1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên

41 690 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Trường học Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên - http://www.vsttynguyen.org.vn
Chuyên ngành Sinh vật học, Bảo tồn đa dạng sinh học
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Gia Lai
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phát hiện, bổ sung 69 loài ngoại ký sinh, đưa thành phần loài NKS ở Tây Nguyên lờn tổng số 143 loài, thuộc 41 giống 14 họ, 3 bộ Siphonaptera, Acarina và Diptera; trong đó 21 loài có kh

Trang 1

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TÂY NGUYÊN

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIA LAI

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP TỈNH

ĐIỀU TRA BỔ SUNG THÀNH PHẦN LOÀI NGOẠI KÝ SINH (ECTOPARASITE)

Trang 2

Phần A - TểM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỖI BẬT CỦA ĐỀ TÀI

1 Kết quả nỗi bật của đề tài

a- Đóng góp mới của đề tài:

- Đã điều tra, bổ sung 69 loài ngoại ký sinh (NKS), đưa thành phần loài ngoại ký sinh ở Tây Nguyên lên tổng số 143 loài, thuộc 41 giống 14 họ,

3 bộ (Siphonaptera, Acarina và Diptera); trong đó 21 loài có vai trò

truyền và lưu giữ mầm bệnh Có thể đây là danh sách thành phần loài NKS đầy đủ nhất so với trước, giúp cho việc tra cứu, tham khảo về ngoại ký sinh ở địa bàn Tây Nguyên

- Bổ sung địa điểm điều tra và vật chủ của các loài NKS ở Tây Nguyên

- Bổ sung hơn 5.000 mẫu vật NKS cho bảo tàng Côn trùng-Động Vật của viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên

- Đó bổ sung 4 loài mới cho khu hệ ngoại ký sinh Tõy Nguyờn: 1 loài ve

Ixodes pilosus Koch, 1844 ; 2 loài mũ Neoschoengastia americana hexastenosetosa (Hirst, 1921) và Odontacarus audyi (Radford, 1946)

và 1loài mạt Laelaps (Laelaps) edwardsi Doan, 1969

- Đó tu chỉnh 14 loài, gồm 1 loài bọ chột, 5 loài ve và 8 loài mũ

- Còn 6 loài ngoại ký sinh chưa đủ tài liệu để xác định tên khoa học, đây

có thể là những loài mới cho Việt Nam và cho khoa học; gồm 2 loài bọ

chét (Macrostyllophora sp 1 , Macrostyllophora sp 2), 1 loài ve

(Amblyomma sp.), 1 loài mò (Helenicula sp.) và 3 loài mạt

(Haemolaelaps sp., Laelaps sp và Macrocheles sp.)

b- Kết quả cụ thể (các sản phẩm cụ thể)

- Từ năm 2002-2004, đã tổ chức 8 đợt điều tra thu thập ngoại ký sinh ở

17 điểm thuộc 14 huyện, 5 tỉnh Tây Nguyên

- Để thu thập ngoại ký sinh, đó sưu tầm nghiờn cứu 754 cỏ thể động vật nuụi thuộc 8 loài (trõu, bũ, chú, mốo, thỏ, dờ, gà, bồ cõu), 630 cỏ thể chim thỳ hoang dại, thuộc 19 loài, 10 bộ và 556 giỏ thể tự nhiờn (gồm

Trang 3

chung ở địa bàn Tõy Nguyờn là 72,4%; trong đú động vật hoang dại nhiễm cao nhất (80,9%), động vật nuụi nhiễm 69,0% và giỏ thể, hang

tổ nhiễm 67,4%

- Đó thu thập được 5.346 cỏ thể ngoại ký sinh gồm: 1.716 chột, 1.571 ve, 1.122 ấu trựng mũ và 707 cỏ thể mạt Kết quả phõn tớch xử lý số lớn mẫu vật điều tra đó xỏc định được 65 loài, trong đú cú 6 loài bọ chột, thuộc 5 giống, 3 họ; 15 loài ve, thuộc 6 giống, 1 họ; 26 loài, thuộc 9 giống, 1 họ và 18 loài mạt, thuộc 9 giống, 4 họ Đặc biệt đó phỏt hiện

và bổ sung 4 loài mới ở khu vực Tõy Nguyờn

- Phát hiện, bổ sung 69 loài ngoại ký sinh, đưa thành phần loài NKS ở Tây Nguyên lờn tổng số 143 loài, thuộc 41 giống 14 họ, 3 bộ

(Siphonaptera, Acarina và Diptera); trong đó 21 loài có khả năng

truyền và lưu giữ một số mầm bệnh

- Đó bổ sung 4 loài mới cho khu hệ ngoại ký sinh Tõy Nguyờn: 1 loài ve

Ixodes pilosus Koch, 1844 ; 2 loài mũ Neoschoengastia americana hexastenosetosa (Hirst, 1921) và Odontacarus audyi (Radford, 1946)

và 1loài mạt Laelaps (Laelaps) edwardsi Doan, 1969

- Đó tu chỉnh 14 loài, gồm 1 loài bọ chột, 5 loài ve và 8 loài mũ

- Cú 6 loài chưa xỏc định tờn khoa học, đú cú thể là những loài mới cho Việt Nam và cho khoa học

c Hiệu quả về đào tạo:

- Đã trao đổi kỹ thuật điều tra nghiên cứu ngoại ký sinh cho một số cán

bộ địa phương cùng kết hợp công tác

- Cung cấp hơn 5 000 mẫu vật cho bảo tàng côn trùng động vật của Viện

Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên, để phuc vụ công tác nghiên cứu và đào tạo

d Hiệu quả về kinh tế

- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng cho chương trình phòng chống một

số dịch bệnh như dịch hạch, sốt mò sẽ tiết kiệm được kinh phí và thời gian điều tra cơ bản về véc tơ

Trang 4

2 áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội

- Ban quản lý vườn Quốc gia và công ty du lịch địa phương có thể tham khảo kết quả nghiên cứu này để có biện pháp phòng ngừa sự tấn công của các chân đốt y học đối với khách du lịch khi tham gia du lịch sinh thái

- Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 21 loài có khả năng truyền và lưu giữ một

số mầm bệnh như loài bọ chét Xenopsylla cheopis, mò Leptotrombicula

deliense…

3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã

được phê duyệt

a- Tiến độ thực hiện:

- Thực hiện đúng tiến độ đã đề ra

- Đã thực hiện đầy đủ các mục tiêu đã đề ra trong đề cương

- Các sản phẩm tạo ra đúng với dự kiến của bản đề cương

b- Đánh giá sử dụng kinh phí:

- Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 150 triệu đồng

- Trong đó kinh phí sự nghiệp khoa học: 150 triệu đồng

- Kinh phí từ nguồn khác: Không

4 Các ý kiến đề xuất

- Tiếp tục điều tra bổ sung về thành phần loài ngoại ký sinh Trước hết cần điều tra tại cỏc khu Bảo tồn Thiờn nhiờn và Vườn Quốc gia Đặc biệt những nơi cú triển vọng trở thành khu du lịch sinh thỏi ở địa bàn Tõy Nguyờn

Trang 5

PHẤN B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tây Nguyên có diện tích rộng lớn (44.709,7 km2) chiếm 13,38% diện tích cả nước; dân số hơn ba triệu người, mật độ 69 người / km2 [18], độ cao trung bình 500-1500m Do điều kiện địa hình phức tạp, khí hậu đa dạng, trước đây Tây Nguyên là nơi có khu hệ và trữ lượng động, thực vật phong phú nhất cả nước, và nơi đây cũng “là vùng lưu hành nhiều loại dịch bệnh do ngoại ký sinh lan truyền như dịch hạch, sốt mò” [1] Trong đó bệnh dịch hạch là mối đe doạ sức khỏe và tính mạng của cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên lớn nhất, đặc biệt vào thời

kỳ từ 1963-1990 Bệnh dịch hạch xâm nhập vào Tây Nguyên từ năm 1944, nhưng từ năm 1963- 1975 dịch xẩy ra trên khắp địa bàn Từ năm 1976- 1982 tại các tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai và Kon Tum tỷ lệ mắc bệnh dịch hạch là 200-500 /100.000 dân [13,15]

Song song với việc phòng chống dịch bệnh, đã có hàng chục công trình điều tra nghiên cứu chân khớp y học, đặc biệt là nhóm Ngoại ký sinh như bọ chét, ve,

mò, mạt truyền bệnh, của các cơ quan chuyên môn như Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, Viện Sốt rét- KST-CTTƯ, học Viện Quân y và Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh Các công trình nghiên cứu được tiến hành trong nhiều năm theo phương pháp chuẩn quốc gia và quốc tế, kết quả đã góp phần tích cực vào việc phòng chống các bệnh dịch, trước hết là dịch hạch trên địa bàn Tây Nguyên Trong số các công trình nghiên cứu về ngoại ký sinh ở Tây Nguyên, thì công trình nghiên cứu phối hợp giữa Viện Sốt rét- KST-CTTƯ với Viện VSDT Tây Nguyên, từ năm 1976-1985, tại các tỉnh: Đăk Lăk (nay là Đăk Nông và Đăk Lăk), Gia Lai- Kon Tum (nay là tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum) và tỉnh Lâm Đồng là công trình đã giới thiệu được nhiều nhóm NKS với thành phần loài khá phong phú [10] Tuy nhiên do điều kiên thời gian, kinh phí, những loài NKS đã được phát hiện và xác định chưa phản ảnh đầy đủ thực trạng và mức độ phong phú về thành phần loài của chúng ở khu vực Tây Nguyên

Là địa bàn kinh tế quan trọng của cả nước, Tây Nguyên còn có những khu rừng nguyên sinh, những vườn Quốc gia rộng lớn như Yók Đôn (58.200ha), Chư Yang Sin (59.278ha), Kon Ka Kinh (41.710ha), Cát Tiên (74.937ha); khu Bảo

tồn Thiên nhiên Easô v v…[36] là một trong những địa danh du lịch sinh thái

hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước và cũng chính là địa danh còn ẩn chứa nhiều loài sinh vật quí hiếm Đồng thời, trong đó còn ẩn chứa những loài NKS

có vai trò truyền dịch bệnh cho con người Vì vậy, việc điều tra nghiên cứu bổ sung thành phần loài của chân đốt y học nói chung và ngoại ký sinh nói riêng ở Tây Nguyên là rất cần thiết, nhằm hoàn thiện danh sách thành phần loài, lập bản

đồ phân bố và phát hiện những loài ngoại ký sinh có vai trò truyền bệnh ở địa phương, làm cơ sở khoa học cho việc đề ra các biện pháp phòng chống thích hợp, góp phần bảo vệ sức khoẻ để phát triển kinh tế cho cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên

Trang 6

Được sự đồng ý của Bộ Y tế chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Điều tra bổ sung

thành phần loài của một số nhóm ngoại ký sinh ở Tây Nguyên” với mục tiêu:

1 Điều tra bổ sung và kiểm tra lại thành phần loài của một số nhóm ngoại ký sinh ở Tây Nguyên

2 Xây dựng bộ mẫu vật ngoại ký sinh của Tây Nguyên, phục vụ nghiên cứu

và đào tạo

Trang 7

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOẠI KÝ SINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

Chân khớp ngoại ký sinh bao gồm các nhóm thuộc lớp côn trùng (Insecta) như bọ chét (Siphonaptera), chấy rận (Anoplura), ăn lông (Mallophaga) và các nhóm chân khớp thuộc lớp nhện (Arachnida), mà chủ yếu các nhóm thuộc bộ ve bét (Acarina) như ve (Ixodoidea), mò (Trombiculidae), mạt (Gamasoidea) Đó là

những chân khớp có đời sống ký sinh bên ngoài cơ thể động vật và người, chúng

có ý nghĩa quan trọng về y học và thú y Bốn nhóm ngoại ký sinh được quan tâm nghiên cứu là Bọ chét, Ve, Mò và Mạt Chúng là véc tơ của nhiều dịch bệnh từ động vật hoang dại sang người Trên thế giới, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngoại ký sinh (Ectoparasites) Năm 1929, H E Ewing xuất bản cuốn “Sổ tay về ngoại ký sinh” (A manual of external parasites), gồm các

chương về mạt (Gamasoidea), ve (Ixodioidea), ăn lông (Mallophaga), chấy rận (Anoplura), bọ chét (Siphonaptera), Mò (Trombiculidae) [24] Năm 1958, E.W

Baker, C.E Yunker all, 1958 xuất bản cuốn chỉ dẫn tới các họ ve bét (Guide to families of mites) [22] Cho đến nay, đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu về các nhóm ngoại ký sinh được công bố trên thế giới

+ Bộ Bọ chét (Siphonaptera)

Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như Holaland G., Hohpkins

S G., Rothschild [30], Ioff I G , Mikulin I A., Scalon O I Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được 2000 loài16 họ (Balasov, 1982 ) [23] Trong đó 124 loài có khả năng truyền bệnh dịch hạch (Rann,1960) [34] Ngoài ra, bọ chét có thể truyền các tác nhân gây bệnh dịch khác như: sốt phát ban chuột, bệnh nhiễm

khuẩn Whitmori, bệnh Tulare, bệnh viêm não do ve, viêm màng não và các bệnh khác đồng thời là vật chủ trung gian trong mắt xích của bệnh Dipylidium

caninum và bệnh Dirofilaria immitas (Krashevich & Tarasov,1969) [30]

Ở Việt Nam cho đến nay đã tìm thấy 34 loài, trong đó loài Xenopsylla

cheopis truyền dịch hạch chủ yếu ở nước ta [20]

+ Liên họ Ve (Ixodoidea)

Người ta đã phát hiện được vai trò truyền bệnh của ve từ trước công nguyên Nhưng việc nghiên cứu về chúng mãi đến năm 1746 mới được Linnaeus thực hiện Ông đã phân loại và xác định tên khoa học cho một số loài ve như

Ixodes ricinus, Hyalomma aegyptium nhưng chưa sắp xếp thành hệ thống

Sang thế kỷ 19, nhiều nhà khoa học như Late (1804), Hermann (1804), Leach (1815), Von Heyden (1826) v.v mới phân chia thành một số giống, họ Cho

đến nay, trên thế giới đã phát hiện được 750 loài thuộc họ ve cứng (Ixodidae) và hơn 100 loài thuộc họ ve mềm (agasidae) [8] Các nước vùng Đông Nam Á cơ

bản đã hoàn thiện việc nghiên cứu về khu hệ Từ năm 1944, Toumanoff đã xác định ở Đông Dương có 40 loài, thuộc 10 giống [40] Các loài ve là vật chủ trung gian hoặc vật môi giới lan truyền các mầm bệnh ký sinh trùng hoặc các bệnh

Trang 8

truyền nhiễm nguy hiểm cho người, gia súc, gia cầm và các động vật hoang dã

như: bệnh sốt Q; bệnh Lyme; bệnh sốt phát ban do Rickettsia rickettsi, R

sibirica, R conori trong ve Rhipicephalus sanguineus, R australis, Rickettsia rhipicephali ở trong trứng của ve Rh sanguineus; bệnh Tularaemia; bệnh viêm

não vi rút do ve truyền (bệnh này thấy ở Liên Xô cũ, Trung Âu); bệnh rừng Kyasanur; bệnh sốt ve Colorado, bệnh sốt xuất huyết Crimia-Congo và các bệnh

vi rút khác

Ở Việt Nam, năm 2001, trong công trình “Động Vật chí Việt Nam”, tập 11-

Bộ ve bét- Acarina; các tác giả Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ, đã trình bày các khoá định loại và mô tả 65 loài và phân loài, thuộc 9 giống, 2 họ ve cứng và

ve mềm [8] Đây là một công trình mang tính tổng kết một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về các loài ve ở khắp lãnh thổ Việt Nam

Ở Việt Nam, B microplus là loài ve phổ biến với số lượng lớn, ký sinh trên

bò đã hút máu và truyền bệnh lê dạng trùng đã gây chết rất nhiều bò, bê ở trại chăn nuôi Phà Đen (1956); ở nông trường Đồng Giao, (1960) (Phan Trọng Cung

và cộng sự, 1977) Có nhiều loài ve tấn công cả người đi vào rừng săn bắn, khai thác lâm sản, gây lở loét, một số người bị sốt hoặc có triệu chứng lâm sàng co giật, hôn mê Cũng có thể nghĩ đến bệnh viêm não do ve mà người ta thường cho

là sốt rét, uốn ván Một số trại chăn nuôi chó nghiệp vụ, có thời gian ve Rh

sanguineus phát triển nhiều, bám dày đặc đã gây chết một số chó nghiệp vụ[8]

+ Họ Mò (Trombiculidae)

Có các công trình nghiên cứu của Ewing (1929), Wharton & Fuller (1951, 1952), Audy (1953), Brennan et Jameson (1959), Tamiya (1962), Cù Phong Y (1967), Nadchatram và Dohany (1974), Brennan vµ Goff (1977) v.v… Số lượng loài mò được phát hiện ngày càng nhiều Theo Nadchatram & Dohany 1974 [32],

họ Trombiculidae có khoảng 100 giống, 1900 loài đã được phát hiện trên thế

giới Vùng Đông Nam Á có có khoảng 50 giống và phân giống, 350 loài Đến năm 1977, Brennan và Goff thông báo trên thế giới đã phát hiện được 3 000 loài

Mò có khả năng truyền một số bệnh sang người, nguy hiểm nhất là bệnh

sốt mò (tsutsugamushi) hay sốt bụi rậm, sốt triền sông Nhật Bản Mầm bệnh là

Rickettsia tsutsugamushi hay R orientalis Bệnh phổ biến ở các nước Châu Á-

Thái Bình Dương (Kulagin & Tarashevich, 1972) Ngoài ra mò còn truyền một

số bệnh khác như sốt Q., sốt phát ban chuột, bệnh viêm thận do siêu vi trùng,

bệnh Plat-ma, bệnh viêm não rừng v.v ở nhiều nước (Kulagin et Tarashevic,

1972)[31]

Ở Việt Nam, trước năm 1954 chỉ biết 3 loài (Andre’, 1954a,b) Năm 1960 Shluger, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Xuân Hoè và Đỗ Kính Tùng đã công bố khu hệ

mò miền Bắc Việt Nam gồm 43 loài [36] N ăm 1970, Nguyễn Kim Bằng công

bố danh sách 56 loài mò ở Việt Nam [2] Năm 1994, Nguyễn Văn Châu công bố danh sách 106 loài [3] Tuy nhiên bệnh sốt mò được Noc Goutron mô tả từ năm

1915 ở Sài Gòn Từ đó đến năm 1964 bệnh xảy ra ở vùng trung du và rừng núi (Lagrange, 1923), đã có hàng nghìn người mắc và hàng trăm người chết ở các

Trang 9

năm 1964, bệnh sốt mò đã được tiếp tục phát hiện ở các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Đắk Lắk, Gia Lai v.v [1,2] Những năm gần đây, bệnh sốt mò được phát hiện ở Bắc Giang, Quảng Ninh (Nguyễn Văn Châu và Cs., 2001, 2003) [4,6]

+ Liên họ mạt (Gamasoidea)

Đầu thế kỷ 20, người ta mới phát hiện ra mạt đốt người và gây viêm da, sau

đó người ta phát hiện mạt có vai trò truyền một số vi rút Từ năm 1940 trở lại đây, tại nước Nga các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu các ổ bệnh thiên nhiên Vai trò của mạt được chú ý và có nhiều tài liệu về mối quan hệ của mạt với bệnh Tularemia, Rickettsia, sốt Q và Typus Từ năm 1950 trở đi có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại mạt ở các nước trên thế giới Đáng chú ý các công trình nghiên cứu của E W Baker & G Wharton, 1952; G W Krantz, 1960; R W Strandtmann, 1963; A D Perova, 1966, 1974; N G Bregetova &

B A Vainstein, 1977 Trên thế giới có khoảng 914 loài, thuộc 112 gống, 13 họ (Radovsky, 1969) [23]

Ở Vịêt Nam, đã phát hiện được 72 loài mạt thuộc 30 giống, 13 họ [8] Pavlovski (1949) đã khẳng định “ Mạt là trung tâm truyền các bệnh có tính chất

ổ dịch thiên nhiên ” Chúng lưu trữ các mầm bệnh khá lâu Đó là những ổ chứa

các mầm bệnh, đồng thời cũng là những vật môi giới lan truyền các mầm bệnh

Cho đến nay người ta đã biết có khoảng 35 loài mạt có liên quan tới bệnh tật

Trong số đó có 15 loài thuộc giống Dermanyssus, 10 loài thuộc giống Laelaps, 5 loài thuộc giống Pneumanyssus Bệnh viêm da (dermatis) liên quan với các loài

Dermanyssus gallinae, Ornithonyssus bursa, O bacoti Bệnh viêm não ngựa

phương Tây liên quan với loài O bursa Bệnh viêm não rừng liên quan với loài

Eulaelaps stabularis Bệnh đậu do Rickettsia liên quan với loài O bacoti Bệnh

sốt phát ban liên quan với O bacoti và Laelaps echidninus…O bacoti truyền bệnh sốt Q-Rickettsia burneti trực tiếp từ gia súc sang người và truyền

Pasteurella pestis từ chuột sang chuột qua thực nghiệm [17]

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOẠI KÝ SINH Ở TÂY NGUYÊN

Tây Nguyên trước đây được coi là nơi có khu hệ và trữ lượng động, thực vật phong phú nhất cả nước Do đó, từ lâu việc điều tra nghiên cứu về tiết túc y học nói chung và ngoại ký sinh nói riêng ở Tây Nguyên đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm

Năm 1918, C Boden Kloss đã tiến hành điều tra thu thập bọ chét tại Cao Nguyên Lang Bian thuộc tỉnh Lâm Đồng Ông đã thu được một số mẫu vật bọ

chét từ chuột Rattus bowersi Những mẫu vật này đã được Jordan mô tả và xác định tên khoa học vào năm 1931, gồm 2 loài: Neosopsylla avida Jordan, 1931 và

Neopsylla tricata Jordan, 1931 Đây là 2 loài bọ chét đặc hữu của Việt Nam và là

loài mới cho khoa học[27]

Năm 1944, Toumanoff đã tiến hành nghiên cứu ve ở Đông Dương và đã

xuất bản cuốn Ve (Ixodoidea) ở Đông Dương [Les Ticques- (Ixodoidea) de L’

indochine]; gồm 9 giống, 39 loài ve cứng và 1 loài ve mềm[40] Việc điều tra thu

Trang 10

thập mẫu vật ngoại ký sinh ở Tây Nguyên chủ yếu vào thời gian trước năm 1964; sau đó, do chiến tranh nên các nghiên cứu bị gián đoạn

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, việc điều tra nghiên cứu về tiết túc y học ở Tây Nguyên được quan tâm đặc biệt Vì trên địa bàn Tây Nguyên ngay sau chiến tranh (30/4/1975), các dịch bệnh như bệnh sốt rét, dịch hạch và sốt xuất huyết hoành hành hầu khắp nơi, hằng năm cướp đi hàng trăm sinh mạng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.Trước tình hình đó, ngày 22 tháng 10 năm

1975, Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên được thành lập theo quyết định số

480/BYT-QĐ Chức năng nhiệm vụ đầu tiên của Viện là: “Điều tra, nghiên cứu

tình hình dịch tễ, các bệnh xã hội, trọng tâm là các bệnh dịch nguy hiểm và bệnh sốt rét ở Tây Nguyên; trên cơ sở đó tổ chức thí điểm các biện pháp phòng chống

có hiệu lực, thích hợp với tình hình thực tế của địa phương nhằm trước mắt hạn chế số người mắc, tỷ lệ tử vong và đề xuất một kế hoạch tấn công tiêu diệt hoặc ngăn ngừa các bệnh dịch đó sau này”[21] Từ năm 1976-1980, tỷ lệ mắc bệnh

dịch hạch so với các bệnh khác chỉ chiếm 1,34%, nhưng tỷ lệ tử vong chiếm 15,1% Vì vậy, những năm sau đó bên cạnh những công trình nghiên cứu về các lĩnh vực dịch tễ học, vi sinh dịch hạch đã có hàng chục công trình nghiên cứu về côn trùng, động vật được tiến hành trên địa bàn Tây Nguyên của Viện Vệ sinh Dịch Tễ Tây Nguyên, Viện Sốt rét-KST-CT TƯ, Học Viện Quân Y và Trung Tâm Y học dự phòng của các tỉnh ở Tây Nguyên

Từ năm 1983 đến 1995 có một số công trình nghiên cứu về bọ chét, ngoại

ký sinh của các tác gỉả: Đặng Tuấn Đạt, Lý Thị Vi Hương, Nguyễn Ái Phương, Sunsov Điển hình như: “ Kết quả điều tra thành Phần loài côn trùng y học ở Tây Nguyên 1976-1990, Lý Thị Vi Hương, Đặng Tuấn Đạt, Nguyễn Ái Phương

và Cs, 1991”; “Khu hệ ngoại ký sinh hai tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lák và Gia Lai - Kon Tum), Đỗ Sĩ Hiển, Nguyễn Thu Vân, Nguyễn Văn Châu, Đặng Tuấn Đạt,

Lý Thị Vi Hương và Cs., 1979 Đến năm 1995, ở Tây Nguyên đã phát hiện được

13 loài bọ chét, thuộc 10 giống [12] Các công trình nghiên cứu về bọ chét ở Tây Nguyên đã góp phần đáng kể vào việc phòng chống véc tơ truyền bệnh trong đó

có bệnh dịch hạch ở địa phương

Để tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu tiết túc y học ở Tây Nguyên trong

nhiều năm, một báo cáo về “Khu hệ Ngoại ký sinh (Ectoparasite), côn trùng y

học ở Tây Nguyên và vai trò dịch tễ học của chúng” đã được trình bày tại Hội nghị Côn Trùng toàn quốc lần thứ 4 tại Hà Nội vào tháng 4-2002, của tập thể tác giả: Đặng Tuấn Đạt, Nguyễn Ái Phương, Lý Thị Vi Hương và Cs Các tác giả đã

tổng kết, trên địa bàn Tây Nguyên có 13 loài bọ chét (Aphaniptera), 26 loài ve (Ixodidae), 30 loài mò (Trombiculidae) và 22 loài mạt (Gamasoidea)[10] Có thể

coi đây là công bố mới nhất về thành phần loài ngoại ký sinh ở Tây Nguyên

Trang 11

III THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian nghiên cứu:

Đề tài được tiến hành từ năm 2002 đến năm 2005 Mỗi năm tiến hành điều tra

hai đợt, vào hai mùa (mùa khô và mùa mưa) Mỗi đợt 2 – 3 điểm, tại mỗi điểm điều tra từ 7 - 10 ngày

3.2 Địa điểm nghiên cứu:

Bảng 1 : Các điểm điều tra nghiên cứu

1 Khu BTTN Kon Ka Kinh, huyện Mang Yang

2 Xã Iadom, huyện Đức Cơ GIA LAI

3 Xã Văn Lem, huyện Đắk Tô

4 Xã Đắk Sú, huyện Ngọc Hồi

5 Xã Đắk Pek, huyện Đắk Glei

6 Xã Hoà Bình, thị xã Kon Tum

KON TUM

7 Khu BTTN Easô, huyện Eaka

8 Xã Eapốc, huyện Cư M’Gar

9 Xã Eawer, huyện Buôn Đôn

10 Vườn Quốc gia Yókdon, huyện Buôn Đôn

11 Xã Krông Jing, huyện M’ Đrắk

12 Khu BTTN Chư Yang Sin, huyện Krông Bông

13 Khu vực hoang dã và bán hoang dã, huyện Lắk*

ĐẮK LẮ K

14 Buôn Choah xã Đắk So, huyện Krông Nô

15 Xã Đắk Rồ, huyện Krông Nô ĐẮK NÔNG

16 Xã Tiên Hoàng, huyện Cát Tiên

17 Một số điểm rải rác ở Huyện Lâm Hà LÂM ĐỒNG Ghi ch ú: * : Các động vật ở trạm cứu hộ bị lâm tặc săn bắt từ huyện Lắk và Krông Bông (không rõ ở xã nào)

Bảng 1là tên các địa điểm nghiên cứu NKS trong năm 2002-2004, bao gồm

17 điểm, thuộc 14 huyện, 5 tỉnh Mỗi tỉnh chọn ít nhất 2 điểm, ưu tiên các điểm trước đây chưa điều tra tiết túc y học và những điểm thuộc các khu Bảo tồn Thiên nhiên và vườn Quốc gia, vì ở đây rừng được bảo vệ, thành phần loài vật chủ của ngoại ký sinh còn khá phong phú

Một số yếu tố tự nhiên và khí hậu ở Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng núi cao rộng lớn của Trung Bộ, thuộc sườn phía tây của dãy Trường Sơn nằm khoảng 11044’ đến 15026’ vĩ độ Bắc, 107015 đến 108050’

độ kinh Đông Tây Nguyên hiện nay gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Phía Bắc giáp Quảng Nam, Đà Nẵng, đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi đến Bình Thuận, Nam giáp Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước

Trang 12

Tây giáp Lào và Cam Pu Chia Khí hậu ở đây chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa khô

và mùa mưa Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ giữa tháng

4 đến tháng 10 Nhiệt độ dao động từ 180 – 300C tuỳ thuộc theo mùa và độ cao

so với mặt nước biển của từng vùng địa lý tự nhiên (từ 500m đến 1500m )

Khu hệ động thực vật ở Tây Nguyên trước đây rất phong phú, có tới 3600 loài thực vật, 689 loài động vật có xương sống trong đó có 40 loài thuộc bộ gậm

Dân cư có nhiều dân tộc ít người khác nhau đáng chú ý là 12 dân tộc sống lâu đời ở đây như: ÊĐê, K’Ho, Mạ, X’Tiêng, M’nông, Gia Rai, Ba Na, Giẻ, Bru…ngoài ra còn có số đông người đồng bào kinh và một số người dân tộc phía Bắc vào sinh sống từ nhiều năm nay[10]

Ngày nay, ngoài những khu Bảo tồn Thiên nhiên và vườn Quốc gia thì động thực vật ở Tây Nguyên hầu như bị cạn kiệt do rừng suy thái nặng nề, do tác động khai phá của con người; rừng chỉ còn những nơi địa hình hiểm trở, khó khăn Đặc biệt ở những vùng núi cao dốc đứng thì còn giữ được những khoảng rừng (Kuznetsov G v et al., 1998) Ước tính khoảng 70% diện tích đất rừng của Tây Nguyên đã trở thành đất canh tác, để trồng các cây công nghiệp như cà phê, cao

su, chè… Thảm thực vật thay đổi, độ che phủ kém làm cho độ ẩm của đất giảm; các loài động vật là vật chủ của ngoại ký sinh kể cả chuột khan hiếm, điều đó ảnh hưởng đến thành phần loài ngoại ký sinh

Khí hậu là một trong các yếu tố môi trường có tác động đến sự phân bố của nhiều loài ngoại ký sinh Theo Lê Bá Thảo (1977), từ Kon Tum đến Pleiku, Buôn Ma Thuột đến M’drăk, lượng mưa trung bình trên dưới 2000ml, số ngày mưa chiếm 130 đến 170 ngày trong năm; nhiệt độ trung bình năm 23-250C Một

số yếu tố khí hậu những năm gần đây Tây Nguyên có sự thay đổi đáng kể lượng mưa trung bình hằng năm thất thường có chiều hướng giảm dần nhiệt độ trung bình năm ở các tỉnh từ năm 2000- 2004 tăng không đáng kể (0,1- 0,3 0C); nhưng

độ ẩm giảm từ 1-6% và lượng mưa trung bình năm giảm từ 400 - 1000ml Ví dụ lượng mưa ở Đăk Lăk năm 2000 là 2379,1 ml thì năm 2004 là 1379,2 ml (giảm 1000ml) (bảng 1phụ lục)

Trang 13

Xã Văn Lem

Hình 1 : Vị trí các điểm NC ngoại ký sinh ở Tây Nguyên 2002-2004

: Điểm nghiên cứu

Trang 14

3.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các nhóm ngoại ký sinh: bộ bọ chét (Siphonaptera), liên họ ve (Ixodoidea), họ mò (Trombiculidae) và liên họ mạt (Gamasoidea)

- Vật chủ cần thu thập và kiểm tra NKS :

+ Động vật hoang dã (chủ yếu là gậm nhấm)

+ Động vật nuôi (gia súc và gia cầm)

+ Các loại giá thể khác: hang, tổ động vật, đất, rác…

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Điều tra cắt ngang, phân tích mô tả

Áp dụng thường qui kỹ thuật thu, thập xử lý ngoại ký sinh của Viện Sốt rét- KST-CTTƯ

- Kỹ thuật thu mẫu ngoại ký sinh sống trên vật chủ:

Gậm nhấm và thú nhỏ được sưu tầm bằng bẫy lồng; sau khi chải bắt ngoại ký

sinh, các con thú nhỏ này đều được thả ra (trừ chuột) Mẫu ve (Ixodidae) còn

được thu thập trên các loài thú như lợn rừng, tê tê, kỳ đà, trăn, nhím, dúi

(Canomys badius Hodgson) từ các cơ sở cứu hộ động vật của các Chi cục kiểm

lâm ở Đăk Lăk và các tỉnh khác

- Các kỹ thuật khác thu mẫu ngoại ký sinh sống tự do:

+ Thu mẫu ve bằng phương pháp kéo cờ Đó là một mảnh vải trắng (1m x 2m ) buộc dây 2 đầu mãnh vải kéo đi trên cỏ (50-100m), ve ở cỏ sẽ bám vào mảnh vải và chúng ta thu thập [17]

+ Thu mẫu mò bằng tấm nhựa (đĩa hát cũ) (bán kính 10 – 15 cm) Đặt các tấm nhựa này trên mặt đất trong nhà hay ngoài vườn, nơi nghi có mò; thu mò sau khi đặt 6 hoặc 12 giờ [2,3]

+ Thu bọ chét bằng bẫy nước: dùng khay men (30cm X 40cm), đỗ gần đầy nước và đặt vào gầm giường, sát chân tường và cách nhau 6 hoặc 12 giờ kiểm tra thu bọ chét một lần

Thường mỗi điểm đặt 5-10 bẫy trong 3 ngày đêm

- Xử lý và bảo quản mẫu:

Mẫu ngoại ký sinh thu được bỏ vào tuýp có chứa cồn 700 Mỗi tuýp dùng cho một nhóm NKS (ve, mò, mạt…) và tương ứng với ngoại ký sinh thu được trên từng vật chủ, giá thể thu được và dùng nút bông không thấm nút chặt Mỗi tuýp đều phải có nhãn (giấy bóng mờ và viết bằng bút chì) ghi những thông tin cần thiết: Số thứ tự mẫu vật chủ hoặc giá thể; tên vật chủ, thời gian, địa điểm thu mẫu và số lượng và tên nhóm ngoại ký sinh.Tất cả những tuýp mẫu NKS thu được tại thực địa cho vào lọ nhựa 1 lít có chứa cồn 700, vặn chặt nắp đưa về phòng thí nghiệm phân tích xử lý

Trang 15

- Định loại các ngoại ký sinh:

Chủ yếu dựa vào các đặc điểm hình thái bên ngoài, theo tài liệu phân loại của các tác giả trong nước và nước ngoài Định loại ve theo tài liệu của Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ (1977, 2001), Toumanoff (1944) v.v… Định loại mạt theo tài liệu của Đoàn Văn Thụ, Phan Trọng Cung (1985, 2001)…: Định loại bọ chét theo tài liệu của Nguyễn Thu Vân (1997) Hopkins & Rothschild (1953, 1956,

1966, 1971) Định loại mò theo tài liệu của của Nguyễn Kim Bằng (1970), Nguyễn Văn Châu (1997), Traub & Morrow (1955), Nadtram & Dohany (1974)

- Định loại vật chủ theo tài liệu của Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính (1980), Van Peenen (1969)

- Tu chỉnh mẫu:

- Xem xét lại mẫu vật và xác định lại tên khoa học, đối chiếu với các mẫu vật trước đây đã phân loại, dựa vào các khoá định loại gần đây nhất của một số tác giả trong và ngoài nước [2,3,7,8,17,20,25,27,28,29,32,33,35,36,40]

- Loại bỏ những tên đồng vật (Synonymy) (một loài có nhiều tên) hoặc

định lại tên một số mẫu

- Bổ sung vào danh sách giống, loài NKS cho Tây Nguyên mà trước đây các tác giả trong và ngoài nước đã điều tra phát hiện ở Tây Nguyên

Trang 16

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Kết quả thu thập vật chủ và ngoại ký sinh

Bảng 2 Số lượng vật chủ thu được và tình hình nhiễm NKS ở Tây Nguyên

Nhóm vật chủ Số bộ Số loài Số cá thể

khảo sát

Số cá thể nhiễm NKS

Tỷ lệ (%) Động vật nuôi 3 8 754 521 69.0

Động vật hoang dại 10 19 630 510 80.9 Hang tổ, giá thể tự nhiên 556 375 67.4

Cộng 13 27 1940 1406 72.4

Để thu thập ngoại ký sinh, chúng tôi đã sưu tầm nghiên cứu 754 cá thể động vật nuôi thuộc 8 loài (trâu, bò, chó, mèo, thỏ, dê, gà, bồ câu), 3 bộ (bộ móng guốc ngón chẵ n, bộ ăn thịt và bộ gà); 630 cá thể chim thú hoang dại, thuộc 19 loài, 10 bộ (phụ lục 1) và 556 giá thể tự nhiên, gồm đất, phân, rác, hang

tổ động vật quanh thôn bản Tỷ lệ nhiễm NKS chung là 72,4%; trong đó động vật hoang dại nhiễm cao nhất (80,9%), động vật nuôi nhiễm 69,0% và giá thể, hang tổ nhiễm 67,4% (Bảng 2)

Bảng 3: Kết quả thu thập ngoại ký sinh

Trang 17

4.2 Thành phân loài ngoại ký sinh thu thập ở Tây Nguyên

Bảng 4 Thành phân loài, số cá thể bọ chét và vật chủ tại các điểm điều tra

TT Tên loài cá thểSố Vật chủ Địa điểm (xã, khu BTTN, VQG)

1 Medwayella vietnamensis 7 Sóc đất Tiên Hoàng

Kon Ka Kinh, Easô

5 giống 3 họ (Pulicidae,

Pygiopsyllidae, Ceratophyllidae)

1.716

Kết quả phân tích, định loại 1.716 cá thể bọ chét, đã xác định được 6 loài,

thuộc 5 giống, 3 họ; vật chủ của chúng là gậm nhấm (sóc, chuột) và chó, mèo

(Bảng 4)

Bảng 5 Thành phân loài, số lượng cá thể, vật chủ của ve ở các điểm điều tra

TT Tên loài cá thểSố Vật chủ địa điểm

1 Aponomma gervaisi 80 Kỳ đà, tê tê, beo Chư Yang Sin

2 Apo crassipes 90 Tê tê, kỳ đà, rắn Krông Bông *

3 Amblyomma

boucaudi 4 Thỏ, cầy vòi hương, chuột rừng, cầy hương, Easô

4 Amb sublavae 18 Tê tê Đắk Nông*

5 Amb testudinarium 5 Tê tê Lâm Hà*

6 Boophylus microplus 694 Bò, trâu, nhím, lợn

rừng, chồn chó Bông*, Kon Ka Kinh, Tiên Easô, Yók Đôn, Krông

Hoàng, Đắk Pék

7 Dermacentor auratus 33 Heo rừng Lắk*

8 Ixodes pilosus• 42 Đồi, sóc Tiên Hoàng

9 Haemaphysalis (Rh.)

leachi

8 Cu li bé, sóc đất, cầy vòi hương,

chó, mèo, cầy hương

Easô, Yók Đôn, Lắk*, Kon

Ka Kinh

14 loài, 6 giống 1.501

Ghi chú : • : loài mới cho Tây Nguyên; * động vật thu từ trạm Cứu hộ không rõ xã nào

Kết quả phân tích, định loại 1.501 cá thể ve, đã xác định được 15 loài,

thuộc 6 giống, 1 họ; vật chủ của chúng rất đa dạng gồm thú lớn, thú nhỏ, gậm

Trang 18

nhấm (sóc, chuột) và chó, mèo Đáng chú ý có loài ve Ixodes pilosus ký sinh

trên con đồi và sóc ở Tiên Hoàng, Cát Tiên Lâm Đồng

Bảng 6 Thành phân loài, số cá thể, vật chủ mò tại các điểm điều tra

Easô, Yók Đôn (Buôn Đôn)

2 L (L.) allopeciatum 19 Đồi (Tupaia glis), sóc đất

Easô, Yók Đôn

4 L (L.) fulleri 1 chuột đất bé Easô, Yók Đôn

5 L (L.) vienamensis 15 Đồi, sóc đất Tiên Hoàng

6 L (Trombiculindus)

hastatum

7 Eutrombicula hirsti 78 Gà nhà (Gallus gallus dom.) Buôn Choah

8 E wichmanni 74 Cầy hương, gà nhà Easô, Buôn Choah

Trang 19

chuột nhắt, gà Easô, Yók Đôn, Chư Yang Sin, Buôn

Choah, Krông Jing, Eapốc

Ghi chú: • : loài mới cho Tây Nguyên

Kết quả phân tích, định loại 1.122 cá thể mò, đã xác định được 26 loài, thuộc 10 giống, 1 họ; vật chủ của chúng gậm nhấm (sóc, chuột) Đáng chú ý loài

mò Leptotrombidium (Lep.) akamushi và Leptotrombidium (Lep.) deliense là 2

loài truyền sốt mò chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, ký sinh trên các loài vật

chủ: Chim quốc (Amaurornis phoenicurus chinensis), chuột mốc lớn (Berylmys bowersi), chuột đất bé (Bandicota bengalensis), cầy hương (Viveracula indica)

và phân bố ở Easo và Yók Đôn Đáng chú ý 2 loài mò mới cho Tây Nguyên là:

Neoschoengastia americana hexsasternosetosa ký sinh trên him cú muỗi

(Caprimulgus macrurus bimaculatus) ở Easo và Odontacarus audyi ký sinh trên

gà nhà ở Eapốc (Cư M’Ga), Đắk Lắk

Bảng 7 Thành phân loài, số cá thể và vật chủ của mạt tại các điểm điều tra

1 Cosmolaelaps

deiversichartatus 1 Chuét l¾t (Rattus exulans) Easô

hươu bé (R fulvescens), ch lắt, Chuét nhắt nương (Mus pahari)

Tiên Hoàng, Easô, Yók Đôn, Buôn Choah, Krông Jing

pahari)

Tiên Hoàng, Easô,

Trang 20

Tiếp bảng 7

bowersi)

Easô, Yók Đôn

Sin, Đắk Pék

Ghi chú: • : Loài mới phát hiện ở Tây Nguyên

Kết quả phân tích, định loại 707 cá thể mạt, đã xác định được 18 loài, thuộc 9 giống, 4 họ; vật chủ của chúng gậm nhấm (sóc, chuột) Đáng chú ý loài

Laelaps edwardsi Doan, 1969 ký sinh trên chuột (Leopoldamys edwardsi),

phân bố ở Tiên Hoàng, Cát Tiên, Lâm Đồng Đây là loài phát hiện lần đầu ở Tây Nguyên (Bảng 7)

4.3 Các loài ngoại ký sinh mới được bổ sung cho Tây Nguyên

Bảng 8: Vật chủ, thời gian và địa điểm thu thập các loài NKS mới ở Tây Nguyên

TT Tên loài ngoại ký sinh Vật chủ Thời gian

thu mẫu

Địa điểm thu mẫu

1 Ixodes pilosus Koch, 1844 (Ve) Sóc đất, đồi 28.11.2004 Tiên Hoàng

4 Laelaps (Laelaps) edwardsi Doan.,

Đã bổ sung 4 loài ngoại ký sinh mới vào khu hệ NKS Tây Nguyên gồm: 1

loài ve là Ixodes pilosus Koch, 1844 ký sinh trên sóc đất (Menetes berdmorei) và đồi (Tupaia glis), tại xã Tiên Hoàng, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng (12-2004) Hai loài mò là: Neoschoengastia americana hexastenosetosa (Hirst, 1921) ký

Ngày đăng: 02/05/2014, 06:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Các điểm điều tra nghiên cứu - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 1 Các điểm điều tra nghiên cứu (Trang 11)
Bảng 3: Kết quả thu thập ngoại ký sinh - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 3 Kết quả thu thập ngoại ký sinh (Trang 16)
Bảng 2.  Số lượng vật chủ thu được và tình hình nhiễm NKS ở Tây Nguyên - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 2. Số lượng vật chủ thu được và tình hình nhiễm NKS ở Tây Nguyên (Trang 16)
Bảng 5. Thành phân loài, số lượng cá thể, vật chủ của ve ở các điểm điều tra - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 5. Thành phân loài, số lượng cá thể, vật chủ của ve ở các điểm điều tra (Trang 17)
Bảng 4. Thành phân loài, số cá thể bọ chét và vật chủ tại các điểm điều tra - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 4. Thành phân loài, số cá thể bọ chét và vật chủ tại các điểm điều tra (Trang 17)
Bảng 6. Thành phân loài, số cá thể, vật chủ mò tại các điểm điều tra - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 6. Thành phân loài, số cá thể, vật chủ mò tại các điểm điều tra (Trang 18)
Bảng 7. Thành phân loài, số cá thể và vật chủ của mạt tại các điểm điều tra - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 7. Thành phân loài, số cá thể và vật chủ của mạt tại các điểm điều tra (Trang 19)
Bảng 8: Vật chủ, thời gian và địa điểm thu thập các loài NKS mới ở Tây Nguyên - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 8 Vật chủ, thời gian và địa điểm thu thập các loài NKS mới ở Tây Nguyên (Trang 20)
Bảng 9: Danh sách loài ngoại ký sinh ở Tây Nguyên sau khi tu chỉnh và bổ sung - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 9 Danh sách loài ngoại ký sinh ở Tây Nguyên sau khi tu chỉnh và bổ sung (Trang 21)
Bảng 10: Các loài NKS có vai trò truyền bệnh và lưu giữ mầm bệnh - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Bảng 10 Các loài NKS có vai trò truyền bệnh và lưu giữ mầm bệnh (Trang 25)
Hình 5. Laelaps edwardsi Doan Van Thu, 1969 (Mai sinh dục bụng và mai hạu môn và bàn  chân III của mạt cái)  (Nguyễn Văn Châu vẽ từ tiêu bản thu  ở Cát Tiên Lâm Đồng) - Điều tra bổ sung thành phần loài ngoại ký sinh (E.Ctoparasite) ở Tây Nguyên
Hình 5. Laelaps edwardsi Doan Van Thu, 1969 (Mai sinh dục bụng và mai hạu môn và bàn chân III của mạt cái) (Nguyễn Văn Châu vẽ từ tiêu bản thu ở Cát Tiên Lâm Đồng) (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w