1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hôn nhân và gia đình (nhận định và tình huống)

21 401 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hôn Nhân và Gia Đình (Nhận Định và Tình Huống)
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân và Gia Đình
Thể loại Bài Luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 38,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Nhận định 1 Người thành niên thì có quyền kết hôn Nhận định này là SAI Vì kết hôn là quyền con người theo Điều 39 BLDS 2015 theo Điều 20 BLDS 2015 thì người thành niên là người từ.

Trang 1

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Nhận định:

1 Người thành niên thì có quyền kết hôn.

 Nhận định này là SAI Vì kết hôn là quyền con người theo Điều 39 BLDS 2015theo Điều 20 BLDS 2015 thì người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên khôngphân biệt nam hay nữ trong khi đó thì độ tuổi kết hôn theo điểm a khoản 1 Điều 8Luật HNGĐ 2014: nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới đượcquyền kết hôn Nếu nam giới đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) nhưng chưa đủ từ

20 tuổi trở lên thì họ dù là người thành niên nhưng họ không có năng lực pháp luật

và năng lực hành vi hôn nhân gia đình để thực hiện quyền kết hôn Ngoài ra hôn sự

còn phải thỏa mãn điểm b, c, d khoản 1 điều 8 và không thuộc trường hợp cấm quy định tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ.

2 Người chưa kết hôn dù thỏa mãn quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 8 đồng thời không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo điểm a, b, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ cũng có thể không có quyền kết hôn.

 Nhận định này là ĐÚNG Người chưa kết hôn có thể là người sống chung như vợchồng với người khác theo điểm b khoản 4 Điều 2 TT01/2016 thì trường hợp sốngchung như vợ chồng vẫn được xem là vợ chồng nên vi phạm vào điểm c khoản 2Điều 5 Luật HNGĐ cũng có thể không có quyền kết hôn Người chưa vợ chưachồng (chưa đăng ký kết hôn) mà kết hôn với người mình biết rõ người đó đang có

vợ có chồng

3 Hành vi kết hôn có thể thực hiện qua người thứ ba.

 Nhận định này là SAI Theo điểm b khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014, Điều 2

TT 01/2016, khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch, Điều 2 TT04/2020

4 UBND cấp xã cũng có thể giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.

 Nhận định này là ĐÚNG Vì theo Điều 18 NĐ 123/

5 Nam nữ không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Trang 2

 Nhận định này là SAI Điều 11 Luật 2000 và điều 9 Luật 2014 để xác định sốngchung như vợ chồng mà không thừa nhận vợ chồng từ 1/1/2001 trở đi, NQ 35 và TT

01 hay án lệ 21, ta xác định sống chung như vợ chồng cũng có thể thừa nhận vợchồng trước 1/1/2001 nếu thỏa mãn

6 Trong chế độ TS pháp định, hoa lợi phát sinh từ TSC, TSR khi chưa chia TS trong TKHN có thể là tài sản riêng của vợ hoặc chồng?

 Nhận định này là SAI Theo khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ 2014 thì tài sản chungcủa vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sảnxuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp phápkhác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 củaLuật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tàisản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

7 Một bên định đoạt TSC quy định tại khoản 2 Điều 35 LHNGĐ luôn được xác định là trái pháp luật.

 Nhận định này là SAI Vì ở khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ thì việc định đoạt tài sảnchung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng Tuy nhiên pháp luật ViệtNam có cơ chế về đại diện cho nhau giữa vợ và chồng, nếu một bên vợ chồng có tưcách đại diện quy định tại Điều 24, 25, 32, 36 thì họ có quyền định đoạt tài sản ởkhoản 2 Điều 35 đơn phương mà hành vi định đoạt tài sản không thỏa thuận

8 Nhà ở được mua bằng tiền lương trong thời kỳ hôn nhân do bên vợ hoặc chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu phải được xác định là tài sản riêng của người đứng tên?

Nhận định này là SAI Theo khoản 1 Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân”, nhà ở được mua bằng tiền lương mà tiền

lương là thu nhập hợp pháp nên nhà ở tài sản chung của vợ chồng Sau đó dẫn sang khoản 3 Điều 33

9 Nam nữ cùng sống như vợ chồng có thể thừa kết tài sản của nhau.

Trang 3

 Nhận định này là ĐÚNG Vì nguyên tắc nam nữ sống chung như vợ chồng bắt đầu

từ ngày 1/1/2001 trở đi theo Điều 11 Luật 2000 và Điều 9 Luật 2014 thì pháp luậtkhông thừa nhận là vợ chồng vì vậy có sự kiện chết thì không được thừa kế tuynhiên pháp luật Việt Nam có thừa nhận hôn nhân thực tế, những trường hợp mà trênthực tế họ sống chung không hôn thú nhưng thỏa mãn dấu hiệu của NQ 35 và TT 01thì họ được công nhận là vợ chồng nên khi có sự kiện chết thì họ được thừa kế theomục 1 NQ01/2003

10 Con đẻ luôn được xác định cùng huyết thống với cha mẹ.

 Nhận định này là SAI Con đẻ được sinh ra bằng con đường tự nhiên hay có sự canthiệp của y học hiện đại.Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân (Điều 16 TT04/2020 vàĐiều 101 Luật HNGĐ 2014) và Điều 88 Luật HNGĐ 2014 Con ngoài hôn nhân:Điều 89, 90  92 Luật HNGĐ năm 2014 Con sinh ra bằng phương pháp hỗ trợsinh sản gồm thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm (Điều 93 Luật HNGĐ2014) suy đoán theo Điều 88 nếu cặp vợ chồng hoặc mang thai hộ với mục đíchnhân đạo (Điều 94 Luật HNGĐ 2014) (theo hướng nhân văn)

11 Chỉ trong trường hợp có tranh chấp thì việc xác định cha mẹ cho con mới thuộc thẩm quyền của Tòa án.

 Nhận định này là SAI Điều 101 Luật HNGĐ 2014

Không tranh chấp và các bên còn đang sống thì giải quyết bằng thủ tục hành chính trước cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch Có tranh chấp hoặc một trong các bên quan hệ yêu cầu xác định hoặc người trực tiếp xác định con đã chết bằng thủ tục trước Tòa án nhân dân

12 Cha mẹ nuôi có thể thay đổi dân tộc con nuôi theo dân tộc của mình.

 Nhận định này là SAI Theo Điều 29 BLDS 2015 dân tộc là yếu tố mang tínhhuyết thống thì con sinh ra namg theo dân tộc của cha mẹ đẻ

13 Xét về độ tuổi, người đủ điều kiện kết hôn cũng có thể không đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi.

 Nhận định này là ĐÚNG Theo điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi thìngười nhận nuôi con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên mà theo điểm akhoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 thì điều kiện kết hôn là nữ từ đủ 18 tuổitrở lên, ta thấy hai quy định này mâu thuẫn với nhau

Trang 4

14 Người có khó khăn trong nhận thức cũng có thể được nhận con nuôi.

 Nhận định này là SAI Vì khoản 1 Điều 14 Luật nuôi con nuôi thì người nhậncon nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà năng lực hành vi dân sự làkhả năng của mình bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụdân sự và đủ 18 tuổi trở lên, không bị tuyên khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi và không bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 20, 22, 23,

24 BLDS 2015

15 Chỉ có trẻ mới là đối tượng được nhận làm con nuôi

 Nhận định này là SAI Theo khoản 1 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định về Ngườiđược nhận làm con nuôi thì ta thấy trẻ em dưới 16 tuổi được ưu tiên nhận làm connuôi vì lúc này trẻ em chưa có hoàn thiện về thể chất lẫn tinh thần nhưng nhữngngười từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn được nhận làm con nuôi theo khoản 2Điều 8 Luật Nuôi con nuôi Vậy nên không chỉ trẻ em mới là đối tượng được nhậnlàm con nuôi

16 Tòa án có thể quyết định chấm dứt quan hệ nhận con nuôi theo yêu cầu nếu có căn cứ xác định giữa các bên có quan hệ trực hệ.

 Nhận định này là ĐÚNG Căn cứ theo khoản 6 Điều 13 Luật nuôi con nuôi thì cáchành vi bị cấm là ông, bà nhận cháu làm con nuôi mà trường hợp này là thuộc dòngmáu trực hệ và căn cứ khoản 4 Điều 25 việc vi phạm Điều 13 sẽ là căn cứ chấm dứtquan hệ nhận nuôi con nuôi để Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi

17 Quyết định tuyên bố vợ hoặc chồng mất tích của Tòa án là căn cứ pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng.

 Nhận định này là SAI Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình

năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên: “trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết ly hôn”

còn hôn nhân chấm dứt thì khoản 1 Điều 57 Luật HNGĐ dẫn sang BLTTDS

18 Khi một bên vợ, chồng bị TA tuyên bố chết trở về thì quan hệ hôn nhân của họ mặc nhiên được phục hồi nếu vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác.

Trang 5

 Nhận định này là SAI Vì căn cứ theo Điều 67 Luật HNGĐ 2014 khi một bên bịTòa án tuyên bố chết trở về thì phải có quyết định của Tòa án hủy quyết định tuyên

bố một người là đã chết nhưng nếu như một bên vợ, chồng đã làm đơn chấm dứtquan hệ hôn nhân thì cho dù người chết trở về có làm đơn yêu cầu Tòa án hủy quyếtđịnh tuyên bố một người đã chết thì lúc này quan hệ hôn nhân cũng không đượcphục hồi

19 Giải quyết ly hôn phải thông quan thủ tục hòa giải.

 Nhận định này là ĐÚNG Theo Điều 54 Luật HNGĐ năm 2014 quy định như

sau: Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự mà hiện nay Luật TTDS có Luật Hòa giải đối thoại

tại Tòa án

20 Vợ hoặc chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ họ gây ra thì cha,

mẹ, người thân thích của họ - với tư cách người đại diện – có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn.

 Nhận định này là SAI Vì theo khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ 2014 thì vợ hoặcchồng là nạn nhân của bạo lực gia đình và nạn nhân này phải có bệnh lý khôngtham gia tố tụng được thì cha, mẹ, người thân thích của họ - với tư cách đại diện –

có quyền ủy quyền yêu cầu giải quyết còn nếu như nạn nhân là người bình thườngthì họ phải tự mình yêu cầu giải quyết ly hôn

21 Quyền ly hôn của người khuyết tật nghe, nói phải được thực hiện thông qua người đại diện.

 Nhận định này là SAI Quyền kết hôn là quyền con người Điều 39 BLDS ghi nhận

và quyền này còn trên cơ sở pháp luật, nội dung và pháp luật trong nước nếu thỏamãn các quy định của pháp luật được trao cho họ có tư cách là vợ, chồng thì đượcquyền ly hôn Bản thân họ có NLHVDS đầy đủ, NLHVTTDS đầy đủ tự thực hiệnquyền nhân thân gắn với bản thân vợ, chồng Tuy nhiên để bảo vệ chủ thể trongtrường hợp cần thiết thì pháp luật ghi nhận quyền ly hôn thông qua người thứ batheo khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ, khi ly hôn thông qua người đại diện phải thỏamãn các dấu hiệu sau: Vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác màkhông nhận thức, làm chủ được hành vi; Là nạn nhân của bạo lực gia đình dochồng, vợ gây ra; Việc bạo hành gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức

Trang 6

khỏe, tinh thần của họ Xét ở góc độ Người khuyết tật thì Luật Người khuyết tật dựliệu có nhiều cấp độ khuyết tật khác nhau, cấp độ khuyết tật này là nặng, đặc biệtnặng nhưng vấn đề ở đây đặt ra là nếu khuyết tật về tinh thần mà không nhận thứclàm chủ được hành vi vừa là nạn nhân của bạo hành dẫn đến hậu quả mới có thể lyhôn thông qua người thứ ba đồng nghĩa không phải mọi trường hợp người khuyếttật nghe, nhìn đều được quyền ly hôn thực hiện qua người thứ ba.

22 Khi giải quyết cho vợ chồng ly hôn, tòa án có thể không giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp nuôi.

 Nhận định này là ĐÚNG Theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014thì quyền nuôi con sau khi ly hôn đối với con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho

mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trôngnom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợpvới lợi ích của con

23 Mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ thủy chung (Điều 19) đều xác định là hành vi vi phạm một vợ một chồng (điểm c khoản 2 Điều 5).

 Nhận định này là SAI Vi phạm một vợ một chồng là có kết hôn hay sốngchung như vợ chồng còn vi phạm nghĩa vụ thủy chung ở Điều 19 cho ta thấyxác định ngoại chồng ngoại vợ ở nhiều cấp độ và chừng nào ở cấp độ có thể xácđịnh được là có kết hôn hay sống chung thì lúc đó mới vi phạm chế độ 1 vợ 1chồng

24 Mọi trường hợp 1 bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch tài sản mà phát sinh bằng trách nhiệm liên đới trong thời kỳ hôn nhân thì cả hai bên cùng phải có nghĩa vụ thanh toán.

 Nhận định này là SAI Trách nhiệm liên đới phát sinh khi việc thực hiện giaodịch đó nếu một bên đơn phương vì nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc thựchiện giao dịch đó mà phát sinh tài sản nhưng có sự đồng ý liên đới thanh toán

của người thứ 3 (người vợ hoặc chồng) ĐIỀU 37 LUẬT HNGĐ 2014.

25 Quan hệ vợ chồng chỉ phát sinh khi có hành vi đăng ký kết hôn.

 Nhận định này là SAI Vì ở khoản 6 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 thì kết hôn làviệc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về

Trang 7

điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn và theo NQ35 thì trường hợp những ngườisống chung như vợ chồng trước ngày 3/1/1987, không vi phạm điều kiện kếthôn và liên tục sống chung với nhau còn đang sống chung thì được xác định làquan hệ vợ chồng (hôn nhân thực tế).

TÌNH HUỐNG:

1 Ông Hoàng kết hôn với bà Anh năm 1990 Năm 1995, vì mâu thuẫn, ông Hoàng bỏ nhà đến sống chung như vợ chồng với bà Xuân Ngày 02/05/2002, Ủy ban nhân dân xã H nơi bà Xuân cư trú giải quyết đăng ký kết hôn cho ông Hoàng và bà Xuân.

Năm 2016, bà Anh yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và

bà Xuân.

Trước yêu cầu của bà Anh, ý kiến cho rằng ông Hoàng và bà Xuân vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo K1 Điều 10 LHNGĐ năm 2000 nên Tòa án phải xét hủy việc kết hôn này Tuy nhiên, cũng có ý kiến khẳng định ông Hoàng và bà Xuân là vợ chồng vì họ thuộc trường hợp hôn nhân thực tế và

đã đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm theo luật định.

Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh/chị về pháp luật áp dụng và đường lối giải quyết yêu cầu của bà Anh theo tình huống trên.

a Chấp nhận yêu cầu của bà Anh vì có căn cứ xác định Ông Hoàng – bà Xuân kết hôn tráipháp luật:

- Ông Hoàng – bà Anh là vợ chồng và hôn nhân chưa chấm dứt

- Ông Hoàng sống chung với bà Xuân năm 1995: vi phạm Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 “cấm chung sống như vợ chồng”

- Ông Hoàng kết hôn với bà Xuân năm 2002: vi phạm khoản 1 Điều 10 Hôn nhân gia đìnhnăm 2000 (không thuộc trường hợp phải đăng ký kết hôn theo điểm b mục 3 NQ35)  Kếthôn trái pháp luật

b Giải quyết: Áp dụng Điều 10, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

2 Năm 2017, anh Thuận (sinh năm 1978) kết hôn với chị Nga (sinh năm 2000).

Sau hai năm xác lập quan hệ vợ chồng, sức khỏe anh Thuận suy kiệt kết quả xét nghiệt từ cơ sở y tế cho thấy anh Thuận bị nhiễm HIV mà nguồn bệnh anh bị lây nhiễm là từ vợ anh – chị Nga.

Tháng 7/2020, anh Thuận chết.

Trang 8

Tháng 12/2020, con đẻ của anh Thuận với vợ trước của anh (đã ly hôn)

là Hằng yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga với lý do kết hôn này trái pháp luật.

Theo các anh (chị) việc Tòa án giải quyết vụ việc nêu trên như thế nào? Tại sao?

a Xét độ tuổi:

- Vi phạm điểm a khoản 1 Điều 8 (Chị Nga 17 tuổi)  kết hôn trái pháp luật (khoản

6 Điều 3)

- Cá nhân có quyền yêu cầu hủy: Khoản 2 Điều 10: Chị Hằng có quyền

- Có hủy kết hôn trái pháp luật với người kết hôn trái pháp luật đã chết? Điều 4 Bộluật Tố tụng dân sự: Tòa án thụ lý giải quyết (tham khảo quyết định số

- Nếu chị Nga không lừa dối anh T: không có căn cứ xác định kết hôn trái pháp luật

 không cá nhân, tổ chức nào có quyền yêu cầu

3.

Năm 2011, ông Giang và Duyên kết hôn theo quy định của pháp luật Năm 2014, do bà Duyên biệt tích sau chuyến buôn bán đường xa trên hai năm chưa về, người thân thích của ông Giang đã “mai mối” bà Tuyết ( sinh ngày 2.3.1997, định cư tại Úc) để ông “xe duyên vợ chồng”.  Ngày 28.03.2014,

Ủy ban nhân dân xã G, huyện E, tỉnh BT đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho ông Giang và bà Tuyết.

Tháng 05.2015, Tòa án huyện E, tỉnh BT thực hiện thủ tục tố tụng tuyên

bố bà Duyên mất tích theo yêu cầu của ông Giang Hai tháng sau, Tòa án giải quyết cho ông Giang được ly hôn với bà Duyên Phán quyết cho ly hôn có hiệu lực ngày 26.07.2015.

Tháng 9.2019, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện E yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh BT hủy hôn nhân của ông Giang và bà Tuyết.

Anh/chị hãy cho biết Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội phụ nữ như thế nào cho phù hợp tinh thần pháp luật, biết rằng:

Trang 9

-         Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ việc, ông Giang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhân còn bà Tuyết yêu cầu thừa nhận hôn nhân;

thuận được gồm 24 chỉ vàng 9999 (số vàng ông Giang và bà Tuyết được mừng cưới năm 2014) và ngôi nhà diện tích 100m 2 trị số 3 tỷ đồng do ông Giang đứng tên (nhà được mua bằng số tiền ông Giang trúng số tháng 10.2015).

a Giải quyết về nhân thân:

-Vi phạm khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

-Vi phạm khoản 1 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 + Điều

1, khoản 1 Điều 6 NĐ số 24/2013/NĐ-CP ngày 28.3.2013 – UBND cấp tỉnh

 Khoản 3 Điều 3 TT01/2016: không công nhận quan hệ vợ chồng

b Giải quyết về tài sản:

- Khoản 3 Điều 3 TT01/2016, Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều

209, 219 BLDS: Tài sản chung theo phần: vàng chia đôi, tài sản riêng: nhà

4.

Đủ điều kiện kết hôn theo LHNGĐ 1959 nhưng ông Ngon và bà Bông chỉ sống chung như vợ chồng từ năm 1982 tại phường 5, quận 6 Thành phố TH mà không đăng ký kết hôn Hai người có tài sản chung trị giá 2 tỷ đồng (do bà Bông quản lý).

Do không thể sinh con, tháng 8.1999, bà Bông đồng thuận để ông Ngon cưới bà Mùi – người phụ nữ sinh ngày 11.11.1985, thường trú cùng địa phương với ông Ngon và bà Bông Sau cưới, ông Ngon, bà Mùi tiếp tục sống chung cùng bà Bông.

Năm 2002, ông Ngon và bà Mùi đăng ký kết hôn Ngày 12.11.2002, UBND xã

KL, huyện NĐ, tỉnh NA nơi bà Mùi đăng ký tạm trú đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho hai người.

Ngày 20.9.2019, do cuộc sống chung mâu thuẫn, bà Bông yêu cầu Tòa án nhân dân huyên NĐ giải quyết hủy việc kết hôn giữa ông Ngon và bà Mùi.

Hỏi, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu (hủy việc kết hôn giữa ông Ngon

và bà Mùi) của bà Bông như thế nào? Vì sao? Nếu ông Ngon và bà Mùi tranh chấp tài sản và không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì Tòa án phải giải quyết các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật, biết rằng

Trang 10

ông Ngon và bà Mùi có con chung là Quang, sinh ngày 04.12.2013 và hai bên có khối động sản chung trị giá 1 tỷ 900 triệu đồng?

a Giải quyết yêu cầu của bà Bông: không hủy mà chuyển không công nhận quan hệ vợchồng ông Ngon bà Mùi, vì:

- NQ 35, TT01/2001: Ông Ngon, bà Bông là vợ chồng (thỏa 3 dấu hiệu của Hôn nhân thựctế: chung sống như vợ chồng không gián đoạn, không vi phạm điều kiện kết hôn trước2/1/1987),

- Khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: ông Ngon bà Mùi vi phạm 1 vợ 1chồng

- Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 + Điều 22 NĐ 83/1998/NĐ-CP

- Khoản 1 điểm 1 mục 1 TT số 12/1999/TT-BTP hướng dẫn NĐ 83: vi phạm thẩm quyền

 Khoản 3 Điều 3 TT01/2016 (+Điều 9, 13 Luật Hôn nhân và gia đình): không công nhận vợchồng

b Giải quyết tài sản: khoản 3 Điều 3 TT01/2016, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều

209, 219 BLDS: Tài sản chung theo phần: 1 tỷ 900 triệu chia đôi

c Giải quyết quyền lợi con: (dưới 7 tháng tuổi): Khoản 3 Điều 3 TT01/2016 + Điều 81 – 84Luật Hôn nhân và gia đình

5.

Anh Tâm định cư tại Cộng hòa liên bang Đức từ năm 2000 Năm 2013, trong chuyến về thăm quê hương, anh Tâm và chị Trà (sinh ngày 12.09.1988)  quyết định “kết nghĩa vuông tròn” Ngày 07.08.2015, UND phường T, quận Y, thành phố H nơi chị Trà cư trú đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh Tâm và chị Trà.

Tháng 11.2016, anh Tâm và chị Trà mua nhà số 11/6 đường TH, phường

T, quận Y trị giá 2,7 tỷ đồng Do hai bên chỉ có số tiền chung là 100 triệu đồng nên anh Tâm nhờ thân nhân chuyển từ nước ngoài về số ngoại tệ của anh – tương đương 2,6 tỷ đồng để mua nhà này (có chứng cứ xác định việc chuyển tiền qua ngân hàng vào tài khoản ngoại tệ của anh Tâm mở tại Việt Nam).

Năm 2019, do việc sống chung phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, anh Tâm yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn và phân định tài sản.

Từ góc độ pháp lý, anh/chị hãy phân tích và lý giải đường hướng xử lý của Tòa án có thẩm quyền trước yêu cầu của anh Tâm, biết rằng trong quá trình

tố tụng:

i) Chị Trà có nguyện vọng công nhận hôn nhân;

ii)   Anh Tâm và chị Trà tranh chấp nhà số 11/6, đường TH, phường T, quận Y hiện do chị Trà đứng tên và trên thực tế, anh Tâm có đồng ý để chị  Trà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.

Ngày đăng: 04/04/2023, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w