1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất

61 479 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, Kim Bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Tác giả Phạm Thị Thu Hương
Trường học Viện Dinh Dưỡng, Bộ Y Tế
Chuyên ngành Y học cộng đồng, Dinh dưỡng
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nổi bật của đề tài: a, Đóng góp mới của đề tài Kết quả của đề tài có những đóng góp mới về nghiên cứu khoa học cũng như về kinh tế và xã hội Bổ sung vitamin B1 đơn thuần hoặc

Trang 1

Báo cáo tổng kết đề tài

Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng

viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, Kim Bôi

(Hòa Bình) bằng bánh đa vi chất

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Thị Thu Hướng

6489

27/8/2007

Hà Nội - 2007

Trang 2

- 1 -

Phần A Tóm tắt kết quả nổi bật của đề tài

1 Kết quả nổi bật của đề tài:

a, Đóng góp mới của đề tài

Kết quả của đề tài có những đóng góp mới về nghiên cứu khoa học cũng như về kinh tế và xã hội

Bổ sung vitamin B1 đơn thuần hoặc kết hợp đa vi chất chỉ cải thiện nồng

độ vitamin B1 máu và các triệu chứng của bệnh ở một số đối tượng, tuy nhiên không

điều trị khỏi các dấu hiệu của bệnh

Thiếu vitamin B1 máu là yếu tố liên quan đến bệnh ”Tê tê-say say” ở xã

Long Sơn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình Rối loạn chuyển hoá, hấp thu vitamin B1 là nguyên nhân gây thiếu vitamin B1 máu ở một số đối tượng

B1 đơn thuần và 37% ở nhóm bổ sung vitamin B1 kết hợp với đa vi chất), các dấu hiệu lâm sàng (Không còn các dấu hiệu chủ quan như: tê bì 15,9%, mỏi yếu chân tay 20,3%, mỏi hàm 51,3%, buồn ngủ 53,8%, đau cơ 55,2%, đau đầu 50%, mệt mỏi 55,5% Không còn dấu hiệu giảm phản xạ gân xương: 77,8% phản xạ tam đầu, 77,8% phản xạ nhị đầu, 77,8% phản xạ châm quay, 74,2% phản xạ gân gối, 72% phản xạ gân gót), tốc độ dẫn truyền thần kinh ( cải thiện tốc độ dẫn truyền thần kinh ở 100% đối

tượng có tốc độ dẫn truyền thần kinh cơ giảm <-2SD ban đầu)

- Bổ xung 50 mg vitamin B1/ngày trong thời gian 3 tháng đã không cải thiện

được, tình trạng vitamin B1 (có 17,6% đối tượng bị giảm nồng độ vitamin B1<2mcg/dl mặc dù trước can thiệp có nồng độ vitamin B1 máu>2mcg/dl) Một số trường hợp xuất hiện các triệu chứng lâm sàng mà trước can thiệp không có (Các dấu hiệu chủ quan: tê bì 2,7%, căng mỏi cẳng chân 4,1%, mỏi hàm 19,1%, buồn ngủ 19,1%, đau cơ 32,8%,

đau đầu 24,6%, chóng mặt 38,3%, mệt mỏi 30% Các triệu chứng giảm phản xạ gân xương: 9,5% giảm phản xạ tam đầu, 9,5% giảm phản xạ nhị đầu, 9,5% giảm phản xạ châm quay, 6,8% giảm phản xạ gân gối, 6,8% giảm phản xạ gân gót)

Trang 3

- 40% trường hợp có nồng độ vitamin B1 máu thấp (1,3 mcg/dl) tại thời điểm sau 12 giờ uống vitamin B1

c, Hiệu quả về đào tạo

Một nghiên cứu sinh đã tham gia nghiên cứu và sử dụng số liệu của đề tài trong luận án tiến sĩ và đã bảo vệ luận án tiến sĩ ở cấp cơ sở

d, Kết quả về kinh tế:

Giảm chi phí đến mức thấp nhất các trường hợp mắc bệnh nhờ dự phòng và phát hiện sớm bệnh Do đó sẽ đảm bảo sức khoẻ để lao động sản suất tăng thu nhập cho gia đình và đóng góp cho xã hội

e, Hiệu quả xã hội:

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để đề ra các giải pháp can thiệp nhằm góp phần giảm đến mức thấp nhất các hậu quả của bệnh gây ra Tạo niềm tin cho người bệnh và cộng đồng

f, Các hiệu quả khác:

Không

2 áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội

Kết quả của đề tài là cơ sở định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo và đưa ra các biện pháp can thiệp thích hợp

3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt:

a, Tiến độ:

Chậm so với thời gian được phê duyệt

Trang 4

- 3 -

b, Thực hiện mục tiêu nghiên cứu:

Đã thực hiện được mục tiêu đề ra ban đầu

- Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh ngoại biên ở xã Long sơn, huyện Kim bôi, tỉnh Hoà bình bằng bánh đa vi chất

- Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ của hội chứng viêm nhiều dây thần kinh ngoại biên ở xã Long sơn, huyện Kim bôi, tỉnh Hoà bình

c, Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương:

d, Đánh giá việc sử dụng kinh phí:

Chỉ sử dụng 1/3 kinh phí so với dự kiến ban đầu

4 Các ý kiến đề xuất:

Bộ Y tế cần phân bổ kinh phí theo nội dung hoạt động và tiến độ của đề tài Việc phân bổ kinh phí theo năm như những năm qua rất khó khăn và tốn kém cho việc triển khai các hoạt động, thậm chí có hoạt động không thể triển khai được do các hoạt

động phải triển khai trong cùng một thời điểm, nếu không đủ kinh phí thì hoạt động đó

sẽ khó triển khai lại vào thời điểm khác

Trang 5

- 4 -

Phần B Nội dung báo cáo chi tiết kết quả

nghiên cứu đề tài cấp bộ

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Bệnh có tên “hội chứng viêm nhiều dây thần kinh”, có tên gọi địa phương là “

tê tê-say say” đã xuất hiện từ những năm của thập kỷ 70 thế kỷ XX tại nhiều huyện của tỉnh Hòa Bình, đặc biệt là xã Long Sơn Năm 1970, bệnh rộ lên với nhiều người mắc và

có 40 người tử vong Bệnh nhân được điều trị bằng vitamin nhóm B và bệnh đã được dập tắt Nhưng từ đó năm nào cũng có người mắc bệnh, triệu chứng chính của bệnh là

tê bì, kiến bò, mỏi yếu tay, chân và cơ nhai, đặc biệt gây choáng váng và ngã, nhân dân gọi bệnh là “Tê tê- say say”, hay còn gọi là bệnh “tê mỏi”

Năm 1997, tại xã Long sơn, bệnh xảy ra trên một diện rộng với 450 người mắc bệnh và 3 người tử vong Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, song đối tượng mắc nhiều nhất là tuổi lao động và phụ nữ cho con bú Đối tượng mắc bệnh bao gồm người Mường và người Kinh Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành tại đây cho thấy: Hàm lượng Pb, Hg,

CN- trong nước đều ở giới hạn cho phép, không có sự khác nhau giữa nhóm bệnh và nhóm chứng về tiêu thụ lương thực thực phẩm bình quân đầu người Giá trị các chất dinh của khẩu phần ăn của nhân dân Long sơn tuy chưa đáp ứng được nhu cầu đề nghị của Viện Dinh dưỡng nhưng còn khá hơn khẩu phần ăn của một số vùng Không nhận thấy sự liên quan giữa bệnh và tình trạng kinh tế kém, người mắc bệnh có cả nhóm kinh tế khá cao [13] Không tìm thấy mối liên quan giữa mức Kali máu, Hb máu, Porphyrin niệu, cholinesterase máu với bệnh Có mối liên quan giữa mức acid lactic với bệnh[23], có mối liên quan giữa tình trạng vitamin B1 cơ thể và bệnh [17] Mặc dù

được điều trị dự phòng bằng vitamin B1 cho nhân dân toàn xã Long sơn 3 năm liên tục, nhưng bệnh “Tê tê - say say” vẫn bám dai dẳng Bệnh do thiếu vitamin B1 thường xảy ở

địa phương ăn gạo là lương thực chính, chế độ ăn nghèo thực phẩm nguồn gốc động vật Do vậy đối tượng không chỉ thiếu vitamin B1 mà còn thiếu phối hợp nhiều chất dinh dưỡng khác Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra có lẽ bệnh liên quan tới tình trạng thiếu hụt nhiều chất dinh dưỡng mà chúng ta chưa biết Điều trị thử là một biện pháp tìm nguyên nhân gây bệnh

1.2 Mục tiêu:

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần

kinh ngoại biên ở xã Long sơn, huyện Kim bôi, tỉnh Hoà bình bằng bánh đa vi chất và tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ

Trang 6

- 5 -

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Lịch sử các dịch viêm nhiều dây thần kinh ở Việt Nam

2.1.1 Giai đoạn trước thập kỷ 70 thế kỷ XX

Đất nước đang trải qua thời kỳ chống thực dân xâm lược, cả nước ưu tiên cho cuộc kháng chiến, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, an ninh thực phẩm không được đảm bảo Trong giai đoạn này đã xuất hiện các trường hợp viêm nhiều dây thần kinh có liên quan đến dinh dưỡng ở những nơi đời sống khó khăn ở nhiều vùng, bệnh xảy ra trên một vùng rộng, nhiều người mắc Có hai loại bệnh đã xảy ra, đó là bệnh tê phù và bệnh có triệu chứng giống tê phù

Bệnh tê phù (beriberi):

Bệnh tê phù có từ đồng nghĩa là bệnh viêm nhiều dây thần kinh do thiếu vitamin

B1, thường xảy ra ở những nước mà khẩu phần ăn chủ yếu là gạo và chất lượng gạo kém ở Việt Nam, số người bị tê phù năm 1916 có 988 người, năm 1932 có 9425 người

và năm 1936 có 35 ngàn người [12]

Bệnh có triệu chứng giống tê phù

Bệnh có triệu chứng giống bệnh tê phù, tên gọi địa phương là “Tê tê- say say” đã xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, bệnh xảy ra ở một số địa phương ở miền Bắc Bệnh“ tê tê- say say“ là bệnh phức tạp, không những liên quan đến dinh dưỡng mà có thể do nhiều yếu tố khác, nhưng hiện nay chưa rõ nguyên nhân

• Tỉnh Thanh Hóa: Từ năm 1954 đến 1966 ở xã Cao Quí huyện Ngọc Lạc tỉnh

Thanh Hoá xảy ra một bệnh có tên địa phương là “tê tê, say say”, có 14 trường hợp tử vong, trong đó 11 trường hợp là người lớn (8 trường hợp là phụ nữ đã sinh từ 1 đến 4 lần và 3 trường hợp là trẻ em Bệnh có triệu chứng chính là mỏi chân tay (thường mỏi

từ bàn chân lên đầu gối, lên đùi và toàn bộ cơ thể, khi nhai cơm cũng mỏi), tê bì ở bàn tay và bàn chân, có cảm giác kiến bò, người bệnh nhiều khi cảm thấy chóng mặt lao

đao, chệnh choạng như người say rượu, do đó người dân địa phương gọi bệnh là “Tê tê, say say”, một số người gọi bệnh là “bệnh tê mỏi” Tình trạng yếu mỏi như trên có thể kéo dài vài tháng đến vài năm Những trường hợp nặng có hiện tượng phù nề ở chân, nhiều khi bệnh xuất hiện đột ngột đau ngực tức thở, mờ mắt, một số trường hợp đã tử vong Nghiên cứu của Lê Ngọc Bảo cho thấy, số người mắc bệnh là 89 người (dân số của xã trên 200 người), dấu hiệu của bệnh là các dấu hiệu thần kinh 66%, dấu hiệu tim mạch 52 %, xét nghiệm thấy acid pyruvic máu và nước tiểu tăng hơn giá trị bình thường, vitamin B1 nước tiểu giảm, khẩu phần ăn nghèo Như vậy triệu chứng của bệnh giống triệu chứng của bệnh Beriberi Tác giả đã đề nghị giảm đóng thuế nghiã vụ lương thực và thực phẩm, đồng thời vận động tăng gia sản xuất tăng nguồn thực phẩm cải thiện bữa ăn, bên cạnh đó điều trị dự phòng cho toàn dân bằng vitamin B1 trong 1 tháng

Trang 7

- 6 -

và Bcomplex cho những người bị bệnh nặng trong 2 tháng Sau 10 tháng áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện tình trạng bệnh, các chỉ số sinh hoá trở về giới hạn bình thường và từ đó không còn người xin thuốc điều trị bệnh này [3]

Bệnh “tê tê- say say„ ở x∙ Cao Quí huyện Ngọc Lạc tỉnh Thanh Hoá được chẩn đoán liên quan đến thiếu vitamin B 1

♦ Tỉnh Hòa Bình

Cũng trong thời gian từ đầu những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nhiều Huyện của tỉnh Hoà Bình đã xuất hiện một bệnh có triệu chứng giống bệnh tê phù và tương tự như bệnh ở xã Cao Quí tỉnh Thanh Hoá Các huyện Kim Bôi, Yên Thuỷ, Lạc Sơn của tỉnh Hoà Bình là những huyện có người mắc bệnh này Diễn biến của bệnh rất phức tạp,

điều trị bằng vitamin B1 bệnh thuyên giảm, nhưng không chấm dứt Đã có nhiều lĩnh vực tham gia nghiên cứu, nhưng vấn đề căn nguyên của bệnh cho đến nay vẫn chưa

được biết rõ

Nhân dân gọi bệnh là “Tê tê, say say”, hay còn gọi là bệnh “tê mỏi”, bởi vì người mắc bệnh tê bì, kiến bò, nên có thuật ngữ là “tê” Người bệnh còn có triệu chứng mỏi yếu tay, chân, đặc biệt có cảm giác choáng váng và ngã như người say rượu nên có thuật ngữ là “say”

Hàng năm chỉ có rải rác các trường hợp Nhưng năm 1970, bệnh đã xảy ra thành dịch ở xã Long Sơn huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình, với nhiều người mắc và 40 người tử vong Thời gian đó bệnh viện Bạch Mai đã tổ chức điều trị tại chỗ: 179 người mắc bệnh phải điều trị tập trung, trong đó có 54 trường hợp nặng và chuyển 15 người về điều trị tại bệnh viện Bạch Mai Bệnh nhân được điều trị bằng vitamin nhóm B và bệnh đã được dập tắt

Giai đoạn này bệnh chưa tìm được nguyên nhân, nhưng được chẩn đoán “tê tê- say say” có liên quan thiếu vitamin B 1

2.1.2 Giai đoạn từ thập kỷ 80 đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX

Đất nước đã được giải phóng, trên đường khôi phục và xây dựng đất nước Bên cạnh đó, thảm họa thiên nhiên như lũ lụt thường xuyên xảy ra làm cho đời sống của người dân vẫn còn khó khăn ở nhiều vùng đặc biệt những vùng có thảm họa thiên nhiên đã xuất hiện các bệnh liên quan đến dinh dưỡng như tê phù, điều trị bằng vitamin

B1 dịch đã được dập tắt và bệnh có triệu chứng giống tê phù “tê tê - say say“đã chuyển sang xu thế mới

Bệnh tê phù:

Theo thông báo của Bộ Y tế, năm 1985 bệnh tê phù đã xảy ra ở nhiều tỉnh của miền Bắc Việt Nam như Quảng Ninh, Hà Sơn Bình, Hà Nội: có 3345 người mắc, trong

đó 19 người tử vong

Trang 8

- 7 -

Số bệnh nhân “tê phù” của các tỉnh chuyển về bệnh viện Bạch Mai điều trị cho thấy: các triệu chứng của bệnh bao gồm dấu hiệu viêm nhiều dây thần kinh, các dấu hiệu tim mạch như nhịp tim nhanh, suy tim và triệu chứng phù Các đối tượng được xét nghiệm thấy acid pyruvic máu tăng, điều trị bằng vitamin B1 tiêm 100 mg/ngày kết hợp với vitamin nhóm B và các thuốc điều trị suy tim nếu có các triệu chứng của suy tim Kết quả điều trị cho thấy khỏi hoàn toàn không để lại di chứng 50 % số trường hợp, 50% khỏi không hoàn toàn và để lại di chứng teo cơ, rối loạn cảm giác và phản xạ Số trường hợp khỏi không hoàn toàn là những trường hợp nặng điều trị muộn không kịp thời [15]

Hà Huy Khôi và cộng sự, tiến hành nghiên cứu về bệnh tê phù ở xã Liên Bạt huyện ứng Hoà tỉnh Hà tây cho thấy: tổng số người mắc là 872 người, đối tượng mắc bệnh là người lao động và phụ nữ cho con bú, các dấu hiệu lâm sàng chủ yếu với viêm nhiều dây thần kinh là 44,1 %, phù và tê các đầu chi là 54,1 % Hàm lượng acid pyruvic trong máu ở nhóm bệnh cao hơn nhóm bình thường Việc điều trị bằng vitamin

B1 bằng đường uống và đường tiêm đã đẩy lùi bệnh Sau bốn tháng, những người mắc bệnh đã hoàn toàn trở về bình thường[18]

Trong thời gian trên bệnh tê phù còn xảy ra ở nhiều đơn vị trong quân đội với hàng nghìn người mắc Nguyên nhân đó là do chất lượng gạo kém, xét nghiệm hàm lượng vitamin B1 ở các mẫu gạo cho thấy hàm lượng vitamin B1 thấp (0,03 mg% đến 0,05 mg%), các thực phẩm giàu vitamin B1 từ nguồn động vật và thực vật đều ít Phạm Việt Hùng khi nghiên cứu 316 trường hợp phù nằm tại Viện Quân Y 91 từ 1986 đến

1991 cho thấy: Các dấu hiệu chủ quan chủ yếu là mỏi yếu hai chân đi lại không vững 100%, đau căng tức bắp chân 100%, tê bì ở hai bàn chân và cẳng chân 100%, chán ăn 95,25% hồi hộp tim đập nhanh 52,84% [16]

Biện pháp điều trị tại các đơn vị có dịch tê phù là can thiệp bằng dinh dưỡng, giảm cường độ hoạt động của bộ đội, điều trị dự phòng cho tập thể bằng thuốc: Vitamin B1: 20-30 mg/người/ngày, vitamin C: 50 mg/người/ngày và thời gian 10-15 ngày Với các biện pháp phòng bệnh như trên, ở 100% các đơn vị sau một tuần áp dụng không có bệnh nhân mới phát sinh nữa, theo dõi suốt nhiều tháng sau các đơn vị này không có bệnh nhân tê phù xuất hiện thêm, dịch được ngăn chặn hoàn toàn

Số trường hợp phải điều trị trong Viện quân Y 91 từ năm 1986 đến 1991, có nồng độ acid pyruvic trong máu tăng Điều đó càng khẳng định dịch tê phù của bộ đội

là do thiếu vitamin B1 Các đối tượng được điều trị bằng vitamin B1 kết hợp với vitamin nhóm B đem lại tiến bộ cho 100% các đối tượng điều trị Ngay cả những trường hợp nặng có liệt, lúc ra viện không còn trường hợp nào liệt, các bệnh nhân vận động bình thường Sức cơ khá lên ở tất cả bệnh nhân Một số trường hợp xuất hiện trở lại phản xạ gân xương sau nhiều tháng mất phản xạ gân xương Trương lực cơ tốt lên ở 100% trường hợp[16]

Trang 9

Bệnh có triệu chứng giống tê phù

Bệnh “tê tê- say say“: vẫn bám dai ở tỉnh Hòa Bình, đặc biệt là xã Long Sơn

huyện Kim Bôi Theo kinh nghiệm, nhân dân Long Sơn và nhân dân các vùng của tỉnh Hòa Bình khi bị bệnh thì điều trị bằng cách tiêm hoặc uống vitamin B1 thì bệnh thuyên giảm, nhưng bệnh không dứt

Từ năm 1990 đến năm 1997, theo báo cáo của UBND huyện Lạc Sơn và huyện Yên Thủy, Kim Bôi hàng năm đều có người mắc và tử vong Trong ba huyện kể trên thì huyện Kim bôi có số mắc nhiều hơn cả, sau đó là Lạc Sơn và cuối cùng là Yên Thuỷ [27,28,29]

Sau khi nền kinh tế thay đổi theo cơ chế thị trường, đời sống của nhân dân, kể cả các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa đã được cải thiện Tuy nhiên năm 1997, tại xã Long sơn và một số xã lân cận thuộc huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình bệnh “tê tê- say say”lại rộ lên với nhiều người mắc và tử vong Theo báo cáo của Sở Y tế Hoà Bình số

354 NV/YT, thì trong tỉnh Hoà Bình có hai huyện đang có bệnh Đó là huyện Yên Thuỷ có 24 người mắc trong một xã và tử vong 2 trường hợp Huyện Kim Bôi có trên

500 người mắc trong 3 xã và tử vong 3 trường hợp Riêng xã Long Sơn có 450 người mắc bệnh và 3 người tử vong

Bộ Y tế đã cử một đoàn công tác xuống điều tra tại xã Long Sơn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình, gồm các lĩnh vực: chuyên khoa dịch tễ, truyền nhiễm, thần kinh, tim mạch, hoá sinh, dinh dưỡng và các chuyên viên của Vụ Điều trị, Vụ Y tế dự phòng thuộc Bộ Y tế Kết quả khảo sát cho thấy: Đây là hội chứng viêm nhiều dây thần kinh với triệu chứng hiệu tê bì, phản xạ gân xương giảm hoặc mất rõ ở 2 chi dưới, vận động chóng mệt mỏi, nhịp tim nhanh đặc biệt khi gắng sức, không có phù Thời điểm bệnh tăng cao vào các tháng 4, tháng 5 là những tháng nóng nhất Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng tập trung nhiều ở lứa tuổi lao động và cao nhất là ở phụ nữ trong độ tuổi Các bệnh nhân đều có thể trạng gầy yếu, không có sốt hoặc biểu hiện nhiễm trùng Các trường hợp tử vong được mô tả chết trong bệnh cảnh suy tim cấp Điều trị bằng vitamin

B1 thì bệnh có đỡ, nhưng không khỏi hẳn, có thể tái phát các đợt nặng Điều tra sơ bộ

về dinh dưỡng và khẩu phần ăn chưa thấy có sự khác biệt so với các vìng khác ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên kết quả phỏng vấn giữa các hộ mắc bệnh và chưa mắc bệnh tại xã Long Sơn cho thấy xu hướng các hộ kinh tế khá hơn thì mắc ít hơn Phỏng vấn tại

địa phương còn cho thấy: Người đã mắc căn bệnh này mà di chuyển đi nơi khác sinh

Trang 10

Từ tháng 2 năm 1993 đã xuất hiện một bệnh có triệu chứng tương tự như bệnh “tê tê- say say” ở Hòa Bình Từ năm 1990 đến tháng 5 năm 1995 tổng số mắc thống kê được

là 4374, tử vong 23 Toàn bộ tám thôn người Mường thuộc bốn xã Sa Loong, Bờ Y,

Đak Sú, thị trấn Plei Cần đều có người mắc Bệnh mắc quanh năm, nhưng thường mắc nhiều hơn vào mùa mưa ở Tây Nguyên là tháng 3 và tháng 4 Theo báo cáo của Viện

Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên gửi Bộ Y tế số 207/VTN: Từ tháng 3 năm 1997 bệnh rộ lên có 6 trờng hợp tử vong Triệu chứng lâm sàng của bệnh là mỏi cơ, tê rần đầu tứ chi, khó thở, mờ mắt Cảm giác ngoại biên, sức cơ, phản xạ gân xương đều giảm Bệnh xảy

ra ở các lứa tuổi, nhưng lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là đối tượng lao động 20-49 tuổi (64,3%) nữ (69%) nhiều hơn nam (31%) Bệnh chỉ xảy ra ở người Mường, không có ở các dân tộc khác tuy cùng sống trên một địa bàn Có người trong gia đình cùng mắc (87%), không có người trong gia đình cùng mắc (13%) Có 6 trường hợp tử vong trong

3 gia đình Các trường hợp tử vong đột ngột Các trường hợp tử vong liên quan đến các triệu chứng tim mạch, không làm giải phẫu tử thi do đó khó kết luận nguyên nhân gây

ra bệnh Tuy nhiên các trường hợp này đều có liên quan đến bệnh tê rần, hoặc gia đình

có người mắc bệnh này[ 2]

Đã có nhiều lĩnh vực tham gia nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và

đưa đến nhận xét bệnh “tê tê-say say” có thể liên quan đến dinh dưỡng

Do tính chất phức tạp của bệnh, có trường hợp đã điều trị vitamin B 1 nhưng vẫn

tử vong, bệnh tê tê -say say vẫn bám dai Nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân của bệnh

“tê tê- say say” là cần thiết, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp phòng chống thích hợp

Trang 11

- 10 -

những nhận xét của Takaki năm 1882, người ta cho rằng bệnh do nguyên nhân dinh dưỡng Năm 1897 EijKman, người Hà Lan đã gây bệnh viêm nhiều dây thần kinh (tương tự bệnh beriberi) thực nghiệm cho gà bằng ăn gạo sát trắng, sau đó điều trị bằng cám gạo thì bệnh thuyên giảm Năm 1911 Funk, đã chiết suất từ cám gạo một chất có hoạt tính sinh học gọi là vitamin Năm 1926 Jansen và Donath tìm được vitamin B1, là chất chống viêm nhiều dây thần kinh rất tốt Năm 1936, Williams tìm ra công thức hoá học của vitamin B1 và năm 1936 ông đã tổng hợp được vitamin B1 trong phòng thí nghiệm

Công thức hoá học của vitamin B 1

Hình 2.1 Công thức hoá học của vitamin B 1

Phân tử vitamin B1 bao gồm một vòng pyrimidin và một vòng thiazol nối với nhau bởi cầu methylen

Các dạng phosphoryl của vitamin B1 bao gồm: Thiamin monophosphat (TMP), thiamin pyrophosphat, thiamin triphosphat (TTP) Trong tế bào động vật, vitamin B1 tự

do và các dạng phosphoryl của nó có mặt với số lượng khác nhau TTP chiếm 5-10% của tổng số vitamin B1

Đặc tính của vitamin B

Phân tử vitamin B1 có thể hoà tan trong nước, kết tinh thành thể rắn, màu trắng ở trạng thái kết tinh hay trong dung dịch acid, vitamin B1 rất bền vững, ngay cả khi đun nóng ở môi trường trung tính hoặc kiềm, vitamin B1 không ổn định và nhạy cảm với nhiệt độ, oxy và tia cực tím

Vitamin B1 đặc biệt nhậy cảm với sulfit là chất thường được tạo ra trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm mà bị tách ra thành nguyên tử pyrimidin và nguyên tử thiazol Vì vậy các hoạt tính hoá học của nó bị phá huỷ

Trang 12

- 11 -

Hấp thu và chuyển hoá:

Vitamin B1trong thực phẩm thông qua bữa ăn được hấp thu vào máu qua niêm mạc ruột theo hai cơ chế: ở nồng độ dưới 1 àmol/l, vitamin B1 được hấp thu chủ yếu theo cơ chế vận chuyển tích cực, ở nồng độ cao vitamin B1 được hấp thu theo cơ chế khuyếch tán Sự hấp thu vitamin B1 vào máu và tới các tổ chức là khá nhanh Rozenbe

và cộng sự đã dùng chất đồng vị phóng xạ đánh dấu S35 nghiên cứu ở súc vật thấy rằng bắt đầu sau uống 15 phút và sau 30 phút đã thấy vitamin B1 ở mô [dẫn theo 20] Bake nhận thấy các vitamin tan trong nước hấp thu nhanh vào máu chỉ sau 10 phút uống vitamin này và thời gian hấp thu của ruột vẫn tiếp tục sau 120 phút [33] Sự hấp thu vitamin B1 ở ruột non thường giới hạn với mức tối đa 8-15 mg/ngày và cơ chế hấp thu phụ thuộc nồng độ thiamin của cơ thể [21]

Sau khi vitamin B1 được hấp thu, một phần nhỏ được dự trữ ở các tổ chức của cơ thể, còn một phần không được sử dụng sẽ được bài tiết ra ngoài theo con đường nước tiểu Có mối liên quan giữa nhu cầu thiamin của tế bào và số lượng thiamin bài tiết qua nước tiểu, vì thế nồng độ thiamin trong nước tiểu thay đổi khác nhau Trong điều kiện sinh lý bình thường, lượng thiamin bài tiết theo nước tiểu 150-500 àg mỗi ngày, nhưng đôi khi có thể cao hơn Trong trường hợp thiếu thiamin thì số lượng thiamin bài tiết ra nước tiểu giảm [21] Tallaksen (1993) nhận thấy ở người sau khi tiêm 50 mg HCL thiamin thì thiamin không được phosphoryl tăng nhanh trong máu, thời gian bán huỷ là 96 phút, sau đó nó trở về giá trị ban đầu trong 12 giờ Trong trường hợp uống 50

mg HCL thiamin, thì sau 53 phút thấy xuất hiện các đỉnh trong huyết thanh, thời gian bán huỷ là 154 phút Sau 24 giờ, 53% liều vitamin B1 được thải trừ ra nước tiểu [Tallaksen 1993] Thiamin còn thải qua con đường mồ hôi với nồng độ 0,30 mg % Thiamin không thải trừ qua phân, nhưng người ta thấy có một lượng nhỏ thiamin trong phân, có lẽ lượng này tương ứng với lượng thiamin do vi khuẩn ở ruột tổng hợp [Maurice Derot 1972] Trong tế bào động vật thiamin ở dưới dạng phosphat-este gắn với protein bao gồm: thiamin monophosphat (TMP), thiamin diphosphat (TDP), thiamin triphosphat (TTP) TDP là dạng hoạt động của thiamin còn được gọi là thiamin pyrophosphat (TPP) Các sản phẩm bài tiết của thiamin: thiamin carboxylic acid, 4-methyl thiazole-5 acetic acid, 2 methyl-4 amino-5 formyl amino-pyrimidin

Hàm lượng thiamin khác nhau trong các tế bào của cùng một loài và giữa các loài Các tổ chức không tích trữ vitamin B1, nên lượng vitamin B1 của cơ thể khá hạn chế [98] Tổng số vitamin B1 của cơ thể người là khoảng 30 mg và phân bố khác nhau

ở các mô từ nhiều đến ít là Gan > tim >thận > cơ xương > não > ruột non

Gan: 0,2- 0,76 mg/100g Thận 0,24- 0,58 mg/100 g

Tim: 0,28- 0,79 mg/100g Não; 0,14- 0,44 mg/100 g

Trang 13

- 12 -

Trong cơ thể, 40% vitamin B1 phân bố ở cơ xương.Thời gian bán huỷ sinh học của

nó là 9,5- 18,5 ngày [45]

Vai trò của vitamin B :

Chức năng chuyển hoá: Thiamin Diphosphat (TDP) là yếu tố cần thiết cho

chuyển hoá cacbonhydrat, vì vậy thiamin (vitamin B1) cần thiết cho chuyển hoá năng lượng

Một số enzym sử dụng TDP như một yếu tố cần cho sự cắt các liên kết các bon của alpha Ketoacid (như pyruvat) tạo ra các sản phẩm được vận chuyển đến nơi chấp nhận Các enzym phụ thuộc TDP đòi hỏi Mg++ hoặc một vài canion hoá trị 2 cho hoạt động Trong quá trình oxy hoá decarboxyl của alpha ketoacid, TDP cần thiết cho hoạt động của nhiều phức hợp enzym alpha ketoacid dehydrogenase Có ba loại enzym alpha ketoacid dehydrogenase phụ thuộc TDP:

1 Pyruvat dehydrogenase chuyển pyruvat thành acetyl CoA

2 α- ketoglutarate dehydrogenase chuyển α ketoglutarate thành succinyl CoA

3 α- ketoacid dehydrogenase chuỗi nhánh chuyển α ketoacid thành Acyl CoA Trong mỗi phức hợp men bao gồm:

• 1 decarboxylase gắn TDP

• 1 enzym chính gắn acid lipoic

• 1 flavoprotein dehydrolipoamid dehydrogenase

TDP còn có một chức năng sống còn khác, đó là một yếu tố cần thiết đối với transketolase, là enzym xúc tác sự cắt liên kết cacbon trong đường alpha keto (Xylulose 5 phosphat, sedoheptulose7-phosphat, fructose 6 phosphat, D xylulose, D-fructose), vận chuyển mẩu 2 cacbon tới một aldose chấp nhận Chức năng của transketolase thể hiện ở hai bước trong con đường chuyển hóa hexose monophosphat

để oxyhoá glucose (lối này được gọi là lối pentose là một thay thế quan trọng con

đường chu kỳ Krebs), đặc biệt là con đường duy nhất cho sản phẩm của pentose để tổng hợp RNA, DNA và NADPH cho tổng hợp acid béo [43] Sự oxy hoá glucose theo con đường pentose xảy ra ở các mô song song với con đường đường phân, nhưng với tỷ

lệ thấp, chỉ có khoảng 7-10 % Tuy nhiên ở một số mô và tế bào như: hồng cầu, gan, tuyến sữa trong thời kỳ hoạt động, tổ chức mỡ sự thoái hoá glucose theo con đường pentose chiếm ưu thế Nếu cơ thể thiếu vitamin B1 thì acid pyruvic trong máu sẽ tăng lên và tăng theo cả acid lactic [74, 75, 68, 46, 62] Không phải chỉ có chuyển hoá glucid bị rối loạn, mà nói chung chuyển hoá protein và lipid cũng bị ảnh hưởng Hình 1.2 cho thấy vai trò của vitamin B1 và các vitamin nhóm B khác trong chuyển hoá các chất [44]

Trang 14

- 13 -

Hình 2.2.Vai trò của các vitamin nhóm B tham gia vào một số quá trình chuyến hoá chủ yếu (Good man , s và Gil man , s 1985)

Chức năng thần kinh: Thiamin ở dạng thiamin Diphosphat (TDP) đóng vai trò trong

dẫn truyền thần kinh Viêm nhiều dây thần kinh là dấu hiệu thường gặp của thiếu vitamin B1 Sự tồn tại của TDP trong não và các tế bào thần kinh đã gợi ý vai trò trực tiếp của thiamin trong hoạt động thần kinh Người ta cũng nhận thấy các kích thích thần kinh hoặc điều trị các thuốc thần kinh kết quả làm giảm mức TDP đặc biệt thiamin triphosphat (TTP) trong hệ thần kinh TDP còn đóng vai trò cần trong dẫn truyền thần kinh theo cơ chế kênh đối với con đường vận chuyển Na+ và K+ [trích dẫn

trong 38] Các nghiên cứu gây bệnh thiếu vitamin B1 trên động vật thực nghiệm nhận thấy sự dẫn truyền xung động thần kinh bị ức chế khi nồng độ vitamin B1 trong cơ thể giảm và quá trình diễn ra bình thường sau khi động vật thực nghiệm được tiêm vitamin

B1 Calingasan (1999), nghiên cứu trên chuột nhận thấy sau 9 ngày thiếu vitamin B1 đã gây tổn thương các tế bào thần kinh, đặc biệt sau 11 ngày thiếu vitamin B1 đã dẫn đến chết một số vùng đặc biệt [37] Matsushita (1999), nhận thấy có sự giảm nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh ở chuột khi thiếu vitamin B1.Trên động vật thí nghiệm còn phát hiện thấy giảm nồng độ ATP và epinephrin trong khi serotonin ở não tăng [59]

Trang 15

- 14 -

Terasawa (1999), nhận thấy có mối liên quan giữa thiếu vitamin B1 với khả năng thực hiện các động tác đã dạy ở chuột, những con chuột được ăn đủ vitamin B1 thực hiện các

động tác đã được dạy tốt hơn những con chuột ăn thiếu vitamin B1 [84]

Nguyên nhân thiếu vitamin B

a, Chế độ ăn thiếu:

Khi năng lượng khẩu phần chủ yếu do gạo cung cấp, các thực phẩm giàu vitamin B1 từ nguồn động vật ít được sử dụng sẽ là nguyên nhân gây ra bệnh tê phù do thiếu vitamin B1 Vụ dịch tê phù ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam năm1985 là do ăn gạo mục ẩm và chế độ ăn nghèo thực phẩm nguồn gốc động vật [18] Dalton nhận xét khẩu phần ăn của 107 người tê phù chỉ cung cấp được 0,76 mg vitamin B1 trong một

ngày [40] Jocelyn (1999), nhận thấy tỷ lệ thiếu vitamin B1 ở người cao tuổi ở Indonesia là 36,6 % và vitamin B1 khẩu phần ăn của họ chỉ đáp 70% nhu cầu đề nghị và tác giả thấy có mối liên quan giữa vitamin B1 khẩu phần và vitamin B1 máu [52]

Vitamin B1 có nhiều trong cám gạo, tuy nhiên lượng vitamin B1 trong gạo phụ thuộc nhiều vào quá trình xay sát và bảo quản, chế biến Lượng vitamin B1 có trong

100 g gạo như gạo giã dối có 240 àg, gạo xay có 300-500 àg, gạo giã trắng chỉ có 100

àg Gạo giã trắng không những mất vitamin B1, mà còn làm mất các vitamin nhóm B: Vitamin B1 mất 73%, vitamin B2 mất 56,5 %, PP mất 63%, protid mất 17% và lipid mất hoàn toàn Việc mất vitamin còn ở khâu chế biến, vo gạo, nấu cơm như trong 100 gạo chưa vo chứa 200-300 àg vitamin B1 sau khi vo chỉ còn 100-150 àg [dẫn theo 20] Chất

lượng gạo không tốt cũng là nguyên nhân dẫn đến chứng tê phù và thực tế đã được chứng minh: “hai tàu cùng rời một bến ở ấn độ, thể chất của thuỷ thủ, các mặt trang thiết bị và thực phẩm giống nhau, riêng về gạo tầu thứ nhất dùng toàn gạo máy, tàu thứ hai dùng toàn gạo lức, sau 35 ngày ra khơi, 90% thuỷ thủ ở tàu thứ nhất bị tê phù, các

thuỷ thủ của tầu thứ hai vẫn mạnh khoẻ” [Dẫn theo 10] Lượng vitamin B1 của gạo còn

bị giảm do điều kiện bảo quản Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Đông Dương, lượng vitamin B1 trong gạo mất 25 % sau vài tháng [20 ] Như vậy chế độ ăn nghèo nàn, nguồn cung cấp năng lượng chính do gạo cung cấp, gạo sát quá trắng, không đảm

kỹ thuật nấu cơm như vo gạo quá kỹ, thổi cơm mở vung, chắt nước cơm là nguyên nhân gây ra tê phù

Tê phù do thiếu vitamin B1 còn gặp trong các trường hợp nuôi đường tĩnh mạch kéo dài Remon thông báo một trường hợp bệnh Lơ-xê-mi được điều trị bằng hoá chất

và nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch trong ba tuần, thấy xuất hiện triệu chứng nhiễm acid lactic nặng Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm cả rối loạn thần kinh và tim mạch Bệnh nhân có nồng độ vitamin B1 huyết thanh giảm Tiêm vitamin B1 các dấu hiệu trên

được kiểm soát [74] Velez, nhận thấy hai trường hợp nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch không bổ sung thêm vitamin B1 đã xuất hiện các triệu chứng beriberi cấp, các

Trang 16

- 15 -

triệu chứng này đã được điều trị bằng tiêm vitamin B1[89] Klein, thông báo hai trường hợp có dấu hiệu nhiễm acid lactic sau ba tuần được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch Sau khi điều trị bằng hai liều vitamin B1 400 mg bằng đường tiêm các triệu chứng đã

được cải thiện [54] Nakasaki, nhận thấy sáu trường hợp nuôi bằng đường tĩnh mạch trong bốn tuần, thấy xuất hiện các triệu chứng như hạ huyết áp, nhịp thở Kussmaul’s, xét nghiệm máu có tăng acid lactic, acid pyruvate và các bệnh nhân này không có các dấu hiệu của tổn thương gan, thận, chức năng tụy Các dấu hiệu trên được cải thiện bằng tiêm 100 mg vitamin B1[64]

b Mất vitamin B 1 qua đường nước tiểu: Việc điều trị bằng các thuốc lợi tiểu đã làm

mất một lượng đáng kể vitamin B1 và các vitamin tan trong nước khác Các triệu chứng của tê phù đã xuất hiện ở những bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc lợi tiểu kéo dài

mà không bổ sung vitamin B1 Để kiểm định giả thiết này, Seligmann đã tiến hành một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trên 24 bệnh nhân suy tim nhận điều trị furosemid

được ghép cặp với 16 người không bị suy tim và không uống thuốc lợi tiểu Liều furosemid là 80-240 mg, thời gian nghiên cứu là từ 3 đến 24 tháng Kết quả nghiên cứu chỉ ra thiếu vitamin B1 ở 21 trong số 23 bệnh nhân điều trị furosemid và nhiều hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (P<0,01), lượng vitamin B1 được bài tiết ra nước tiểu của nhóm điều trị thuốc lợi tiểu là 410±95 àg/g creatinin được so sánh với nhóm chứng

là 236 ± 69àg/g creatinin [78] Rieck nghiên cứu bài tiết vitamin B1 qua nước tiểu của

6 bệnh nhân được điều trị bằng furosemid (1, 3, 10 mg), tác giả nhận thấy bài tiết vitamin B1 ra nước tiểu tăng hai lần so với ban đầu, có mối liên quan giữa tỷ lệ vitamin

B1 bài tiết nước tiểu và lượng nước tiểu bài tiết (r=0,54, P<0,01) [73] Zanger, cho rằng Furosemid và digoxin điều trị cho những bệnh nhân suy tim có thể gây thiếu vitamin

B1 do các thuốc này ức chế vitamin B1 vào tế bào tim Mức thiamin pyrophosphat trong dịch ngoại bào bình thường giảm dần với thời gian bán huỷ từ 16 đến 19 ngày, sau điều trị suy tim bằng furosemid và digoxin thì mức vitamin B1 giảm nhanh với nửa đời sống

từ 5 đến 6 ngày [97]

c Thiếu vitamin B 1 do rượu: ở người nghiện rượu, hấp thu vitamin B1 thường bị giảm

do giảm hoạt động vận chuyển từ nhung mao ruột vào vòng tuần hoàn và do chế độ ăn thiếu [97] Vì vậy thiếu vitamin B1 thường gặp ở những người nghiện rượu Tallaksen nghiên cứu trên hai nhóm người, một nhóm gồm 30 người bệnh uống rượu trung bình

164 ±119 g/ngày trong vòng 30 ngày và một nhóm gồm 40 người khoẻ mạnh làm chứng thì thấy nồng độ thiamin monophosphat ở nhóm có uống rượu thấp hơn nhóm chứng trước và sau điều trị bằng tiêm vitamin B1, thiamin tự do và thiamin diphosphat trong máu toàn phần và trong huyết thanh tương tự ở hai nhóm Tỷ lệ phosphoryl là thấp ở nhóm bệnh so với nhóm chứng (P<0,05) [81] Một nghiên cứu khác cũng của Tallaksen, nghiên cứu trên 24 người xơ gan do rượu và 30 người khoẻ mạnh cho thấy các thành phần của vitamin B1 trong máu toàn phần, huyết thanh của nhóm bệnh thấp

Trang 17

- 16 -

hơn nhóm chứng Sau khi tiêm 100mg vitamin B1 thì tỷ lệ thiamin phosphoryl ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng [81]

d Các chất đối kháng vitamin B 1 : đó là các chất có khả năng ức chế cạnh tranh

vitamin B1 trong cơ thể Người ta đã biết hai chất đối kháng tự nhiên hoặc tổng hợp đó

là Pyrithiamin và oxythiamin Pyrithiamin là đồng phân của vitamin B1 trong đó có sự thay thế nhóm CH=CH của nguyên tử sulfur trong phân tử vitamin B1 oxythiamin là

đồng phân của thiamin trong đó nhóm hydroxyl thay thế một nhóm amin ở động vật

có vú và chim, pyrithiamin gây chán ăn, giảm cân và các dấu hiệu thần kinh kiểu thiếu vitamin B1, vì thế người ta sử dụng để gây viêm não Wernicke trên thực nghiệm ở động vật Pyrithiamin ức chế quá trình phosphoryl thiamin dẫn đến bài tiết nhanh vitamin B1

ra nước tiểu và làm giảm vitamin B1 ở tế bào oxythiamin cũng gây chán ăn và giảm cân nhưng không gây triệu chứng thần kinh, nó không qua được hàng rào máu- não, sự phosphryl oxythiamin để tạo thành oxythiamin pyrophosphat sẽ cạnh trạnh với TDP Amprolium, propylpyrimidin, chloroethylthiamin là những chất đối kháng vitamin B1

đã được sử dụng trong điều trị cầu trùng ở gà Heier cho thấy fluorouracil và doxifluridin làm tăng thiamin diphosphat ngoại bào trong khi thiamin tự

Fluoropyrimidines-5-do không thay đổi và tác giả đã kết luận fluoropyrimidin có thể làm tăng chuyển hoá vitamin B1 tế bào và gây ra triệu chứng lâm sàng của thiếu vitamin B1 [48 ]

Các kháng vitamin B1 tự nhiên tác động bởi thay đổi cấu trúc vitamin B1 đã được tìm thấy trong tế bào động vật và thực vật Hai enzym gây giảm vitamin B1 đã được biết, đó là thiamin (vitamin B1)I, có mặt trong ruột của cá chép và một vài loài cá, và Bacillus thiaminnolyticus xúc tác giải phóng vitamin B1 bởi hoạt động thay đổi một bazơ nitrogen hoặc thành phần thiol Hoạt động này thay thế nhóm metyl như trong trường hợp nhóm sulfit Thiamin (vitamin B1) II, có mặt chủ yếu trong vi khuẩn đường ruột (B thiaminolyticus, B.anneurinelyticus và chlotridium thiaminolyticus) xúc tác thuỷ phân vitamin B1 tạo pyrimidin và vòng thiazol Một số loại thực vật có chứa polyhydroxyphenol (cafeic acid, tanin, chlorogenic) làm giảm hoạt tính của vitamin B1 Trong chè xanh và đen có chứa nhiều polyhydroxyphenols có thể gây giảm dự trữ vitamin B1 của cơ thể Ali cho thấy hoạt động của thiamin diphosphate giảm ở người sử dụng chè xanh hoặc chè đen[31]

Chì có thể thế chỗ của vitamin B1 và gây triệu chứng thiếu vitamin B1 Cheong cho chuột Wista ba tuần tuổi điều trị chì hoặc hỗn hợp thiamin - chì, nồng độ vitamin B1 và hoạt động transketolase giảm bởi ngộ độc chì và vitamin B1 Cung cấp vitamin B1 đã hồi phục các dấu hiệu này và giảm nồng độ chì trong não của nhóm điều trị chì [39]

Các dấu hiệu lâm sàng của thiếu vitamin B

• Thể khô hay còn gọi là viêm nhiều dây thần kinh Beriberi, mà đặc điểm là tổn thương dây thần kinh ngoại vi có tính chất đối xứng hai bên, không có dấu hiệu tim

Trang 18

- 17 -

mạch Viêm đa dây thần kinh thường xuất hiện đầu tiên ở hai chi dưới với biểu hiện rối loạn cảm giác như tê bì kiến bò, đau cơ cẳng chân, tiếp theo là liệt và teo cơ Bệnh tiến triển thì viêm nhiều dây thần kinh phát triển lên hai tay và tới các bộ phận khác của cơ thể kèm theo các rối loạn về phản xạ gân xương như giảm phản xạ gân xương và mất phản xạ gân xương Một số trường hợp có liệt các cơ hô hấp gây ra khó thở, kèm theo

đau vùng trước tim

Tổn thương dây thần kinh sọ não ít gặp trong các thể bán cấp thông thường mà thường được quan sát thấy trong những thể nặng Tổn thương dây thần kinh thị giác làm cho bệnh nhân bị mờ mắt, sợ ánh sáng, các triệu chứng của viêm thần kinh hậu nhãn cầu với sự thu hẹp thị trường trung tâm, nhạt mầu phần thái dương của gai thị, thể này còn được gọi là thể mắt, bệnh nhân mù dần nếu không được điều trị kịp thời [Nguyễn Văn đăng 2000] Van Noort cũng nêu một trường hợp bệnh tê phù thể viêm dây thần kinh thị giác, thị lực và thị trường giảm nặng [88]

Rối loạn phát âm do tổn thương dây thần kinh thanh quản, nhánh của dây phế

vị, tiếng nói trở nên khàn “tiếng kêu beriberi” thường gặp ở trẻ nhũ nhi [11]

• Thể phù hoặc Beriberi phù: Phù thường ở chân sau đó lan rộng ra toàn cơ thể, kèm theo các biểu hiện rối loạn tim mạch như khó thở, nhịp tim nhanh, có thể có tăng huyết áp, thể nặng có thể có suy tim trái, gan to Baunwald đã giải thích các triệu chứng tim mạch trong tê phù là do ức chế vận mạch, làm tăng sức căng thành mạch dẫn tới cao huyết áp cả tâm thu và tâm trương, áp lực máu dồn cả lên tim trái và tim phải, làm nhịp tim nhanh, có tiếng T3 và có tiếng thổi tâm thu ở mỏm [4] Những biểu hiện thay đổi trên điện tim ở bệnh nhân tê phù đã được nhiều tác giả nêu lên [26, 98, 9, 24] Richard, Webster cho thấy những biến đổi chức năng tâm thu của tâm thất trái ở người tê phù [72, 91]

Vũ Quang Bích, nghiên cứu trên 557 trường hợp tê phù cho thấy, thể phù chiếm 41,66 %, thể phù tim chiếm 10,74 % và thể viêm đa dây thần kinh chiếm 38 % Diện

đục của tim to ở 100 % trường hợp, nghe tim có tiếng thổi cơ năng (62%), tiếng tim mờ (18%), loạn nhịp ngoại tâm thu (5%), tăng huyết áp (10%), giảm huyết áp (10%) [Vũ Quang Bích 1971] Phạm Việt Hùng nhận thấy trong dịch tê phù quân đội từ 1986-

1991 chủ yếu là tê phù thể ướt (thể phù) biểu hiện phù ở 207/316 trường hợp, huyết áp tăng gặp 12/43 trường hợp [16]

• Beriberi trẻ em hoặc beriberri cấp tính: Bệnh diễn biến cấp tính khó chẩn đoán, trẻ bỏ bú, nôn, mệt mỏi, có thể có tiếng kêu rên đặc biệt (tiếng kêu beriberi), đôi khi có cơn co giật, có biểu hiện suy tim, chẩn đoán được nhờ khám thấy mẹ bị tê phù, nguyên nhân tê phù ở trẻ bé là do sữa của mẹ thiếu vitamin B1 [18, 20]

• Bệnh não do thiếu vitamin B1 (hội chứng Wernicke-Korsakoff): Hội chứng não wernicke bao gồm các rối loạn ý thức, viêm nhiều dây thần kinh, rối loạn phối hợp

Trang 19

- 18 -

động tác, nói khó Ngoài ra còn có các biểu hiện tâm thần Hội chứng não Wernicke là rối loạn thần kinh nặng do thiếu vitamin B1 thường gặp ở những người nghiện rượu và những người thiếu dinh dưỡng Hazell, giải thích cơ chế các tế bào não chết trong bệnh não-wernicke là do thiếu vitamin B1 hoạt động của các enzym alpha-ketoglutamat dehydrogenase phụ thuộc TDP trong chu trình Krebs giảm, gây tăng acid lactic, giảm năng lượng cho tế bào não và kết quả làm tăng giải phóng glutamat [47]

Sear thông báo hai trường hợp bệnh não Wernicke ở trẻ em là biến chứng của tình trạng thiếu dinh dưỡng[77]

Các xét nghiệm đánh giá tình trạng vitamin B của cơ thể:

a, Đánh giá trực tiếp tình trạng vitamin B 1 của cơ thể

• Đo hoạt động transketolase (ETKA) trong máu toàn phần và hồng cầu

Transketolase là một enzym trong con đường oxy hoá glucose Enzym này có trong nhiều loại tế bào như hồng cầu Tổng hợp enzym này không bị ảnh hưởng bởi tình trạng vitamin B1, nhưng hoạt động xúc tác của nó phụ thuộc vào TDP gắn với nó Đo mức hoạt động của enzym này trong hồng cầu là chỉ tiêu đánh giá tình trạng vitamin B1

vì hồng cầu là tế bào đầu tiên bị ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu vitamin B1 [36]

Nghiêm pháp chức năng đo transketolase trong máu toàn phần và trong hồng cầu, bao gồm:

a Đo hoạt động enzym cơ sở trong hồng cầu, số lượng enzym hoạt động hiện

AC= Hoạt động Enzym kích thích (thêm coenzym)

Hoạt động enzym cơ sở (không cho thêm coenzym)

Trang 20

≥ 25 %: thiếu nặng

Nhìn chung trong thiếu vitamin B1, mức cơ sở thường thấp, mức enzym kích thích (EKT) thường cao Khi mức enzym cơ sở và EKT đều giảm, hiệu quả không đổi, trong trường hợp này, mức enzym cơ sở được quan tâm Một số yếu tố phụ thuộc tình trạng vitamin B1 ảnh hưởng đến hoạt động Transketolase hồng cầu TKL phụ thuộc vào tuổi trung bình của hồng cầu, với các tế bào hồng cầu trẻ có TKL cao hơn tế bào già [70] TKL giảm nhậy trong trường hợp thiếu vitamin B1 mạn tính APO-TKL (enzym TKL cùng coenzym không phụ thuộc TDP) không ổn định cả trong vivo và trong vitro Sự không ổn định của Apo enzym TKL làm cho việc sử dụng nó trong thực địa bị hạn chế Mức Apo enzym bị ảnh hưởng gián tiếp do tình trạng thiếu vitamin, bệnh, hormon, thuốc Trong trường hợp điều trị thiếu sắt, mức TKL sẽ tăng Hiện tượng tương tự cũng xảy ra ở bệnh nhân điều trị thiếu máu ác tính [53] Trong bệnh nhân ưng thư, hiệu quả TPP giảm mặc dù vitamin B1khẩu phần đủ, do chuyển vitamin B1 thành thiamin pyrophosphat giảm Các bệnh nhân bị viêm nhiều dây thần kinh, bệnh thần kinh tăng urê, ung thư, đái tháo đường tiên phát có mức EKL giảm [34]

• Vitamin B 1 trong huyết thanh, hồng cầu, máu toàn phần là chỉ số đánh giá tình

trạng vitamin B1 Sử dụng phương pháp dẫn xuất huỳnh quang có thiochrom để xác

định vitamin B1 trong huyết thanh, hồng cầu, máu toàn phần là không nhậy Hiện nay người ta sử dụng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC), cho kết quả chính xác và nhậy hơn và là chỉ số tốt để đánh giá tình trạng vitamin B1 [41]

Wanock khi nghiên cứu trên chuột thiếu vitamin B1 đã chỉ ra mức thiamin pyrophosphat hồng cầu giảm trước khi có bất cứ thay đổi gì về hoạt động transketolase hồng cầu xuất hiện [90] Masumoto khi nghiên cứu trên hai nhóm cá hồi, một nhóm ăn bổ sung vitamin B1 và một nhóm không bổ sung trong thời gian 30 tuần, là thời điểm có các dấu hiệu thiếu vitamin B1 xuất hiện ở nhóm không bổ sung vitamin B1 Hoạt tính transketolase và mức thiamin pyrophosphat trong hồng cầu và trong gan đã được đo hàng tháng Tác giả đã kết luận rằng, mức thiamin pyrophosphat trong hồng cầu và trong gan là chỉ số đánh giá tình trạng vitamin B1 của cá hồi nhậy hơn hoạt tính transketolase ở hồng cầu và gan [58]

Nhận định tình trạng thiếu vitamin B1 máu, khác nhau theo các tác giả :

Trang 21

- 20 -

+Theo Vũ Đình Vinh: giới hạn bình thường từ 18 đến 62 àg/l [30]

+Theo Uỷ ban Tiêu chuẩn nghiên cứu vitamin của Nhật Bản gợi ý vitamin B1

máu từ 2,6 đến 2,8 àg/dl được coi là giới hạn thấp của bình thường [50]

+Theo trích dẫn của Shauna, vitamin B1 máu dưới 2àg/dl được coi là thiếu

vitamin B1 [79]

• Đánh giá mức vitamin B 1 trong nước tiểu: Mức vitamin B1 trong nước tiểu không

đủ phán ánh dự trữ cơ thể nhưng nó cung cấp chỉ số vitamin B1 cuả khẩu phần, đặc biệt

khi khẩu phần thừa vitamin B1 Vitamin B1 nước tiểu được đo theo gram creatinin là chỉ

số đánh giá tình trạng vitamin B1 Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa

vitamin B1 khẩu phần và bài tiết trong nước tiểu 24 giờ của người trưởng thành có

vitamin B1 khẩu phần từ 0,6 tới 2 mg/ngày [67, 69] Mức bài tiết vitamin B1 nước

tiểu/gram creatinin khác nhau theo lứa tuổi Hàm lượng vitamin B1 bài tiết trong nước

tiểu theo creatinin/24 giờ, tham khảo của Sauberlic HE (bảng 1.1) [66]

Bảng2.1 Hàm lượng vitamin B 1 bài tiết trong nước tiểu theo creatinin/24

giờ tham khảo của Sauberlic HE [66]

Tuổi Vitamin B1 nước tiểu 24 giờ (àg/g creatinin)

Phụ nữ có thai 3 tháng giữa <23 23-54 ≥55

Phụ nữ có thai 3 tháng cuối <21 21-49 ≥50

Trang 22

- 21 -

Nghiệm pháp dung nạp vitamin B1 đã được sử dụng như là một chỉ tiêu của tình trạng vitamin B1 Đo vitamin B1 nước tiểu 4 giờ sau khi cho uống 5 mg vitamin B1 Nếu

đối tượng bài tiết ít hơn 20 àg được coi là tình trạng thiếu

Trước đây đo vitamin B1 trong nước tiểu sử dụng phương pháp dẫn xuất huỳnh quang có sử dụng thiochrom [55] Hiện nay sử dụng phương pháp HPLC để đo vitamin B1 nước tiểu [75]

b Đánh giá gián tiếp tình trạng vitamin B 1 của cơ thể

• Pyruvat huyết tương: tăng trên giới hạn bình thường 1,2 mg/dl khi bệnh nhân

nhịn đói Để phân biệt các nguyên nhân khác có tăng pyruvat người ta làm nghiệm pháp dung nạp pyruvat: cách 30 phút cho uống 50 g glucose, uống hai lần 100g, định lượng pyruvat ở phút 30, 60, 90 sau lần uống thứ nhất Người bình thường pyruvat không tăng quá 1,4 mg/dl, người bệnh có thể tăng trên 2 mg/dl Sau hai tuần điều trị bằng vitamin B1, nghiệm pháp trên sẽ trở về bình thường Trong ngộ độc kim loại nặng, nghiệm pháp dung nạp pyruvat có thể bất thường, nhưng không bao giờ trở về bình thường sau điều trị vitamin B1

Nhu cầu khuyến nghị cho phép sử dụng vitamin B 1

Nhu cầu khuyến nghị cho người trưởng thành

Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo khẩu phần vitamin B1 là 0,4mg/1000kcal Một người đàn ông trưởng thành tiêu thụ 3200 kcal một ngày thì cần lượng vitamin B1 khẩu phần hàng ngày là 1,3 mg, phụ nữ tiêu thụ trung bình 2300kcal có nhu cầu vitamin B1hàng ngày là 0,9 mg Uỷ ban Nghiên cứu Quốc gia Anh (1989) khuyến cáo lượng vitamin B1 cho người trưởng thành là 0,5mg/1000kcal nhưng họ cũng khuyến cáo khẩu phần hàng ngày không ít hơn 1,0mg ngay cả khi chỉ tiêu thụ lượng năng lượng nhỏ hơn 2000 kcal/ngày [92]

Nhu cầu khuyến nghị cho phụ nữ có thai và cho con bú

Uỷ ban Nghiên cứu Quốc gia Anh (1989) khuyến nghị một mức cao hơn: với

đối tượng này nhu cầu tăng thêm 300kcal/ngày, như vậy cần bổ sung 0,4mg/ngày trong suốt quá trình mang thai Trong khi cho con bú, bổ sung 0,5mg/ngày vì mất vitamin B1

qua sữa và nhu cầu năng lượng tăng

Nhu cầu khuyến nghị cho trẻ em

Nghiên cứu vitamin B1 có trong sữa người cho thấy nhu cầu tối thiểu hàng ngày

để bảo vệ cơ thể không thiếu là khoảng 0,17mg/ngày Ước tính này dựa trên nồng độ vitamin B1 trong sữa mẹ 0,23mg/lít (Nail và cs, 1980) và trẻ tiêu thụ trung bình 750ml sữa mẹ một ngày Nhu cầu 0,3mg/lít hay 0,4mg/1000kcal được ước tính dựa vào nồng

độ vitamin B1 trung bình trong sữa mẹ gấp hai lần độ lệch chuẩn [92, 65]

Trang 23

- 22 -

Nhu cầu khuyến nghị cho trẻ nhỏ và thiếu niên

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo mức vitamin B1 cho trẻ nhỏ và thiếu niên là 0,4mg/1000kcal, ủy ban Nghiên cứu Quốc gia Anh lại đưa ra mức 0,5mg/1000kcal

Bảng 2 2 Khuyến nghị lượng vitamin B 1 khẩu phần hàng ngày

(mg)

(mg) Trẻ em:

Dưới 1 0.3

Người lớn- nam (hoạt động trung bình)

0.9

16-19 0.9

Nguồn: WHO (1974) [93]

Điều trị bệnh thiếu vitamin B

Vitamin B1 đặc hiệu trong điều trị beriberi và những trường hợp được đánh giá

là thiếu vitamin B1 ở những trường hợp nhẹ, như phụ nữ cho con bú- có nguy cơ thiếu vitamin B1 trong chế độ ăn, liều uống hàng ngày 10mg vitamin B1 trong tuần đầu tiên, 3-5 mg cho ít nhất sáu tuần sau đó Với những trường hợp nặng:

- Thiếu vitamin B 1 ở trẻ em

Nếu suy tim nặng, co giật hay hôn mê, 25- 50mg vitamin B1 truyền tĩnh mạch chậm, 10mg tiêm bắp hằng ngày trong một tuần sau Tiếp sau đó là 3-5 mg vitamin B1 /ngày trong ít nhất sáu tuần

- Trường hợp bệnh nặng ở người trưởng thành

50- 100 mg vitamin B1 truyền tĩnh mạch chậm, liều uống tiếp theo như ở trẻ em

ở những trẻ thiếu vitamin B1 và ở người lớn có bệnh tim mạch đáp ứng rất tốt với điều trị, các triệu chứng giảm chỉ trong vài giờ, với những trường hợp có biểu hiện thần

Trang 24

- 23 -

kinh, sự cải thiện kém hơn một chút Những cải thiện trong hội chứng Wernicke khá nhanh, trong vòng vài giờ với vitamin B1liều cao, nhưng đáp ứng trong Hội chứng Korsakoff lại chậm và không hoàn toàn [42]

Chiến lược phòng chống thiếu vitamin B1 trong quần thể dân cư đang bị đe dọa nghiêm trọng

Cải thiện bữa ăn, đa dạng hóa thực phẩm

Vitamin B1 có phổ biến trong thế giới động vật và thực vật với hàm lượng khác nhau Trong thực vật, vitamin B1 có nhiều trong họ đậu, ngũ cốc, rau xanh Trong

động vật, vitamin B1 có nhiều trong thịt ( đặc biệt là thịt lợn), phủ tạng động vật, trứng, cá

Sử dụng đa dạng thực phẩm sẽ cung cấp đủ vitamin B1 và các vi chất dinh dưỡng trong khẩu phần Chiến lược lâu dài để phòng chống thiếu vitamin B1 là khuyến khích người dân tăng gia sản xuất, cải thiện bữa ăn, đa dạng hóa thực phẩm ở những vùng dân cư có nguy cơ thiếu vitamin B1, một số chương trình hỗ trợ đã được triển khai tập trung chính vào cung cấp các phương pháp trồng rau xanh và giáo dục người dân sử dụng các thực phẩm này Họ đậu là nguồn cung cấp vitamin B1 quý và là một phần thức ăn cơ bản trong quần thể Tuy nhiên tùy theo tập quán của từng địa phương mà tuyên truyền loại đậu phù hợp Ví dụ: Những người trong quần thể nhập cư ở Nepan không có thói quen sử dụng đậu lăng khi còn ở quê nhà, do vậy để khuyến khích họ sử dụng đậu lăng, người ta đã phải nghiên cứu chế biến để họ có thể dùng được [76]

Vai trò của gạo lức và gạo xay xát dối

Các hạt ngũ cốc, đặc biệt là lúa, chứa một lượng lớn vitamin B1, tuy nhiên vitamin B1 tập trung phần lớn ở lớp vỏ lụa Hàm lượng vitamin B1 trong gạo phụ thuộc vào quá trình xay sát Hiệu quả của gạo lức là nguồn vitamin B1 quý đã sớm được nêu

ra ở những vùng ăn chủ yếu gạo, các dạng gạo giàu vitamin B1 được giới thiệu Chất lượng của nó hơn nhiều so với gạo trắng bóng Do đó một chương trình giáo dục mạnh

mẽ mang tính sống còn cho sự thành công của quá trình can thiệp đã được đặt ra Kinh nghiệm ở quần thể nhập cư người Butan- Nepan đã cho thấy hiệu quả này Nhược điểm chính của gạo lức là duy trì chất lượng sản phẩm gặp khó khăn Trong quá trình dự trữ gạo xay dối, lượng thiamin có thể mất nhiều Hơn nữa ăn không ngon bằng gạo sát trắng, chính vì vậy, đây là khó khăn khi giới thiệu nó cho những vùng mà người dân thích ăn gạo trắng bóng hơn

Tăng cường vitamin B 1 vào thực phẩm

Tăng cường vitamin B1 vào thực phẩm là biện pháp trung hạn để phòng chống thiếu vitamin B1 Nhiều nước đã áp dụng biện pháp này để nâng cao lượng vitamin B1

Trang 25

- 24 -

trong khẩu phần Các thực phẩm thiết yếu nghèo vitamin B1 như ngũ cốc xay kỹ sẽ

được tăng cường vitamin B1 như bánh mì, bánh qui, ngũ cốc, sữa

Công nghệ tăng cường vitamin B1 vào gạo đã phát triển ở Mỹ những năm 1940

Các hạt gạo trắng xay kỹ được làm giàu vitamin B1 cho đủ nhu cầu cần thiết, bằng cách trộn lẫn từ trước gọi là “premix” Premix trộn trước được phủ bởi một lớp áo mỏng, không tan trong nước, và dễ dàng bị phân tán trong quá trình nấu Công nghệ làm giàu vitamin không phức tạp và rất kinh tế Tuy vậy, gạo làm giàu vitamin B1 không được chấp nhận do mất trong quá trình vo 10- 20% Phương pháp “premix” mới được áp dụng dựa trên sản xuất gạo tổng hợp cùng các vi chất như vitamin B1 Nó được thêm vào gạo trắng, tỉ lệ ví dụ: 1: 200 Trong quá trình nấu, chất dinh dưỡng được giải phóng

từ premix và có tác dụng xuyên suốt sản phẩm [94, 87] Bột mì là loại thực phẩm sẵn

có được làm giàu vitamin B1 Làm giàu bột mì trắng với một “premix” chứa vitamin B1, thêm niacin, riboflavin và sắt được tiến hành ở một số nước phát triển Vitamin B1 rất bền vững trong bột này, chỉ mất 5% trong sáu tháng dự trữ Lượng vitamin B1 được bảo tồn trong bánh mì nướng bằng bột này [87]

Ngô cũng được làm giàu vitamin B1 thành công và những thử nghiệm đã cho thấy không mất vitamin trong thời gian dự trữ sáu tháng

Hỗn hợp rau-ngũ cốc được tăng cường vitamin B1[60] Một số tác giả cho thấy nhược điểm của tăng cường vitamin B1 vào ngũ cốc khi nuôi trẻ suy dinh dưỡng: giá thành, giai đoạn ngắn, sản phẩm không phải của địa phương [35, 71, 85]

Bánh bích qui được tăng cường vitamin B1được sử dụng nhiều trong các trường hợp khẩn cấp, được cộng đồng chấp nhận

Muối cũng có thể được làm giàu với vitamin B1 nhưng không có thử nghiệm nào

được tiến hành với những trường hợp mất vitamin B1 trong nấu nướng với muối được làm giàu vitamin B1

Bổ sung viên vitamin B 1

Ưu điểm của biện pháp này là cải thiện nhanh chóng tình trạng thiếu vitamin B1

của các đối tượng bị đe dọa Tuy vậy đòi hỏi một hệ thống phân phát, theo dõi tốt, đắt tiền và không hiệu quả trong giai đoạn dài Bổ sung vitamin B1 hoặc vitamin B tổng hợp chỉ được khuyến nghị như một phương pháp điều trị khi bệnh thiếu vitamin B1 trở thành dịch Tuy vậy, viên thuốc này có thể dùng phòng chống cho phụ nữ có thai và cho con bú khi có dấu hiệu trước và sau khi sinh

Các biện pháp khác

Giảm lượng vitamin B 1 thất thoát trong quá trình nấu

Giảm số lần vo gạo trước khi nấu Hầu hết ở những nơi ăn gạo đều vo gạo trước khi nấu Một cuộc khảo sát tiến hành ở quần thể nhập cư ở Thái Lan cho thấy

Trang 26

kỳ trường hợp nào, nước nấu cũng không nên đổ đi và có thể dùng như một đồ uống và với các thức ăn khác

Hạn chế mở vung nồi Mở vung nồi khi nấu là một yếu tố làm vitamin B1 bay hơi

Lượng vitamin B 1 mất trong rau xanh có thể giảm nếu:

Rửa rau trước khi thái nhỏ

Giảm tối thiểu thời gian nấu

Ăn ngay lập tức

Nấu rau bằng một lượng nước tối thiểu

Giảm yếu tố kháng vitamin B 1 trong khẩu phần

Yếu tố kháng vitamin B1 trong chè và quả cau ảnh hưởng trực tiếp tới bệnh thiếu vitamin B1, đặc biệt trong quần thể mà vitamin B1 đang ở ngưỡng thiếu Giáo dục dinh dưỡng làm thay đổi thói quen dinh dưỡng ở những vùng dân cư để giảm các yếu tố kháng vitamin B1 chứa khẩu phần như không uống chè, ăn trầu ngay sau bữa ăn

Trang 27

- 26 -

3 Đối tượng và phương pháp 3.1 Thiết kế nghiên cứu:

Thử nghiệm can thiệp dinh dưỡng cộng đồng ngẫu nhiên, có đối chứng

• Nhóm can thiệp (nhóm B1-ĐVC): Được bổ sung 81 g bánh Calorie Mate và

50 mg vitamin B1/ ngày trong thời gian 3 tháng

• Nhóm chứng (nhóm B1):Bổ sung 50 g bánh bích qui và 50 mg vitamin

B1/ngày trong thời gian 3 tháng

3.2 Cỡ mẫu, chọn mẫu và đối tượng

Cỡ mẫu: Sử dụng công thức của thử nghiệm can thiệp:[25]

2

2 1

ì

=

à à

σ β

α

n

Zα = 1,96 (α =0,05); Zβ =1,28 (β = 0,10) δ độ lệch chuẩn của sự khác nhau giữa

2 số trung bình tham khảo (δ =1,38 àg/dl.) [17]

à1-à2 = Sự khác nhau mong đợi giữa 2 số trung bình về nồng độ Vitamin B1 máu của nhóm can thiệp và nhóm chứng

à1-à2 : 1 àg/dl

áp dụng vào công thức, ta có mỗi nhóm là 40 người

Chọn mẫu:

Toàn bộ đối tượng được cho là mắc “Tê tê-say say” là 78 người sau khi khám sàng lọc

được lựa chọn vào nghiên cứu Các đối tượng chia vào hai nhóm theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng (xem xét tới yếu tố, cân nặng, nồng độ vitamin B1 máu, albumin máu, Hb máu, tình trạng bệnh)

Đối tượng nghiên cứu

Người mắc hội chứng viêm nhiều dây thần kinh ở xã Long sơn, huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình

Tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu

• Có biểu hiện viêm nhiều dây thần kinh ngoại biên thể nhẹ, tái phát nhiều lần

• Không có biểu hiện suy tim, suy thận, rối loạn tiêu hoá kéo dài

• Tuổi từ 15-59

Thời gian nghiên cứu: 3 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2002)

Trang 28

- 27 -

Địa điểm nghiên cứu: Xã Long Sơn huyện Kim Bôi tỉnh Hoà bình

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1.Sản phẩm can thiệp

Bánh Calorie Mate do hãng dược phẩm Otsuka- Nhật bản sản xuất

Bảng 1.2 Thành phần dinh dưỡng của 81 g bánh Calorie Mate

Bánh bích qui thường do công ty bánh kẹo Hải Hà-Việt nam sản xuất:

Nguyên vật liệu để sản xuất bánh qui: bột mì, đường, dầu thực vật

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của 50 g bánh bích qui

Trang 29

- 28 -

Khẩu phần bổ sung bánh qui thường có thành phần: năng lượng, protid, lipid, Vitamin

A, sắt, thấp hơn khẩu phần bổ sung bánh Calorie Mate

Vitamin B 1 do xí nghiệp dược phẩm trung ương 2-Việt nam sản xuất: hàm

lượng10 mg/viên

Thuốc tẩy giun Albendazole 400 mg do Unicef cung cấp (từ chương trình tẩy

giun của Viện Dinh dưỡng)

3.3.2.Tổ chức can thiệp, thu thập số liệu và theo dõi

Tập huấn

- Tập huấn cộng tác viên: Cộng tác viên là y tế xã thôn bản hoặc cộng tác viên

dân số, hoặc cán bộ phụ nữ Tổng số có 10 cộng tác viên Các cộng tác viên được tập huấn về các nội dung nghiên cứu trước mỗi đợt điều tra: Dặn đối tượng không được uống vitamin B1 trong thời gian hai mươi ngày trước khi tiến hành các nghiên cứu về vitamin B1 máu Cách phát hiện các triệu chứng của bệnh “tê tê - say say” khi nặng lên, cách phân phối sản phẩm nghiên cứu, cách ghi chép các biểu mẫu

- Tập huấn điều tra viên: Các điều tra viên được tập huấn về mục đích của

nghiên cứu, cách lựa chọn đối tượng, các chỉ số, phương pháp thu thập số liệu trong

các nghiên cứu

Tẩy giun: Toàn bộ đối tượng tham gia nghiên cứu được uống thuốc tẩy giun ngay trước can thiệp bằng Albendazole 400 mg

Phân phối bánh và thuốc vitamin B 1 :

- Hàng ngày cộng tác viên đã phát bánh và thuốc vitamin B1 cho các đối tượng theo từng nhóm tại các địa điểm thuận lợi cho các đối tượng đi lại, ghi lại các thuốc khác mà đối tượng sử dụng thêm, tiến triển bệnh của các đối tượng (theo mẫu), các thực phẩm đã sử dụng trong ngày hôm trước

- Thời gian phân phối sản phẩm can thiệp: 6 -7 giờ sáng hàng ngày Các đối tượng thay thế bữa ăn sáng bằng các sản phẩm can thiệp

- Số lượng sản phẩm phân phối:

+ Nhóm B 1 - đa vi chất (B1-ĐVC): Bổ sung 81g bánh Calorie Mate và 5 viên vitamin B1 (10 mg/viên)

+ Nhóm B 1: Bổ sung 50 g bánh bích qui và 5 viên vitamin B1 (10 mg/viên)

Giám sát: giám sát việc phân phối sản phẩm can thiệp cho đối tượng nghiên

cứu theo hai cấp

Trang 30

Một điện thoại được đặt tại trạm y tế xã để liên hệ khi có trường hợp khẩn cấp

Thu thập số liệu:

- Điều tra ban đầu: được tiến hành ngay trước khi phân phối các sản phẩm can thiệp và được gọi là thời điểm đánh giá T0 Điều tra ban đầu bao gồm: Khám lâm sàng, cân đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao), đo tốc độ dẫn truyền dây thần kinh, lấy máu để định lượng các chỉ số vitamin B1 máu, protein huyết thanh, albumin huyết thanh, Hb máu, vitamin A

- Thu thập số liệu trong quá trình can thiệp sản phẩm: Hàng ngày, sau khi phân phối sản phẩm can thiệp, cộng tác viên hỏi các đối tượng nghiên cứu và ghi lại các biểu hiện của đối tượng trong ngày hôm trước theo mẫu phiếu (phần phụ lục), ghi lại tên các loại thực phẩm, các loại nước uống mà đối tượng đã sử dụng trong ngày hôm trước

- Đánh giá cuối cùng: Sau 3 tháng can thiệp, cuộc đánh giá cuối cùng được thực hiện, được gọi là thời điểm đánh giá T3 Các chỉ số đánh giá cuối cùng cũng giống các chỉ số của điều tra ban đầu

Hình ảnh 3.3 Đối tượng nhận khẩu

phần thực nghiệm

Hình ảnh 3.4 Điều tra viên giám sát phân phối khẩu phần thực nghiệm

Ngày đăng: 02/05/2014, 05:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Công thức hoá học của vitamin B 1 - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Hình 2.1. Công thức hoá học của vitamin B 1 (Trang 11)
Hình ảnh 3.2. Bánh qui th−ờng  Hình ảnh 3.1. Bánh Calorie  Mate - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
nh ảnh 3.2. Bánh qui th−ờng Hình ảnh 3.1. Bánh Calorie Mate (Trang 28)
Hình ảnh 3.5. Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
nh ảnh 3.5. Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh (Trang 32)
Hình ảnh 3.6  Hỏi ghi khảu phần ăn - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
nh ảnh 3.6 Hỏi ghi khảu phần ăn (Trang 33)
Sơ đồ nghiên cứu can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Sơ đồ nghi ên cứu can thiệp (Trang 36)
Bảng 4.1 cho thấy trước can thiệp các đối tượng ở 2 nhóm nghiên cứu có đặc - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Bảng 4.1 cho thấy trước can thiệp các đối tượng ở 2 nhóm nghiên cứu có đặc (Trang 37)
Bảng 4.4. Sự thay đổi các chỉ số hoá sinh sau 3 tháng can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Bảng 4.4. Sự thay đổi các chỉ số hoá sinh sau 3 tháng can thiệp (Trang 39)
Bảng 4.6. Sự thay đổi nồng độ vitamin B 1  máu ở những đối t−ợng có nồng độ  vitamin B 1  d−íi 2  à g/dl ban ®Çu - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Bảng 4.6. Sự thay đổi nồng độ vitamin B 1 máu ở những đối t−ợng có nồng độ vitamin B 1 d−íi 2 à g/dl ban ®Çu (Trang 40)
Hình 3.1. Sự thay đổi tỷ lệ thiếu vitamin B 1  máu ở những đối t−ợng có nồng độ  vitamin B 1  d−íi 2  à g/dl ban ®Çu - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Hình 3.1. Sự thay đổi tỷ lệ thiếu vitamin B 1 máu ở những đối t−ợng có nồng độ vitamin B 1 d−íi 2 à g/dl ban ®Çu (Trang 41)
Hình 3.2. Tỷ lệ thiếu vitamin B 1  máu sau can thiệp ở những đối t−ợng có nồng - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Hình 3.2. Tỷ lệ thiếu vitamin B 1 máu sau can thiệp ở những đối t−ợng có nồng (Trang 42)
Bảng 4.9. Thay đổi tỷ lệ rối loạn cảm giác nông sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Bảng 4.9. Thay đổi tỷ lệ rối loạn cảm giác nông sau can thiệp (Trang 44)
Bảng 4.9 cho thấy sau can thiệp, tỷ lệ rối loạn cảm giác nông (giảm và mất cảm  giác sờ) đã giảm ở những đối tượng có rối loạn cảm giác trước can thiệp, tuy nhiên sự  khác nhau ch−a có ý nghĩa thống kê - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Bảng 4.9 cho thấy sau can thiệp, tỷ lệ rối loạn cảm giác nông (giảm và mất cảm giác sờ) đã giảm ở những đối tượng có rối loạn cảm giác trước can thiệp, tuy nhiên sự khác nhau ch−a có ý nghĩa thống kê (Trang 44)
Bảng 4.12. Thay đổi các dấu hiệu tim mạch sau can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Bảng 4.12. Thay đổi các dấu hiệu tim mạch sau can thiệp (Trang 46)
Hình 3.3. Kết quả chung của can thiệp vitamin B 1  và đa vi chất - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Hình 3.3. Kết quả chung của can thiệp vitamin B 1 và đa vi chất (Trang 47)
Hình 3.4. Động học vitamin B 1  máu sau uống 50 mg vitamin B 1  của các đối  t−ợng có nồng độ vitamin B 1  giảm so với tr−ớc can thiệp - Nghiên cứu hiệu quả cải thiện hội chứng viêm nhiều dây thần kinh tại Long Sơn, kim bôi, Hoà Bình bằng bánh đa vi chất
Hình 3.4. Động học vitamin B 1 máu sau uống 50 mg vitamin B 1 của các đối t−ợng có nồng độ vitamin B 1 giảm so với tr−ớc can thiệp (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w