BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN HỌC HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG GIẢNG VIÊN ThS Lê Thanh Hà BÀI THẢO LUẬN 3 VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG DANH SÁCH[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN HỌC: HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG GIẢNG VIÊN: ThS Lê Thanh Hà
BÀI THẢO LUẬN 3.
VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG
DANH SÁCH NHÓM 7
7 Dương Hoàng Long 2153401010063
8 Nguyễn Lương Giang 2153401010029
9 Phùng Thi Tuệ Minh 2153401010069
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023.
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 VẤN ĐỀ 1: HỢP ĐỒNG QUY ĐỊNH VỀ VẤN ĐỀ HÌNH THỨC 1
Tóm tắt bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19/03/2019 của TAND tỉnh Quảng Ngãi 1
Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng 2
2 VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 9
Nghiên cứu: 9
Tóm tắt bản án: 9
3 VẤN ĐỀ 3: ĐỨNG TÊN GIÙM MUA BẤT ĐỘNG SẢN 22
Nghiên cứu: 22
Tóm tắt bản án 22
4 VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 35
Trang 41 VẤN ĐỀ 1: HỢP ĐỒNG QUY ĐỊNH VỀ VẤN ĐỀ HÌNH THỨC
Tóm tắt bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19/03/2019 của TAND tỉnh Quảng Ngãi
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nguyên đơn: Ông Võ Sĩ M và bà Phùng Thị N
Bị đơn: ông Đoàn C và bà Trần Thị L
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Tấn L1, Bà NguyễnThị
M1; Anh Đoàn Tấn N1; Chị Đoàn Thị Mỹ N2; Chị Đoàn Thị Thu V
Nội dung: Năm 2009 nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận và lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn Nội dung hợp đồng chuyển nhượng đất là giấy chuyển nhượng đất thổ cư ngày 10/8/2009 đã đượcthực hiện bằng việc nguyên đơn giao 90.000.000 đồng cho phía bị đơn Sau
đó vì bị đơn không được cấp đất tái định cư là lô B nên các bên thay đổi thỏa thuận thành chuyển nhượng lô A với giá 120.000.000 đồng, phía nguyên đơn đưa tiếp 20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng sẽ giao khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng Trong quá trình chờ làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì vào ngày 05/6/2014 nguyên đơn có cho bà Nguyễn Thị M1 thuê diện tích đất này làm mặt bằng buôn bán và không ai có ý kiến gì Đến tháng 10/2016 Nhà nước mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 3 bị đơn, nhưng phía bị đơn và anh Đoàn Tấn L1 chỉ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 877 tờ bản đồ số 24 xã PT cho nguyên đơn nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng cho nguyên đơn, hiện nay nguyên đơn đã xây móng đá chẻ trên thửa 877 Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 tờ bản đồ số 24 xã PT, huyện ĐP, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 5cho nguyên đơn Tòa tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Tóm tắt Bản án:
Nguyên đơn: Ông Võ Sĩ Mến và bà Phùng Thị Nhiễm
Bị đơn: ông Đoàn Cưu và bà Trần Thị Lắm, tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất Ông Cưu, bà Lắm và con trai là Đoàn Tấn Linh thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm 1 lô
B với giá 90tr đồng, diện tích 100m2 Ông Mến, bà Nhiễm đã giao đủ số tiền như trong thỏa thuận nhưng vì không có lô B nên 2 bên thống nhất giao thêm 30tr để lấy lô A Ông Mến, bà Nhiễm giao trước 20tr, tổng cộng đã giao 110tr.Trong hợp đồng không có công chứng, chứng thực nên vi phạm về hình thức Nhưng quá 2 năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nên hợp đồng vẫn cóhiệu lực Tại Tòa gíam đốc thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao tại ĐNquyết định: chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 68/2018/KN-
DS Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 24/2018/DS-PT Giao hồ sơ vụ
án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
1.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực
và chưa được công chứng, chứng thực?
Trong bản án số 16, đoạn cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực là: “Năm 2009, bị đơn cần tiền làm nhà cho con trai là anh Đoàn Tấn L1, nên thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, diện tích đất chuyển
Trang 6nhượng là lô B trong phần đất của bị đơn khi được Nhà nước cấp đất tái định
cư (Nhà nước thu hồi đất của bị đơn và đã thông báo sẽ cấp đất tái định cư tại khu Làng Cá Sa Huỳnh), với giá 90.000.000 đồng Nguyên đơn đã trả đủ 90.000.000 đồng”
Trong bản án số 16, đoạn cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được công chứng, chứng thực là: “…thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏa thuận, nhưng khi được cấp đất các bên đã thay đổi thỏa thuận bằng lời nói thành chuyển nhượng thửa 877 và tiếptục thực hiện hợp đồng bằng việc giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bị đơn”
1.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?
Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy Tòa án đã áp dụng điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS
năm 2015 có hiệu lực là: “Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ
luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.”
Trang 71.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên
có thuyết phục không? Vì sao?
- Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 là thuyết phục
- Theo Khoản 2 Điều 129 BLDS: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng vănbản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bênhoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theoyêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
- Bên nguyên đơn đã thực hiện việc giao cho bị đơn 110.000.000 đồng, phía
bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện 2/3 nghĩa
vụ hợp đồng và trước đó giao dịch cũng được xác lập bằng văn bản, cụ thể là hai bên đã thỏa thuận và lập “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” (Bút lục 27), nên hoàn toàn thỏa mãn điều kiện của Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015
1.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?
Trong bản án số 16, Tòa áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ là không thuyết phục, vì:
Theo Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằngvăn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà mộtbên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Trang 8Bị đơn đã hoàn thành việc giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn hay hoàn thành xong nghĩa vụ trong giao dịch Tuy nhiên, phía nguyên đơn lại chưa hoàn tất thủ tục giao thêm đủ số tiền đã thỏa thuận, nguyên đơn mới chỉ giao cho bị đơn 110.000.000 trên tổng số tiền là 120.000.00, là đã hơn 2/3 nghĩa vụtrong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.
1.5 Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật?
Căn cứ tại mục [6], phần “Nhận định của Tòa án”:
“Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch là đúng pháp luật
nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn
là không cần thiết, khi Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.”
1.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?
- Hướng giải quyết của Tòa án là thuyết phục vì:
Tòa án đã căn cứ vào Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 để công nhận giao dịch dân sự của hai bên là hoàn toàn hợp lệ cho dù không tuân thủ về mặt hình thức Trong bản án số 16, tòa án cũng đã buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết vì tháng 10/2016 Nhà nước mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn, nhưng phía bị đơn và anh Đoàn Tấn L1 chỉ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất
Trang 9số 877 tờ bản đồ số 24 xã PT (Sau đây viết tắt là thửa 877) cho nguyên đơn nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng cho nguyên đơn Vì đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn nên sau khi tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật
1.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển hượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?
Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2019 chưađược công chứng, chứng thực:
“Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập
trước ngày 01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 (điểm d khoản 1 điều 668 BLDS năm 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức.”
1.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Theo điểm đ khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 quy định, thời hiệu yêu cầu Tòa
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức như sau:
“1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày: đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.”
Về hệ quả pháp lý, theo khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 luật quy định:
Trang 10“2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.”
Như vậy, sau 2 năm kể từ ngày giao kết mà không có yêu cầu Tòa án tuyên bố
vô hiệu thì giao dịch dân sự đó sẽ có hiệu lực mà không cần phải tiếp tục hoànthiện về mặt hình thức
1.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dùchưa được công chứng, chứng thực?
Trong Quyết định số 93 cho thấy Toà áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều
132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là: “ Tuy nhiên từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng
vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều132 Bộ luật dân sự 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 Điều
132 Bộ luật dân sự 2015.”
1.10 Trong Quyết định số 93, việc Tòa công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực thuyết phục không? Vì sao?
Quyết định của Tòa khi công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất dù chưa được công chứng, chứng thực là thuyết phục
Vì: - Căn cứ vào khoản 2 Điều 132 thì Tòa tuyên giao dịch dân sự
chuyểnnhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 có hiệu lực Khoản 2 Điều
Trang 11132: “Hết thời hiệu qui định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.”
- Trên cơ sở của khoản 1 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu để Tòa tuyên giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm, nhưng trong vụ việc thì ông Cưa, bà Lắm trong suốt 2 năm đó không yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô hiệu Khi ôngMến, bà Nhiễm khởi kiện ông Cưa, bà Lắm vì 2 ông bà không thực hiện nghĩa vụ sang tên quyền sử dụng đấtcho họ thì ông Cưa, bà Lắm mới phản tố yêu cầu Tòa hủy hợp đồng chuyển nhượngquyền sử dụng đất giữa 2 bên Hơnnữa, giao dịch dân sự vô hiệu và hủy hợp đồng làhoàn toàn khác nhau và hợp đồng không được công chứng, chứng thực không phải là căncứ để Tòa tuyên hủy hợp đồng theo Điều 423 BLDS 2015
Trang 122 VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO
KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
Nghiên cứu:
- Điều 423 và tiếp theo BLDS 2015 (Điều 417, 425, 426 BLDS 2005) và các
quy định liên quan (nếu có);
- Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnhVĩnh Long
Tóm tắt bản án:
Nguyên đơn: Công Ty TNHH 1 thành viên Đông Phong Cần Thơ
+ Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ông Nguyễn Thành Tơ
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Dệt và ông Trương Văn Liêm
- Vấn đề tranh chấp: hợp đồng mua bán xe ô tô biểm kiểm soát 64C-008.67ngày 26/5/2012 giữa công ty TNHH 1 thành viên Đông Phong với bà Dệt
+ Vô hiệu hóa hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012
+ Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Tơ thừa kế quyền
và nghĩa vụ tham gia tố tụng Buộc ông Trương Văn Liêm và bà Nguyễn Thị
Trang 13Dệt trả cho công ty TNHH 1 Thành viên Đông Phong Cần Thơ số tiền4.880.000đ
+ Buộc công ty Đông Phong trả cho ông Liêm và bà Dệt số tiền là67.361.600đ
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về đơn phải bị phạtgấp đôi tiền cọc, tổng cộng số tiền không được chấp nhận là 131.220.000đ + Không chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của ông Liêm về yêu cầu buộcnguyên đơn phải chịu phạt, tổng số tiền không được chấp nhận là 224.765.00đ
- Tình huống: Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền
sử dụng một mảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đãgiao đất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc
dù ông Minh đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏhợp đồng chuyển nhượng để lại đất
+ Đều không có hiệu lực tại thời điểm giao kết
+ Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếu không hoàn trảđược bằng hiện vật thì phải trị giá thành tiền rồi hoàn trả
+ Đều có khả năng làm phát sinh bồi thường thiệt hại1
1 - Điều 131 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
[…]
Trang 14+ Các bên chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ, trừ các quyền và nghĩa vụ vềbồi thường thiệt hại và phạt vi phạm
Một trong các bên trong hợpđồng vi phạm các điều khoản
có trong hợp đồng, một bênyêu cầu hủy hợp đồng
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Điều 427 Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng
[…]
3 Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường
Trang 15- Bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
Nếu hợp đồng vô hiệu làm thiệt
hại đến quyền lợi của các bên
thì bên có lỗi làm cho hợp đồng
vô hiệu có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do mình gây ra
tương ứng với lỗi của mình
=> CSPL: Điều 131 BLDS
2015
Bên bị thiệt hại do hành vi viphạm nghĩa vụ của bên kiađược bồi thường
=> CSPL: Điều 427 BLDS2015
- Không làm phát sinh, thay đổi
quyền, nghĩa vụ dân sự của các
Khi hợp đồng bị hủy bỏ thìhợp đồng không có hiệu lực từ
Trang 16bên kể từ thời điểm giao dịchđược xác lập.
- Không có thoả thuận về phạt
vi phạm hoặc bồi thường do viphạm hợp đồng
=> CSPL: khoản 1 Điều 131
BLDS 2015
thời điểm giao kết, các bênphải thực hiện nghĩa vụ đãthỏa thuận, trừ thỏa thuận vềphạt vi phạm, bồi thường thiệthại và thỏa thuận
=> CSPL: khoản 1 Điều 427BLDS 2015
2 Điều 407
- Khi hợp đồng phụ vô hiệu thìhợp đồng chính không bị vôhiệu, trừ trường hợp các bênthỏa thuận hợp đồng phụ làmột phần không thể tách rờicủa hợp đồng chính
=> Khoản 3 Điều 407 BLDS2015
Hủy toàn bộ hợp đồng
2.2 Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ?
Trang 17Trả lời:
Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng mua bán xe ô tô ngày26/5/2012 được giao kết giữa Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ
giữa ông Trương Văn Liêm là vô hiệu Điều này được thể hiện trong phần
Nhận định và Quyết định của Tòa án
- Trong phần Nhận định của Tòa:
“Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo qui định tại các điều 122 của Bộ Luật dân sự nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa cụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theo điều 131 của
Bộ Luật dân sự vì những lý do sau đây: ”
- Trong phần Quyết định bản án: “Vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày
26/5/2012 giao kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm.”
2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng).
Trả lời:
Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là hợp lý
- Tòa không tuyến bố hủy hợp đồng bởi vì hành vi của các bên giao dịchkhông đủ điều kiện để hủy bỏ hợp đồng 2
2 Điều 423 Hủy bỏ hợp đồng
Trang 18- Và hợp đồng trên đã vi phạm các điều:
+ Hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diệnNguyễn Thị Dệt nhưng bà Dệt không đại diện cho Trang trí nội thất ThanhThảo mà thực chất là công ty TNHH SX TM Thành Thảo do Trương HoàngThành là Giám đốc đại diện
+ Hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Dệt nhưng ông Trương Văn Liêm lạiđứng ra giao dịch ký kết
=> Điều này đã vi phạm quy định về năng lực chủ thể tại Điểm a Khoản 1Điều 117 BLDS 2015, theo đó để tham gia vào một giao dịch dân sự phải là:
“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Vậy nên bà Dệt không có năng lực chủ thể
phù hợp
=> Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự không có một
trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác” Xét thấy việc lập thành hợp
đồng không đúng quy định của pháp luật nên việc Tòa tuyên bố hợp đồng vôhiệu là hợp lý và có cơ sở
- Cơ sở pháp lý: Điều 122, Điều 117 và Khoản 1 Điều 142 BLDS 2015
2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?
1 Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:
a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
c) Trường hợp khác do luật quy định.
Điều 424 Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ
Điều 425 Hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện
Điều 426 Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng
Trang 19Trả lời:
- Căn cứ theo khoản 1 Điều 418 BLDS 2015 quy định: “Phạt vi phạm 3 là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” Do đó, phạt vi phạm chỉ phát sinh
khi có vi phạm xảy ra và khi có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.Nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận mà không vi phạm thì cũng khônglàm phát sinh vi phạm hợp đồng
- Đồng thời theo Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự
vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”
Vậy nếu hợp đồng bị vô hiệu, có nghĩa là hợp đồng không có hiệu lực kể từthời điểm giao kết, sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập thì các thỏathuận hay quy định về vi phạm hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý Do đó,nếu hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng
CSPL: Khoản 1 Điều 131, khoản 1 Điều 418 BLDS 2015
2.5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ’ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
3 Điều 418 Thỏa thuận phạt vi phạm
1 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm