Các tác giả đều thấy rằng môi trường không khí khu công nghiệp Hà Nội đều bị ô nhiễm bởi bụi, khí NO2, SO2, và đều làm tăng tỉ lệ các bệnh về đường hô hấp, tăng tỉ lệ các triệu chứng hội
Trang 1“Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành Hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế – x∙ hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng này”
6834
05/5/2008
Hà Nội - 2008
Trang 2Các chữ viết tắt và ký hiệu trong đề tài
ATS : Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (American Thoracic Society)
BHYT : Bảo hiểm y tế
Volumecin one second) FVC : Dung tích sống thở mạnh (Forced Vital Capacity)
SBS : Hội chứng nhà kín (Sick Building Syndrom)
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND : Uỷ ban Nhân dân
VC : Dung tích sống thở chậm (Slow Vital Capacity)
VPQ : Viêm phế quản
VSDTTW : Viện Vệ sinh dịch tễ Trung −ơng
VSV : Vi sinh vật
Trang 42.1 Lịch sử nghiên cứu ô nhiễm môi trường 72.2 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trường ở nước ngoài 112.3 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trường trong nước 36
3.1.1 Nghiên cứu ô nhiễm không khí chọn 5 khu vực đại diện cho
nội thành Hà Nội
41
3.1.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ người dân 41
3.2.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ người dân 42
3.3.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ người dân 45 3.3.3 Lượng giá những tổn thất về kinh tế – xã hội do các bệnh
liên quan đến ô nhiễm không khí gây ra
46
3.3.4 Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm
không khí, giảm bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí
46
4.1 Diễn biến môi trường Hà Nội trong những năm qua 48
4.2 Kết quả nghiên cứu ô nhiễm không khí 66
4.3 Kết quả nghiên cứu bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí 114
4.4 Kết quả nghiên cứu tổn thất kinh tế do các bệnh liên quan
đến ô nhiễm không khí gây ra
154
Trang 55.1 Tình hình ô nhiễm không khí 1895.2 Tình hình bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí 2135.3 Tổn thất kinh tế – xã hội do các bệnh liên quan đến ô
nhiễm không khí gây nên
219
6.1 Giải pháp về y tế nhằm giảm thiểu tác động xấu của ô
nhiễm không khí tới sức khoẻ và giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và chi phí của cá nhân, gia đình và xã hội do hậu quả của ô nhiễm không khí đối với sức khoẻ của cộng đồng cư dân Thành phố (7 giải pháp con)
223
6.2 Giải pháp cơ bản, lâu dài hạn chế ô nhiễm không khí liên
quan đến các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hà Nội (3 giải pháp con)
234
6.3 Giải pháp tăng cường thông tin – giáo dục – truyền thông
(T – G – T) nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về chất lượng không khí ở Hà Nội (4 giải pháp con)
249
7.2 Cơ cấu một số bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí và
Trang 6Thông tin chung
Tên đề tài: “Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành Hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế – x∙ hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng này”
Mã số của đề tài: TC-MT/08-04-2
Thời gian thực hiện đề tài: 18 tháng (từ tháng 7/2004 đến tháng 12/2005)
Đơn vị thực hiện đề tài: Sở Y tế Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Lê Tuấn – Phó giám đốc Sở Y tế Hà Nội
Cơ quan quản lý đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội
Cộng sự:
1 PGS.TS Lê Anh Tuấn – Giám đốc Sở Y tế Hà Nội
2 PGS.TS Đoàn Huy Hậu – CN Bộ môn DTH – Học viện Quân y
3 PGS.TS Hoa Hữu Lân – Trưởng phòng Kế hoạch quản lý khoa học – Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội
4 PGS.TS Lê Khắc Đức – Chủ nhiệm Bộ môn Vệ sinh –Học viện Quân y
5 TS Hoàng Văn Lương – Trưởng phòng KHCN – Học viện Quân y
6 PGS.TS Hoàng Xuân Cơ - Phó trưởng phòng KHCN – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
7 TS Chu Văn Thăng – CN Bộ môn sức khoẻ môi trường – Trường Đại học Y khoa Hà Nội
8 BS Đỗ Lê Huấn – Giám đốc Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
9 PGS.TS Ngô Quí Châu – Trưởng khoa hô hấp – Bệnh viện Bạch mai
10 PGS.TS Lê Văn Nãi – Trưởng phòng môi trường khí – Trường Đại
Trang 711 BS Trần Văn Chung – Phó trưởng phòng Kế hoạch Tài chính – Sở Y
tế Hà nội
12 BS Nguyễn Phương Hiền – Vụ Đại học và Sau đại học – Bộ Giáo dục
và Đào tạo
13 BS Bùi Công Đức – Khoa YTLĐ –Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
14 BS Hoàng Minh Hiền – Phòng TCCB – Sở Y tế Hà Nội
15 BS Nguyễn Mạnh Hùng – Phó trưởng khoa ATVSTP – Trung tâm y
tế dự phòng Hà nội
16 CN Hà Thuý Vân – Phòng Kế toán – Sở Y tế Hà Nội
17 Đặng Ngọc Lan - Bộ môn sức khoẻ môi trường – Trường Đại học Y khoa Hà Nội
18 Và các cộng sự khác của Học viện quân y, Trường Đại học Y khoa
Hà nội, Trung tâm y tế dự phòng Hà nội
Trang 8Mục tiêu của đề tài
1 Đánh giá thực trạng một số yếu tố ô nhiễm không khí có nguy cơ cao đối với sức khoẻ con người tại các cụm dân cư nội thành Hà Nội
2 Đánh giá thực trạng một số bệnh có liên quan tới ô nhiễm không khí của người dân nội thành Hà Nội
3 Lượng giá những tổn thất về kinh tế, xã hội do các bệnh đó gây nên trên
địa bàn nghiên cứu
4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm không khí và giảm thiểu các tác hại của ô nhiễm không khí đối với sức khoẻ người dân
Trang 91.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí hiện nay
1.2.1 Ô nhiễm môi trường không khí – vấn đề có tính toàn cầu
1.2.2 Thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay trên thế giới và các giải pháp 1.2.3 Thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay ở Việt Nam nói chung và tại thủ
đô Hà Nội nói riêng
1.3 Kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng một số yếu tố ô nhiễm không khí có nguy cơ cao đối với sức khoẻ của đề tài
2 Đánh giá thực trạng một số bệnh có liên quan tới ô nhiễm không khí của người dân nội thành Hà Nội
2.1 Các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí và hậu quả của chúng
- Hen phế quản, viêm mũi dị ứng và một số bệnh dị ứng
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Bệnh viêm phế quản mãn tính
- Bệnh mắt
Trang 103 Lượng giá những tổn thất về kinh tế, xã hội do các bệnh đó gây nên trên
địa bàn nghiên cứu
3.1 Tổng quan về số liệu tổn thất kinh tế ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
3.2 Kết quả nghiên cứu về tổn thất kinh tế do các bệnh đó gây nên của đề tài
3.2.1 Tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, mô hình bệnh tật/tử vong, chi phí của người dân cho việc khám chữa bệnh
3.2.2 Tác động về kinh tế, xã hội của các bệnh do ô nhiễm không khí gây nên :
- Tác động đối với cộng đồng chung về tình hình nằm viện, nghỉ việc, nghỉ ốm, các suy giảm về kinh tế-sức khoẻ-tâm lý
- Tác động đối với doanh nghiệp
3.2.3 Những ảnh hưởng đối với trường học
4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm không khí và giảm thiểu các tác hại của ô nhiễm không khí tới sức khoẻ
4.1 Giải pháp về y tế nhằm giảm thiểu tác động xấu của ô nhiễm không khí tới sức khoẻ và giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và chi phí của cá nhân, gia đình và xã hội do hậu quả của ô nhiễm không khi đối với sức khoẻ của cộng đồng cư dân thành phố, gồm 7 giải pháp con cụ thể:
Trang 114.1.1 Giải pháp về tăng cường các biện pháp dự phòng nhằm giảm thiểu các tác
động xấu của ô nhiễm môi trường không khí đối với sức khoẻ cộng đồng
4.1.2 Giải pháp về tăng cường các biện pháp phát hiện sớm, điều trị kịp thời có hiệu quả đối với các bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường không khí cho cư dân thành phố
4.1.3 Giải pháp về đầu tư trang bị cho Ngành Y tế để khắc phục tình trạng ô nhiễm và phòng ngừa bệnh tật do ô nhiễm không khí gây ra
4.1.4 Giải pháp về nhân lực, tổ chức y tế và kinh tế y tế
4.1.5 Giải pháp về kỹ thuật, thông tin y tế và quản lý điều hành
4.1.6 Giải pháp về xã hội hoá công tác y tế phòng chông ô nhiễm không khí
4.1.7 Xây dựng các quỹ dự phòng y tế cho người mắc bệnh ô nhiễm không khí
4.2 Giải pháp cơ bản lâu dài hạn chế ô nhiễm không khí liên quan đến các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hà Nội, gồm 3 giải pháp con cụ thể :
4.2.1 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các cơ sở công nghiệp;
4.2.3 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các phương tiện giao thông
4.3.1 Nội dung thông tin – giáo dục – truyền thông;
4.3.2 Các phương tiện (các kênh) T - G - T cần thiết;
4.3.3 Phương thức sử dụng các phương tiện T- G – T
4.3.4 Bảng Panel điện tử thông tin công cộng về chất lượng không khí
5 Kết luận và kiến nghị
Trang 12Phần 1
Đặt vấn đề
Từ thời xa xưa, môi trường thiên nhiên vốn trong sạch, tự điều chỉnh và không bị ô nhiễm, rất thuận lợi, tiện nghi cho con người và mọi sinh vật Bằng các hoạt động của mình con người đã không bảo vệ, đã tự huỷ hoạt đi môi trường sống của chính mình Con người gây ô nhiễm cho môi trường không khí bằng ba nguồn cơ bản: do hoạt động công nghiệp, do giao thông vận tải và do sinh hoạt hàng ngày, trong đó ô nhiễm do công nghiệp gây tác động trên sức khoẻ con người nặng nề nhất [Eckholm E.P 1980] [46] Nguồn ô nhiễm công nghiệp là do ống khói của các nhà máy xí nghiệp thải bụi, hơi khí độc, do quá trình công nghệ sản xuất bị bốc hơi dò rỉ, do ống khói của các loại động cơ Các chất độc hại không chỉ gây ô nhiễm cho khu vực nhà máy, giao thông, mà còn lan toả ra khu vực xung quanh từ vài trăm mét cho đến vài cây số, thậm chí xa hơn Các nguồn ô nhiễm này không chỉ tác hại trực tiếp cho người lao động mà tác động lên cả dân cư khu vực xung quanh
Nghiên cứu về ô nhiễm không khí và tác động của nó lên sức khoẻ đã được
đề cập từ rất lâu, nhưng được quan tâm nhiều nhất vào những năm cuối thế kỉ thứ
19 và đầu những năm thế kỉ 20 khi mà nền công nghiệp ở các nước phát triển mạnh: 1863 ở Anh và 1864 ở Mỹ đã ban hành những đạo luật về giữ gìn không khí nơi sản xuất và khu vực xung quanh [Leith W.1980] [46]
Thế kỉ 20 đã xảy ra những thảm hoạ điển hình của ô nhiễm không khí do khí thải của sản xuất công nghiệp tại thung lũng sông Manse của Bỉ (năm 30), ở Dorona của Mỹ (năm 48), ở thủ đô Luân Đôn của Anh (năm 1952) [36] và gần
đây nhất là thảm hoạ ở Bhopal ấn Độ (năm 1984) [36] làm hàng ngàn người bị nhiễm độc và chết Vấn đề này đã trở thành thời sự cấp bách của từng quốc gia và
Trang 13trường sống”, tháng 6 năm 1972 tại Stockholm – Thụy Điển và “môi trường và phát triển bền vững”, tháng 6 năm 1992 tại Rio De Gianero – Braxin với sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học toàn thế giới [36]
Theo Leithman (1994) [94] nghiên cứu về ô nhiễm không khí và tác động lên sức khoẻ tại 7 thành phố lớn ở tất cả các châu lục thấy rằng đều có vấn đề về ô nhiễm không khí và tác động rõ rệt lên sức khoẻ người lao động và nhân dân khu vực xung quanh WHO (1992) [143] sản xuất công nghiệp của thế giới đã thải vào không khí 25 % khí NOx, 40 – 50 % khí SO2 và gây ô nhiễm cho người lao
động và khu dân cư tiếp giáp, hàng năm gây ra 146.000 người chết vì các bệnh do
ô nhiễm: Silicosis, bụi than phổi, ngộ độc chì, nhiễm độc đồng, bệnh da nghề nghiệp Theo UNEP (1989) [135] thấy có 11 thành phố (Hồng Kông, Thượng Hải, Niu ước, Luân Đôn, ) có nồng độ SO2 ở mức tới hạn (40-60 àg/m3), 16 thành phố (Milan, Xơun, San Paolô, Pari, Bắc Kinh, Mandrít, Manila ) có nồng
độ SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép UNEP ước tính có khoảng 990 triệu người (khoảng một nửa dân số đô thị) phải sống trong không khí bị ô nhiễm bởi SO2 Theo UNEP có ô nhiễm trên là do công nghiệp và giao thông đã thải vào khí quyển 110 triệu tấn SO2, 59 triệu tấn bụi lơ lửng, 69 triệu tấn oxytnitơ các loại (NOx), 194 triệu tấn CO2, 53 triệu tấn các bua hydro, các khí thải độc hại này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người ở Trùng Khánh Trung Quốc: SO2 đạt 0,52 mg/m3 đã phát hiện sự gia tăng các bệnh đường hô hấp, tử vong do tim mạch, chết của trẻ em và chết sau 65 tuổi do tăng các chất nhiễm bẩn không khí Tại Bombay ấn Độ ước tính khoảng 1000 tấn chất thải khí do các nhà máy và 350.000 xe gây ô nhiễm không khí, khi khám ngẫu nhiêm 1400 trường hợp thấy
có 18 % ho thường xuyên, 38 % ho mạn tính, 10 % có vấn đề về hô hấp [135]
Theo Eckholm (1980) ở Mỹ ô nhiễm không khí đã gây nên 1% tử vong cho dân thành phố, theo Lester Lave và Eugene Seskin thì nếu giảm ô nhiễm do bụi
Trang 14người dân thành phố Eckholm thấy rằng ô nhiễm không khí ở Mỹ hàng năm đã gây thiệt hại từ 2,5 đến 10 tỉ đô la do tổn hại trên sức khoẻ, tài sản động thực vật, công trình xây dựng, nó đã làm mất đi cuộc sống của 4000 người và mất đi
4 triệu ngày công lao động mỗi năm [46] Theo nghiên cứu của Jaakkola J.J.K (1993) tại Hensiki (Phần Lan) trên 2678 người thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS (Sick building syndrom) bị tác động rõ rệt của không khí nhà ở (các triệu chứng về niêm mạc, mắt: 6,1 – 10,5 % với OR từ 0,73 đến 1,34; đau đầu: 1,8 – 7,4 % với OR từ 0,54 đến 1,13; ) [88] Theo Hurd (2000) tại Mỹ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) mắc từ 4 – 5 % dân số, trong số 32 nước công nghiệp Mỹ xếp hàng thứ 14 về tử vong do bệnh này và các bệnh tương tự ở nam giới và hàng thứ 8 ở nữ giới [15]
Chi phí trực tiếp và gián tiếp cho bệnh là 23,9 tỉ đô la ở Anh, mức độ lưu hành của COPD là 4 % ở nam và 2 % ở nữ (lứa tuổi trên 45), tính chung là 1,7
% ở nam và 1,4 % ở nữ (năm 1997) [15] Theo Barnes P.J (1997): từ 1990 –
1997 tỉ lệ mắc bệnh tăng 25 % ở nam và 69 % ở nữ, tổng chi phí cho bệnh là
818 triệu bảng Anh một năm [69] Theo WHO (2002) [151] tại 8 thành phố lớn của Italia ô nhiễm không khí đã tác động rõ rệt lên tỉ lệ nhập viện và tỉ lệ tử vong do các bệnh hô hấp (viêm phế quản, hen phế quản ), bệnh tim mạch Theo Hội y học Canada (OMA) (2000) ô nhiễm không khí đã gây thiệt hại lớn
về kinh tế cho khám chữa bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí Theo nghiên cứu của Trung tâm bảo vệ môi trường Hồng Kông (1998), ô nhiễm không khí do
NO2, SO2, bụi làm tăng chi phí các bệnh đường hô hấp, tim mạch (khi tăng nồng
độ NO2 lên 50 àg/m3 làm tăng chi phí bệnh đường hô hấp lên 522 triệu đô la Hồng Kông và 451 triệu đô la Hồng Kông với bệnh tim mạch ).[151]
Tại Việt Nam, từ 1969 – 1971 viện VSDT TW đã nghiên cứu về ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp và sức khoẻ công nhân Đào Ngọc Phong và cộng sự (1976-1985) [39] đã nghiên cứu về ô nhiễm không khí và sức khoẻ
Trang 15người dân tiếp giáp khu công nghiệp Phạm Ngọc Đăng, Đào Ngọc Phong (1985-1995) [20] nghiên cứu ô nhiễm không khí vùng tiếp giáp khu công nghiệp và sức khoẻ người dân tại các khu công nghiệp Hải Phòng, Việt Trì, Hồ Chí Minh Tôn Thất Bách, Đào Ngọc Phong và cộng sự (1995-2000) [21] nghiên cứu môi trường sức khoẻ và mô hình bệnh tật tại các vùng sinh thái khác nhau (khu công nghiệp Thượng Đình, Huyện Thanh Trì - Hà Nội, Huyện Kim Bảng - Thị Xã Phủ Lí, Hà Nam ) Phạm Ngọc Đăng, Đào Ngọc Phong, Nguyễn
Đức Khiển, Lê Văn Nãi và cộng sự (1995-2000)[24] đã nghiên cứu ô nhiễm môi trường và sức khoẻ bệnh tật dân cư vùng tiếp giáp các khu công nghiệp Thượng
Đình, Mai Động, Hà Nội Sở KHCN MT Hà Nội (2001) [25] điều tra khảo sát
đánh giá tình trạng ô nhiễm và bệnh nghề nghiệp một số cơ sở mạ, nhuộm kim loại quy mô nhỏ của Thành phố Hà Nội
Lê Văn Nãi và cộng sự (2003) [25] về thực trạng và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại các khu vực tập trung điển hình về cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ của khu vực nội thành Hà Nội (Đề tài nghiên cứu khoa học Thành phố Hà Nội – mã số 01C-09/08/2001/2002) Các tác giả đều thấy rằng môi trường không khí khu công nghiệp Hà Nội đều bị ô nhiễm bởi bụi, khí
NO2, SO2, và đều làm tăng tỉ lệ các bệnh về đường hô hấp, tăng tỉ lệ các triệu chứng hội chứng SBS, các bệnh tai mũi họng, dị ứng, hen phế quản và lao phổi cho dân cư vùng tiếp giáp Theo tiêu chuẩn TCVN 5937-1995, thành phần bụi trong không khí không được quá 0,2 mg/m3, kết quả nghiên cứu nồng độ bụi tại các Quận Đống Đa và Long Biên là 0,8 mg/m3, quận Tây Hồ là 0,78 mg/m3, quận Hoàng Mai 0,72 mg/m3và quận Ba Đình, Hoàn Kiếm đều vượt 0,5 mg/m3
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà cũng ở mức báo động Theo Phạm Lê Tuấn và cộng sự nghiên cứu tình trạng Hen PQ ở trẻ em nội thành Hà Nội (2003) [50] cho thấy việc đun nấu bằng các nguồn năng lượng
Trang 1680,12% người HPQ ngửi mùi bếp gas thấy khó thở, tỷ lệ này ở gia đình đun than
là 21,74%; củi 8,07%; dầu hỏa 2,48%; 66,5% các trường hợp Hen PQ gia đình
có người hút thuốc lá; 49,7% số trẻ bị HPQ xuất hiện cơn khó thở khi tiếp xúc với các dị nguyên trong nhà như lông chó, mèo, chim Mật độ dân cư nội thành
Hà Nội rất đông, đặc biệt tại các khu dân cư các quận nội thành, khu phố cổ Bình quân diện tích nhà ở là rất thấp, môi trường sống không đảm bảo đặc biệt
là tình trạng ô nhiễm không khí
Thủ đô Hà Nội với diện tích 927 km2 , có 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, dân số trên 2 triệu người, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Những năm gần đây ở Hà Nội tốc độ đô thị hoá đang diễn ra rất nhanh chóng, nhiều khu công nghiệp và khu dân cư mới được hình thành
Mật độ dân cư nội thành Hà Nội rất đông, đặc biệt tại các khu dân cư các quận nội thành, khu phố cổ Bình quân diện tích nhà ở là rất thấp, môi trường sống không đảm bảo đặc biệt là tình trạng ô nhiễm không khí; hoạt động giao thông vận tải và sản xuất tăng nhanh, đời sống kinh tế và văn hoá của nhân dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển nhanh chóng đó
là mức độ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường không khí; thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra rất nặng nề
Cũng như nhiều thành phố lớn khác ở Việt Nam, nguồn gây ô nhiễm chính tại Hà Nội là:
- Nguồn thải công nghiệp với gần 500 cơ sở sản xuất công nghiệp tại 9 khu công nghiệp cũ và 5 khu công nghiệp mới xen kẽ trong khu vực nội thị và ngoại thành, gần 200 nhà máy và xí nghiệp thải các chất gây ô nhiễm không khí
- Nguồn thải giao thông vận tải với gần 200.000 ô tô và hơn 1,4 triệu xe máykhông bảo đảm các tiêu chuẩn thải khí thải Hiện tượng tắc nghẽn giao thông phổ biến đã gây ra tình trạng ô nhiễm khí cục bộ
Trang 17- Nguồn thải sinh hoạt và các hoạt động dịch vụ: Các loại bếp ga, bếp dầu
và bếp than là chủ yếu Nhà ở đông người, mái thấp, chật chội, nhiều khí thải
SO2 NOx, CO , nhiều hộ sản xuất thủ công khó quản lý và kiểm soát
Môi trường không khí Hà Nội đang ở mức báo động về tình trạng ô nhiễm, tình trạng này làm gia tăng các bệnh về đường hô hấp, tai mũi họng, mắt dẫn tới môi trường sống kém chất lượng, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, giảm sự thu hút của du khách và các nhà đầu tư Năm 2004 Thành Uỷ đã xác
định và thông qua đề án cải thiện môi trường xã hội trong đó có công tác nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sức khoẻ-môi trường ở Hà Nội, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh chung và các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí đang gia tăng đặc biệt là các bệnh đường hô hấp như viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm xoang Các chi phí cho vấn đề sức khoẻ và môi trường ngày càng lớn
Vì vậy đánh giá thực trạng các yếu tố ô nhiễm môi trường không khí, cơ cấu bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm môi trường không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên, đề xuất các giải pháp hạn chế ô nhiễm, bảo vệ sức khoẻ, xây dựng phát triển kinh tế xã hội thủ đô 2005-2010 là hết sức cần thiết Đề tài nghiên cứu này nhằm các mục tiêu như đã nêu ở phần mục tiêu
Trang 18Phần 2
tổng quan tài liệu
2.1 Lịch sử nghiên cứu ô nhiễm môi trường:
Nguồn gây ô nhiễm không khí đầu tiên do con người gây ra là do quá
trình đun nấu thức ăn và sưởi ấm (từ khi con người tìm ra lửa) Đây là hình
thức gây nhiễm bẩn không khí sớm nhất mặc dù khả năng gây tác động có hại thường không đáng kể [43]
Theo y văn ghi lại thì người ta đã đề cập vấn đề ô nhiễm không khí và
tác động của nó tới sức khỏe con người từ rất lâu Hippocrate (danh y thời cổ
Hy Lạp, năm 460 - 377 trước công nguyên), trong bài luận giải về không khí,
nước và đất đã nói đến một vài bệnh do ô nhiễm trong quá trình lao động sản xuất gây nên: bệnh do tiếp xúc với chì, bụi, nhưng ít người quan tâm đến những bệnh này [114]
Thế kỷ thứ nhất, Pline tác giả cuốn "lịch sử tự nhiên" (de historia
naturalis) đã nhắc đến một loại khẩu trang phòng hộ đeo ở mũi và miệng để tránh hít phải các loại bụi và hơi chì do ô nhiễm không khí trong quá trình sản xuất
Thế kỷ thứ 2, Gallien đã nêu lên một vài bệnh do yếu tố nghề nghiệp gây ô nhiễm phát sinh [51]
Theo Halliday E.C.A trong bài "ôn lại lịch sử ô nhiễm không khí" (Historical review of atmospheric pollution) khi mà củi đun nhường chỗ cho
than đá là thời kỳ ô nhiễm không khí bắt đầu gây sự chú ý của mọi người [63] Năm 1306, ở Anh có sắc lệnh cấm đốt than ở những xưởng thủ công dọc 2 bên bờ sông của thành phố Luân đôn, vì đã gây ô nhiễm cho dân cư ở vùng xung quanh Đây là lời cảnh tỉnh sớm nhất về ô nhiễm không khí do sản xuất công nghiệp [63]
Trang 19ở Pháp, năm 1382 vua Charles VI ra chỉ dụ cấm thải khí uế trong thành phố Pari [63]
Cuối thế kỷ 14 và sang thế kỷ 15, đốt than lấy nhiệt trong sản xuất tăng lên, khói và mùi than đã gây khó chịu cho con người, do đó muốn giữ bầu không khí trong sạch cần có các biện pháp làm giảm ô nhiễm [63]
Thế kỷ 16, George Bauer dưới cái tên George Agricola (1494-1553), là một thày thuốc vùng mỏ đã mô tả tổn thương đường hô hấp ở công nhân khai thác mỏ và luyện kim, và cho rằng chính bụi gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất đã xâm nhập vào phổi, gây khó thở, ăn mòn phổi và tàn phá cơ thể của
họ
Thế kỷ 17, Ramazzini (1633-1714), được coi là người sáng lập ra
ngành vệ sinh lao động với tác phẩm "bệnh của người lao động" nổi tiếng
Suốt đời ông nghiên cứu điều kiện lao động của các ngành nghề và bệnh tật của người công nhân do ô nhiễm môi trường lao động gây ra [51]
Năm 1661, John Evalyn với báo cáo "nhiễm bẩn do khói và sự lan toả khói trong không khí thành phố Luân Đôn" đã mô tả về tác động của ô nhiễm
môi trường không khí do sự đốt cháy các nhiên liệu gây ra, như làm đục bầu trời, giảm bức xạ mặt trời, làm con người đau yếu và tử vong [63]
Thế kỷ 18, Percival Pott (1711-1788), người đầu tiên mô tả bệnh ung thư do ô nhiễm môi trường lao động gây nên Năm 1775, ông đã nhắc đến vai trò của mồ hóng trong nguyên nhân gây ung thư bìu ở người thông ống khói [51]
ở Nga, thế kỷ 15, 16, người ta phát hiện thấy công nhân mỏ than, mỏ
đá có các triệu chứng kiểu bệnh bụi phổi như đau tức ngực, khó thở khi gắng sức, dễ mệt mỏi, các triệu chứng ngày càng nặng và dẫn tới tử vong [63]
Như vậy ô nhiễm không khí do sản xuất gây nên đã tác động trên sức
Trang 20thành mối quan tâm của mọi người Năm 1863, nước Anh là quốc gia đầu tiên ban hành đạo luật để giữ gìn không khí trong sạch, gọi là đạo luật Alcali (Alcali Acts) và thành lập cơ quan thanh tra về môi trường chống ô nhiễm không khí Chưa đầy 1 năm sau, xuất hiện một pháp lệnh về chống ô nhiễm không khí được thực thi ở Mỹ từ ngày 1/1/1864, do sản xuất Cacbonat ancalin đã thải vào không khí một lượng không nhỏ axit clohydric Và cũng trong năm 1864, nhà ngoại giao George Rerkins Marsch đã đưa ra quan niệm
về bảo vệ thiên nhiên, phòng chống ô nhiễm trong cuốn "con người và thiên nhiên" [41]
Đầu thế kỷ 20, các ngành công nghiệp phát triển với tốc độ cao, nhiều thủ đô, thành phố lớn của nhiều nước đã trở thành các trung tâm công nghiệp thì nguồn gây ô nhiễm không khí càng lớn Không khí ô nhiễm tác động không chỉ tới người công nhân trực tiếp sản xuất trong các nhà máy mà còn tác động lên cả một vùng dân cư rộng lớn xung quanh Đó là các thảm hoạ
đầu độc thành phố ở thung lũng sông Manse (Bỉ) 1930, làm 60 người chết và
6000 người phải vào các cơ sở y tế điều trị ở Donora - bang Pennosylvania (Mỹ) 1948, làm 20 người chết, 6000 người phải vào các cơ sở y tế điều trị
Trong các vụ này do hiện tượng "nghịch đảo nhiệt" mà toàn bộ khói bụi do
các nhà máy công nghiệp của thành phố thải ra đã tích tụ lại, gây ô nhiễm,
đầu độc chính người dân thành phố [63]
Điển hình là ngày 8/9/1952, khói bụi do các nhà máy thải ra và sương
mù đã bao phủ dày đặc thủ đô Luân đôn của nước Anh, làm 4.000 người chết vì tổn thương nặng ở phổi, 10.000 người phải vào điều trị tại các cơ sở y tế Sau sự kiện này, chính phủ Anh đã đưa ra một loạt các biện pháp dưới dạng
sắc lệnh gọi là "sắc lệnh không khí sạch" (Clean air act) [63]
Thành phố Los Angeles (Mỹ) cũng đã có lần xảy ra tương tự Không khí ô nhiễm bị tù hãm đã bao phủ từ miền Chicago, Milwankee tới New Orpeans và Philadelphia ở nước Mỹ vào tháng 8/1969 và gây ra nhiều thiệt hại [58]
Trang 21Một thảm họa lớn nhất trong lịch sử loài người do ô nhiễm môi trường không khí xảy ra trong thời gian gần đây, đó là vụ rò khí MIC (khí methyl-iso-cyanate) của liên hiệp sản xuất phân bón ở Bhopal (ấn độ) vào năm 1984 Khoảng 2 triệu người ở Bhopal đã bị nhiễm độc, trong đó 5 ngàn người đã chết và 5 vạn người bị nhiễm độc trầm trọng [58]
Tháng 3/1992 vừa qua dân thành phố Mexico (Mêhicô) đã trải qua những ngày rất khó khăn, 2,5 triệu chiếc xe hơi và khoảng 30 ngàn xí nghiệp công nghiệp của thành phố hoạt động đã thải vào không khí khoảng 4,3 triệu tấn bụi và hơi khí độc, làm nồng độ bụi và hơi khí độc trong không khí vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Thành phố đã phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp: tạm ngừng hoạt động của 1 triệu ô tô, hàng chục nhà máy xí nghiệp công nghiệp phải tạm ngừng hoặc giảm 3/4 kế hoạch sản xuất, nhằm cứu vãn môi trường không khí khỏi bị ô nhiễm quá mức, gây nguy hiểm cho sức khỏe của dân cư thành phố [58]
Để đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí do công nghiệp gây ra tại một vùng và đánh giá tác động của nó trên sức khỏe, người ta đã đo
đạc khảo sát tại nhiều điểm trên hiện trường; hoặc dùng mô hình toán học tính toán quá trình khuyếch tán của chất ô nhiễm trong môi trường không khí Theo hướng này, từ 1959 Angus Smith đã tiến hành tính toán sự phân bố nồng độ khí CO2 ở thành phố Manchester theo phương pháp toán học dựa
trên cơ sở lý thuyết của Gauss (còn gọi tắt là mô hình Gauss) [58] ở Liên xô
trước đây, Berliand sử dụng lý thuyết K khuyếch tán rối để tính toán quá
trình khuyếch tán này (còn gọi tắt là mô hình K hay mô hình Berliand) [100]
ở nước ta từ 1977, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Cung và cộng sự cũng đã áp dụng tính toán mô hình Berliand cho vùng ô nhiễm khu công nghiệp Việt Trì
và các vùng khác [37,41] Từ 1988, Phạm Ngọc Đăng, Lê Văn Nãi và cộng
sự đã áp dụng tính toán theo cả 2 mô hình Gauss và Berliand cho một số vùng ô nhiễm công nghiệp kết hợp khảo sát đo đạc tại hiện trường [20,22]
Trang 22cầu (Global Environment Monitoring System - GEMS) ở các nước đặt 3 trạm
monitoring không khí: 1 tại khu vực sản xuất công nghiệp, 1 tại khu vực thương mại và 1 tại khu dân cư sinh sống Số liệu đo của các trạm này cho phép tiến hành đánh giá hiện trạng và xu thế phát triển của ô nhiễm môi trường không khí các khu vực và toàn cầu [58]
Như vậy từ đầu thế kỷ đến nay, càng có nhiều người quan tâm, nhiều nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, không khí và tác động của nó trên sức khỏe Đặc biệt trong thập kỷ 80, 90 ở tất cả các châu lục, đều có những nghiền cứu về lĩnh vực này
2.2 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trường ở nước ngoài:
Jin H., Zheng.M., Mao.Y., Wan.H (1993) nghiên cứu tại Trung Quốc thấy rằng ở những vùng có mức độ ô nhiễm không khí khác nhau thì thấy tác
động trên sức khỏe cũng khác nhau Các tác giả đã nghiên cứu trên 2 nhóm:
- Một nhóm có môi trường ô nhiễm nặng với nồng độ khói SO2: 255,56 àg/m3; NO2: 34,02 àg/m3; CO: 7,33 mg/m3 và bụi lơ lửng 160,02 àg/m3
- Nhóm kia ít ô nhiễm hơn, tương ứng là 28,65 àg/m3; 29,23 àg/m3; 2,30 mg/m3; 86,39 àg/m3
Với 308 trẻ em từ 11-13 tuổi ở nhóm ô nhiễm nặng và 305 trẻ ở nhóm
ô nhiễm ít, các tác giả thấy ở nhóm ô nhiễm nặng tỷ lệ mắc các triệu chứng tổn thương cao hơn, chức năng hô hấp giảm một cách rất rõ rệt so với nhóm
ít ô nhiễm với P<0,05 và P <0,01 Cụ thể là: viêm khí phế cấp: ô nhiễm nặng 22,0%, nhóm ô nhiễm ít 2%; viêm mũi họng: ô nhiễm nặng 16,0%, nhóm ô nhiễm ít 4,0%; ho: nhóm ô nhiễm nặng 73%, ô nhiễm ít 28%; khò khè
đờm: ô nhiễm nặng 41,0% , ô nhiễm ít 16%; những triệu chứng của họng: ô nhiễm nặng 30%, ô nhiễm ít 18%; những triệu chứng của mũi: ô nhiễm nặng 11%, ô nhiễm ít 2% Về chức năng thông khí phổi, ô nhiễm nặng có FVC giảm rõ rệt: 2368,47 ml, ô nhiễm ít có FVC là 2697,28 ml; ô nhiễm
Trang 23giả thấy rằng nồng độ khí SO2 và bụi lơ lửng có mối tương quan rõ với FVC (r =- 0,7 với SO2 và -0,9 với bụi), và với FEV1 (r = -0,9 với SO2 và -0,7 với bụi) [89]
ở Accra các tác giả thấy 70% bệnh tật người dân có liên quan ô nhiễm môi trường, ở Katowice: 87% bệnh tật liên quan ô nhiễm môi trường Tổn thương gặp nhiều nhất là các bệnh mãn tính và cấp tính về đường hô hấp, bệnh nhiễm trùng, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (chronic obstructed lung disease) [108]
Beaglehole R., Bonita R., Kjellstrom T., (1993) khi phân tích kết quả
của vụ dịch sương mù SMOG (viết tắt: Smoke và fog) tháng 12-1952 tại
London đã thấy rằng khi nồng độ SO2 là 0,25 ppm và khói 1,0 mg/m3 thì số người tử vong do bệnh phổi và tim mạch: 250 người/ngày Khi nồng độ SO2tăng 0,5 ppm và khói 2,0 mg/m3 thì số người tử vong tăng lên 500 người/ ngày Và khi SO2 tăng lên 0,75 ppm và khói 3,0 mg/m3 thì số người tử vong trên 750 người/ngày Đã có mối tương quan rất rõ rệt giữa nồng độ SO2, khói
và số người tử vong Khi ô nhiễm càng nặng thì số người tử vong càng cao [1]
Molina C.L., Caillaud D., Molina N., (1993) đã nghiên cứu trên 1800 người của 1 công ty tại Paris (Pháp) được chia làm 2 nhóm, 1 nhóm có môi trường không khí bị ô nhiễm, 1 nhóm có môi trường không khí sạch làm chứng Các tác giả thấy rằng tỷ lệ mắc các triệu chứng của hội chứng SBS và các dấu hiệu bệnh mắc phải của nhóm ô nhiễm cao hơn nhóm chứng một cách rõ rệt Cụ thể: viêm mũi, viêm xoang ở nhóm ô nhiễm 67,3% so với chứng 7,9% (P<0,001) Hen nhóm ô nhiễm : 12,2% so với chứng 2,6% (P<0,001) Các triệu chứng khác nhóm ô nhiễm 16,3% so với chứng 7,9% [106]
Muzi G., Abbritti G., Accattoli M.P., (1993) đã nghiên cứu 198 người công nhân làm việc ở môi trường có ô nhiễm và 218 người làm việc ở môi
Trang 24môi trường ô nhiễm phàn nàn về sự không tiện nghi: 30,6% so nhóm chứng: 18,9% Các triệu chứng của hội chứng SBS ở nhóm ô nhiễm cao hơn rõ rệt nhóm chứng: Ho: nhóm ô nhiễm 1,5% so với chứng 0,47% Các triệu chứng
về mắt: nhóm ô nhiễm 29,3% so với chứng 14,6% (P < 0,001) Tắc mũi:
nhóm ô nhiễm 5,1% so với chứng 1,1% (P<0,01) Ngứa mũi (kích thích mũi):
nhóm ô nhiễm 2,5%, so với chứng 1,4% Khô họng: nhóm ô nhiễm 21,7% so với chứng 9,3% (P< 0,001) Ngực bị chèn ép: nhóm ô nhiễm 2,2%, so với chứng 0% (P< 0,001) Khô da: nhóm ô nhiễm 10,6%, so với chứng 2,5% (P <
0,001) Hồi hộp (bồn chồn): nhóm ô nhiễm 5,1%, so với chứng mắc 2,8%
[107]
Nel C.M.E., Terblanche A.P.S., Opperman L., Kock D., (1993) nghiên cứu 144 trẻ em 8-12 tuổi ở nhóm chứng và 211 trẻ em ở nhóm không khí trong nhà bị ô nhiễm do đốt than ở vùng Township trung tâm Nam phi thấy rằng các bệnh về hô hấp và triệu chứng tổn thương đường hô hấp ở nhóm trẻ
em sống vùng không khí ô nhiễm cao hơn ở nhóm trẻ em sống ở vùng không
ô nhiễm (đối chứng) Kêu đau ở ngực: nhóm ô nhiễm 2,8 %, so với chứng
2,0% Chảy nước mũi: nhóm ô nhiễm 4,0 %, so với chứng 2,0% Đau ở tai: nhóm ô nhiễm 4,9 %, so với chứng 2,0 Viêm xoang: nhóm ô nhiễm 2,2 %,
so chứng 1,4% [109]
Norback D., Rand G., Michel I., Amcoff S (1987), tại Thuỵ điển đã nghiên cứu 126 người có môi trường không khí bị ô nhiễm bởi NO2: 18 ppm, NO: 50 ppn, CO2: 350-1800 ppm, bụi 46 mg/m3 và 407 người nhóm chứng
(không bị ô nhiễm) thấy có sự khác biệt rõ rệt về các triệu chứng của hội
chứng SBB với OR từ 1,5-2 và P<0,05 Kích thích mắt: vùng ô nhiễm 18,3 %,
so với chứng 3,9% Khô họng: vùng ô nhiễm 5,5%, so với chứng 3,4% Ho: vùng ô nhiễm 9,5%, so với chứng 1,7 % Đau đầu: vùng ô nhiễm 5,5%, so với chứng mắc 5,1% [110]
Parkes R.W (1974), nghiên cứu trên 20.000 công nhân đúc thép ở South Wales (Anh), tác giả thấy có mối liên quan giữa viêm phế quản mãn
Trang 25tính với sự tiếp xúc bụi và khí SO2 đơn thuần hoặc kết hợp (dù cho sự ảnh hưởng của hút thuốc lá vẫn nổi lên một cách rõ rệt)
- Với môi trường ít bụi, ít SO2, tỷ lệ mắc viêm phế quản mãn: 14,8%
(chủ yếu do đốt than) đã tác động rõ rệt lên tổn thương đường hô hấp của trẻ
em trong vùng Cụ thể ở thành phố Thượng hải nồng độ khí SO2: 436 àg/m3; CO: 6550 àg/m3; NO2: bằng vùng chứng, bụi hô hấp (respiratory particles - RP) : 708 àg/m3 thì có tỷ lệ các tổn thương đường hô hấp (respiratory illness)
là cao nhất: viêm khí quản: 21,9% (P<0,01 so chứng); viêm họng hầu: 15,4% (P<0,01 so với chứng); viêm amiđan: 16,7% (P<0,01 so với chứng); hen: 1,6% (P>0,05 so với chứng); viêm họng (xung huyết họng): 29,6% (P<0,01
so với chứng); chảy nước mũi: 10,9% (P< 0,01 so với chứng)[115]
Theo Samet J.M (1993), ở Mỹ các tác giả quan tâm đến nhiều vấn đề của ô nhiễm như : nguồn gây ô nhiễm không khí trong nhà: hơi khí độc, bụi, chất gây ung thư từ sinh hoạt trong nhà và từ ngoài nhà vào: chủ yếu do ô nhiễm công nghiệp, do hút thuốc lá Các tác giả thấy rằng ở những mức độ ô nhiễm khác nhau thì các mức độ tổn thương cũng khác nhau Khô mắt từ 18 - 34%; tắc mũi 32 - 58%; khô họng từ 33 - 56%; đau đầu từ 33 - 52% Các tác
Trang 26Skov P., Valbjorn (1987) đã nghiên cứu các triệu chứng của hội chứng
SBS trên 4369 người ở Greater Copenhagen (Đan mạch) thấy rằng ở vùng ô
nhiễm, các triệu chứng mắc cao hơn vùng không ô nhiễm một cách rõ rệt Các triệu chứng tổn thương niêm mạc có OR = 0,8 đến 3,0 so đối chứng, các triệu chứng chung toàn thân có OR = 0,6 đến 2,7 so đối chứng [120]
Spengler J.D., Ware J., Speizer F (1987) đã nghiên cứu chất gây ô nhiễm trong nhà: NO2, SO2, bụi, tình trạng hút thuốc trong cả 4 mùa trên
1000 trẻ em tại 6 thành phố của Mỹ đã thấy rằng: tỷ lệ các tổn thương đường hô hấp có liên quan chặt chẽ với nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí [128]
Theo Gualtierotti R (1972) ở Pháp nhiễm bẩn không khí ngày nay chủ yếu do hơi khí và bụi thoát ra từ ống khói các nhà máy và từ xe có động cơ.[1]
Các tác giả coi không khí bị nhiễm bẩn là nguyên nhân quan trọng gây ung thư đường hô hấp ở cả người nghiện thuốc lá và không nghiện thuốc lá
và cho rằng việc mắc bệnh ung thư phổi tăng lên phải có sự phối hợp của không khí bị nhiễm bẩn Những thống kê ở Anh cho thấy số tử vong do ung thư phổi ở thành phố và những khu công nghiệp cao hơn nhiều so với nông thôn Thành phố càng đông dân, ung thư phổi càng cao Stocks và Campbell
đã thống kê thấy rằng những bộ phận cơ thể không tiếp xúc với không khí nhiễm bẩn thì ở nông thôn hay thành phố tỷ lệ bị bệnh ung thư không khác
nhau (ung thư vú, ung thư tử cung)
ở ý, các tác giả nghiên cứu sự ô nhiễm không khí thấy gây nên rất nhiều rối loạn như cảm giác khó chịu đối với khứu giác, thị giác, tăng kích thích với da, niêm mạc, bị giảm sút thoải mái trong đời sống và thấy có sự liên quan giữa độ nhiễm bẩn không khí với một số bệnh như ung thư dạ dày, thanh quản, khí phế quản, phổi, thiếu máu, hen phế quản, suy tim xung huyết, viêm phế quản cấp tính hay mãn tính, viêm họng, nhức đầu Các tác
Trang 27giả còn coi nhiễm bẩn không khí như nguyên nhân gây tử vong của một số bệnh ở động mạch vành và não[100]
Karvonen M., Mikheev M.I (1993) nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên sự mắc bệnh ở trẻ em và người lớn tại 37 thành phố thấy rằng: với 29 bệnh được phát hiện lần đầu qua thăm khám cho 10.000 người
của 3 nhóm: trẻ em (dưới 14 tuổi), vị thành niên (từ 14-17 tuổi) và người lớn,
các tác giả đã xác định được 1 số mối tương quan quan trọng giữa nồng độ
SO2, NO2, CO, bụi với 1 số bệnh Cụ thể có mối tương quan giữa loét dạ dày với SO2 với r = 0,52± 0,16; có mối tương quan và sự phối hợp giữa SO2, NO2với bệnh nhiễm trùng cấp của đường hô hấp trên ở thanh niên và viêm phế quản ở trẻ em với r = 0,65±0,08 và r = 0,58± 0,09 Các tác giả còn thấy sự phối hợp giữa SO2 và bụi trong không khí với viêm dạ dày mãn tính ở trẻ em:
r = 0,59±0,18 và giữa loét đường tiêu hoá ở người lớn với tiếp xúc phối hợp của SO2 và NO2: r = 0,57± 0, 16 và với SO2 và CO: r = 0,52±0,17 Các hệ số tương quan đa biến đối với các ca bệnh khác không có ý nghĩa thống kê [114]
Theo UNEP (1993), tại khu vực bắc Mỹ và khu vực châu á và Thái bình dương thuộc ủy ban kinh tế xã hội châu á-Thái bình dương (ESCAP) thì
tại 4 thành phố của Bắc Mỹ (Toronto, Vancouver-Canada và Chicago, New York-Mỹ) nồng độ SO2 và bụi ở Bắc Mỹ đều dưới tiêu chuẩn cho phép (TCCP: SO2: 40 àg/m3; bụi: 60 àg/m3) Còn 22 thành phố của ESCAP thì có nhiều thành phố có nồng độ SO2 và bụi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần: Beijing: SO2: 157 àg/m3; bụi: 338 àg/m3 Guang Zhou: SO2: 74 àg/m3; bụi:
283 àg/m3 Shenyang: SO2: 236 àg/m3; bụi: 347 àg/m3 Xian: SO2: 114 àg/m3; bụi: 327 àg/m3 (Trung Quốc) Calcutta: SO2: 85 àg/m3; bụi 330 àg/m3 Delhi: SO2: 49 àg/m3; bụi 338 àg/m3 (ấn độ) Tehran: SO2: 163 àg/m3; bụi
347 àg/m3 (I ran) Manila: SO2: 60 àg/m3; bụi: 225 àg/m3 (Philippin) Seoul:
Trang 28kèm theo mức độ ô nhiễm nặng thì nhiều bệnh về tổn thương đường hô hấp, ung thư cũng tăng cao ở Beijing, tỷ lệ ung thư phổi tăng lên 145% tính từ năm 1949 đến năm 1979; ở Bangkok: 900.000 ca bệnh tổn thương đường hô hấp trong năm ở Bombay: lao phổi và bệnh ở đường hô hấp là nguyên nhân cao nhất gây tử vong cho người đến tuổi trưởng thành trong thành phố ở Calcutta: 60% số người dân nội thị cư trú thường xuyên tại thành phố bị các bệnh về đường hô hấp [135]
Theo Smith K.R (1987) có tới 74% dân số đô thị toàn cầu là sống trong đô thị của các nước đang phát triển, còn 26% dân số đô thị còn lại là sống trong đô thị của các nước đã phát triển Trong đó việc đốt nhiên liệu lấy năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt thì ở 2 loại đô thị này khác nhau Đô thị
ở các nước đang phát triển dùng than đá và củi là chủ yếu, ở đô thị các nước
đã phát triển dùng nhiên liệu lỏng và khí tự nhiên là chủ yếu Do đó mức độ
ô nhiễm không khí ở 2 loại đô thị cũng khác nhau Các tác giả thấy rằng tỷ lệ bệnh tật ở 2 loại đô thị này cũng khác nhau và khác so với chung toàn cầu: Bệnh hô hấp: đô thị đang phát triển 21%, so với đô thị đã phát triển 7,5% (chung toàn cầu 18%)
Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng: đô thị đang phát triển 18%, so đã phát triển 0% (chung toàn cầu 14%)
Bệnh tim mạch: đô thị đang phát triển 16%, so đô thị đã phát triển 48% (chung toàn cầu 25%)
Bệnh ung thư: đô thị đang phát triển 6% so đô thị đã phát triển 19% (chung toàn cầu 9%) Các bệnh khác: đô thị đang phát triển 39%, so đô thị
đã phát triển 25,5% (chung toàn cầu 34%) Như vậy, ở đô thị đang phát triển; bệnh hô hấp mắc cao nhất, tiếp theo bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng Ngược lại ở đô thị đã phát triển: bệnh tim mạch mắc cao nhất, tiếp theo là bệnh ung thư [126]
Spengler J., Neas L., Nakai S (1993) đã nghiên cứu trên 600 trẻ em
Trang 29nhà ở khác nhau thấy rằng: ô nhiễm không khí nhà ở tác động rõ rệt trên sức khỏe trẻ em, đặc biệt tới những tổn thương của đường hô hấp: hen: 11,4%, thở khò khè dai dẳng (persistent wheeze): 8,1%, thở ngắn nông (shortness of breath) 8,3% Các triệu chứng của phế quản 11,6%, viêm phế quản 6,3%, ho phế quản (chronic cough) 5,5%, đờm phế quản (chronic phlegm) 3,1% Các triệu chứng tổn thương đường hô hấp khác trung bình: 16,9% [129]
Stenberg B., Eriksson N., Hansson M.K (1993) đã nghiên cứu trên
4943 người lao động ở trong những môi trường có mức độ ô nhiễm không khí khác nhau ở Thụy Điển Các tác giả thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS so với dối chứng đều mắc cao hơn rõ rệt với OR trung bình so với
đối chứng là 3,4 (OR từ 2,7-4,2) (P<0,005)[130]
Wallace L.A., Nelson C.J., Glen G (1993) đã nghiên cứu trên 6771
người lao động tiếp xúc với các chất ô nhiễm không khí khác nhau (hoá chất, sơn, bụi) và ở trong các điều kiện vi khí hậu khác nhau (không khí khô, ẩm) tại Mỹ Với 32 triệu chứng về sức khỏe qua hệ thống câu hỏi chuẩn của hội
chứng SBS các tác giả thấy tất cả các triệu chứng đều mắc cao hơn rõ rệt ở nhóm có môi trường không khí bị ô nhiễm so với đối chứng Cụ thể đau đầu: P<0,01; các triệu chứng về mũi: P<0,01; ngực bị chèn ép, thở khò khè, thở ngắn nông: P<0,01; ngứa, kích thích mắt: P<0,01; đau bụng, khô họng: P<0,01; mệt mỏi, buồn ngủ: P<0,01, đau, khó cử động ở cổ, lưng: P<0,01; khô da: P < 0,01 [136]
Bushtueva K.A (1986) thấy rằng ở Liên xô (cũ) nguồn gây ô nhiễm không khí do sản xuất công nghiệp chiếm một phần rất lớn: SO2: 7,3 107 tấn/năm, CO: 2.108 tấn/năm, NOx: 1,5.107 tấn/năm, CO2: 1,5.1010 tấn/năm, bụi 960-2615.106 tấn/năm Theo tác giả thì CO chiếm tỷ lệ cao nhất: 31,9%, bụi: 28,3%, SO2: 27,0%, hydrocacbon: 10,7%, NOx: 1,1%, chất khác: 1,0% Trong đó do nhiệt điện chiếm 27%, luyện kim đen 24,3%, công nghiệp hoá dầu 15,5%, giao thông 13,1%, luyện kim màu 10,5%, xây dựng 8,1%, công
Trang 30gây ô nhiễm cho cả 1 vùng xung quanh các khu công nghiệp Tác giả chia ra
3 vùng và thấy rằng: ở vùng có nồng độ chất ô nhiễm vượt 5 lần tiêu chuẩn cho phép trở lên thì làm tăng mức mắc bệnh lên gấp 2-4 lần và làm thay đổi chức năng của cơ thể ở vùng nồng độ chất ô nhiễm ở mức tiêu chuẩn cho phép hoặc gần mức tiêu chuẩn cho phép thì kết quả nghiên cứu ở vùng này cho phép đánh giá lại các tiêu chuẩn cho phép đã phù hợp chưa ? Vùng thứ 3: nồng độ chất ô nhiễm dưới tiêu chuẩn cho phép thì coi như là vùng trong sạch, đối chứng [1]
Theo Gildenskiond R.S (1976) khi nghiên cứu mức độ ô nhiễm của không khí xung quanh các khu công nghiệp ở Liên xô (cũ) thấy rằng các chất
ô nhiễm phân tán ra khu vực xung quanh đều tuân theo mô hình Berliand, nghĩa là có 1 vùng cực đại ở khoảng cách 1500 mét so với nguồn ô nhiễm Tác giả thấy rằng càng xa nguồn, tỷ lệ các hạt bụi có kích thước dưới 5à
càng cao [1]
Konstantinov V.G., Kuzminukh A.I (1971) khi nghiên cứu ô nhiễm không khí trong các nhà máy sản xuất nhôm ở Liên xô (cũ) thấy rằng các hợp chất hydrocacbua thơm đa vòng (chứa 3-4 benzopyren) và bụi tác động
rõ rệt lên bệnh ung thư đường hô hấp (ung thư phổi, ung thư phế quản, ung thư màng phổi) và ung thư da Nghiên cứu tỷ lệ chết do ung thư ở 2 nhóm
tuổi: 18-39 tuổi và 40 tuổi trở lên của công nhân ở 2 nhà máy có nồng độ chất ô nhiễm cao trong không khí Các tác giả thấy rằng tỷ lệ chết chung do các loại ung thư: chung toàn nhà máy: 1,85 lần cao hơn so toàn thành phố, nhóm 18-39 gấp 7,15 lần so nhóm tương ứng của thành phố, nhóm 40 tuổi trở lên gấp 1,57 lần so nhóm tương ứng của thành phố Tỷ lệ chết do ung thư phổi, phế quản và màng phổi của chung toàn nhà máy gấp 1,7 lần, nhóm 18-
39 tuổi gấp 8,3 lần, nhóm 40 tuổi trở lên gấp 1,6 lần so với nhóm tương ứng của thành phố Chết do ung thư da do hiếm gặp nên các tác giả không nghiên cứu được ở 2 nhà máy này Nhưng theo thống kê chung của các tác giả ở các nhà máy sản xuất nhôm có ô nhiễm không khí bởi bụi và hydrocacbua thơm
Trang 31gấp 38,8 lần, ở nhóm tuổi từ 40 trở lên gấp 6,6 lần, và chung các nhóm tuổi của công nhân gấp 10,5 lần so với nam giới của dân chúng của nhóm đối chứng [1]
Balaras C.A., Santamouris M., Dascalaki E (1993) đã nghiên cứu trên
437 người tại 30 điểm của thành phố Athens Hy lạp với 1 nhóm gồm 252 người có môi trường không khí bị ô nhiễm và 1 nhóm gồm 185 người đối chứng Các tác giả thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS của nhóm ô nhiễm đều cao hơn nhóm đối chứng: Ho ở nhóm ô nhiễm 22,6% so đối chứng 15.7%; viêm phổi, phế quản ở nhóm ô nhiễm 1,2%, so đối chứng 0%; thở ngắn nông ở nhóm ô nhiễm 19,8% so đối chứng 13%; Viêm phế quản mãn ở nhóm ô nhiễm 5,2% so đối chứng 2,7%; đau đầu ở nhóm ô nhiễm 68,7% so đối chứng 49,7% [68]
Blom P., Skaret E., Levy F (1993) đã nghiên cứu trên 2197 người ở
Na uy trong điều kiện môi trường không khí nhà ở và cơ quan làm việc sự ô nhiễm với các mức độ khác nhau thấy rằng: các triệu chứng của hội chứng SBS có đáp ứng đối với ô nhiễm môi trường không khí một cách rõ rệt Các triệu chứng đáp ứng toàn thân ở nhóm ô nhiễm 14% so đối chứng 4%, các triệu chứng về niêm mạc ở nhóm ô nhiễm 12% so đối chứng 5% Các triệu chứng về da ở nhóm ô nhiễm 9% so đối chứng 3% [70]
Englert N., Prescher K.E., Seifert B (1987) đã nghiên cứu trong 4 tháng liên tục trên 40 trẻ em tại Berlin (West) Cộng hòa liên bang Đức Các tác giả nghiên cứu các điều kiện môi trường, nồng độ hơi khí độc trong và ngoài nhà ở trong 4 tháng Nhiệt độ ngoài nhà: -4oC đến 2oC, trong nhà: 19,0oC đến 19,4oC; độ ẩm tương đối trong nhà từ 35 đến 43%; khí NO2 trong nhà từ 15 đến 24 àg/m3, khí NO2 ngoài nhà từ 43 đến 54 àg/m3; khí SO2ngoài nhà: 100 đến 190 àg/m3 Các tác giả nghiên cứu đồng thời các bệnh
đường hô hấp và thấy rằng khi nồng độ các chất ô nhiễm tăng lên và độ ẩm không khí thay đổi thì đã làm tăng các bệnh đường hô hấp: khi NO2 ≤ 30 à
Trang 32hấp 51% Khi độ ẩm điều hoà thì bệnh đường hô hấp mắc 38% Khi độ ẩm
có thay đổi một phần thì bệnh đường hô hấp 46% Khi độ ẩm có thay đổi lớn thì bệnh đường hô hấp 55% [76]
Dockery D.W., Spengler J.D., Speizer F.E (1987) đã nghiên cứu trên
6000 trẻ em từ 7 đến 11 tuổi tại 6 thành phố của Mỹ trong điều kiện ô nhiễm
môi trường không khí khác nhau (ô nhiễm từ ngoài nhà , ô nhiễm do khói thuốc lá, ô nhiễm do đốt nhiên liệu trong nhà) Các tác giả thấy ô nhiễm
không khí tác động rõ rệt lên tổn thương đường hô hấp: ho, thở khò khè, viêm khí phế quản, đau ở ngực với OR từ 1,31 đến 1, 60 (P < 0,05 đến P<0,01) [75]
Bushtueva K.A (1971) thấy rằng có mối liên quan rõ rệt giữa sự phát triển công nghiệp, ô nhiễm môi trường không khí và bệnh tật của dân cư, đặc
biệt là bệnh đường hô hấp ở Moskva (Liên xô cũ) từ 1931, 1936 đến 1962,
số chết vì ung thư phổi (trên 100.000 dân) của nam giới tăng 5,6 lần, nữ giới tăng 3,7 lần Tại Liên bang Nga, từ 1958 đến 1966 số người mắc bệnh u ở phổi (trên 100.000 dân) tăng từ 8,2 lên 21,1 Tác giả còn thấy tương tự ở Michigan (Mỹ) Cụ thể theo Carnow B.W thì những biểu hiện cấp tính của bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên bị viêm phế quản mãn tính có liên quan chặt chẽ với nồng độ khí SO2 bị ô nhiễm trong không khí ở bang Michigan khi nồng
độ khí SO2 0,15 mg/m3, thì mắc 13,6% (bệnh người/ngày); khi nồng độ SO20,30 mg/m3, thì tỉ lệ mắc bệnh 17,1%; khi nồng độ SO2: 0,45 mg/m3, thì tỷ lệ mắc bệnh 18,7%, khi nồng độ SO2 0,60 mg/m3, thì tỷ lên mắc bệnh 18,2%; khi nồng độ SO2 0,75 mg/m3, thì tỷ lệ mắc bệnh 18,6%; khi nồng độ SO20,90 mg/m3, thì tỷ lệ mắc bệnh 22,1%; khi nồng độ SO2 trên 0,90 mg/m3, thì
tỷ lệ mắc bệnh 26,5% Tác giả thấy tương tự ở Kavaxaki (Nhật) Theo Toyama thấy rằng ở Nhật, khi nghiên cứu nhiều bệnh ở các vùng thành phố,
vùng ven thành phố, vùng lân cận, vùng xa hơn và vùng nông thôn (có không khí trong sạch) thì ô nhiễm không khí các vùng thành phố và lân cận có ảnh
hưởng rõ rệt lên bệnh đường hô hấp Các bệnh khác: bệnh tim mạch, bệnh dạ
Trang 33dày, ruột không có ảnh hưởng Bệnh đường hô hấp ở vùng thành phố (Kavaxaki) mắc 29,5 (trên 1000 dân), vùng ven (Xôcagama) mắc 26,0 (trên
1000 dân), vùng lân cận (Phuiinô) mắc 24,5 (trên 1000 dân), vùng xa hơn (Cainan) mắc 20,0 (trên 1000 dân), vùng nông thôn (trong sạch)(Daito) mắc 4,6 (trên 1000 dân) [1]
Kirka E., Goldsmith J (1962) thấy rằng tại California (Mỹ) từ 1950
đến 1959 số chết do các bệnh đường hô hấp (trên 100.000 dân) đều tăng Chết do ung thư đường hô hấp tăng từ 13,5 lên 20,0; chết do hen, khí phế thũng và viêm phế quản mãn tăng từ 8,0 lên 15,5; chết do khí phế thũng tăng
từ 1,6 lên 7,0; chết do viêm phế quản mãn tăng từ 3,4 lên 5,4 Các tác giả thấy rằng do phát triển công nghiệp, ô nhiễm môi trường không khí tăng lên làm tăng tỷ lệ mắc và chết của bệnh, đặc biệt bệnh đường hô hấp Nghiên cứu nồng độ khí SO2 và bụi khói ở vùng ô nhiễm trong thành phố, vùng xung
quanh thành phố và vùng xa thành phố (ít ô nhiễm hơn) các tác giả thấy có sự
liên quan chặt chẽ giữa ô nhiễm không khí và bệnh đường hô hấp Khi nồng
độ SO2: 259 àg/m3; khói bụi: 281 àg/m3, số chết do ung thư phổi ở nam giới:
114 (trên 100.000 dân), do viêm phế quản mãn: 129 (trên 100.000 dân) ở vùng ít ô nhiễm hơn khi nồng độ SO2: 221 àg/m3, khói bụi: 203 àg/m3, số chết do ung thư phổi ở nam giới: 108 (trên 100.000 dân) do viêm phế quản mãn: 113 (trên 100.000 dân) ở vùng ven thị khi nồng độ SO2: 173 àg/m3, khói bụi 185 àg/m3 thì chết do ung thư phổi ở nam giới: 91 (trên 100.000 dân), do viêm phế quản mãn: 106 (trên 100.000 dân) ở vùng xa hơn khi nồng độ SO2: 94 àg/m3, khói bụi: 85 àg/m3, thì chết do ung thư phổi ở nam giới: 88 (trên 100.000 dân), do viêm phế quản mãn: 77 (trên 100.000 dân) [90]
Truter R.M., Opperman L., Terblanche A.P., (1993) đã nghiên cứu ở vùng Vaal Triangle của Nam phi trên 2 đối tượng nam và nữ Đây là vùng công nghiệp, gây ô nhiễm vùng dân cư xung quanh Nghiên cứu trên 3680
Trang 34mắc các triệu chứng của hội chứng SBS, nhưng tỷ lệ mắc cao hơn ở những
người vừa làm ở việc xí nghiệp và vừa sống ở nhà (bị tác động của cả 2 môi trường ô nhiễm:ở xí nghiệp và nhà ở): buồn ngủ (ngủ gà): nữ 14,5%, nam
15%; kích thích mắt: nữ 12,8%, nam 15,1% Đau họng: nữ 11,5% , nam 14,8%; chảy nước mũi: nữ 18,6%, nam 29,8%; khô da: nữ 18,4%, nam 15,5%; buồn nôn: nữ 8,5%, nam 7,6%; chóng mặt: nữ 10%, nam 10,5% [132]
Alibaev T.S (1971) đã nghiên cứu bệnh tật của dân cư xung quanh các khu công nghiệp, chịu ảnh hưởng của ô nhiễm không khí do khu công nghiệp gây ra ở Liên xô (cũ) Các tác giả thấy rằng: ô nhiễm không khí làm tăng các bệnh: viêm da, viêm kết mạc, hen phế quản, viêm mũi xung huyết, mày đay, làm tăng mẫn cảm của cơ thể với các yếu tố dị nguyên Trong đó đáng lưu ý
là hen phế quản và ung thư phổi Theo Yoshida K., Oshima H ở Iokkaichi (Nhật), dân chúng xung quanh khu công nghiệp hoá dầu này mắc bệnh hen
phế quản: 2,3% (trong đó người lớn tuổi mắc 7,1%) và liên quan rõ rệt với ô
nhiễm không khí [1]
Bushtueva K.A (1986) thấy rằng khi nồng độ chất ô nhiễm không khí
ở gần giới hạn cho phép thì không phải là hoàn toàn không có tác động gì tới sức khỏe mà nó tác động tới sức khỏe ở mức độ là có những thay đổi trong tổ chức dù chưa có biểu hiện lâm sàng Đặc biệt ở trẻ em có thể đã có biểu hiện lâm sàng Khi nồng độ chất ô nhiễm gấp 2-4 lần tiêu chuẩn cho phép thì gây những biến đổi về chức năng của cơ thể Khi nồng độ chất ô nhiễm gấp 5-10 lần tiêu chuẩn cho phép thì gây ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể, gây nên bệnh tật Tác giả ví tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe như hình ảnh một tảng băng nổi mà phần nổi là tác động gây nên tử vong và bệnh tật Phần rất lớn, phần chìm của tảng băng là số người bị những biến đổi về mặt chức năng và biến đổi về sinh hoá và tổ chức của cơ thể mà chúng ta chưa chú ý quan tâm Trên cơ sở đó tác giả chia 3 vùng tác động của ô nhiễm không khí: vùng gây tử vong và bệnh tật, vùng gây biến đổi chức năng của cơ thể và
Trang 35Wadden R.A., Scheff P.A (1987) đã nghiên cứu tác động phối hợp của SO2 và bụi ở những vùng có mức độ ô nhiễm khác nhau tại Mỹ và thấy rằng tác động của chúng rất rõ rệt lên bệnh đường hô hấp như gây ho có đờm, giảm chức năng hô hấp: giảm FVC, FEV 0,75, gây tăng bệnh đường hô hấp: viêm phế quản mãn, khạc đờm, thở khò khè Đặc biệt ở người già và trẻ em [1]
Glebova L.Ph (1976) đã nghiên cứu ô nhiễm không khí xung quanh khu vực sản xuất phân hoá học của Liên xô (cũ) thấy rằng không khí bị ô nhiễm bởi khói bụi và nhiều hơi khí độc: SO2, SO3, hợp chất florua, amoniac, oxyt nitơ Nồng độ trung bình tại các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép
1 vài lần ở cả 2 hướng gió chủ đạo Các hơi khí độc đã kết hợp với bụi tác
động rõ rệt lên các tổn thương đường hô hấp, mắt, nhất là ở người già và trẻ
em Tác giả đề xuất sự cần thiết bảo vệ vệ sinh không khí khí quyển ở những vùng bố trí các xí nghiệp công nghiệp hoá học [143]
Datsenko I.I (1981) nghiên cứu ô nhiễm không khí xung quanh khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng ở Liên xô (cũ) thấy khói bụi và khí SO2 do nhà máy thải ra gây ô nhiễm không khí trong vòng bán kính 3 km so ống khói nhà máy, ảnh hưởng rõ rệt lên bệnh đường hô hấp của dân chúng trong khu vực [143]
Lindberg Z.Ya (1964) và các tác giả Liên xô (cũ) đã nghiên cứu sự ô nhiễm môi trường không khí xung quanh khu công nghiệp sản xuất phân bón Supephotphat và axit sufuric đã thấy rằng: nồng độ HF vượt tiêu chuẩn cao nhất là 29 lần và nồng độ HF tăng cao trong vòng bán kính 3 km xung quanh nhà máy: từ 0,005-0,3 mg/m3, và khi khoảng cách tới nhà máy rút lại gần từ
3000 mét xuống 500 mét thì nồng độ flo tăng trung bình từ 0,098 đến 0,485 mg/m3 Các tác giả đã nghiên cứu 2 làng ở phía nam và phía tây gần nhà máy
có khoảng cách trung bình cách nhà máy từ 0,75-2,5 km đã thấy rằng flo trong nước uống của khu vực quanh nhà máy không cao qúa 0,3 mg/lít so
Trang 36bệnh fluoroze ở trẻ em mắc cao hơn (cả ở 3 mức độ: thể nhẹ, nặng, trung bình) Ngược lại tỷ lệ mắc sâu răng lại thấp hơn làng phía Tây (xa nhà máy)
Các tác giả còn thấy ô nhiễm không khí xung quanh nhà máy còn gây thiệt hại cho chăn nuôi gia súc của khu vực xung quanh [137]
Theo Eckholm E.P (1980), một tác giả nghiên cứu nhiều về ô nhiễm môi trường không khí và tác động trên bệnh tật của Mỹ đã thấy rằng: tại New York, nồng độ các hơi khí độc và bụi gây ô nhiễm cho dân chúng nằm trong
vòng bán kính 3 km, nặng nề nhất là theo hướng gió đông bắc (vùng Massachusetts tính từ Mankhettena) Mùa hè năm 1976 tại Sent-Luise, ô
nhiễm không khí lan đi 240 km mà nồng độ hầu như không giảm do gió đưa
đi [140] Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ phân tích thấy rằng: khí SO2chỉ chiếm 1/4 tổng số ô nhiễm ở Mỹ nhưng đã gây tác động trên 1/2 bệnh tật
và sức khỏe do ô nhiễm gây ra Ngược lại ô nhiễm do giao thông chiếm 1/2 tổng số ô nhiễm ở Mỹ nhưng chỉ gây ra 1/4-1/10 bệnh tật và sức khỏe do ô nhiễm gây ra [140]
Theo Eckholm E.P thấy rằng tại Mỹ: bệnh mãn tính đường hô hấp là bệnh điển hình của ô nhiễm không khí, trong đó phần lớn là viêm phế quản mãn tính, hàng năm gây 6% tử vong ở Mỹ và chiếm 2% trong nguyên nhân chết chung ở Mỹ từ 1940-1960, khí phế thũng chiếm 1% người cao tuổi ở
Mỹ và gây 20.000 ca tử vong mỗi năm Viêm phế quản mãn: 3% người cao tuổi bị mắc hen: gần 4% dân chúng bị mắc Các tác giả thấy ở Mỹ, viêm phế
quản mãn gặp dân cư ở thành phố (có môi trường không khí ô nhiễm) cao hơn vùng nông thôn (có môi trường không khí trong sạch) một cách rõ rệt Tương
tự ở London khi nghiên cứu công nhân ở London và 3 vùng nông thôn đã kết luận: nhiễm bẩn không khí là nguyên nhân chủ yếu làm tăng nặng bệnh viêm phế quản mãn ở London ở Canada khí phế thũng ở người hút thuốc ở vùng ô nhiễm cao hơn 4 lần vùng không ô nhiễm Các tác giả kết luận hút thuốc lá
và ô nhiễm không khí là nguyên nhân làm tăng bệnh này [140]
Trang 37Theo Eckholm E.P ở Anh, trẻ em 3 tuổi bị bệnh nhiễm trùng đường hô hấp nhiều gấp 3 lần ở trẻ em vùng không khí trong sạch Kết luận này cũng
được rút ra từ nghiên cứu ở Nigeria, Colombia, ấn độ Tác giả kết luận: nhiễm bẩn không khí không chỉ làm tăng các bệnh viêm phế quản mãn, tăng bệnh đường hô hấp người lớn mà còn làm tăng bệnh cấp tính đường hô hấp,
đặc biệt ở trẻ em và làm tăng các bệnh nhiễm trùng khác, so vùng không khí trong sạch [140]
Theo Eckholm E.P ở Mỹ, những người sống ở thành phố mà hút thuốc mắc ung thư phổi cao hơn 20 - 30% so những người như vậy sống ở vùng
nông thôn (không khí trong sạch) và người không hút thuốc ở thành phố mắc
ung thư phổi cao gấp 3-4 lần so người không hút thuốc ở vùng nông thôn
(không khí trong sạch) Tác giả thấy ở những phụ nữ sống liền các khu công
nghiệp ở Los Angeles Mỹ có ung thư phổi cao hơn 40% so các phụ nữ ở vùng khác Tác giả thấy rằng ở vùng có khu công nghiệp, mắc ung thư tăng lên hơn 17% ở nam và 15% ở nữ so với tỷ lệ mắc chung của cả nước [140] Theo Eckholm E.P thấy ô nhiễm không khí đã gây nên 1% tử vong cho dân thành phố, một số nghiên cứu khác cho là 10% Theo Lester Lave và Eugene Seskin thì nếu giảm ô nhiễm do bụi và SO2 trong không khí thành phố xuống 50% thì sẽ giảm được 5% tử vong của người dân thành phố [140] Các tác giả thấy rằng: ô nhiễm không khí ở Mỹ hàng năm đã gây thiệt hại từ 2,5-10 tỷ đô la mỗi năm do tổn hại trên sức khỏe, tài sản động thực vật, công trình xây dựng Các tác giả thấy rằng nó đã làm mất đi cuộc sống của
4000 người và mất đi 4 triệu ngày công lao động mỗi năm [140]
Enterline P.E., March G.M., Essken N.A (1987) thấy tác động của ô nhiễm không khí do SO2 kèm ô nhiễm asen và hút thuốc sẽ làm tăng tỷ lệ chết của công nhân nấu đồng Mỹ do ung thư phổi và ung thư vùng hàm mặt
và thấy có mối liên quan giữa nồng độ SO2, asen, hút thuốc gây ô nhiễm không khí và các bệnh ung thư trên [77]
Trang 38Finnegan M.J Pickering A.C (1987) nghiên cứu trên 850 người ở Anh chia thành 5 nhóm có điều kiện vi khí hậu và mức độ ô nhiễm không khí trong nhà ở khác nhau đã thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS của 5 nhóm có sự khác biệt nhau rõ rệt:
Triệu chứng niêm mạc mũi: 5,8%, 13,7%, 16,3%, 27,6%, 15,4%; mắt: 5,8%, 8,2%, 14,0%, 21,9%, 13,2%; đau đầu: 15,7% , 37,0% , 32,3% , 31,0% , 29,7%; mệt mỏi: 13,8% , 45,2% , 42,9% , 36,4% , 29, 7% với P<0,05 đến P<0,001 Các tác giả kết luận ô nhiễm không khí nhà ở tác động rõ rệt lên các triệu chứng của hội chứng SBS [80]
Jaakkola J.J.K., Mettinen P., Toomaala P (1993) nghiên cứu trên 2678 người ở Helsinki (Phần lan) thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS bị tác động rõ rệt của ô nhiễm không khí nhà ở với các mức độ ô nhiễm khác nhau: các triệu chứng về niêm mạc mắt: từ 6,1-10,5% (với OR từ 0,73 đến 1,34); đau đầu: 1,8-7,4% (với OR từ 0,45 đến 1,13); mệt mỏi: 6,6-16,2% (với
OR từ 0,58 đến 2,37); mũi bị kích thích; 7,4-17,0% (với OR từ 0,86 đến 1,60) [88]
Theo Smith K.R (1987), bệnh viêm phế quản mãn, một bệnh điển hình liên quan đến ô nhiễm không khí tại các đô thị, có 1 sự khác nhau giữa
các đô thị của các nước ở Anh (trên 1569 người tuổi 40-64) thì nam mắc 17,0%, nữ mắc 8,0% ở New Hampshire, Mỹ (trên 1139 người tuổi 25-74) thì nam mắc 21,6%, nữ mắc 9,4%; ở Uppsala Thụy điển (trên 41.679 người tuổi 30-64) thì nam mắc 2,2%, nữ mắc 1,5%; ở Nhật bản (trên 22.590 người tuổi 50-59) thì nam mắc 5,8%, nữ mắc 3,1%; ở Delhi ấn độ (trên 300 người tuổi
35 - 74) thì nam mắc 12,0%, nữ mắc 5,0%; chung toàn ấn độ (trên 1140 người tuổi từ 30 trở lên) thì nam mắc 6,7% , nữ mắc 4,5%; ở Madras ấn độ (trên 523 người tuổi từ 50 trở lên) thì nam mắc 2,4%, nữ mắc 1,5%; ở Nê pan (trên 2826 người tuổi từ 20 trở lên) thì nam mắc 17,6%, nữ mắc 18,9%
[122]
Trang 39Truter R.M., De Beer M., Held O (1993) đã nghiên cứu trên 942 người ở thành phố Johannesburg, Nam phi, sống trong môi trường có mức độ
ô nhiễm khác nhau về CO, bụi, các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, thoáng gió Các tác giả thấy có sự khác biệt rõ rệt về các triệu chứng của hội chứng SBS
ở các môi trường khác nhau và giữa 2 giới Kích thích mắt: nam: 30%, nữ: 58%; đau đầu: nam: 34%, nữ: 51%; khô, đau họng: nam: 32% , nữ: 53%; khô da: nam: 29%, nữ: 56% [133]
Theo Barten F (1994) ở đô thị vùng Nam á người nghèo ở đô thị bị tác
động nhiều nhất về mặt sức khỏe do phải làm việc trong môi trường lao động
bị ô nhiễm (các cơ sở công nghiệp nhỏ), phải sống ở nơi bị ô nhiễm nặng nề
bởi chất thải độc hại của các khu công nghiệp và thiếu chăm sóc y tế, các dịch vụ cơ bản như nước, công trình vệ sinh Tác giả thấy rằng ở các nước này, vấn đề môi trường và tác hại trên sức khỏe trầm trọng hơn so với các nước phương Bắc và chưa có biện pháp nào để giải quyết ở cả tuyến trung
ương và địa phương [69]
Theo Leitmann J (1994) thấy rằng khi phát triển công nghiệp tại các
đô thị, ở hầu hết các nước, đều gây ô nhiễm môi trường không khí khu vực và
đều tác động rõ rệt lên sức khỏe ở Jakarta ô nhiễm không khí làm tăng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở Katowice ô nhiễm không khí làm tăng bệnh ung thư, tim mạch, đau yếu toàn thân ở Sao Paulo ô nhiễm không khí làm tăng bệnh cấp và mãn tính đường hô hấp, làm tăng tỷ lệ chết của những bệnh này
và thấy mối liên quan rất rõ rệt giữa mức độ ô nhiễm không khí và tổn thương đường hô hấp ở trẻ em ở Tunis tỷ lệ chết do các bệnh về tổn thương hô hấp và tim mạch là cao nhất và thấy có liên quan rõ rệt với ô nhiễm môi trường không khí [98]
WHO (1992) nhắc lại định nghĩa về sức khỏe và ý nghĩa của định nghĩa này trong đánh giá tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe
WHO lưu ý về tác động lâu dài của ô nhiễm không khí trên sức khỏe (Long-
Trang 40về tim mạch và các ung thư khác cần được quan tâm, và lưu ý tới đối tượng trẻ em [137]
WHO (1986) phân tích nguyên nhân của các tổn thương của đường hô hấp và thấy rằng: bụi, các hơi khí độc gây kích thích, gây dị ứng, gây ung thư
đối với người làm việc trong môi trường lao động bị ô nhiễm và môi trường không khí nơi ở bị ô nhiễm Để phát hiện tổn thương đường hô hấp, WHO đề nghị tiến hành cả những xét nghiệm và các thăm dò chức năng hô hấp đi kèm [142]
Fisk W.J., Mendell M.J., Daisey J.M., Faulkner D (1993) đã tiến hành nghiên cứu trên 880 người ở California (Mỹ) đã sống và làm việc trong môi trường không khí có mức độ ô nhiễm khác nhau bởi bụi và hơi khí độc: CO2:
390 - 440 ppm, bụi: 340 - 1200 àg/m3 Các tác giả thấy rằng ô nhiễm môi trường không khí tác động rõ rệt lên các triệu chứng của hội chứng SBS: các triệu chứng về mắt, mũi, họng có OR từ 1,3 đến 1,7 Ngực bị chèn ép hoặc thở ngắn, nông có OR từ 1,6 đến 4,3 Mệt mỏi hay buồn ngủ có OR từ 1,1
đến 2,2 Đau đầu có OR từ 0,9 đến 1,8 Da bị khô hoặc ngứa (kích thích) có
OR từ 0,9 đến 5,8 [81]
Goren A., Hellmann S., Brenner S (1993) đã nghiên cứu trẻ em của 3 vùng tại Israel, trong đó tại Haifa là 2334 trẻ, tại Hadera là 1164 trẻ, tại Ashdod là 844 trẻ Các tác giả nghiên cứu các tổn thương đường hô hấp, chức năng hô hấp (VC, FEV1) tại 3 vùng và thấy rằng có liên quan rõ rệt giữa mức
độ ô nhiễm không khí tại 3 vùng và các tổn thương đường hô hấp của trẻ em Khạc đờm: 4,2- 6,8% (P<0,01) so với chứng; thở khò khè: 6,1-9,7% (P<0,01)
so với chứng; viêm phế quản: 18,9-25,0% (P<0,001) so với chứng Bệnh phổi của anh chị em ruột của các trẻ được nghiên cứu: 16,0-25,0% (P<0,001) so với chứng [83]
Helsing K.J., Billing S.C.E., Conde J (1987) đã nghiên cứu trên 450 sinh viên thuộc 3 trường ở Mỹ có mức độ ô nhiễm không khí bởi SO2, CO,
CO, bụi khác nhau Các tác giả thấy có mối liên quan rõ rệt giữa các triệu