phía Đông và Đông Nam, đã tạo cho Ninh Bình có vị trí địakinh tế hội tụ đầy đủ để phát triển kinh tế xã hội trong đó có phát triển công nghiệp

Tài nguyên khoáng sản Ninh Bình không phải thật dồi dào về chủng loại,nhưng là địa phương có lợi thế vượt trội về khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệuxây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng như đá vôi, đôlômit, đất sét Ba loại khoángsản này có trữ lượng lớn, tập trung, chất lượng tốt

Tài nguyên phục vụ du lịch rất đặc sắc và đa dạng với nhiều danh lam thắngcảnh nổi tiếng cả nước; có nhiều làng nghề và làng nghề truyền thống rất thuận lợi

để phát triển du lịch làng nghề và hình thành ngành sản xuất sản phẩm lưu niệm

Dân trí tương đối cao, năm 2006, 30% dân số đi học, 30% lao động trongngành kinh tế quốc dân đã qua đào tạo Nguồn nhân lực dồi dào, tăng tương đốinhanh

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2005 – 2009

2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỈNH NINH BÌNH

2.1.1Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình

- Về vị trí địa lý

Ninh Bình nằm cách thủ đô Hà Nội (trung tâm kinh tế - du lịch – thương mại– chính trị lớn) hơn 90 km về phía Nam trên tuyến giao thông Bắc – Nam, quantrọng vào bậc nhất của nước ta, cả hai trục đường ô tô và đường sắt chạy xuyên suốtBắc Nam đều chạy qua đây (với hai nút giao thông chính là thị xã Ninh Bình và thị

xã Tam Điệp) làm cho Ninh Bình là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai miền.Ninh Bình nằm trong vùng dồi dào năng lượng; có biển và hệ thống sông thông rabiển, có cảng thuận lợi về vận tải, giao lưu giữa các tỉnh và quốc tế, tạo lợi thế độcđáo để phát triển kinh tế xã hội, trong đó đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp và du lịch,dịch vụ quá cảnh, lưu thông hàng hóa, giao lưu văn hóa và tiếp nhận văn minh đôthị của cả hai miền đát nước Ninh Bình nằm ở cực nam Đồng bằng Bắc Bộ vớiranh giới của tỉnh được xác định như sau:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam; phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Nam Định;phía Đông Nam giáp biển Đông;

+ Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnhHòa Bình

Ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, trên lãnh thổ tỉnh còn có quốc lộ số

10, 12b, có nhiều sông (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc…) chảyqua giúp cho Ninh Bình có điều kiện thuận lợi và là một đầu mối quan trọng trongviệc giao lưu hinh tế, văn hóa với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và cả Bắc

Bộ rộng lớn.Đặc biệt, trục quốc lộ số 1 và số 10 được nâng cấp cải tạo tuyến “xa lộBắc Nam” được xây dựng, tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hạ Long – Nghi Sơnđược hình thành…sẽ tạo ra nhiều khả năng giao lưu, hợp tác giữa Ninh Bình vàtrung tâm kinh tế lớn của cả nước

Trang 22

Ninh Bình có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng sông có công suất lưuthông là 2 triệu tấn/năm Đó là tiền đề quan trọng để phát triển nhanh, quy mô lớncho nền kinh tế và nhất là cho quá trình phát triển thành phố Ninh Bình trở thànhtrung tâm kinh tế của tỉnh.

Ninh Bình nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Bộ rộng lớn,giàu có về năng lượng và tiềm năng du lịch, có nhiều khu vực phát triển năng độngvới tốc độ phát triển cao (nhịp độ tăng GDP 10 – 12% và tốc độ đô thị hóa là 5 –7% mỗi năm) Đồng thời các tỉnh phía Nam của đát nước cũng phát triển nhanh, đặcbiệt là địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam và địa bàn trọng điểm Trung Bộ Nhìnchung, các tỉnh Bắc bộ và Nam Bộ có nhu cầu rất lớn về xi măng, đá xây dựng…Ninh Bình có thể và cần phải góp phần đáp ứng nhu cầu về xi măng, đá xây dựngcũng như phối hợp vói các vùng phát triển du lịch

- Về địa hình

Ninh Bình nằm trong vùng tiếp giáp giữa đồng bằng sông Hồng và dảiđátrầm tích ở phía Tây, lại nằm trong vùng trũng của Đòng bằng sông Hồng, tiếpgiáp biển Đông, nên có địa hình vừa có đồng bằng, có vùng nửa đồi núi, vùng venbiển Ngay trong mỗi khu vực cũng có địa hình cao, thấp chênh lệch Ninh Bình cótổng diện tích là 1.392km2 với một địa hình đa dạng và được chia làm 3 vùng:

+ Vùng đồi núi và nửa đồi núi với các dãy núi đá vôi, núi nhiều thạch sét, sathạch, đồi đất đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, có tài nguyênkhoáng sản, đặc biệt là đá vôi, có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp vật liệuxây dựng đặc biệt là xi măng, có tiềm năng lớn phát triển du lịch, cây côngnghiệp, cây ăn quả

+ Vùng đồng bằng là vùng đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông, có nhiềutiềm năng để phát triển nông nghiệp đáp ứng nhu cầu tại chỗ và nông sản hàng hóaxuất khẩu

+ Vùng ven biển và biển có nhiều điều kiện để phát triển các cây trồng, vậtnuôi, khai thác các nguồn lợi ven biển và ngoài khơi

Có địa hình đa dạng như vậy là điều kiện phát triển kinh tế xã hội tổng hợpvới hướng kết hợp kinh tế vùng biển, đồng bằng với kinh tế vùng đồi núi Đứng vềmặt địa hình, Ninh Bình cần phải tính tới các phương án khai thác hợp lý lãnh thổ

Trang 23

để có sự phát triển tổng hợp, đạt nhịp độ tăng trưởng cao Tuy nhiên, địa hình nàygây không ít khó khăn, trong đó phải kể đến tình trạng lũ lụt…

- Khí hậu, thủy văn

Ninh Bình cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Hồng có khí hậumang những đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, có mùa đông lạnh nhưng cònnhiều ảnh hưởng của khí hậu ven biển, rừng núi so với điều kiện điều kiện trungbình cùng vĩ tuyến; thời kỳ đầu mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt; mùa

hạ thì nóng ẩm, nhiều mưa, bão Thời tiết hang năm chia làm 4 mùa khá rõ rệt làxuân, hạ, thu, đông

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23oC, nhiệt độ trung bình tháng thấpnhất thường là tháng 1 khoảng 13 – 15oC và cao nhất (tháng 7) khoảng 28,5oC.Tổng số giờ nắng trung bình năm trên 1100 giờ Chế độ mưa có 2 mùa rõ rệt, mùamưa tương ứng là mùa hạ (từ tháng 5 tới tháng 9) và mùa ít mưa tương ứng là mùađông (từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau) Lượng mưa trung bình năm trên 1800mm,song lượng mưa phân bố không đều, tập trung 70% lượng mưa cả năm vào mùa hạ

Trên địa bàn tỉnh có nhiều sông và một số hồ đầm Đây là nguồn nước mặt cungcấp nước cho công nghiệp, nông, lâm nghiệp và bồi đắp phù sa cho ruộng đồng

Khí hậu – thủy văn như đã nêu trên đây là điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển nhiều loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều miền đia lý khácnhau Trên cơ sở đó có thể phát triển nông nghiệp đa dạng, đồng thời là điều kiệnthuận lợi cho phát triển công nghiệp, du lịch và các hoạt động khác

Hạn chế nổi bật của khí hậu thủy văn là mùa khô thiếu nước và mùa mưa bãothường gây ngập úng Ninh Bình là vùng bị hạn vào mùa chiêm xuân và đầu vụmùa, nhưng thường ngập úng vào giữa mùa trở đi Những vấn đề trên đây đòi hỏitìm ra những giải pháp hữu hiệu trong chuyển dịch cơ cấu nông, lâm nghiệp để sửdụng hợp lý quỹ đất

2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Về tài nguyên khoáng sản

Ninh Bình có núi đá vôi nằm trên 1,2 vạn ha, với trữ lượng hàng chục tỷ m3

đá vôi với hàng chục triệu tấn đôlômit, chất lượng tốt làm nguyên liệu sản xuất vậtliệu xây dựng, trước hết là xi măng và các loại hóa chất khác Theo dự báo của các

Trang 24

2010 là 40 triệu tấn và sau đó tăng nhanh theo nhu cầu phát triển của nền kinh tế ỞNinh Bình công nghiệp sản xuất xi măng có khả năng phát triển tới 4 – 5 triệutấn/năm Đồng thời có điều kiện thuận lợi về khai thác đá xây dựng phục vụ nhucầu của đồng bằng sông Hồng, cho nhu cầu xây dựng đường xa lộ Bắc – Nam…

- Đô lô mít có trữ lượng hang trục triệu tấn, hàm lượng MgO 17 – 19% dunglàm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và làm một số hóa chất khác

- Đất sét phân bổ rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc thị xã Tam Điệp, GiaViễn Yên Mô để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu cho ngành đúc Than bùn cótrữ lượng nhỏ (2 triệu tấn) để sản xuất phân vi sinh phục vụ phát triển nông nghiệpsinh thái

- Tài nguyên nước

Ninh Bình có lượng nước tương đối phong phú gồm nước mặt và nước gầm

Vì tỉnh có lượng mưa cao, có biển và hệ thống sông ngòi với mật độ dày Tỉnh cũng

có nguồn nước khoáng Cúc Phương và nước suối Kênh Gà để sản xuất nước giảikhát và tắm ngâm chữa bệnh

- Vùng đồng bằng úng trũng thuộc vùng đất phù sa cũ, chua, nghèo lân đạm,địa hình trũng thường xuyên ngập nước Đất đai vùng này cũng có thể thích ứngcho thâm canh lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả sinh trưởng vàphát triển tốt, cho năng suất cao, khối lượng sản phẩm lớn không thua kém các vùng

có trình độ thâm canh khá

- Vùng nửa đồi núi chủ yếu là đất peralitic hình thành tại chỗ trên những sảnphẩm phong phú của đá mẹ và một phần của đất dộc tụ, kết von rất nghèo N, P, K,quá trình đá ong hóa diễn ra mạnh Thích hợp cho việc phát triển nhiều loại câytrồng: cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu

Có thể nói, đất Ninh Bình có độ phì nhiêu trung bình có thể bố trí nhiều loạicây trồng thuộc nhóm cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả,

Trang 25

nuôi trồng thủy sản Vùng gò đồi có nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu nôngnghiệp và phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng

- Tài nguyên rừng

Năm 2007, diện tích đất có rừng đạt trên 27 nghìn ha chiếm 28,6% tổng diệntích đất tự nhiên với vài trăm nghìn m3 gỗ Ninh Bình có đủ 3 loại rừng: rừng sảnxuất là 2.267,1 ha chiếm 8,2%, rừng phòng hộ là 9.277,2 ha chiếm 33,7% và rừngđặc dụng là 15.998,5 ha chiếm 58,1%

- Tài nguyên du lịch

Ninh Bình được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh phong phú

đa dạng như vườn quốc gia Cúc Phương, khu Tam Cốc Bích Động, khu du lịch sinhthái Tràng An, khu bảo tồn thiên nhiên đất gập nước Vân Long…, cùng với tàinguyên nhân văn như Cố đô Hoa Lư, quần thể nhà thờ đá Phát Diệm…tạo điều kiệncho Ninh Bình trở thành địa bàn du lịch có vị trí quan trọng vào loại hàng đầu củavùng bắc bộ và cả nước

Làng nghề truyền thống của Ninh Bình cũng là tiềm năng du lịch đáng lưu ý.Các làng nghề thuộc các nghề cói, chạm khắc đá, thêu ren, mây tre đan…trên địabàn đã góp phần thu hút khách du lich đến thăm quan, mua sắm Đây là lợi thế củaNinh Bình để phát triển hình thức du lịch làng nghề để mở ra cơ hội phát triển côngnghiệp sản xuất đồ lưu niệm

2.1.2 Đặc điểm về dân cư, dân số và nguồn nhân lực

2.1.2.1 Đặc điểm về dân số

Dân số Ninh Bình năm 2006 là 922.5 nghìn người, năm 2007 là928,7335nghìn người bằng 5,01% dân số của vùng đồng bằng sông Hồng Tronh đó, dân tộcKinh chiếm đa số (98%), sinh sống ở cả 3 vùng và một phần nhỏ (2%) ngườiMường sinh sống ở miền núi Nho Quan Số người theo đạo Thiên Chúa chiếm tới15%, trong đó tập trung tại Kim Sơn Mật độ dân số là 668 người/km2, thấp hơn mật

độ trung bình của đồng bằng sông Hồng Tỷ lệ tăng dân số của tỉnh giai đoạn 2001– 2007 là 0,52%, trong đó dân số đô thị tăng rất nhanh, hơn dân số nông thôn 44,7lần (3,13%/năm và 0,07%/năm) Tỷ lệ nam/nữ của tỉnh xấp xỉ đạt 48%/52% tươngđương với tỷ lệ chung của cả nước

Trang 26

Cơ cấu dân số thay đổi tiến bộ, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi, tăng tỷ trọngdân số trong độ tuổi lao động Đây là nguồn lao động dồi dào đáp ứng nhu cầu việclàm trong tỉnh cũng như lao động trong khu vực

2.1.2.2 Nguồn nhân lực

Nguồn lao động của tỉnh có quy mô cao và tốc độ tăng tương đối nhanh, năm

2000 dân số trong độ tuổi lao động có 498 nghìn người chiến 55,3% dân số của toàntỉnh, năm 2006 tổng số lao động đang làm việc trong các ngành nghề kinh tế quốcdân473,2 nghìn người, năm 2007 là 463,2 nghìn lao động, lao động có trình độ đạihọc, cao đẳng chiếm 3,1%, trình độ trung học chuyên nghiệp chiếm 4,27%, laođộng qua đào tạo nghề chiếm 19% Lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp

là 245,03 nghìn người(52,9%), lao động làm việc trong khu vực công nghiệp là128,8 nghìn người (27,8%), và dịch vụ là 89,4 nghìn người (19,3%)

Ngoài số người trong tuổi lao động, hiện nay vẫn còn một số lượng đáng kểnhững người ngoài độ tuổi lao động thực tế tham gia lao động mà chủ yểu là ở nôngthôn và trong ngành nông nghiệp Như vậy, trong hoàn cảnh thiếu vốn nghiêmtrọng, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém, mức gia tăng tương đối caocủa nguồn nhân lực đã và đang tạo sức ép lớn về tạo việc làm, tăng thu nhập, cảithiện dời sống dân cư

Nhìn chung, dân cư từ 15 tuổi trở lên của Ninh Bình có trình độ học vấntương đối khá cao so với mức trung bình của cả nước, nhưng kém hơn chút ít so vớivùng Đồng bằng sông Hồng

2.1.3 Cơ sở hạ tầng

2.1.3.1 Giao thông

Ninh Bình có hệ thống giao thông phân bổ tương đối hợp lý Toàn tỉnh có2.927 km đường bộ các loại và 352 km đường song hợp thành các tuyến giao thôngquan trọng trong tỉnh và nối liền Ninh Bình với các tỉnh khác Đây là điều kiện

để phát triển và giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh trong khu vực và của cảnước Hệ thống đương bộ bao gồm quố lộ 1A, 45,12B, 10 và hệ thống đường nộitỉnh như đường 480, 481, 480E…Trong 5 năm , tỉnh đã nâng cấp, xây dựng mớiđược 65 km đường quốc lộ, đường liên tỉnh, liên huyện và 84% đường nông thônđược cứng hóa

Trang 27

Đương sắt Bắc – Nam đi qua tỉnh dài 19 km với 4 ga là ga Ninh Bình, gaCầu Yên, ga Ghềnh, ga Đồng Giao và đường thủy đi ra biển Đông, theo sông Đáy

có thể đi lên miền Tây Việt Nam, rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và đilại cho nhân dân

2.1.3.2 Hệ thống điện và thông tin liên lạc

Hiện nay tỉnh Ninh Bình được cung cấp điện từ hệ thống điện quốc gia quahai nguồn điện: Trạm 220/110/10 KV – 2x125 MVA cấp điện cho các tỉnh Hà Nam,Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa bằng 2 lộ dây 220KV và 11 lộ dây 110KV, tổngcộng công suất cực đại hiện đang cung cấp là 187 KW, trong đó công suất cung cấpcho các phụ tải trên địa bàn tỉnh khoảng 60 – 120 MW còn lại là cấp cho các tỉnhlân cận Mạng lưới điện được cung cấp cho toàn bộ các xã trong tỉnh, đảm bảo100% các xã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Dịch vụ điện thoại: Nhìn chung mạng điện thoại và số máy cố định tăng vớitốc độ nhanh Năm 2006 có 100% xã, phường có điện thoại cố định; bình quân điệnthoại cố định là 8,32 máy/100 dân Dịch vụ điện thoại cũng tăng nhanh, năm 2006

có 36.297 thuê bao di động, bình quân 3,94 máy/100 dân Vùng phủ sóng mở rộngđến các khu vực kể cả miền núi Toàn tỉnh có 86 trạm thu phát sóng của các mạng

di động Năm 2007 số thuê bao trung bình 100 dân là 27,02; trong đó số thuê bao cốđịnh bình quân 100 dân là 12,53

Dịch vụ Internet được ngành thông tin truyền thông của tỉnh chú trọng pháttriển Mạng Internet băng rộng phát triển thay cho băng hẹp, chất lượng đườngtruyền được cải thiện Năm 2006 toàn tỉnh có 1.253 thuê bao Internet, bình quân0,14 thuê bao/dân, triển khai 33 điểm Internet công cộng đến các bưu cục và bưuđiện xã

2.1.3.3 Giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao

Hiện nay 100% xã có trạm y tế với gần 52% trong số đó có bác sĩ và khoảng60% xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về chuẩn y tế, bình quân 6 bác sĩ/1 vạn dân

Ninh Bình hiện có 77,9% số trường tiểu học đạt tiêu chuẩn quốc gia, đứngthứ 15 về đạt phổ thông trung học cơ sở và đứng thứ 16 về phổ thông trung học của

cả nước Tỉnh có nhiều trường và trung tâm dạy nghề có chất lượng cao đáp ứngđược nhu cầu việc làm của tỉnh

Trang 28

Trên địa bàn tỉnh có 100% số xã có nhà văn hóa – bưu điện, 61% số hộ giađình đạt gia đình văn hóa và 60% cơ quan đạt cơ quan văn hóa.

2.1.4 Tình hình kinh tế xã hội

Ninh bình có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, bình quân giai đoạn 2001 –

2007 tăng trưởng kinh tế đạt 13,3%/năm Cơ cấu kinh tế đã và đang chuyyenr dịchtích cực theo hướng công nghiệp hóa Tuy nhiên, mức chuyển dịch vẫn còn chậm

so với cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng nhưng khoảng cách dần được thuhẹp Bình quân GDP/người năm 2007 gấp 2,3 lần năm 2001, đạt 4,7 triệu đồng,băng khoảng 87% so với mức trung nình của cả nước và gần bằng 63% mứcchung của đồng bằng sông Hồng Điều này cho thấy mức sống của người dântrên địa bàn tỉnh thấp hơn mức sống chung của người dân của cả nước, cũng nhưcủa khu vực sông Hồng

Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiên và nâng cao Tỷ lệ hộ nghèogiảm từ 11,5% năm 2001 (theo chuẩn nghèo cũ) xuống 11% năm 2007 (theochuẩn nghèo mới), tuy nhiên tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao của khu vực đồng bằngsông Hồng

Đánh giá chung về thuận lợi và khó khăn của tỉnh Ninh Bình

Những thuận lợi

Đường lối đổi mới, mở cửa của đất nước ngày càng được nhiều kết quả tốtđẹp, Ninh Bình đã nắm bắt thời cơ, kịp thời phát triển kinh tế xã hội thu được kếtquả khá tốt đẹp Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong 5 năm vừa qua đạt gần 12%

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, có một số sản phẩm chủ lực có vịthế trên thị trường

Kết cấu hạ tầng được cải thiện, đặc biệt giao thông là đầu nối giữa NinhBình và trung tâm kinh tế của cả nước Ninh Bình là tỉnh có nhiều tài nguyênthiên nhiên tương đối phong phú, đây là cơ sở phát tiển các sản phẩm chủ lực cósức cạnh tranh cao

Ninh Bình có tiềm năng du lịch độc đáo với hạ tầng du lịch đang dần đượchoàn thiện đang tạo ra một lợi thế rất lớn cho Ninh Bình phát triển du lịch

Những khó khăn

So với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình vẫn là tỉnhnghèo, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, GDP/người thấp và thu chi ngân sách không cân đối

Trang 29

Công nghiệp và du lịch phát triển mạnh nhưng chưa được khai thác hết tiềmnăng do nguồn nhân lực còn hạn chế, điều kiện kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập,các mặt hàng với quy mô nhỏ bé chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế Các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh nhỏ bé nên khả năng thu hút, huy độngvốn đầu tư thấp không đáp ứng được yêu cầu phát triển và đổi mới công nghệ Hiệnnay các doanh nghiệp có năng suất lao động thấp và vẫn còn tình trạng dư thừa lãngphí thời gian trong công việc, thể hiện tác phong công nghiệp chưa cao

2.1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2009

2.1.2.1 Quy mô và tốc độ phát triển của công nghiệp

Giai đoạn 2005-2009, công nghiệp tỉnh Ninh Bình đã đóng góp một phầnkhông nhỏ trong việc tạo ra thu nhập cho nền kinh tế cũng như góp phần nâng cao

và ổn định cuộc sống cho nhân dân Điều này đươc thể hiện qua sự đóng góp củangành công nghiệp vào thu nhập của toàn nền kinh tế, năm 2005 giá trị sản phẩmngành công nghiệp đạt 1093 tỷ đồng chiếm 32,18% trong tổng giá trị gia tăng củatoàn nền kinh tế, đến năm 2009 tổng giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp đãtăng lên nhanh chóng và đạt 2592 tỷ đồng đóng góp 41,6% trong GDP củatỉnh.Trong cả giai đoạn này, ngành công nghiệp đã tạo ra cho nền kinh tế 8308 tỷđồng Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy vai trò chủ đạo của ngành côngnghiệp trong việc tạo ra thu nhập cho nền kinh tế Điều này có thể thấy rõ trongbảng số liệu sau:

Bảng 1: Giá trị gia tăng ngành công nghiệp giai đoạn 2005 - 2009

Trang 30

Trung bình giai đoạn 2005-2009, ngành công nghiệp tăng trung bình23,03%/năm Đạt được kết quả này có thể thấy được những lỗ lực của tỉnh cũngnhư các đơn vị sản xuất trong việc thực hiện các mục tiêu về phát triển công nghiệp;trong thời gian qua, tỉnh đã thực hiện khá tốt mục tiêu huy động nguồn lực ưu tiênphát triển công nghiệp theo hướng tập trung vào những sản phẩm có ưu thế cạnhtranh, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trở thành mũi nhọn và xi măng, thép

là sản sản phẩm chủ yếu

Xét về mặt giá trị sản xuất, công nghiệp tỉnh Ninh Bình đã có những bướctiến đáng kể Năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 3048 tỷ đồng và tăng nhanhđạt 7289 tỷ đồng vào năm 2009, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2005-2009

là 24,35%, cao hơn mức tăng của giá trị sản xuất toàn nền kinh tế là 19,43%/năm,như vậy có thế thấy được ngành công nghiệp luôn là ngành có vị trí quan trọngtrong việc tạo ra những bước phát triển quan trọng của toàn nền kinh tế Giá trị sảnxuất ngành công nghiệp trong giai đoạn 2005-2009 luôn có mức tăng trưởng cao,giá trị của năm sau cao hơn năm trước; tổng giá tri thưc hiện trong giai đoạn là23.885 tỷ đồng góp chiếm 42,6% trong tổng giá tri của nền kinh tế Mức tăngtrưởng của ngành công nghiệp không ổn định qua các năm và đạt cao nhất vào năm

2005 là 52%, trong năm 2006 và 2007 do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàncầu, tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành có xu hướng giảm xuống; tuy nhiên đếnnăm 2008, tốc độ tăng trưởng đã có dấu hiệu hồi phục và đạt 45,6% Nguyên nhân

là tỉnh đã chú trọng phát triển các ngành công nghiệp một cách hợp lý, công nghiệpkhai thác và công nghiệp chế biến đạt tốc độ gia tăng cao lần lượt là 56,79% và44,8% so với năm 2007 Tương quan về tăng trưởng giá trị sản xuất nền kinh tế vàngành công nghiệp trong giai đoạn 2005-2009 được thể hiện qua biểu đồ sau:

Trang 31

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nền kinh tế và ngành công

nghiệp giai đoạn 2005 - 2009

52

45.6

24.07 21.56

16.01 16.26

32.72

22.7 15.8

15.6

0 10 20 30 40 50 60

2005 2006 2007 2008 2009

Năm

GTSX toàn KT GTSX ngành CN

Qua đồ thị ta thấy tốc độ tăng GO toàn nền kinh tế có xu hướng ổn định hơn

so với tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp do đó trong giai đoạn2005-2009 tỷ trọng của ngành công nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của nền kinh

tế không ổn định mà biến động theo ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế

2.1.2.2 Cơ cấu của ngành công nghiệp

Có thể nói đạt được những kết quả như trên là do ngành công nghiệp đã có

sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành theo hướng hiện đại và phù hợp với lợithế cạnh tranh của tỉnh

Về cơ cấu ngành công nghiệp phân theo thành phần kinh tế

Trong giai đoạn 2005-2009, các thành phần kinh tế trong ngành đóng gópvào gia trị sản xuất công nghiệp có sự chuyển biến rõ rệt Khu vực kinh tế nhà nướcđóng góp 1730 tỷ đồng giá trị sản xuất, tương ứng là 56,78% vào tổng giá trị năm

2005, năm 2009 giá trị này tăng lên là 2086 tỷ đồng, tuy nhiên tỷ trọng lại giảmxuống là 28,65% Thay vào đó khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tưnước ngoài lại tăng trưởng nhanh chóng cả về mặt số lượng cũng như tỷ trọngchiếm trong giá trị sản xuất của toàn nền kinh tế; năm 2006 khu vực ngoài nhà nước

đã tạo ra 1743 tỷ đồng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 3371 tỷ đồng

Trang 32

Biểu đồ 2: cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp theo thành phần

2007 Điều này ta có thê thấy rõ trong bảng sau:

Bảng 2 : Giá tri sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế trên

địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005-2009

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình

Trong đó, khu vực ngoài quốc doanh có sự gia tăng nhanh và ổn định hơn sovới khu vực nhà nước Điều này có thể cho thấy tính năng động và hiệu quả của khuvực tư nhân và cơ chế quản lý của tỉnh đã có tác dụng rõ nét trong việc thu hút đầu

tư trong lĩnh vực công nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân; phát huy được thếmạnh về lợi thế so sánh của tỉnh Tuy nhiên, từ phân tích trên ta cũng thấy đượcnhững yếu kém trong việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vàosản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Về sự phát triển các ngành công nghiệp phân theo nhóm ngành cấp I

Trang 33

Trong giai đoạn 2005 – 2009, ngành công nghiệp tỉnh Ninh Bình đã cónhững chuyển biến tích cực về giá trị sản xuất của các ngành kinh tế, ta có thể thấy

rõ qua bảng số liệu sau:

Bảng 3: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

giai đoạn 2005 - 2009 phân theo ngành cấp I

Điện, ga, nước 378 349 336 373 374

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2008

Như vậy, có thể thấy giá trị sản xuất các ngành công nghiệp khai thác vàcông nghiệp chế biến có xu hướng tăng lên qua các năm, ngành công nghiệp sảnxuất và phân phối điên, ga, nước và khí đốt có xu hướng giảm nhẹ Ninh Bình làtỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến do có nhiềuloại khoáng sản có giá trị kinh tế, do đó công nghiệp chế biến luôn đóng góp một tỷ

lệ rất lớn trong tổng giá trị sản xuất, năm 2005 ngành đạt 2542 tỷ đồng chiếm83,4% tổng GO tỉnh, năm 2009 tỷ trọng này tăng lên là 89,64% với 6534 tỷ đồnggiá trị; tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến trung bình trong giaiđoạn là 26,62%/năm Tuy có xu hướng tăng nhanh và đạt tốc độ tăng giá trị sảnxuất trung bình là 31,3% nhưng ngành công nghiệp khai thác là ngành có giá trị sảnxuất thấp nhất trong 3 ngành, tổng giá trị sản xuất trong 5 năm đạt 982 tỷ đồng chỉchiếm 4,1% tổng giá trị của nền kinh tế Ngành công nghiệp được điện, ga, nước có

xu hướng giảm nhẹ về giá trị sản xuất từ 378 tỷ đồng năm 2005 xuống còn 374 tỷđồng vào năm 2009 Ta có thể thấy được sự phát triển của các ngành công nghiệpchưa thực sự phát triển theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, chưa phản ánh được

xu hướng chuyển dịch vững chắc và lâu dài của ngành công nghiệp

Ngày đăng: 02/05/2014, 12:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 của tỉnh Ninh Bình Khác
2. Báo cáo: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình năm 2009 Khác
3. . Báo cáo tóm tắt: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 Khác
4. Giáo trình: Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội – Chủ biên PGS.TS Ngô Thắng Lợi. Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
5. Giáo trình: Kinh tế phát triển – Chủ biên GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng. Nhà xuất bản Lao Động và Xã Hội Khác
6. Giáo trình: Kinh tế và quản lý công nghiệp – Chủ biên GS.TS Nguyễn Đình Phan và GS.TS Nguyễn Kế Tuấn. Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
8. Tóm tắt quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Khác
9. Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình đến năm 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Mối quan hệ giữa các hoạt động khai thác, chế biến và sửa chữa công nghiệp - định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh ninh bình giai đoạn 2010 - 2015
i quan hệ giữa các hoạt động khai thác, chế biến và sửa chữa công nghiệp (Trang 5)
Bảng 1: Giá trị gia tăng ngành công nghiệp giai đoạn 2005 - 2009 - định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh ninh bình giai đoạn 2010 - 2015
Bảng 1 Giá trị gia tăng ngành công nghiệp giai đoạn 2005 - 2009 (Trang 29)
Bảng 2 : Giá tri sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế trên  địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005-2009 - định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh ninh bình giai đoạn 2010 - 2015
Bảng 2 Giá tri sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005-2009 (Trang 32)
Bảng 3: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình  giai đoạn 2005 - 2009 phân theo ngành cấp I - định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh ninh bình giai đoạn 2010 - 2015
Bảng 3 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2009 phân theo ngành cấp I (Trang 33)
Bảng 4: Giá trị sản xuất và tốc đọ tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp  khai thác giai đoạn 2005-2009 - định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh ninh bình giai đoạn 2010 - 2015
Bảng 4 Giá trị sản xuất và tốc đọ tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai thác giai đoạn 2005-2009 (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w