1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng

327 1,3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành Hà Nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Trường học Học viện Khoa học và Công nghệ Hà Nội
Chuyên ngành Y tế công cộng, Ô nhiễm môi trường
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 327
Dung lượng 5,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác giả đều thấy rằng môi trường không khí khu công nghiệp Hà Nội đều bị ô nhiễm bởi bụi, khí NO2, SO2, và đều làm tăng tỉ lệ các bệnh về đường hô hấp, tăng tỉ lệ các triệu chứng hội

Trang 1

“Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành Hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế – x∙ hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng này”

6834

05/5/2008

Hà Nội - 2008

Trang 2

Các chữ viết tắt và ký hiệu trong đề tài

ATS : Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (American Thoracic Society)

BHYT : Bảo hiểm y tế

Volumecin one second) FVC : Dung tích sống thở mạnh (Forced Vital Capacity)

SBS : Hội chứng nhà kín (Sick Building Syndrom)

TCCP : Tiêu chuẩn cho phép

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

UBND : Uỷ ban Nhân dân

VC : Dung tích sống thở chậm (Slow Vital Capacity)

VPQ : Viêm phế quản

VSDTTW : Viện Vệ sinh dịch tễ Trung −ơng

VSV : Vi sinh vật

Trang 4

2.1 Lịch sử nghiên cứu ô nhiễm môi trường 72.2 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trường ở nước ngoài 112.3 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trường trong nước 36

3.1.1 Nghiên cứu ô nhiễm không khí chọn 5 khu vực đại diện cho

nội thành Hà Nội

41

3.1.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ người dân 41

3.2.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ người dân 42

3.3.2 Nghiên cứu tình hình sức khoẻ người dân 45 3.3.3 Lượng giá những tổn thất về kinh tế – xã hội do các bệnh

liên quan đến ô nhiễm không khí gây ra

46

3.3.4 Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm

không khí, giảm bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí

46

4.1 Diễn biến môi trường Hà Nội trong những năm qua 48

4.2 Kết quả nghiên cứu ô nhiễm không khí 66

4.3 Kết quả nghiên cứu bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí 114

4.4 Kết quả nghiên cứu tổn thất kinh tế do các bệnh liên quan

đến ô nhiễm không khí gây ra

154

Trang 5

5.1 Tình hình ô nhiễm không khí 1895.2 Tình hình bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí 2135.3 Tổn thất kinh tế – xã hội do các bệnh liên quan đến ô

nhiễm không khí gây nên

219

6.1 Giải pháp về y tế nhằm giảm thiểu tác động xấu của ô

nhiễm không khí tới sức khoẻ và giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và chi phí của cá nhân, gia đình và xã hội do hậu quả của ô nhiễm không khí đối với sức khoẻ của cộng đồng cư dân Thành phố (7 giải pháp con)

223

6.2 Giải pháp cơ bản, lâu dài hạn chế ô nhiễm không khí liên

quan đến các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hà Nội (3 giải pháp con)

234

6.3 Giải pháp tăng cường thông tin – giáo dục – truyền thông

(T – G – T) nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về chất lượng không khí ở Hà Nội (4 giải pháp con)

249

7.2 Cơ cấu một số bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí và

Trang 6

Thông tin chung

Tên đề tài: “Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành Hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế – x∙ hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng này”

Mã số của đề tài: TC-MT/08-04-2

Thời gian thực hiện đề tài: 18 tháng (từ tháng 7/2004 đến tháng 12/2005)

Đơn vị thực hiện đề tài: Sở Y tế Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Lê Tuấn – Phó giám đốc Sở Y tế Hà Nội

Cơ quan quản lý đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội

Cộng sự:

1 PGS.TS Lê Anh Tuấn – Giám đốc Sở Y tế Hà Nội

2 PGS.TS Đoàn Huy Hậu – CN Bộ môn DTH – Học viện Quân y

3 PGS.TS Hoa Hữu Lân – Trưởng phòng Kế hoạch quản lý khoa học – Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội

4 PGS.TS Lê Khắc Đức – Chủ nhiệm Bộ môn Vệ sinh –Học viện Quân y

5 TS Hoàng Văn Lương – Trưởng phòng KHCN – Học viện Quân y

6 PGS.TS Hoàng Xuân Cơ - Phó trưởng phòng KHCN – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

7 TS Chu Văn Thăng – CN Bộ môn sức khoẻ môi trường – Trường Đại học Y khoa Hà Nội

8 BS Đỗ Lê Huấn – Giám đốc Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội

9 PGS.TS Ngô Quí Châu – Trưởng khoa hô hấp – Bệnh viện Bạch mai

10 PGS.TS Lê Văn Nãi – Trưởng phòng môi trường khí – Trường Đại

Trang 7

11 BS Trần Văn Chung – Phó trưởng phòng Kế hoạch Tài chính – Sở Y

tế Hà nội

12 BS Nguyễn Phương Hiền – Vụ Đại học và Sau đại học – Bộ Giáo dục

và Đào tạo

13 BS Bùi Công Đức – Khoa YTLĐ –Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội

14 BS Hoàng Minh Hiền – Phòng TCCB – Sở Y tế Hà Nội

15 BS Nguyễn Mạnh Hùng – Phó trưởng khoa ATVSTP – Trung tâm y

tế dự phòng Hà nội

16 CN Hà Thuý Vân – Phòng Kế toán – Sở Y tế Hà Nội

17 Đặng Ngọc Lan - Bộ môn sức khoẻ môi trường – Trường Đại học Y khoa Hà Nội

18 Và các cộng sự khác của Học viện quân y, Trường Đại học Y khoa

Hà nội, Trung tâm y tế dự phòng Hà nội

Trang 8

Mục tiêu của đề tài

1 Đánh giá thực trạng một số yếu tố ô nhiễm không khí có nguy cơ cao đối với sức khoẻ con người tại các cụm dân cư nội thành Hà Nội

2 Đánh giá thực trạng một số bệnh có liên quan tới ô nhiễm không khí của người dân nội thành Hà Nội

3 Lượng giá những tổn thất về kinh tế, xã hội do các bệnh đó gây nên trên

địa bàn nghiên cứu

4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm không khí và giảm thiểu các tác hại của ô nhiễm không khí đối với sức khoẻ người dân

Trang 9

1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí hiện nay

1.2.1 Ô nhiễm môi trường không khí – vấn đề có tính toàn cầu

1.2.2 Thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay trên thế giới và các giải pháp 1.2.3 Thực trạng ô nhiễm không khí hiện nay ở Việt Nam nói chung và tại thủ

đô Hà Nội nói riêng

1.3 Kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng một số yếu tố ô nhiễm không khí có nguy cơ cao đối với sức khoẻ của đề tài

2 Đánh giá thực trạng một số bệnh có liên quan tới ô nhiễm không khí của người dân nội thành Hà Nội

2.1 Các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí và hậu quả của chúng

- Hen phế quản, viêm mũi dị ứng và một số bệnh dị ứng

- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

- Bệnh viêm phế quản mãn tính

- Bệnh mắt

Trang 10

3 Lượng giá những tổn thất về kinh tế, xã hội do các bệnh đó gây nên trên

địa bàn nghiên cứu

3.1 Tổng quan về số liệu tổn thất kinh tế ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

3.2 Kết quả nghiên cứu về tổn thất kinh tế do các bệnh đó gây nên của đề tài

3.2.1 Tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, mô hình bệnh tật/tử vong, chi phí của người dân cho việc khám chữa bệnh

3.2.2 Tác động về kinh tế, xã hội của các bệnh do ô nhiễm không khí gây nên :

- Tác động đối với cộng đồng chung về tình hình nằm viện, nghỉ việc, nghỉ ốm, các suy giảm về kinh tế-sức khoẻ-tâm lý

- Tác động đối với doanh nghiệp

3.2.3 Những ảnh hưởng đối với trường học

4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm không khí và giảm thiểu các tác hại của ô nhiễm không khí tới sức khoẻ

4.1 Giải pháp về y tế nhằm giảm thiểu tác động xấu của ô nhiễm không khí tới sức khoẻ và giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và chi phí của cá nhân, gia đình và xã hội do hậu quả của ô nhiễm không khi đối với sức khoẻ của cộng đồng cư dân thành phố, gồm 7 giải pháp con cụ thể:

Trang 11

4.1.1 Giải pháp về tăng cường các biện pháp dự phòng nhằm giảm thiểu các tác

động xấu của ô nhiễm môi trường không khí đối với sức khoẻ cộng đồng

4.1.2 Giải pháp về tăng cường các biện pháp phát hiện sớm, điều trị kịp thời có hiệu quả đối với các bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường không khí cho cư dân thành phố

4.1.3 Giải pháp về đầu tư trang bị cho Ngành Y tế để khắc phục tình trạng ô nhiễm và phòng ngừa bệnh tật do ô nhiễm không khí gây ra

4.1.4 Giải pháp về nhân lực, tổ chức y tế và kinh tế y tế

4.1.5 Giải pháp về kỹ thuật, thông tin y tế và quản lý điều hành

4.1.6 Giải pháp về xã hội hoá công tác y tế phòng chông ô nhiễm không khí

4.1.7 Xây dựng các quỹ dự phòng y tế cho người mắc bệnh ô nhiễm không khí

4.2 Giải pháp cơ bản lâu dài hạn chế ô nhiễm không khí liên quan đến các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hà Nội, gồm 3 giải pháp con cụ thể :

4.2.1 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các cơ sở công nghiệp;

4.2.3 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các phương tiện giao thông

4.3.1 Nội dung thông tin – giáo dục – truyền thông;

4.3.2 Các phương tiện (các kênh) T - G - T cần thiết;

4.3.3 Phương thức sử dụng các phương tiện T- G – T

4.3.4 Bảng Panel điện tử thông tin công cộng về chất lượng không khí

5 Kết luận và kiến nghị

Trang 12

Phần 1

Đặt vấn đề

Từ thời xa xưa, môi trường thiên nhiên vốn trong sạch, tự điều chỉnh và không bị ô nhiễm, rất thuận lợi, tiện nghi cho con người và mọi sinh vật Bằng các hoạt động của mình con người đã không bảo vệ, đã tự huỷ hoạt đi môi trường sống của chính mình Con người gây ô nhiễm cho môi trường không khí bằng ba nguồn cơ bản: do hoạt động công nghiệp, do giao thông vận tải và do sinh hoạt hàng ngày, trong đó ô nhiễm do công nghiệp gây tác động trên sức khoẻ con người nặng nề nhất [Eckholm E.P 1980] [46] Nguồn ô nhiễm công nghiệp là do ống khói của các nhà máy xí nghiệp thải bụi, hơi khí độc, do quá trình công nghệ sản xuất bị bốc hơi dò rỉ, do ống khói của các loại động cơ Các chất độc hại không chỉ gây ô nhiễm cho khu vực nhà máy, giao thông, mà còn lan toả ra khu vực xung quanh từ vài trăm mét cho đến vài cây số, thậm chí xa hơn Các nguồn ô nhiễm này không chỉ tác hại trực tiếp cho người lao động mà tác động lên cả dân cư khu vực xung quanh

Nghiên cứu về ô nhiễm không khí và tác động của nó lên sức khoẻ đã được

đề cập từ rất lâu, nhưng được quan tâm nhiều nhất vào những năm cuối thế kỉ thứ

19 và đầu những năm thế kỉ 20 khi mà nền công nghiệp ở các nước phát triển mạnh: 1863 ở Anh và 1864 ở Mỹ đã ban hành những đạo luật về giữ gìn không khí nơi sản xuất và khu vực xung quanh [Leith W.1980] [46]

Thế kỉ 20 đã xảy ra những thảm hoạ điển hình của ô nhiễm không khí do khí thải của sản xuất công nghiệp tại thung lũng sông Manse của Bỉ (năm 30), ở Dorona của Mỹ (năm 48), ở thủ đô Luân Đôn của Anh (năm 1952) [36] và gần

đây nhất là thảm hoạ ở Bhopal ấn Độ (năm 1984) [36] làm hàng ngàn người bị nhiễm độc và chết Vấn đề này đã trở thành thời sự cấp bách của từng quốc gia và

Trang 13

trường sống”, tháng 6 năm 1972 tại Stockholm – Thụy Điển và “môi trường và phát triển bền vững”, tháng 6 năm 1992 tại Rio De Gianero – Braxin với sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học toàn thế giới [36]

Theo Leithman (1994) [94] nghiên cứu về ô nhiễm không khí và tác động lên sức khoẻ tại 7 thành phố lớn ở tất cả các châu lục thấy rằng đều có vấn đề về ô nhiễm không khí và tác động rõ rệt lên sức khoẻ người lao động và nhân dân khu vực xung quanh WHO (1992) [143] sản xuất công nghiệp của thế giới đã thải vào không khí 25 % khí NOx, 40 – 50 % khí SO2 và gây ô nhiễm cho người lao

động và khu dân cư tiếp giáp, hàng năm gây ra 146.000 người chết vì các bệnh do

ô nhiễm: Silicosis, bụi than phổi, ngộ độc chì, nhiễm độc đồng, bệnh da nghề nghiệp Theo UNEP (1989) [135] thấy có 11 thành phố (Hồng Kông, Thượng Hải, Niu ước, Luân Đôn, ) có nồng độ SO2 ở mức tới hạn (40-60 àg/m3), 16 thành phố (Milan, Xơun, San Paolô, Pari, Bắc Kinh, Mandrít, Manila ) có nồng

độ SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép UNEP ước tính có khoảng 990 triệu người (khoảng một nửa dân số đô thị) phải sống trong không khí bị ô nhiễm bởi SO2 Theo UNEP có ô nhiễm trên là do công nghiệp và giao thông đã thải vào khí quyển 110 triệu tấn SO2, 59 triệu tấn bụi lơ lửng, 69 triệu tấn oxytnitơ các loại (NOx), 194 triệu tấn CO2, 53 triệu tấn các bua hydro, các khí thải độc hại này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người ở Trùng Khánh Trung Quốc: SO2 đạt 0,52 mg/m3 đã phát hiện sự gia tăng các bệnh đường hô hấp, tử vong do tim mạch, chết của trẻ em và chết sau 65 tuổi do tăng các chất nhiễm bẩn không khí Tại Bombay ấn Độ ước tính khoảng 1000 tấn chất thải khí do các nhà máy và 350.000 xe gây ô nhiễm không khí, khi khám ngẫu nhiêm 1400 trường hợp thấy

có 18 % ho thường xuyên, 38 % ho mạn tính, 10 % có vấn đề về hô hấp [135]

Theo Eckholm (1980) ở Mỹ ô nhiễm không khí đã gây nên 1% tử vong cho dân thành phố, theo Lester Lave và Eugene Seskin thì nếu giảm ô nhiễm do bụi

Trang 14

người dân thành phố Eckholm thấy rằng ô nhiễm không khí ở Mỹ hàng năm đã gây thiệt hại từ 2,5 đến 10 tỉ đô la do tổn hại trên sức khoẻ, tài sản động thực vật, công trình xây dựng, nó đã làm mất đi cuộc sống của 4000 người và mất đi

4 triệu ngày công lao động mỗi năm [46] Theo nghiên cứu của Jaakkola J.J.K (1993) tại Hensiki (Phần Lan) trên 2678 người thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS (Sick building syndrom) bị tác động rõ rệt của không khí nhà ở (các triệu chứng về niêm mạc, mắt: 6,1 – 10,5 % với OR từ 0,73 đến 1,34; đau đầu: 1,8 – 7,4 % với OR từ 0,54 đến 1,13; ) [88] Theo Hurd (2000) tại Mỹ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) mắc từ 4 – 5 % dân số, trong số 32 nước công nghiệp Mỹ xếp hàng thứ 14 về tử vong do bệnh này và các bệnh tương tự ở nam giới và hàng thứ 8 ở nữ giới [15]

Chi phí trực tiếp và gián tiếp cho bệnh là 23,9 tỉ đô la ở Anh, mức độ lưu hành của COPD là 4 % ở nam và 2 % ở nữ (lứa tuổi trên 45), tính chung là 1,7

% ở nam và 1,4 % ở nữ (năm 1997) [15] Theo Barnes P.J (1997): từ 1990 –

1997 tỉ lệ mắc bệnh tăng 25 % ở nam và 69 % ở nữ, tổng chi phí cho bệnh là

818 triệu bảng Anh một năm [69] Theo WHO (2002) [151] tại 8 thành phố lớn của Italia ô nhiễm không khí đã tác động rõ rệt lên tỉ lệ nhập viện và tỉ lệ tử vong do các bệnh hô hấp (viêm phế quản, hen phế quản ), bệnh tim mạch Theo Hội y học Canada (OMA) (2000) ô nhiễm không khí đã gây thiệt hại lớn

về kinh tế cho khám chữa bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí Theo nghiên cứu của Trung tâm bảo vệ môi trường Hồng Kông (1998), ô nhiễm không khí do

NO2, SO2, bụi làm tăng chi phí các bệnh đường hô hấp, tim mạch (khi tăng nồng

độ NO2 lên 50 àg/m3 làm tăng chi phí bệnh đường hô hấp lên 522 triệu đô la Hồng Kông và 451 triệu đô la Hồng Kông với bệnh tim mạch ).[151]

Tại Việt Nam, từ 1969 – 1971 viện VSDT TW đã nghiên cứu về ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp và sức khoẻ công nhân Đào Ngọc Phong và cộng sự (1976-1985) [39] đã nghiên cứu về ô nhiễm không khí và sức khoẻ

Trang 15

người dân tiếp giáp khu công nghiệp Phạm Ngọc Đăng, Đào Ngọc Phong (1985-1995) [20] nghiên cứu ô nhiễm không khí vùng tiếp giáp khu công nghiệp và sức khoẻ người dân tại các khu công nghiệp Hải Phòng, Việt Trì, Hồ Chí Minh Tôn Thất Bách, Đào Ngọc Phong và cộng sự (1995-2000) [21] nghiên cứu môi trường sức khoẻ và mô hình bệnh tật tại các vùng sinh thái khác nhau (khu công nghiệp Thượng Đình, Huyện Thanh Trì - Hà Nội, Huyện Kim Bảng - Thị Xã Phủ Lí, Hà Nam ) Phạm Ngọc Đăng, Đào Ngọc Phong, Nguyễn

Đức Khiển, Lê Văn Nãi và cộng sự (1995-2000)[24] đã nghiên cứu ô nhiễm môi trường và sức khoẻ bệnh tật dân cư vùng tiếp giáp các khu công nghiệp Thượng

Đình, Mai Động, Hà Nội Sở KHCN MT Hà Nội (2001) [25] điều tra khảo sát

đánh giá tình trạng ô nhiễm và bệnh nghề nghiệp một số cơ sở mạ, nhuộm kim loại quy mô nhỏ của Thành phố Hà Nội

Lê Văn Nãi và cộng sự (2003) [25] về thực trạng và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại các khu vực tập trung điển hình về cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ của khu vực nội thành Hà Nội (Đề tài nghiên cứu khoa học Thành phố Hà Nội – mã số 01C-09/08/2001/2002) Các tác giả đều thấy rằng môi trường không khí khu công nghiệp Hà Nội đều bị ô nhiễm bởi bụi, khí

NO2, SO2, và đều làm tăng tỉ lệ các bệnh về đường hô hấp, tăng tỉ lệ các triệu chứng hội chứng SBS, các bệnh tai mũi họng, dị ứng, hen phế quản và lao phổi cho dân cư vùng tiếp giáp Theo tiêu chuẩn TCVN 5937-1995, thành phần bụi trong không khí không được quá 0,2 mg/m3, kết quả nghiên cứu nồng độ bụi tại các Quận Đống Đa và Long Biên là 0,8 mg/m3, quận Tây Hồ là 0,78 mg/m3, quận Hoàng Mai 0,72 mg/m3và quận Ba Đình, Hoàn Kiếm đều vượt 0,5 mg/m3

Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà cũng ở mức báo động Theo Phạm Lê Tuấn và cộng sự nghiên cứu tình trạng Hen PQ ở trẻ em nội thành Hà Nội (2003) [50] cho thấy việc đun nấu bằng các nguồn năng lượng

Trang 16

80,12% người HPQ ngửi mùi bếp gas thấy khó thở, tỷ lệ này ở gia đình đun than

là 21,74%; củi 8,07%; dầu hỏa 2,48%; 66,5% các trường hợp Hen PQ gia đình

có người hút thuốc lá; 49,7% số trẻ bị HPQ xuất hiện cơn khó thở khi tiếp xúc với các dị nguyên trong nhà như lông chó, mèo, chim Mật độ dân cư nội thành

Hà Nội rất đông, đặc biệt tại các khu dân cư các quận nội thành, khu phố cổ Bình quân diện tích nhà ở là rất thấp, môi trường sống không đảm bảo đặc biệt

là tình trạng ô nhiễm không khí

Thủ đô Hà Nội với diện tích 927 km2 , có 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, dân số trên 2 triệu người, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Những năm gần đây ở Hà Nội tốc độ đô thị hoá đang diễn ra rất nhanh chóng, nhiều khu công nghiệp và khu dân cư mới được hình thành

Mật độ dân cư nội thành Hà Nội rất đông, đặc biệt tại các khu dân cư các quận nội thành, khu phố cổ Bình quân diện tích nhà ở là rất thấp, môi trường sống không đảm bảo đặc biệt là tình trạng ô nhiễm không khí; hoạt động giao thông vận tải và sản xuất tăng nhanh, đời sống kinh tế và văn hoá của nhân dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển nhanh chóng đó

là mức độ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường không khí; thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra rất nặng nề

Cũng như nhiều thành phố lớn khác ở Việt Nam, nguồn gây ô nhiễm chính tại Hà Nội là:

- Nguồn thải công nghiệp với gần 500 cơ sở sản xuất công nghiệp tại 9 khu công nghiệp cũ và 5 khu công nghiệp mới xen kẽ trong khu vực nội thị và ngoại thành, gần 200 nhà máy và xí nghiệp thải các chất gây ô nhiễm không khí

- Nguồn thải giao thông vận tải với gần 200.000 ô tô và hơn 1,4 triệu xe máykhông bảo đảm các tiêu chuẩn thải khí thải Hiện tượng tắc nghẽn giao thông phổ biến đã gây ra tình trạng ô nhiễm khí cục bộ

Trang 17

- Nguồn thải sinh hoạt và các hoạt động dịch vụ: Các loại bếp ga, bếp dầu

và bếp than là chủ yếu Nhà ở đông người, mái thấp, chật chội, nhiều khí thải

SO2 NOx, CO , nhiều hộ sản xuất thủ công khó quản lý và kiểm soát

Môi trường không khí Hà Nội đang ở mức báo động về tình trạng ô nhiễm, tình trạng này làm gia tăng các bệnh về đường hô hấp, tai mũi họng, mắt dẫn tới môi trường sống kém chất lượng, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, giảm sự thu hút của du khách và các nhà đầu tư Năm 2004 Thành Uỷ đã xác

định và thông qua đề án cải thiện môi trường xã hội trong đó có công tác nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sức khoẻ-môi trường ở Hà Nội, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh chung và các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí đang gia tăng đặc biệt là các bệnh đường hô hấp như viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm xoang Các chi phí cho vấn đề sức khoẻ và môi trường ngày càng lớn

Vì vậy đánh giá thực trạng các yếu tố ô nhiễm môi trường không khí, cơ cấu bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm môi trường không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên, đề xuất các giải pháp hạn chế ô nhiễm, bảo vệ sức khoẻ, xây dựng phát triển kinh tế xã hội thủ đô 2005-2010 là hết sức cần thiết Đề tài nghiên cứu này nhằm các mục tiêu như đã nêu ở phần mục tiêu

Trang 18

Phần 2

tổng quan tài liệu

2.1 Lịch sử nghiên cứu ô nhiễm môi trường:

Nguồn gây ô nhiễm không khí đầu tiên do con người gây ra là do quá

trình đun nấu thức ăn và sưởi ấm (từ khi con người tìm ra lửa) Đây là hình

thức gây nhiễm bẩn không khí sớm nhất mặc dù khả năng gây tác động có hại thường không đáng kể [43]

Theo y văn ghi lại thì người ta đã đề cập vấn đề ô nhiễm không khí và

tác động của nó tới sức khỏe con người từ rất lâu Hippocrate (danh y thời cổ

Hy Lạp, năm 460 - 377 trước công nguyên), trong bài luận giải về không khí,

nước và đất đã nói đến một vài bệnh do ô nhiễm trong quá trình lao động sản xuất gây nên: bệnh do tiếp xúc với chì, bụi, nhưng ít người quan tâm đến những bệnh này [114]

Thế kỷ thứ nhất, Pline tác giả cuốn "lịch sử tự nhiên" (de historia

naturalis) đã nhắc đến một loại khẩu trang phòng hộ đeo ở mũi và miệng để tránh hít phải các loại bụi và hơi chì do ô nhiễm không khí trong quá trình sản xuất

Thế kỷ thứ 2, Gallien đã nêu lên một vài bệnh do yếu tố nghề nghiệp gây ô nhiễm phát sinh [51]

Theo Halliday E.C.A trong bài "ôn lại lịch sử ô nhiễm không khí" (Historical review of atmospheric pollution) khi mà củi đun nhường chỗ cho

than đá là thời kỳ ô nhiễm không khí bắt đầu gây sự chú ý của mọi người [63] Năm 1306, ở Anh có sắc lệnh cấm đốt than ở những xưởng thủ công dọc 2 bên bờ sông của thành phố Luân đôn, vì đã gây ô nhiễm cho dân cư ở vùng xung quanh Đây là lời cảnh tỉnh sớm nhất về ô nhiễm không khí do sản xuất công nghiệp [63]

Trang 19

ở Pháp, năm 1382 vua Charles VI ra chỉ dụ cấm thải khí uế trong thành phố Pari [63]

Cuối thế kỷ 14 và sang thế kỷ 15, đốt than lấy nhiệt trong sản xuất tăng lên, khói và mùi than đã gây khó chịu cho con người, do đó muốn giữ bầu không khí trong sạch cần có các biện pháp làm giảm ô nhiễm [63]

Thế kỷ 16, George Bauer dưới cái tên George Agricola (1494-1553), là một thày thuốc vùng mỏ đã mô tả tổn thương đường hô hấp ở công nhân khai thác mỏ và luyện kim, và cho rằng chính bụi gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất đã xâm nhập vào phổi, gây khó thở, ăn mòn phổi và tàn phá cơ thể của

họ

Thế kỷ 17, Ramazzini (1633-1714), được coi là người sáng lập ra

ngành vệ sinh lao động với tác phẩm "bệnh của người lao động" nổi tiếng

Suốt đời ông nghiên cứu điều kiện lao động của các ngành nghề và bệnh tật của người công nhân do ô nhiễm môi trường lao động gây ra [51]

Năm 1661, John Evalyn với báo cáo "nhiễm bẩn do khói và sự lan toả khói trong không khí thành phố Luân Đôn" đã mô tả về tác động của ô nhiễm

môi trường không khí do sự đốt cháy các nhiên liệu gây ra, như làm đục bầu trời, giảm bức xạ mặt trời, làm con người đau yếu và tử vong [63]

Thế kỷ 18, Percival Pott (1711-1788), người đầu tiên mô tả bệnh ung thư do ô nhiễm môi trường lao động gây nên Năm 1775, ông đã nhắc đến vai trò của mồ hóng trong nguyên nhân gây ung thư bìu ở người thông ống khói [51]

ở Nga, thế kỷ 15, 16, người ta phát hiện thấy công nhân mỏ than, mỏ

đá có các triệu chứng kiểu bệnh bụi phổi như đau tức ngực, khó thở khi gắng sức, dễ mệt mỏi, các triệu chứng ngày càng nặng và dẫn tới tử vong [63]

Như vậy ô nhiễm không khí do sản xuất gây nên đã tác động trên sức

Trang 20

thành mối quan tâm của mọi người Năm 1863, nước Anh là quốc gia đầu tiên ban hành đạo luật để giữ gìn không khí trong sạch, gọi là đạo luật Alcali (Alcali Acts) và thành lập cơ quan thanh tra về môi trường chống ô nhiễm không khí Chưa đầy 1 năm sau, xuất hiện một pháp lệnh về chống ô nhiễm không khí được thực thi ở Mỹ từ ngày 1/1/1864, do sản xuất Cacbonat ancalin đã thải vào không khí một lượng không nhỏ axit clohydric Và cũng trong năm 1864, nhà ngoại giao George Rerkins Marsch đã đưa ra quan niệm

về bảo vệ thiên nhiên, phòng chống ô nhiễm trong cuốn "con người và thiên nhiên" [41]

Đầu thế kỷ 20, các ngành công nghiệp phát triển với tốc độ cao, nhiều thủ đô, thành phố lớn của nhiều nước đã trở thành các trung tâm công nghiệp thì nguồn gây ô nhiễm không khí càng lớn Không khí ô nhiễm tác động không chỉ tới người công nhân trực tiếp sản xuất trong các nhà máy mà còn tác động lên cả một vùng dân cư rộng lớn xung quanh Đó là các thảm hoạ

đầu độc thành phố ở thung lũng sông Manse (Bỉ) 1930, làm 60 người chết và

6000 người phải vào các cơ sở y tế điều trị ở Donora - bang Pennosylvania (Mỹ) 1948, làm 20 người chết, 6000 người phải vào các cơ sở y tế điều trị

Trong các vụ này do hiện tượng "nghịch đảo nhiệt" mà toàn bộ khói bụi do

các nhà máy công nghiệp của thành phố thải ra đã tích tụ lại, gây ô nhiễm,

đầu độc chính người dân thành phố [63]

Điển hình là ngày 8/9/1952, khói bụi do các nhà máy thải ra và sương

mù đã bao phủ dày đặc thủ đô Luân đôn của nước Anh, làm 4.000 người chết vì tổn thương nặng ở phổi, 10.000 người phải vào điều trị tại các cơ sở y tế Sau sự kiện này, chính phủ Anh đã đưa ra một loạt các biện pháp dưới dạng

sắc lệnh gọi là "sắc lệnh không khí sạch" (Clean air act) [63]

Thành phố Los Angeles (Mỹ) cũng đã có lần xảy ra tương tự Không khí ô nhiễm bị tù hãm đã bao phủ từ miền Chicago, Milwankee tới New Orpeans và Philadelphia ở nước Mỹ vào tháng 8/1969 và gây ra nhiều thiệt hại [58]

Trang 21

Một thảm họa lớn nhất trong lịch sử loài người do ô nhiễm môi trường không khí xảy ra trong thời gian gần đây, đó là vụ rò khí MIC (khí methyl-iso-cyanate) của liên hiệp sản xuất phân bón ở Bhopal (ấn độ) vào năm 1984 Khoảng 2 triệu người ở Bhopal đã bị nhiễm độc, trong đó 5 ngàn người đã chết và 5 vạn người bị nhiễm độc trầm trọng [58]

Tháng 3/1992 vừa qua dân thành phố Mexico (Mêhicô) đã trải qua những ngày rất khó khăn, 2,5 triệu chiếc xe hơi và khoảng 30 ngàn xí nghiệp công nghiệp của thành phố hoạt động đã thải vào không khí khoảng 4,3 triệu tấn bụi và hơi khí độc, làm nồng độ bụi và hơi khí độc trong không khí vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Thành phố đã phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp: tạm ngừng hoạt động của 1 triệu ô tô, hàng chục nhà máy xí nghiệp công nghiệp phải tạm ngừng hoặc giảm 3/4 kế hoạch sản xuất, nhằm cứu vãn môi trường không khí khỏi bị ô nhiễm quá mức, gây nguy hiểm cho sức khỏe của dân cư thành phố [58]

Để đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí do công nghiệp gây ra tại một vùng và đánh giá tác động của nó trên sức khỏe, người ta đã đo

đạc khảo sát tại nhiều điểm trên hiện trường; hoặc dùng mô hình toán học tính toán quá trình khuyếch tán của chất ô nhiễm trong môi trường không khí Theo hướng này, từ 1959 Angus Smith đã tiến hành tính toán sự phân bố nồng độ khí CO2 ở thành phố Manchester theo phương pháp toán học dựa

trên cơ sở lý thuyết của Gauss (còn gọi tắt là mô hình Gauss) [58] ở Liên xô

trước đây, Berliand sử dụng lý thuyết K khuyếch tán rối để tính toán quá

trình khuyếch tán này (còn gọi tắt là mô hình K hay mô hình Berliand) [100]

ở nước ta từ 1977, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Cung và cộng sự cũng đã áp dụng tính toán mô hình Berliand cho vùng ô nhiễm khu công nghiệp Việt Trì

và các vùng khác [37,41] Từ 1988, Phạm Ngọc Đăng, Lê Văn Nãi và cộng

sự đã áp dụng tính toán theo cả 2 mô hình Gauss và Berliand cho một số vùng ô nhiễm công nghiệp kết hợp khảo sát đo đạc tại hiện trường [20,22]

Trang 22

cầu (Global Environment Monitoring System - GEMS) ở các nước đặt 3 trạm

monitoring không khí: 1 tại khu vực sản xuất công nghiệp, 1 tại khu vực thương mại và 1 tại khu dân cư sinh sống Số liệu đo của các trạm này cho phép tiến hành đánh giá hiện trạng và xu thế phát triển của ô nhiễm môi trường không khí các khu vực và toàn cầu [58]

Như vậy từ đầu thế kỷ đến nay, càng có nhiều người quan tâm, nhiều nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, không khí và tác động của nó trên sức khỏe Đặc biệt trong thập kỷ 80, 90 ở tất cả các châu lục, đều có những nghiền cứu về lĩnh vực này

2.2 Những nghiên cứu ô nhiễm môi trường ở nước ngoài:

Jin H., Zheng.M., Mao.Y., Wan.H (1993) nghiên cứu tại Trung Quốc thấy rằng ở những vùng có mức độ ô nhiễm không khí khác nhau thì thấy tác

động trên sức khỏe cũng khác nhau Các tác giả đã nghiên cứu trên 2 nhóm:

- Một nhóm có môi trường ô nhiễm nặng với nồng độ khói SO2: 255,56 àg/m3; NO2: 34,02 àg/m3; CO: 7,33 mg/m3 và bụi lơ lửng 160,02 àg/m3

- Nhóm kia ít ô nhiễm hơn, tương ứng là 28,65 àg/m3; 29,23 àg/m3; 2,30 mg/m3; 86,39 àg/m3

Với 308 trẻ em từ 11-13 tuổi ở nhóm ô nhiễm nặng và 305 trẻ ở nhóm

ô nhiễm ít, các tác giả thấy ở nhóm ô nhiễm nặng tỷ lệ mắc các triệu chứng tổn thương cao hơn, chức năng hô hấp giảm một cách rất rõ rệt so với nhóm

ít ô nhiễm với P<0,05 và P <0,01 Cụ thể là: viêm khí phế cấp: ô nhiễm nặng 22,0%, nhóm ô nhiễm ít 2%; viêm mũi họng: ô nhiễm nặng 16,0%, nhóm ô nhiễm ít 4,0%; ho: nhóm ô nhiễm nặng 73%, ô nhiễm ít 28%; khò khè

đờm: ô nhiễm nặng 41,0% , ô nhiễm ít 16%; những triệu chứng của họng: ô nhiễm nặng 30%, ô nhiễm ít 18%; những triệu chứng của mũi: ô nhiễm nặng 11%, ô nhiễm ít 2% Về chức năng thông khí phổi, ô nhiễm nặng có FVC giảm rõ rệt: 2368,47 ml, ô nhiễm ít có FVC là 2697,28 ml; ô nhiễm

Trang 23

giả thấy rằng nồng độ khí SO2 và bụi lơ lửng có mối tương quan rõ với FVC (r =- 0,7 với SO2 và -0,9 với bụi), và với FEV1 (r = -0,9 với SO2 và -0,7 với bụi) [89]

ở Accra các tác giả thấy 70% bệnh tật người dân có liên quan ô nhiễm môi trường, ở Katowice: 87% bệnh tật liên quan ô nhiễm môi trường Tổn thương gặp nhiều nhất là các bệnh mãn tính và cấp tính về đường hô hấp, bệnh nhiễm trùng, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (chronic obstructed lung disease) [108]

Beaglehole R., Bonita R., Kjellstrom T., (1993) khi phân tích kết quả

của vụ dịch sương mù SMOG (viết tắt: Smoke và fog) tháng 12-1952 tại

London đã thấy rằng khi nồng độ SO2 là 0,25 ppm và khói 1,0 mg/m3 thì số người tử vong do bệnh phổi và tim mạch: 250 người/ngày Khi nồng độ SO2tăng 0,5 ppm và khói 2,0 mg/m3 thì số người tử vong tăng lên 500 người/ ngày Và khi SO2 tăng lên 0,75 ppm và khói 3,0 mg/m3 thì số người tử vong trên 750 người/ngày Đã có mối tương quan rất rõ rệt giữa nồng độ SO2, khói

và số người tử vong Khi ô nhiễm càng nặng thì số người tử vong càng cao [1]

Molina C.L., Caillaud D., Molina N., (1993) đã nghiên cứu trên 1800 người của 1 công ty tại Paris (Pháp) được chia làm 2 nhóm, 1 nhóm có môi trường không khí bị ô nhiễm, 1 nhóm có môi trường không khí sạch làm chứng Các tác giả thấy rằng tỷ lệ mắc các triệu chứng của hội chứng SBS và các dấu hiệu bệnh mắc phải của nhóm ô nhiễm cao hơn nhóm chứng một cách rõ rệt Cụ thể: viêm mũi, viêm xoang ở nhóm ô nhiễm 67,3% so với chứng 7,9% (P<0,001) Hen nhóm ô nhiễm : 12,2% so với chứng 2,6% (P<0,001) Các triệu chứng khác nhóm ô nhiễm 16,3% so với chứng 7,9% [106]

Muzi G., Abbritti G., Accattoli M.P., (1993) đã nghiên cứu 198 người công nhân làm việc ở môi trường có ô nhiễm và 218 người làm việc ở môi

Trang 24

môi trường ô nhiễm phàn nàn về sự không tiện nghi: 30,6% so nhóm chứng: 18,9% Các triệu chứng của hội chứng SBS ở nhóm ô nhiễm cao hơn rõ rệt nhóm chứng: Ho: nhóm ô nhiễm 1,5% so với chứng 0,47% Các triệu chứng

về mắt: nhóm ô nhiễm 29,3% so với chứng 14,6% (P < 0,001) Tắc mũi:

nhóm ô nhiễm 5,1% so với chứng 1,1% (P<0,01) Ngứa mũi (kích thích mũi):

nhóm ô nhiễm 2,5%, so với chứng 1,4% Khô họng: nhóm ô nhiễm 21,7% so với chứng 9,3% (P< 0,001) Ngực bị chèn ép: nhóm ô nhiễm 2,2%, so với chứng 0% (P< 0,001) Khô da: nhóm ô nhiễm 10,6%, so với chứng 2,5% (P <

0,001) Hồi hộp (bồn chồn): nhóm ô nhiễm 5,1%, so với chứng mắc 2,8%

[107]

Nel C.M.E., Terblanche A.P.S., Opperman L., Kock D., (1993) nghiên cứu 144 trẻ em 8-12 tuổi ở nhóm chứng và 211 trẻ em ở nhóm không khí trong nhà bị ô nhiễm do đốt than ở vùng Township trung tâm Nam phi thấy rằng các bệnh về hô hấp và triệu chứng tổn thương đường hô hấp ở nhóm trẻ

em sống vùng không khí ô nhiễm cao hơn ở nhóm trẻ em sống ở vùng không

ô nhiễm (đối chứng) Kêu đau ở ngực: nhóm ô nhiễm 2,8 %, so với chứng

2,0% Chảy nước mũi: nhóm ô nhiễm 4,0 %, so với chứng 2,0% Đau ở tai: nhóm ô nhiễm 4,9 %, so với chứng 2,0 Viêm xoang: nhóm ô nhiễm 2,2 %,

so chứng 1,4% [109]

Norback D., Rand G., Michel I., Amcoff S (1987), tại Thuỵ điển đã nghiên cứu 126 người có môi trường không khí bị ô nhiễm bởi NO2: 18 ppm, NO: 50 ppn, CO2: 350-1800 ppm, bụi 46 mg/m3 và 407 người nhóm chứng

(không bị ô nhiễm) thấy có sự khác biệt rõ rệt về các triệu chứng của hội

chứng SBB với OR từ 1,5-2 và P<0,05 Kích thích mắt: vùng ô nhiễm 18,3 %,

so với chứng 3,9% Khô họng: vùng ô nhiễm 5,5%, so với chứng 3,4% Ho: vùng ô nhiễm 9,5%, so với chứng 1,7 % Đau đầu: vùng ô nhiễm 5,5%, so với chứng mắc 5,1% [110]

Parkes R.W (1974), nghiên cứu trên 20.000 công nhân đúc thép ở South Wales (Anh), tác giả thấy có mối liên quan giữa viêm phế quản mãn

Trang 25

tính với sự tiếp xúc bụi và khí SO2 đơn thuần hoặc kết hợp (dù cho sự ảnh hưởng của hút thuốc lá vẫn nổi lên một cách rõ rệt)

- Với môi trường ít bụi, ít SO2, tỷ lệ mắc viêm phế quản mãn: 14,8%

(chủ yếu do đốt than) đã tác động rõ rệt lên tổn thương đường hô hấp của trẻ

em trong vùng Cụ thể ở thành phố Thượng hải nồng độ khí SO2: 436 àg/m3; CO: 6550 àg/m3; NO2: bằng vùng chứng, bụi hô hấp (respiratory particles - RP) : 708 àg/m3 thì có tỷ lệ các tổn thương đường hô hấp (respiratory illness)

là cao nhất: viêm khí quản: 21,9% (P<0,01 so chứng); viêm họng hầu: 15,4% (P<0,01 so với chứng); viêm amiđan: 16,7% (P<0,01 so với chứng); hen: 1,6% (P>0,05 so với chứng); viêm họng (xung huyết họng): 29,6% (P<0,01

so với chứng); chảy nước mũi: 10,9% (P< 0,01 so với chứng)[115]

Theo Samet J.M (1993), ở Mỹ các tác giả quan tâm đến nhiều vấn đề của ô nhiễm như : nguồn gây ô nhiễm không khí trong nhà: hơi khí độc, bụi, chất gây ung thư từ sinh hoạt trong nhà và từ ngoài nhà vào: chủ yếu do ô nhiễm công nghiệp, do hút thuốc lá Các tác giả thấy rằng ở những mức độ ô nhiễm khác nhau thì các mức độ tổn thương cũng khác nhau Khô mắt từ 18 - 34%; tắc mũi 32 - 58%; khô họng từ 33 - 56%; đau đầu từ 33 - 52% Các tác

Trang 26

Skov P., Valbjorn (1987) đã nghiên cứu các triệu chứng của hội chứng

SBS trên 4369 người ở Greater Copenhagen (Đan mạch) thấy rằng ở vùng ô

nhiễm, các triệu chứng mắc cao hơn vùng không ô nhiễm một cách rõ rệt Các triệu chứng tổn thương niêm mạc có OR = 0,8 đến 3,0 so đối chứng, các triệu chứng chung toàn thân có OR = 0,6 đến 2,7 so đối chứng [120]

Spengler J.D., Ware J., Speizer F (1987) đã nghiên cứu chất gây ô nhiễm trong nhà: NO2, SO2, bụi, tình trạng hút thuốc trong cả 4 mùa trên

1000 trẻ em tại 6 thành phố của Mỹ đã thấy rằng: tỷ lệ các tổn thương đường hô hấp có liên quan chặt chẽ với nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí [128]

Theo Gualtierotti R (1972) ở Pháp nhiễm bẩn không khí ngày nay chủ yếu do hơi khí và bụi thoát ra từ ống khói các nhà máy và từ xe có động cơ.[1]

Các tác giả coi không khí bị nhiễm bẩn là nguyên nhân quan trọng gây ung thư đường hô hấp ở cả người nghiện thuốc lá và không nghiện thuốc lá

và cho rằng việc mắc bệnh ung thư phổi tăng lên phải có sự phối hợp của không khí bị nhiễm bẩn Những thống kê ở Anh cho thấy số tử vong do ung thư phổi ở thành phố và những khu công nghiệp cao hơn nhiều so với nông thôn Thành phố càng đông dân, ung thư phổi càng cao Stocks và Campbell

đã thống kê thấy rằng những bộ phận cơ thể không tiếp xúc với không khí nhiễm bẩn thì ở nông thôn hay thành phố tỷ lệ bị bệnh ung thư không khác

nhau (ung thư vú, ung thư tử cung)

ở ý, các tác giả nghiên cứu sự ô nhiễm không khí thấy gây nên rất nhiều rối loạn như cảm giác khó chịu đối với khứu giác, thị giác, tăng kích thích với da, niêm mạc, bị giảm sút thoải mái trong đời sống và thấy có sự liên quan giữa độ nhiễm bẩn không khí với một số bệnh như ung thư dạ dày, thanh quản, khí phế quản, phổi, thiếu máu, hen phế quản, suy tim xung huyết, viêm phế quản cấp tính hay mãn tính, viêm họng, nhức đầu Các tác

Trang 27

giả còn coi nhiễm bẩn không khí như nguyên nhân gây tử vong của một số bệnh ở động mạch vành và não[100]

Karvonen M., Mikheev M.I (1993) nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên sự mắc bệnh ở trẻ em và người lớn tại 37 thành phố thấy rằng: với 29 bệnh được phát hiện lần đầu qua thăm khám cho 10.000 người

của 3 nhóm: trẻ em (dưới 14 tuổi), vị thành niên (từ 14-17 tuổi) và người lớn,

các tác giả đã xác định được 1 số mối tương quan quan trọng giữa nồng độ

SO2, NO2, CO, bụi với 1 số bệnh Cụ thể có mối tương quan giữa loét dạ dày với SO2 với r = 0,52± 0,16; có mối tương quan và sự phối hợp giữa SO2, NO2với bệnh nhiễm trùng cấp của đường hô hấp trên ở thanh niên và viêm phế quản ở trẻ em với r = 0,65±0,08 và r = 0,58± 0,09 Các tác giả còn thấy sự phối hợp giữa SO2 và bụi trong không khí với viêm dạ dày mãn tính ở trẻ em:

r = 0,59±0,18 và giữa loét đường tiêu hoá ở người lớn với tiếp xúc phối hợp của SO2 và NO2: r = 0,57± 0, 16 và với SO2 và CO: r = 0,52±0,17 Các hệ số tương quan đa biến đối với các ca bệnh khác không có ý nghĩa thống kê [114]

Theo UNEP (1993), tại khu vực bắc Mỹ và khu vực châu á và Thái bình dương thuộc ủy ban kinh tế xã hội châu á-Thái bình dương (ESCAP) thì

tại 4 thành phố của Bắc Mỹ (Toronto, Vancouver-Canada và Chicago, New York-Mỹ) nồng độ SO2 và bụi ở Bắc Mỹ đều dưới tiêu chuẩn cho phép (TCCP: SO2: 40 àg/m3; bụi: 60 àg/m3) Còn 22 thành phố của ESCAP thì có nhiều thành phố có nồng độ SO2 và bụi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần: Beijing: SO2: 157 àg/m3; bụi: 338 àg/m3 Guang Zhou: SO2: 74 àg/m3; bụi:

283 àg/m3 Shenyang: SO2: 236 àg/m3; bụi: 347 àg/m3 Xian: SO2: 114 àg/m3; bụi: 327 àg/m3 (Trung Quốc) Calcutta: SO2: 85 àg/m3; bụi 330 àg/m3 Delhi: SO2: 49 àg/m3; bụi 338 àg/m3 (ấn độ) Tehran: SO2: 163 àg/m3; bụi

347 àg/m3 (I ran) Manila: SO2: 60 àg/m3; bụi: 225 àg/m3 (Philippin) Seoul:

Trang 28

kèm theo mức độ ô nhiễm nặng thì nhiều bệnh về tổn thương đường hô hấp, ung thư cũng tăng cao ở Beijing, tỷ lệ ung thư phổi tăng lên 145% tính từ năm 1949 đến năm 1979; ở Bangkok: 900.000 ca bệnh tổn thương đường hô hấp trong năm ở Bombay: lao phổi và bệnh ở đường hô hấp là nguyên nhân cao nhất gây tử vong cho người đến tuổi trưởng thành trong thành phố ở Calcutta: 60% số người dân nội thị cư trú thường xuyên tại thành phố bị các bệnh về đường hô hấp [135]

Theo Smith K.R (1987) có tới 74% dân số đô thị toàn cầu là sống trong đô thị của các nước đang phát triển, còn 26% dân số đô thị còn lại là sống trong đô thị của các nước đã phát triển Trong đó việc đốt nhiên liệu lấy năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt thì ở 2 loại đô thị này khác nhau Đô thị

ở các nước đang phát triển dùng than đá và củi là chủ yếu, ở đô thị các nước

đã phát triển dùng nhiên liệu lỏng và khí tự nhiên là chủ yếu Do đó mức độ

ô nhiễm không khí ở 2 loại đô thị cũng khác nhau Các tác giả thấy rằng tỷ lệ bệnh tật ở 2 loại đô thị này cũng khác nhau và khác so với chung toàn cầu: Bệnh hô hấp: đô thị đang phát triển 21%, so với đô thị đã phát triển 7,5% (chung toàn cầu 18%)

Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng: đô thị đang phát triển 18%, so đã phát triển 0% (chung toàn cầu 14%)

Bệnh tim mạch: đô thị đang phát triển 16%, so đô thị đã phát triển 48% (chung toàn cầu 25%)

Bệnh ung thư: đô thị đang phát triển 6% so đô thị đã phát triển 19% (chung toàn cầu 9%) Các bệnh khác: đô thị đang phát triển 39%, so đô thị

đã phát triển 25,5% (chung toàn cầu 34%) Như vậy, ở đô thị đang phát triển; bệnh hô hấp mắc cao nhất, tiếp theo bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng Ngược lại ở đô thị đã phát triển: bệnh tim mạch mắc cao nhất, tiếp theo là bệnh ung thư [126]

Spengler J., Neas L., Nakai S (1993) đã nghiên cứu trên 600 trẻ em

Trang 29

nhà ở khác nhau thấy rằng: ô nhiễm không khí nhà ở tác động rõ rệt trên sức khỏe trẻ em, đặc biệt tới những tổn thương của đường hô hấp: hen: 11,4%, thở khò khè dai dẳng (persistent wheeze): 8,1%, thở ngắn nông (shortness of breath) 8,3% Các triệu chứng của phế quản 11,6%, viêm phế quản 6,3%, ho phế quản (chronic cough) 5,5%, đờm phế quản (chronic phlegm) 3,1% Các triệu chứng tổn thương đường hô hấp khác trung bình: 16,9% [129]

Stenberg B., Eriksson N., Hansson M.K (1993) đã nghiên cứu trên

4943 người lao động ở trong những môi trường có mức độ ô nhiễm không khí khác nhau ở Thụy Điển Các tác giả thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS so với dối chứng đều mắc cao hơn rõ rệt với OR trung bình so với

đối chứng là 3,4 (OR từ 2,7-4,2) (P<0,005)[130]

Wallace L.A., Nelson C.J., Glen G (1993) đã nghiên cứu trên 6771

người lao động tiếp xúc với các chất ô nhiễm không khí khác nhau (hoá chất, sơn, bụi) và ở trong các điều kiện vi khí hậu khác nhau (không khí khô, ẩm) tại Mỹ Với 32 triệu chứng về sức khỏe qua hệ thống câu hỏi chuẩn của hội

chứng SBS các tác giả thấy tất cả các triệu chứng đều mắc cao hơn rõ rệt ở nhóm có môi trường không khí bị ô nhiễm so với đối chứng Cụ thể đau đầu: P<0,01; các triệu chứng về mũi: P<0,01; ngực bị chèn ép, thở khò khè, thở ngắn nông: P<0,01; ngứa, kích thích mắt: P<0,01; đau bụng, khô họng: P<0,01; mệt mỏi, buồn ngủ: P<0,01, đau, khó cử động ở cổ, lưng: P<0,01; khô da: P < 0,01 [136]

Bushtueva K.A (1986) thấy rằng ở Liên xô (cũ) nguồn gây ô nhiễm không khí do sản xuất công nghiệp chiếm một phần rất lớn: SO2: 7,3 107 tấn/năm, CO: 2.108 tấn/năm, NOx: 1,5.107 tấn/năm, CO2: 1,5.1010 tấn/năm, bụi 960-2615.106 tấn/năm Theo tác giả thì CO chiếm tỷ lệ cao nhất: 31,9%, bụi: 28,3%, SO2: 27,0%, hydrocacbon: 10,7%, NOx: 1,1%, chất khác: 1,0% Trong đó do nhiệt điện chiếm 27%, luyện kim đen 24,3%, công nghiệp hoá dầu 15,5%, giao thông 13,1%, luyện kim màu 10,5%, xây dựng 8,1%, công

Trang 30

gây ô nhiễm cho cả 1 vùng xung quanh các khu công nghiệp Tác giả chia ra

3 vùng và thấy rằng: ở vùng có nồng độ chất ô nhiễm vượt 5 lần tiêu chuẩn cho phép trở lên thì làm tăng mức mắc bệnh lên gấp 2-4 lần và làm thay đổi chức năng của cơ thể ở vùng nồng độ chất ô nhiễm ở mức tiêu chuẩn cho phép hoặc gần mức tiêu chuẩn cho phép thì kết quả nghiên cứu ở vùng này cho phép đánh giá lại các tiêu chuẩn cho phép đã phù hợp chưa ? Vùng thứ 3: nồng độ chất ô nhiễm dưới tiêu chuẩn cho phép thì coi như là vùng trong sạch, đối chứng [1]

Theo Gildenskiond R.S (1976) khi nghiên cứu mức độ ô nhiễm của không khí xung quanh các khu công nghiệp ở Liên xô (cũ) thấy rằng các chất

ô nhiễm phân tán ra khu vực xung quanh đều tuân theo mô hình Berliand, nghĩa là có 1 vùng cực đại ở khoảng cách 1500 mét so với nguồn ô nhiễm Tác giả thấy rằng càng xa nguồn, tỷ lệ các hạt bụi có kích thước dưới 5à

càng cao [1]

Konstantinov V.G., Kuzminukh A.I (1971) khi nghiên cứu ô nhiễm không khí trong các nhà máy sản xuất nhôm ở Liên xô (cũ) thấy rằng các hợp chất hydrocacbua thơm đa vòng (chứa 3-4 benzopyren) và bụi tác động

rõ rệt lên bệnh ung thư đường hô hấp (ung thư phổi, ung thư phế quản, ung thư màng phổi) và ung thư da Nghiên cứu tỷ lệ chết do ung thư ở 2 nhóm

tuổi: 18-39 tuổi và 40 tuổi trở lên của công nhân ở 2 nhà máy có nồng độ chất ô nhiễm cao trong không khí Các tác giả thấy rằng tỷ lệ chết chung do các loại ung thư: chung toàn nhà máy: 1,85 lần cao hơn so toàn thành phố, nhóm 18-39 gấp 7,15 lần so nhóm tương ứng của thành phố, nhóm 40 tuổi trở lên gấp 1,57 lần so nhóm tương ứng của thành phố Tỷ lệ chết do ung thư phổi, phế quản và màng phổi của chung toàn nhà máy gấp 1,7 lần, nhóm 18-

39 tuổi gấp 8,3 lần, nhóm 40 tuổi trở lên gấp 1,6 lần so với nhóm tương ứng của thành phố Chết do ung thư da do hiếm gặp nên các tác giả không nghiên cứu được ở 2 nhà máy này Nhưng theo thống kê chung của các tác giả ở các nhà máy sản xuất nhôm có ô nhiễm không khí bởi bụi và hydrocacbua thơm

Trang 31

gấp 38,8 lần, ở nhóm tuổi từ 40 trở lên gấp 6,6 lần, và chung các nhóm tuổi của công nhân gấp 10,5 lần so với nam giới của dân chúng của nhóm đối chứng [1]

Balaras C.A., Santamouris M., Dascalaki E (1993) đã nghiên cứu trên

437 người tại 30 điểm của thành phố Athens Hy lạp với 1 nhóm gồm 252 người có môi trường không khí bị ô nhiễm và 1 nhóm gồm 185 người đối chứng Các tác giả thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS của nhóm ô nhiễm đều cao hơn nhóm đối chứng: Ho ở nhóm ô nhiễm 22,6% so đối chứng 15.7%; viêm phổi, phế quản ở nhóm ô nhiễm 1,2%, so đối chứng 0%; thở ngắn nông ở nhóm ô nhiễm 19,8% so đối chứng 13%; Viêm phế quản mãn ở nhóm ô nhiễm 5,2% so đối chứng 2,7%; đau đầu ở nhóm ô nhiễm 68,7% so đối chứng 49,7% [68]

Blom P., Skaret E., Levy F (1993) đã nghiên cứu trên 2197 người ở

Na uy trong điều kiện môi trường không khí nhà ở và cơ quan làm việc sự ô nhiễm với các mức độ khác nhau thấy rằng: các triệu chứng của hội chứng SBS có đáp ứng đối với ô nhiễm môi trường không khí một cách rõ rệt Các triệu chứng đáp ứng toàn thân ở nhóm ô nhiễm 14% so đối chứng 4%, các triệu chứng về niêm mạc ở nhóm ô nhiễm 12% so đối chứng 5% Các triệu chứng về da ở nhóm ô nhiễm 9% so đối chứng 3% [70]

Englert N., Prescher K.E., Seifert B (1987) đã nghiên cứu trong 4 tháng liên tục trên 40 trẻ em tại Berlin (West) Cộng hòa liên bang Đức Các tác giả nghiên cứu các điều kiện môi trường, nồng độ hơi khí độc trong và ngoài nhà ở trong 4 tháng Nhiệt độ ngoài nhà: -4oC đến 2oC, trong nhà: 19,0oC đến 19,4oC; độ ẩm tương đối trong nhà từ 35 đến 43%; khí NO2 trong nhà từ 15 đến 24 àg/m3, khí NO2 ngoài nhà từ 43 đến 54 àg/m3; khí SO2ngoài nhà: 100 đến 190 àg/m3 Các tác giả nghiên cứu đồng thời các bệnh

đường hô hấp và thấy rằng khi nồng độ các chất ô nhiễm tăng lên và độ ẩm không khí thay đổi thì đã làm tăng các bệnh đường hô hấp: khi NO2 ≤ 30 à

Trang 32

hấp 51% Khi độ ẩm điều hoà thì bệnh đường hô hấp mắc 38% Khi độ ẩm

có thay đổi một phần thì bệnh đường hô hấp 46% Khi độ ẩm có thay đổi lớn thì bệnh đường hô hấp 55% [76]

Dockery D.W., Spengler J.D., Speizer F.E (1987) đã nghiên cứu trên

6000 trẻ em từ 7 đến 11 tuổi tại 6 thành phố của Mỹ trong điều kiện ô nhiễm

môi trường không khí khác nhau (ô nhiễm từ ngoài nhà , ô nhiễm do khói thuốc lá, ô nhiễm do đốt nhiên liệu trong nhà) Các tác giả thấy ô nhiễm

không khí tác động rõ rệt lên tổn thương đường hô hấp: ho, thở khò khè, viêm khí phế quản, đau ở ngực với OR từ 1,31 đến 1, 60 (P < 0,05 đến P<0,01) [75]

Bushtueva K.A (1971) thấy rằng có mối liên quan rõ rệt giữa sự phát triển công nghiệp, ô nhiễm môi trường không khí và bệnh tật của dân cư, đặc

biệt là bệnh đường hô hấp ở Moskva (Liên xô cũ) từ 1931, 1936 đến 1962,

số chết vì ung thư phổi (trên 100.000 dân) của nam giới tăng 5,6 lần, nữ giới tăng 3,7 lần Tại Liên bang Nga, từ 1958 đến 1966 số người mắc bệnh u ở phổi (trên 100.000 dân) tăng từ 8,2 lên 21,1 Tác giả còn thấy tương tự ở Michigan (Mỹ) Cụ thể theo Carnow B.W thì những biểu hiện cấp tính của bệnh nhân từ 55 tuổi trở lên bị viêm phế quản mãn tính có liên quan chặt chẽ với nồng độ khí SO2 bị ô nhiễm trong không khí ở bang Michigan khi nồng

độ khí SO2 0,15 mg/m3, thì mắc 13,6% (bệnh người/ngày); khi nồng độ SO20,30 mg/m3, thì tỉ lệ mắc bệnh 17,1%; khi nồng độ SO2: 0,45 mg/m3, thì tỷ lệ mắc bệnh 18,7%, khi nồng độ SO2 0,60 mg/m3, thì tỷ lên mắc bệnh 18,2%; khi nồng độ SO2 0,75 mg/m3, thì tỷ lệ mắc bệnh 18,6%; khi nồng độ SO20,90 mg/m3, thì tỷ lệ mắc bệnh 22,1%; khi nồng độ SO2 trên 0,90 mg/m3, thì

tỷ lệ mắc bệnh 26,5% Tác giả thấy tương tự ở Kavaxaki (Nhật) Theo Toyama thấy rằng ở Nhật, khi nghiên cứu nhiều bệnh ở các vùng thành phố,

vùng ven thành phố, vùng lân cận, vùng xa hơn và vùng nông thôn (có không khí trong sạch) thì ô nhiễm không khí các vùng thành phố và lân cận có ảnh

hưởng rõ rệt lên bệnh đường hô hấp Các bệnh khác: bệnh tim mạch, bệnh dạ

Trang 33

dày, ruột không có ảnh hưởng Bệnh đường hô hấp ở vùng thành phố (Kavaxaki) mắc 29,5 (trên 1000 dân), vùng ven (Xôcagama) mắc 26,0 (trên

1000 dân), vùng lân cận (Phuiinô) mắc 24,5 (trên 1000 dân), vùng xa hơn (Cainan) mắc 20,0 (trên 1000 dân), vùng nông thôn (trong sạch)(Daito) mắc 4,6 (trên 1000 dân) [1]

Kirka E., Goldsmith J (1962) thấy rằng tại California (Mỹ) từ 1950

đến 1959 số chết do các bệnh đường hô hấp (trên 100.000 dân) đều tăng Chết do ung thư đường hô hấp tăng từ 13,5 lên 20,0; chết do hen, khí phế thũng và viêm phế quản mãn tăng từ 8,0 lên 15,5; chết do khí phế thũng tăng

từ 1,6 lên 7,0; chết do viêm phế quản mãn tăng từ 3,4 lên 5,4 Các tác giả thấy rằng do phát triển công nghiệp, ô nhiễm môi trường không khí tăng lên làm tăng tỷ lệ mắc và chết của bệnh, đặc biệt bệnh đường hô hấp Nghiên cứu nồng độ khí SO2 và bụi khói ở vùng ô nhiễm trong thành phố, vùng xung

quanh thành phố và vùng xa thành phố (ít ô nhiễm hơn) các tác giả thấy có sự

liên quan chặt chẽ giữa ô nhiễm không khí và bệnh đường hô hấp Khi nồng

độ SO2: 259 àg/m3; khói bụi: 281 àg/m3, số chết do ung thư phổi ở nam giới:

114 (trên 100.000 dân), do viêm phế quản mãn: 129 (trên 100.000 dân) ở vùng ít ô nhiễm hơn khi nồng độ SO2: 221 àg/m3, khói bụi: 203 àg/m3, số chết do ung thư phổi ở nam giới: 108 (trên 100.000 dân) do viêm phế quản mãn: 113 (trên 100.000 dân) ở vùng ven thị khi nồng độ SO2: 173 àg/m3, khói bụi 185 àg/m3 thì chết do ung thư phổi ở nam giới: 91 (trên 100.000 dân), do viêm phế quản mãn: 106 (trên 100.000 dân) ở vùng xa hơn khi nồng độ SO2: 94 àg/m3, khói bụi: 85 àg/m3, thì chết do ung thư phổi ở nam giới: 88 (trên 100.000 dân), do viêm phế quản mãn: 77 (trên 100.000 dân) [90]

Truter R.M., Opperman L., Terblanche A.P., (1993) đã nghiên cứu ở vùng Vaal Triangle của Nam phi trên 2 đối tượng nam và nữ Đây là vùng công nghiệp, gây ô nhiễm vùng dân cư xung quanh Nghiên cứu trên 3680

Trang 34

mắc các triệu chứng của hội chứng SBS, nhưng tỷ lệ mắc cao hơn ở những

người vừa làm ở việc xí nghiệp và vừa sống ở nhà (bị tác động của cả 2 môi trường ô nhiễm:ở xí nghiệp và nhà ở): buồn ngủ (ngủ gà): nữ 14,5%, nam

15%; kích thích mắt: nữ 12,8%, nam 15,1% Đau họng: nữ 11,5% , nam 14,8%; chảy nước mũi: nữ 18,6%, nam 29,8%; khô da: nữ 18,4%, nam 15,5%; buồn nôn: nữ 8,5%, nam 7,6%; chóng mặt: nữ 10%, nam 10,5% [132]

Alibaev T.S (1971) đã nghiên cứu bệnh tật của dân cư xung quanh các khu công nghiệp, chịu ảnh hưởng của ô nhiễm không khí do khu công nghiệp gây ra ở Liên xô (cũ) Các tác giả thấy rằng: ô nhiễm không khí làm tăng các bệnh: viêm da, viêm kết mạc, hen phế quản, viêm mũi xung huyết, mày đay, làm tăng mẫn cảm của cơ thể với các yếu tố dị nguyên Trong đó đáng lưu ý

là hen phế quản và ung thư phổi Theo Yoshida K., Oshima H ở Iokkaichi (Nhật), dân chúng xung quanh khu công nghiệp hoá dầu này mắc bệnh hen

phế quản: 2,3% (trong đó người lớn tuổi mắc 7,1%) và liên quan rõ rệt với ô

nhiễm không khí [1]

Bushtueva K.A (1986) thấy rằng khi nồng độ chất ô nhiễm không khí

ở gần giới hạn cho phép thì không phải là hoàn toàn không có tác động gì tới sức khỏe mà nó tác động tới sức khỏe ở mức độ là có những thay đổi trong tổ chức dù chưa có biểu hiện lâm sàng Đặc biệt ở trẻ em có thể đã có biểu hiện lâm sàng Khi nồng độ chất ô nhiễm gấp 2-4 lần tiêu chuẩn cho phép thì gây những biến đổi về chức năng của cơ thể Khi nồng độ chất ô nhiễm gấp 5-10 lần tiêu chuẩn cho phép thì gây ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể, gây nên bệnh tật Tác giả ví tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe như hình ảnh một tảng băng nổi mà phần nổi là tác động gây nên tử vong và bệnh tật Phần rất lớn, phần chìm của tảng băng là số người bị những biến đổi về mặt chức năng và biến đổi về sinh hoá và tổ chức của cơ thể mà chúng ta chưa chú ý quan tâm Trên cơ sở đó tác giả chia 3 vùng tác động của ô nhiễm không khí: vùng gây tử vong và bệnh tật, vùng gây biến đổi chức năng của cơ thể và

Trang 35

Wadden R.A., Scheff P.A (1987) đã nghiên cứu tác động phối hợp của SO2 và bụi ở những vùng có mức độ ô nhiễm khác nhau tại Mỹ và thấy rằng tác động của chúng rất rõ rệt lên bệnh đường hô hấp như gây ho có đờm, giảm chức năng hô hấp: giảm FVC, FEV 0,75, gây tăng bệnh đường hô hấp: viêm phế quản mãn, khạc đờm, thở khò khè Đặc biệt ở người già và trẻ em [1]

Glebova L.Ph (1976) đã nghiên cứu ô nhiễm không khí xung quanh khu vực sản xuất phân hoá học của Liên xô (cũ) thấy rằng không khí bị ô nhiễm bởi khói bụi và nhiều hơi khí độc: SO2, SO3, hợp chất florua, amoniac, oxyt nitơ Nồng độ trung bình tại các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép

1 vài lần ở cả 2 hướng gió chủ đạo Các hơi khí độc đã kết hợp với bụi tác

động rõ rệt lên các tổn thương đường hô hấp, mắt, nhất là ở người già và trẻ

em Tác giả đề xuất sự cần thiết bảo vệ vệ sinh không khí khí quyển ở những vùng bố trí các xí nghiệp công nghiệp hoá học [143]

Datsenko I.I (1981) nghiên cứu ô nhiễm không khí xung quanh khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng ở Liên xô (cũ) thấy khói bụi và khí SO2 do nhà máy thải ra gây ô nhiễm không khí trong vòng bán kính 3 km so ống khói nhà máy, ảnh hưởng rõ rệt lên bệnh đường hô hấp của dân chúng trong khu vực [143]

Lindberg Z.Ya (1964) và các tác giả Liên xô (cũ) đã nghiên cứu sự ô nhiễm môi trường không khí xung quanh khu công nghiệp sản xuất phân bón Supephotphat và axit sufuric đã thấy rằng: nồng độ HF vượt tiêu chuẩn cao nhất là 29 lần và nồng độ HF tăng cao trong vòng bán kính 3 km xung quanh nhà máy: từ 0,005-0,3 mg/m3, và khi khoảng cách tới nhà máy rút lại gần từ

3000 mét xuống 500 mét thì nồng độ flo tăng trung bình từ 0,098 đến 0,485 mg/m3 Các tác giả đã nghiên cứu 2 làng ở phía nam và phía tây gần nhà máy

có khoảng cách trung bình cách nhà máy từ 0,75-2,5 km đã thấy rằng flo trong nước uống của khu vực quanh nhà máy không cao qúa 0,3 mg/lít so

Trang 36

bệnh fluoroze ở trẻ em mắc cao hơn (cả ở 3 mức độ: thể nhẹ, nặng, trung bình) Ngược lại tỷ lệ mắc sâu răng lại thấp hơn làng phía Tây (xa nhà máy)

Các tác giả còn thấy ô nhiễm không khí xung quanh nhà máy còn gây thiệt hại cho chăn nuôi gia súc của khu vực xung quanh [137]

Theo Eckholm E.P (1980), một tác giả nghiên cứu nhiều về ô nhiễm môi trường không khí và tác động trên bệnh tật của Mỹ đã thấy rằng: tại New York, nồng độ các hơi khí độc và bụi gây ô nhiễm cho dân chúng nằm trong

vòng bán kính 3 km, nặng nề nhất là theo hướng gió đông bắc (vùng Massachusetts tính từ Mankhettena) Mùa hè năm 1976 tại Sent-Luise, ô

nhiễm không khí lan đi 240 km mà nồng độ hầu như không giảm do gió đưa

đi [140] Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ phân tích thấy rằng: khí SO2chỉ chiếm 1/4 tổng số ô nhiễm ở Mỹ nhưng đã gây tác động trên 1/2 bệnh tật

và sức khỏe do ô nhiễm gây ra Ngược lại ô nhiễm do giao thông chiếm 1/2 tổng số ô nhiễm ở Mỹ nhưng chỉ gây ra 1/4-1/10 bệnh tật và sức khỏe do ô nhiễm gây ra [140]

Theo Eckholm E.P thấy rằng tại Mỹ: bệnh mãn tính đường hô hấp là bệnh điển hình của ô nhiễm không khí, trong đó phần lớn là viêm phế quản mãn tính, hàng năm gây 6% tử vong ở Mỹ và chiếm 2% trong nguyên nhân chết chung ở Mỹ từ 1940-1960, khí phế thũng chiếm 1% người cao tuổi ở

Mỹ và gây 20.000 ca tử vong mỗi năm Viêm phế quản mãn: 3% người cao tuổi bị mắc hen: gần 4% dân chúng bị mắc Các tác giả thấy ở Mỹ, viêm phế

quản mãn gặp dân cư ở thành phố (có môi trường không khí ô nhiễm) cao hơn vùng nông thôn (có môi trường không khí trong sạch) một cách rõ rệt Tương

tự ở London khi nghiên cứu công nhân ở London và 3 vùng nông thôn đã kết luận: nhiễm bẩn không khí là nguyên nhân chủ yếu làm tăng nặng bệnh viêm phế quản mãn ở London ở Canada khí phế thũng ở người hút thuốc ở vùng ô nhiễm cao hơn 4 lần vùng không ô nhiễm Các tác giả kết luận hút thuốc lá

và ô nhiễm không khí là nguyên nhân làm tăng bệnh này [140]

Trang 37

Theo Eckholm E.P ở Anh, trẻ em 3 tuổi bị bệnh nhiễm trùng đường hô hấp nhiều gấp 3 lần ở trẻ em vùng không khí trong sạch Kết luận này cũng

được rút ra từ nghiên cứu ở Nigeria, Colombia, ấn độ Tác giả kết luận: nhiễm bẩn không khí không chỉ làm tăng các bệnh viêm phế quản mãn, tăng bệnh đường hô hấp người lớn mà còn làm tăng bệnh cấp tính đường hô hấp,

đặc biệt ở trẻ em và làm tăng các bệnh nhiễm trùng khác, so vùng không khí trong sạch [140]

Theo Eckholm E.P ở Mỹ, những người sống ở thành phố mà hút thuốc mắc ung thư phổi cao hơn 20 - 30% so những người như vậy sống ở vùng

nông thôn (không khí trong sạch) và người không hút thuốc ở thành phố mắc

ung thư phổi cao gấp 3-4 lần so người không hút thuốc ở vùng nông thôn

(không khí trong sạch) Tác giả thấy ở những phụ nữ sống liền các khu công

nghiệp ở Los Angeles Mỹ có ung thư phổi cao hơn 40% so các phụ nữ ở vùng khác Tác giả thấy rằng ở vùng có khu công nghiệp, mắc ung thư tăng lên hơn 17% ở nam và 15% ở nữ so với tỷ lệ mắc chung của cả nước [140] Theo Eckholm E.P thấy ô nhiễm không khí đã gây nên 1% tử vong cho dân thành phố, một số nghiên cứu khác cho là 10% Theo Lester Lave và Eugene Seskin thì nếu giảm ô nhiễm do bụi và SO2 trong không khí thành phố xuống 50% thì sẽ giảm được 5% tử vong của người dân thành phố [140] Các tác giả thấy rằng: ô nhiễm không khí ở Mỹ hàng năm đã gây thiệt hại từ 2,5-10 tỷ đô la mỗi năm do tổn hại trên sức khỏe, tài sản động thực vật, công trình xây dựng Các tác giả thấy rằng nó đã làm mất đi cuộc sống của

4000 người và mất đi 4 triệu ngày công lao động mỗi năm [140]

Enterline P.E., March G.M., Essken N.A (1987) thấy tác động của ô nhiễm không khí do SO2 kèm ô nhiễm asen và hút thuốc sẽ làm tăng tỷ lệ chết của công nhân nấu đồng Mỹ do ung thư phổi và ung thư vùng hàm mặt

và thấy có mối liên quan giữa nồng độ SO2, asen, hút thuốc gây ô nhiễm không khí và các bệnh ung thư trên [77]

Trang 38

Finnegan M.J Pickering A.C (1987) nghiên cứu trên 850 người ở Anh chia thành 5 nhóm có điều kiện vi khí hậu và mức độ ô nhiễm không khí trong nhà ở khác nhau đã thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS của 5 nhóm có sự khác biệt nhau rõ rệt:

Triệu chứng niêm mạc mũi: 5,8%, 13,7%, 16,3%, 27,6%, 15,4%; mắt: 5,8%, 8,2%, 14,0%, 21,9%, 13,2%; đau đầu: 15,7% , 37,0% , 32,3% , 31,0% , 29,7%; mệt mỏi: 13,8% , 45,2% , 42,9% , 36,4% , 29, 7% với P<0,05 đến P<0,001 Các tác giả kết luận ô nhiễm không khí nhà ở tác động rõ rệt lên các triệu chứng của hội chứng SBS [80]

Jaakkola J.J.K., Mettinen P., Toomaala P (1993) nghiên cứu trên 2678 người ở Helsinki (Phần lan) thấy rằng các triệu chứng của hội chứng SBS bị tác động rõ rệt của ô nhiễm không khí nhà ở với các mức độ ô nhiễm khác nhau: các triệu chứng về niêm mạc mắt: từ 6,1-10,5% (với OR từ 0,73 đến 1,34); đau đầu: 1,8-7,4% (với OR từ 0,45 đến 1,13); mệt mỏi: 6,6-16,2% (với

OR từ 0,58 đến 2,37); mũi bị kích thích; 7,4-17,0% (với OR từ 0,86 đến 1,60) [88]

Theo Smith K.R (1987), bệnh viêm phế quản mãn, một bệnh điển hình liên quan đến ô nhiễm không khí tại các đô thị, có 1 sự khác nhau giữa

các đô thị của các nước ở Anh (trên 1569 người tuổi 40-64) thì nam mắc 17,0%, nữ mắc 8,0% ở New Hampshire, Mỹ (trên 1139 người tuổi 25-74) thì nam mắc 21,6%, nữ mắc 9,4%; ở Uppsala Thụy điển (trên 41.679 người tuổi 30-64) thì nam mắc 2,2%, nữ mắc 1,5%; ở Nhật bản (trên 22.590 người tuổi 50-59) thì nam mắc 5,8%, nữ mắc 3,1%; ở Delhi ấn độ (trên 300 người tuổi

35 - 74) thì nam mắc 12,0%, nữ mắc 5,0%; chung toàn ấn độ (trên 1140 người tuổi từ 30 trở lên) thì nam mắc 6,7% , nữ mắc 4,5%; ở Madras ấn độ (trên 523 người tuổi từ 50 trở lên) thì nam mắc 2,4%, nữ mắc 1,5%; ở Nê pan (trên 2826 người tuổi từ 20 trở lên) thì nam mắc 17,6%, nữ mắc 18,9%

[122]

Trang 39

Truter R.M., De Beer M., Held O (1993) đã nghiên cứu trên 942 người ở thành phố Johannesburg, Nam phi, sống trong môi trường có mức độ

ô nhiễm khác nhau về CO, bụi, các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, thoáng gió Các tác giả thấy có sự khác biệt rõ rệt về các triệu chứng của hội chứng SBS

ở các môi trường khác nhau và giữa 2 giới Kích thích mắt: nam: 30%, nữ: 58%; đau đầu: nam: 34%, nữ: 51%; khô, đau họng: nam: 32% , nữ: 53%; khô da: nam: 29%, nữ: 56% [133]

Theo Barten F (1994) ở đô thị vùng Nam á người nghèo ở đô thị bị tác

động nhiều nhất về mặt sức khỏe do phải làm việc trong môi trường lao động

bị ô nhiễm (các cơ sở công nghiệp nhỏ), phải sống ở nơi bị ô nhiễm nặng nề

bởi chất thải độc hại của các khu công nghiệp và thiếu chăm sóc y tế, các dịch vụ cơ bản như nước, công trình vệ sinh Tác giả thấy rằng ở các nước này, vấn đề môi trường và tác hại trên sức khỏe trầm trọng hơn so với các nước phương Bắc và chưa có biện pháp nào để giải quyết ở cả tuyến trung

ương và địa phương [69]

Theo Leitmann J (1994) thấy rằng khi phát triển công nghiệp tại các

đô thị, ở hầu hết các nước, đều gây ô nhiễm môi trường không khí khu vực và

đều tác động rõ rệt lên sức khỏe ở Jakarta ô nhiễm không khí làm tăng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở Katowice ô nhiễm không khí làm tăng bệnh ung thư, tim mạch, đau yếu toàn thân ở Sao Paulo ô nhiễm không khí làm tăng bệnh cấp và mãn tính đường hô hấp, làm tăng tỷ lệ chết của những bệnh này

và thấy mối liên quan rất rõ rệt giữa mức độ ô nhiễm không khí và tổn thương đường hô hấp ở trẻ em ở Tunis tỷ lệ chết do các bệnh về tổn thương hô hấp và tim mạch là cao nhất và thấy có liên quan rõ rệt với ô nhiễm môi trường không khí [98]

WHO (1992) nhắc lại định nghĩa về sức khỏe và ý nghĩa của định nghĩa này trong đánh giá tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe

WHO lưu ý về tác động lâu dài của ô nhiễm không khí trên sức khỏe (Long-

Trang 40

về tim mạch và các ung thư khác cần được quan tâm, và lưu ý tới đối tượng trẻ em [137]

WHO (1986) phân tích nguyên nhân của các tổn thương của đường hô hấp và thấy rằng: bụi, các hơi khí độc gây kích thích, gây dị ứng, gây ung thư

đối với người làm việc trong môi trường lao động bị ô nhiễm và môi trường không khí nơi ở bị ô nhiễm Để phát hiện tổn thương đường hô hấp, WHO đề nghị tiến hành cả những xét nghiệm và các thăm dò chức năng hô hấp đi kèm [142]

Fisk W.J., Mendell M.J., Daisey J.M., Faulkner D (1993) đã tiến hành nghiên cứu trên 880 người ở California (Mỹ) đã sống và làm việc trong môi trường không khí có mức độ ô nhiễm khác nhau bởi bụi và hơi khí độc: CO2:

390 - 440 ppm, bụi: 340 - 1200 àg/m3 Các tác giả thấy rằng ô nhiễm môi trường không khí tác động rõ rệt lên các triệu chứng của hội chứng SBS: các triệu chứng về mắt, mũi, họng có OR từ 1,3 đến 1,7 Ngực bị chèn ép hoặc thở ngắn, nông có OR từ 1,6 đến 4,3 Mệt mỏi hay buồn ngủ có OR từ 1,1

đến 2,2 Đau đầu có OR từ 0,9 đến 1,8 Da bị khô hoặc ngứa (kích thích) có

OR từ 0,9 đến 5,8 [81]

Goren A., Hellmann S., Brenner S (1993) đã nghiên cứu trẻ em của 3 vùng tại Israel, trong đó tại Haifa là 2334 trẻ, tại Hadera là 1164 trẻ, tại Ashdod là 844 trẻ Các tác giả nghiên cứu các tổn thương đường hô hấp, chức năng hô hấp (VC, FEV1) tại 3 vùng và thấy rằng có liên quan rõ rệt giữa mức

độ ô nhiễm không khí tại 3 vùng và các tổn thương đường hô hấp của trẻ em Khạc đờm: 4,2- 6,8% (P<0,01) so với chứng; thở khò khè: 6,1-9,7% (P<0,01)

so với chứng; viêm phế quản: 18,9-25,0% (P<0,001) so với chứng Bệnh phổi của anh chị em ruột của các trẻ được nghiên cứu: 16,0-25,0% (P<0,001) so với chứng [83]

Helsing K.J., Billing S.C.E., Conde J (1987) đã nghiên cứu trên 450 sinh viên thuộc 3 trường ở Mỹ có mức độ ô nhiễm không khí bởi SO2, CO,

CO, bụi khác nhau Các tác giả thấy có mối liên quan rõ rệt giữa các triệu

Ngày đăng: 02/05/2014, 05:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4- Bộ môn Nội- Trường đại học Y khoa Hà nội. "Bệnh học nội khoa".Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 1990, tập 1, trang 7-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học nội khoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
5- Bộ môn mắt- Tai mũi họng- Tr−ờng Đại học Y khoa Hà nội. "Bài giảng mắt -tai mũi họng".Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 1990, trang 71-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng mắt -tai mũi họng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
6- Bộ môn Da liễu- Tr−ờng Đại học Y khoa Hà nội. "Bài giảng da liễu".Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 1989, trang 1-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng da liễu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
7- Bộ môn sinh lý học- tr−ờng Đại học Y khoa Hà nội. "Bài giảng sinh lý học".Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 1987, trang 75-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
8- Bộ môn tâm thần- tr−ờng Đại học Y khoa Hà nội. "Tâm thần học".Tr−ờng Đại học Y khoa Hà nội, 1987, trang 140-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thần học
9- Bộ môn Thần kinh- Tr−ờng Đại học Y khoa Hà nội. "Bài giảng thần kinh".Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 1988, trang 3-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thần kinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
10- L−ơng Sĩ Cần, Trần Công Hòa, Nguyễn Hoàng Sơn. "Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp trên ở trẻ em các tỉnh phía Bắc".Ch−ơng trình KY 01-10- Hội nghị chống nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp tính ở trẻ em (AURIC) lần thứ hai- Bộ Y tế- Viện Tai mũi họng- Quảng namĐà nẵng, 3-5/3/1994, trang 4-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp trên ở trẻ em các tỉnh phía Bắc
14- Dabis F; Drucker J; Moren A.. "Dịch tễ học can thiệp".Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 1992, trang 109-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học can thiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
19- Phạm Ngọc Đăng; Đào Ngọc Phong; Nguyễn Ngọc Sinh; Chu Thị Sàng và céng sù."Báo cáo khoa học: đánh giá tác động môi trường khu công nghiệp Thượngđình Hà nội".Bộ Khoa học Công nghệ và Môi tr−ờng- Hà nội 3/1994, trang 7-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học: đánh giá tác động môi trường khu công nghiệp Thượng đình Hà nội
20- Phạm Ngọc Đăng (chủ nhiệm đề tài); Phạm Đức Nguyên; Đào Ngọc Phong; Ngô Thế Thi; Lê Văn Nãi; Ngô Huy ánh; Phạm Đình Hổ."Báo cáo khoa học: Nghiên cứu ô nhiễm môi trường khu Thượng đình Hà néi".Đề tài cấp nhà nước 52Đ.05.01, trung tâm kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp- Tr−ờng Đại học Xây dựng Hà nội, 1988, trang 1-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học: Nghiên cứu ô nhiễm môi trường khu Thượng đình Hà néi
Tác giả: Phạm Ngọc Đăng, Phạm Đức Nguyên, Đào Ngọc Phong, Ngô Thế Thi, Lê Văn Nãi, Ngô Huy ánh, Phạm Đình Hổ
Nhà XB: trung tâm kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp
Năm: 1988
21- Phạm Ngọc Đăng (2002) Báo cáo chuyên đề "Hiện trạng môi trường không khí, dự báo chất lượng không khí và quy hoạch bảo vệ môi trường không khí Hà Nội đến năm 2000", Báo cáo quy hoạch tổng thể môi tr−ờng Hà Nội giai đoạn 2001 - 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường không khí, dự báo chất lượng không khí và quy hoạch bảo vệ môi trường không khí Hà Nội đến năm 2000
23- Phạm Ngọc Đăng, Nguyễn Hoà Bình (2003) Chương trình nâng cao nhận thức của cộng đồng về chất lượng không khí Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình nâng cao nhận thức của cộng đồng về chất l−ợng không khí Hà Nội
24- Phạm Ngọc Đăng, Lê Văn Trình, Nguyễn Quỳnh H−ơng (2004) Đánh giá diễn biến và dự báo môi tr−ờng hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường. Nhà xuất bản Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá diễn biến và dự báo môi tr−ờng hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi tr−ờng
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây dựng
25- Phạm Ngọc Đăng, Lê Văn Nãi và các CTV Đề tài mã số R.MT.2000-2003. Báo cáo tổng hợp (Điều tra,nghiên cứu, dự báo và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khi và tiếng ồn do giao thông đường bộ gây ra ở đô thị Hải Phòng). CEETIA, Hà Nội 5- 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp (Điều tra,nghiên cứu, dự báo và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khi và tiếng ồn do giao thông đường bộ gây ra ở đô thị Hải Phòng)
Tác giả: Phạm Ngọc Đăng, Lê Văn Nãi, các CTV Đề tài mã số R.MT.2000-2003
Nhà XB: CEETIA
Năm: 2003
31- Đinh Xuân Ngôn (2005) Thực trạng ô nhiễm môi tr−ờng không khí và ảnh h−ởng của chúng tới sức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ô nhiễm môi tr−ờng không khí và ảnh h−ởng của chúng tới sức
Tác giả: Đinh Xuân Ngôn
Năm: 2005
34- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung −ơng Đảng cộng sản Việt NamVề Bảo vệ môi tr−ờng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiệnđại hoá đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi tr−ờng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện "đại hoá đất n−ớc
40- Đào Ngọc Phong, Lê Văn Nãi, Chu văn Thăng. "Đánh giá ảnh h−ởng của nhà máy hóa chất Ba nhất tại Hà nội tới không khí nội thất và tình trạng sức khỏe những ng−ời dân sống ở ph−ờng Bách khoa tiếp giáp nhà máy&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh h−ởng của nhà máy hóa chất Ba nhất tại Hà nội tới không khí nội thất và tình trạng sức khỏe những ng−ời dân sống ở ph−ờng Bách khoa tiếp giáp nhà máy
Tác giả: Đào Ngọc Phong, Lê Văn Nãi, Chu văn Thăng
44- Sở Khoa học, Công nghệ và Môi tr−ờng thành phố Hồ Chí Minh (2002) Chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường không khí, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi tr−ờng không khí
47- D−ơng Đình Thiện. "Dịch tễ học Y học".Nhà xuất bản Y học, Hà nội 1993, trang 72- 303.48- NguyÔn Xu©n ThuTổ chức các cụm và khu tập trungcủa công nghiệp nông thôn vung đồng băng Sông Hồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học Y học
Tác giả: D−ơng Đình Thiện
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1993
49- Lê Anh Tuấn, Lê Văn Bào, Nguyễn Xuân Tr−ờng, Nguyễn Hoà Bình và CS (2005)Môi trường lao động, sức khoẻ của công nhân sản xuất bê tông xây dựng ở Hà Nội và đề xuất giải pháp can thiệp làm giảm yếu tố nguy cơ lên sức khoẻ người lao động, Đề tài NCKH cấp Thành phố Hà Nội (Mã số đề tài 01C- 08/06 - 2005 - 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường lao động, sức khoẻ của công nhân sản xuất bê tông xây dựng ở Hà Nội và đề xuất giải pháp can thiệp làm giảm yếu tố nguy cơ lên sức khoẻ người lao động
Tác giả: Lê Anh Tuấn, Lê Văn Bào, Nguyễn Xuân Tr−ờng, Nguyễn Hoà Bình
Nhà XB: Đề tài NCKH cấp Thành phố Hà Nội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1.9 Nồng độ ô nhiễm vi sinh vật tại các nút giao thông - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.1.9 Nồng độ ô nhiễm vi sinh vật tại các nút giao thông (Trang 74)
Bảng 4.3.1: Phân bố hộ gia đình được điều tra theo phường/quận - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.1 Phân bố hộ gia đình được điều tra theo phường/quận (Trang 125)
Bảng 4.3.4 Nghề nghiệp chính và hoàn cảnh của các hộ chủ hộ gia đình - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.4 Nghề nghiệp chính và hoàn cảnh của các hộ chủ hộ gia đình (Trang 128)
Bảng 4.3.5 Số người trong một hộ gia đình   (kích cỡ các hộ gia đình đ−ợc điều tra) - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.5 Số người trong một hộ gia đình (kích cỡ các hộ gia đình đ−ợc điều tra) (Trang 129)
Bảng 4.3.19 Phân bố các triệu chứng bệnh bị mắc trong vòng 1 tháng qua theo nhóm tuổi - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.19 Phân bố các triệu chứng bệnh bị mắc trong vòng 1 tháng qua theo nhóm tuổi (Trang 140)
Bảng 4.3.28 Kết quả điều tra các triệu chứng chủ quan trên 6201 học sinh - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.28 Kết quả điều tra các triệu chứng chủ quan trên 6201 học sinh (Trang 147)
Bảng 4.3.40 Tỷ lệ đối tượng đã được chẩn đoán hen phế quản trước khi - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.40 Tỷ lệ đối tượng đã được chẩn đoán hen phế quản trước khi (Trang 154)
Bảng 4.3.49  Tỷ lệ mắc các triệu chứng của bệnh  da và mắt tại 5 quận - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.3.49 Tỷ lệ mắc các triệu chứng của bệnh da và mắt tại 5 quận (Trang 157)
Bảng 4.4.5 Cách điều trị và chi phí chữa các bệnh ngoài da - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.4.5 Cách điều trị và chi phí chữa các bệnh ngoài da (Trang 174)
Bảng 4.4.6 Cách điều trị các bệnh về mắt - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.4.6 Cách điều trị các bệnh về mắt (Trang 175)
Bảng 4.4.9 Số lần nghỉ và ngày nghỉ  theo bệnh - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.4.9 Số lần nghỉ và ngày nghỉ theo bệnh (Trang 178)
Bảng 4.4.14 Phân bố công nhân tham gia phỏng vấn theo nhóm tuổi đời - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.4.14 Phân bố công nhân tham gia phỏng vấn theo nhóm tuổi đời (Trang 183)
Bảng 4.4.26 Các nhóm bệnh mà công nhân hay mắc trong 2 tuần ốm - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.4.26 Các nhóm bệnh mà công nhân hay mắc trong 2 tuần ốm (Trang 191)
Bảng 4.4.30 Triệu chứng viêm mũi dị ứng trong vòng 12 tháng qua - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 4.4.30 Triệu chứng viêm mũi dị ứng trong vòng 12 tháng qua (Trang 195)
Bảng 3. Nồng độ các chất ô nhiễm không khí tương ứng với các khoảng phân cấp  CCK (theo EPA n−íc Mü) - Nghiên cứu thực trạng các bệnh tật của nhân dân nội thành hà nội có liên quan tới ô nhiễm không khí, các tổn thất về kinh tế xã hội do các bệnh này gây nên và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng
Bảng 3. Nồng độ các chất ô nhiễm không khí tương ứng với các khoảng phân cấp CCK (theo EPA n−íc Mü) (Trang 326)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w